GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAY
Một bài giảng khúc chiết về con đường
đạt đến giác ngộ
(Liberation in the Palm of Your Hand-
Aconcise discourse on the path to enlightenment)
Pabongka Rinpoche
Edited by Trijang Rinpoche
Translated by Michael Richards
Thích Nữ Trí
Hải dịch
--- o0o ---
PHẦN MỘT
NHỮNG CHUẨN BỊ SƠ KHỞI
NGÀY THỨ BA
Shàntideva đã nói:
Tôi đã được tái sanh làm thân người thuận
lợi
Cái thân người khó được,
Có thể giúp ta hoàn thành những mục tiêu
Nếu tôi không rút lợi lạc từ thân này
Thì làm sao tôi có hy vọng được thừa hưởng
Một sự tái sinh thuần tịnh như thế này trở
lại?
Nói cách khác, bây giờ khi ta đã được thân
người thuận lợi, thì không nên chỉ ham muốn những hạnh phúc thế gian. Cũng
không nên chỉ chuyên lo hàng phục kẻ thù, che chở người thân, vân vân; cả
đến những thú vật cũng có thể làm những chuyện này. Nếu ta không dùng thời
gian còn lại của mình trên đời để thực hành một pháp - một điều chắc chắn
lợi lạc cho những đời sau của ta, và khiến ta khác với súc vật - thì thật
khó cho chúng ta có những tái sinh như thế này trong tương lai. Bây giờ,
một khi ta đã được thân người, thì chúng ta phải thận trọng.
Muốn làm lợi lạc cho những đời sau chúng ta
phải thực hành pháp này, nghĩa là những giai đoạn trên đường đến giác ngộ.
Bởi thế bạn phải lấy bồ đề tâm làm động lực tu hành, và khởi tâm: “Tôi
sẽ đạt thành Phật quả vì lợi lạc tất cả hữu tình. Bởi thế tôi sẽ lắng nghe
giáo lý sâu xa này về những giai đoạn của con đường đến giác ngộ, và thực
hành đúng theo đó.” Chỉ sau khi khởi tâm như vậy rồi các bạn mới nên
lắng nghe.
Pháp mà bạn sắp nghe là gì? Ðó là pháp Ðại
thừa, Pháp đưa những người may mắn đến quả vị Phật.
(Rồi Kyabje Pabongka Rinpoche tiếp tục nói
một mạch như hôm qua. Ngài tóm tắt bốn tiêu đề mà ngài đã nói, rút về một
tiêu đề duy nhất là: “Bài giảng về những Chặng Ðường Ðến Giác Ngộ.” Mặc dù
hôm qua chúng tôi đã nghe qua tiêu đề thứ nhất trong bốn tiêu đề, hôm nay
ngài cũng nhắc nhở lại rằng giáo lý này được truyền xuống từ đức Thích Ca
bậc đạo sư của chúng ta. Ngài cũng nhắc lại rằng rất lâu về sau, nền giáo
lý này mới có nhiều hình thức khác nhau, như Lam-rim, những giai đoạn của
giáo lý, vân vân. Nhưng tất cả những hình thức giáo lý này đều lấy Ngọn
Ðèn Soi Ðường làm bản kinh gốc. Ðiều này được đề cập chi tiết trong những
tiểu sử trong các bậc thầy trong những hệ phái Lam-rim.
Sau khi tóm tắt như thế, ngài nói tiếp:
Hôm nay tôi sẽ giảng tiêu đề thứ hai:
II. TÍNH CÁCH VĨ ÐẠI CỦA PHÁP, ÐƯỢC NÓI ÐỂ
TĂNG NIỀM KÍNH PHÁP.
Pháp Lam-rim có bốn sự vĩ đại và ba nét
đặc thù để phân biệt với những giáo lý cổ điển khác. Bốn sự vĩ đại là:
1. Sự vĩ đại giúp bạn nhận ra rằng tất cả
những lời dạy đều ăn khớp.
2. Sự vĩ đại giúp tất cả kinh điển đối với
bạn đều trở thành lời chỉ giáo.
3. Sự vĩ đại giúp bạn dễ dàng khám phá ý
thật của Ðấng Chiến thắng.
4. Sự vĩ đại giúp bạn tự cứu thoát khỏi
những tà hạnh tệ nhất.
A. TÍNH CÁCH VĨ ÐẠI CHO BẠN NHẬN RA RẰNG
MỌI GIÁO LÝ ÐỀU ĂN KHỚP
Giáo lý ở đây chỉ cho kinh điển của Phật
thuyết. Luận về Ngọn Ðèn Tuệ của Bhàvaviveka nói:
“Giáo lý có nghĩa như sau: những kinh điển
của đức Thế Tôn dạy không cong quẹo về những điều mà chư thiên và nhân
loại nào mong muốn vị cam lồ cần biết, những điều chúng cần từ bỏ, những
điều chúng cần làm hiển lộ, và những điều chúng cần quán tưởng.”
“Nhận ra tất cả giáo lý đều ăn khớp”
có nghĩa rằng mỗi người đều phải thực hành những lời dạy ấy để được giác
ngộ.
“Ăn khớp” có nghĩa là hòa điệu. Ðại
thừa, Tiểu thừa, Luật và Mật điển, vân vân, có vẻ như đối chọi lẫn nhau
trên phượng diện ngôn ngữ văn tự, nhưng tất cả đều là pháp tu chính yếu
đưa đến giác ngộ hoặc là một con đường tắt đưa đến giác ngộ. Bởi thế những
giáo lý ấy đều ăn khớp với nhau. Giả sử bạn bị sốt nặng. Lúc đầu y sĩ cấm
bạn dùng thịt, rượu, vân vân, và bảo: “Những thứ ấy sẽ nguy hiểm cho ông
nếu ông không từ bỏ chúng.” Nhưng về sau, khi cơn sốt đã hạ, và yếu tố
“phong” quá thạnh nơi con bệnh, thì bác sĩ lại khuyên ăn thịt vân vân. Chỉ
có một con bệnh ấy, một y sĩ ấy, mà có hai lời khuyên - lúc đầu cấm thịt,
lúc sau khuyên ăn - dường như không ăn khớp nhau. Song kỳ thực không phải
như vậy, vì cả hai lời khuyên ấy đều cốt ý chữa lành cùng một con bệnh.
Tương tự, bạn có thể nghĩ “Tiểu thừa, Ðại
thừa, Kinh giáo, Mật giáo, vân vân mỗi thứ cốt dành cho những hạng đệ tử
đặc biệt, không phải tất cả giáo lý ấy đều dành cho một người thực hành để
đạt giác ngộ.” Nhưng cũng không phải vậy. Một người đang nói cho một người
nghe về những pháp tu để giác ngộ. Khi người nghe đang ở trình độ Nhỏ hay
Trung bình, thì đầu tiên đức Phật giảng giáo lý tiểu thừa. Vị ấy phải quán
vô thường, khổ. Sau khi đã tiến bộ, vị ấy bây giờ ở vào trình độ Phạm Vi
Lớn, nên giáo lý Ðại thừa được giảng cho vị ấy. Bây giờ vị ấy thụ giáo về
tâm bồ đề, về sáu hạnh ba la mật, vân vân. Và khi vị ấy trở thành một pháp
khí thích hợp với mật điển, đức Phật giải thích về Kim cang thừa: hai giai
đoạn của Du già tối thượng và những thực hành mật có đôi. Tuy nhiên tất cả
những pháp ấy đều thích hợp cho một người như bạn tu để giải thoát. Bởi
thế bất cứ một kinh điển nào của Ðấng Chiến thắng cũng thuộc về hoặc là
một dòng chính của đạo lộ hoặc là một trong những con đường tẻ của đạo lộ;
không một kinh nào của thừa đối với một người tu để đạt tuệ giác.
Mối bận tâm chính của một bồ tát là làm việc
cho lợi ích của tất cả hữu tình. Như vậy bồ tát phải dạy cả ba con đường
để hướng dẫn ba hạng đệ tử (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) đi đến giải
thoát theo cách riêng của họ. Nhưng nếu bồ tát tự mình không biết ba con
đường ấy thì không thể dạy lại cho người khác. Dharmakìti (Pháp xứng) nói
trong tác phẩm Luận về những Pháp Có Giá Trị rằng: “Những phương tiện để
đạt đến những cứu cánh này thật tối nghĩa; thật khó bàn luận về chúng.”
Con đường đưa đến sự liễu tri cả ba đạo lộ thuộc ba thừa là cái mà bồ tát
cần phải khai triển trong dòng tâm thức của mình để bảo đảm về những con
đường khác nhau mới có thể đem đến lợi lạc cho hữu tình. Kinh dạy:
“Này Tu bồ đề, Bồ tát tu tập tất cả các đạo
lộ, dù là đạo lộ Thanh văn, đạo lộ Duyên giác hay đạo lộ bồ tát, Bồ tát
liễu tri tất cả đạo lộ.”
Trong tác phẩm của Maitreya (Di Lặc) nhan đề
Trang Hoàng Cho Sự Thực Chứng, chúng ta thấy câu này: “Những người muốn
làm việc cho hữu tình thì nên lợi lạc thế gian bằng cách liễu tri các đạo
lộ.”
Một điểm khác: cứu cánh là Phật quả, đấy là
một quả vị có được mọi đức tính tốt đẹp, tất cả lỗi lầm đều đã tận trừ.
Muốn đạt đến của vị này, con đường đại thừa là phải khiến cho tất cả lỗi
lầm của một người đều chấm dứt, làm cho họ thể hiện tất cả đức tính. Bởi
vì không có quyển kinh nào mà không trừ diệt một hạng lỗi lầm nào đó, hay
khiến tu tập một loại đức tính nào đó, cho nên tất cả kinh điển đều bao
hàm Ðại thừa.
Ta hãy xét vấn đề “tính chất nhất quán của
kinh điển” một cách chi tiết. Có hai cách: Thế nào bạn nên hiểu rằng tất
cả những giáo lý được truyền lại - nghĩa là những sự trình bày về đề tài
chính - đều ăn khớp nhau; và thế nào bạn nên hiểu rằng các pháp được chứng
ngộ - nghĩa là bản thân đề tài - đều ăn khớp nhau.
Ba tạng kinh điển, bốn loại mật điển, vân
vân, làm nên kinh và luận giải về kinh. Và như tôi đã giải thích, tất cả
đều hợp thành một pháp thực tập nhịp nhàng để đưa một con người tiến đến
giác ngộ. Ðây là cách hiểu về “tính nhất quán của tất cả giáo lý được
truyền lại.”
