GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY
Một bài giảng khúc chiết về con đường
đạt đến giác ngộ
(Liberation in the Palm of Your Hand-
Aconcise discourse on the path to enlightenment)
Pabongka Rinpoche
Edited by Trijang Rinpoche
Translated by Michael Richards
Thích Nữ Trí
Hải dịch
--- o0o ---
PHẦN HAI
NHỮNG NGHI THỨC CHUẨN BỊ
NGÀY THỨ SÁU
Bậc thầy Chandragomin
nói:
Khi một con voi
đực bị lôi cuốn
Đến một ít cỏ và
lá khô
Ở trên một miệng
giếng
Thì nó có thể chưa
ăn gì được
Mà đã rứt xuống
giếng sâu.
Ham muốn dục lạc ở
đời
Cũng giống y như
vậy.
Nói cách khác, khi
một con voi đi đến bờ mép của một mỏm đá cheo leo vì nó tham ăn cỏ mọc
trên bờ, nó có thể nhào xuống vực thẳm. Cũng vậy, khi chúng ta chỉ tham
luyến hạnh phúc cõi đời này mà thôi, thì chúng ta phạm đủ thứ bất thiện
hành, và cuối cùng, khi ta rớt xuống vực thẳm là những đọa xứ thấp kém,
thì thật rất khó có ngày thóat khỏi. Bởi vậy ta phải hoàn tất hy vọng vĩnh
cữu của ta. Không có cách gì tốt hơn để làm việc ấy ngoài ra đi theo một
cách chính xác những giai đoạn của con đường đến giác ngộ. Chúng ta phải
khởi động lực cho đúng bằng ý nghĩ như sau: “Tôi sẽ đạt thành Phật quả vì
tất cả hữu tình. Bởi thế tôi sẽ nghe giảng về Lam-rim, và thực hành theo
đó.
{Khi ấy Kyabje
Pabongka duyệt lại những tiêu đề mà ngài đã giảng.}
Thời thiền định chia
làm ba giai đoạn: những nghi lễ chuẩn bị, phần chính, và kết thúc. Có sáu
nghi lễ chuẩn bụ; nghi lễ thứ năm trong đó là dâng lời cầu nguyện gồm bảy
thành phần và dâng một mandala thế giới. Tôi đã bàn xong thành phần thứ
hai.
c. Thành phần thứ ba:
SÁM HỐI TỘI LỖI
Trong dòng tâm thức
của chúng ta, chúng ta không phát triển được những gì ta chưa thực chứng,
và những gì ta đã chứng được thì lại đang thối thất. Giai do chính vì tội
lỗi và nghiệp chướng của ta. Hơn nữa cũng do những tội lỗi và nghiệp
chướng ấy mà có ra tất cả những nỗi bất hạnh của ta trong đời này và đời
sau. Nếu ta không muốn chuyện này xảy đến, thì ta phải sám hối tội lỗi.
Nhờ sám hối mà ta có
thể thanh lọc vô lượng ác nghiệp. Ngay cả năm tội ghê gớm (ngũ vô gián
nghiệp) mà ta có thể phải chịu hậu quả nếu không sám hối. Theo luận
Vaibhàshika (phái Tỳ bà sa) thì ta không thể sám hối loại tội này, nhưng
phái Prasangikas thì nói có thể. Trong Thư của Long Thụ ta tìm thấy câu
sau:
Ai đã từng buông lung phóng
dật
Mà về sau biết hổ thẹn;
Thì người ấy sáng chói
Như vừng mặt trăng không gợn
mây,
Như Nanda, Angulimàla
A xà thế và Shankara.
Lại có câu: “Tội nặng
của bậc trí thì rất nhẹ; tội nhẹ nhất của kẻ ngu lại rất nặng. “Nói cách
khác yếu tố quyết định chính là người ta có thiện xảo trong việc sám hối
hay không. Bà la môn Shankara đã giết mẹ. Angulimàla giết chín trăm chín
mươi chín người; A xà thế hành quyết chính thân phụ mình. Nhưng sau khi họ
phạm những tội ghê gớm ấy, họ lại đạt đến địa vị kiến đạo nhờ tha thiết
sám hối.
Bằng những hình thức
sám hối quyết liệt nhất, bạn có thể thanh lọc tội lỗi ngay tận gốc rễ nó;
hình thức trung bình thì làm cho tội lỗi giảm nhẹ; và với hình thức tối
thiểu thì bạn cũng có thể ngăn cho tội lỗi khỏi tdrầm trọng thêm lên.
Nhưng nếu bạn không sám hối chút nào, thì tội lỗi sẽ tăng gáp hai mỗi
ngày, và tội nhỏ sẽ hóa to. Ví dụ, giết một con rận là một tội nhỏ, song
nếu bạn không sám hối, thì sau nửa tháng nó sẽ nặng gấp 16.384 lần, và khi
ấy cũng ngang bằng giết một con người.
Chúng ta không muốn
sám hối tội lỗi mình, điều ấy chỉ tại ta thiếu tin tưởng vào luật nhân quả
và có nghĩa là ta không sợm phạm tội. Nếu chúng ta có lòng tin nhân quả,
ta sẽ tránh phạn dù chỉ một tội nhỏ. Khi Atìsha phạm vào một hành vi quấy
rất nhỏ trong lúc du hành, ngài thường đứng lại và nghiêm túc sám hối,
ngay giữa công cọng. Chúng ta cũng có thể làm như thế, nhưng thường chúng
ta tưởng mình không có tội lỗi gì trầm trọng phải sám hối cả - điều ấy chỉ
vì chúng ta chưa nghĩ cho thấu đáo cái cách ta phạm tội như thế nào. Nếu
nghĩ kỹ, ta sẽ biết được bao nhiêu tội ta đã phạm bằng tâm ý và lời lẽ của
ta - ý định tai hại, nói chuyện nhảm nhí, nói lời nhục mạ, v.v… từ khi
thức dậy hôm nay. Chẳng hạn chúng ta đã thụ giới, mà chưa kể những giới
trọng ta có thể đã vi phạm, chúng ta còn vi phạm những tiểu giới một cách
thường xuyên như mưa rào, tại còn nói rằng chuyện ấy không có hại gì.
Nhưng nội một chuyện không mặc hạ y cho ngay thẳng chẳng hạn, cũng đủ để
vi phạm một giới trọng trong mật tông. Chúng ta cũng vi phạm những giới
trọng trong Bồ tát giới một cách thường xuyên như mưa xuống. Phạm một giới
nhẹ của Bồ tát giới cũng một trăm ngàn lần nghiêm trọng hơn là phạm tội
trọng trong giới tỷ kheo. Phạm một giới trọng của Bồ tát giới là trăm ngàn
lần nghiêm trọng hơn phạm tiểu giới của bồ tát giới; phạm một giới phụ
thuộc trong giới bản của mật tông còn nghiêm trọng hơn thế một trăm ngàn
lần; và phạm một giới căn bản của mật tông thì nghiêm trọng hơn một trăm
ngàn lần phạm giới phụ thuộc. Bởi thế nếu tính những hành vi ác hành mà
chúng ta đã làm từ khi thức dậy sáng nay, ta cũng sẽ thấy nhiều loạt
nguyên nhân đầy đủ để tái sanh vào các đọa xứ. Hàng ngày chúng ta trĩu
nặng nhiều tội lỗi - mười nghiệp bất thiện, ba độc, v.v… Chúng ta được
biết rằng những tội nặng nhất trong số này sẽ khiến ta đọa vào địa ngục,
tội trung bình đọa vào ngạ quỷ, tội nhẹ nhất đọa vào loài súc sinh. Một
tội “nặng” không nhất thiết phải là tội giết người cướp của, mà chỉ cần
bạn mắng nhiếc mắng đệ tử “đồ ngu như bò tót” trong cơn giận cũng đủ nặng
rồi. Những việc như phẩm bình nghiệp của người (có thể đọa vào cõi này cõi
nọ) cũng là tội nặng. Nội một ngày hôm nay thôi chúng ta cũng đã tạo đủ
loại nguyên nhân đưa ta vào ba đọa xứ.
