| ......... |
. |
NIỆM
PHẬT VÔ
TƯỚNG
(Lí Luận và Nhập Môn Pháp Môn Niệm
Phật Viên Thông của Bồ Tát Đại Thế Chí)
Nguyên
tác Hoa văn của Tiêu Bình Thật cư sĩ
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch ra Việt văn
NIỆM
PHẬT VÔ TƯỚNG (VÔ TƯỚNG NIỆM PHẬT)
Nguyên tác Hoa văn của Tiêu Bình Thật cư sĩ (Đài-loan)
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch, giới thiệu, chú thích bổ túc, đánh máy,và
trình bày trang sách
Nữ cư sĩ Tịnh Kiên đọc và sửa chữa bản thảo
LỜI BẠT
1. Sau
khi tu thành công pháp môn Niệm Phật Vô Tướng, trong tâm vô cùng vững
chãi, trên đường tu hành dứt nỗi bàng hoàng, tự biết phương pháp tu hành
không nhầm lẫn, tự nhiên dũng mãnh tiến tới trước.
2. Nếu
hành giả vốn sẵn học thiền mà chuyển sang tu pháp môn này, khi đã tu tập
thành công giai đoạn thứ 7, là đã đủ khả năng khán thoại đầu. Lúc bấy
giờ cũng có thể khán thoại đầu, nhưng nên chỉ dừng lại một hay hai lần
để thưởng thức mà thôi; mà vẫn phải lấy niệm Phật vô tướng và nhớ lạy
Phật vô tướng để tăng cường công phu tu tập, cho đến sau khi đã thành
công giai đoạn thứ 9 hoặc thứ 10, mới nên chuyển trở lại con đường tham
thiền. Làm như vậy là vì pháp môn niệm Phật lạy Phật vô tướng có đầy đủ
sức gia trì của Phật, Bồ-tát và lòng tin của mình đối với Phật, Bồ-tát;
cho nên so ra dễ an trụ trong tịnh niệm niệm Phật vô tướng, có thể thu
nhiếp hết cả sáu căn. Nhưng tham thiền khán thoại đầu thì không như vậy:
Tham thiền là pháp môn tự lực, sự nương nhờ vào sức gia trì của Phật,
Bồ-tát so ra rất ít (sự thật cũng có sức gia trì, nhưng phần tự lực
nhiều hơn, hành giả khi ngộ thấy tự tánh thì tự biết), rất tin nơi tự
tâm. Cho nên người tham thiền, so ra, không những định lực phải mạnh,
tâm thần phải chuyên chú, mà lòng tự tin cũng phải thật mạnh mẽ – tự tin
mình có khả năng khai ngộ thấy tánh. Khi đã tu thành công giai đoạn thứ
9 hoặc thứ 10, nếu định lực và tín tâm đầy đủ, hành giả có thể chuyển
sang tham thiền; bấy giờ nghi tình dễ sinh khởi và hành giả tiến vào
khối nghi. Lúc ấy người tham thiền vẫn phải chuẩn bị đầy đủ tri kiến về
tham thiền, phải tham khảo các trước tác về thiền học của các vị thiện
tri thức, các kinh điển thiền môn v.v...; cũng như phải thân cận học tập
nơi các vị thiện tri thức, để khỏi uổng phí công phu, lạc lối vào đường
nguy hiểm.
Người
vốn sẵn tham thoại đầu (hoặc thoại vĩ), có thể xem lời khai thị của đại
lão hòa thượng Hư Vân để biết thế nào gọi là “thoại đầu”, cách “tham” ra
sao. Hành giả cũng có thể xem những điều trình bày trong lời “Dẫn
Nhập” ở “Chương Một” của sách này, tự mình có thể tham thiền.
Tham thiền đã có chỗ để bắt đầu, đáng vui, đáng mừng! Từ đây một lòng
tha thiết, thật tâm tham thiền, sẽ có ngày ngộ nhập.
3. Nếu
hành giả từ trước vẫn tu tập pháp môn Tịnh Độ, nay tu pháp môn Niệm Phật
Viên Thông này, được thành công công phu niệm Phật vô tướng, động tĩnh
nhất như, chắc chắn trong một lúc nào đó, khi nhân duyên thành thục,
bỗng nhiên ở trong tĩnh cho đến ở trong động sinh khởi nghi tình, tham
cứu niệm Phật. Niệm niệm muốn rõ “Người niệm Phật là ai?”. Hành
giả lúc bấy giờ bất tất phải sợ sệt, cũng không nên kháng cự tâm nghi
tình này. Đó là hiện tượng khế cơ buổi ban đầu mà trong chương “Niệm
Phật Viên Thông của Bồ Tát Đại Thế Chí” có nói tới: “Không nhờ
phương tiện mà tâm tự sáng”; và đó cũng chính là điều mà người tham
thiền gọi là “nghi tình”. Hành giả đã sinh khởi nghi tình, chỉ
cần thể cứu vào sâu câu thoại đầu “Niệm Phật là ai?”. Trong chỗ
tự mình tham cứu, mà nhân duyên thuần thục, thì dù va, dù chạm, cho đến
ở trong chỗ tịch tĩnh, một niệm tương ứng, tự thân thấy rõ “bản lai diện
mục” từ trước khi mình chưa sinh ra đời, nguyên lai chẳng qua là như thế
đấy. Đó tức là “Không nhờ phương tiện mà tâm tự sáng.” Đó là điều
rất nhiều thiền sinh mong cầu mà không được, nay hành giả lại được! Do
trước đã thành tựu công phu trong động này mà không thối chuyển, một
ngày nào đó thấy tánh, thì cảnh giới giác ngộ cũng không thối chuyển,
dứt trừ ba phược kết[88],
bước lên hàng Bồ-tát bất thối. Từ đây hành giả tự chứng Kiến-địa[89],
đa số các loại công án phức tạp của các vị tổ sư Thiền tông đều có thể
lãnh hội được. Thêm nữa, trong sinh hoạt hằng ngày và tu học Phật pháp,
xem đọc kinh điển, và cảnh giới giải thoát, cũng được thọ dụng nhiều
công đức. Đây tức là Thiền Tịnh song tu, do từ niệm Phật mà vào sâu lí
tính; trong đó, sự thọ dụng công đức không thể nói cho cùng, vượt quá
phạm vi mà sách này muốn nói. Chỉ xin trình bày sơ lược như thế, xin chư
vị hành giả nghiên cứu thêm. Lúc bấy giờ liền thể hội được điều mà thiền
sư Đạo Tín đã nói: “Thường nghĩ nhớ Phật, tâm phan duyên không sinh
khởi, rỗng không vô tướng, bình đẳng không hai. Vào địa vị này, tâm nhớ
Phật phai nhạt, nhưng không cần phải làm cho tỏ rõ; cứ xem cái tâm bình
đẳng đó, đã là cái thân pháp tánh chân thật của Như Lai, hay cũng gọi là
chánh pháp, là Phật tánh, là thật tánh thật tế
[90]
của các pháp, cũng gọi là tịnh độ, là bồ đề, là kim cang tam muội
[91],
là bản giác
[92]
v.v...”
4. Hành
giả bất luận do tham thiền mà nhập lí tánh, hay do niệm Phật mà nhập lí
tánh, sau khi thấy được Phật tánh đều nên tham phỏng bậc đã thực sự kiến
đạo, để khỏi đem vọng giác lầm cho là chân giác, thậm chí đem cảnh giới
định mà lầm cho là cảnh giới giác ngộ. Chỗ này rất là vi tế, xin hãy lưu
ý; nếu không thì ngày qua tháng lại, khi cơn vô thường ập đến, như mối
ăn gỗ, ăn năn không kịp.
5. Kẻ
hậu học này là một người vô danh tiểu tốt, ở trong giáo giới, nhân cách
và công việc đều tầm thường, chỉ sống âm thầm. Nay muốn khua động ba chữ
“Tiêu Bình Thật” vô danh này nhằm phổ biến một pháp môn sâu xa khó tin
khó vào, mà vạch rõ ý nghĩa chân thật của bước khởi đầu đi vào pháp môn
Niệm Phật Viên Thông; tuy có đủ phương tiện thiện xảo để hướng dẫn hành
giả, vẫn sợ người tin không nhiều, người y theo đây tu trì lại càng ít
hơn. Nếu người nào có thể tin nhận những lời này và y theo đó mà tu trì,
tôi tin chắc rằng người ấy đã từng nhiều đời học Phật, lòng tin đã thuần
thục, căn lành sâu dầy, không bao lâu chắc chắn tu tập thành tựu công
phu niệm Phật vô tướng.
