[3]
I. Lời Dạy Của Thân Loan
Thệ nguyện bất tư nghì của
Đức Phật A Di Đà là cứu độ tất cả chúng sanh được vãng sanh.
(Nguyên văn bằng Hán - Nhật được lược
bớt và phần nầy trở xuống chỉ dịch ngôn ngữ hiện đại mà thôi)
Ai cũng nghĩ rằng thệ nguyện của
Đức Phật A Di Đà là tiếp dẫn chúng sanh thoát khỏi vòng sanh tử và vãng
sanh Tịnh độ. Cho đến khi nào tâm chúng sanh hướng về Như Lai, miệng
niệm Phật, tức thì ngay khi ấy, Đức A Di Đà phóng ánh quang minh đại bi
hộ trì tiếp dẫn, để họ được lợi ích rõ ràng. (Điều thứ nhất – Thánh Điển
trang 831).
Giải thích:
Đây là từ ngữ nằm ở phần đầu của
“Thán Dị sao”
cho biết bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà là cứu độ chúng sanh. Chắc chắn
điều nầy sẽ biểu hiện qua tín tâm và pháp niệm Phật cũng như sự lợi ích
của việc chấp trì danh hiệu.
“Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ”
cho biết từ xưa khi còn là Pháp Tạng Bồ Tát, Phật A Di Đà phát nguyện
thiết lập thế giới Tịnh Độ thanh tịnh, không có phiền não và nguyện rằng
ai được vãng sanh, đời đời an lạc và tỉnh thức. Vì phát nguyện như thế
và để thực hiện nguyện nầy, Ngài tích tụ công đức tu hành trong nhiều
kiếp cho đến khi thành Phật A Di Đà, cứu độ cho vô số chúng sanh.
Tất nhiên, trong kinh điển, Đức Phật A
Di Đà luôn luôn ước muốn chúng sanh, nếu có thể được, đều được siêu
thoát. Thế nhưng, ngay khi chúng ta, những kẻ trí mỏng, tội dày tu pháp
môn nầy cầu mong cứu độ, thì suy nghĩ của chúng ta đã bao hàm ước muốn
siêu thoát hoàn toàn rồi.
Lời nguyện của Đức Phật A Di Đà gọi là
“bất khả tư nghì”
và việc hóa độ chúng sanh đầy bản ngã tự kỷ cũng là một việc
“bất khả tư nghì”.
Có tất cả 48 nguyện nhưng không có nguyện nào không hứa khả cứu độ chúng
sanh. Nhất là phần đầu và phần cuối mỗi nguyện đều lập lại: “Ta
thề không thành Phật”, “nếu không được vậy…, sẽ không giữ
ngôi chánh giác”.
Ví dụ
“dẫu cho chúng sanh thực sự
thành Phật, mà lời nguyện căn bản nầy không thực hiện ta (Phật Di Đà)
không gọi là Phật”.
Đồng thời cốt lõi của lời nguyện của
“Chân Phật” ấy như thế nào được minh thị trong
“Kinh
Đại Thừa Vô Lượng Thọ”, bản kinh trình bày rất cụ
thể những lời nguyện của Đức A Di Đà, rất căn bản, rất phước đức và rất
nhất quán với Phật Đà.
Trong 48 lời nguyện, mỗi nguyện Ngài
đều hứa thực hiện một cách chắc chắn. Song, điểm chính ở đây là dù kẻ
ngu muội đến mấy đi nữa vẫn được tiếp dẫn vãng sanh về Tịnh Độ như nhau,
nếu có niềm tin, hết lòng xưng niệm danh hiệu: “Nam mô A Di Đà
Phật”. Thật ra, bổn nguyện của Đức A Di Đà Như Lai gồm có 48 lời
nguyện, song nguyện thứ 18 xem như bao hàm tất cả, cho nên Pháp Nhiên
gọi nguyện thứ 18 gọi là: “Vua trong các bổn nguyện” và
chọn bổn nguyện nầy. Lời nguyện thứ 18 như vầy:
“Ta thề không thành Phật, nếu ai
muốn sanh nước ta, chí tâm niệm Phật cho đến 10 niệm mà chẳng vãng sanh,
Ta quyết không ở tại ngôi chánh giác. Song trừ những kẻ phạm tội ngũ
nghịch và hủy báng chánh pháp”,
(Lược bớt, vì nội dung giải thích giống như trên).
Nguyện: “Nếu chẳng vãng sanh
.........., cho đến quyết không ở tại ngôi chánh giác” là cứu
độ, là thệ nguyện nhiếp thủ và cũng còn gọi là Nhiếp Thủ Môn. Ở đây nói
rằng: “Trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp”
là hai loại tội nặng, nếu không có tâm sám hối, không được vãng sanh và
bị ngăn cản phải dừng lại tại cửa. Có phạm tội ngũ nghịch và hủy báng
chánh pháp nhưng hồi tâm và tín thọ bổn nguyện, có thể chuyển hoán được.
Đó là thành tựu của sự giáo hóa vậy.
“Chí tâm tín nhạo”
là từ ngữ mà Thân Loan thêm vào cho mạnh hơn như là: “Nguyện chân
thật của ta, nên tín nhạo” hay là: “Bổn nguyện của Như Lai
là cứu độ chẳng phải đùa, không nên nghi ngờ mà hãy tin”. hoặc
“Nếu muốn sanh về nước ta…”. Thật vậy, vấn đề “nhờ
tha lực và chí tâm tín nhạo, được sanh về cõi An Lạc Tịnh Độ” là
“trí tuệ” ngược lại kẻ phàm phu không rõ đường đi nhưng
tâm vẫn hướng đến lãnh vực siêu thoát cầu mong tỏ ngộ, cho nên nói rằng
“cứu độ chẳng phải đùa, không nên nghi ngờ mà hãy tin và mau phát
nguyện sanh về Tịnh Độ”. Đây gọi là ngôn ngữ của lòng Đại Bi
được thể hiện.
Sự khuyến tấn và tiếp dẫn là tiếng nói
chân thành “tùy theo niềm tín ngưỡng, được sanh về cõi Tịnh Độ và
chắc chắn mong ước sẽ thành tựu”. Thật vậy, khi nghe như thế,
không còn nghi ngờ mà phát niềm tin. Nghe và thọ trì mà không nghi ngờ
nghĩa là những ngôn ngữ từ bi và trí tuệ của Như Lai đã bao phủ trí tuệ
nhỏ bé của ta, dù không rõ biết “việc nhứt định vãng sanh”
Tịnh Độ nhưng chắc chắn điều chờ đợi có thể xảy ra. Đây chính là lòng
tin, mà lòng tin ấy chính là bổn nguyện quyết định, không còn nghi
ngờ gì nữa.
Tiếp theo, nguyện
“cho đến mười
niệm” là lời nguyện về xưng danh hiệu. Niệm cho đến mười
niệm là định tâm. Còn diễn đạt lòng tin qua danh hiệu
“Nam
Mô A Di Đà Phật” là bổn nguyện niềm tin. Mười niệm
nghĩa là với tâm tịnh tín, xưng niệm danh hiệu đến mười lần. Song đó là
sự giải thích đặc biệt của Thiện Đạo và Pháp Nhiên. Với Thân Loan
“mười niệm”
có nghĩa là
“miệng chỉ cần
niệm mười lần” mà thôi.