Bạn có thể ngạc nhiên
hỏi: “Nếu thế thì chúng ta có thể làm được gì?” Không ích gì chỉ tỏ ra
kinh hãi trước sự tình ấy; bạn phải sám hối để tịnh hóa tất cả tội bạn đã
phạm từ vô thỉ đến nay, bằng cách lạy sám hàng trăm ngàn lạy, tụng thần
chú một trăm âm, vân vân. Nếu bạn chưa nhận được những dấu hiệu cho biết
những tội lỗi ấy đã được tịnh hóa, thì bạn vẫn cứ phải làm những việc ấy
cho đến khi chết. Những dấu hiệu áy được nói trong quyển Thần chú
Kandakàri, hoạc bạn có thể tham khảo tác phẩm Những Giai Đoạn Lớn Của Đạo
Lộ, vân vân. Vậy bạn phải thực hành thiền quán Kim cương tát đỏa và đọc
hai mươi mốt thần chú Một Trăm âm của ngài trước khi bạn đi ngủ vào buổi
tối. Bạn còn phải tinh tấn lễ bái bằng lối lạy dài (năm vóc sát đất) trong
khi đọc tụng Kinh Sám Hối Những Tội Phạm Giới. Vào buổi chiều, hãy sám hối
những sự vi phạm bạn đã làm trong ngày; vào buổi sáng, hãy sám hối những
tội bạn đã vi phạm trong đêm quá. Đừng để cho một tội lỗi nào trong ngày
không được chú ý đến. Dù bạn không tu tập thêm được pháp tu nào khác, song
nếu bạn nỗ lực trong mỗi việc sám hối này cũng là quá đủ.
Những tội lỗi của bạn
là nguồn gốc của mọi khổ đau trong đời này và những đời sau; nếu sám hối
thì bạn sẽ thoát được đau khổ và còn triển khai được những thực chứng về
tuệ giác. Chẳng hạn, nếu đời này bạn bị đau ốm, nguyên do là bạn đã tích
lũy một ác nghiệp nào đó; bởi thế những việc cúng bái nhân danh bạn có thể
không giúp bạn khỏi bệnh, vì hậu quả của việc cúng bái, cầu phước v.v.. sẽ
chín biệt lập với cơn bệnh của bạn. Nhưng đừng có quan niệm sai lầm
(tàkiến) cho rằng những nghi lễ cầu khẩn là vô ích. Giả sử trên thửa ruộng
đã mọc một loại đậu nào đó, bạn gieo giống lúa mạch để ngăn cho đậu đừng
phát triển thêm: những nghi lễ cầu khẩn cũng có tác dụng gần giống như
vậy. Nếu một tội lỗi đã chín mùi thành quả báo, thì bạn không thể làm gì
được với nó. Bởi thế bạn phải sám hối tội lỗi trước khi quả báo xảy đến,
cũng như phá hủy hạt giống. Nếu bạn sám hối thì tội nhẹ sẽ sạch, tội nặng
sẽ hớt. Khi bạn sám hối những tội nặng mà hậu quả có thể làm bạn đọa vào
các cõi thấp xấu, thì những tội ấy sẽ chín ngay trong đời này, như bị lên
cơn sốt, v.v… Mặc dù tội lõi không có gì là tốt, song có điều là nó có thể
được tịnh hóa. Quả thế, không một tội lỗi nào mà không thể tịnh hóa được
nhờ pháp sám hối. Một tội lỗi được tịnh hóa đến mức độ nào là tùy năng lực
của ý định nơi bạn, và những hành vi bạn làm để sám hối. Bởi thế, bạn phải
có những ân hận sâu xa, nỗ lực kiềm chế, v.vv…
Một số người tu hành
phải chịu đừng nhiều điều bất như ý trong đời này, song điều ấy cũng tốt
vì nó có nghĩa rằng ác nghiệp mà đáng lẽ họ phải chịu quả báo trong những
đời tái sanh về sau, đã chín cho họ ngay đời này. Ví dụ những hành giả ấy
có thể bổng dưng bị sa sút về mức sống vật chất, như thế có nghĩa là một
cái nghiệp có thể khiến họ tái sanh vào loài quỷ đói đã chín ngay trong
đời này. Có nhiều người phạm tội nặng mà dường như luôn luôn gặp may mắn
hạnh phúc, trường thọ vân vân. Đấy là hậu quả của một vài thiện nghiệp của
đời quá khứ họ còn tàn dư đến đời này; về sau họ sẽ phải đi xuống những
đọa xứ để chịu dày vò bởi những thống khổ. Một điển hình về người tu mắc
nặn là Dromtoenpa - một bậc chân tu trong chánh pháp - đã bị bệnh cùi vào
lúc tuổi già. Bởi thế, đừng ôm giữ tà kiến; hay vui vẻ khi bạn bị đau ốm,
vân vân. Bạn sẽ chịu một sự mất mát lớn lao nếu bạn làm tổn đức mình bằng
cơn giận dữ. Bạn còn được lợi ích lớn do sự sám hối tội lỗi (trong lúc đau
ốm).
Để sám hối một tội
lỗi, bạn phải có đủ bộ bốn năng lực diệt tội.
Một là năng lực
“nền tảng”
là nhận thức cho đúng bạn sẽ sám hối với ai. Trong truyền thống chúng tôi,
điều này có nghĩa rằng, bởi vì bạn tích lũy một tội liên hệ đến một nền
tảng đặc biệt nào đó, nên sự tịnh hóa tội ấy cũng phải nương vào chính cái
nền tảng này, hệt như khi bạn té xuống đất, thì bạn phải nương tựa vào đất
để đứng lên. Bởi thế, vì bạn phạm tội liên hệ đến Phật hoặc hữu tình, nên
năng lực của nền tảng là quy y Phật, Pháp, Tăng v.v… và phát tâm bồ đề đối
với hữu tình. Tôi đã giải thích hai điều này rồi.
Hai là năng lực
“ân hận”;
nếu bạn có lòng hối hận, bạn sẽ tự chế cho khỏi tái phạm. Bạn phải hiểu
biết về luật nhân quả thì mới mong thực hiện được điều này. Giả sử ba
người bị nhiễm độc vì thức ăn. Một người chết, một người đau ốm, còn một
người chưa bị hậu quả nào xấu. Người sau rốt này sẽ rất ân hận, cố mọi
cách để tống khứ chất độc ra khỏi cơ thể, và quyết định sẽ không bao giờ
ăn thực phẩm ấy trở lại. Hữu tình cũng đã tích lũy cùng một loại tội
nghiệp, giống như ăn phải chất độc. Một số người đã tái sanh vào những cõi
thấp. Những người khác mãi mãi bị những chứng kinh niên trầm trọng của ba
độc tham sân si - giống như người đang ốm đau. Những người này cũng đang
rơi vào những đọa xứ. Chúng ta cũng đã từng phạm những ác nghiệp ấy, bởi
thế ta nên hối hận, và chừa tái phạm.
Ba là năng lực “tự
chế.” Bạn
phải làm việc này một cách thích đáng: bạn phải quyết định dứt khoát. Và
không nên dửng dưng sau khi học những lợi ích của sự sám hối tội lỗi. Bạn
thực hành sự tự chế theo cách sau đây. Những hành vi mà bạn có khuynh
hướng vi phạm, chẳng hạn nói lời gay gắt, dễ làm cho bạn không giữ được
hời hứa sẽ không bao giờ tái phạm. Nếu bạn không thực hành sự tự chế, thì
bốn năng lực không đầy đủ. Hãy chừa bỏ tận gốc cái gì bạn có thể chừa bỏ.
Có những điều bạn chỉ có thể bỏ trong vòng một tháng. Nhưng nếu mỗi ngày
bạn quyết định từ bỏ những điều ấy, thì bạn sẽ từ bỏ được những điều bạn
có thể từ bỏ trong chỉ một ngày. Luyện cách này là để bạn bỏ được tính
tương tục của việc làm quấy. Điều này là một chỉ giáo thật thiện xảo và
đặc biệt bổ ích từ đấng tôn sư tôi.
Bốn là năng lực
“áp dụng mọi cách giải tội.”
Người ta nói có sáu loại năng lực thuộc loại này; đấy là những phương tiện
thực thụ để thanh lọc những hành động khiến bạn ân hận. Sáu năng lực này
là bất cứ hành động nào được làm liên hệ đến chư Phật, đến thần chú, đến
kinh, sự quán tưởng chân không, cúng dường, và bất cứ gì ta làm liên quan
đến hình tượng. Có thể bạn không nói: “Tôi công nhận những điều này, tôi
sám hối những tội này”, nhưng nếu bạn làm một vài thiện hành nào đó - dù
chỉ là đọc một số lần câu thần chú Om mani padme hum - để thanh lọc tội
lỗi nào đó, thì hành vi này khi ấy thuộc về năng lực áp dụng mọi cách giải
tội. Nếu những tu sĩ chúng ta khi đi đến lớp khởi tưởng nghĩ mình phải
chịu những nỗi khổ nóng lạnh như một hành vi sám hối, thì đấy cũng là điển
hình của năng lực đặc biệt này.