6. Kẻ
hậu học này tu thiền, tuy có nhập cảnh giới chút ít, nhưng chỉ là mỏng
cạn, vẫn cần phải chuyên tâm tu trì; vì vậy mà không thể du phương diễn
thuyết. Hành giả sau khi đọc sách này, có gì khó hiểu, xin hãy đến trước
Phật sám hối tội chướng, siêng tu ba nghiệp phước tịnh, thường thường để
ý tư duy; cũng nên hộ trì các cơ cấu hoằng dương Phật giáo, cùng phổ
biến tập sách này. Hành giả cũng phải đứng trước Phật chí thành phát
nguyện: Đời đời kiếp kiếp tu hành hạnh Bồ-tát, hóa độ chúng sinh; nếu tu
tập thành tựu pháp môn này, xin nguyện quảng bá, giúp đỡ cho chúng sinh
cũng tu tập thành tựu pháp môn này, để cùng thấm nhuần ích lợi Phật
pháp. Sau đó cầu xin đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, các đức Bồ-tát Quán
Thế Âm và Đại Thế Chí v.v... từ bi gia hộ. Tự mình cũng nên đọc đi đọc
lại kĩ càng, cố gắng suy nghĩ, ngày ngày tập luyện phép nhớ lạy Phật vô
tướng, chú ý thể hội. Tội chướng tiêu dần thì tự nhiên thông hiểu, được
lợi ích vô cùng. Đối với tri kiến và phương tiện nhập môn Niệm Phật Vô
Tướng, kẻ hậu học này đã nói tới nhiều lần trong sách này, có thể gọi là
không có cái gì biết mà không nói, và nói hết, không chừa lại điều gì;
có thể bảo nói nhiều, nói dai là đàng khác. Mong hành giả tự mình lĩnh
hội, gắng sức tu hành. Xin đừng tìm kẻ hậu học này để hỏi han (trừ ra,
nếu có duyên cùng tu chung thì không kể), khiến cho kẻ hậu học này lại
càng thâm nhập Phật pháp, trong tương lai làm lợi ích cho càng nhiều
chúng sinh. Đó tức là hành giả đối với kẻ hậu học này rất ái hộ vậy. Kẻ
hậu học này chỉ biết tỏ lòng xin lỗi và cám ơn.
7. Nếu
có vị thiện tri thức nào viết văn chê bai, bình luận, hay khen thưởng,
kẻ hậu học này đều xin bình thản nhận lãnh, nhưng không trả lời; vì có
hai lí do: Một, cần phải giúp đỡ cho các bạn đồng tham, cùng tu, thời
gian rất quí báu; hai, đối với cảnh giới dự định sẽ đạt tới trong đời
này, vẫn còn quá xa vời. Năm tháng còn lại không bao nhiêu, cơn vô
thường mau chóng, không dám lãng phí thời gian cho việc biện bạch thù
đáp. Dám mong chư vị thiện tri thức hiểu cho, kẻ hậu học này cám ơn vô
cùng.
8. Đối
với số đông các vị tu thiền, kẻ hậu học này rất lấy làm xấu hổ vì khả
năng có hạn, trước mắt không đủ sức trình bày dông dài về kinh nghiệm tu
thiền cạn mỏng của mình; chỉ xin dùng bài kệ sau đây để bày tỏ lòng
mình, đồng thời cũng là lời tạ lỗi:
Ngàn dặm xa xôi
gấp tìm thầy
Thân tâm trĩu nặng mối ưu tư
Linh-sơn bước đến không gì khác
Trước cửa ao sen tỏa ngát hương
9. Sách
này nhờ chư vị cư sĩ Hứa Quả Xuyên, Lưu Cận Sơn, Trương Quả Hoàn, Lương
Truyền Phụ v.v..., dù bận rộn trăm công ngàn việc, cũng đã dành thì giờ
giúp cho các việc nhuận sắc, hiệu đính, ghi chép, lên khuôn in v.v...,
để cho sách này được ấn hành viên mãn. Quí Vị đã vì chúng sinh mà cống
hiến nhiệt tình, ra công khó nhọc. Xin gửi đến Quí Vị lòng cung kính vô
hạn.
Ngày 28 tháng 2 năm 1992
Kính cẩn,
Tiêu Bình Thật
VÀI LỜI GHI
THÊM
Vì nhân
duyên chưa đủ nên sách này cho đến nay mới xuất bản được. Nhưng cũng vì
sự chậm trễ này mà có cơ hội để ba vị đồng tu, vào thời gian trước ngày
1.12.1992, đã lần lượt tự thân chứng thật pháp môn này, và xác quyết là
có thể “không nhờ phương tiện mà tâm tự sáng”, tự thấy Phật tánh.
Quá trình và công đức cũng hoàn toàn phù hợp với những điều sách này
trình bày. Lại có một vị khác, sau khi tu tập thành tựu công phu niệm
Phật vô tướng thì chuyển sang tham thiền, và công phu đã thành tựu trước
ba vị kia, thấy rõ tâm tánh, hưởng nhiều công đức. Cả bốn vị này, cho
đến nay, cảnh giới ngộ vẫn không bị thối lui, giờ nào nơi nào cũng thấy
rõ Phật tánh vốn có của mình.
Từ khi
kẻ hậu học này giảng thuật pháp môn Niệm Phật Vô Tướng, cho đến nay,
không quá một năm 3 tháng, đã có 4 người thấy tánh; huống chi sau đó
nhiều người nối gót tham gia vô cùng hào hứng, chẳng bao lâu cũng sẽ
thành công, khiến kẻ hậu học này không kềm chế được sự vui mừng, không
sợ chê cười mà tự tâng bốc, đến nỗi sau lời bạt lại còn ghi thêm sự thật
này, để một lần nữa chứng thật cho điều mà đức Bồ-tát Đại Thế Chí đã
nói: “Nhớ Phật niệm Phật, không nhờ phương tiện mà tâm tự sángi.”
Lời nói đó hoàn toàn không hư vọng.
Lại
nữa, trong 3 người niệm Phật đã nhập được lí tánh, thì người thấy tánh
sau cùng là một phụ nữ chỉ tốt nghiệp cấp tiểu học quốc dân mà thôi. Bà
này cũng chưa từng được nghe hay đọc sách về thiền pháp. Ngày nay bà tùy
duyên thuyết pháp độ người, nói năng chín chắn, phù hợp lí trung đạo, so
với tính nhút nhát và ăn nói vụng về trước kia, thật khác xa một trời
một vực. Sự thật này cũng đủ để cho số ít người niệm Phật sức học thấp
kém lại lòng tin không vững, lấy đó làm gương, tự khích lệ mình, tinh
tấn tu trì pháp môn này. Nhân đây, kẻ hậu học này xin chúc chư vị hành
giả, sau 4 người trên, cùng đua nhau tiến bước, nối tiếp nhau thành
công, thật là điều mong mỏi của kẻ hậu học này.
Ngày 2 tháng 2 năm 1993
Kính cẩn,
Tiêu Bình Thật
LẠI GHI
THÊM
Lại có
việc không thể không nói thêm: Sau khi sách này đã được sắp chữ xong,
khi sửa chữa lần thứ hai, trước khi đưa cho in, lại có 3 người nhân tham
thoại đầu mà khai ngộ, một người nhân niệm Phật vô tướng mà tự được tâm
khai, tiếp nối nhau mà đến, đều thân thấy Phật tánh, trở về nguồn cội.
Kinh nói: “Người thấy đạo, tuy là phụ nữ, cũng gọi được là bậc trượng
phu.” Cho nên, 3 người kia tuy là phụ nữ, tôi cũng xưng họ là “sư
huynh”.
Sở dĩ
kẻ hậu học này đành bất chấp sai quấy, một lần nữa nêu lên sự thật này,
cốt ý là xây dựng lòng tin vững chắc cho người học Phật. Xã hội thời đại
tuy ở thời mạt pháp, nhưng lòng người không chắc chắn phải là mạt pháp,
chỉ vì người người tự tánh giống nhau. Nếu ở trong lúc xao động mà vẫn
có được tịnh niệm tiếp nối, nhưng chỉ một niệm tương ứng, truyền tiếp
mãi mãi, thì tự nhiên trí tuệ bừng sáng, hiện thành “người xưa nay vốn
vậy”, làm gì có mạt pháp hay không mạt pháp! Nếu có ai nhân đây mà chê
bai tôi thì tôi cũng coi đó là nước đường. Chỉ cần xây dựng được lòng
tin vững chắc cho người học Phật là nguyện của tôi đã đầy đủ. Tôi xin
ghi thêm mấy lời như thế.