Chữ
“cho đến”
có nghĩa là không hạn định số lần niệm Phật. Thật sự, với kẻ bất hạnh,
cuộc đời vô cùng ngắn ngủi chỉ trong một niệm là hết một đời, cho nên
chỉ cần niệm Phât một niệm là đủ. Còn với người trường thọ, xưng tụng
trăm ngàn vạn biến, bao nhiêu cũng được. Song trong bổn nguyện niệm Phật
nghĩa là từng niệm, từng niệm phải được biểu hiện cụ thể qua pháp niệm
Phật sao cho được vô lượng công đức của đức Như Lai, cho nên niệm Phật
nhiều hay ít không có hạn định. Phiền não thì vô lượng, không thể chuyển
hóa bằng phương pháp thực hành trí tuệ cá nhân mà tất cả chi nhờ vào tâm
đại bi của Như Lai mà chuyển hóa khi
“niệm
danh hiệu của Ngài”. Ấy chính là lời nguyện của
hành giả niệm Phật.
Với những ai có niềm tin, không thể
không niệm Phật. Ngược lại, niệm Phật là được sống trong nguyện lực của
Như Lai và làm cho đời sống tiến bộ hơn, Niệm Phật chính là nương nhờ ân
đức của Như Lai để dễ dàng thích ứng với cuộc sống đầy khó khăn của
chúng ta trong hiện tại.
“Nếu không vãng sanh, Ta không giữ ngôi Chánh giác”.
Nói rằng hành giả niệm Phật với niềm tin vào bổn nguyện, song không vãng
sanh thì Ta (Đức Phật A Di Đà) không giữ ngôi chánh giác là xác chứng sự
vãng sanh của mười phương chúng sanh và bản thể giác ngộ của chư Phật
không có hai. Cũng có thể nói là cả hai vấn đề
vãng sanh
và
chánh giác
cùng một bản thể. Cũng là lời xác chứng bổn nguyện cứu độ của Phật. Hơn
nữa, danh hiệu
A Di Đà Phật
chẳng phải đơn thuần là tên của Phật A Di Đà, mà những ai tin tưởng bổn
nguyện thì ngay khi ngồi xuống niệm Phật liền vãng sanh. Đây chính là
vừa trình bày pháp môn xưng danh hiệu và vừa giảng rõ giáo lý cứu độ.
Việc nầy phù hợp với pháp môn
quán chơn thân
ở trong “Kinh
Quán Vô Lượng Thọ”. Ở đó, cho biết việc niệm Phật
được lợi ích
“nhiếp thủ, bất
xả”.
Trong ánh quang minh đại bi, đại trí của Đức Phật A Di Đà, phóng ra
chiếu sáng mười phương thế giới, chúng sanh niệm Phật sẽ nhận lấy chẳng bỏ”.
Với tâm kính tín, Pháp Nhiên mô tả lời Kinh như sau:
Ánh trăng thanh chiếu đến tận
cùng,
Song lắng lại nơi tâm người
thưởng nguyệt.
Lời thơ ngâm vịnh ánh trăng thu nhẹ
nhàng sao! Ánh trăng lúc nào chiếu sáng mọi nơi không phân biệt, nhưng
phải chăng ai thưởng nguyệt cũng đều thấy sáng? Bởi thế kẻ ngắm trăng
phải nương vào ánh trăng, để ánh sáng huyền dịu chiếu rọi toàn thân, cho
đến chiếu xuyên suốt vùng sâu thẳm của tâm thức. Cũng vậy, chúng ta là
người đang lặn hụp trong bóng tối, may mắn được nghe lời dạy của Phật,
mà lời dạy ấy như ánh quang minh
Đại Bi Đại Trí
chiếu sáng khắp mọi nơi, đến tất cả mọi người như nhau. Không còn nghi
ngờ gì nữa, chúng ta hãy nghe, tiếp nhận và thọ trì. Không những ánh
sáng bao trùm gồm ta và câu niệm Phật ta đang niệm, mà ánh sáng Phật
quang bao trùm cả kiếp nhân sinh và chuyển dời chúng ta qua nơi khác
được.
Không
phân biệt người già, người trẻ, người lành, kẻ dữ; chỉ có niềm tin nơi
tâm mới là yếu tố quan trọng.
(lược phần nguyên văn Hán - Nhật)
Bổn nguyện đầu tiên của Đức Phật
A Di Đà là không phân biệt người già hay người trẻ; người lành hay kẻ
dữ. Những ai có niềm tin thâm sâu vào bổn nguyện, dù tội nặng cho mấy đi
nữa, dù có yêu thương giận ghét và bị lửa phiền não thiêu đốt đến thế
nào đi nữa, cũng được Phật từ bi cứu độ. Đây chính là bổn nguyện đem
lòng đại bi giải trừ tất cả những phiền não. (Điều thứ nhứt – Thánh Điển
– trang 831).
Giải thích:
Thật là đặc biệt, đức Phật A Di Đà cứu
độ tất cả mọi người một cách bình đẳng, vượt lên trên những vấn đề già,
trẻ, thiện, ác…, bình đẳng ấy không gì khác hơn chủ yếu dựa vào niềm
tin. Trước nhất, lòng từ bi của đức Phật A Di Đà bao dung tất cả mọi
chúng sanh không phân biệt già, trẻ, người lành, kẻ dữ. Quả đất nầy
không phân biệt một vật nào trên thân nó cả, dù vật nặng hay vật nhẹ, dù
vật đẹp hay xấu v.v.., cũng không ngần ngại chuyên chở suốt năm nầy,
tháng nọ. Giống như vậy, bổn nguyện đại bi của đức Phật A Di Đà dung
chứa tất cả mọi chúng sanh, không phân biệt đời sống của mỗi cá nhân, mà
còn thiết tha cứu độ và an trụ một nơi
nào đó nữa.
Ngoài ra, dù tình thương vô biên và tận tâm cứu độ vô bờ
bến của đức Phật A Di Đà dành cho chúng ta như thế, song trong cuộc sống
đầy dẫy phiền não hư dối không thật, đầy thương yêu ghét bỏ nầy, cho đến
khi nào chúng ta có niệm Phật cho đến khi đó ánh sáng Tịnh Độ qua sự
niệm Phật và cầu nguyện ấy mới làm cho đời sống chúng ta trở nên thanh
tịnh và vượt qua những thương ghét trên. Tin rằng trong tâm đại bi của
Như Lai, chúng ta là những đứa con không những không bị ruồng bỏ, mà còn
được trân quý, được xem là con ruột của Như Lai, niềm tin ấy phải được
lưu giữ trong tâm một cách trang trọng tôn kính.
Nói rằng
“cả việc thiện lẫn
việc ác” phải chăng
“người già, người
trẻ, người lành, kẻ dữ” cũng đều được cứu độ chăng? Dễ
hiểu nhất là giải thích như thế. Song có phải đây là lời phát ngôn không
có ý thức, vì phân biệt nào là già, trẻ, tốt, xấu như một người phân
biệt, hay là tự thân người nói không già, không trẻ, không thiện cũng
không ác? Thật ra, lời phát nguyện cứu độ của chính đức Phật A Di Đà
không tuyển chọn già trẻ, lành, dữ, mà biểu lộ lòng từ bi của Ngài rất
bao dung và thật bình đẳng, không phân biệt.
Điều ấy cũng phải hiểu rằng đây là lời
khẳng định được cứu độ không phải của riêng ai. Ngược lại
“không có sự chọn
lựa trẻ, già, lành, dữ” nghĩa là chính ta dù lúc còn trẻ
hay khi đã già; lúc tâm khởi lên việc lành hay khi tâm bị việc ác đốt
cháy, tất cả, tất cả đều được bao dung, không phân biệt, mà tất cả đều
được cứu độ. Qua đó, tâm Phật được phô diễn vượt trên tất cả những thứ
bậc: già, trẻ, thiện, ác thế gian, không giới hạn ở bất cứ nơi đâu, một
khi có ai mong cầu cứu độ, tâm Ngài hướng đến để cứu độ tức thì, không
có gì khác. Cứu độ người trẻ hay người già đều phải xả bỏ không vướng
chấp việc nầy.
