Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


......... .

 

 

TỊNH ĐỘ TÔNG NHẬT BẢN

Dịch giả Thích Như Điển

---o0o---

[3]

I. Lời Dạy Của Thân Loan
 

I.1   Ngôn Ngữ Của Thán Dị Sao

I.1.1       Lời Thệ Nguyện Của Phật A Di Đà

Thệ nguyện bất tư nghì của Đức Phật A Di Đà là cứu độ tất cả chúng sanh được vãng sanh.

(Nguyên văn bằng Hán - Nhật được lược bớt và phần nầy trở xuống chỉ dịch ngôn ngữ hiện đại mà thôi)

Ai cũng nghĩ rằng thệ nguyện của Đức Phật A Di Đà là tiếp dẫn chúng sanh thoát khỏi vòng sanh tử và vãng sanh Tịnh độ. Cho đến khi nào tâm chúng sanh hướng về Như Lai, miệng niệm Phật, tức thì ngay khi ấy, Đức A Di Đà phóng ánh quang minh đại bi hộ trì tiếp dẫn, để họ được lợi ích rõ ràng. (Điều thứ nhất – Thánh Điển trang 831).

Giải thích:

I.1.1.1   Phật Đà Chơn Thật

Đây là từ ngữ nằm ở phần đầu của “Thán Dị sao cho biết bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà là cứu độ chúng sanh. Chắc chắn điều nầy sẽ biểu hiện qua tín tâm và pháp niệm Phật cũng như sự lợi ích của việc chấp trì danh hiệu[1].

“Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ cho biết từ xưa khi còn là Pháp Tạng Bồ Tát, Phật A Di Đà phát nguyện thiết lập thế giới Tịnh Độ thanh tịnh, không có phiền não và nguyện rằng ai được vãng sanh, đời đời an lạc và tỉnh thức. Vì phát nguyện như thế và để thực hiện nguyện nầy, Ngài tích tụ  công đức tu hành trong nhiều kiếp cho đến khi thành Phật A Di Đà, cứu độ cho vô số chúng sanh.

Tất nhiên, trong kinh điển, Đức Phật A Di Đà luôn luôn ước muốn chúng sanh, nếu có thể được, đều được siêu thoát. Thế nhưng, ngay khi chúng ta, những kẻ trí mỏng, tội dày tu pháp môn nầy cầu mong cứu độ, thì suy nghĩ của chúng ta đã bao hàm ước muốn siêu thoát hoàn toàn rồi.

Lời nguyện của Đức Phật A Di Đà gọi là “bất khả tư nghì và việc hóa độ chúng sanh đầy bản ngã tự kỷ cũng là một việc “bất khả tư nghì. Có tất cả 48 nguyện nhưng không có nguyện nào không hứa khả cứu độ chúng sanh. Nhất là phần đầu và phần cuối mỗi nguyện đều lập lại: “Ta thề không thành Phật”, “nếu không được vậy…, sẽ không giữ ngôi chánh giác”.

Ví dụ “dẫu cho chúng sanh thực sự thành Phật, mà lời nguyện căn bản nầy không thực hiện ta (Phật Di Đà) không gọi là Phật.

Đồng thời cốt lõi của lời nguyện của “Chân Phật” ấy như thế nào được minh thị trong “Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ, bản kinh trình bày rất cụ thể những lời nguyện của Đức A Di Đà, rất căn bản, rất phước đức và rất nhất quán với Phật Đà.

I.1.1.2   Lời Nguyện Thứ 18

Trong 48 lời nguyện, mỗi nguyện Ngài đều hứa thực hiện một cách chắc chắn. Song, điểm chính ở đây là dù kẻ ngu muội đến mấy đi nữa vẫn được tiếp dẫn vãng sanh về Tịnh Độ như nhau, nếu có niềm tin, hết lòng xưng niệm danh hiệu: Nam mô A Di Đà Phật”. Thật ra, bổn nguyện của Đức A Di Đà Như Lai gồm có 48 lời nguyện, song nguyện thứ 18 xem như bao hàm tất cả, cho nên Pháp Nhiên gọi nguyện thứ 18 gọi là: “Vua trong các bổn nguyện” và chọn bổn nguyện nầy. Lời nguyện thứ 18 như vầy:

“Ta thề không thành Phật, nếu ai muốn sanh nước ta, chí tâm niệm Phật cho đến 10 niệm mà chẳng vãng sanh, Ta quyết không ở tại ngôi chánh giác. Song trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp[2], (Lược bớt, vì nội dung giải thích giống như trên).

Nguyện: “Nếu chẳng vãng sanh .........., cho đến quyết không ở tại ngôi chánh giác” là cứu độ, là thệ nguyện nhiếp thủ và cũng còn gọi là Nhiếp Thủ Môn. Ở đây nói rằng: “Trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp” là hai loại tội nặng, nếu không có tâm sám hối, không được vãng sanh và bị ngăn cản phải dừng lại tại cửa. Có phạm tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp nhưng hồi tâm và tín thọ bổn nguyện, có thể chuyển hoán được. Đó là thành tựu của sự giáo hóa vậy.

I.1.1.3   Tín Tâm

“Chí tâm tín nhạo” là từ ngữ mà Thân Loan thêm vào cho mạnh hơn như là: “Nguyện chân thật của ta, nên tín nhạo” hay là: “Bổn nguyện của Như Lai là cứu độ chẳng phải đùa, không nên nghi ngờ mà hãy tin”. hoặc “Nếu muốn sanh về nước ta…”. Thật vậy, vấn đề “nhờ tha lực và chí tâm tín nhạo, được sanh về cõi An Lạc Tịnh Độ”“trí tuệ” ngược lại kẻ phàm phu không rõ đường đi nhưng tâm vẫn hướng đến lãnh vực siêu thoát cầu mong tỏ ngộ, cho nên nói rằng “cứu độ chẳng phải đùa, không nên nghi ngờ mà hãy tin và mau phát nguyện sanh về Tịnh Độ”. Đây gọi là ngôn ngữ của lòng Đại Bi được thể hiện.

Sự khuyến tấn và tiếp dẫn là tiếng nói chân thành “tùy theo niềm tín ngưỡng, được sanh về cõi Tịnh Độ và chắc chắn mong ước sẽ thành tựu”. Thật vậy, khi nghe như thế, không còn nghi ngờ mà phát niềm tin. Nghe và thọ trì mà không nghi ngờ nghĩa là những ngôn ngữ từ bi và trí tuệ của Như Lai đã bao phủ trí tuệ nhỏ bé của ta, dù không rõ biết “việc nhứt định vãng sanh” Tịnh Độ nhưng chắc chắn điều chờ đợi có thể xảy ra. Đây chính là lòng tin, mà lòng tin ấy chính là bổn nguyện quyết định, không còn nghi ngờ gì nữa.

I.1.1.4   Xưng Danh

Tiếp theo, nguyện “cho đến mười niệm” là lời nguyện về xưng danh hiệu. Niệm cho đến mười niệm là định tâm. Còn diễn đạt lòng tin qua danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật” là bổn nguyện niềm tin. Mười niệm nghĩa là với tâm tịnh tín, xưng niệm danh hiệu đến mười lần. Song đó là sự giải thích đặc biệt của Thiện Đạo và Pháp Nhiên. Với Thân Loan “mười niệm” có nghĩa là “miệng chỉ cần niệm mười lần” mà thôi.