Ðề tài của những giáo lý này là những con
đường khác nhau thuộc cả ba phạm vi. Phạm vi nhỏ bao hàm những nhân tố để
được tái sinh vào các thượng giới như trời, người. Những nhân tố này chính
là đạo đức từ bỏ mười bất thiện hành, vân vân. Phạm vi Trung bình bao hàm
những pháp tu đưa đến sự vi diệu của giải thoát - những pháp tu như là từ
bỏ hai sự thật đầu (là Khổ và Tập - DC) trong bốn sự thật, và thực hiện
hai sự thật cuối cùng (là Diệt và Ðạo - DC) và pháp tu ba vô lậu học. Phạm
vi Lớn gồm những pháp tu đưa đến sự vi diệu của toàn trí - những pháp như
phát bồ đề tâm, sáu ba la mật, vân vân. Do vậy, tất cả đề tài này lập
thành một pháp tu hài hòa đưa hành giả đến giác ngộ, và cần hiểu là hoàn
toàn ăn khớp nhau.
Dromtoenpa, một trong những ông vua về Pháp,
nói: “Thầy tôi biết cách xem tất cả những giáo lý như bốn góc của một con
đường có bốn mặt.” Ðây là lời chính xác của ngài, nhưng được giải thích
nhiều cách. Bốn góc là ba phạm vi với các mật điển là góc thứ bốn. Hoặc,
bất kể bạn tung một trong hai con xúc xắc như thế nào, luôn luôn có một
mặt tứ (?) xuất hiện; cũng thế, mỗi đề tài thiền quán đều bao hàm toàn thể
đạo lộ.
Ta có thể theo những cách giải thích ấy,
nhưng tôn sư tôi, người che chở và nơi nương tựa của tôi, đã dạy:
“ Khi bạn kéo một góc của chiếc chiếu bốn
góc, là bạn đã chuyển được toàn thể chiếc chiếu. Cũng tương tự như thế, đề
tài của một quyển kinh nào cùng với những luận giải về kinh ấy, đều đưa
đến một pháp thực hành để đạt giác ngộ. Có thể nói là bạn đang kéo một
trong bốn góc của pháp thực hành này.”
Ðây là một lối giải thích rất quan trọng.
B. TÍNH VĨ ÐẠI KHIẾN MỌI KINH ÐIỂN TRỞ
THÀNH NHỮNG LỜI CHỈ GIÁO CHO BẠN
Nếu bạn chưa gặp hệ thống “Những Giai
Ðoạn Trên Ðường Ðến Giác Ngộ” này, thì tất cả kinh điển đối với bạn
không thành ra những lời chỉ giáo. Nhưng những chỉ giáo tối thượng là kinh
điển của Ðấng Chiến thắng và những luận thư cổ điển vĩ đại bàn về kinh ấy.
Trên thế gian chưa từng có một bậc Thầy nào hơn đức Thích Ca Mâu Ni, đấng
Thế tôn, đấng Thiện thệ, Người phá hủy toàn triệt tất cả nhiễm ô. Tác phẩm
Maitreya (Di Lặc) nhan đề Dòng Tương Tục Vi Diệu Của Ðại Thừa nói:
Trong thế gian
này không học giả nào
Vượt qua Ðấng
Chiến thắng.
Với toàn trí
ngài liễu tri chân như tối thượng
Và liễu tri
vạn pháp; người khác không thể hiểu.
Bởi thế, đừng
thêm bớt bất cứ gì
Mà bậc Ðại
thánh đã để vào kinh điển
Vì như vậy sẽ
phá hoại
Hệ thống của
Thích Ca Mâu Ni
Và làm hại cho
Thánh Pháp
Ngày nay không ai còn xem kinh điển của
Ðấng Chiến thắng - chẳng hạn Lời Ðức Phật được Phiên Dịch- như là
một cái gì để thực hành, mà chỉ để tụng vào những buổi lễ. Người ta cũng
có nghiên cứu những tác phẩm cổ điển của hai nhà tiên phong (Long Thụ và
Vô Trước) giảng giải về những kinh điển này, nhưng chỉ để mà có thể trích
dẫn vào những dịp tranh luận. Ngay cả những học giả uyên bác nhất, mỗi khi
khởi sự hành thiền cũng không biết làm sao để hội nhập những bản kinh ấy
vào sự tu tập của họ, mặc dù đã bỏ cả đời để nghiên cứu và chiêm nghiệm
những kinh ấy. Họ đi đến những người nổi tiếng là thiền giả vĩ đại, nhưng
thực sự không biết gì cả, hoặc họ học vài pháp tu quán (sadhanas) về cách
làm sao để theo dõi những vận hành có ý thức của tâm ý; rồi họ quán về
những chuyện ấy một cách nô lệ. Ðức Tsongkapa vĩ đại đã nói:
Họ nghiên cứu thực nhiều, nhưng vẫn
nghèo nàn về Pháp:
Giai do vì họ không xem kinh điển như
những chỉ giáo (để thực hành. DC).
Nghĩa là, thật tai hại vô cùng nếu
không xem kinh điển là những lời chỉ giáo.
Ví dụ có một tiến sĩ ở tu viện chúng ta đi
về thăm quê nhà ở tỉnh Kham. Ông ta xin một vị lama phái Nyingma một lời
chỉ giáo để tu tập, rồi thiền quán theo sự chỉ dạy vắn tắt của vị ấy. Vì
việc này mà những người địa phương tuyên truyền rằng Pháp của phái Gelugpa
chắc chắn chỉ dành để thảo luận, không có cái gì để thực hành. Bởi thế mọi
người đều làm ngơ giáo lý của phái Gelugpa. Tôi thấy vị tiến sĩ này đã làm
gương xấu, và cho chuyện này thật là đáng buồn.
Các bạn phải thực hành bất cứ pháp gì mà
mình đã hiểu rõ ý nghĩa nhờ học hỏi và quán tưởng; và ý nghĩa của pháp nào
bạn đang tu cũng phải được kiểm chứng cho chắc chắn bằng vào sự học quán.
Nếu bạn đã chắc chắn về một pháp nhờ học và quán, rồi lại đi thực hành một
pháp gì khác, thì cũng giống như chỉ cho một người nào con đường đua, rồi
lại sử dụng một mảnh đất khác cho một cuộc đua ngựa của bạn. Những Giai
Ðoạn Lớn của Con Ðường là dùng ví dụ ấy. Có lẽ cần giải thích một
chút. Bạn sắp tổ chức một cuộc đua ngựa. Bạn chỉ một nơi nào đó, và mọi
bảo mọi người: “Ngày mai chỗ này sẽ là con đường ngựa chạy đua.” Thế nhưng
vào đúng ngày đua ngựa, bạn lại tổ chức cuộc đua tại một địa điểm khác.
Vậy, nếu bạn không thể xem kinh điển như
những chỉ giáo thực hành, lý do vì bạn đã không nắm vững những giai đoạn
của Con đường Ðến giác ngộ. Nhưng khi đã nắm vững, thì cũng sẽ hiểu
được rằng tất cả văn hệ cổ điển - như kinh Phật Thuyết chẳng hạn - đều có
thể xếp vào khuôn khổ Lam-rim, rằng đấy là những pháp hoàn toàn dành để tu
tập.
Một thời, Ngawang Chogdaen giữ ngai tu
viện trưởng Ganden. Sau khi hoàn tất sự huấn luyện ở tu viện, ngài nhận
nhiều chỉ giáo từ Jamyang Shaypa - chẳng hạn Ba Nòng Cốt Của Ðạo Lộ của
Tsongkapa. Ngài được khai thị vào phương pháp thiền quán về những tư tưởng
chứa đựng trong toàn bộ kinh điển và mật điển. Về sau ngài tuyên bố rằng
cuối cùng ngài mới hiểu được thời gian ngài nghiên cứu phạm vi rộng lớn
của văn học Phật giáo cổ điển hóa và cũng là thời gian ngài học Những
Giai Ðoạn Chính Của Con Ðường. Ðiều này chứng tỏ đối với ngài, kinh
điển là những chỉ dẫn tu tập.
Khi nhà đại học giả Lozang Namgyael đang
khẩu truyền tác phẩm Bát Nhã Bát Thiên Tụng, thỉnh thoảng ngài lại nói:
“Ôi, ước gì ta chưa già quá thế này. Ðấy là điều ta cần nên thiền quán tư
duy!”
Khi bạn hiểu Lam-rim, tất cả mọi thực tập
thảo luận trong sân tu viện cũng phải thuộc về Lam-rim: bạn phải xem sự
thực tập thảo luận này như một hình thức của sự chỉ giáo về thiền. Giả sử
bạn đang thảo luận về đề tài phát bồ đề tâm: bạn sẽ lập tức rút ra những
so sánh với chương Phạm Vi Lớn đề cập sự đào luyện tâm bồ đề. Hoặc, bạn sẽ
so sánh một thảo luận về Mười Hai Nhân Duyên với Phạm Vi Trung Bình. Hoặc,
bạn cũng làm tương tự vói cuộc thỏa luận về những cảnh giới thiền định
thuộc về Sắc Giới và những tầng thiền chứng Vô Sắc, và so sánh những thiền
này với phần nói về Tâm Tịnh chỉ trong Lam-rim. Ngay cả khi tụng đọc một
nghi thức tụng niệm, bạn cũng phải hội nhập được nghi thức ấy vào Lam-rim,
bất kể bài tụng ấy rút từ kinh nào.
Bạn cũng phải làm được việc ấy một cáh sẵn
sàng khi tình cờ gặp một trang kinh sách tả tơi trong một điện thờ nằm bên
đường. Một lần khi tôi hãy còn bé, tôi trông thấy một trang sách bỏ rơi
trong một điện thờ trên con đường xung quanh một tu viện. Trang ấy là một
trong những bài ca của đức Dailai Lama thứ bảy, Kaelzang Gyatso.
Con ong nhỏ
trong hoa Ðỗ quyên
Bay từ đóa hoa
rực rỡ này đến đóa hoa khác
Nó di chuyển
nhanh làm sao.
Bài ca của tôi
sẽ giải thích hình ảnh này:
Nhiều người
trong thời mạt pháp
Có tâm cấu
nhiễm và ngụp lặn trong những chuyện tầm thường.
Hãy nhìn cách
chúng phút trước là bạn
Mà phút sau đã
thành kẻ thù.
Tôi không tìm
đâu ra một người bạn kiên cố.