Không phải người già mới thấm thía bi
lụy, mà người trẻ cũng bị phiền não, nếu cho rằng phải cứu độ người già,
thì không lẽ bỏ người trẻ bị não phiền thiêu đốt sao. Cho nên tất cả
người trẻ lẫn người già đều trải qua cuộc đời thương đau, ai có niềm
tin, “không luận già hay trẻ” cũng được Như Lai, với lòng đại bi cứu độ
tất cả. Hay nói đúng hơn, trong cuộc sống mọi thương đau cần được cảm
thông và chia sẻ; mọi sầu lụy cần được an ủi và bao dung.
Nói là người lành, kẻ dữ, là xét thực
tế tự thân của họ trên cơ sở thiện và ác, từ tư duy, nói năng cho đến
hành động trong sinh hoạt hằng ngày. Trong cuộc sống giới hạn nầy, không
ai hoàn toàn tốt, cũng chẳng có ai hoàn toàn xấu. Kẻ có nhân duyên tiếp
xúc với việc lành, được làm những điều tốt đẹp. Song, lỡ phải tiếp xúc
với duyên xấu, hầu như tất cả bị đổ tội cho là tội phạm, nhiều tội lỗi.
Đó chẳng qua chỉ là những nhược điểm khổ đau mà thôi. Thực tế, chẳng có
ai tốt hoàn toàn mà cũng không có người xấu hoàn toàn.
Vì nhơn duyên
tiếp xúc mà con người lại yếu mền nên như vậy. Vì thế Như Lai không dành
tình thương giới hạn cho riêng ai.
Nghe những lời dạy của Phật, chúng ta
có thể vui mừng khôn xiết và cảm động đến rơi nước mắt, mà chẳng có cái
gì trên đời có thể làm cho cảm động được như thế. Huống hồ khi được cứu
độ, tâm cảnh của chúng ta hiện ra đẹp tuyệt vời. Ngược lại bị vọng tưởng
làm nhiễm ô, tâm tình của chúng ta trở nên bẩn thỉu, nếu không được cứu
độ, tâm ấy như muôn ngàn tấm kính đổi màu và chúng ta nghĩ rằng không
bao giờ được cứu độ.
Song, bổn nguyện cứu độ chúng sanh, Như
Lai không phải cứu độ mỗi một mình ta, mà cứu độ tất cả. Đồng thời, cũng
nên hiểu rằng, nếu là kẻ xấu ác không phải không được cứu độ, mà Như Lai
còn cứu độ tất cả tội chướng sâu dày của những kẻ phàm phu như chúng ta,
khi chúng ta khao khát hướng về Như Lai cầu xin cứu độ. Chính vì thế,
không có giới hạn xấu, tốt, một khi chúng ta hướng về Đức Như Lai với
thân tâm chí thành, sẽ được tiếp dẫn vào thế giới bổn nguyện thênh thanh
vô cùng. Chỉ cần
“niềm tin”
để hướng vọng, quy ngưỡng mà thôi.
Nếu
có lòng tin vào bổn nguyện thì việc lành kia cũng không cần thiết mà
việc ác nào cũng không sợ hãi.
(Lược bớt phần giải thích theo lối
Hán-Nhật)
Với thệ nguyện và từ bi của đức
Phật A Di Đà, ai ai cũng được cứu độ, dù là kẻ đầy tội lỗi, dù là người
già, người trẻ, một khi họ xưng niệm danh hiệu Phật. Hơn nữa hành giả
niệm Phật, tin vào nguyện lực Phật, khi được vãng sanh, công đức lành đã
tích chứa không còn cần thiết, vì trong bổn nguyện cuả đức Như Lai chứa
đầy công đức rồi. Do vậy, cũng không còn sợ hãi đến những việc xấu nữa.
Nhờ được cứu độ cho nên trong đó không còn ác nghiệp. (Điều thứ nhứt –
Thánh Điển trang 832).
Giải thích:
“Công
đức niệm Phật còn hơn cả việc thiện”
nghĩa là công đức vô thượng của niệm Phật. Khi niệm danh hiệu
Nam Mô A Di Đà
Phật là xưng tụng công đức và trí tuệ Như Lai qua ngôn
ngữ, xưng tán công đức ấy quảng đại vô biên như biển cả mênh mông. Thân
Loan tán dương công đức niệm Phật là “công đức bảo hải của chơn thật
nhứt như”. Như thế, ai niệm danh hiệu Phật, người ấy có đầy đủ công đức
vô thượng bao trùm chung quanh, không những gieo trồng thêm hạt giống
công đức lành mà còn thực thi một điều vô cùng cần thiết và tất yếu nữa.
“Bổn
nguyện của Đức Phật A Di Đà cũng không giới hạn cứu độ kẻ ác”,
nghĩa là công đức vô ngại của Phật không
dành riêng cho một ai và không bỏ một vì gì cả. Như Lai cứu độ tất cả
chúng sanh, không giới hạn một ai, không giới hạn việc gì. Ngay cả người
bị tội chướng tà ma, Như Lai dùng ánh sáng quang minh chiếu phá đến chỗ
tối tăm và xua tan những chướng nạn ấy, cho nên Ngài Thế Thân
tán dương đức Phật A Di Đà là
“Tận
Thập Phương Vô Ngại Quang Như Lai”. Ánh sáng của
đức Như Lai nầy chiếu khắp trong cuộc đời ở mười phương thế giới. Do
vậy, không có chướng ngại nào mà không cứu độ được. Với danh hiệu ấy,
Như Lai cứu độ tất cả. Khi nghe danh hiệu Phật và được biết không có
chướng ngại nơi bổn nguyện lực và biết được cứu độ có nghĩa là:
“Không
còn lo ngại đến ác nghiệp, nhờ nương tựa vào bổn nguyện của Phật A Di
Đà”. Đây chính là niềm hoan hỷ vô biên vậy.
Như thế, một khi đã tin vào bổn nguyện,
hành giả niệm Phật vượt lên trên mọi lãnh vực luân lý phàm tình như tốt,
xấu, mình, người v.v.., bởi vì thiện và ác chỉ có giá trị trong phạm vi
luân lý, khi ấy
“thiện cũng không
cầu mà ác cũng không muốn”. Ở đây, khai mở một lãnh vực
khác của tâm có tính cách tuyệt đối vô ngại, mà lãnh vực và thế giới
nầy, trí hiểu biết của thế gian không đủ để nhận thức, bởi vì đây chính
là lãnh vực thuộc về trí tuệ và lòng đại bi của Đức Phật A Di Đà. Riêng
hành giả niệm Phật một khi rõ biết trí tuệ và tâm đại bi của Như Lai,
tâm cảm được không thiện mà cũng không ác. Thế thì, bất cứ ai, người
lành hay kẻ dữ, cũng được bao dung một cách ấm áp trong tâm lượng đại bi
của Như Lai. Đó chính là nơi chốn an trụ có tính cách tuyệt đối. Ở đó,
phá vỡ được cái tâm ngạo mạn khoa trương việc lành và đập vỡ tâm tự ti
về việc xấu. Mỗi người, mỗi người trong chúng ta được trao cho một cuộc
sống như thế, mà trong cuộc sống đầy tương quan tương duyên ấy, chúng ta
an trú nơi lãnh vực tinh thần thật thanh thản và tấm lòng trải rộng khắp
muôn nơi.