Bạn phải sử dụng cả
bốn năng lực. Loại dễ nhất trong sáu loại năng lực “ áp dụng mọi cách giải
tội: nói trên là tụng niệm danh hiệu chư Phật; đấy là cách hành trì của
những bậc thánh trong quá khứ. Họ vừa lễ lạy vừa tụng kinh Sám hối Những
Tội Phạm Giới (còn có tên là Kinh Ba Thánh Tụ). Bài tụng này chứa đựng cả
bốn năng lực trên và lợi ích cho nỗi đức Tsongkapa người mà những thiện
hành đầy cả không gian, vẫn thường sử dụng để xây dựng kho công đức và
thanh lọc bản thân. Ngài thường thực hành pháp sám hối trong khi tụng kinh
này. Ngay cả những bậc hiền trí vĩ đại như Namkha Gyaetltsaen ở Lhodrag
cũng thanh lọc những nghiệp chướng theo cách ấy. Tất cả các bậc học giả
hành giả về sau đèu theo cách sám này; và bậc hành giả vĩ đại là Lozang
Namgyael bảo đầy là cách cao quý nhất. Khi đã tịnh hóa tội lỗi, thì tâm
bạn được thoải mái nhẹ nhàng, như người trả xong món nợ to lớn.
Những người làm một
số lượng lớn lễ bái cần phải khởi tâm cho đúng khi thực hành thành phần lễ
bái; nhưng đến thành phần đặc biệt này (trong phép cầu nguyện với bảy
thành phần), về phương diện thể chất họ chỉ có việc chắp hai tay lại mà
thôi, vì tốt hơn để dành việc lễ lạy nhiều vào trong thành phần sám hối.
Bạn làm pháp này như
sau. Trước hết bạn đọc ba lần thần chú tăng thêm đức hạnh: Om sambhara
sambhara vimanaskara mahà vajra hum. Om smara smara vimanaskara mahà vajra
hum. Rồi bạn đọc Kinh Sám Hối Những Tội Phạm Giới (xem trang…)
Mặc dù chư thần trong
kinh này đã là những thành phần của ruộng phước, bạn cứ làm phép quán sau
đây để cho họ thêm nổi bậc tầm quan trọng. Ba mươi bốn tia sáng chiếu ra
từ trái tim của bậc thầy của bạn. Mười tia đi lên, mười tia đi xuống. Bảy
tia sang phải, bảy tia sáng trái. Có ba mươi bốn bảo tòa mỗi tòa ngự trên
mỗi tia sáng ấy. Những bảo tòa có voi đỡ, được trang hoàng bằng ngọc trai.
Voi là con vật mạnh nhất, bảo tòa có voi đỡ tượng trưng ý nghĩa những vị
Phật ngồi trên ấy có năng lực lớn lao để tịnh trừ tội lỗi. Tất cả 35 vị
thần đều có những màu sắc khác nhau, sử dụng những vật biểu tượng khác
nhau nhưng để giản tiện, hãy phân các vị thành năm nhóm mỗi nhóm bảy vị.
Mỗi nhóm có cùng màu thân và dụng cụ giống nhau như năm vị Phật thiền.
Nhóm bảy vị đầu tiên có hình dáng của A súc bệ; nhóm thứ hai Tỳ lô giá na,
nhóm thứ ba Bảo sanh, nhóm bốn A Di Đà và năm nhóm Bất không thành tựu. Có
hai ngoại lệ trong biểu đồ này. Phật Thích Ca Mâu Ni thật sự thuộc vào
nhóm đầu tiên, nhưng hình ảnh ngài ở trong tim của bậc thầy là đủ. Vua
rồng Geyaràja có màu trắng ở phía trên cổ, phần còn lại của ông màu xanh.
Ông bắt ấn hàng long (hàng phục loài rồng rắn): hai ngón giữa châu vào
nhau dơ cao. Tất cả những hình ảnh này nên ở trước ruộng công đức (phước
điền).
Có ba cách tụng kinh
này. Một cách là đọc từ đầu đến cuối một số lần cần thiết để sám hối. Hoặc
chỉ tụng phần đầu, kể từ Đấng Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni của chúng ta và kết
thúc với đức Phật Vua của thần núi (Shailendraràja: Ta la thọ vương) số
cần thiết; theo cách này bạn chỉ tụng đi tụng lại hồng danh Phật một số
lần. Cách thứ ba là, chẳng hạn bạn sắp tụng 25 biến (lần) trong một thời
thiền quán duy nhất, thì bạn sẽ tụng mỗi danh hiệu Phật 25 lần, như vậy sẽ
dễ hơn cho bạn tập trung vào từng vị Phật và nhận sự cứu giúp riêng của
mỗi vị. Cũng như trong cách thứ hai, sau khi tụng hồng danh, phần kinh còn
lại chỉ tụng một lần.
Cách tụng hồng danh
từng vị Phật có nhiều lợi lạc. Hãy tham chiếu phần bình luận liên hệ. Nếu
bạn thêm vào 35 hồng danh, danh hiệu bảy vị Phật, thì bất cứ điều cầu
nguyện nào cũng thỏa mãn trong thời mạt pháp này, khi giáo lý Phật vẫn còn
tồn tại, (xem Ngày Thứ Bốn, trang 159). Chúng ta mong cầu những lợi lạc và
sự ban phước tức thì, bởi thế hãy lạy bảy vị Phật này khi tụng hồng danh.
Danh từ “Như Lai”
không được lặp lại trong bản kinh Sám hỗi những tội phạm giới, nhưng thật
không phải phép nếu tụng hồng danh Phật mà không kèm theo môt trong những
hiệu của Ngài. Bởi thế bạn phải thêm vào từ “Như Lai” trước mỗi hồng danh
Phật như cách mà đức Tsongkapa thường làm.
Khi ấy bạn nên tụng
Bài Sám Tổng quát hoặc một bài tương tự (xem Phụ lục). Bài kinh nói “Tham,
sân…”; nguyên nhân của tội lỗi là ba độc tố. Ba cửa ngõ vào là thân, lời,
ý bản chất là bất thiện khi có nhân là ba độc.
Kinh Sám Hối Những
Tội Phạm Giới nói: “Con xin sám hối từng tội lỗi không sót tội nào;”
đó là một cách sám sự vi phạm từng loại tội trong ba loại, cốt để đưa sự
chú ý của chúng ta đến những tội lỗi ta luôn vi phạm và sám hối thực
nghiêm túc.
Kinh Lời Nguyện
Những Hành Vi Cao Cả nói:
Do năng lực của tham, sân,
si
Con đã phạm nhiều tội lỗi
Bằng thân, lời và ý
Nay con xin sám hối tất cả
từng tội một.
d. Thành phần thứ
tư: HOAN HỈ
Hoan hỉ là hạnh bồ
tát, nên thật khó đối với chúng ta để làm hạnh ấy dù chỉ một chút xíu
trong tâm thức. Nhưng nếu ta làm được, thì không có cách nào tốt hơn để
xây dựng kho công đức, vân vân. Ngày xưa khi người ăn xin tên Sùtara hoan
hỉ thấy vua Ba tư nặc cúng dường Phật và chúng tăng, mà được nhiều lợi lạc
hơn vua. Đức Tsongkapa nói:
Muốn cho sự tích lũy
công đức có năng lực lớn
Mà không cần nỗ lực gì nhiều
Thì tốt nhất là hạnh vui với
điều lành
(tùy hỉ công đức)
Nói cách khác, chúng
ta không cần nhọc lời nhọc xác, vì ta cũng có thể tích lũy vô số công đức
bằng cách ngồi thoải mái mà tùy hỉ.
Một hôm vua Ba tư nặc
xin Phật dạy cho ông một ít pháp gì để thể tiện lợi cho ông thực hành
trong lúc ông vẫn làm một ông vua. Phật dạy ông thực hành ba điều: hoan
hỉ, phát tâm bồ đề, và hồi hướng công đức. Nhưng sự hoan hỉ của ta phải
không kèm theo một ý niệm ganh tị hay cạnh tranh nào. Nếu một người nào
không ưa ta mà có hành vi công đức, ta thường bĩu môi nói: “Họ chỉ làm
hình thức, không có lợi ích gì.” Không nên có thái độ như thế. Nếu những
tỷ kheo chúng ta mà biết vui mừng khi người bạn đồng phòng làm lễ dâng
cúng một trăm thứ, thì ta chắc chắn cũng được lợi lạc vài phần. Nếu vị ấy
có trình độ thấp hơn ta về giới pháp hoặc về tu chứng, thì ta sẽ được lợi
lạc gấp đôi vị ấy; nếu vị ấy cao hơn ta, ta cũng được nửa phần công đức.