Chữ “cho đến” có nghĩa là không hạn định số lần niệm Phật. Thật sự, với kẻ bất hạnh, cuộc đời vô cùng ngắn ngủi chỉ trong một niệm là hết một đời, cho nên chỉ cần niệm Phât một niệm là đủ. Còn với người trường thọ, xưng tụng trăm ngàn vạn biến, bao nhiêu cũng được. Song trong bổn nguyện niệm Phật nghĩa là từng niệm, từng niệm phải được biểu hiện cụ thể qua pháp niệm Phật sao cho được vô lượng công đức của đức Như Lai, cho nên niệm Phật nhiều hay ít không có hạn định. Phiền não thì vô lượng, không thể chuyển hóa bằng phương pháp thực hành trí tuệ cá nhân mà tất cả chi nhờ vào tâm đại bi của Như Lai mà chuyển hóa khi niệm danh hiệu của Ngài”. Ấy chính là lời nguyện của hành giả niệm Phật.

Với những ai có niềm tin, không thể không niệm Phật. Ngược lại, niệm Phật là được sống trong nguyện lực của Như Lai và làm cho đời sống tiến bộ hơn, Niệm Phật chính là nương nhờ ân đức của Như Lai để dễ dàng thích ứng với cuộc sống đầy khó khăn của chúng ta trong hiện tại.

I.1.1.5   Nhiếp Thủ Bất Xả

“Nếu không vãng sanh, Ta không giữ ngôi Chánh giác”. Nói rằng hành giả niệm Phật với niềm tin vào bổn nguyện, song không vãng sanh thì Ta (Đức Phật A Di Đà) không giữ ngôi chánh giác là xác chứng sự vãng sanh của mười phương chúng sanh và bản thể giác ngộ của chư Phật không có hai. Cũng có thể nói là cả hai vấn đề vãng sanh chánh giác cùng một bản thể. Cũng là lời xác chứng bổn nguyện cứu độ của Phật. Hơn nữa, danh hiệu A Di Đà Phật chẳng phải đơn thuần là tên của Phật A Di Đà, mà những ai tin tưởng bổn nguyện thì ngay khi ngồi xuống niệm Phật liền vãng sanh. Đây chính là vừa trình bày pháp môn xưng danh hiệu và vừa giảng rõ giáo lý cứu độ.

Việc nầy phù hợp với pháp môn quán chơn thân ở trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ”. Ở đó, cho biết việc niệm Phật được lợi ích “nhiếp thủ, bất xả”[3]. Trong ánh quang minh đại bi, đại trí của Đức Phật A Di Đà, phóng ra chiếu sáng mười phương thế giới, chúng sanh niệm Phật sẽ nhận lấy chẳng bỏ”. Với tâm kính tín, Pháp Nhiên mô tả lời Kinh như sau:

Ánh trăng thanh chiếu đến tận cùng,

Song lắng lại nơi tâm người thưởng nguyệt.

Lời thơ ngâm vịnh ánh trăng thu nhẹ nhàng sao! Ánh trăng lúc nào chiếu sáng mọi nơi không phân biệt, nhưng phải chăng ai thưởng nguyệt cũng đều thấy sáng? Bởi thế kẻ ngắm trăng phải nương vào ánh trăng, để ánh sáng huyền dịu chiếu rọi toàn thân, cho đến chiếu xuyên suốt vùng sâu thẳm của tâm thức. Cũng vậy, chúng ta là người đang lặn hụp trong bóng tối, may mắn được nghe lời dạy của Phật, mà lời dạy ấy như ánh quang minh Đại Bi Đại Trí chiếu sáng khắp mọi nơi, đến tất cả mọi người như nhau. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta hãy nghe, tiếp nhận và thọ trì. Không những ánh sáng bao trùm gồm ta và câu niệm Phật ta đang niệm, mà ánh sáng Phật quang bao trùm cả kiếp nhân sinh và chuyển dời chúng ta qua nơi khác được.


 

I.1.2       Cứu Độ Bình Đẳng

 

Không phân biệt người già, người trẻ, người lành, kẻ dữ; chỉ có niềm tin nơi tâm mới là yếu tố quan trọng.

(lược phần nguyên văn Hán - Nhật)

Bổn nguyện đầu tiên của Đức Phật A Di Đà là không phân biệt người già hay người trẻ; người lành hay kẻ dữ. Những ai có niềm tin thâm sâu vào bổn nguyện, dù tội nặng cho mấy đi nữa, dù có yêu thương giận ghét và bị lửa phiền não thiêu đốt đến thế nào đi nữa, cũng được Phật từ bi cứu độ. Đây chính là bổn nguyện đem lòng đại bi giải trừ tất cả những phiền não. (Điều thứ nhứt – Thánh Điển – trang 831).

Giải thích:

I.1.2.1   Bình Đẳng Với Lòng Từ Bi

Thật là đặc biệt, đức Phật A Di Đà cứu độ tất cả mọi người một cách bình đẳng, vượt lên trên những vấn đề già, trẻ, thiện, ác…, bình đẳng ấy không gì khác hơn chủ yếu dựa vào niềm tin. Trước nhất, lòng từ bi của đức Phật A Di Đà bao dung tất cả mọi chúng sanh không phân biệt già, trẻ, người lành, kẻ dữ. Quả đất nầy không phân biệt một vật nào trên thân nó cả, dù vật nặng hay vật nhẹ, dù vật đẹp hay xấu v.v.., cũng không ngần ngại chuyên chở suốt năm nầy, tháng nọ. Giống như vậy, bổn nguyện đại bi của đức Phật A Di Đà dung chứa tất cả mọi chúng sanh, không phân biệt đời sống của mỗi cá nhân, mà còn thiết tha cứu độ và an trụ một nơi nào đó nữa. Ngoài ra, dù tình thương vô biên và tận tâm cứu độ vô bờ bến của đức Phật A Di Đà dành cho chúng ta như thế, song trong cuộc sống đầy dẫy phiền não hư dối không thật, đầy thương yêu ghét bỏ nầy, cho đến khi nào chúng ta có niệm Phật cho đến khi đó ánh sáng Tịnh Độ qua sự niệm Phật và cầu nguyện ấy mới làm cho đời sống chúng ta trở nên thanh tịnh và vượt qua những thương ghét trên. Tin rằng trong tâm đại bi của Như Lai, chúng ta là những đứa con không những không bị ruồng bỏ, mà còn được trân quý, được xem là con ruột của Như Lai, niềm tin ấy phải được lưu giữ trong tâm một cách trang trọng tôn kính.

I.1.2.2   Cả Việc Thiện Lẫn Việc Ác

Nói rằng “cả việc thiện lẫn việc ác” phải chăng “người già, người trẻ, người lành, kẻ dữ” cũng đều được cứu độ chăng? Dễ hiểu nhất là giải thích như thế. Song có phải đây là lời phát ngôn không có ý thức, vì phân biệt nào là già, trẻ, tốt, xấu như một người phân biệt, hay là tự thân người nói không già, không trẻ, không thiện cũng không ác? Thật ra, lời phát nguyện cứu độ của chính đức Phật A Di Đà không tuyển chọn già trẻ, lành, dữ, mà biểu lộ lòng từ bi của Ngài rất bao dung và thật bình đẳng, không phân biệt.

Điều ấy cũng phải hiểu rằng đây là lời khẳng định được cứu độ không phải của riêng ai. Ngược lại “không có sự chọn lựa trẻ, già, lành, dữ” nghĩa là chính ta dù lúc còn trẻ hay khi đã già; lúc tâm khởi lên việc lành hay khi tâm bị việc ác đốt cháy, tất cả, tất cả đều được bao dung, không phân biệt, mà tất cả đều được cứu độ. Qua đó, tâm Phật được phô diễn vượt trên tất cả những thứ bậc: già, trẻ, thiện, ác thế gian, không giới hạn ở bất cứ nơi đâu, một khi có ai mong cầu cứu độ, tâm Ngài hướng đến để cứu độ tức thì, không có gì khác. Cứu độ người trẻ hay người già đều phải xả bỏ không vướng chấp việc nầy.