Có một bà cụ sống trong căn nhà ở bên
trái con lạch nhỏ trong một ngôi làng trên núi, huyện Điểu Thu
(Toritoru) bên cạnh đó có một ngôi chùa tên là Chánh Giác ở phố Dụng Lại
(Mochigase), trong chùa có một vị Thầy trụ trì. Hằng ngày, bà cụ đến
chùa nghe Pháp một cách nhiệt tâm. Một hôm bà muốn đến chùa hỏi Thầy,
nếu Như Lai có cứu độ, tại sao cho đến bây giờ bà vẫn chưa được cứu độ,
vì vẫn còn nhiều phiền não. Đến chùa Chánh Giác bà gặp Thầy và thưa:
“Con mong đức Như
Lai từ bi làm sao cứu độ cho người đời không còn khổ nữa và làm sao cho
họ được an tâm” và tự chỉ vào mình và than vãn khổ cực.
Thầy bảo:
“Bà ở nhà sống có
tốt không?
Với con cháu, bà
có khó chịu không? Nếu bà khó chịu thì chẳng ai muốn nói chuyện với bà.
Dù gì đi nữa, điều trước tiên với những người thân,
bà phải thân thiết trước. Cho dù có việc gì tệ hại đi nữa cũng bỏ qua”.
Lời nói của Thầy như nước rót vào tim bà.
“Vâng, như thế sao? Đối với người thân, dù tệ đến
thế nào đi nữa cũng chẳng có gì. Ồ! Thật tuyệt diệu! Con có một người
thân dại khờ chơi Sumo
và con cũng rất ngu ngơ giúp cho hắn như thế”.
Đoạn nước mắt bà chảy dài và cảm tạ Thầy vì đã trút hết bầu tâm sự u
uẩn.
Thầy nói:
“Bà ơi! Đã bao lần
hạnh phúc được gói lại và được thấm nhuần”. Nói xong, Thầy
cất tiếng niệm Phật và truyền đạt niềm hoan hỷ nầy.
“Điều tệ cho mấy đi nữa cũng
chẳng quan tâm, không đề cập đến”.
Bà cảm ơn và nói rằng:
“Việc ác không cần
để ý tới, theo lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, chỉ nên phòng ngừa việc
ác” như thế sẽ được cứu độ một cách vô ngại tuyệt vời.
Con
đường tắt là con đường vãng sanh không cần phải hỏi nữa.
(Lược bớt phần giải thích theo văn Hán
- Nhật)
Qua khỏi mười địa phương, mục
đích của chúng tôi là tìm đến nơi nào đó, được ra khỏi sự nguy hiểm của
cuộc sống, tìm hỏi con đường vãng sanh Cực Lạc. Đó chỉ là công việc duy
nhất.
Thế nhưng, vị Thân Loan nầy,
ngoài việc niệm Phật để vãng sanh còn biết con đường nào khác chăng?
Hoặc giả hãy dạy cho ta biết việc nào liên hệ đặc biệt đến vãng sanh
chăng? Tôi
muốn rõ biết về chơn tướng của việc ấy. Đó là vấn đề ưu tư to lớn. Nếu
muốn nghe, hãy đến Nam Đô
và Bắc Lãnh
để nghiên cứu về giáo nghĩa và con đường khác ngoài việc niệm Phật. Hơn
thế nữa, ở đó đang có nhiều học tăng, có thể gặp họ hoặc tìm họ để hỏi
cho rõ ràng về chỗ cương yếu của việc vãng sanh.
(Điều thứ 2 – Thánh Điển – trang 832).
Bắt đầu bằng những ngôn từ và hình ảnh
thật mênh mông như thế ở
“Thán Dị sao”
thuộc điều thứ hai của pháp ngữ. Đầu tiên, chúng ta có thể cảm giác rằng
những môn đệ của Ngài phải trải qua cuộc lữ hành nguy hiểm không biết
bao nhiêu ngày đi và về hằng trăm cây số từ Bắc Kanto đến Kyoto để tìm
đến. Thật ra, họ chẳng phải là những người tìm hiểu con đường vãng sanh
Cực Lạc, mà là những người cầu đạo trong cuộc sống nầy.
Họ đắm chìm vào nghi vấn và tìm hướng
chân thật để thoát ra. Dù đánh bóng bên ngoài dưới hình thức nào đi nữa,
trong tự tâm của họ cũng không khỏi bức xúc khó chịu khi tiếp nhận lời
dạy của Thân Loan ở vào tuổi hơn 80. Có một sự văn tự chân thật nào đó
để người nói và kẻ nghe thông đạt nhau là điều đáng ghi nhớ trong tâm.
“Trải qua hơn 10 địa phương”
nghĩa là họ sống ở phía Bắc Kanto. Con đường đến Kyoto đi qua 10 địa
phương
ở biển phía đông Nhật Bản như:
Thường Lục
(Hitachi), Hạ Tổng (Shimosa), Vũ Tạng (Musashi), Tương Mô (Sagimi), Ý
Đậu (Ito), Tuấn Hà (Suruga), Viễn Giang (Tootomi), Tam Hà (Santomi), Mao
Trương Mỹ Nồng, Cận Giang, Sơn Thành. Những con đường khác
cũng gần 200 cây số phải xuyên qua như vậy. Thời gian lên Kinh Đô
(Kyoto) nhanh nhất cũng phải 20 ngày. Phải dầm mưa, dãi nắng, bịnh tật,
nếu không nhờ phép lạ, không thể vượt qua được. Bao nhiêu khó khăn trên
chuyến hành trình dài như thế ngày nay chúng ta khó mà tưởng tượng nổi.
Có khi bị trộm cướp hoành hành, có khi bị thiếu thốn lương thực, vất vả
mệt nhọc, thiếu thốn nước non, bịnh tật truyền nhiễm, bịnh phong thổ
v.v.., toàn là những việc nguy hiểm của một cuộc lữ. Trên chuyến hành
trình đầy gian lao ấy, không biết bao nhiêu người đã bỏ thây lại, là
điều hiển nhiên thôi, chẳng phải mới lạ gì. Chẳng bao lâu đến Kyoto,
Thánh nhơn cảm thấy hoài nghi về vãng sanh. Ở đây, có thể lấy ví dụ
trường hợp của Giác Tín, nước Hạ Dã, huyện Hịch Mộc cho rằng:
“Thân mệnh đời
sống là điều đáng quý là sự thật chẳng phải là lời khoa trương chút
nào”.
Trải qua những gian lao nguy hiểm đầy
thử thách như thế, được nghe về
“con đường vãng sanh Cực Lạc”, họ
nghi vấn đâu là chỗ đúng của vấn đề thiết yếu nầy. Căn cứ theo hồi ký
của Huệ Tín (Eshin), người bạn đời của Thân Loan, lúc Thân Loan 29 tuổi,
tìm đến Pháp Nhiên hỏi về
“con đường đời
sau” và
“con đường sanh
tử”, được dạy rằng:
“Con đường sanh
tử” ấy chính là con đường
“Vãng sanh về Cực
Lạc”. Đó chính là giáo lý Tịnh độ, mà cả Pháp Nhiên và
Thân Loan dành suốt cuộc đời lắng sâu vào
“con đường vãng
sanh Tịnh Độ” ấy. Nghĩa là mê hoặc khi sanh và khi chết
tạo nên khiếp sợ và ngu muội của phàm phu. Do vậy, chúng ta phải xây
dựng một lãnh vực tinh thần và điều khiển tâm sao cho thật vững chãi khi
sống và thật nhẹ nhàng khi chết. Đó chính là con đường
“Vượt qua khỏi
sanh tử”.
Phiền não thương, ghét đang mãi mê bay
lượn chung quanh chúng ta làm cho cuộc sống phải nổi trôi theo đời
thường và chúng ta khó đứng vững. Tự mình sống sao cho có ý nghĩa khi mà
sự thương ghét đã làm cho ta say túy lúy trong suốt một đời. Nghĩ đến sự
sống; hoặc nghĩ đến cái chết những hình ảnh chập chờn làm cho tâm thức
ta bất an giống như có một đốm lửa trong cuộc sống dù lửa đã tắt.