Ngày 10 tháng 2 năm 1993
Kính cẩn,
Bồ-tát giới tử Tiêu Bình
Thật
CHÚ THÍCH (của tác giả):
(1) Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, 3 phẩm hoa sen bậc Hạ
(Hạ-thượng, Hạ-trung, Hạ-hạ) nhiếp thọ hàng phàm phu thấp kém, tuy không
hủy báng đại thừa nhưng tạo nhiều nghiệp ác, nhờ sức phương tiện của
Phật mà được vào hàng Bồ-tát đại thừa. Sau khi vãng sinh, họ được ở dưới
bậc Sơ-địa trở xuống. Vì nơi đây hàng phàm phu cùng với quí vị hiền
thánh ở chung, nên gọi là Phàm-thánh đồng-cư độ; hạng người quá thấp kém
mới muốn vãng sinh về đó. 3 phẩm hoa sen bậc Trung (Trung-thượng,
Trung-trung và Trung-hạ) là đức Phật A Di Đà dùng sức phương tiện để
nhiếp thọ các chúng sinh có chủng tánh Thanh-văn. Sau khi vãng sinh về
đó, họ đều được ở quả vị Thanh-văn, chứng “hữu dư niết bàn”. Nhân vì cõi
này là do Phật dùng phương tiện hóa thành, nên gọi là Phương-tiện hữu-dư
độ; hạng người căn tánh trung bình muốn vãng sinh về đó. 3 phẩm hoa sen
bậc Thượng (Thượng-thượng, Thượng-trung và Thượng-hạ) chỉ nhiếp
thọ người có căn tánh Bồ-tát đại thừa; trên từ hạng thấy tánh, dưới đến
hạng phát đạo tâm vô thượng, đều được vãng sinh về đó. Hành giả thuộc
hạng này, hoặc thấy đệ nhất nghĩa (thấy tự tánh là không, pháp tánh cũng
không), hoặc hiểu rõ đệ nhất nghĩa mà không kinh sợ, hoặc phát tâm thành
Phật, chứng đắc quả vị từ Sơ-địa trở lên, từng phần thể nhập pháp thân,
cho nên gọi là Thật-báo trang-nghiêm độ; hạng người thượng căn đều muốn
vãng sinh về đó. Đừng nên hiểu lầm rằng, ba cõi Phàm-thánh
đồng-cư, Phương-tiện hữu-dư và Thật-báo trang-nghiêm ở thế giới Cực-lạc,
mỗi cõi đều có đủ 9 phẩm hoa sen.
(2) Vô sinh nhẫn: Chứng giải thoát từng phần cho đến giải thoát rốt ráo
đều là vô sinh nhẫn.
(3) Vô học: Có tu có chứng gọi là “hữu học”, hoặc gọi là “người học”;
người giải thoát rốt ráo, trên đường giải thoát đã thân chứng và hiểu
biết rốt ráo, không còn phải học nữa, gọi là “vô học”.
(4) Niệm Phật tam muội: Có rất nhiều loại niệm Phật tam muội, muốn biết
rõ ràng, có thể đọc Phẩm Niệm Phật Tam Muội trong quyển 43 của
Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, thuộc Bộ Đại Tập, nằm trong
quyển 13 của Tạng Đại Chánh; hoặc Kinh Bồ Tát Niệm Phật Tam
Muội (phần Đại Phương Đẳng Đại Tập Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội). Người
ta thường nói, niệm Phật tam muội phần nhiều là chỉ cho tam muội niệm
hóa thân Phật, niệm báo thân Phật và niệm pháp thân Phật. Niệm Phật vô
tướng chính là niệm Phật tam muội, thuộc loại niệm pháp thân Phật, là
một trong các loại tam muội. Do công phu niệm Phật vô tướng mà nhập vào
tam ma địa, cũng là niệm Phật tam muội.
(5) Nói chung người niệm Phật trì danh,
nếu nghe nói tu định thì thường thường là rút lui; chứ đâu biết rằng,
niệm Phật trì danh cũng là một phần của pháp môn tu định. Như trong
quyển 4 của Quán Kinh Tứ
Thiếp Sớ (tức Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ) có nói: “......
Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Di Đà, đi đứng ngồi nằm, không cần biết
thời gian dài ngắn, niệm niệm không rời, đó gọi là nghiệp chánh định.”
Tu định rất là trọng yếu, chư vị tổ sư xưa nay đều dạy như thế. Ở đây
lại xin nêu lời dạy của vị Sơ tổ tông Tịnh Độ là đại sư Tuệ Viễn, cho
thấy tính cách trọng yếu của việc tu định ở hành giả tu Tịnh Độ. Trong
bài “Tựa” sách Tuệ Viễn Pháp Sư Văn Sao có ghi: “......Đến
ngày 28 tháng 7 năm Canh-Dần, tức năm thứ 15 niên hiệu Thái-nguyên, ngài
Tuệ Viễn cùng với 123 người gồm chư tăng và cư sĩ, đã kết xã niệm Phật,
cầu sinh Tây-phương. Tất cả các vị ấy, vào lúc lâm chung đều có cảm ứng
tốt lành, đều được vãng sinh. Do vì mọi người ...... vừa được ngài Tuệ
Viễn dẫn dắt, vừa tự mình thiết tha tu tập, mà được lợi ích như vậy. Đó
mới chỉ là những người kết xã đầu tiên, nếu tính trong thời gian hơn 30
năm còn lại của cuộc đời ngài, thì số người được ngài giáo hóa tu tịnh
nghiệp, chứng tam muội và vãng sinh về Cực-lạc, thật là quá nhiều!”
Rồi trong phần “Phụ Lục” của sách ấy lại nói: “......Sư ở núi 30 năm,
chân không vào cõi tục, chỉ lấy Tịnh Độ cần cù chuyên niệm. 11 năm đầu
thì lắng tâm cột tưởng, 3 lần được thấy thánh tướng, thầm lặng
không nói. 19 năm sau, vào đêm cuối cùng tháng 7, nơi ngôi nhà nhỏ ở
phía Đông đài Bát-nhã, vừa từ định đứng dậy thì thấy đức Phật A
Di Đà, thân đầy khắp hư không, trong ánh sáng tròn đầy có chư vị hóa
Phật, hai đức Bồ-tát Quán Âm Thế Chí đứng hầu hai bên; lại thấy dòng
sông ánh sáng chia làm 14 nhánh, chảy khắp trên dưới, diễn nói pháp âm
khổ, không, vô thường, vô ngã. Đức Phật bảo ngài: Ta dùng sức bản nguyện
đến đây an ủi ông, 7 ngày sau ông sẽ sinh về nước ta......”
Xem những điều vừa nêu trên thì biết
rằng, Sơ tổ của Liên tông đã thành lập Liên xã với 123 người, và toàn bộ
số người ấy đều vãng sinh về thế giới Cực-lạc. Được như vậy là nhờ đại
sư Tuệ Viễn đã hết lòng dạy dỗ, hướng dẫn, cộng với lòng thiết tha và sự
nỗ lực tu tập của họ. Mà phép niệm Phật của đại sư Tuệ Viễn là chuyên
tư lặng tưởng, mới có thể ba lần được thấy thánh tướng; và trước khi
vãng sinh 7 ngày lại được đức Phật A Di Đà thị hiện báo trước cho biết.
Bấy giờ cũng là lúc sau khi nhớ Phật trong định, vừa từ định đứng dậy
thì ngài thấy đức Phật. Từ đó có thể biết, trì danh cũng có thể vãng
sinh Tây-phương, nhưng chủ yếu là nhờ đó để trừ khử vọng tưởng,
phan duyên. Kẻ hậu học này nghĩ rằng, trước hãy mượn cách trì danh làm
phương tiện, tu trì một khoảng thời gian, sau đó chuyển học theo phép
chuyên tư lặng tưởng của ngài Tuệ Viễn. Muốn học cách chuyên tư lặng
tưởng, có thể nhờ sự giúp ích của pháp môn niệm Phật vô tướng mà nhanh
chóng đạt thành. Tương lai chắc chắn được vãng sinh, mà sinh lên các
phẩm hoa sen cao; đừng lấy việc vãng sinh lên các phẩm Trung, phẩm Hạ mà
cho là đủ.