Không phải người già mới thấm thía bi lụy, mà người trẻ cũng bị phiền não, nếu cho rằng phải cứu độ người già, thì không lẽ bỏ người trẻ bị não phiền thiêu đốt sao. Cho nên tất cả người trẻ lẫn người già đều trải qua cuộc đời thương đau, ai có niềm tin, “không luận già hay trẻ” cũng được Như Lai, với lòng đại bi cứu độ tất cả. Hay nói đúng hơn, trong cuộc sống mọi thương đau cần được cảm thông và chia sẻ; mọi sầu lụy cần được an ủi và bao dung.

I.1.2.3   Tội Ác Sâu Dày Của Phàm Phu

Nói là người lành, kẻ dữ, là xét thực tế tự thân của họ trên cơ sở thiện và ác, từ tư duy, nói năng cho đến hành động trong sinh hoạt hằng ngày. Trong cuộc sống giới hạn nầy, không ai hoàn toàn tốt, cũng chẳng có ai hoàn toàn xấu. Kẻ có nhân duyên tiếp xúc với việc lành, được làm những điều tốt đẹp. Song, lỡ phải tiếp xúc với duyên xấu, hầu như tất cả bị đổ tội cho là tội phạm, nhiều tội lỗi. Đó chẳng qua chỉ là những nhược điểm khổ đau mà thôi. Thực tế, chẳng có ai tốt hoàn toàn mà cũng không có người xấu hoàn toàn.

Vì nhơn duyên tiếp xúc mà con người lại yếu mền nên như vậy. Vì thế Như Lai không dành tình thương giới hạn cho riêng ai.

Nghe những lời dạy của Phật, chúng ta có thể vui mừng khôn xiết và cảm động đến rơi nước mắt, mà chẳng có cái gì trên đời có thể làm cho cảm động được như thế. Huống hồ khi được cứu độ, tâm cảnh của chúng ta hiện ra đẹp tuyệt vời. Ngược lại bị vọng tưởng làm nhiễm ô, tâm tình của chúng ta trở nên bẩn thỉu, nếu không được cứu độ, tâm ấy như muôn ngàn tấm kính đổi màu và chúng ta nghĩ rằng không bao giờ được cứu độ.

Song, bổn nguyện cứu độ chúng sanh, Như Lai không phải cứu độ mỗi một mình ta, mà cứu độ tất cả. Đồng thời, cũng nên hiểu rằng, nếu là kẻ xấu ác không phải không được cứu độ, mà Như Lai còn cứu độ tất cả tội chướng sâu dày của những kẻ phàm phu như chúng ta, khi chúng ta khao khát hướng về Như Lai cầu xin cứu độ. Chính vì thế, không có giới hạn xấu, tốt, một khi chúng ta hướng về Đức Như Lai với thân tâm chí thành, sẽ được tiếp dẫn vào thế giới bổn nguyện thênh thanh vô cùng. Chỉ cần “niềm tin” để hướng vọng, quy ngưỡng mà thôi.


 

I.1.3       Lành Cũng Không Cầu, Ác Cũng Không Sợ 

Nếu có lòng tin vào bổn nguyện thì việc lành kia cũng không cần thiết mà việc ác nào cũng không sợ hãi.

(Lược bớt phần giải thích theo lối Hán-Nhật)

Với thệ nguyện và từ bi của đức Phật A Di Đà, ai ai cũng được cứu độ, dù là kẻ đầy tội lỗi, dù là người già, người trẻ, một khi họ xưng niệm danh hiệu Phật. Hơn nữa hành giả niệm Phật, tin vào nguyện lực Phật, khi được vãng sanh, công đức lành đã tích chứa không còn cần thiết, vì trong bổn nguyện cuả đức Như Lai chứa đầy công đức rồi. Do vậy, cũng không còn sợ hãi đến những việc xấu nữa. Nhờ được cứu độ cho nên trong đó không còn ác nghiệp. (Điều thứ nhứt – Thánh Điển trang 832).

Giải thích:

I.1.3.1   Vô Thượng Công Đức

Công đức niệm Phật còn hơn cả việc thiện” nghĩa là công đức vô thượng của niệm Phật. Khi niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là xưng tụng công đức và trí tuệ Như Lai qua ngôn ngữ, xưng tán công đức ấy quảng đại vô biên như biển cả mênh mông. Thân Loan tán dương công đức niệm Phật là “công đức bảo hải của chơn thật nhứt như”. Như thế, ai niệm danh hiệu Phật, người ấy có đầy đủ công đức vô thượng bao trùm chung quanh, không những gieo trồng thêm hạt giống công đức lành mà còn thực thi một điều vô cùng cần thiết và tất yếu nữa.

Bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà cũng không giới hạn cứu độ kẻ ác”, nghĩa là công đức vô ngại của Phật không dành riêng cho một ai và không bỏ một vì gì cả. Như Lai cứu độ tất cả chúng sanh, không giới hạn một ai, không giới hạn việc gì. Ngay cả người bị tội chướng tà ma, Như Lai dùng ánh sáng quang minh chiếu phá đến chỗ tối tăm và xua tan những chướng nạn ấy, cho nên Ngài Thế Thân[4] tán dương đức Phật A Di Đà là Tận Thập Phương Vô Ngại Quang Như Lai”. Ánh sáng của đức Như Lai nầy chiếu khắp trong cuộc đời ở mười phương thế giới. Do vậy, không có chướng ngại nào mà không cứu độ được. Với danh hiệu ấy, Như Lai cứu độ tất cả. Khi nghe danh hiệu Phật và được biết không có chướng ngại nơi bổn nguyện lực và biết được cứu độ có nghĩa là: Không còn lo ngại đến ác nghiệp, nhờ nương tựa vào bổn nguyện của Phật A Di Đà”. Đây chính là niềm hoan hỷ vô biên vậy.

I.1.3.2   Nơi Tuyệt Đối An Trụ

Như thế, một khi đã tin vào bổn nguyện, hành giả niệm Phật vượt lên trên mọi lãnh vực luân lý phàm tình như tốt, xấu, mình, người v.v.., bởi vì thiện và ác chỉ có giá trị trong phạm vi luân lý, khi ấy “thiện cũng không cầu mà ác cũng không muốn”. Ở đây, khai mở một lãnh vực khác của tâm có tính cách tuyệt đối vô ngại, mà lãnh vực và thế giới nầy, trí hiểu biết của thế gian không đủ để nhận thức, bởi vì đây chính là lãnh vực thuộc về trí tuệ và lòng đại bi của Đức Phật A Di Đà. Riêng hành giả niệm Phật một khi rõ biết trí tuệ và tâm đại bi của Như Lai, tâm cảm được không thiện mà cũng không ác. Thế thì, bất cứ ai, người lành hay kẻ dữ, cũng được bao dung một cách ấm áp trong tâm lượng đại bi của Như Lai. Đó chính là nơi chốn an trụ có tính cách tuyệt đối. Ở đó, phá vỡ được cái tâm ngạo mạn khoa trương việc lành và đập vỡ tâm tự ti về việc xấu. Mỗi người, mỗi người trong chúng ta được trao cho một cuộc sống như thế, mà trong cuộc sống đầy tương quan tương duyên ấy, chúng ta an trú nơi lãnh vực tinh thần thật thanh thản và tấm lòng trải rộng khắp muôn nơi.