Với ta, không muốn trải qua một cuộc
sống như thế, không lẽ phải chết trong nỗi tuyệt vọng. Khi sống, sống
với ý nghĩa gì thì lúc chết, phải xác nhận rõ ràng ý nghĩa ấy. Phải có
cuộc sống tự tin, theo tinh thần đạo Phật, mới chấp nhận chết an nhiên
trong tâm. Đó chính là Bồ Đề Tâm và đó cũng chính là con đường tìm cầu
của tâm, thoát ly sanh tử.
Giảng về bổn nguyện của Đức Phật A Di
Đà trong
Kinh Vô Lượng Thọ,
Đức Phật Thích Ca cho biết hạnh nguyện từ bi của Như Lai cứu độ tất cả
chúng sanh. Chúng ta an nhiên nguyện vãng sanh Tịnh Độ, nơi đó là cố
hương mà chúng ta được tu và được nghe những lời dạy của Đức Như Lai.
Không cần tư duy suy tính, chỉ cần có
niềm tin và ước nguyện vãng sanh, chỉ cần xưng niệm danh hiệu Phật A Di
Đà sẽ trở thành con của Như Lai, được Như Lai tiếp dẫn một cách trân quý
trong từng hơi thở, chắc chắn sẽ xa lìa sanh tử, vĩnh viễn được tiếp dẫn
về thế giới Tịnh Độ. Ấy là cơ duyên vãng sanh về Cực Lạc. Như thế
“Con đường vãng
sanh Cực Lạc
và trụ lại đây”
là nương vào pháp niệm Phật, được cứu độ và vấn đề sanh tử trở nên có ý
nghĩa. Không giới hạn cuộc sống nào cả một khi đã có “con đường ra
khỏi sanh tử” ấy. Như vậy, phải tâm niệm rằng con đường giải
thoát của hành giả trong cuộc sống chính là con đường chánh đáng, chẳng
còn gì để do dự nữa.
Chỉ
riêng niệm Phật A Di Đà mới được tiếp dẫn, ngoài ra không còn gì khác
nữa.
(Lược bớt phần giải thích Hán - Nhật)
Thân Loan chỉ có niệm Phật A Di
Đà Như Lai được tiếp dẫn. Người ước nguyện, tin tưởng và kính ngưỡng như
Pháp Nhiên được nạp thọ. Ngoài ra, không có gì khác hơn nữa. (Điều thứ 2
– Thánh Điển – trang 832).
Giải thích
Điều nầy được giản lược, song nếu cho
rằng để minh chứng khi trình bày
niềm tin của tự thân, thật sự tôi
không rõ
những lời ấy, vì đây không là những lời dạy của Thầy dành cho đệ tử.
Phải chăng nghe đến
con đường vãng
sanh những đệ tử từ Kanto tìm đến, chính khi đó
niềm tin của tự
thân có ảnh hưởng. Trong bài pháp Tịnh Độ mà ân sư Pháp
Nhiên đặc biệt giới thiệu cho đệ tử Thân Loan, về hầu như những ngôn ngữ
ấy chiếm gần hết rồi.
Chẳng phải chỉ
riêng niệm Phật A Di Đà Như Lai được tiếp độ. Đó là lời
của ân sư truyền đạt. Thật sự, lúc ấy Pháp Nhiên đã 50 tuổi. Những gì mà
Thân Loan nghe vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng trong cuộc đời Ngài.
Năm Thân Loan đúng 29 tuổi đã có 20 năm
tu học và hành đạo một cách nghiêm mật ở Tỷ Duệ Sơn, vì bị mê hoặc trong
sanh tử không thể qua nổi; nên đã tìm đến tham cứu nơi Lục Giác Đường.
Nhờ sự báo mộng của Thánh Đức Thái Tử (Shotoku Taishi) mà tìm đến Pháp
Nhiên để hỏi rõ
“con đường thoát
khỏi sanh tử”. Cái gì vẫn còn sót lại trong tâm thức có
tính cách vô niệm ấy chính là thương ghét của con người trong cuộc sống.
Một cái gì to tướng hiện hữu để rồi không rõ chết là gì và không dám
nhẫn nại chịu đựng để đón nhận cái chết. Thật sự, Không chính là kết quả
mà không ai không nhận. Với Pháp Nhiên, sanh tử là một kỳ vọng phải
thông suốt, chính là con đường phải nghe và thực tập vậy.
Huệ Tín, người bạn đời của Thân Loan
ghi lại trong thơ rằng:
“Lúc đầu khi Thân
Loan mới gặp Pháp Nhiên, được Pháp Nhiên dạy rằng: A Di Đà Như Lai không
phân biệt người lành hay kẻ dữ, tất cả đều được cứu độ và nguyện rằng
lúc lâm chung sẽ tiếp rước về Tịnh Độ. Niệm Phật một niệm, con đường
Tịnh Độ được chắc chắn. Tôi
đã giao thân nầy cho bổn nguyện của Như Lai và chỉ một lòng niệm Phật”.
Qua lời dạy ấy, Thân Loan rất cảm động và sau 100 ngày đón nhận thọ trì.
Bổn nguyện ấy chính là niệm Phật liên tục cả thân lẫn tâm. Thân Loan
thường thường ở nơi tâm cảnh và khẳng định không hối tiếc rằng:
“Tôi sẽ vãng sanh
về nơi mà Pháp Nhiên Thánh Nhơn vãng sanh. Dù cho có gặp địa ngục đi nữa
nguyện nầy vẫn không thay đổi”. Đó là sự quy ngưỡng vậy.
Điều nầy phải hiểu là lời dạy rất đẹp và trọng yếu ở điều thứ hai trong
“Thán Dị sao”.
Từ Pháp Nhiên, việc niệm Phật chẳng
những là pháp môn trí tuệ và cao nhất trong thế gian, mà còn thực hành
bổn nguyện của đức A Di Đà Như Lai. Những kẻ phàm phu ngu muội như chúng
ta bị phiền não thương, ghét đốt cháy, tạo tội trong khi sống vẫn được
Đức Phật A Di Đà, với tâm đại bi và bổn nguyện cứu độ, cứu vớt và không
bỏ sót một người nào. Hơn nữa chắc chắn những ai đang bị đọa lạc trong
chốn khổ đau cũng được ra khỏi. Nhờ pháp tu mình đã chọn giúp mình xả bỏ
mình nơi tối tăm ấy.
Dù người lành, kẻ dữ, người hiền, kẻ
ngu, tất cả đều không phân biệt, trên thực tế ai cũng có thể thực hiện
việc niệm Phật một cách dễ dàng vì nương nhờ công đức viên mãn của Như
Lai. Khi chúng ta xưng danh hiệu của Đức Phật A Di Đà sẽ được tiếp dẫn
vãng sanh Tịnh Độ. Do vậy, với lòng đại bi bổn nguyện ấy, chỉ cần thọ
trì pháp môn niệm Phật, con đường vãng sanh sẽ mở ra trong tâm, bao
nhiêu mê hoặc sanh tử được đoạn lìa. Đó chính là niềm tin niệm Phật vãng
sanh của Pháp Nhiên và con đường vãng sanh ấy chính là thế giới giác
ngộ.
“Chỉ có niệm Phật”.
“Chỉ”
nghĩa là theo chữ Hán viết là
“duy”,
nghĩa là duy nhứt. Ngoài tự lực, mỗi lời niệm Phật cầu vãng sanh của bổn
nguyện chính là chuyên tu. Pháp Nhiên muốn dùng lời nói để biểu hiện về
“chuyên tu niệm
Phật”. Ngoài ra, Thân Loan trong tác phẩm
Duy Tín Sao Văn Ý
cho rằng:
“Bổn nguyện tha
lực ấy bao gồm tất cả và rời khỏi tự lực”.