Còn gì lợi hơn thế nữa? Và nếu chúng ta vui mừng với công đức của chư
Phật, Bồ tát trong quá khứ, ta sẽ được một phần mười công đức của các
ngài, vì dòng tâm thức của các ngài vô vàn cao hơn của chúng ta. Nếu chúng
ta chịu khó nhọc suốt cả đời để làm công đức, thì ta cũng chri dfc một
phần nhỏ những thiện đức mà một Bồ tát sơ địa có được trong một ngày. Còn
công đức của một vị Phật thì hoàn toàn ngòai sức ta ước lượng. Thế mà nếu
ta tùy hỉ công đức của chư Bồ tát ấy, thì ta có thể được mọt phần công đức
của họ. Một kỹthuật tâm linh duy nhất này là cách hữu hiệu nhất để tích
lũy công đức. Ở Tỉnh Trung ương này (của Tây Tạng), chánh pháp đang thịnh
hành, phụng sự một bậc thầy, tham thiền nhập định, học hành, vân vân. Nếu
chúng ta tùy hỉ tất cả những điều ấy, thì ta sẽ có được một số lượng khổng
lồ công đức căn bản. Bài nguyện Những Hành Vi Cao Cả nói:
Con tùy hỉ tất cả những công
đức
Của chư Phật mười phương,
Của chư Bồ tát, Duyên giác,
Những bậc Hữu học và Vô học
Và tất cả hữu tình.
Ở điểm này, những bậc
thầy nên đề cập đề tài này theo thứ tự sau: vui mừng khi những vị sẽ thành
Phật mới phát tâm bồ đề; vui mừng về những nghiệp của các bậc thánh hiền
quá khứ ở Ấn và Tạng; và vui mừng về sự tụng đọc của những người bạn cùng
phòng. Nhưng còn hai cách khác nữa để thiền quán về thành phần này: đó là
vui mừng với công đức của chính mình, và vui mừng với công đức của người
khác.
d-1.1. Vui mừng về công đức của bạn trong những đời trước, mà bạn có thể
đo lường nhờ suy luận.
Trong đời này, bạn đã
được thân tái sanh tốt. Hãy nhìn những điều kiện thuận lợi mà bạn đã thừa
hưởng để tu tập Pháp, và suy nghĩ chín chắn về chuyện trong những đời
trước, chắc bạn đã phải trì giới, hành bố thí, nhẫn nhục, v.v… và làm
những hạnh này một cách tuyệt hảo. Hãy liên tục suy nghĩ về điều này. Bạn
có lẽ đã không lầm lẫn về cách tự lợi, vì hậu quả là đời này bạn có được
thân tái sanh làm người tốt đẹp và thuận lợi. Bởi vậy, hỡi tỷ kheo, bạn
cũng biết bây giờ phải làm gì để được những tái sanh như vậy trong tương
lai. Một vài bậc thánh trong quá khứ đã nói:
Những đời quá khứ có giá trị
của bạn
Đã đem lại cho bạn thân
người quý báu hiện tại này.
Bởi thế, hởi tỷ kheo khả
kính,
Chớ để rớt vào hố sâu trong
đời sau.
Nếu ta xét cách hành
xử của mình trong hiện tại, ta có thể thấy ta sẽ tái sinh về đâu trong
những đời tương lai của ta. Ta không cần phải đi hỏi thầy bói, xem tướng
số, vân vân.
d-1.2. Vui mừng về
những công đức bạn làm trong đời này, mà bạn có thể đo lường nhờ nhận
thức.
Bạn nên nhớ lại tất
cả công đức mà bạn đã đích thân làm: sự tụng kinh, bố thí, phụng sự, học
tập, thiền quán, nghe pháp, tham dự lễ lạc hay thực tập tranh luận. Rồi
hãy vui mừng về những việc ấy mà không kiêu căng; nếu cảm thấy kiêu hãnh
thì bạn mất bớt công đức. Đây là cách tính toán mà bạn sẽ làm.
Chúng ta thường tính
tài chính của mình, v.v… nhưng dù có tăng bao nhiêu tiền của ta cũng chỉ
được một ít sung sướng trong đời này mà thôi. Nếu tăng trưởng công đức, ta
sẽ được tái sanh tốt đẹp làm người hoặc làm trời- những lợi lạc sẽ tiếp
tục cho đến khi bạn đạt giác ngộ. Những tội lỗi chúng ta sẽ đưa chúng ta
đến những nơi như Địa ngục Kim cương nằm dưới mặt đất nhiều do tuần.
{Khi ấy Kyabje
Pabongka Rinpoche kể câu chuyện về Geshe Baen Gunggyael người thường tính
tội phúc ông làm trong từng ngày; xem Ngày Thứ Mười Ba, trang…}
Đấy là những sự tính
toán mà ngay từ bây giờ ta nên làm, vì ta sẽ không làm được gì nữa khi
những tội và phước của ta được thanh toán trước mặt Diêm vương (thần
chết).
d-1.3. Vui mừng về
công đức của người khác.
Điều này có nghĩa là
vui mừng công đức của kẻ thù, bạn hữu và người xa lạ; hoặc về công đức của
những người thuộc vào năm hạng tái sanh; hoặc về sự nghiệp của những bậc
thánh và tiểu sử các ngài. Với hình thức vui mừng này, bạn phát triển công
đức mới, còn khi bạn vui mừng về công đức của chính mình, thì bạn tăng
thêm công đức cũ. Gungtang Rinpoche nói:
Làm thế nào để có công đức
lớn trong lúc nghĩ mệt:
Hãy vui mừng!
Chúng ta sống ở Tây
Tạng, một mảnh đất của Chánh Pháp; bởi thế chỉ cần ta thực hành hạnh vui
mừng khi ta đi, đứng, nằm hay ngồi. Nhưng sự vui mừng ấy phải như sự vui
mừng của Bồ tát: vui với niềm mong lợi lạc người khác. Giả sử có một gia
đình mà tất cả sự nuôi sống đều nhờ vào người cha. Không có gì làm cho
người cha ấy vui mừng hơn, nếu đứa con cả có thể xoay sở để tự kiếm sống.
Đấy là sự khác nhau giữa sự vui mừng nói chung và hình thức vui mừng đặc
biệt này của bồ tát.
e. Thành phần thứ
năm: THỈNH CHUYỂN PHÁP LUÂN
Lúc đầu, đấng Đạo sư
chúng ta không chuyển Bánh xe Pháp trong bảy tuần lễ sau khi Ngài giác
ngộ, nhưng như kinh nói:
Năm đệ tử có lòng tin ở Phạm
Thiên
Nhờ Phạm Thiên cầu thỉnh
Phật,
Nên Bánh xe Pháp đã được
quay.
Nói cách khác, vị
trời Phạm Thiên yêu cầu Phật ra giáo hóa, cho nên Phật đã quay bánh xe
pháp lần đầu, dạy bốn sự thật cho năm đệ tử đầu tiên. Ngài liệt kê bốn sự
thật ấy ba lần, nói về mười hai khía cạnh. Đây là sự quay bánh xe Pháp
“được tuyền.” Rồi A Nhã Kiều Trần Như (Ajnatakaundunya) trở thành đệ tử
đầu tiên đắc quả A La Hán, bốn vị kia đắc quả Dự lưu. Bởi thế các thánh đệ
tử này cố thành tựu sự chuyển bánh xe pháp “được chứng” trong dòng tâm
thức của họ; điều này phải xảy ra sau khi đã nhận Bánh xe pháp được
truyền. Pháp được truyền trước hết cũng phải có sự cầu thỉnh Phật chuyển
bánh xe Pháp. Đó là lý do thỉnh Phật chuyển pháp luân trở thành một trong
bảy thành phần của sự cầu nguyện. Như Thế Thân nói trong quyển Kho tàng
Vật lý Siêu hình:
Trước quay bánh xe pháp
Rồi con đường kiến đạo mới
theo sau.
Đoạn ấy nói rõ về
tiến trình các biến cố xảy ra.
Khi bạn thỉnh chuyển
Pháp luân, và nếu bạn có một bộ mandala, thì hãy xếp chín nắm trên nền
mandala và quán đấy là bánh xe ngàn căm băng vàng, trong lúc làm lời cầu
thỉnh. Bạn cũng có thể quán mình là Phạm Thiên. Rồi biến hóa ra vô số bản
sao của chính bạn đi đến chư Phật trong mười phương. Nếu không làm được
vậy, thì bạn có thể tưởng tượng trước mỗi thành phần của ruộng phước có
một bản sao của mình. Nếu điều này cũng quá sức bạn, thì hãy tưởng tượng
một hình ảnh bạn đang dâng lên các ngài một bánh xe.