I.1.3.3   Con Người Tuyệt Diệu

Có một bà cụ sống trong căn nhà ở bên trái con lạch nhỏ trong một ngôi làng trên núi, huyện Điểu Thu (Toritoru) bên cạnh đó có một ngôi chùa tên là Chánh Giác ở phố Dụng Lại (Mochigase), trong chùa có một vị Thầy trụ trì. Hằng ngày, bà cụ đến chùa nghe Pháp một cách nhiệt tâm. Một hôm bà muốn đến chùa hỏi Thầy, nếu Như Lai có cứu độ, tại sao cho đến bây giờ bà vẫn chưa được cứu độ, vì vẫn còn nhiều phiền não. Đến chùa Chánh Giác bà gặp Thầy và thưa: “Con mong đức Như Lai từ bi làm sao cứu độ cho người đời không còn khổ nữa và làm sao cho họ được an tâm” và tự chỉ vào mình và than vãn khổ cực.

Thầy bảo: “Bà ở nhà sống có tốt không? Với con cháu, bà có khó chịu không? Nếu bà khó chịu thì chẳng ai muốn nói chuyện với bà. Dù gì đi nữa, điều trước tiên với những người thân, bà phải thân thiết trước. Cho dù có việc gì tệ hại đi nữa cũng bỏ qua”. Lời nói của Thầy như nước rót vào tim bà.

“Vâng, như thế sao? Đối với người thân, dù tệ đến thế nào đi nữa cũng chẳng có gì. Ồ! Thật tuyệt diệu! Con có một người thân dại khờ chơi Sumo[5] và con cũng rất ngu ngơ giúp cho hắn như thế”. Đoạn nước mắt bà chảy dài và cảm tạ Thầy vì đã trút hết bầu tâm sự u uẩn.

Thầy nói: “Bà ơi! Đã bao lần hạnh phúc được gói lại và được thấm nhuần”. Nói xong, Thầy cất tiếng niệm Phật và truyền đạt niềm hoan hỷ nầy.

“Điều tệ cho mấy đi nữa cũng chẳng quan tâm, không đề cập đến”.

Bà cảm ơn và nói rằng: “Việc ác không cần để ý tới, theo lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, chỉ nên phòng ngừa việc ác” như thế sẽ được cứu độ một cách vô ngại tuyệt vời.


 

I.1.4       Con Đường Vãng Sanh Cực Lạc 

Con đường tắt là con đường vãng sanh không cần phải hỏi nữa.

(Lược bớt phần giải thích theo văn Hán - Nhật)

Qua khỏi mười địa phương, mục đích của chúng tôi là tìm đến nơi nào đó, được ra khỏi sự nguy hiểm của cuộc sống, tìm hỏi con đường vãng sanh Cực Lạc. Đó chỉ là công việc duy nhất.

Thế nhưng, vị Thân Loan nầy, ngoài việc niệm Phật để vãng sanh còn biết con đường nào khác chăng? Hoặc giả hãy dạy cho ta biết việc nào liên hệ đặc biệt đến vãng sanh chăng? Tôi[6] muốn rõ biết về chơn tướng của việc ấy. Đó là vấn đề ưu tư to lớn. Nếu muốn nghe, hãy đến Nam Đô[7] và Bắc Lãnh[8] để nghiên cứu về giáo nghĩa và con đường khác ngoài việc niệm Phật. Hơn thế nữa, ở đó đang có nhiều học tăng, có thể gặp họ hoặc tìm họ để hỏi cho rõ ràng về chỗ cương yếu của việc vãng sanh. (Điều thứ 2 – Thánh Điển – trang 832).

I.1.4.1   Xuyên Qua Cuộc Sống

Bắt đầu bằng những ngôn từ và hình ảnh thật mênh mông như thế ở “Thán Dị sao” thuộc điều thứ hai của pháp ngữ. Đầu tiên, chúng ta có thể cảm giác rằng những môn đệ của Ngài phải trải qua cuộc lữ hành nguy hiểm không biết bao nhiêu ngày đi và về hằng trăm cây số từ Bắc Kanto đến Kyoto để tìm đến. Thật ra, họ chẳng phải là những người tìm hiểu con đường vãng sanh Cực Lạc, mà là những người cầu đạo trong cuộc sống nầy.

Họ đắm chìm vào nghi vấn và tìm hướng chân thật để thoát ra. Dù đánh bóng bên ngoài dưới hình thức nào đi nữa, trong tự tâm của họ cũng không khỏi bức xúc khó chịu khi tiếp nhận lời dạy của Thân Loan ở vào tuổi hơn 80. Có một sự văn tự chân thật nào đó để người nói và kẻ nghe thông đạt nhau là  điều đáng ghi nhớ trong tâm.

“Trải qua hơn 10 địa phương” nghĩa là họ sống ở phía Bắc Kanto. Con đường đến Kyoto đi qua 10 địa phương[9] ở biển phía đông Nhật Bản như: Thường Lục (Hitachi), Hạ Tổng (Shimosa), Vũ Tạng (Musashi), Tương Mô (Sagimi), Ý Đậu (Ito), Tuấn Hà (Suruga), Viễn Giang (Tootomi), Tam Hà (Santomi), Mao Trương Mỹ Nồng, Cận Giang, Sơn Thành. Những con đường khác cũng gần 200 cây số phải xuyên qua như vậy. Thời gian lên Kinh Đô (Kyoto) nhanh nhất cũng phải 20 ngày. Phải dầm mưa, dãi nắng, bịnh tật, nếu không nhờ phép lạ, không thể vượt qua được. Bao nhiêu khó khăn trên chuyến hành trình dài như thế ngày nay chúng ta khó mà tưởng tượng nổi. Có khi bị trộm cướp hoành hành, có khi bị thiếu thốn lương thực, vất vả mệt nhọc, thiếu thốn nước non, bịnh tật truyền nhiễm, bịnh phong thổ v.v.., toàn là những việc nguy hiểm của một cuộc lữ. Trên chuyến hành trình đầy gian lao ấy, không biết bao nhiêu người đã bỏ thây lại, là điều hiển nhiên thôi, chẳng phải mới lạ gì. Chẳng bao lâu đến Kyoto, Thánh nhơn cảm thấy hoài nghi về vãng sanh. Ở đây, có thể lấy ví dụ trường hợp của Giác Tín, nước Hạ Dã, huyện Hịch Mộc cho rằng: “Thân mệnh đời sống là điều đáng quý là sự thật chẳng phải là lời khoa trương chút nào”.

I.1.4.2   Con Đường Vượt Khỏi Sự Sanh Tử

Trải qua những gian lao nguy hiểm đầy thử thách như thế, được nghe về “con đường vãng sanh Cực Lạc”, họ nghi vấn đâu là chỗ đúng của vấn đề thiết yếu nầy. Căn cứ theo hồi ký của Huệ Tín (Eshin), người bạn đời của Thân Loan, lúc Thân Loan 29 tuổi, tìm đến Pháp Nhiên hỏi về “con đường đời sau” “con đường sanh tử”, được dạy rằng: “Con đường sanh tử” ấy chính là con đường “Vãng sanh về Cực Lạc”. Đó chính là giáo lý Tịnh độ, mà cả Pháp Nhiên và Thân Loan dành suốt cuộc đời lắng sâu vào “con đường vãng sanh Tịnh Độ” ấy. Nghĩa là mê hoặc khi sanh và khi chết tạo nên khiếp sợ và ngu muội của phàm phu. Do vậy, chúng ta phải xây dựng một lãnh vực tinh thần và điều khiển tâm sao cho thật vững chãi khi sống và thật nhẹ nhàng khi chết. Đó chính là con đường “Vượt qua khỏi sanh tử”.

Phiền não thương, ghét đang mãi mê bay lượn chung quanh chúng ta làm cho cuộc sống phải nổi trôi theo đời thường và chúng ta khó đứng vững. Tự mình sống sao cho có ý nghĩa khi mà sự thương ghét đã làm cho ta say túy lúy trong suốt một đời. Nghĩ đến sự sống; hoặc nghĩ đến cái chết những hình ảnh chập chờn làm cho tâm thức ta bất an giống như có một đốm lửa trong cuộc sống dù lửa đã tắt.