Lại như đại sư Thiện Đạo đã nói trong tác phẩm Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ:
“...... Lại trong tâm chân thật, ý nghiệp tư tưởng, quán sát, ức
niệm đức Phật A Di Đà và cả chánh báo cùng y báo của Ngài, như hiện ra
trước mắt.” Những cảnh giới như thế, nếu không có định lực thì làm
sao có được? Ngài lại nói: “Tâm thường thân cận, nhớ nghĩ không gián
đoạn, gọi là hạnh vô gián vậy.” Tất cả những hạnh như thế, không có
hạnh nào là không tương ưng với định. Cho nên, hành giả nếu muốn vãng
sinh về Cực-lạc, và vãng sinh lên các phẩm hoa sen cao, cần phải tăng
cường định lực, để hộ trợ cho công phu tu trì Tịnh Độ.
(6) Trời Dục giới: Thế gian chia làm 3 loại, cũng gọi là 3 cõi, tức cõi
Dục, cõi Sắc và cõi Vô-sắc. Cõi Dục bao gồm thế gian vật chất và 6 tầng
trời, từ trời Tứ-thiên-vương lên đến trời Tha-hóa tự-tại. Vì chúng sinh
trong cõi này còn có tướng nam nữ và sự dâm dục, cho nên gọi là cõi Dục
(Dục giới). Cõi Sắc (Sắc giới) gồm có 18 tầng trời, là nơi cư trú của
những chúng sinh tu tập chứng đắc từ Sơ-thiền cho đến Tứ-thiền, và các
bậc thánh đã chứng quả A-na-hàm. Chúng sinh ở cõi này chỉ có hình tượng
mà không có tướng khác biệt nam nữ, cũng không có dâm dục. Cõi Vô-sắc
(Vô-sắc giới) gồm có 4 tầng trời, là nơi cư trú của những chúng sinh tu
tập và chứng đắc 4 định Không, không còn hình tượng, chỉ thuần là trạng
thái tinh thần.
(7) Thấy núi không phải núi, thấy sông không phải sông: Người tham
thiền, tâm sinh nghi tình, nỗ lực tham cứu, trú trong khối nghi mà hoàn
toàn không biết gì về mọi sự vật ở chung quanh; giống y như người mù mở
mắt, nhìn mà không thấy, nghe mà không biết. Ví như trên đường về nhà,
vừa đi vừa tham thiền, đi qua khỏi nhà mà không biết; lại như tham thiền
trong lúc ngồi, tuy trước mắt có người qua lại, nhưng nhìn mà không
thấy, nghe mà không biết. Cho đến khi rời cảnh giới này, mới biết chớp
mắt, mới nghe âm thanh; mới biết mình vừa nhập vào trong cảnh giới “thấy
núi không phải núi”. Cảnh giới này cũng được gọi là “thùng sơn đen”,
hoặc gọi là “khối nghi”.
(8) Biệt nguyện của chư Phật: Bốn lời nguyện lớn là thệ nguyện chung của
chư Phật. Ngoài ra, chư Phật trong quá khứ và hiện tại, tùy theo nhân
duyên khác nhau của các Ngài trong thời kì tu nhân, mỗi Ngài đều vì
chúng sinh mà phát các lời nguyện đặc biệt của riêng mình (ngoài 4 lời
nguyện chung ở trên). Các lời nguyện đặc biệt của chư Phật ấy không
giống nhau, cho nên gọi là “biệt nguyện”.
(9) Hành giả: Pháp môn này nhằm đối tượng là chư vị cư sĩ tại gia mới
phát tâm học Phật mà nói, cho nên xưng là “hành giả”.
(10) Kinh Pháp Diệt Tận có chép: “...... Thọ mạng đàn ông
ngắn; thọ mạng đàn bà dài, bảy, tám, chín mươi, hoặc đến 100 tuổi......
Lúc bấy giờ có các vị Bồ-tát, Bích-chi, La-hán, bị các loài ma xua đuổi,
không dự chúng hội. Ba thừa vào đất phước đức, thản nhiên giữ mình, tự
lấy làm vui, thọ mạng lâu dài. Chư thiên hộ vệ Bồ-tát Nguyệt Quang ra
đời, được gặp gỡ nhau, cùng nhau hưng khởi đạo pháp của ta kéo dài thêm
52 năm. Các kinh Thủ Lăng Nghiêm, Bát Chu Tam Muội, bị hóa diệt trước
nhất, sau đó, mười hai bộ kinh cũng tiêu diệt theo, diệt hết, không xuất
hiện trở lại, không còn thấy được một câu một chữ nào. Áo cà sa của các
vị sa môn bỗng nhiên biến màu thành trắng. Khi giáo pháp của ta tiêu
diệt, ví như ngọn đèn dầu phực sáng lên trước khi tắt, rồi diệt hẳn. Từ
đó về sau, tình trạng thật là khó nói. Cứ như thế kéo dài cho đến vài
ngàn vạn năm, đức Di Lặc sẽ ra đời thành Phật, thiên hạ thái bình, khí
độc tiêu tan, mưa nắng điều hòa, ngũ cốc tươi tốt......”
Lại nữa, kinh Di Lặc Hạ Sinh có cả thảy 5 bản dịch: Ngài Trúc
Pháp Hộ dịch một bộ, ngài Cưu Ma La Thập dịch 2 bộ, ngài Nghĩa Tịnh dịch
một bộ; cả 4 bộ này đều chưa nói rõ vào lúc nào thì Bồ-tát Di Lặc hạ
sinh thành Phật. Chỉ có bản dịch thứ 5 có nói rõ rằng: “Phật Di Lặc
còn sáu mươi đầy sáu mươi ức năm nữa sẽ hạ sinh.” Nhưng bản dịch này
so với bốn bản dịch trước thì thiếu sót rất nhiều, lại không biết dịch
giả là ai, không đáng tin tưởng; cho nên cứ lấy những điều chép trong
kinh Pháp Diệt Tận làm chuẩn.
(11) Sáu trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
(12) Tư duy quán: Người tham thiền trụ ở trong nghi tình, để hết tâm trí
tư duy nghi tình. Trong lúc tư duy thì xa lìa tất cả ngôn ngữ, văn tự,
âm thanh, phù hiệu, hình tượng mà tư duy.
(13) Cân bằng nội nhiếp và ngoại duyên:
1.
Người niệm Phật vô tướng, nếu ở trong không nhiếp phục mà cứ duyên theo
lời nói của người trước mặt thì niệm nhớ Phật hoàn toàn bị mất. Nếu
không duyên theo cảnh ngoài, nhiếp phục ở bên trong, tâm trí hoàn toàn
chỉ có cái niệm nhớ Phật, thì dù người trước mặt có nói năng gì mình
cũng không biết. Nếu nội nhiếp và ngoại duyên được cân bằng, thì người
trước mặt nói gì mình có thể hiểu được, mà cái niệm nhớ Phật ở trong tâm
cũng rõ ràng phân minh.
2.
Người thấy tánh, thấy tự tánh ở khắp mọi nơi, cho đến thanh, hương, vị,
xúc, pháp cũng như vậy. Nếu thường duyên theo cảnh ngoài, muốn thấy tự
tánh, tâm định tán thất, sau một thời gian sẽ không thấy tự tánh. Nếu
hoàn toàn nhiếp phục bên trong thì trụ nơi cảnh giới định, không thấy tự
tánh. Nếu người thấy tánh, ở nơi thấy nghe hiểu biết, giữ cho nội nhiếp
và ngoại duyên được cân bằng, thì cảnh giới giác ngộ không thối lui, tự
tánh lúc nào cũng tỏ rõ. Đó là điều mà ngài Lục tổ của Thiền tông đã
nói: “Niệm niệm không rời tự tánh.”, tức là vừa bền vững, lại vừa
vận hành tự nhiên. Muốn vậy, cần phải chuẩn bị đầy đủ công phu niệm Phật
vô tướng, hoặc tu tập đạt được công phu khán thoại đầu trong lúc xao
động, mới giữ bền vững được. Nếu không thì phải xa lìa chốn bụi trần
huyên náo, đến bên mé nước rừng sâu để nuôi lớn thánh thai.