Nói cách khác, tôi nối kết ngay những kinh
nghiệm tôi có khi ở ngôi chánh điện ấy với phần Phạm Vi Trung Bình đề cập
nỗi khổ vì tính bất trắc trong cõi luân hồi sinh tử.
Je Rinpoche (Tsongkapa) hỏi Rinchen Pel,
một đại học giả, ý nghĩa của danh từ “Kadam” (nghĩa đen là “chỉ giáo của
kinh điển”). Ông trả lời: “Dù chỉ có một chữ N từ trong kinh điển đối với
mình cũng như là một lời chỉ giáo không được bỏ qua.”
Câu trả lời ấy là Je Rinpoche hài lòng tới
nỗi ngài ca ngợi trong một buổi giảng dạy công cộng: “Hôm nay một học giả
đã khai triển được ý tôi. Ðúng như ông ấy nói.”
Bởi thế, tất cả kinh điển - cả đến một từ
kinh bị bỏ rơi trong chánh điện - đều là những chỉ giáo để hướng dẫn một
người đến giác ngộ. Ðiều này áp dụng cho bạn và sự giác ngộ của bạn. Nó có
thể là đức Phật và các tác giả khác đã giảng những kinh ấy đặc biệt cho
riêng bạn. Một thái độ như thế sẽ đem lại cho bạn niềm tin tuyệt đối vào
tất cả kinh điển.
Jangchub Rinchen một hành giả mật tông
nói: “Không ai bảo chúng ta phải tìm những chỉ giáo để đạt giác ngộ trong
một tuyển tập những bùa chú - chúng ta phải tìm sự chỉ giáo trong tất cả
kinh điển.” Chúng ta phải suy nghĩ cách ấy mới được; những lời này đánh
ngay vào gốc rễ. Vậy xem tất cả kinh điển như những chỉ giáo là chuyện nên
làm.
Bạn có thể tự hỏi: “Có thật đầy đủ không
nếu ta chỉ học Lam-rim?” Ý nghĩa của kinh và luận đều chứa đựng trong
Lam-rim - kể từ đoạn nói về nương tựa một bậc thầy cho đến chương nói về
tâm tịnh chỉ. Một pháp Lam-rim thực thụ có thể có một số tiêu đề chi tiết
hoặc ngắn gọn. Một ít tiêu đề trong số này đòi hỏi một pháp thiền quán
phân tích (như tưởng niệm về Phật, Pháp, Tăng-DC) trong khi một số khác
đòi hỏi một pháp thiền định dán chặt (như quán biến xứ hay kasina-DC). Khi
bạn đã nắm vững bộ sườn của những tiêu đề này, bạn sẽ biết được loại thiền
định nào áp dụng cho mỗi tiêu đề. Với sự hiểu biết này, bạn sẽ sẵn sàng
liên kết bất cứ kinh nào bạn gặp với pháp thực hành một đề tài Lam-rim đặc
biệt nào đó - điều này chứng tỏ bạn đang xem kinh điển như là những lời
chỉ giáo thực hành.
Sau đây là một ví von dễ hiểu mà bậc thầy
tôn qúy của tôi thường đưa ra. Giả sử một người không có chỗ để chứa gạo,
lúa mạch, đậu vân vân, và tình cờ y gặp một nắm gạo chẳng hạn. Y không
biết phải làm gì với nó và có lẽ sẽ vứt bỏ nó. Cũng thế, nếu bạn chưa nắm
được toàn vẹn cơ cấu của đạo lộ, và tình cờ gặp một cuốn kinh, bạn sẽ
không nhận thức được rằng mình phải liên hệ kinh ấy với một đề tài
Lam-rim. Bạn sẽ không biết làm thế nào để thực hành theo kinh ấy. Nếu bạn
đang có gạo, lúa mạch, đậu, mỗi thứ chỉ một cân, mà có thêm được nắm gạo,
thì bạn sẽ sung sướng bỏ thêm gạo ấy vào kho lương thực của bạn. Khi bạn
đã nắm vững cái sườn của những đề tài thiền quán Lam-rim, bạn sẽ dễ dàng
liên kết bất cứ quyển kinh nào với một tiêu đề Lam-rim đặc biệt.
(Khi ấy Rinpoche giảng chi tiết về cái sự
làm thế nào, một bản văn về Lam-rim có toàn bộ sườn của Lam-rim thì có thể
dẫn hành giả đi qua Con đường, bất kể độ dài của bản văn ấy. Ngài so sánh
điều này với hai căn phòng, một phòng của một viên chức chiùnh phủ, phòng
kia của một tu sĩ bình dị: cả hai phòng đều chứa đủ những bàn ghế cần dùng
cho mục đích của họ.)
Lại nữa cần chú ý: có khác nhau giữa nhận
thức rằng tất cả kinh điển đều nhất quán, và nhận thức rằng tất cả kinh
điển đều là lời chỉ giáo thực hành. Có được nhận thức đầu không nhất thiết
có nghĩa là có được nhận thức sau. Nhưng nếu bạn có được nhận thức sau,
thì đường nhiên có được nhận thức đầu.
C. TÍNH VĨ ÐẠI CHO PHÉP BẠN DỄ DÀNG TÌM
RA Ý THẬT CỦA PHẬT.
Những kinh và luận như tôi đã nói, chính
là những chỉ giáo thực hành tốt nhất. Tuy nhiên bạn không thể khám phá ra
những ý tối hậu của Ðấng Chiến thắng chỉ nhờ đọc những tác phẩm cổ điển vĩ
đại ấy, nếu không có một chỉ giáo nào của bậc thầy về những giai đoạn của
con đường đưa đến giác ngộ, kể như một cái sườn để tham khảo, mặc dù đề
tài của những kinh điển ấy biểu trưng ý tối hậu của Phật. Muốn tự mình
khám phá được những ý ấy từ nơi kinh luận, bạn phải nắm lấy kinh luận
trong một thời gian dài. Nhưng nhờ Lam-rim, bạn sẽ dễ dàng khám phá ý
nghĩa mà không cần phải khổ công như vậy.
Có lẽ bạn đang tự hỏi: Gì là những ý của
Ðấng Chiến thắng? Bậc tôn sư tôi, nơi nương tựa và che chở cho tôi, đã dạy
rằng thông thường, những ý ấy được xem là ba phạm vi; nhưng còn quan trọng
hơn nữa là, sự cần thiết phải thực hành Ba Nòng Cốt Của Ðạo Loä.
Ðiều này chắc chắn đúng. Ðức Tsongkapa vĩ đại đã làm sáng tỏ những ý tối
hậu của Ðấng Chiến thắng về Chánh kiến. Trong tác phẩm Ba Nòng Cốt Của
Ðạo Lộ, Tsongkapa nói:
Các tướng do
duyên sinh
Thì không phải
là ảo tưởng;
Nhưng có những
người
Lại hiểu Tánh
Không là một cái gì vắng mặt tướng ấy.
Khi nào bạn
còn thấy hai cái đó khác nhau,
Thì bạn sẽ
không bao giờ
Nhận ra được ý
của Ðức Ðạo Sư.
Ðiều này thực sự có ý nghĩa rằng, bạn chưa
hiểu được ý Phật nếu bạn chưa có Chánh kiến. Chính nhờ năng lực của chánh
kiến mà cuối cùng bạn mới nắm được ý Phật. Trong cùng bài kệ ấy, Tsongkapa
nói: “ý nghĩa tinh túy của mọi kinh điển của Ðấng Chiến thắng...” Ðiều này
ám chỉ Nòng cốt từ bỏ. Ngài nói tiếp: “... con đường mà chư Phật và con
đường Phật ca ngợi...” Ðiều này ám chỉ Nòng cốt Bồ đề tâm. Cuối cùng ngài
nói: “... cửa vào cho những người may mắn muốn giải thoát.” Ðiều này ám
chỉ Nòng cốt chánh kiến. Như vậy ngụ ý rằng bạn vẫn cần hai nòng cốt kia,
là từ bỏ và tâm bồ đề. Bởi thế, khi bạn dựa vào Lam-rim, bạn sẽ dễ dàng
khám phá rằng đề tài của những tác phẩm cổ điển vĩ đại là nhắm đến sự phát
triển ba nòng cốt ấy trong dòng tâm thức bạn. Khi ấy bạn sẽ dễ dàng tìm ra
ý của Ðấng Chiến thắng.
Giả sử kinh sách cổ là một biển cả. Ý của
Ðấng Chiến thắng - ví dụ ba nòng cốt của đạo lộ - là châu ngọc trong biển
ấy; Lam-rim như con thuyền; bậc thầy giảng dạy giáo lý ấy như thuyền
trưởng. Mặc dù trong biển có châu báu, nhưng nếu không có thuyền mà bạn đi
kiếm châu báu thì bạn chỉ có nước bỏ mạng trong biển. Nếu bạn không sử
dụng Lam-rim như chiếc thuyền, thì sẽ rất khó cho bạn khám phá ra ý của
Ðấng Chiến thắng, dù cho bạn có tham khảo cổ thư. Bạn phải nương vào một
bậc thầy như thuyền trưởng thiện xảo, bước lên con thuyền là Lam-rim, rồi
bạn sẽ dễ dàng tìm thấy châu ngọc trong các cổ thư: ý tối hậu của Phật.
D. TÍNH VĨ ÐẠI GIÚP BẠN TỰ CỨU MÌNH
KHỎI NHỮNG TÀ HẠNH ÐỆ NHÂT
Ở đây, Những Giai Ðoạn Lớn Của Ðạo Lộ
và các kinh luận khác đều dạy rõ ràng bạn không nên làm một điều gì sẽ
đem lại cho bạn cái nghiệp và sự chướng ngại phát sinh từ nghiệp ấy, kèm
theo là sự từ bỏ Pháp. Nhưng nếu bạn chưa để tâm bạn ba vĩ đại đầu trong
bốn sự vĩ đại này, thì bạn sẽ luôn luôn làm những phân biệt vặt vãnh khiến
bạn kính trọng một pháp này hơn những pháp khác - những phân biệt như Ðại
thừa đối với Tiểu thừa, hay Pháp lýthuyết đối với Pháp thực hành.