Với ta, không muốn trải qua một cuộc sống như thế, không lẽ phải chết trong nỗi tuyệt vọng. Khi sống, sống với ý nghĩa gì thì lúc chết, phải xác nhận rõ ràng ý nghĩa ấy. Phải có cuộc sống tự tin, theo tinh thần đạo Phật, mới chấp nhận chết an nhiên trong tâm. Đó chính là Bồ Đề Tâm và đó cũng chính là con đường tìm cầu của tâm, thoát ly sanh tử.

Giảng về bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật Thích Ca cho biết hạnh nguyện từ bi của Như Lai cứu độ tất cả chúng sanh. Chúng ta an nhiên nguyện vãng sanh Tịnh Độ, nơi đó là cố hương mà chúng ta được tu và được nghe những lời dạy của Đức Như Lai.

Không cần tư duy suy tính, chỉ cần có niềm tin và ước nguyện vãng sanh, chỉ cần xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà sẽ trở thành con của Như Lai, được Như Lai tiếp dẫn một cách trân quý trong từng hơi thở, chắc chắn sẽ xa lìa sanh tử, vĩnh viễn được tiếp dẫn về thế giới Tịnh Độ. Ấy là cơ duyên vãng sanh về Cực Lạc. Như thế “Con đường vãng sanh Cực Lạc và trụ lại đây” là nương vào pháp niệm Phật, được cứu độ và vấn đề sanh tử trở nên có ý nghĩa. Không giới hạn cuộc sống nào cả một khi đã có “con đường ra khỏi sanh tử” ấy. Như vậy, phải tâm niệm rằng con đường giải thoát của hành giả trong cuộc sống chính là con đường chánh đáng, chẳng còn gì để do dự nữa.
 

I.1.5       Chỉ riêng niệm Phật 

Chỉ riêng niệm Phật A Di Đà mới được tiếp dẫn, ngoài ra không còn gì khác nữa.

(Lược bớt phần giải thích Hán - Nhật)

Thân Loan chỉ có niệm Phật A Di Đà Như Lai được tiếp dẫn. Người ước nguyện, tin tưởng và kính ngưỡng như Pháp Nhiên được nạp thọ. Ngoài ra, không có gì khác hơn nữa. (Điều thứ 2 – Thánh Điển – trang 832).

Giải thích

I.1.5.1   Gặp Gỡ Pháp Nhiên (Honen).

Điều nầy được giản lược, song nếu cho rằng để minh chứng khi trình bày niềm tin của tự thân, thật sự tôi không rõ[10] những lời ấy, vì đây không là những lời dạy của Thầy dành cho đệ tử. Phải chăng nghe đến con đường vãng sanh những đệ tử từ Kanto tìm đến, chính khi đó niềm tin của tự thân có ảnh hưởng. Trong bài pháp Tịnh Độ mà ân sư Pháp Nhiên đặc biệt giới thiệu cho đệ tử Thân Loan, về hầu như những ngôn ngữ ấy chiếm gần hết rồi. Chẳng phải chỉ riêng niệm Phật A Di Đà Như Lai được tiếp độ. Đó là lời của ân sư truyền đạt. Thật sự, lúc ấy Pháp Nhiên đã 50 tuổi. Những gì mà Thân Loan nghe vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng trong cuộc đời Ngài.

Năm Thân Loan đúng 29 tuổi đã có 20 năm tu học và hành đạo một cách nghiêm mật ở Tỷ Duệ Sơn, vì bị mê hoặc trong sanh tử không thể qua nổi; nên đã tìm đến tham cứu nơi Lục Giác Đường. Nhờ sự báo mộng của Thánh Đức Thái Tử (Shotoku Taishi) mà tìm đến Pháp Nhiên để hỏi rõ “con đường thoát khỏi sanh tử”. Cái gì vẫn còn sót lại trong tâm thức có tính cách vô niệm ấy chính là thương ghét của con người trong cuộc sống. Một cái gì to tướng hiện hữu để rồi không rõ chết là gì và không dám nhẫn nại chịu đựng để đón nhận cái chết. Thật sự, Không chính là kết quả mà không ai không nhận. Với Pháp Nhiên, sanh tử là một kỳ vọng phải thông suốt, chính là con đường phải nghe và thực tập vậy.

I.1.5.2   Lời Dạy Của Pháp Nhiên

Huệ Tín, người bạn đời của Thân Loan ghi lại trong thơ rằng: “Lúc đầu khi Thân Loan mới gặp Pháp Nhiên, được Pháp Nhiên dạy rằng: A Di Đà Như Lai không phân biệt người lành hay kẻ dữ, tất cả đều được cứu độ và nguyện rằng lúc lâm chung sẽ tiếp rước về Tịnh Độ. Niệm Phật một niệm, con đường Tịnh Độ được chắc chắn. Tôi[11] đã giao thân nầy cho bổn nguyện của Như Lai và chỉ một lòng niệm Phật”. Qua lời dạy ấy, Thân Loan rất cảm động và sau 100 ngày đón nhận thọ trì. Bổn nguyện ấy chính là niệm Phật liên tục cả thân lẫn tâm. Thân Loan thường thường ở nơi tâm cảnh và khẳng định không hối tiếc rằng: “Tôi sẽ vãng sanh về nơi mà Pháp Nhiên Thánh Nhơn vãng sanh. Dù cho có gặp địa ngục đi nữa nguyện nầy vẫn không thay đổi”. Đó là sự quy ngưỡng vậy. Điều nầy phải hiểu là lời dạy rất đẹp và trọng yếu ở điều thứ hai trong “Thán Dị sao”.

Từ Pháp Nhiên, việc niệm Phật chẳng những là pháp môn trí tuệ và cao nhất trong thế gian, mà còn thực hành bổn nguyện của đức A Di Đà Như Lai. Những kẻ phàm phu ngu muội như chúng ta bị phiền não thương, ghét đốt cháy, tạo tội trong khi sống vẫn được Đức Phật A Di Đà, với tâm đại bi và bổn nguyện cứu độ, cứu vớt và không bỏ sót một người nào. Hơn nữa chắc chắn những ai đang bị đọa lạc trong chốn khổ đau cũng được ra khỏi. Nhờ pháp tu mình đã chọn giúp mình xả bỏ mình nơi tối tăm ấy.

Dù người lành, kẻ dữ, người hiền, kẻ ngu, tất cả đều không phân biệt, trên thực tế ai cũng có thể thực hiện việc niệm Phật một cách dễ dàng vì nương nhờ công đức viên mãn của Như Lai. Khi chúng ta xưng danh hiệu của Đức Phật A Di Đà sẽ được tiếp dẫn vãng sanh Tịnh Độ. Do vậy, với lòng đại bi bổn nguyện ấy, chỉ cần thọ trì pháp môn niệm Phật, con đường vãng sanh sẽ mở ra trong tâm, bao nhiêu mê hoặc sanh tử được đoạn lìa. Đó chính là niềm tin niệm Phật vãng sanh của Pháp Nhiên và con đường vãng sanh ấy chính là thế giới giác ngộ.

I.1.5.3   Chỉ Có Niệm Phật

“Chỉ có niệm Phật”. “Chỉ” nghĩa là theo chữ Hán viết là “duy”, nghĩa là duy nhứt. Ngoài tự lực, mỗi lời niệm Phật cầu vãng sanh của bổn nguyện chính là chuyên tu. Pháp Nhiên muốn dùng lời nói để biểu hiện về “chuyên tu niệm Phật”. Ngoài ra, Thân Loan trong tác phẩm Duy Tín Sao Văn Ý[12] cho rằng: “Bổn nguyện tha lực ấy bao gồm tất cả và rời khỏi tự lực”.