3.
Người đã chứng được thiền định (bỏ ra ngoài phần bị thối lui), nếu ở
trong sinh hoạt hằng ngày, cũng như người niệm Phật vô tướng, giữ gìn
được sự cân bằng giữa nội nhiếp và ngoại duyên, thì có thể thường ở
trong tâm định Sơ-thiền, dù hằng ngày có sinh hoạt rộn rịp hơn những
người bình thường, tâm định cũng không bị thối thất.
PHỤ CHÚ (của dịch giả):
[1]
Tham cứu: là thuật ngữ Thiền học. Trong thiền môn, ,
người đệ tử phải đến trước thầy để tham vấn, cầu khai thị về
việc tham thiền để thấy tánh giác ngộ; đó là việc quan trrọng
trong đời tu hành của một thiền sinh.
[2]
Bốn loại tịnh độ: Đại sư Trí Khải của tông Thiên Thai
phân biệt có bốn loại tịnh độ:
1) Phàm-thánh
đồng-cư độ:
tịnh độ của cả thánh nhân (Thanh-văn, Duyên-giác) và phàm phu
(người, trời) cùng cư trú.
2) Phương-tiện
hữu-dư độ:
tịnh độ của chư vị A-la-hán, Bích-chi Phật và hàng Bồ-tát
Địa-tiền (trước khi tiến lên bậc Sơ-địa) cùng cư trú.
3) Thật-báo
trang-nghiêm độ:
tịnh độ của hàng Bồ-tát từ bậc Sơ-địa cho đến bậc Đẳng-giác cư
trú.
4)
Thường-tịch-quang độ:
tịnh độ của chư Phật.
[3]
Kiến-đạo: là chặng đường đầu tiên trong ba chặng đường
dẫn đến giải thoát niết bàn (Kiến-đạo, Tu-đạo và Vô-học-đạo).
Hành giả ở địa vị phàm phu, sau một thời gian tu hành tinh tấn,
phát sinh trí tuệ vô lậu, thể hội lí tứ đế, dứt trừ hết kiến
hoặc trong ba cõi, chứng quả Tu-đà-hoàn (đối với
Thanh-văn thừa), hoặc tiến lên bậc Sơ-địa Bồ-tát; đó là
địa vị Kiến-đạo.
[4]
Tu-đạo: Sau khi đã đạt được địa vị Kiến-đạo thì chặng
đường kế tiếp là Tu-đạo. Ở chặng đường này, hành giả tiếp tục
phát triển trí tuệ vô lậu, dùng trí tuệ ấy để diệt trừ hết tư
hoặc, đó là công phu tu tập của hành giả ở địa vị Tu-đạo. Đối
với Thanh-văn thừa thì hai quả Tư-đà-hàm và A-na-hàm thuộc địa
vị này; khi đã diệt trừ trọn vẹn mọi kiến tư hoặc trong ba cõi
thì chứng quả A-la-hán, đó là địa vị Vô-học-đạo. Đối với Bồ-tát
thừa thì Bồ-tát từ bậc Nhị-địa cho đến Cửu-địa thuộc địa vị này;
từ bậc Thập-địa trở lên thì thuộc Vô-học đạo.
[5]
Công phu trong động: “Công phu” là một thuật ngữ
Thiền học, dùng để chỉ cho trình độ hay thực lực tu tập. Chữ
“động” là chỉ cho cảnh giới đầy dẫy ngũ dục lục trần, lăng
xăng loạn động; trái lại là “tĩnh”, là cảnh giới tĩnh
lặng trong thiền định. “Công phu trong động” tức là hành
giả tập thiền trong một hoàn cảnh không yên tĩnh, đầy vọng động,
cũng tức là tập thiền trong những lúc đi đứng ngồi nằm, trong
những lúc làm việc, ăn uống, nói năng, v.v... nói chung là trong
mọi sinh hoạt hằng ngày. Thuật ngữ “công phu trong động”
cũng được dùng trong Tịnh Độ tông, chỉ cho việc miệng niệm lớn
tiếng danh hiệu Phật của pháp môn trì danh niệm Phật.
[6]
Khán thoại đầu:
Chữ “khán” là một thuật ngữ Thiền học, có nghĩa là chỉ
nhìn đối tượng một cách chăm chú mà không phát ra tiếng nói. Đối
tượng nổi hiện thường trực trên ý thức, và hành giả dùng trí tuệ
để chiếu soi nó, cho tới khi thấy được chân tướng của nó tức là
được khai ngộ. “Thoại đầu” cũng là một thuật ngữ Thiền
học, chỉ cho một câu nói được dùng làm đề tài tham cứu cho hành
giả trong lúc thực tập thiền quán. Những lời dạy của Phật trong
kinh điển, những lời huấn thị của các vị tổ sư ngộ đạo, những
lời đối đáp giữa các vị thiền sư, đều là những pháp tắc, mô phạm
mà các hành giả trong thiền môn phải lấy đó để chiêm nghiệm, tu
tập, nhờ đó mà được khai ngộ. “Khán thoại đầu” tức là
dùng trí tuệ để chiêm nghiệm, quán chiếu một lời dạy của Phật,
một câu nói của bậc tổ sư ngộ đạo, cho đến khi toàn vẹn yếu
nghĩa của nó bùng vỡ, đó là lúc hành giả được khai ngộ.
[7]
Tham thoại đầu:
cũng tức là “khán thoại đầu”.
[8]
Đồng tham: tức là những người bạn cùng nhau tu tập thiền
quán.
[9]
Thùng sơn đen (hắc tất thông): tức là cái thùng đựng đầy
sơn đen kịt, là một thuật ngữ dùng trong chốn thiền lâm để ví dụ
cho vô minh dầy đặc, cứng chắc, khó phá trừ.
[10]
Tham công án:
cũng tức là tham thoại đầu.
[11]
Thời gian của thánh nhân: tức là thời kì mà người ta tu
hành chứng quả thánh rất dễ dàng, rất nhiều; có thể chỉ cho thời
Phật tại thế, hoặc vài trăm năm sau ngày Phật nhập diệt.
[12]
Hư Vân (1840-1959): Ngài họ Tiêu, tên Trai, pháp danh Cổ Nham, tự Đức Thanh, quê ở huyện
Tương-lương, tỉnh Hồ-nam. Từ sau thời kì Dân-quốc, ngài đã một
mình gánh vác trọng nhiệm truyền thừa của cả 5 phái Thiền tông:
Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhãn, Qui Ngưỡng. Năm 19 tuổi
ngài xuất gia với hòa thượng Thường Khai, chùa Dũng-tuyền, ở núi
Cổ-sơn, tỉnh Phúc-kiến; năm sau ngài thọ giới cụ túc với hòa
thượng Diệu Liên, cũng ở Cổ-sơn. Sau đó ngài trải bước khắp các
danh sơn để tham phỏng học đạo. Hành tung của ngài biến khắp đó
đây, nào Tứ-xuyên, Tây-khương, rồi ra các nước ngoài như
Tây-tạng, Ấn-độ, Nam-dương, Miến-điện, v.v... Năm 43 tuổi ngài
phát tâm triều bái (đi ba bước lạy một lạy) núi Ngũ-đài để đền
báo thâm ân cha mẹ. Khởi hành từ am Pháp-hoa, núi Phổ-đà, ngài
đi ròng rã 3 năm, chịu đủ điều đói lạnh, ba lần bị bệnh nặng
tưởng chết, nhưng nhờ được đức Bồ-tát Văn Thù cảm ứng cứu độ,
cuối cùng ngài đã tới được chùa Hiển-thông ở núi Ngũ-đài. Năm 56
tuổi, trong thời gian tham dự khóa tu nhập thiền thất tại chùa
Cao-mân ở Giang-tô, một hôm, vì sơ ý làm rớt tách trà xuống đất,
vừa nghe tiếng tách nước bể, ngài liền dứt hết căn nghi, triệt
ngộ tự tánh. Năm 61 tuổi (1900) ngài về ẩn cư ở núi Chung-nam,
đổi tên lại là Hư Vân, và lấy hiệu là Huyễn Du.