Từ bỏ một vài phần của pháp thường phát
sinh một dòng tương tục những loại nghiệp xấu nhất, từ đó có những những
chướng ngại nghiêm trọng nhất. Kinh Dệt Mọi Pháp Vào Với Nhau nói:
Này Văn Thù, những chướng ngại phát sinh
do cái nghiệp từ bỏ Diệu Pháp thuộc loại rất vi tế. Văn Thù, người ta từ
bỏ pháp khi họ xem một vài kinh điển của đức Như Lai là hay, còn vài kinh
khác thì rất dở. Bất cứ kẻ nào từ bỏ Pháp thì hậu quả là cũng phỉ báng
Phật và nói xấu Tăng. Một người từ bỏ Pháp khi nó tuyên bố: “Kinh này
đúng, Kinh kia sai.” Một người từ bỏ Pháp khi nó tuyên bố: “Kinh này dạy
cho bồ tát.” hoặc “Kinh này dạy cho Thanh văn.” Một người từ Pháp khi nó
tuyên bố: “Pháp này dành cho Ðộc giác.” Một người từ Pháp khi nó tuyên bố:
“Ðiều này không phải là một trong những điều mà bồ tát nên tu tập.”
Từ bỏ Pháp là một hành vi hết sức nguy
hại, như kinh Vua của Ðịnh Nhất tâm nói:
Từ bỏ kinh tạng là một tội lớn hơn
nhiều
So với sự phá hủy tất cả tháp trong Nam
Thiệm Bộ Châu.
Từ bỏ kinh tạng là một tội lớn hơn
nhiều
So với giết một số lượng A la hán nhiều
như cát dưới đáy sông Hằng.
Nếu bạn đã tin chắc về ba vĩ đại đầu trong
bốn sự vĩ đại, thì bạn sẽ không làm ngơ bất cứ một giáo lý nào của Ðấng
Chiến thắng; bạn sẽ kính trọng ngang nhau tất cả kinh điển, vì tất cả kinh
điển đều là những pháp để thực hành. Bạn sẽ thoát khỏi tình trạng xem một
vài pháp là hay và vài pháp khác là dỡ, vì điều này là yếu tố trọng đại
nhất góp phần vào việc từ bỏ Pháp. Lại nữa, nếu bạn suy nghĩ về những cách
làm thế nào để tận tụy với bậc thầy của mình cho thỏa đáng, thì bạn sẽ trừ
được những nghiệp chướng mà bạn có thể có đối với bậc thầy ấy. Và khi bạn
đã tin chắc vào sự thật vô thường và thân người thuận lợi, thì bạn sẽ an
nhiên chấm dứt những ác hành do bám víu vào cuộc đời này. Bạn sẽ chấm dứt
những tà hạnh liên hệ đến ngã ái khi bạn theo đề mục thiền định về phát
tâm bồ đề. Khi bạn tu tập thiền quán vô ngã, bạn sẽ chấm dứt bám víu vào
một cái ngã. Một cách tự nhiên bạn sẽ dừng lại tất cả những lối hành xử tà
vạy và phi pháp nhất, nhờ bạn phát triển sự thực chứng từng đề mục thiền
quán của Lam-rim.
Tôi sẽ đưa ra một ví dụ để giải thích làm
thế nào mà ba sự vĩ đại đầu tiên giúp tăng tiến sự tu hành của bạn. Giả sử
bạn sắp vẽ một bức tranh có tính tôn giáo. Bạn cũng biết là bạn phải chuẩn
bị những điều kiện thích nghi như là phòng để vẽ, sơn, cọ v.v... Sự biết
này cũng tương tự như nhận thức rằng tất cả kinh điển đều ăn khớp nhau.
Bạn phải biết vẽ như thế nào, làm sao để sử dụng những dụng cụ ấy - cũng
như bạn phải xem tất cả kinh điển đều là những lời chỉgiáo. Và vẽ cho đẹp
là tương tự như khám phá được ý của Phật.
Bốn sự vĩ đại này thông thường được hiểu
theo hai cách: bốn vĩ đại của sự trình bày, nghĩa là danh từ được sử dụng;
và bốn vĩ đại của đề tài, tức ý của những danh từ ấy. Kinh điển có bốn vĩ
đại liên hệ đến trình bày. Tuy nhiên điều quan trọng hơn nữa là con người
lại có bốn vĩ đại liên hệ đến đề tài.
Ðến đây kết thúc phần bốn vĩ đại. Ngoài
bốn vĩ đại này ra Lam-rim còn có ba đặc sắc:
a) Nó toàn vẹn, vì chứa đựng tất cả đề tài
của kinh giáo và mật giáo.
b) Nó dễ thực hành vì nhấn mạnh những bước
điều phục tâm.
c) Nó thù thắng hơn những truyền thống
khác vì chứa đựng những chỉ giáo từ hai bậc đạo sư đã học những truyền
thống của hai vị tiên phong.
E. LAM RIM LÀ TOÀN DIỆN VÌ CHỨA ÐỰNG
TẤT CẢ ÐỀ TÀI KINH VÀ MẬT
Trong khi Lam-rim không thể nào bao gồm
tất cả những lời lẽ trong kinh luận, nó lại chứa đựng và giảng dạy tất cả
những ý nghĩa nòng cốt của kinh luận. Ngay của một bản văn ngắn nhất của
Lam-rim cũng làm được việc này. Toàn bộ ý nghĩa của kinh và luận đều bao
hàm trong ba phạm vi của Lam-rim; Lam-rim bao gồm và giảng giải đề tài của
toàn thể kinh và luận. Ðức Tsongkapa vĩ đại đã nói như sau trong một thư
gửi Lama Umapa:
“Chỉ giáo này từ Dìpamkàra Shìjnana - Ngọn
Ðèn Soi Ðường - dường như chứa đựng mọi lời chỉ giáo của kinh và luận. Nếu
người ta biết cách giảng dạy hay nghiên cứu tác phẩm này, thì đấy không
những là những chỉ giáo thực hành mà còn là một tổng hợp của tất cả kinh
giáo.”
Những giáo lý các trường phái khác có
nhiều bảng kê khác nhau: bốn chỉ giáo về những chuẩn bị tiên quyết như quy
y vân vân; giảng dạy vè những pháp tu chính yếu, vân vân. Tuy nhiên, những
phái Kadampa tiền kỳ và hậu kỳ của chúng ta ngày nay đều có truyền thống
bỏ qua những liệt kê dông dài ấy, và giảng dạy mọi sự theo Lam-rim.
Ngọn Ðèn Soi Ðường dạy tổng hợp mọi đề tài kinh điển trong phạm vị ba
tập giấy mỏng. Tất cả những bản Lam-rim khác cũng cô đọng mọi đề tài lại
như thế, và dùng Ngọn Ðèn Soi Ðường làm bản kinh gốc. Tsongkapa
nói:
Nó cô đọng
tinh yếu của mọi kinh điển,
Qua sự giảng
dạy, nghiên cứu Lam-rim
Dù chỉ một
lát,
Người ta cũng
đạt được lợi ích
Của việc thảo
luận và nghiên cứu
Tất cả nền
diệu pháp
Hãy quán sát ý
nghĩa Lam-rim
Vì đấy là điều
chắc chắn để được lớn mạnh trong giáo pháp.
Nói khác đi, nghiên cứu, quán tưởng, giảng
dạy, và thụ giáo một giáo lý Lam-rim chính là nghiên cứu, quán tưởng và
học hỏi về ý nghĩa trọn vẹn của tất cả kinh luận. Khi bạn thực hành dù chỉ
một chuỗi phản quan thiền định về Lam-rim, thực tập thiền định ấy cũng bao
quát tất cả kinh và luận. Nhân vật vĩ đại phái Kadampa là geshe Toelumgpa
nói:
Khi tôi giảng dạy những giai đoạn con
đường đến giác ngộ cho bạn, bạn có thể được một hiểu biết khái niệm về tất
cả những kinh sách trên thế gian. Tất cả những quyển sách ấy sẽ nghĩ: “Lão
thầy tu già tóc hoa râm này đã móc tim ra ra!” và phải run lên trước ý
nghĩa ấy.
Thật vậy, bởi vì nếu có một buổi giảng về
Lam-rim tiến hành tốt, thính chúng chú tâm, thì tinh túy của tất cả sách
vỡ trên thế gian đều đã được bàn đến trong buổi giảng ấy. Như vậy, một mặt
Lam-rim bao hàm ý nghĩa tất cả kinh điển, mặt khác, nó là chìa khóa để mở
kinh. Không có sự tóm thâu Pháp yếu nào tốt hơn thế. Bởi vậy mà Geshe
Toelumgpa đã nói về sự giảng dạy Lam-rim rằng: “Tôi đã chặt thành từng
mảnh con trâu Pháp khổng lồ.”
Những người căn cơ thấp kém có thể không
hiểu được những bản Lam-rim giảng giải chi tiết, nhưng họ vẫn có thể dựa
vào một bản Lam-rim ngắn, chứa những giáo lý rõ ràng mà vẫn bao quát toàn
bộ sườn của Lam-rim. Giáo lý rõ ràng này cũng vẫn có thể hướng dẫn họ trên
đường tu. Nhưng nếu bản văn bỏ ra ngoài dù chỉ một trong những đề mục
thiền, thì nó không thể hướng dẫn cho bất cứ ai.
Hãy lấy ví dụ thức thuốc trị sốt là
Camphor 25. Bạn không cần phải đi mua một gói bự đầy đủ từng món một trong
25 món và uống từng món; nếu thứ thuốc ấy đã được bào chế đúng cách, thì
dù một viên cũng có thể làm hạ ngay cơn sốt. Nhưng nếu thiếu một trong 25
món thì thuốc ấy sẽ không mà cho bạn hạ nhiệt được, dù bạn có uống thật
nhiều vào đi nữa.
Bây giờ khi bạn đã may phước gặp được nền
chỉ giáo tuyệt diệu này, thì bạn phải chuyên môn trong lĩnh vực ấy
F. LAM RIM DỄ THỰC HÀNH VÌ NHẤN MẠNH
NHỮNG BƯỚC ÐIỀU PHỤC TÂM.
Chúng ta đã từng trải bao nhiêu là đau khổ
trong cõi sinh tử luân hồi, và cũng đã lên tột đỉnh hạnh phúc mà cõi sinh
tử có thể đem lại. Tất cả những đau khổ và hạnh phúc ấy đều do chính tâm
của chúng ta tạo nên. Không có pháp nào tốt để điều phục tâm hơn là
Lam-rim; Lam-rim đặc biệt nhấn mạnh những phương tiện để đạt được tâm điều
phục. Bởi thế Lam-rim dễ áp dụng cho sự thực hành.