Kinh bài Nguyện Những
Hành Vi Cao Cả nói tiếp:
Hỡi những ngọn đèn của thế
giới trong mười phương.
Những vị đã đạt đến ly tham
Và trình độ của chư Phật
Con xin các ngài, những Đấng
che chở;
Hãy chuyển bánh xe tối
thượng.
f. Thành phần thứ
sáu: THỈNH CẦU RUỘNG PHƯỚC ĐỪNG NHẬP NIẾT BÀN
Một quyển kinh nói:
“Chư Phật không bao giờ vào Niết bàn…” nói khác đi, là chư Phật nói chung
không đi vào tịch diệt. Pháp cũng không biến mất, nhưng đối với mắt phàm
thì ứng thân tối thượng có vào Niết bàn. Bởi thế ta phải xin Phật đấng Đạo
sư, đừng nhập Niết bàn. Không làm điều này là một lỗi lầm rất đáng tiếc.
Khi Phật sắp nhập Niết bàn Ngài bảo A nan: “Các đức Như Lai đã quen tùy
thuộc vào bốn vô úy và bốn thần túc. Chư Phật có một thân như kim cang.
Nếu muốn, các ngài có thể sống cả một kiếp hay hơn nữa.” Nhưng Anan vì bị
ma ám nên không hiểu được ý nghĩa Phật dạy. Bởi thế A nan không thỉnh cầu
bậc Đạo sư chúng ta ở lại trong đời, và hậu quả là Phật, dưới con mắt phàm
tình, đã nhập Niết bàn vào năm Ngài tám mươi tuổi. Bởi thế cốt nhất là ta
phải làm sự thỉnh cầu này trước khi quá muộn. Ở đây, bạn phải để năm nắm
trên đáy mandala của mình và tưởng tượng đấy là một tòa kim cương. Bạn có
thể tưởng tượng mình dâng một tòa kim cương cho mỗi thành phần trong ruộng
phước, hoặc chỉ một kim cương tòa tan vào trong tòa của ruộng phước.
Bài nguyện Những
Hành Vi Cao Cả nói:
Đối với những vị Phật định
nhập Niết bàn
Con xin chắp tay cầu thỉnh
Hãy ở lại trên đời nhiều
kiếp
Bằng số lượng vi trần trong
thế giới
Để cứu giúp hữu tình, đem
lại an vui cho chúng.
Trong khi bạn làm hai
thành phần cầu nguyện là thỉnh chuyển Pháp luân và thỉnh Phật trụ thế, bạn
phải tưởng tượng những thành phần trong ruộng phước chấp nhận cả hai lời
cầu xin.
g. Thành phần thứ
bảy: HỒI HƯỚNG
Điều cốt yếu là hồi
hướng công đức của chúng ta. Phái Kadampa trong văn luyện tâm có nói:
Có hai việc phải làm:
Một việc khởi đầu
và một việc kết thúc.
Đây là nói đến sự
khởi động lực tốt lúc đầu và hồi hướng công đức vào lúc kết. Những sự hồi
hướng cần thiết phải là một hình thức cầu n guyện, nhưng muốn cho sự cầu
nguyện trở thành một sự hồi hướng công đức thì phải có cái gì dâng cúng để
hồi hướng.
Có sáu điểm phải nêu
ở đây. (1) Cái gì được hồi hướng? Thiện đức căn bản của bạn.
(2) Tại sao phải hồi
hướng? Vì để cho công đức ấy không bị mất tiêu.
(3) Bạn hồi hướng
công đức ấy với mục đích gì? với mục đích đạt vô thượng bồ đề.
(4) Vì ai mà bạn bồi
hướng? Vì tất cả hữu tình.
(5) Làm thế nào để
hồi hướng? Như được nói trong Trang Hoàng Cho Thực Chứng: “Bằng phương
pháp và nhận thức đúng.”
Nói cách khác, bạn
thực hành sự hồi hướng với loại tư duy nào phối hợp vừa phương pháp vừa
trí tuệ bằng cách nhận thức đúng về ba thành phần của hành vi hồi hướng,
{nghĩa là vật hiến dâng, hiến dâng cho ai và hiến dâng với mục đích gì, cả
ba đều không tịch}. Điều này khiến bạn khỏi bám víu vào vật hiến cúng xem
như là có thật.
(6) Bản chất của sự
hồi hướng: sự hồi hướng được làm với mong ước những thiện đức căn bản của
bạn không biến mất; hồi hướng để mong chuyển công đức thành một nhân tố
cho sự giác ngộ vô thượng bồ đề của bạn.
Loại cầu nguyện này
có năng lực lớn. Ví dụ, bây giờ chúng ta không thiếu Pháp là nhờ Phật đấng
Đạo sư của chúng ta đã lập những lời nguyện, Xá Lợi Phất trở thành người
trí tuệ bậc nhất, là nhờ năng lực của sự dâng hiến, cầu nguyện v.v… của
ngài. Thiện hạnh của chúng ta như con ngựa, sự hồi hướng (hay dâng hiến)
như dây cương. Lại nữa, những nguyên liệu như vàng bạc… có thể được làm
thành một pho tượng Phật hay một cái bình tầm thường, đều là do người thợ.
Hậu quả của thiện hành chúng ta cũng vậy, có thể cao hay thấp là do sự cầu
nguyện và hồi hướng công đức của ta. Xưa có một người làm nhiều thiện đức
căn bản rất mạnh, có thể làm nhân cho sáu lần tái sanh làm trời Phạm
Thiên. Nhưng khi gần chết ông ta thấy một con voi thực đẹp và phát sinh
tâm ưa thích, nên hậu quả là ông tái sanh làm Bhùmisudrda, con voi của
trời Đế Thích cỡi.
Lúc còn bé, tôi
thường đọc lời cầu nguyện này:
Bất cứ nơi nào nền giáo lý
vi diệu chưa được lan đến,
Hoặc đã bị suy tàn,
Xin cho con vì lòng từ bi
rộng lớn
Sẽ gieo rắc ánh sáng trên
những kho tàng lợi lạc này.
Kết quả là bây giờ
tôi luôn luôn giảng dạy. Tôi lấy làm tiếc tại sao mình đã không cầu xin
được nhập định trên một sườn núi hoang vu nào đó.
Trong lời cầu nguyện,
bạn đừng hồi hướng công đức để có hạnh phúc trong đời này.
Nếu bạn không hồi
hướng công đức, thì công đức bạn có thể bị tiêu dên khi bạn nổi sân. Tác
phẩm Hành Hạnh Bồ Tát có nói:
Bao nhiêu công đức tốt đẹp
Tích lũy trong một ngàn kiếp
Như bố thí, cúng dường chư
Phật
Tất cả đều tiêu tan trong
một cơn giận dữ.
Nghĩa là sân giận phá
hủy những đức hạnh căn bản đã tích tập trên một ngàn kiếp. Chandrakirti
(Nguyện Xứng) nói:
Khi bạn nổi sân với những
Pháp tử của Phật.
Là bạn phá hủy trong giây
lát.
Tất cả đức hạnh tích lũy
trên một trăm kiếp.
Bởi thế không có tội nào tệ
hơn là sự mất kiên nhẫn.
Ở đây, chúng ta được
cho biết sân giận phá hủy công đức tích lũy trên một trăm kiếp. Chúng ta
phá hủy công đức của một ngàn kiếp tích lũy hay một trăm kiếp tích lũy và
tùy trình độ tu chứng của mình, và đối tượng của sự tức giận bồ tát, thì
mất một ngàn kiếp công đức. Nếu bồ tát cao cấp tức giận bồ tát dưới mình,
thì mất một trăm kiếp công đức.
Cách làm cho công dức
không bị tiêu hũy vì giận dữ được đề cập trong kinh Sàgaramati (Phạm Thiên
thưa hỏi Phật):
Như một giọt nước bỏ vào đại
dương
Sẽ không biến mất cho đến
khi biển khô cạn
Cũng thế công đức hồi hướng
để đạt vô thượng bồ đề
Cũng không bị tiêu mất cho
đến khi thành Phật.
Công đức chúng ta ví
như giọt nước, công đức của chư Phật như đại dương. Khi hồi hướng vô
thượng bồ đề là ta trộn chung công đức của ta với công đức của các Ngài,
cho nên công đức ấy sẽ không mất cho đến khi ta giác ngộ.