Sau đó ngài lại lên đường du phương giảng kinh hoằng hóa, trong
thời gian này, năm 68 tuổi, ngài cũng từng sang giảng kinh ở
Thái-lan, Mã-lai. Từ năm 72 tuổi ngài đến giáo hóa ở Vân-nam,
suốt 18 năm, đến năm 90 tuổi ngài mới trở về núi Cổ-sơn
(Phúc-kiến), trụ trì và trùng tu chùa Dũng-tuyền, lập Phật học
viện Cổ-sơn, đào tạo tăng tài. Năm 95 tuổi (1934) ngài xuống
Quảng-đông, tu sửa chùa Nam-hoa, di tích của Lục tổ Tuệ Năng.
Năm 105 tuổi (1944) ngài đi Triết-giang trùng tu tổ đình
Vân-môn. Năm 110 tuổi (1949) ngài sang hoằng pháp ở Hương-cảng,
rồi trở về lại Vân-môn; lúc đó đảng Cộng sản Trung-quốc đã làm
chủ Hoa-lục. Mùa xuân năm 1951, lúc này ngài đã 112 tuổi, vẫn
lãnh đạo tăng chúng cả ngàn người tu học tại đạo tràng Vân-môn.
Buổi sáng ngày 20 tháng 2, hơn 100 công an cộng sản kéo lên núi
bao vây chùa, rồi tấn công lục soát, cướp phá chùa. Ngài bị họ
giam riêng một phòng, các vị đệ tử của ngài đều bị tra tấn, đánh
đập tàn nhẫn; đệ tử lớn của ngài là thiền sư Diệu Vân đã bị đánh
đến chết, một số bị gãy cả tay chân, một số bị bắt đem đi mất
tích. Họ phá phách như vậy đến hơn 10 ngày, cuối cùng thì đến
lượt ngài bị hành hung, tra tấn, bắt phải chỉ chỗ giấu vàng bạc,
tiền của quân nhu, vũ khí. Họ chửi rủa tục tằn, đánh ngài bằng
cây gỗ, gậy sắt, đến nỗi bong gân gẫy xương, mắt tai mũi miệng
đều tuôn máu; nhưng ở chùa thì làm gì có vàng bạc, quân nhu, vũ
khí để chỉ! Cho nên ngài chỉ một mực niệm Phật, cho đến khi bất
tỉnh nhân sự. Chẳng bao lâu bịnh phát, ngài bèn ngồi xếp bằng,
nhịn ăn đến 9 ngày, thì thần trí phiêu diêu cõi Đâu-suất, được
nghe đức Di Lặc giảng kinh. Cộng quân thấy sự việc diệu kì, đâm
ra khiếp sợ, bèn qui phục. Từ đó không dám đến quấy phá ngài
nữa. Mùa xuân năm 1952, bệnh tình đã thuyên giảm, chính quyền
Bắc-kinh đã cử phái đoàn vào Vân-môn để mời ngài ra Bắc-kinh.
Tại đây, ngài đã yêu cầu chính phủ ngưng các hành động đập phá
chùa chiền, hủy hoại tượng Phật và kinh điển; hủy bỏ lệnh bắt
tăng ni hoàn tục; tài sản của tự viện phải để cho tăng chúng tự
túc. Ngài cũng phản đối kịch liệt nhóm tăng sĩ cộng sản muốn hủy
phá giới luật cùng thanh qui thiền viện. Giữa năm 1953, theo
lệnh của chính quyền, ngài về núi Lô-sơn để tịnh dưỡng. Ở đây
chỉ vài tháng, ngài lại đến núi Vân-cư ở Giang-tây để tu sửa
chùa Chân-như, và cư trú luôn tại đây. Năm 1958, thấy ảnh hưởng
của ngài quá lớn đối với Phật giáo toàn quốc, chính quyền cộng
sản bèn bày trò đấu tố ngài. Họ phát động phong trào học tập cải
tạo cho các đoàn thể tôn giáo. Họ kết tội này tội nọ cho các sư
trụ trì các chùa Nam-hoa, Vân-môn, Vân-cư, để ép buộc các vị này
phải đấu tố ngài, nhưng quí thầy vẫn bất khuất, không chịu thi
hành mệnh lệnh của họ. Nhóm tăng sĩ cộng sản thì chính thức vu
cáo cho ngài các tội nghiêm trọng như tham ô, phản động, đạo đức
giả, truyền giới pháp sai lầm v.v... Ngài lại bị bắt giam ở một
nơi kín đáo, mấy tháng mới được thả về chùa. Các vị đệ tử đắc
lực của ngài đều bị bắt giam ở các trại cải tạo, rồi bị phân tán
đi các nơi biệt tích. Năm 1959, lúc này ngài đã 120 tuổi, bệnh
tình trở nặng, đến tháng 8 thì thị tịch; tăng lạp 101 năm. Suốt
một đời tu hành, ngài thực hành đủ các hạnh, như hiếu, nhẫn,
tịnh, định, xả, bi, vô úy, bất phóng dật v.v... Gặp thời tao
loạn, tông phong xuống thấp, đạo tràng bỏ phế, ngài đã phát
nguyện chấn hưng các tòng lâm danh tiếng ở các nơi như chùa
Hoa-hanh ở Vân-nam, chùa Nam-hoa ở Tào-khê, chùa Dũng-tuyền ở
Phúc-kiến, chủa Vân-môn ở Quảng-đông, v.v... cả thảy đến hơn 80
tòng lâm. Ngài trước tác rất nhiều, nhưng đều bị mất hết trong
“sự biến Vân-môn”. Người sau bèn góp nhặt những pháp ngữ, khai
thị v.v... của ngài mà làm thành tập sách Hư Vân Hòa Thượng
Pháp Vựng.
[13]
Chữ “thật pháp” ở đây có nghĩa là những phương pháp hoặc
nghi thức hành trì cụ thể mà mọi người có thể trông thấy rõ
ràng, có qui định chung và thống nhất chấp hành.
[14]
Tâm hành: tức là ý thức suy nghĩ, tính toán, phân biệt,
so đo, phán đoán v.v...
[15]
Mười sáu phép quán: tức 16 phép quán tưởng dành cho hành
giả tu pháp môn Tịnh Độ, được nêu rõ trong kinh Quán Vô Lượng
Thọ: 1) Quán tưởng ánh sáng mặt trời; 2) Quán tưởng nước; 3)
Quán tưởng đất; 4) Quán tưởng cây báu; 5) Quán tưởng ao báu; 6)
Quán tưởng lầu gác báu; 7) Quán tưởng tòa sen báu; 8) Quán tưởng
hình tượng Phật, Bồ-tát; 9) Quán tưởng chân thân Phật A Di Đà;
10) Quán tưởng thân tướng Bồ-tát Quán Thế Âm; 11) Quán tưởng
thân tướng Bồ-tát Đại Thế Chí; 12) Quán tưởng chính mình được
vãng sinh; 13) Quán tưởng chung chân thân Phật, hóa thân Phật,
thân lớn, thân nhỏ v.v...; 14) Quán tưởng vãng sinh bậc
Thượng-phẩm; 15) Quán tưởng vãng sinh bậc Trung-phẩm; 16) Quán
tưởng vãng sinh bậc Hạ-phẩm. (Xin xem kinh Quán Vô Lượng Thọ
để được rõ ràng hơn.)
[16]
Bồ-tát: Danh xưng Bồ-tát ở đây là chỉ cho những người đã
thọ giới Bồ-tát; hoặc giả người Hoa cũng thường xưng người đối
diện (tăng hay tục) là Bồ-tát để tỏ ý kính trọng.
[17]
Ba tạng là tạng Kinh, tạng Luật và tạng Luận, là toàn bộ
giáo điển của Phật giáo. Mười hai bộ tức mười hai bộ
kinh, là 12 thể loại của toàn bộ kinh điển Phật dạy: 1) Khế
kinh (Trường hàng): những lời dạy của đức Phật bằng văn
xuôi, thường được gọi tổng quát là “KINH”. 2) Ứng tụng
(Trùng tụng): những bài kệ tụng dùng để tóm tắt ý nghĩa của
khế kinh, thường đặt ở sau và luôn luôn tương ứng với phần khế
kinh. 3) Kí biệt (Thọ kí): lời Phật thọ kí cho các đệ tử
sẽ thành Phật trong đời vị lai. 4) Phúng tụng (Cô khởi):
một bài kinh Phật dạy toàn dùng kệ tụng để diễn đạt; nhưng không
phải là những bài kệ tụng tóm tắt kinh văn “trường hàng” như thể
loại “Trùng tụng” (số 2 ở trên). 5) Tự thuyết: Phật tự mở
lời khai thị mà không đợi có người thỉnh cầu chỉ dạy. 6) Nhân
duyên: nêu lên cái nhân duyên đưa đến trường hợp thuyết giáo
của Phật – thường là phẩm “Tựa” ở đầu mỗi bộ kinh. 7)
Thí dụ: những thí dụ Phật đưa ra trong lúc giảng thuyết để
giúp thính chúng hiểu ý kinh dễ dàng hơn. 8) Bản sinh:
các kiếp tu hành đời trước của Phật do chính Ngài thuật lại.