G. LAM RIM THÙ THẮNG HƠN NHỮNG TRUYỀN
THỐNG KHÁC VÌ CHỨA ÐỰNG NHỮNG CHỈ GIÁO TỪ HAI BẬC THẦY ÐÃ ÐƯỢC HỌC CÁC
TRUYỀN THỐNG CỦA HAI BẬC TIÊN PHONG.
Bậc thầy thuộc trường phái Long Thụ và
Vidyakokila; bậc thầy thuộc trường phái Vô Trước là Suvarnadvìpi. Giáo lý
này được những chỉ giáo của các vị này làm cho phong phú; và bởi thế mà nó
thù thắng hơn là truyền thống khác. Như đức Tsongkapa vĩ đại có nói:
Những giai
đoạn của con đường đến giác ngộ
Phát xuất từ
Long Thụ và Vô Trước -
Những viên bảo
châu tối thượng trong các học giả ở thế gian.
Mà danh tiếng
nổi bật trong loài hữu tình như một cây cờ.
Ngay cả tác phẩm (của Di Lặc) Trang
Hoàng Cho Thực Chứng - cũng không có được ba đặc điểm này. Ngay cả vua
của mật điển là Shì Guhyasanmàja (Shhyasamaja Tantra) cũng không có. Hai
bản kinh này không chứa đựng tất cả đề tài của kinh và mật, cũng không
nhấn mạnh đến việc điều phục tâm.
Bây giờ, khi bạn đã có đủ diễm phúc để
nghiên cứu, quán tưởng và thiền định về Lam-rim với những tính vĩ đại và
nét thù đặc ấy, thì bạn không nên thỏa mãn với những chỉ giáo bất toàn vụn
vặt. Ðiều thật thiết yếu là bạn phải hết sức nổ lực để đi trên con đường
này.
Ðến đây là xong phần tiêu đề chính thứ hai
“Tính vĩ đại của Pháp.”
III. CÁCH THÍCH ÐÁNG ÐỂ GIẢNG DẠY VÀ
LẮNG NGHE NỀN GIÁO LÝ CÓ HAI VĨ ÐẠI ẤY
Ðây là một tiêu đề rất quan trọng.
Ngagwang-Dagpa, một thiền gia vĩ đại ở Dagpo có nói:
Phần chỉ giáo
tiên khởi tốt nhất
Là dạy về cách
nói pháp
và cách nghe
pháp.
Hãy yêu mến
Pháp...
Nói cách khác, tiêu đề này sẽ định đoạt
xem những giáo lý sắp nói có tác động gì trên dòng tâm thức của bạn hay
không. Bạn sẽ khó mà chuyển lời giảng của tôi thành quán tưởng và thiền
định, nếu bạn hiểu sai tiêu đề này, mà bạn tính nhầm ngày mồng một thì bạn
sẽ sai tất cả mọi ngày khác.
Ở điểm này có ba tiêu đề: (1) Cách lắng
nghe các pháp; (2) Cách giảng dạy pháp; (3) Những gì mà thầy và môn đệ nên
làm cùng nhau khi kết thúc.
A. CÁCH NGHE PHÁP
Ở đây lại có ba tiêu đề phụ: (a) Quán sát
sự lợi lạc của việc học pháp; (b) Làm thế nào để chứng tỏ sự kính trọng
đối với pháp và người giảng dạy; (c) Cách lắng nghe thực sự.
1. Quán sát những lợi lạc của việc học
Pháp.
Ðiều quan yếu trước tiên là phải thấy
những lợi lạc của việc học pháp, vì chỉ khi ấy bạn mới phát sinh ước muốn
học pháp một cách mạnh mẽ. Nếu sự quán tưởng được làm một cách thích đáng,
thì bạn sẽ vô cùng sung sướng khi khởi sự học pháp. Trong tác phẩm
Những Lời Phật Dạy có nói:
Nhờ học Pháp, mà bạn hiểu được pháp;
Nhờ học Pháp, bạn chấm dứt gây tội;
Nhờ học Pháp, bạn từ bỏ những cái vô
nghĩa;
Nhờ học Pháp, bạn đạt đến Niết bàn.
Nói cách khác, nhờ sự học pháp mà
bạn sẽ biết được tất cả những điểm then chốt để thay đổi kiểu hành xử của
bạn. Bạn sẽ hiểu được ý nghĩa của tạng Luật và nhờ vậy bạn sẽ chấm dứt gây
tội bằng cách tuân theo tăng thượng Giới học. Bạn sẽ hiểu được ý nghĩa của
tạng Kinh, và kết quả là bạn từ bỏ những chuyện vô nghĩa như những giải
trí tầm thường, bằng cách tu tập tăng thượng Ðịnh học. Và bạn sẽ hiểu được
ý nghĩa của tạng Luận, nhờ vậy bạn từ bỏ những si mê bằng phương tiện tăng
thượng Tuệ học. Do vậy sự học pháp của bạn sẽ giúp bạn đạt đến Niết bàn.
Trong Bản sanh truyện có nói:
Học là ngọn
đèn
Xua tan bóng
đêm
Là tài sản quý
nhất
Trộm không
đoạt được.
Là khí giới
đánh bại kẻ thù -
Sự ngu tối về
mọi sự.
Học là bạn tốt
nhất
Dạy cho bạn
các phương tiện;
Là một người
quyến thuộc
Không bỏ bạn
khi bạn nghèo.
Là phương
thuốc giải sầu
Không làm hại
bạn.
Là đạo quân
công việc tốt
Phái đi dẹp
giặc tà hạnh
Là vốn tối
thượng của danh tiếng và vinh quang.
Không gì quý
hơn là có học
Khi bạn gặp
những người giỏi.
Bạn sẽ cảm
kích những học giả
Trong bất cứ
hội chúng nào.
Sự học như
ngọn đèn xua tan bóng tối vô minh.
Bậc tôn sư của tôi dạy rằng, khi bạn biết
dù một chữ trong mẫu tự là bạn cũng đã xua tan được sự tối tăm liên hệ đến
nó. Bạn dã thêm một tí vào cái kho trí tuệ của mình. Cũng thế, khi biết
thêm những mẫu tự khác, bạn cũng xua được sự ngu dốt với những mẫu tự này,
và dồn thêm vào kho trí tuệ của bạn. Nếu không học chút gì, thì cả đến một
chữ A chúng ta cũng không nhận ra được; dù chữ ấy có được viết lớn bằng cả
đầu lừa, chúng ta cũng chỉ có nước lắc đầu kinh quái. Các bạn cứ tưởng
tượng những người không biết tí chữ nghĩa nào, thì sẽ hiểu lời tôi.
Bạn càng thêm sự học thì càng bớt được sự
ngu dốt. Ánh sáng trí tuệ bạn tăng dần theo tỉ lệ học. Trong Những Lời
của Phật chúng ta tìm thấy câu sau:
Một người có
thể rất quen thuộc với một ngôi nhà,
Nhưng trong
bóng tối nó sẽ không thấy gì
Dù vẫn có đôi
mắt
Cũng vậy, đệ
tử Phật không học
Thì không phân
biệt được tội và phúc
Khi một người
có mắt
Ðem theo cây
đèn
Nó sẽ thấy
được hình sắc
Cũng vậy nhờ
có học
Người ta biết
phân biệt phước và tội.
Nói cách khác, bạn không thể thấy được gì
trong một phòng tối om, mặc dù chung quanh bạn có rất nhiều vật và mặc dù
mắt bạn mở thật lớn. Cũng tương tự, bạn có thể có con mắt tuệ nhưng không
có ngọn đèn học, thì bạn sẽ không biết gì về những điểm cần yếu để thay
đổi lối hành xử của bạn cho đúng. Nếu bạn thắp lên một ngọn đèn trong
phòng tối, bạn có thể trông thấy mọi sự vật trong đó một cách rõ ràng; như
vậy với con mắt tuệ và ngọn đèn học, bạn sẽ hiểu được tất cả hiện tượng.
Tác phẩm Những Cấp Bực Bồ Tát của
Vô Trước có đề cập chi tiết về những lợi lạc này, và nói người ta
nên lắng nghe giáo lý với năm thái độ như thế nào. Thái độ thứ nhất là xem
giáo lý như con mắt, nhờ con mắt ấy mà bạn phát triển trí tuệ. Rồi bạn xem
giáo lý như ánh sáng, nhờ ánh sáng ấy mà con mắt tuệ này thấy được chân lý
tương đối (tục đế) và tuyệt đối (chân đế). Bạn nên xem giáo lý như báu vật
rất hiếm có trên đời. Xem giáo lý như một cái gì hết sức lợi lạc, nhờ đó
mà bạn đạt được quả vị của những đại Bồ tát. Cuối cùng, bạn cũng xem giáo
lý như một cái gì hoàn toàn rộng mở vì nó sẽ giúp bạn thành tựu được tâm
tịnh chỉ và tuệ quán đặc biệt.
Sự học của bạn cũng là tài sản tối thượng
mà không ai đoạt của bạn được. Những kẻ trộm có thể mang đi những của cải
thế gian của bạn, nhưng không thể lấy của bạn Thất Thánh Tài - bảy báu vật
của những bậc thánh - nghĩa là sự học vân vân; cũng không thể cướp những
đức đa văn, giới, bố thí, vân vân. Ngay cả vào thời vàng son nhất của bạn,
những của cải thế tục cũng đem lại cho bạn nhiều cơn nhức đầu, chẳng hạn
khi bạn trở về nơi bạn sinh ra, thì bạn đem những tài sản gì theo trong
cuộc hành trình? Sự học của bạn thì không thế: bạn có thể đem theo ngay cả
khi bạn chết. Bởi thế, điều quan trọng nhất là những tu sĩ khờ khạo chúng
ta không nên ao ước những ấm pha trà kiểu cọ hay những bình đồng vân vân.;
mà chúng ta nên khát khao bảy châu báu ngọc của bậc Thánh (thất thánh
tài.)
Sự học cũng là người bạn không bao giờ bỏ
ta trong lúc hiểm nghèo. Những quyến thuộc thông thường chỉ làm bộ thân
thiện với ta khi ta khá giả, còn khi ta gặp vận xui, họ giả vờ không nhận
ra ta. Nhưng sự học thì lại là quyến thuộc tốt nhất, vì nó thật sự giúp
bạn khi gặp lúc không may, khi bạn bị đau khổ, bệnh, chết v.v...