{Khi ấy Kyabje
Pabongka Rinpoche lấy ví dụ: một người có rất nhiều bột lúa mạch thượng
hạng, người kia chỉ có một ít bột lúa mạch tồi, nhưng đã láu cá đề nghị
với người kia trộn lại xài chung, và người kia bằng lòng nhưng sau đó mới
biết thì đã quá muộn, vì hai loại bột đã hòa lẫn nhau.}
Trích dẫn trên đây
không có trong bản nổi tiếng được lưu hành về kinh ấy, nhưng Phật dạy
nhiều kinh, và có thể rằng Sàgramati đã thỉnh vấn hơn một lần.
Một kinh dạy làm sao
để thực hành sự hồi hướng: “Hãy san sẻ công đức cho tất cả hữu tình.” Tác
phẩm Trang Hoàng Cho Thực Chứng của Di Lặc nói:
Tốt nhất là thực hành
hình thức hồi hướng tuyệt hảo, đó là hiến dâng trọn vẹn. Đó là một phương
diện của nhận thức đúng (chánh kiến -DG) và có đặc tính là chánh tư duy.
Hình thức nổi tiếng
nhất của sự hồi hướng công đức để đạt vô thượng giác ngộ là ý nghĩ: “Nhờ
công đức này, mong cho con đạt đến toàn giác vì tất cả hữu tình.” Cũng
thế, chúng ta đang san sẻ công đức ấy với tất cả hữu tình, và điều ấy cũng
như trộn lẫn công đức mình vào công đức của chư Phật - công đức chưa bao
giờ cùng tận do kết quả của những hành vi quảng đại mà các ngài đã làm vì
chúng sinh. Chúng ta cũng hiến dâng công đức mình để đóng góp vào những
việc làm vì tất cả chúng sinh, bởi thế điều cốt yếu là cầu nguyện sao cho
những công đức ấy sẽ đưa tất cả đến ngôi giác ngộ. Đức Di Lặc nói trong
quyển Trang Nghiêm Kinh:
Sự hồi hướng công đức
Được làm với một lời nguyện.
Nói cách khác, trước
khi tụng hồi hướng, ta khởi một ý nghĩ - một tâm sở - thì ý nghĩ ấy sẽ làm
cho công đức của ta không bị mất tiêu.
Đây nói vài lời về
những chứng nhân của hành vi hồi hướng. Bạn xin chư Phật Bồ tát làm chứng,
cũng như bạn xin người nào làm chứng cho bạn trước tòa. Trước khi bạn giải
tán phép quán hội chứng bí mật thuộc mật điển Guhyasamàja, bạn phải tụng
một số bài nguyện, mục đích là xin hội chúng ấy làm chứng.
Chúng ta chỉ có một
ít công đức, nhưng nếu ta hồi hướng cho việc đạt vô thượng bồ đề, thì công
đức ấy sẽ không mất cho đến khi ta đạt giác ngộ.
Có ba cách hồi hướng:
hồi hướng công đức để cầu cho sự lan truyền Phật pháp trong dòng tâm thức
của mọi người và trong chính bạn; để cầu cho bạn được bậc đạo sư săn sóc
đến trong đời vị lai; và cầu đạt được quả vị vô thượng giác ngộ. Bất cứ
một sự hồi hướng nào của bạn đều phải làm bằng một trong ba cách lớn lao
ấy. Như có câu: “Tất cả nguyện cho Con Phật rộng lớn như sông Hằng…” nghĩa
là việc hộ trì diệu pháp trở thành một cái nhân cho sự lan truyền giáo lý.
“Diệu pháp” ở đây vừa là pháp được truyền và pháp được chứng. Bởi thế ta
hồi hướng công đức để cho hai thứ giáo pháp ấy được lan rộng. Và trong bài
nguyện Những Hành Vi Cao Cả:
Bao nhiêu chút ít công đức
con có được
Nhờ lễ bái, cúng dường, sám
hối,
Tùy hỉ, thỉnh chuyển Pháp
luân, thỉnh Phật trụ thế,
Con đều xin hồi hướng cho sự
toàn giác của con.
Nói cách khác, hậu
quả của sự hồi hướng những công đức ấy, là sự giác ngộ hoàn toàn của bạn.
Nhưng cả hai việc duy trì Diệu pháp trong dòng tâm thức bạn. Nhưng cả hai
việc duy trì Diệu pháp trong dòng tâm thức bạn, và hậu quả của việc này là
đạt thành Phật quả - đều tùy thuộc vào sự kiện bạn có được một bậc đạo sư
săn sóc đến hay không. Bởi thế:
Sở dĩ con gặp được giáo lý
Của Đấng Đạo Sư Vô Thượng
Là nhờ vào lòng tử tế của
thầy con:
Nên con hồi hướng công đức
này
Xin cho tất cả hữu tình
Đều được những bậc đạo sư
săn sóc.
Nghĩa là, chỉ cần hồi
hướng công đức cho bạn có được một bậc thầy săn sóc là đủ. Bởi thế bạn hãy
hồi hướng theo một trong ba cách trên.
Câu “chút ít công
đức” là để đánh tan cảm giác hợm hĩnh của ta về chính mình, khi ấy ta sẽ
không kiêu căng.
“Bao nhiêu chút ít
công đức” nghĩa là tất cả những nghiệp (lành) ta đã tích lũy. Con “Cầu đều
xin hồi hướng cho sự toàn giác của con” là hồi hướng thực sự công đức ấy
để đạt giác ngộ.
Không có gì khác giữa
sự hồi hướng cho cái nhân và sự hồi hướng cho quả của nhân ấy; cũng như
xin bột lúa mạch và xin bánh làm bằng bột ấy thì cũng như nhau.
Nhưng chúng ta không
biết làm sao hồi hướng cho phải cách, nên ta đọc:
Như Bồ tát Văn Thù biết cách
hồi hướng,
Như Bồ tát Phổ Hiền cũng
biết cách
Con xin hồi hướng tất cả
công đức này
Để học làm theo cách của các
ngài ấy.
Con hồi hướng tất cả công
đức con
Theo cách mà tất cả chư Phật
ba đời
Đều ca tụng là cách tốt
nhất:
Con xin hồi hướng đến những
hành vi cao cả ấy.
Chúng ta được biết
đấy là lời nguyện tốt nhất mà chư Phật trong ba đời đã lập nên, và các
ngài đã làm việc để thực hiện viên mãn lời nguyện ấy. Chúng ta được biết
hai bài kệ trên chứa đựng triệu lần vô số những bài nguyện mà chư Pháp tử
và các Đấng Chiến Thắng đã lập, những vị đã hồi hướng công đức theo cách
như Văn Thù và Phổ Hiền làm. Nhưng hãy để ý: ta phải thực hiện thành phần
cầu nguyện này kèm với nhận thức đúng theo chánh kiến.
Đây là cách mà bảy
thành phần cầu nguyện làm vị thuốc chữa trị ba độc tố. Sự kính lễ chư Phật
làm kiêu mạn; sự cúng dường làm tiêu tan tánh keo kiệt; sám hối tiêu cả ba
độc; tùy hỉ tiêu ganh tị; thỉnh chuyển Pháp luân tiêu sự thiếu thốn Phật
pháp; thỉnh Phật trụ thế tiêu sự hỗn láo chê bai bậc thầy; hồi hướng công
đức tiêu tan nóng giận. Lại nữa, bảy thành phần này bao gồm những tiến
trình tích lũy (công đức-DG), thanh lọc bản thân và tăng trưởng công đức.
Bốn rưỡi thành phần xây dựng sự tích công đức, thành phần sám hối là sự
thanh lọc. Nữa thành phần tùy hỉ và tất cả thành phần hồi hướng tăng thêm
công đức căn bản của chúng ta.
Những sách học không
nói gì về điểm này nhưng theo chỉ giáo khẩu truyền của Kyabchog Dagpo
Rinpoche, mỗi thành phần trong 7 thành phần cầu nguyện đem lại những tướng
hảo khác nhau. Sự lễ bái đem lại tướng nhục kế trên đỉnh đầu; tôi đã bàn
điều này (xem Ngày Thứ Năm, trang…). Cúng dường đem lại quả báo có được
tài sản; Sám hối đem lại sự từ bỏ 2 loại chướng ngại; tùy hỉ công đức đem
lại thân tướng tốt; thỉnh chuyển pháp luân đem lại hậu quả là được phạm âm
như của Phật; Thỉnh Phật trụ thế đem lại thân Kim cang hay trí biết kéo
dài thọ mạng; Hồi hướng công đức đem lại tất cả đức tính của một vị Phật
nói chung.
Khi ấy bạn có thể
dâng cúng một mandala khác nữa trước khi làm sự cầu xin kế tiếp, hoặc dâng
mandala sau đó. Sự cầu xin ấy là:
“Con xin quay về nương tựa
bậc thầy và ba ngôi báu.