9) Bản sự: những hành vi cùng phẩm hạnh của chư vị Bồ-tát và
thánh chúng đệ tử trong các kiếp trước do đức Phật thuật lại.
10) Phương quảng: kinh điển Phật nói có văn từ phong phú,
giáo nghĩa sâu xa rộng lớn; đặc biệt chỉ cho kinh điển đại thừa.
11) Hi pháp (Vị tằng hữu): những sự việc ít có của Phật
và chư vị đệ tử được ghi chép trong kinh. 12) Luận nghị:
những lời nghị luận rành mạch, rõ ràng của đức Phật nhằm giúp
thính chúng hiểu rõ về thể tánh của vạn pháp.
[18]
Quyền nghi và thật tướng: nói tắt là quyền và thật, là
hai thuật ngữ Phật học. “Quyền” nghĩa là phương tiện chỉ
dùng trong nhất thời, tùy trường hợp, hoàn cảnh, đối tượng mà
nói năng, hành động, xử sự cho được thích nghi, không cứ phải
chấp nê theo một khuôn thức cứng ngắc, nhất định nào cả.
“Thật” nghĩa là chân thật, chắc chắn, rốt ráo cùng cực, vĩnh
viễn không thay đổi; đó là mục đích thật sự phải đạt tới. Vậy,
“quyền” đồng nghĩa với “phương tiện”; và “thật”
đồng nghĩa với “cứu cánh”. Từ hai thuật ngữ này, trong
Phật học đã phát sinh nhiều thuật ngữ liên hệ, như: quyền
giáo, thật giáo; quyền trí, thật trí; v.v...
[19]
Hóa thân: là một trong ba thân của Phật, cũng gọi là ứng
thân, hay ứng hóa thân. Đó là thân tướng do Phật vì cảm ứng độ
sinh mà hóa hiện ra.
[20]
Tam muội: tức là định lực.
[21]
Báo thân: là một trong ba thân của Phật. Đó là hiện thân
chúng sinh của Phật, như thân người của đức Thích Ca Mâu Ni, có
32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, cũng chịu luật vô thường biến hoại với
đầy đủ bốn tướng trạng sinh già bệnh chết.
[22]
Pháp thân: là một trong ba thân của Phật. Đó là thân chân
thật, thường trú, không sinh không diệt của Phật.
[23]
Đệ nhất nghĩa: chân lí thâm diệu tuyệt đỉnh, không có gì
hơn.
[24]
Giác quán: “Giác” là suy cứu sự lí một cách sơ
lược – danh từ Duy Thức Học gọi là “tầm” (một trong bốn
tâm sở bất định); “quán” là suy cứu sự lí một cách tinh
tường, sâu sắc – danh từ Duy Thức Học gọi là “từ” (một
trong bốn tâm sở bất định). Nói chung, “giác quán” là ý thức hay
suy nghĩ, tìm hiểu, nghiên cứu để làm cho dồi dào kiến thức.
Giác và quán nếu được duy trì liên tục, có thể làm mất chánh
niệm, thân tâm lao tổn, cho nên chúng có thể làm chướng ngại cho
thiền định.
[25]
Ba căn: tức ba loại căn cơ hay căn tánh: thượng căn (căn
cơ cao), trung căn (căn cơ trung bình) và hạ căn (căn cơ thấp).
[26]
Hoằng Nhất (1880-1942): là vị cao tăng Trung-quốc đã có
công trung hưng Luật học của hệ phái Nam-sơn. Ngài họ Lí, tên
Quảng Hầu, hiệu Thúc Đồng, quê ở huyện Bình-hồ, tỉnh
Triết-giang. Ngài tính tình hào phóng mà điềm đạm, rất giỏi thi
văn từ phú, kiêm cả thư pháp, hội họa, khắc chữ. Năm 26 tuổi
ngài sang Nhật-bản, học trường Mĩ-thuật ở Thượng-dã, nghiên cứu
cả âm nhạc, thành lập ban kịch Xuân Liễu, được coi là người đi
đầu trong phong trào vận động nền kịch mới ở Trung-quốc. Sau khi
về nước, ngài vào dạy ở trường Công nghiệp Thiên-tân; sau đó lại
đi Thượng-hải làm chủ bút báo Thái Bình Dương, mượn văn
chương chữ nghĩa cùng hội họa để tuyên truyền cách mạng. Sau đó
ngài được trường Sư phạm Đệ nhất ở Triết-giang mời chủ trì các
khoa Hội họa và Âm nhạc. Tại đây, ngài cũng là người đầu tiên
đem giới thiệu các môn kịch nghệ, âm nhạc, hội họa của Tây
phương, mở ra một phong khí mới. Năm 1918, lúc đó ngài 39 tuổi,
ngài bỗng đem tất cả các tác phẩm của ngài như sách vở, tranh
vẽ, thư pháp v.v... tặng hết cho người, rồi đi xuất gia ở chùa
Đại-từ tại Hàng-châu. Chẳng bao lâu ngài thọ đại giới tại chùa
Linh-ẩn, Hàng-châu, pháp danh là Diễn Âm, hiệu là Hoằng Nhất.
Ngài thường than rằng, sở dĩ tăng giới thường bị người đời chê
trách là vì không tuân giữ giới luật, cho nên đã phát nguyện đem
hết khoảng đời còn lại để tinh nghiên giới pháp. Ban đầu ngài
học luật của Hữu bộ, sau đó thì chuyên hoằng dương Nam-sơn Luật
tông. Ngài chịu đựng khó nhọc, thường đi chân trần hoặc dùng
giày cỏ, một mình một gánh, vân du các xứ, giảng kinh hoằng
pháp. Năm 1942 ngài thị tịch, thọ thế 63 tuổi, tăng lạp 24 năm.
[27]
Đới nghiệp vãng sinh: là một thuật ngữ chuyên dùng trong
tông Tịnh Độ. Theo giáo nghĩa của tông này, người tu hành pháp
môn Niệm Phật, nếu điều kiện nhân duyên đầy đủ, dù chưa dứt hết
các nghiệp đời trước, khi mạng chung vẫn được vãng sinh về nước
Cực-lạc. Vãng sinh về đó rồi thì bao nhiêu nghiệp ác cũ không
còn có cách nào hiện hành được nữa, chỉ còn một cách tiêu mất mà
thôi. Như thế là hành giả cứ tinh tấn tu tập, không bị thối
chuyển, cho đến ngày thành Phật.
[28]
Vô sinh nhẫn: cũng gọi là “vô sinh pháp nhẫn”, hay
“vô sinh nhẫn pháp”. Chữ “nhẫn” ở đây có
nghĩa là an trú, tâm bất động. Hành giả tu tập, quán chiếu thấy
rõ thật tướng bất sinh bất diệt của các pháp, tâm an trú nơi
chân lí ấy, không còn hoài nghi, không còn vọng động, không còn
thối lui, tự tại vô ngại, gọi là “vô sinh nhẫn”.
[29]
Sáu niệm (lục niệm): tức là sáu đối tượng mà người tu học
luôn luôn nhớ nghĩ tới:
1) Niệm Phật: nhớ nghĩ tới Phật là bậc đại từ đại bi đại trí đại lực, gồm
đủ vô lượng công đức.
2) Niệm pháp: nhớ nghĩ tới Ba Tạng mười hai bộ kinh do Phật nói có công
năng đem lại lợi ích lớn lao cho chúng sinh.
3) Niệm tăng: nhớ nghĩ tới chư tăng có đầy đủ giới định tuệ, làm ruộng
phước tốt cho chúng sinh ở thế gian.
4) Niệm giới: nhớ nghĩ tới giới hạnh có năng lực rất lớn, có năng lực tiêu
trừ mọi phiền não xấu ác của chúng sinh.