Trước khi Tsechogling Rinpoche trở thành
thầy giáo đạo cho một trong những vị Dalai Lamas, ông đã có một thời gian
rất nghèo. Ông gặp một người chú giữa đường đang đi buôn bán. Ông hỏi
người chú một điều gì đó nhưng ông ta giả vờ không nhận ra. Sau khi
Rinpoche làm thầy giáo đạo cho đức Ðức Dalai Lama và trở thành một trong
những vị có quyền hành cao nhất, thì người chú liền đến nhận bà con.
Ngày xưa có một người xuất thân nghèo khó,
nên không người nào nhận bà con với anh ta. Sau khi làm ăn buôn bán có
được chút ít tiền, thì nhiều người đến nhận là có liên hệ máu mủ. Anh ta
gọi họ đến đãi một bữa ăn. Anh đặt những đồng tiền trên bàn, quỳ trước
những đồng tiền ấy và nói: “Một người không phải chú tôi cũng trở thành
chú tôi. Ôi hỡi những đồng tiền khả ái, ta phải lạy các ngươi.” Nói cách
khác đi, bạn không thể tin tưởng ngay cả bà con của bạn.
Nếu ta muốn tìm những quyến thuộc bền lâu,
thì tại sao không tìm sự học, sự tu thiền quán?
Sự học cũng là một phương thuốc chữa bệnh
mê lầm, và là một đạo quân chống lại bất thiện. Nó cũng là kho chứa danh
xưng và vinh dự tốt nhất; phần thưởng tốt nhất ta có được từ những bậc
thánh; là cách tốt nhất để được sự tôn trọng của những bậc hiền trí.
Truyện Bản sanh cũng nói:
Người nào có
học sẽ phát triển đức tin;
Sẽ kiên cố và
hoan hỉ trong những điều thù thắng;
Sẽ phát triển
trí tuệ, không còn bóng tối ngu si.
Dù phải cắt
thịt mà bán để học cũng đáng.
Nói cách khác,
sự học có vô số điều tốt lành.
Nhờ sự học, bạn sẽ phát sinh niềm tin vào
những đức tính của Ba ngôi báu; bạn sẽ nỗ lực cúng dường chư Phật, vân
vân. Lại nữa, vì tin ở định luật nghiệp báo, bạn sẽ vui vẻ thay đổi lối
hành xử của mình, vân vân. Bạn sẽ bắt đầu hiểu ra những lỗi lầm của hai đế
đầu (khổ và nguồn gốc của khổ), và những đức tính của hai khổ sau (sự chấm
dứt khổ và con đường chấm dứt khổ). Như thế bạn luôn luôn hành động hướng
về mục tiêu tối hậu là Phật quả.
“Dù phải cắt thịt mà bán để học cũng
đáng.” Thế mà bây giời các bạn được học trong tiện nghi, khỏi phải cắt xả
thân thể, thì bạn nên nỗ lực học. Câu thơ trên được đặt vào miệng của bồ
tát Chandra, một tiền thân Phật Thích Ca sau khi ngài đã tự đóng một ngàn
cái đinh vào thân thể cho dòng kệ Ngài học được.
Bạn càng chiêm nghiệm nhiều lần thì sự học
càng sâu, càng thiền định nhiều thì càng mau phát triển tuệ quán; và bạn
sẽ có được trí tuệ.
Các tu sĩ trẻ tuổi cần phải học năm đề tài
thảo luận khi học vào một trong những tu viện lớn. Có một sự khác biệt lớn
lao giữa người có học và không học - ngay cả nhận thức của họ về Ba ngôi
báu. Bạn có thể phải trông coi vài đứa trẻ. Nếu chính bạn ít học thì bạn
không nên giáo dục chúng để lớn lên thành người như bạn. Hãy cho chúng
học, rồi trong đời sau bạn cũng sẽ có được trí tuệ như chúng có được trong
đời này. Những người liệt tuệ, già cả, vân vân, có thể muốn học những cổ
thư vĩ đại, nhưng cái chết sẽ đến gián đoạn sự học của họ trong khi họ
chưa ra khỏi được những gì tà giải. Bởi thế những người như vậy không thể
nào hoàn tất một số lượng học hỏi lớn lao. Nhưng nếu học một pháp như
Lam-rim, họ sẽ có được một vài hiểu biết về toàn bộ con đường. Có lần
Tsongkapa đã báo mộng cho Panchen Lama là Lozang Choekyi Gyaeltsen rằng:
Muốn tự lợi và
lợi người,
Thì đừng bao
giờ thỏa mãn với sự học của ngươi.
Hãy xem những
vị bồ tát ở địa vị thứ ba:
Họ luôn bất
mãn với mức học hành của họ
Các bạn cũng
nên như vậy.
Bất kể người ta suy nghĩ ở một mức độ thấp
đến đâu, chắc chắn họ cũng có được một ít thời gian dành cho việc học -
chẳng hạn học một bài giảng ngắn gọn về Lam-rim. Làm sao có thể không biết
tìm cách thực hiện một việc học giản dị như thế? Làm sao họ có thể sống
một cuộc đời quá ít phần Pháp như vậy? Làm sao họ có thể tuyên bố, “Chúng
tôi không thuộc hạng mọt sách?” Tại sao, ngay cả ngựa, bò cái và cừu cũng
biết làm thế nào để có được phần mình cho công bằng. Các bạn phải học theo
trình độ tri thức riêng của mình. Nhưng bất kể bạn học cái gì, dù là một
bản văn ngắn gọn hay một bản văn nhiều chi tiết, thì nó cũng phải chứa
đựng toàn bộ các đề tài thiền quán, khởi đầu từ sự nương tựa một bậc hướng
đạo sư và kết thúc bằng sự tịnh chỉ nhất tâm của bậc Vô học. Nếu một bản
văn mà thiếu sót, thì nó sẽ không có toàn bộ các đề tài khác, nó cũng
không bù được những thiếu sót ấy. Chuyện ấy cũng giống như trong phòng bạn
có hàng trăm tấm thảm trải nền, nhưng lại không có áo quần để mặc; hoặc có
hàng trăm bộ y phục mà lại không có thảm trải nhà. Nếu bản văn chỉ dẫn mà
đầy đủ, thì nó sẽ dẫn bạn từng bước trên đạo lộ, bất kể nó có nhiều hay ít
chi tiết - cũng như cái phòng của ông bộ trưởng và cái cốc của ông thầy tu
đều phục vụ được mục đích riêng của mỗi người.
2. Làm thế nào để tỏ sự kính Pháp và
người giảng Pháp
Kinh Kshitagarbha (Ðịa Tạng?) nói:
Hãy nghe pháp
với niềm kính tín.
Ðừng nhạo báng
chê bai những người giảng;
Hãy cúng dường
những vị giảng Pháp.
Xem họ như
những người ngang hàng với Phật.
Bạn phải kính lễ những bậc thầy giảng dạy
Pháp mỗi khi nghe giáo lý của họ cũng như kính lễ đức Phật đấng đạo sư của
chúng ta.
Tác phẩm Các Ðịa Vị Bồ Tát của
Vô Trước nói ta phải lắng nghe không vọng tưởng, tâm không bị tán loạn
vì năm sự sẽ được giải thích dưới đây. Ta cũng phải tẩy tâm khỏi phải thói
kiêu mạn. Lại có sáu điều cần có khi bạn nghe pháp: (1) thời gian thích
hợp; (2) lễ độ; (3) sự tôn trọng; (4) không sân; (5) thực hành giáo lý
nghe được; (6) không tìm lỗi trong giáo lý.
Hãy nói yếu tố đầu tiên:
- Thời gian thích hợp.
Vị thầy chỉ nên cho một buổi giảng dạy nếu
khi ông cảm thấy sung sướng khi làm việc ấy, nếu ông không bận những việc
khác, v.v... Bởi thế, bạn không được yêu cầu thầy giảng hay chỉ nghe giảng
lúc nào thuận tiện cho mình, vì điều ấy sẽ chứng tỏ bạn quá tự phụ và ích
kỷ. Tiến sĩ Potowa có lần ở tại tu viện Kakag ở cao nguyên tỉnh Trung
ương, đang in ấn nhiều kinh sách và rất bực dọc. Có một người đến xin ông
ta dạy giáo lý. Ông đứng lên giận dữ đuổi người ấy đi. Người kia vội vàng
rút lui. Ðiều này chứng tỏ bạn cần phải thiện xảo về phương diện thời tiết
giờ giấc.
- Người ta chứng tỏ sự lễ độ bằng cách sụp
lạy và đứng lên khi có mặt bậc thầy.
- Tỏ dấu tôn trọng bằng cách rửa tay chân
cho thầy.
- “Không sân” là không đổ quạu khi thầy
sai bảo làm việc gì.
- “Tìm lỗi” nghĩa là phàn nàn. Cũng có
nghĩa là khinh bỉ pháp và người dạy, một hành vi do vọng tưởng mê si.
Người học cũng không nên chú ý năm sự vào
nơi vị thầy: thiếu đạo đức, thuộc giai cấp hạ tiện, y phục tồi, nói dỡ
hoặc không hay, và xử dụng ngôn ngữ thô tháo. Phải từ bỏ mọi ý niệm coi
năm sự ấy là như là những lỗi lầm.
3. Cách nghe pháp thực thụ
Có hai phần: (1) từ bỏ những lỗi lầm khiến
bạn thành một bình chứa xứng đáng; (2) đào luyện sáu thái độ tốt.
a. Từ bỏ những lỗi lầm khiến bạn
thành một bình chứa xứng đáng
Ba lỗi ấy là (1) giống như một đồ chứa bị
lật úp; (2) giống như một đồ chứa hôi hám; (3) giống như một đồ chứa mà
đáy bị rò rỉ.
Lỗi đồ chứa bị lật úp
Nếu một cái bình bị lật úp, thì dù có đổ
vào đấy bao nhiêu chất uống bổ dưỡng cũng không có một giọt nào vào được
bên trong. Bạn có thể ngồi trong hàng thính chúng để nghe pháp, nhưng bạn
sẽ không hiểu được chút gì nếu tâm bạn bị phân tán và bạn không để vào lỗ
tai những gì đang được nói. Như thế thì đi nghe giảng cũng như không. Bạn
phải lắng nghe như một con nai - một sinh vật bị lôi cuốn nhiều bởi âm
thanh. Bạn phải đặt hết sự chú ý vào lời giảng dạy. “Ðặt hết sự chú ý”
có nghĩa không phải là chỉ để một nữa tâm nghe pháp còn nữa tâm kia lang
thang. Có nghĩa là bạn phải theo dõi sự giảng dạy một cách sát nút. Bạn
phải làm như con nai bị sự thu hút bởi âm thanh tiếng sáo mà bị người thợ
săn bắn trúng nó một cách dễ dàng.