Xin ban phước cho dòng tâm
thức của con,
Xin gia hộ cho chúng con,
Để con và tất cả hữu tình,
những người đã từng làm mẹ của con,
Chấm dứt mọi tà kiến, từ tà
kiến không kính các bậc thầy cho đến chấp thủ bản ngã.
Xin các ngài ban phước cho
chúng con
Để chúng con phát sinh chánh
kiến một cách dễ dàng, kính trọng bậc đạo sư v.v…
Xin bậc thầy và ba ngôi báu
gia hộ chúng con
Và tịnh trừ cho chúng con
tất cả chướng ngại nội tâm và ngoại cảnh.”
Tuy nhiên thông
thường, phải dâng mandala trước sự xin cầu. Cũng như khi bạn cầu xin một
đấng đại vương một điều gì vô cùng quan trọng thì trước hết bạn phải biếu
ông một món quà khổng lồ. Chúng ta muốn xin ruộng phước ba điều quan trọng
cho nên phải dâng một mandala. Ba điều quan trọng ấy không phải là để cho
riêng chúng ta được lợi lạc, như được sống lâu, được sức khỏe… mà là xin
chấm dứt dứt mọi tà kiến như sự bất kính với bậc đạo sư, xin phát sinh mọi
chánh kiến, và xin tịnh trừ tất cả chướng ngại bên trong và bên ngoài. Về
phương diện mật tông đáng lẽ chúng ta phải nói. “… khỏi có sự bất kính đối
với các bậc đạo sư, khỏi có một tướng đối đãi vi tế nào phát sinh trong
cái ảo giác, ánh sáng bên trong, và những giai đoạn ở ngưỡng cửa” (những
điều này xảy trước khi hành giả thể nhập Ánh Sáng Trong Suốt hay Điểm Linh
Quang). Bản văn chúng ta sử dụng để làm nghi thức chuẩn bị không nói rõ
điều này sau câu “từ sự bất kính đối với bậc đạo sư,” nhưng tôi nghĩ chúng
ta có thể thay thế lập ngôn theo Mật tông này trong phần sau. Người ta nói
rằng không có pháp nào là không thể bao hàm trong ba điều trên. Ngoại
chướng là chiến tranh, pháp nạn… Nội chướng là bệnh tật…, hoặc những
chướng ngại bí mật do tâm ta không thể sử dụng Pháp hay không thích nghi
với Pháp.
Chúng ta thường có lệ
thêm vào những danh từ “xin ban phước cho chúng con…”
1.1.6.
Những lời cầu xin
thêm sau chỉ giáo khẩu truyền cốt để bảo đảm dòng tâm thức của bạn đã thấm
nhuần thiền quán.
Tôi đã nói rằng
phương pháp tốt nhất để triển khai dòng tâm thức là khẩn cầu bậc thầy, xem
thầy không khác gì vị thần hộ mạng của mình. Chúng ta sẽ khai triển được
những kinh nghiệm tôn giáo và chứng thực trong dòng tâm thức nhờ năng lực
của sự gia trì của chư Phật Bồ tát sẽ thấm vào trong dòng tâm thức của ta
do hậu quả của sự khẩn cầu.
Những cầu khẩn này
được lập ngôn theo nhiều cách, nhưng đoạn sau đây là đoạn hay nhất. Người
ta bảo tụng kinh mà không sử dụng bài này là một điều đáng tiếc.
(khẩn cầu Bổn Sư)
Hởi Bổn sư tôn quý của con,
xin hãy an vị
Trên tòa sen và nguyệt luân
trên đỉnh đầu con.
Xin thương xót con vì lòng
bi mẫn.
Cho con những thành tựu về
thân lời ý
(Khẩn cầu với hệ phái
Hành Động Quảng Đại)
Đấng đạo sư, Thế tôn của
chúng con - bậc cứu thế vô song.
Di Lặc đấng vô địch - vị
nhiếp chính của đấng Chiến Thắng.
Thánh Asanga mà Phật đã tiên
đoán sự ra đời.
Con dâng lời cầu khẩn đến ba
đức Phật và Bồ tát
Vasubandhu - viên ngọc tối
tôn trong các triết gia Ấn Độ
Thánh Vimuktisena người sáng
lập trung đạo,
Vimuktisenagomin - người vẫn
còn được tin tưởng:
Con dâng lời khấn nguyện lên
ba vị đã mở con mắt thế gian.
Paranasena - người thành tựu
trạng thái siêu phàm,
Vinìtasena - người luyện tâm
trong những đạo lộ sâu thẳm.
Vairochana - với hành động
đầy quyền năng:
Con khẩn cầu ba người bạn
của hữu tình.
Haribhadra - Người hoằng
dương con đường Bát nhã
Kusali - người nắm giữ tất
cả giáo lý Phật,
Ratnasena - người thương yêu
săn sóc hữu tình:
Con khẩn cầu ba vị thuyền
trưởng của chúng sinh
Suvarnadvìpi - người có tâm
Bồ đề kiên cố,
Dipamkàra Atìsha - nắm giữ
truyền thống những bậc tiên phong
Dromtoenpa - người làm sáng
tỏ thánh đạo:
Con khẩn cầu ba cột sống của
nền giáo lý.
(Khẩn cầu với Hệ
Phái Tri Kiến Sâu Xa).
Thích Ca Mâu Ni - bậc thầy
vô tỉ, vô thượng cứu tinh,
Đức Văn Thù - người nắm giữ
tất cả trí tuệ của chư Phật
Đức Long Thọ - bậc thánh cao
cả thấy được ý nghĩa sâu xa:
Con khẩn cầu ba châu báu
tuyệt đỉnh trong các triết gia.
Chandrakìrti - người làm
sáng tỏ thánh ý,
Vidyakokila - giỏi nhất
trong hàng đệ tử của Chandrakìrti,
Và em ngài - một Pháp vương
tử chân chính
Con khẩn càu ba nguồn tri
thức dồi dào.
Atìsha - người nhận chân
được chiều sâu lý Duyên khởi
Và nắm giữ con đường của
những bậc tiên phong
Và Dromtoenpa - người làm
sáng tỏ thánh đạo:
Con cầu khẩn hai châu báu
của đất Diêm phù.
Câu “Đấng đạo sư, Thế
tôn của chúng con - Bậc cứu thế vô song” trở đi ám chỉ Hệ Phái Hành Động
Quảng Đại. Từ câu “Thích Ca Mâu Ni …” trở đi ám chỉ Hệ Phái Tri Kiến Sâu
Xa. Cả hai đoạn đều có lời khẩn cầu với bậc đạo sư của chúng ta, người đã
khai thị cả hai hệ phái. Một đoạn cũng ám chỉ cái phần sâu xa: đó là sự
toàn trí vĩ đại của Ngài. “Người thuyết giảng vô song” là một cách ca tụng
đức Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy giáo lý duyên khởi.
Khi bạn muốn hỏi ý
kiến một quan chức về một vấn đề rất quan trọng, thì bạn cần phải có người
trung gian để nối giúp. Bởi thế hãy quán một bản sao của một vị thầy tách
ra đứng trước mặt bạn - hình thức thường ngày của ông. Bản sao này an vị
trên đỉnh đầu bạn. Hãy tưởng tượng ông xin với chư Phật Bồ tát giùm bạn.
Khi bạn tụng phần đầu câu “Hởi bổn sư tôn quý của con… những thành tựu về
thân, lời, ý” bản sao của bậc thầy di chuyển lên đỉnh đầu bạn và cùng bạn
khẩn cầu với ruộng phước. Những cam lồ tịnh hóa tuôn xuống trong khi lặp
lại lời khẩn cầu, và một bản sao khác của bổn sư bạn tan vào trong bạn.
Trong nghi thức chuẩn
bị cho lời Đức Văn Thù, theo truyền thống người ta không tụng dòng thứ tư
của những bài kệ ấy đến hai lần như trong Nghi thức chuẩn bị cho Con Đường
Nhanh và Con Đường Dễ.
Trong lúc bạn đọc
dòng cuối bài kệ “Hởi bổn sư tôn quý…” lần đầu. Hãy tưởng đến sự tịnh hóa
tất cả chướng ngại tu tập những giai đoạn thuộc cả hai ngành rộng và sâu
của đạo lộ trong dòng tâm thức bạn. Khi đọc lần đầu những giòng mở đầu bài
kệ Hệ Phái Hành Vi Quảng Đại, hãy tưởng tượng bạn đã tịnh trừ những chướng
ngại cho sự tu tập hành vi quảng đại; đến phần Hệ Phái Tri Kiến Sâu Xa
cũng vậy.