“Chỉ có niềm tin”.
Chữ
“duy”
là lìa tự lực và trở về với tha lực. Đây chính là cách nói giải thích.
Thật là tốt cho con người lìa bỏ tâm phân biệt đo lường. Như Lai cho
rằng pháp môn tự lực không cần mang theo, chỉ một câu niệm Phật là con
đường của những ai có niềm tin kính tín
“ước nguyện và
xưng niệm danh hiệu”. Cuối cùng, niệm Phật là
“chỉ niệm Phật”
mà thôi.
Nói khác, chẳng phải cần tâm thanh tịnh
mới xưng danh hiệu, cũng chẳng phải cần thân yên ổn mới niệm; lại cũng
chẳng cần phải tư duy niệm Phật có công đức mới niệm. Cũng chẳng cần
phải nhớ về bổn nguyện của Như Lai, xưng danh hiệu..., tất cả đều không
cần suy nghĩ gì cả, chỉ cần niệm Phật là đủ. Lại nữa, niệm Phật là cầm
chắc trong tay ước mong cứu độ qua lời nguyện. Cũng nên xả bỏ tất cả
những ước nguyện muốn có công đức của niệm Phật, để mang lợi ích của mọi
người trong hiện thế, chỉ một điều là nương lời nguyện của Như Lai cứ
như thế mà tiếp tục niệm Phật. Mong ước của tự lực là chạy theo cái quả,
mà vấn đề niệm Phật ấy gọi là niệm Phật cuả tự lực. Còn niệm Phật theo
lời nguyện của Như Lai là tha lực niệm Phật. Vì thế sự tự lực không cần
đến, hãy trở về với tha lực ấy và
“chỉ cần niệm
Phật” mà thôi.
Sự niệm Phật chính là hạt
giống để sanh về Tịnh Độ. Đồng thời ở điạ ngục cũng là nghiệp nhơn
nữa.Tất cả nên biết rõ.
(Phần giải thích Hán - Nhật lược bớt)
Sự niệm Phật là nhân vãng sanh
Tịnh Độ, có phải thế không? Hay là nhơn để rơi vào địa ngục? Với tôi,
không hoàn toàn rõ biết. Ngược lại, Pháp Nhiên Thánh Nhơn cho rằng: Niệm
Phật dù cho có rơi xuống địa ngục, chắc chắn tôi cũng không hối tiếc. Ý
nói là nếu theo nguyên tắc của những pháp môn khác, cố gắng tu hành để
thành Phật, thì niệm Phật được xem là sai trái sẽ bị đoạ địa ngục cho
nên có hành giả sẽ có hối hận. Không những không nhẫn nại tu hành được
mà còn thân ngu ác nầy chắc chọn địa ngục là nhà nương tựa. (Điều thứ
hai – Thánh Điển – trang 832).
Giải thích:
Từ vùng Kanto xa xôi, các đệ tử đến gặp
Thân Loan để tìm hỏi:
“Có phải Pháp
Nhiên dạy rằng niệm Phật không sanh về Cực Lạc thì đọa điạ ngục, điều ấy
không sai chăng? Hay chỉ là hù dọa người niệm Phật để quyết định vãng
sanh Cực Lạc?”. Trước nhất được trả lời rằng:
“Với Thân Loan,
niệm Phật sẽ được đức A Di Đà Như Lai cứu độ. Ngoài ra, chỉ tin và kính
ngưỡng Pháp Nhiên Thánh Nhơn, không có cái gì khác hơn”.
Đây là sự tự thuật lại niềm tin của chính mình.
Ngài dạy tiếp:
“Ngoài ra, Niệm
Phật chính là hạt giống sanh về Tịnh Độ chăng? hay là cái nhơn ác nghiệp
để rơi vào địa ngục thì tôi
hoàn toàn không rõ biết”. Đây có lẽ cũng là lời dạy cho
những người khó khuyên chăng?
Thế nhưng, tín tâm của Thân Loan được
giải bày như sau
“Cái gì là hạt
giống để sanh về Tịnh Độ? Có xác định được năng lực ấy không? theo ngu
trí của chúng ta không rõ. Nhưng chắc chắn có Như Lai tiếp dẫn, có pháp
môn Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ, mà Pháp Nhiên Thánh Nhơn đã bao lần
dạy. Việc nầy khi nghe lần đầu, tôi giống như kẻ ngu muội được cứu độ,
và cảm động trước bổn nguyện mà Như Lai nói ra. Đó là lời đầy phát
nguyện đầy từ ái của Như Lai. Thật ra “chỉ niệm Phật là đủ rồi”.
Lời dạy của Thân Loan rất nhứt quán; lời dạy chơn thật không biết gì
khác cả; ngoại trừ biết mình là kẻ ngu muội. Chính bản thân mình không
biết gì cả mới phó thác lòng tin cho Đức Như Lai. Ở đó không thiếu niềm
tin tưởng mẫn cảm của chính mình. Tuy nhiên, một khi quy ngưỡng về Như
Lai, cuộc sống trở nên ý nghĩa và phương hướng sự sống của chính mình
được rõ biết, vì đã có ánh sáng soi rọi rồi.
“Niệm Phật là hạt giống để sanh về Tịnh Độ”,
chính Pháp Nhiên đầu tiên trích ra từ
“Kinh Vô Lượng
Thọ” bản kinh chính đức Phật thuyết, trãi qua hơn 2000
năm. Tiếp đó, Thân Loan không có gì nghi ngờ về lời dạy của Đức Phật, mà
lời dạy ấy thật không có một điểm nào sai trái, hoàn toàn chân thật. Chỉ
có con người hư ngụy sai trái mà thôi. Nhờ quy ngưỡng và giữ niềm tin
như thế, Thân Loan vượt qua tiểu ngã, tin thuận theo lời dạy chân thật
của Đức Phật và quyết định chắc chắn thân nầy sẽ vãng sanh.
Không dừng lại ở đó, có những tà thuyết
dị đoan của những môn đệ không đến được Kanto, cho rằng:
“Niệm Phật chắc
chắn được vãng sanh Cực Lạc, quyết định không thể nào rơi xuống địa
ngục”. Và họ cũng là những người muốn Thân Loan xác nhận
lại điều ấy có đúng không? Thế nhưng sự chờ đợi ấy có tính cách nguy
hiểm. Vì ai cũng biết rằng Thân Loan đã rõ điều nầy rồi. Lời chứng để
tìm cầu sự cứu độ con người Như Lai đã rõ và Như Lai đã cứu độ. Còn ở
lãnh vực con người muốn minh chứng thì lời minh chứng cho con người chỉ
là sự thành lập từ niềm tin mà thôi. Tranh luận của nhân gian cũng chỉ
để tìm cho ra nguyên nhân không sai. Thế nhưng không phải chỉ có vậy.
Lời minh chứng việc cứu độ, mà con người làm, rõ ràng không biết; nếu
cho rằng tự mình là kẻ được cứu độ thì rơi vào ngạo mạn. Với tội ấy,
chính mình có đến ngồi trước vị Thần hoặc đến trước Đức Phật đi nữa, con
người ấy hay tín giả ấy, mà trong lịch sử cũng không ít những người như
thế, đã bị rơi xuống địa ngục.