Lỗi như đồ chứa hôi hám
Một đồ chứa có thể không bị lật úp, song
nếu nó chứa độc dược thì bất cứ gì đổ vào đấy cũng không thể dùng được,
mặc dù lúc đầu nó còn tốt lành. Lỗ tai các bạn có thể thu vào mọi sự,
nhưng người thì có thể bị thúc đẩy bởi ý muốn tăng thêm sự hiểu biết,
người thì muốn lặp lại những gì đã nghe cho người khác, v.v... Nghe vì
muốn đạt đến sự bình an cho riêng bạn là một động lực khá lớn hơn những
động lực nói trên, song nó vẫn bị xem là có lỗi, giống như đồ chứa hôi
hám. Bởi thế bạn phải lắng nghe với tối thiểu là một tâm bồ đề gượng gạo
làm động lực.
Lỗi như đồ chứa bị rò rỉ
Một bình chứa có thể là không lật úp cũng
không hôi hám, song nếu cái đáy bị rò rỉ thì nó không thể chứa được chút
nước nào, dù có đổ vào nhiều nước bao nhiêu cũng vậy. Tại bạn có thể thu
vào mọi sự, bạn có thể có động lực không lỗi lầm, song nếu bạn không nghe
cho thật kỹ thì bạn sẽ quên hết mọi sự ngay sau đó. Thật là khó có thể
dùng biện pháp nào cho khỏi quên một bài giảng, bởi thế ta phải dùng một
cái gì để giúp trí nhớ, như quyển sách hay một loạt những tiêu đề, chẳng
hạn. Ta phải thường xuyên xem lại tài liệu và nghĩ “Ðoạn này giáo lý đã
dạy những gì?” Quan trọng hơn nữa, cần phải họp những bạn đồng học mà ôn
lại những gì đã nghe.
Về việc từ bỏ ba lỗi này của đồ chứa,
trong một bản kinh Ðức Thế Tôn nhấn mạnh: “Hãy nghe kỹ, nghe cho khéo,
và để vào trong tâm.” “Nghe kỹ” ám chỉ từ bỏ lỗi của đồ chứa hôi hám;
“nghe cho khéo” từ bỏ đồ chứa bị lật úp; “để vào trong tâm” từ bỏ lỗi của
đồ chứa bị rò rỉ ở đáy.
Vậy, đấy là cách nghe Pháp.
b. Ðào luyện sáu thái độ tốt.
Ðó là: (1) thái độ xem mình là con bệnh;
(2) thái độ xem Pháp là thuốc; (3) thái độ xem bậc thầy hướng đạo là lương
y; (4) thái độ xem việc thực hành pháp giống như chữa bệnh; (5) thái độ
xem bậc hướng đạo tâm linh là một bậc thánh thiện như chư Pháp. (6) thái
độ mong cho Pháp sẽ tồn tại lâu dài.
Khởi tâm xem mình là con bệnh
Cần nhất là phải có thái độ xem mình như
bệnh nhân, thì tự nhiên sẽ phát sinh những thái độ kế tiếp. Quán tưởng
mình là bệnh nhân có vẻ như là chuyện ngược đời trong khi ta không đau ốm
gì cả, nhưng ở đây là muốn nói chúng ta đang bị cái bệnh si mê lầm lạc.
Geshe Kamaba nói, một người không đau ốm mà quán tưởng mình bệnh thật là
điên, nhưng kỳ thật chúng ta đã nhiễm phải chứng bệnh có ba độc tố (tham,
sân, si) trầm trọng kinh niên mặc dù ta không biết đến.
Chúng ta có thể ngạc nhiên hỏi: “Làm sao
có thể tôi bị bệnh mà tôi không biết?” Nhưng khi bạn lên cơn sốt cao, bạn
có thể nói nhảm, ca hát vân vân, mà vẫn không cảm thấy đau đớn gì. Vậy
chúng ta cũng đang bệnh trầm trọng với những vọng tưởng mê lầm mà ta không
biết.
Bạn cũng có thể hỏi: “Nếu tôi có bệnh, thì
tôi phải có những cơn đau nhức khó chịu chứ? Nhưng tôi không đau nhức gì
cả.” Kỳ thực thỉnh thoảng bạn có những cơn đau nhức do ba độc tố gây nên.
Bạn hỏi, thế là thế nào? Thì đây, ví dụ bạn ra chợ trông thấy một món hàng
hấp dẫn bạn song bạn không có tiền để mua. Khi về nhà, bạn hết sức đau khổ
không biết làm thế nào đẻ có được món ấy. Ðấy là cơn đau nhức tham luyến.
Khi bạn cảm thấy, nghe hay nhớ một chuyện gì khó chịu, - ví dụ một lời
nhận xét châm chích - bạn cảm thấy đau khổ không chịu nổi. Ðây là một điển
hình của cơn đau nhức do sân hận. Hãy quan sát phần này một cách chi tiết,
đi sâu vào thói kiêu mạn, ganh tị, vân vân. Những si mê vọng tưởng là
những chứng bệnh kinh niên trầm trọng, đau đớn, khó kham nhẫn.
Bởi thế, bạn đã mắc phải nhiều chứng bệnh:
bệnh tham, bệnh thù hận, bệnh ganh ghét, vân vân. Bạn hết sức cẩn thận để
khỏi mắc phải một chứng bệnh thông thường, thế mà những si mê vọng tưởng
đủ thứ ấy không làm cho bạn lo lắng mãy may. Shantideva nói trong tác phẩm
Hành hạnh Bồ tát rằng:
Khi bạn bị một
bệnh thông thường,
Bạn còn phải
vâng lời thầy thuốc
Nói gì đến
bệnh nguy hiểm hơn trăm lần
Mà bạn luôn
luôn mắc phải, như bệnh tham?
Chúng ta hết sức lo sợ khi bị một cơn bệnh
kéo dài hai ba tháng chưa khỏi. Nhưng chứng bệnh si mê thì chúng ta đã mắc
phải từ vô thỉ luân hồi cho đến ngày nay. Chúng ta không thể nào khỏi bệnh
nếu ta chưa giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Như Geshe Potowa nói:
“Người bệnh không bao giờ khỏe mạnh, người lữ hành không bao giờ đến
đích...” Câu này diễn tả thân phận chúng ta một cách tuyệt hảo.
Khởi tâm xem diệu pháp như thuốc
Khi bệnh nhân nhận ra mình bị bệnh, thì họ
cần tìm thứ thuốc cho đúng bệnh. Vị thuốc duy nhất sẽ làm lắng dịu cơn
bệnh si mê chính là diệu pháp của Phật, đây là món thuốc mà bạn phải tìm
kiếm.
Khởi tâm xem vị hướng đạo tâm linh
của mình như lương y
Khi đau ốm mà không có bác sĩ, bạn uống
đại vài thứ thuốc, thì bạn có thể lầm lẫn về tình trạng bệnh của mình, -
chẳng hạn nó thuộc nhiệt bệnh hay hàn bệnh - và không biết nó đã đến giai
đoạn nào. Thứ thuốc bạn dùng có thể không ích gì mà còn nguy hiểm đến tánh
mạng. Vậy đương nhiên là bạn rất cần nương tựa vào một vị lương y. Có thể
bạn không cần nương tựa vào một vị hướng đạo tâm linh, mà nghỉ rằng: “Xem
sách mà tu là đủ rồi.” Nhưng bạn sẽ không phát triển được một thực chứng
hay tuệ giác nào chỉ nhờ đọc tụng, thiền quán, vân vân. Dòng tâm thức của
bạn sẽ càng ngày càng ăn sâu vào những tập quán của chính nó. Vậy, khi bạn
quyết định thực hành Pháp, thì phải nghiêm túc nương tựa vào một bậc hướng
đạo sư như nương tựa vào một y sĩ. Khi bị bệnh bạn rất sung sướng gặp thầy
thuốc giỏi. Bạn sẽ lắng nghe những gì lương y bảo bạn; và vì lòng kính
trọng, bạn đối xử với y sĩ ấy rất lễ độ. Bạn cũng phải có thái độ tương tự
như thế, khi bạn tìm ra một hướng đạo tâm linh. Trong tác phẩm Tóm Tắt
Những Ðức Tính Quý Báu có nói:
Như vậy, những
người trí khát khao đạt giác ngộ
Thì hay nên
hoàn toàn chế ngự thói kiêu mạn của mình
Cũng như những
con bệnh muốn khỏi bệnh
Phải tùy thuận
thầy thuốc, người tìm đạo
Phải kiên trì
nương tựa vào một vị hướng đạo tâm linh.
Khởi tâm nghĩ chuyện cần thực tập sẽ
chữa khỏi bệnh
Thuốc là cái giúp con bệnh, nhưng có khi
bạn không theo lời thầy thuốc, thay vì uống thuốc thầy dặn thì bạn lại để
nó một bên giường. Nếu bạn không khỏi bệnh thì không thể trách thầy thuốc,
vì bạn chưa hề dùng thuốc.
Vị hướng đạo tâm linh giống như một lương
y, nhưng nếu sau khi nghe thật nhiều lời chỉ giáo - giống như thuốc để
chữa bệnh si mê- mà bạn không thực hành thì cũng không có lợi gì cho dòng
tâm thức bạn, dù lời chỉ giáo ấy hay ho đến đâu đi nữa. Bạn không nên chê
bậc đạo sư, chê Pháp. Lỗi là ở nơi chính bạn. Kinh Tam Muội Vương
có nói:
Sau khi kiên
trì tìm kiếm, con bệnh đã tìm được
Một thầy thuốc
thông minh tài giỏi.
Vị này thương
xót nhìn bệnh nhân mà nói:
“Hãy uống cái
này,” và ông cho thuốc.
Nhưng con bệnh
không uống thuốc quý báu có thể chữa lành ấy.
Ðừng trách
lương y;
Thuốc cũng
không có lỗi
(nếu bệnh
không lành.)
Cũng thế, với
những người đã thụ giới trong Giáo pháp này.
Họ có thể biết
đầy đủ Mười sức mạnh, các tầng thiền định, mười khả năng.
Nhưng vẫn
không nỗ lực để thiền quán
Thì làm sao
đạt được Niết bàn?
Ta đã dạy các
ngài diệu pháp
Nếu ngươi
không áp dụng tốt những gì đã học
Thì cũng như
con bệnh cứ để thuốc trong tủ
Và nghĩ rằng:
“Thuốc này không thể chữa bệnh tôi.”