“Chỉ có niềm tin”. Chữ “duy” là lìa tự lực và trở về với tha lực. Đây chính là cách nói giải thích. Thật là tốt cho con người lìa bỏ tâm phân biệt đo lường. Như Lai cho rằng pháp môn tự lực không cần mang theo, chỉ một câu niệm Phật là con đường của những ai có niềm tin kính tín “ước nguyện và xưng niệm danh hiệu”. Cuối cùng, niệm Phật là “chỉ niệm Phật” mà thôi.

Nói khác, chẳng phải cần tâm thanh tịnh mới xưng danh hiệu, cũng chẳng phải cần thân yên ổn mới niệm; lại cũng chẳng cần phải tư duy niệm Phật có công đức mới niệm. Cũng chẳng cần phải nhớ về bổn nguyện của Như Lai, xưng danh hiệu..., tất cả đều không cần suy nghĩ gì cả, chỉ cần niệm Phật là đủ. Lại nữa, niệm Phật là cầm chắc trong tay ước mong cứu độ qua lời nguyện. Cũng nên xả bỏ tất cả những ước nguyện muốn có công đức của niệm Phật, để mang lợi ích của mọi người trong hiện thế, chỉ một điều là nương lời nguyện của Như Lai cứ như thế mà tiếp tục niệm Phật. Mong ước của tự lực là chạy theo cái quả, mà vấn đề niệm Phật ấy gọi là niệm Phật cuả tự lực. Còn niệm Phật theo lời nguyện của Như Lai là tha lực niệm Phật. Vì thế sự tự lực không cần đến, hãy trở về với tha lực ấy và “chỉ cần niệm Phật” mà thôi.
 

I.1.6       Biến Đổi Kẻ Ngu

Sự niệm Phật chính là hạt giống để sanh về Tịnh Độ. Đồng thời ở điạ ngục cũng là nghiệp nhơn nữa.Tất cả nên biết rõ.

(Phần giải thích Hán - Nhật lược bớt)

Sự niệm Phật là nhân vãng sanh Tịnh Độ, có phải thế không? Hay là nhơn để rơi vào địa ngục? Với tôi, không hoàn toàn rõ biết. Ngược lại, Pháp Nhiên Thánh Nhơn cho rằng: Niệm Phật dù cho có rơi xuống địa ngục, chắc chắn tôi cũng không hối tiếc. Ý nói là nếu theo nguyên tắc của những pháp môn khác, cố gắng tu hành để thành Phật, thì niệm Phật được xem là sai trái sẽ bị đoạ địa ngục cho nên có hành giả sẽ có hối hận. Không những không nhẫn nại tu hành được mà còn thân ngu ác nầy chắc chọn địa ngục là nhà nương tựa. (Điều thứ hai – Thánh Điển – trang 832).

Giải thích:

I.1.6.1   Không Rõ Biết

Từ vùng Kanto xa xôi, các đệ tử đến gặp Thân Loan để tìm hỏi: “Có phải Pháp Nhiên dạy rằng niệm Phật không sanh về Cực Lạc thì đọa điạ ngục, điều ấy không sai chăng? Hay chỉ là hù dọa người niệm Phật để quyết định vãng sanh Cực Lạc?”. Trước nhất được trả lời rằng: “Với Thân Loan, niệm Phật sẽ được đức A Di Đà Như Lai cứu độ. Ngoài ra, chỉ tin và kính ngưỡng Pháp Nhiên Thánh Nhơn, không có cái gì khác hơn”. Đây là sự tự thuật lại niềm tin của chính mình.

Ngài dạy tiếp: “Ngoài ra, Niệm Phật chính là hạt giống sanh về Tịnh Độ chăng? hay là cái nhơn ác nghiệp để rơi vào địa ngục thì tôi[13] hoàn toàn không rõ biết”. Đây có lẽ cũng là lời dạy cho những người khó khuyên chăng?

Thế nhưng, tín tâm của Thân Loan được giải bày như sau “Cái gì là hạt giống để sanh về Tịnh Độ? Có xác định được năng lực ấy không? theo ngu trí của chúng ta không rõ. Nhưng chắc chắn có Như Lai tiếp dẫn, có pháp môn Niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ, mà Pháp Nhiên Thánh Nhơn đã bao lần dạy. Việc nầy khi nghe lần đầu, tôi giống như kẻ ngu muội được cứu độ, và cảm động trước bổn nguyện mà Như Lai nói ra. Đó là lời đầy phát nguyện đầy từ ái của Như Lai. Thật ra “chỉ niệm Phật là đủ rồi”. Lời dạy của Thân Loan rất nhứt quán; lời dạy chơn thật không biết gì khác cả; ngoại trừ biết mình là kẻ ngu muội. Chính bản thân mình không biết gì cả mới phó thác lòng tin cho Đức Như Lai. Ở đó không thiếu niềm tin tưởng mẫn cảm của chính mình. Tuy nhiên, một khi quy ngưỡng về Như Lai, cuộc sống trở nên ý nghĩa và phương hướng sự sống của chính mình được rõ biết, vì đã có ánh sáng soi rọi rồi.

“Niệm Phật là hạt giống để sanh về Tịnh Độ”, chính Pháp Nhiên đầu tiên trích ra từ “Kinh Vô Lượng Thọ” bản kinh chính đức Phật thuyết, trãi qua hơn 2000 năm. Tiếp đó, Thân Loan không có gì nghi ngờ về lời dạy của Đức Phật, mà lời dạy ấy thật không có một điểm nào sai trái, hoàn toàn chân thật. Chỉ có con người hư ngụy sai trái mà thôi. Nhờ quy ngưỡng và giữ niềm tin như thế, Thân Loan vượt qua tiểu ngã, tin thuận theo lời dạy chân thật của Đức Phật và quyết định chắc chắn thân nầy sẽ vãng sanh.

I.1.6.2   Ngồi Như Phật Có Tánh Cách Nguy Hiểm

Không dừng lại ở đó, có những tà thuyết dị đoan của những môn đệ không đến được Kanto, cho rằng: “Niệm Phật chắc chắn được vãng sanh Cực Lạc, quyết định không thể nào rơi xuống địa ngục”. Và họ cũng là những người muốn Thân Loan xác nhận lại điều ấy có đúng không? Thế nhưng sự chờ đợi ấy có tính cách nguy hiểm. Vì ai cũng biết rằng Thân Loan đã rõ điều nầy rồi. Lời chứng để tìm cầu sự cứu độ con người Như Lai đã rõ và Như Lai đã cứu độ. Còn ở lãnh vực con người muốn minh chứng thì lời minh chứng cho con người chỉ là sự thành lập từ niềm tin mà thôi. Tranh luận của nhân gian cũng chỉ để tìm cho ra nguyên nhân không sai. Thế nhưng không phải chỉ có vậy. Lời minh chứng việc cứu độ, mà con người làm, rõ ràng không biết; nếu cho rằng tự mình là kẻ được cứu độ thì rơi vào ngạo mạn. Với tội ấy, chính mình có đến ngồi trước vị Thần hoặc đến trước Đức Phật đi nữa, con người ấy hay tín giả ấy, mà trong lịch sử cũng không ít những người như thế, đã bị rơi xuống địa ngục.