Pháp Nhiên thường cho rằng:
“Người theo Tịnh
Độ Tông là những người ngu nhưng được vãng sanh”. Ông ta
kết luận như vậy. Chính Thân Loan cũng ghi nhận như thế. Vì kẻ ngu không
có năng lực đầy đủ để nhận định về giáo pháp; cũng không có khả năng phê
phán rõ vấn đề thiện, ác; cũng chẳng có trí lực để thấy được con đường
đúng, sai để vượt qua sanh tử, gọi là con người chẳng ra sao. Thân Loan
thường nói rằng:
“Cả thiện và ác
cuối cùng rồi cũng hết”. Ấy có nghĩa là:
“Thị, phi cũng
không, mà tà, chánh cũng không cần biết đến”. Cho nên tự
đặt cho mình một cái tên là
“ngu ngốc”.
Kế tiếp, lời dạy của Thân Loan như sau:
“Niệm Pháp Nhiên
Thánh Nhơn thì lặng yên và niệm Phật thì rơi xuống địa ngục. Nhưng tôi
quyết chẳng hối hận”. Và đồng thời nói:
“Nếu tôi cự tuyệt
được địa ngục, rõ ràng không phải là người sáng giá”. Thật
sự lời nói ấy đã khẳng định và không còn gì nữa để nói và cảm nhận những
lời dạy như thế cả.
Sự quy ngưỡng của Pháp Nhiên,
được Thân Loan tiếp tục phát triển và đồng thời chẳng mang đến sự vô
nghĩa nào cả.
(Lược bớt phần giải thích theo lối Hán
– Nhật)
Sự quyết định chọn lựa con đường
vãng sanh bằng pháp môn niệm Phật là theo bổn nguyện của Đức Phật A Di
Đà. Để truyền đạt lại bổn nguyện ấy, Đức Thích Tôn xuất hiện trong đời
nầy thuyết pháp và xiển dương. Đồng thời, Phật thuyết pháp là biểu hiện
tâm tùy thuận với bổn nguyện niệm Phật. Bình giải của Thiện Đạo không
phải không đúng, song nếu hoàn toàn đúng thì đó là mục tiêu hướng đến mà
Pháp Nhiên quy ngưỡng.
Tại sao lại dùng phương tiện ấy?
Nếu sự quy ngưỡng của Pháp Nhiên là hoàn toàn đúng, Thân Loan là người
tin tưởng, không có gì đổi khác.
Điều chủ yếu với tôi
là giữ lòng tin như thế, trước hết thọ nhận lời chỉ dạy và sau đó tin
tưởng chắc chắn vào pháp niệm Phật. Nếu cảm thấy không có duyên, tự
nhiên rời bỏ con đường ấy. Quý vị trong mỗi người cứ như thế để tâm là
được (Điều 2 – Thánh Điển – trang 833).
Giải thích:
Tịnh Độ Chơn
Tông có sự truyền thừa rõ ràng từ Đức Thích Ca. Trong đó, Thân Loan là
vị Tổ thứ bảy được truyền thừa pháp môn nầy. Hơn nữa, khi Thân Loan bàn
về truyền thừa Tịnh Độ Chơn Tông, Ngài viết trong
Chánh Tín Kệ
và
Cao Tăng Hòa Tán
về những vị Tổ Sư như
Long Thọ
Thế Thân
ra đời tại Ấn Độ.
Đàm Loan,
Đạo Xước
và Thiện Đạo
ở tại Trung Hoa.
Nguyên Tín
và Pháp Nhiên
ở Nhật Bản. Trong 7 vị Cao Tăng đó, chỉ chọn ra hai vị:
Thiện Đạo
và
Pháp Nhiên.
Đặc biệt, nói về Ngài Pháp Nhiên nhiều hơn. Sau đây phần căn bản đề cập
đến hai vị Phật:
Phật Thích Ca và
Phật A Di Đà
và hai vị Tổ:
Thiện Đạo
và
Pháp Nhiên
để thấy pháp môn niệm Phật có truyền thống”.
Trước hết, xin tuyển chọn tác phẩm
Bổn Nguyện Của
Phật A Di Đà và
Giáo Thuyết của
Phật Thích Ca. Nếu bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà là cứu
độ chúng sanh thì giáo thuyết của Đức Phật Thích Ca nguyên thủy là
truyền đạt pháp môn cứu độ. Việc nầy cho thấy rằng bổn nguyện của Đức
Phật A Di Đà có trước, tiếp theo Đức Phật Thích Ca giảng giải về bổn
nguyện mênh mông như biển cả của Đức Phật A Di Đà. Như thế pháp môn nầy
có nguồn cội hẳn hoi, từ nguồn cội nguồn ấy lưu xuất liên tục và truyền
thừa mãi về sau nầy, như ta đã thấy rõ. Căn cứ vào
Kinh Đại Vô Lượng
Thọ và lời nguyện thứ 17 trong 48 lời nguyện của Đức Phật
A Di Đà, chúng ta biết rõ pháp môn cứu độ trong mười phương thế giới.
Lời thệ nguyện và sự tán thán (qua bổn nguyện) bằng cách là niệm danh
hiệu
Nam Mô A Di Đà
Phật của
Phật A Di Đà
trong mười phương thế giới. Lời nguyện nầy được biết qua Chư Phật, vì
Chư Phật tán thán bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà (qua lời nguyện thứ
18) về pháp môn cứu độ. Nếu có những chúng sanh chuyên cần nhứt tâm niệm
Phật, tin tưởng điều ấy sẽ được thành Phật như Đức Phật Thích Ca vậy.
Tiếp theo,
“sự giải thích của
Thiện Đạo” và
“sự quy ngưỡng tin
tưởng của Pháp Nhiên” là hai vị Tổ Sư mang đậm tính truyền
thống được tuyển chọn để giới thiệu. Qua pháp môn niệm Phật được truyền
thừa, Phật cho rằng:
“Niệm Phật được
Đức Phật A Di Đà cứu độ”. Còn Thiện Đạo theo sự chỉ dạy
của Đức Thích Ca, theo lời nguyện thứ 18 cho rằng một khi niệm danh hiệu
của Phật A Di Đà, việc vãng sanh là dựa theo lời nguyện ấy được chánh
định nghiệp (quyết định vãng sanh) không phân biệt người lành, kẻ dữ,
nếu tin vào bổn nguyện, chắc chắn được cứu độ.
Pháp Nhiên theo lời dạy nầy cho rằng
đức Phật A Di Đà, xem chúng ta như những chúng sanh ngu muội, vì cần cứu
độ cho nên hãy buông bỏ cái tự lực rất khó thực hiện, mà nương vào tha
lực dễ dàng và nhờ niệm Phật mà được nương tựa vào công đức của Như Lai,
chỉ cần niệm một niệm, nhất định vãng sanh. Đây cũng còn gọi là tuyển
chọn bổn nguyện. Hãy tinh tấn!
Đừng lo lắng về
bổn nguyện của Như Lai, mà chỉ nên niệm Phật.
Theo giáo pháp của pháp môn chuyên tu
niệm Phật, từ biển bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà lưu xuất, Đức Thích
Ca trùng tuyên lại cho những chúng sanh đang bị phiền não nghiệp khổ
trói buộc ở cảnh giới nầy, rồi đến Thiện Đạo giảng giải cho người Trung
Hoa biết pháp môn Tịnh Độ, đến Pháp Nhiên mang giáo lý Phật đà về Nhật
Bản, chính tôi
cũng được hấp thụ trong giòng nước mát ấy qua sự tín niệm mà Thân Loan
dạy cho.
Thế nhưng, nói về việc niệm Phật
“hoàn toàn chạy
theo” là nói ngược lại, thì có cái cảm tưởng hơi kỳ dị. Ở
đây lời nói ngược lại có nghĩa là sẽ ảnh hưởng không nhỏ. Do vậy không
gì hơn
“cứ tin theo như
Thân Loan, không nên nghi ngờ gì cả”. Với những lời giả
tưởng ấy, ta không cần lưu tâm đến, phải có lòng tin thật kiên cố.