Shantideva nói trong tác phẩm Hành bồ
tát Hạnh như sau:
Hãy xử dụng
thuốc bằng cách uống vào thân thể bạn
Danh từ không
mà thôi thì chẳng làm được cái gì.
Thử hỏi người
bệnh làm sao khỏi bệnh
Chi bằng cách
đọc cái toa thuốc?
Bởi thế, bạn có thuốc chưa đủ, muốn khỏi
bệnh bạn phải uống nó một cách thích đáng, và theo chỉ dẫn của y sĩ. Bạn
phải áp dụng sự hiểu biết của bạn ý nghĩa của lời dạy khẩu truyền trong
việc chữa bệnh vô minh, và áp dụng những lời dạy ấy vào thực hành. Trong
tác phẩm của Tsongkapa Những Giai Ðoạn Ðoạn Chính của Ðạo Lộ chúng
ta tìm thấy câu sau:
Nhờ học mà có hiểu; nhưng hiểu rồi thì
phải thực hành. Bởi thế điều thiết yếu là hãy áp dụng những gì ta đã học,
càng nhiều càng tốt.
Kinh Khuyên Hành Hạnh Vị Tha nói
như sau về những người có thói quen nhận thật nhiều lời dạy và quán đảnh
nhưng không thực hành gì cả:
Vỏ cây mía
không có nước
Vị ngọt cây
mía nằm bên trong.
Người nhai vỏ
mía
Thì không tìm
được vị mía
Chỉ nói suông
giống như vỏ mía
Suy tư ý nghĩa
mới là vị ngọt.
Nói cách khác đi, những người ấy giống
người ăn mía mà chi nhai vỏ thì không biết gì mùi vị cây mía.
Họ cũng như
người đi xem tuồng
Như người ca
tụng những diễn viên
Họ đã mất cái
cốt yếu
Ðấy là những
nguy hiểm
Của sự chuyên
ký danh ngôn.
Lại nữa, họ cũng như người bắt chước những
diễn viên trên sân khấu. Bạn không nên tu tập bằng chỉ có học mà thôi; bạn
cần phải áp dụng những gì đã học vào thực hành., họ cũng như người bắt
chước những diễn viên trên sân khấu. Bạn không nên tu tập bằng chỉ có học
mà thôi; bạn cần phải áp dụng những gì đã học vào thực hành. Nếu không thế
thì sự học Pháp càng làm cho bạn thêm khó trị chứ chẳng ích gì. Học nhiều
mà không hành được gọi là “nguyên nhân để trở thành vô bổ đối với Pháp.”
Lúc đầu mới học, thiền định dường như ít lợi lạc gì cho tâm thức. Nhưng sự
học sẽ không có ảnh hưởng gì nếu sau đó bạn không suy tư thiền quán về
những gì đã học. Cuối cùng bạn sẽ sinh bệnh về những giáo lý, dù cho phần
truyền khẩu đặc biệt của giáo lý có sâu xa đến đâu. Như thế là việc học
của bạn không có chút lợi lạc nào cho dòng tâm thức bạn. Bạn trở nên “lờn
Pháp,” Pháp không có hiệu nghiệm gì đối với bạn. Bậc thầy Vararuchi nói
trong tác phẩm Một Trăm Bài Kệ rằng:
Vị tỷ kheo đã
cởi áo tu
Người phụ nữ
đã bỏ ba đời chồng
Kẻ du côn vừa
thoát bẩy -
Ba hạng người
đó thì phải biết khôn lanh!
Phái Kadampa xưa có câu:
Pháp có thể
làm cho kẻ tội lỗi quy phục
Nhưng không
thể lay chuyển kẻ lờn Pháp.
Dầu có thể làm
mềm một tấm da thú
Nhưng không
làm nao núng chỗ da đã chai.
Nói cách khác, đấy là điều tệ hại nhất có
thể xảy ra đến người học thật nhiều (về Lam-rim) mà không thực
hành. những người đã học các giáo lý khác mà không ăn thua gì, có thể được
nhiếp phục nhờ pháp Lam-rim. Nhưng nếu họ chai lì đối với pháp Lam-rim,
thì họ hết phương cứu chữa. Bởi thế các bạn phải ý thức điều này.
Hãy học những gì bạn sẽ thực hành, và hãy
liên kết những gì bạn học vào với dòng tâm thức bạn. Dromtoenpa, ông vua
về Pháp, đã nói như sau về sự phối hợp học, chiêm nghiệm và thiền quán:
Càng học, tôi
càng chiêm nghiệm về thiền quán.
Càng chiêm
nghiệm, tôi càng tăng sự học và thiền.
Càng thiền
quán, tôi càng tăng sự học và chiêm nghiệm.
Từ một căn
bản, tôi tăng cả ba,
Như vậy tôi
biết cách xem Pháp là con đường tu tập của mình.
Tôi một hành
giả Kadampa không làm việc nửa vời
Người mang đai
da lớn thường bị lầm
Ai hiểu rõ
điều này mới đúng hành giả Kadampa.
Nếu những người cùi với tay chân dị dạng
chỉ uống thuốc một hai lần, thì tình trạng của họ sẽ không thay đổi; họ
càng phải uống thuốc thật mạnh trải qua một thời gian dài. Từ vô thỉ chúng
ta đã nhiễm chứng bệnh vô minh trầm kha độc hại, cho nên thật không thấm
vào đâu nếu chúng ta chỉ thực hành ý nghĩa của lời chỉ giáo một hai lần mà
thôi. Chúng ta phải làm việc với những giáo lý ấy một cách nghiêm túc và
kiên trì như giòng nước chảy. Bậc thầy Chandragomin nói:
Tâm ta đã luôn
luôn bị mù quáng
Bởi căn bệnh
kinh niên kéo dài;
Làm sao một
bệnh cùi đã co quắp chân tay
Có thể thấm
thuốc chút nào
Nếu nó chỉ
uống một hai lần rồi bỏ.
Ta cần phải thực hành ngay những gì đã
học, như Geshe Chaen Ngawa. Ngài đang đọc một chương Luật tạng nói về da
thuộc và da sống; và thấy rằng luật cấm một tỷ kheo đã thọ giới không được
dùng da thú. Tình cờ lúc ấy ngài đang ngồi trên một tấm da thú. Ngài lập
tức bỏ nó ra. Rồi khi đọc tiếp ngài thấy luật này có thể “khai” tại các xứ
xa xôi (biên địa), ở đấy các vị tỷ kheo được phép sử dụng da thú. Khi ấy
ngài mới lấy lại tấm da để trải ngồi.
Khởi tâm nghĩ tưởng thầy mình như
Phật
Con người đầu tiên giảng dạy Pháp cho
chúng ta là Ðức Phật, đấng Ðạo sư đã khai thị con đường và kết quả của sự
đi trên con đường ấy. Ngài đã giảng dạy một cách thích đáng, dạy cho ta
thay đổi lối hành xử của mình. Giáo lý ấy thuần tịnh không chút lầm lỗi.
Như thế, Ngài là người có thẩm quyền về Pháp. Vậy nên mỗi khi nhớ lại sự
kiện này về Ðức Phật, ta phải nghĩ, “Làm sao sự giảng dạy của Ngài về Pháp
có thể lầm lẫn được?” đi xa hơn ta có thể nói rằng một bậc thánh giảng dạy
theo đúng truyền thống ấy cũng chính là một vị Phật. Khi ấy ta nên nghĩ
rằng: “Thầy ta, người thánh thiện này, chính là một hóa thân của Ðức Thích
Ca Như Lai.”
Khởi tâm mong cho truyền thống pháp
này tồn tại dài lâu
Sau khi nghe pháp, cần phải có thái độ
mong mỏi như sau: “Thật kỳ diệu thay nếu nền giáo lý của Ðấng Chiến thắng
sẽ tồn tại dài trên thế gian này!”
Năm thái độ đầu là để nhớ tưởng lòng từ bi
của Ðức Như Lai. Thái độ thứ sáu cuối cùng là để báo đền ân đức ấy.
Lắng nghe diệu pháp là điều cốt tủy. Lý do
đi nghe Pháp là để gây một áp lực tác động trên dòng tâm thức bạn, nếu tâm
bạn vẫn ù lì như cũ. Nhưng nếu sau khi nghe giáo lý mà bạn vẫn không thay
đổi chút nào, thì quả giáo lý ấy không tuyệt đối không có ích lợi gì cho
bạn, dù sự giảng dạy thật thâm thúy sâu xa, và bạn đã nghe rất chăm chú.
Hãy lấy ví dụ: Bạn phải nhìn vào gương để thấy mặt mình có sạch hay không,
rồi mới có thể tẩy hết vết dơ mà bạn thấy trên mặt. Bạn xét dòng tâm thức
của bạn trong tấm gương Pháp, lắng nghe Pháp xem Pháp ấy nói tâm bạn có
những khuyết điểm gì. Nếu bạn tìm thấy khuyết điểm nào, bạn cảm thấy buồn
bã nghĩ: “Tâm ta đến thế rồi sao?” Và khi ấy bạn sẽ cố tìm mọi cách có
thể, để tẩy trừ những khuyết điểm. Bản Sanh Truyện nói:
Khi thấy được
những hành vi xấu ác của tôi
Một cách rõ
ràng trong tấm gương Pháp
Tâm tôi bị ray
rứt vô cùng.
Bây giờ tôi
xin quay về với Pháp.
Sudàsaputra đã nói với thái tử Chandra như
trên. Câu chuyện về thái tử là tấm gương cho tất cả chúng ta.
Khi Ðức Thế Tôn còn ở trên đạo lộ của bậc
Hữu học, Ngài tái sanh làm bồ tát là thái tử Chandra. Có một người tên
Sudàsaputra chuyên môn giết người để ăn thịt. Một ngày kia, thái tử đi vào
rừng, gặp một người bà la môn đa văn tiến lại. Khi thái tử đang thọ giáo
một bài pháp với người này, thì bổng họ nghe một tiếng động lớn. Những
người hầu được phái đi xem có chuyện gì xảy ra, và họ biết Sudàsaputra
đang tiến lại.
Những cận vệ của thái tử nói: “Sudàsaputra
ăn thịt người. Y là một kẻ đáng sợ; quân đội chúng ta đã rút lui mặc dù có
nhiều ngựa, voi và xe. Bây giờ chúng ta phải làm sao? Ðã đến lúc ta phải
đối đầu với tên ấy.”
Ý nghĩ ấy làm cho thái tử thích thú, nên