I.1.6.3   Trở Thành Người Ngu

Pháp Nhiên thường cho rằng: “Người theo Tịnh Độ Tông là những người ngu nhưng được vãng sanh”. Ông ta kết luận như vậy. Chính Thân Loan cũng ghi nhận như thế. Vì kẻ ngu không có năng lực đầy đủ để nhận định về giáo pháp; cũng không có khả năng phê phán rõ vấn đề thiện, ác; cũng chẳng có trí lực để thấy được con đường đúng, sai để vượt qua sanh tử, gọi là con người chẳng ra sao. Thân Loan thường nói rằng: “Cả thiện và ác cuối cùng rồi cũng hết”. Ấy có nghĩa là: “Thị, phi cũng không, mà tà, chánh cũng không cần biết đến”. Cho nên tự đặt cho mình một cái tên là “ngu ngốc”.

Kế tiếp, lời dạy của Thân Loan như sau: “Niệm Pháp Nhiên Thánh Nhơn thì lặng yên và niệm Phật thì rơi xuống địa ngục. Nhưng tôi quyết chẳng hối hận”. Và đồng thời nói: “Nếu tôi cự tuyệt được địa ngục, rõ ràng không phải là người sáng giá”. Thật sự lời nói ấy đã khẳng định và không còn gì nữa để nói và cảm nhận những lời dạy như thế cả.
 

I.1.7       Niệm Phật Phát xuất Từ Truyền Thống

Sự quy ngưỡng của Pháp Nhiên, được Thân Loan tiếp tục phát triển và đồng thời chẳng mang đến sự vô nghĩa nào cả.

(Lược bớt phần giải thích theo lối Hán – Nhật)

Sự quyết định chọn lựa con đường vãng sanh bằng pháp môn niệm Phật là theo bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà. Để truyền đạt lại bổn nguyện ấy, Đức Thích Tôn xuất hiện trong đời nầy thuyết pháp và xiển dương. Đồng thời, Phật thuyết pháp là biểu hiện tâm tùy thuận với bổn nguyện niệm Phật. Bình giải của Thiện Đạo không phải không đúng, song nếu hoàn toàn đúng thì đó là mục tiêu hướng đến mà Pháp Nhiên quy ngưỡng.

Tại sao lại dùng phương tiện ấy? Nếu sự quy ngưỡng của Pháp Nhiên là hoàn toàn đúng, Thân Loan là người tin tưởng, không có gì đổi khác.

Điều chủ yếu với tôi[14] là giữ lòng tin như thế, trước hết thọ nhận lời chỉ dạy và sau đó tin tưởng chắc chắn vào pháp niệm Phật. Nếu cảm thấy không có duyên, tự nhiên rời bỏ con đường ấy. Quý vị trong mỗi người cứ như thế để tâm là được (Điều 2 – Thánh Điển – trang 833).

Giải thích:

I.1.7.1   Bảy Vị Cao Tăng

Tịnh Độ Chơn Tông có sự truyền thừa rõ ràng từ Đức Thích Ca. Trong đó, Thân Loan là vị Tổ thứ bảy được truyền thừa pháp môn nầy. Hơn nữa, khi Thân Loan bàn về truyền thừa Tịnh Độ Chơn Tông, Ngài viết trong Chánh Tín Kệ Cao Tăng Hòa Tán về những vị Tổ Sư như Long Thọ[15] Thế Thân[16] ra đời tại Ấn Độ. Đàm Loan[17], Đạo Xước[18] và Thiện Đạo[19] ở tại Trung Hoa. Nguyên Tín[20] và Pháp Nhiên[21] ở Nhật Bản. Trong 7 vị Cao Tăng đó, chỉ chọn ra hai vị: Thiện Đạo Pháp Nhiên. Đặc biệt, nói về Ngài Pháp Nhiên nhiều hơn. Sau đây phần căn bản đề cập đến hai vị Phật: Phật Thích Ca Phật A Di Đà và hai vị Tổ: Thiện Đạo Pháp Nhiên để thấy pháp môn niệm Phật có truyền thống”.

I.1.7.2   Phật A Di Đà và Phật Thích Ca

Trước hết, xin tuyển chọn tác phẩm Bổn Nguyện Của Phật A Di Đà Giáo Thuyết của Phật Thích Ca. Nếu bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà là cứu độ chúng sanh thì giáo thuyết của Đức Phật Thích Ca nguyên thủy là truyền đạt pháp môn cứu độ. Việc nầy cho thấy rằng bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà có trước, tiếp theo Đức Phật Thích Ca giảng giải về bổn nguyện mênh mông như biển cả của Đức Phật A Di Đà. Như thế pháp môn nầy có nguồn cội hẳn hoi, từ nguồn cội nguồn ấy lưu xuất liên tục và truyền thừa mãi về sau nầy, như ta đã thấy rõ. Căn cứ vào Kinh Đại Vô Lượng Thọ và lời nguyện thứ 17 trong 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, chúng ta biết rõ pháp môn cứu độ trong mười phương thế giới. Lời thệ nguyện và sự tán thán (qua bổn nguyện) bằng cách là niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật của Phật A Di Đà trong mười phương thế giới. Lời nguyện nầy được biết qua Chư Phật, vì Chư Phật tán thán bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà (qua lời nguyện thứ 18) về pháp môn cứu độ. Nếu có những chúng sanh chuyên cần nhứt tâm niệm Phật, tin tưởng điều ấy sẽ được thành Phật như Đức Phật Thích Ca vậy.

I.1.7.3   Tổ Thiện Đạo và Tổ Pháp Nhiên

Tiếp theo, “sự giải thích của Thiện Đạo” “sự quy ngưỡng tin tưởng của Pháp Nhiên” là hai vị Tổ Sư mang đậm tính truyền thống được tuyển chọn để giới thiệu. Qua pháp môn niệm Phật được truyền thừa, Phật cho rằng: “Niệm Phật được Đức Phật A Di Đà cứu độ”. Còn Thiện Đạo theo sự chỉ dạy của Đức Thích Ca, theo lời nguyện thứ 18 cho rằng một khi niệm danh hiệu của Phật A Di Đà, việc vãng sanh là dựa theo lời nguyện ấy được chánh định nghiệp (quyết định vãng sanh) không phân biệt người lành, kẻ dữ, nếu tin vào bổn nguyện, chắc chắn được cứu độ.

Pháp Nhiên theo lời dạy nầy cho rằng đức Phật A Di Đà, xem chúng ta như những chúng sanh ngu muội, vì cần cứu độ cho nên hãy buông bỏ cái tự lực rất khó thực hiện, mà nương vào tha lực dễ dàng và nhờ niệm Phật mà được nương tựa vào công đức của Như Lai, chỉ cần niệm một niệm, nhất định vãng sanh. Đây cũng còn gọi là tuyển chọn bổn nguyện. Hãy tinh tấn! Đừng lo lắng về bổn nguyện của Như Lai, mà chỉ nên niệm Phật.

Theo giáo pháp của pháp môn chuyên tu niệm Phật, từ biển bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà lưu xuất, Đức Thích Ca trùng tuyên lại cho những chúng sanh đang bị phiền não nghiệp khổ trói buộc ở cảnh giới nầy, rồi đến Thiện Đạo giảng giải cho người Trung Hoa biết pháp môn Tịnh Độ, đến Pháp Nhiên mang giáo lý Phật đà về Nhật Bản, chính tôi[22] cũng được hấp thụ trong giòng nước mát ấy qua sự tín niệm mà Thân Loan dạy cho.

I.1.7.4   Sự Quyết Đoán Của Mỗi Người

Thế nhưng, nói về việc niệm Phật “hoàn toàn chạy theo” là nói ngược lại, thì có cái cảm tưởng hơi kỳ dị. Ở đây lời nói ngược lại có nghĩa là sẽ ảnh hưởng không nhỏ. Do vậy không gì hơn “cứ tin theo như Thân Loan, không nên nghi ngờ gì cả”. Với những lời giả tưởng ấy, ta không cần lưu tâm đến, phải có lòng tin thật kiên cố.