Khi bạn tụng những
giòng ấy lần hai, hãy quán tưởng những bản sao của các bậc thầy đề cập
trong đó tan vào trong bạn, và bạn triển khai được những thực chứng vào
những đạo lộ sâu hoặc rộng.
Rồi đến những bậc
thầy thuộc truyền thống Lam-rim Kadampa.
(Khẩn cầu Hệ Phái
Truyền Thống Lam-rim)
Gampopa - bậc hành giả hùng
vĩ nhiều năng lực,
Neuzurpa - nhất tâm tịnh chỉ
sâu xa,
Tagmapa - người hộ trì tất
cả ngành luật tạng:
Con khẩn cầu ba ngọn đèn soi
sáng những chốn xa xôi
Namkha Senge - hành giả tinh
tấn vĩ đại
Namkha Gyaelpo - người được
chư thánh hộ trì
Senga Zangpo - người từ bỏ
tám bận tâm thế tục:
Con khẩn cầu đức Gyaelsae
Zangpo.
Người với bồ đề tâm xem tất
cả chúng sinh như con ruột,
Người được gia hộ và chăm
sóc bởi thần Kim cương thủ,
Hướng đạo sư tối thượng cho
hữu tình vào thời mạt pháp:
Con khẩn cầu Namkha
Gyaeltsaen.
Để ý những bậc thầy
hệ phái này được đặt sau những bậc thầy Hệ Phái Hành Vi Quảng Đại. Điều
này có thể khiến cho người ta ngạc nhiên: “Họ có thuộc Hệ Phái Hành Vi
Quảng Đại không?” Không, mặc dù họ đứng sau những vị ấy.
(Khẩn cầu Hệ Phái
Truyền Thống Cổ Điển)
Geshe Potowa - vị nhiếp
chính của Đấng Chiến thắng,
Sharawa - người có trí tuệ
không ai sánh bằng
Chaekawa - người nắm giữ hệ
phái Bồ đề tâm:
Con khẩn cầu ba vị đáp ứng
hi vọng hữu tình.
Chilbupa - vị Bồ tát ngự trị
những truyền thừa và tuệ giác,
Lhalung Wangchug - học giả
vĩ đại uyên bác về kinh,
Goenpo Rinpoche - người che
chở chúng sinh trong ba cõi:
Con khẩn cầu ba vị trưởng
lão vô song.
Zangchenpa - người có giới
hạnh vô cấu
Tsongkapa - người duy trì
năm ngàn chương luật tạng,
Moendrapa - người hoàn tất
những luận siêu hình lớn lao:
Con khẩn cầu ba đại cứu sinh
của hữu tình.
Chúa tể của các Pháp rộng và
sâu,
Đấng che chở tất cả hữu tình
may mắn,
Mà công việc cao quý là
hoằng truyền chánh giáo:
Con khẩn cầu một bậc tôn sư
quang vinh.
Cuối câu này là cầu
Choekyab Zangpo, tu viện trưởng Dragor (xem Ngày Thứ Nhất, trang…). Sự
khẩn cầu những hệ phái lại tiếp:
(Khẩn cầu Hệ Phái
Truyền Thống Giảng Dạy)
Tsultrimbar - hoàng tử vĩ
đại trong những học giả,
Zhoenus Oe - người đào luyện
hướng đạo tâm linh của mình
Gyergompa - người luyện tâm
trên đạo lộ thượng thừa:
Con khẩn cầu ba Pháp tử của
Đấng Chiến thắng.
Sangyaeboen - kho tàng những
đức tính vi diệu,
Namkha Gyaelpo - được chư
thánh hộ trì,
Senge Zangpo - người từ bỏ
tám bận tâm thế tục:
Con khẩn cầu Gyaelsae
Zangpo.
Người với bồ đề tâm xem tất
cả chúng sinh như con ruột,
Người được gia hộ và săn sóc
bởi trời của những vị trời
Hướng đạo sư tối thượng cho
hữu tình vào thời mạt pháp:
Con khẩn cầu Namkha
Gyaeltsaen.
Những hệ phái này
dường như dẫm lên nhau, nhưng không phải thế. Lối tụng đọc này hợp với chỉ
giáo truyền khẩu sau đây. Sau khi Hệ Phái Những Hành Vi Quảng Đại truyền
đến Atìsha, ngài đã phối hợp hệ phái này với Tri Kiến Sâu Xa. Vậy Atìsha
cũng truyền Hệ Phái Tri Kiến Sâu Xa cho đệ tử trưởng của ngài là
Dromteonpa. Ba hệ phái Kadampa liệt kê riêng rẽ. Gampopa là vị đầu tiên
của truyền thống Lam-rim Kadampa; hệ này truyền xuống Namkha Gyaeltsaen.
Kế đến Hệ Phái Cổ Điển trải từ Potowa đến Choekyab Zangpo. Truyền Thống
Chỉ Giáo trải từ Chaen Ngagwa Tsultrimbar đến Namkha Gyaeltsaen. Ở điểm
này ba hệ phái nhập làm một dòng duy nhất. Ta khởi đầu với sự khẩn cầu Je
Rinpoche, một hình thức thay đổi của thần chú ngài, để nhận một sự gia trì
đặc biệt.
Đức Quán Tự Tại - kho tàng
lớn của từ bi thấy đúng
Đức Văn Thù - đấng toàn tri
vô cấu,
Đức Tsongkapa - bảo châu tối
cao của những học giả xứ Tuyết:
Con khẩn cầu đức Lozang
Gragpa.
Trong phép quán ruộng
phước, và Đức Văn Thù được vây quanh bởi những bậc đạo sư thuộc Hệ Phái
Hành Động Quảng Đại hoặc Hệ Phái Tri Kiến Sâu Xa, cả hai hệ phái đều kết
thúc bằng Atìsha và Dromtoenpa. Hãy quán Truyền thống Lam rim của Kadampa
ngay trước cả hai hệ phái; nhóm này gồm có Gampopa được vây quanh bởi
Neuzurpa vân vân. Họ thành lập một nhóm giảng dạy, Truyền Thống Cổ Điển -
Geshe Potowa vây quanh bởi chín bậc thầy khác trong hệ phái - thì ở bên
trái hoặc bên phải của Truyền Thống Lam-rim. Quán Chaen Ngagwa vây quanh
bằng bảy bậc thầy thuộc truyền thống Chỉ giáo, ở một bên nhóm truyền thống
Lam-rim.
Đức Tsongkapa ngồi
trước nhóm này. Những bậc thầy thuộc phái Kadampas mới (hậu kỳ) xếp hàng
hai bên ngài.
{khẩn cầu với Hệ phái
Gelug}
Jampal Gyatso - vị hoàng tử
vĩ đại trong những đọc giả.
Kaedrub Rinpoche - mặt trời
của những triết gia
Basoje - người giữ kho chỉ
giáo bí mật:
Con khẩn cầu ba bậc đạo sư
vô tỷ.
Choekyi Dorje - người đã đạt
sự hợp nhất,
Gyaelwa Ensapa - người thành
tựu ba thân,
Sangyae Yeshe - người gìn
giữ sự truyền thừa và tuệ giác
Con khẩn cầu ba vị học giả
uyên thâm.
Lozang Choekyi Gyaeltsaen -
người cầm cờ Pháp chiến thắng,
Koenchog Gyaeltsaen - đệ tử
thân cận nhất của ngài,
Lozang Yeshe - người rọi ánh
sáng trên thánh đạo:
Con khẩn cầu ba vị lama tối
tôn.
Ngagwang Jampa - người hoằng
truyền giáo lý đức Thích Ca
Lozang Nyaendrag - được xem
là đệ tử thân cận nhất của ngài,
Yoentaen Ta - Yae - người có
vô biên thiện đức:
Con khẩn cầu ba bậc thầy từ
bi
Taenpa Rabgyae người hoằng
dương giáo lý của Lozang Yeshe,
Lodroe Zangpo - người làm
việc để giải thoát tất cả hữu tình.
Lonzang Gyatso - người giảng
dạy thiện xảo
Con khẩn cầu ba bậc thầy vô
song.
Với đức bổn sư tối thượng
đầy từ bi của con (Jinpa Gyatso);
Đấng vô tỷ, người nắm giữ
vừa giáo lý vừa thực hành.
Chuyên chở vừa truyền thừa
tuệ giác
Cho bốn hạng người may mắn
có khả năng đón nhận:
Con khẩn cầu với sự thành
kính tột bực của thân lời ý.
Bậc đa văn học nhiều, người
mở rộng
Phạm vi của chỉ giáo khẩu
truyền
Và mở bày những hành trì ẩn
mật của hai giai đoạn:
Con khẩn cầu ngài Taenzin
Kaedrub.