Khi nói về truyền thống giáo pháp chơn
thật, tôi (tác giả) tin rằng:
“Cứ tin tưởng theo Phật Tổ. Vì chắc chắn quý Ngài
không phải là những người nói điều sai trái”. Vì theo
những lời dạy rất rõ ràng là:
“Quý vị cùng niệm
Phật qua niềm tin thì sẽ được cứu độ”. Cũng có nhiều người
nghe giáo pháp nhưng cố chấp không hiểu, không có ý thức, cho nên mới
phát ngôn bừa bãi như vậy. Thế nhưng, ở đây cũng không phải dùng quyền
uy của giáo pháp để áp chế đệ tử được. Trong quyển
Sư Tượng
người Thầy phải nói làm sao để họ tin theo. Vì
Thân Loan không
mang theo người đệ tử nào cả không hại gì khi Thân Loan
tiếp tục truyền đạt pháp môn nầy.
Với Thân Loan, rất trân quý giáo pháp;
song rất nghiêm khắc với cái “tôi” chính mình. Chỉ có tin và quý trọng
giáo pháp ấy. Chính vì trọng pháp, Thân Loan cho mình là kẻ ngu muội
song không lợi dụng danh nghĩa Phật Tổ, không màng danh lợi. Một vị Thầy
tốt không mượn danh của người khác, không dựa vào quyền uy thế lực buộc
kẻ khác tin theo. Nếu không được thế, thật rất khó coi.
Với việc nầy, Thân Loan nói:
“Lòng tin sẽ giúp
vượt khỏi ngu tối của bản thân”. Đồng thời cũng dạy: “Pháp
môn niệm Phật là một lòng tin và hành, dù cho thế nào đi nữa, vẫn không
thấy xấu hổ” Mỗi người trong chúng ta đối trước Đức Như Lai, tin bổn
nguyện hay không là vấn đề tự mỗi người quyết định. Lúc ấy, cũng là lúc
con người vượt khỏi ngu tối và nhận rõ những lầm lẫn trong thế giới nầy.
Không
nói riêng về người thiện được vãng sanh mà ngay cả người ác cũng thế.
(Lược bớt phần giải thích theo lối Hán
– Nhật)
Người lành được vãng sanh, còn
người ác có vãng sanh chăng? Hoặc chỉ có người ác vãng sanh, còn người
lành không được vãng sanh sao? Nói như thế để suy nghĩ, thật ra thì theo
bổn nguyện Đức Phật A Di Đà, tất cả mọi người được cứu độ, đều nhờ vào
tha lực của Ngài.
Giải thích:
Điều ba trong
“Thán Dị sao”
có pháp ngữ nói về cơ duyên của người ác rất nổi tiếng.
Người lành vãng
sanh và người sai trái cũng vậy. Đây chẳng phải là vấn đề
cơ bản, trật tự của xã hội, khi bảo tồn cũng như phê phán mạnh mẽ về
việc lành, việc dữ.
“Đừng làm việc ác,
nên làm việc lành” là những giới điều căn bản của người tu
hành theo Phật.
Phá bỏ những ảnh hưởng quá khích về
việc phát ngôn ấy. Thật ra,
“Người ác vãng
sanh, người lành cũng thế”. Điều nầy luôn luôn tồn tại và
được chấp nhận ngay ở trong xã hội cũng như ở trong đạo pháp. Tịnh Độ
Giáo đề ra tư duy đó để bình giải rằng:
“Điều nầy cũng
giống như cái bản lai chính của bổn nguyện tha lực”
vậy.
Nên cẩn trọng những việc ác và nên tích
chứa những việc lành và nên làm tịnh hóa tâm nhiễm ô. Dưới sự đánh giá
của Như Lai, con người chính là một đơn vị cao cả, mà mọi người đều được
tịnh hóa, được tiếp dẫn về Tịnh Độ. Nên
“người lành nương
theo đó mà vãng sanh, người ác cũng thế”. Phải chăng đây
là một lời thách thức mới?
Thế nhưng
“Thán Dị sao”
có nói rằng:
Người ác vãng sanh
và người hiền cũng như thế. Điều nầy cho thấy rằng từ đầu,
phê phán về căn cơ của người hiền rằng:
“Như thế, chắc
chắn một khi tự mình làm những việc lành, người hiền được vãng sanh. Thế
nhưng nếu thiếu lòng tin về bổn nguyện tha lực của Đức Phật A Di Đà,
không thể vãng sanh được, dù là người hiền. Theo đó, dù ai có làm điều
lành đi chăng nữa cũng phải chuyển đổi tâm tự lực của mình, nương vào
bổn nguyện tha lực của Đức Phật A Di Đà, mới được vãng sanh về cảnh giới
chơn thật Báo Độ
của Như Lai giác ngộ”.
Những kẻ tự cho rằng mình là người lành
có thể vãng sanh nhờ những việc lành của mình đã chứa nhóm, chính là
ngạo mạn. Vì kẻ phàm phu dẫy đầy phiền não; không thể tự mình thỏng tay
vào thế giới giác ngộ được, do đó phải nương vào bổn nguyện tha lực của
Đức Phật A Di Đà. Điều ấy, cũng chẳng phải có nghĩa là tất cả đều giao
cho Đức Phật A Di Đà, mà việc lành của con người vẫn còn chứa đựng phiền
não, nên phải suy nghĩ vãng sanh về Tịnh Độ. Phải thấy rằng Tịnh Độ ở
đây là một thế giới kéo dài, mở rộng cho đến khi nào phiền não tiêu diệt
hoàn toàn mới vào được. Tịnh Độ, Niết Bàn là nơi mà hành giả phải lập
lời thệ nguyện vãng sanh. Tâm phải dựa vào bổn nguyện của Đức Phật A Di
Đà mới có thể thành tựu được. Hơn nữa, được gọi là vãng sanh mới là quý,
còn cho dù thân của ta được gọi là tốt đi chăng nữa, đối với việc vãng
sanh cũng chẳng có một ý nghĩa gì cả; phải xóa bỏ tâm tự lực đi và
chuyển thành tâm mong được bổn nguyện tha lực của Đức Phật A Di Đà cứu
độ, việc vãng sanh về chơn thật báo độ của các Đức Như Lai giải thoát
kia mới có thể thực hiện được.
Như Thân Loan thuật lại rằng đối tượng
chân chính của những người ác là bổn nguyện và lòng đại bi của Như Lai.
“Sống trong cuộc
sống đầy phiền não nầy, dù chúng ta có tu hành đến thế nào đi chăng nữa
vẫn còn mê hoặc trong sanh tử, khó thoát ra khỏi. Vì vậy, Đức Phật A Di
Đà mới lân mẫn lập nguyện cứu độ. Căn bản của bổn nguyện ở chỗ kẻ ác nếu
muốn thành Phật, hãy cầu nguyện nơi bổn nguyện, giao mình cho tha lực và
chỉ cần vãng sanh cũng được vãng sanh. Người lành cũng giống như thế,
không khác gì người ác khi được cứu độ”.
Với chúng ta, lúc nào cũng căn cứ vào
những hành động làm tiêu chuẩn và với chính mình không giới hạn ở đâu
cả; nên đã bài trừ việc ác một cách triệt để. Ngày đêm ái dục và những
tư tưởng về thương ghét đốt cháy cuộc sống nầy. Con người chối từ hạnh
phúc thật sự để vui với cái vui bất hạnh và tự mình làm băng hoại tư duy
trong suy nghĩ. Với những kẻ phàm phu như thế, tất cả nên phải xả bỏ đi
và tuyệt nhiên nhữn