Khi nói về truyền thống giáo pháp chơn thật, tôi (tác giả) tin rằng: “Cứ tin tưởng theo Phật Tổ. Vì chắc chắn quý Ngài không phải là những người nói điều sai trái”. Vì theo những lời dạy rất rõ ràng là: “Quý vị cùng niệm Phật qua niềm tin thì sẽ được cứu độ”. Cũng có nhiều người nghe giáo pháp nhưng cố chấp không hiểu, không có ý thức, cho nên mới phát ngôn bừa bãi như vậy. Thế nhưng, ở đây cũng không phải dùng quyền uy của giáo pháp để áp chế đệ tử được. Trong quyển Sư Tượng[23] người Thầy phải nói làm sao để họ tin theo. Vì Thân Loan không mang theo người đệ tử nào cả không hại gì khi Thân Loan tiếp tục truyền đạt pháp môn nầy.

Với Thân Loan, rất trân quý giáo pháp; song rất nghiêm khắc với cái “tôi” chính mình. Chỉ có tin và quý trọng giáo pháp ấy. Chính vì trọng pháp, Thân Loan cho mình là kẻ ngu muội song không lợi dụng danh nghĩa Phật Tổ, không màng danh lợi. Một vị Thầy tốt không mượn danh của người khác, không dựa vào quyền uy thế lực buộc kẻ khác tin theo. Nếu không được thế, thật rất khó coi.

Với việc nầy, Thân Loan nói: “Lòng tin sẽ giúp vượt khỏi ngu tối của bản thân”. Đồng thời cũng dạy: “Pháp môn niệm Phật là một lòng tin và hành, dù cho thế nào đi nữa, vẫn không thấy xấu hổ” Mỗi người trong chúng ta đối trước Đức Như Lai, tin bổn nguyện hay không là vấn đề tự mỗi người quyết định. Lúc ấy, cũng là lúc con người vượt khỏi ngu tối và nhận rõ những lầm lẫn trong thế giới nầy.
 

I.1.8       Cơ Duyên của Người Ác 

Không nói riêng về người thiện được vãng sanh mà ngay cả người ác cũng thế.

(Lược bớt phần giải thích theo lối Hán – Nhật)

Người lành được vãng sanh, còn người ác có vãng sanh chăng? Hoặc chỉ có người ác vãng sanh, còn người lành không được vãng sanh sao? Nói như thế để suy nghĩ, thật ra thì theo bổn nguyện Đức Phật A Di Đà, tất cả mọi người được cứu độ, đều nhờ vào tha lực của Ngài.

Giải thích:

I.1.8.1   Cơ Duyên Của Người Hiền

Điều ba trong “Thán Dị sao” có pháp ngữ nói về cơ duyên của người ác rất nổi tiếng. Người lành vãng sanh và người sai trái cũng vậy. Đây chẳng phải là vấn đề cơ bản, trật tự của xã hội, khi bảo tồn cũng như phê phán mạnh mẽ về việc lành, việc dữ. “Đừng làm việc ác, nên làm việc lành” là những giới điều căn bản của người tu hành theo Phật.

Phá bỏ những ảnh hưởng quá khích về việc phát ngôn ấy. Thật ra, “Người ác vãng sanh, người lành cũng thế”. Điều nầy luôn luôn tồn tại và được chấp nhận ngay ở trong xã hội cũng như ở trong đạo pháp. Tịnh Độ Giáo đề ra tư duy đó để bình giải rằng: “Điều nầy cũng giống như cái bản lai chính của bổn nguyện tha lực” vậy.

Nên cẩn trọng những việc ác và nên tích chứa những việc lành và nên làm tịnh hóa tâm nhiễm ô. Dưới sự đánh giá của Như Lai, con người chính là một đơn vị cao cả, mà mọi người đều được tịnh hóa, được tiếp dẫn về Tịnh Độ. Nên “người lành nương theo đó mà vãng sanh, người ác cũng thế”. Phải chăng đây là một lời thách thức mới?

 

I.1.8.2   Phê Phán Về Cơ Duyên Của Người Hiền

Thế nhưng “Thán Dị sao” có nói rằng: Người ác vãng sanh và người hiền cũng như thế. Điều nầy cho thấy rằng từ đầu, phê phán về căn cơ của người hiền rằng: “Như thế, chắc chắn một khi tự mình làm những việc lành, người hiền được vãng sanh. Thế nhưng nếu thiếu lòng tin về bổn nguyện tha lực của Đức Phật A Di Đà, không thể vãng sanh được, dù là người hiền. Theo đó, dù ai có làm điều lành đi chăng nữa cũng phải chuyển đổi tâm tự lực của mình, nương vào bổn nguyện tha lực của Đức Phật A Di Đà, mới được vãng sanh về cảnh giới chơn thật Báo Độ[24] của Như Lai giác ngộ”.

Những kẻ tự cho rằng mình là người lành có thể vãng sanh nhờ những việc lành của mình đã chứa nhóm, chính là ngạo mạn. Vì kẻ phàm phu dẫy đầy phiền não; không thể tự mình thỏng tay vào thế giới giác ngộ được, do đó phải nương vào bổn nguyện tha lực của Đức Phật A Di Đà. Điều ấy, cũng chẳng phải có nghĩa là tất cả đều giao cho Đức Phật A Di Đà, mà việc lành của con người vẫn còn chứa đựng phiền não, nên phải suy nghĩ vãng sanh về Tịnh Độ. Phải thấy rằng Tịnh Độ ở đây là một thế giới kéo dài, mở rộng cho đến khi nào phiền não tiêu diệt hoàn toàn mới vào được. Tịnh Độ, Niết Bàn là nơi mà hành giả phải lập lời thệ nguyện vãng sanh. Tâm phải dựa vào bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà mới có thể thành tựu được. Hơn nữa, được gọi là vãng sanh mới là quý, còn cho dù thân của ta được gọi là tốt đi chăng nữa, đối với việc vãng sanh cũng chẳng có một ý nghĩa gì cả; phải xóa bỏ tâm tự lực đi và chuyển thành tâm mong được bổn nguyện tha lực của Đức Phật A Di Đà cứu độ, việc vãng sanh về chơn thật báo độ của các Đức Như Lai giải thoát kia mới có thể thực hiện được.

I.1.8.3   Kẻ Ác

Như Thân Loan thuật lại rằng đối tượng chân chính của những người ác là bổn nguyện và lòng đại bi của Như Lai. “Sống trong cuộc sống đầy phiền não nầy, dù chúng ta có tu hành đến thế nào đi chăng nữa vẫn còn mê hoặc trong sanh tử, khó thoát ra khỏi. Vì vậy, Đức Phật A Di Đà mới lân mẫn lập nguyện cứu độ. Căn bản của bổn nguyện ở chỗ kẻ ác nếu muốn thành Phật, hãy cầu nguyện nơi bổn nguyện, giao mình cho tha lực và chỉ cần vãng sanh cũng được vãng sanh. Người lành cũng giống như thế, không khác gì người ác khi được cứu độ”.

Với chúng ta, lúc nào cũng căn cứ vào những hành động làm tiêu chuẩn và với chính mình không giới hạn ở đâu cả; nên đã bài trừ việc ác một cách triệt để. Ngày đêm ái dục và những tư tưởng về thương ghét đốt cháy cuộc sống nầy. Con người chối từ hạnh phúc thật sự để vui với cái vui bất hạnh và tự mình làm băng hoại tư duy trong suy nghĩ. Với những kẻ phàm phu như thế, tất cả nên phải xả bỏ đi và tuyệt nhiên nhữn