5) Niệm thí: nhớ nghĩ tới hạnh bố thí có công đức rất lớn, làm tiêu trừ
tính xan tham của chúng sinh.
6) Niệm thiên:
nhớ nghĩ tới chư thiên trong ba cõi, do đời trước có căn lành
được nghe chánh pháp, tu trì tịnh giới, thực hành bố thí v.v...
mà hiện tại hưởng được quả báo an lành, sung sướng.
[30]
Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975): cũng gọi là Vĩnh Minh, hay
Diên Thọ, hoặc Vĩnh Minh Thọ thiền sư, vừa là tổ thứ 3 của phái
thiền Pháp Nhãn, vừa là tổ thứ 6 của tông Tịnh Độ Trung-quốc.
Ngài họ Vương, tự Trọng Huyền, vốn quê ở huyện Giang-ninh, tỉnh
Giang-tô, sau dời qua huyện Dư-hàng, tỉnh Triết-giang. Lúc trẻ
ngài làm quan trông coi về thuế vụ dưới thời vua Tiền Lưu của
nước Ngô-Việt (một trong 10 nước thời Ngũ-đại, 907-978,
Trung-quốc). Năm 30 tuổi ngài vào núi Tứ-ninh (Triết-giang), xin
xuất gia với thiền sư Thúy Nham ở chùa Long-sách. Sau đó ngài
đến núi Thiên-thai, xin tham yết quốc sư Đức Thiều tu tập thiền
quán, được truyền pháp, trở thành người thừa kế đời thứ 3 của
tông Pháp Nhãn. Ngài lại đến chùa Quốc-thanh, chuyên đọc tụng
kinh Pháp Hoa, và hành trì Pháp Hoa Sám Pháp. Sau
đó ngài đến trú tại núi Tuyết-đậu ở Minh-châu. Tại đây ngài ra
công hoằng pháp, đồ chúng theo học rất đông. Từ năm 961 (dưới
vương triều Tống) ngài trú tại chùa Vĩnh-minh (Tây-hồ,
Hàng-châu) cho đến cuối đời, nhiếp hóa đồ chúng đông đúc, khiến
nơi đây trở thành một đạo tràng quan trọng của cả hai tông phái
Thiền và Tịnh Độ. Ngài mỗi ngày hành trì 108 điều – mà hai điều
quan trọng nhất là tụng một bộ kinh Pháp Hoa và niệm Phật
mười vạn biến. Buổi tối lại ra một hang đá riêng để niệm Phật.
Tất cả công đức tu trì ngài đều hồi hướng về cõi Tịnh-độ. Ngài
viên tịch năm 975, thọ thế 72 tuổi, được vua ban thụy hiệu là
Trí Giác thiền sư. Ngài chủ xướng con đường “Thiền Tịnh song
tu”. Ngài có hai tác phẩm quan trọng: Tông Cảnh Lục (dung
hòa những dị đồng giữa ba tông Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Duy
Thức), Vạn Thiện Đồng Qui (trình bày yếu chỉ tông Tịnh
Độ).
[31]
Trường Lô Tông Trách (?-?): vị cao tăng đời Tống, vừa
thuộc thiền phái Vân Môn, vừa thuộc tông Tịnh Độ. Ngài họ Tôn,
người huyện Tương-dương, tỉnh Hồ-bắc, không rõ năm sinh và năm
viên tịch. Ngài mồ côi cha từ thuở nhỏ, được mẹ đem về nhà người
cậu nương náu, nuôi nấng cho tới ngày lớn khôn. Lúc đầu ngài học
Nho, mọi kinh sách thế tục đều thông suốt. Năm 29 tuổi ngài xin
xuất gia với thiền sư Viên Thông Pháp Tú ở chùa Trường-lô (tỉnh
Giang-tô), chẳng bao lâu thì tỏ ngộ thiền cơ, được thầy ấn khả.
Khoảng năm 1086 ngài được kế thế trụ trì chùa Trường-lô. Nghĩ
đến công sinh thành dưỡng dục của mẹ, ngài xây một căn nhà nhỏ ở
phía Đông phương trượng, mời bà về ở, rồi vân tập đại chúng đến
hộ niệm để làm lễ xuống tóc cho bà. Từ đó ngài khuyên bà chuyên
tâm niệm Phật. Sau 7 năm, một hôm, không đau ốm gì, bà an nhiên
giã từ cõi thế. Năm 1089, ngài noi theo qui củ của Bạch Liên Xã
ở Lô-sơn, lập ra Liên Hoa Thắng Hội tại chùa Trường-lô, khuyến
khích tứ chúng trì danh niệm Phật, cầu vãng sinh Tịnh-độ. Trước
tác của ngài có: Thiền Uyển Thanh Qui, Tịnh Độ giản Yếu Lục,
Niệm Phật Tham Thiền Cầu Tông Chỉ Thuyết, v.v...
[32]
Vân Thê Châu Hoằng (1532-1612): tức đại sư Liên Trì,
người quê Hàng-châu, sống vào đời Minh (1368-1661). Ngài họ
Thẩm, pháp danh Châu Hoằng, tự Phật Tuệ, hiệu Liên Trì. Lúc nhỏ
ngài học Nho, 17 tuổi đã nổi tiếng khắp trường huyện về học lực
lẫn hạnh kiểm; nhưng vì chịu ảnh hưởng của hàng xóm, nên tâm đã
sớm hướng về Phật pháp, bèn viết bốn chữ “SINH TỬ SỰ ĐẠI”
đặt trên bàn học, để tự cảnh giác mình. Vào tuổi trung niên ngài
quay hẳn về Phật giáo. Sau khi song thân đều mất, ngài đi xuất
gia, lúc đó đã trên 30 tuổi. Sau khi thọ giới cụ túc với đại sư
Vô Trần, ngài dốc chí vân du bốn phương để tham cầu học đạo. Năm
1571 ngài vào núi Vân-thê ở Hàng-châu, ẩn cư trong một ngôi chùa
bỏ hoang. Từ đó ngài chuyên trì pháp môn Niệm Phật tam muội,
giáo hóa quanh vùng, đồ chúng ngày càng đông, nơi đó bèn trở
thành một ngôi tòng lâm. Tuy chuyên tu Tịnh Độ, nhưng ngài cũng
hô hào “Thiền Tịnh song tu”. Đạo phong của ngài cao vọi, rất
nhiều sĩ phu quanh vùng được ngài giáo hóa. Năm 1612 ngài thị
tịch, thế thọ 81 tuổi. Người đời xưng ngài là Vân Thê hòa
thượng, hoặc Liên Trì đại sư, và là vị tổ thứ 8 của tông Tịnh
Độ. Trước tác của ngài có Vãng Sinh Tập, A Di Đà Kinh Sớ Sao,
Thiền Quan Sách Tấn v.v...
[33]
Minh: là một
thể văn (thường khắc trên bia) dùng để ca tụng công đức người
xưa, hoặc để cảnh tỉnh người sau.
[34]
Tiếu Lãnh Đức Bảo (1512-1581): Ngài họ Ngô, quê ở Kim-đài
(Bắc-kinh), là thiền sư tông Lâm Tế ở đời Minh. Ngài có hiệu là
Tiếu Nham, nên thường được người đời xưng là Tiếu Nham Đức Bảo
thiền sư. (“Tiếu Nham”, ở đây tác giả viết là Tiếu
Lãnh. hai chữ NHAM và LÃNH, ý nghĩa giống nhau nhưng tự dạng
và âm đọc khác nhau. Như vậy là có sự nhầm lẫn, nhưng chưa biết
do đâu.) Ngài mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, đến năm 20 tuổi gặp
duyên lành được nghe giảng Hoa Nghiêm Đại Sớ. Năm 22 tuổi
ngài xuất gia và thọ cụ túc giới với thiền sư Đại Tịch ở chùa Quảng-tuệ. Sau đó ngài vân du các nơi, tham học với hơn ba mươi
vị tri thức, rồi lại tới chùa Long-tuyền tham học với thiền sư
Vô Văn Minh Thông. Một hôm ngài xuống mé sông rửa rau, nhân vài
cọng rau rớt xuống nước, bị nước cuốn trôi đi, không vớt lên
được, mà ngài hốt nhiên khai ngộ, được thiền sư Minh Thông ấn
khả. Về sau ngài vào núi Chung-nam, giáo hóa đồ chúng ở các đạo
tràng Cao-tòa, Ngưu-thủ, Viên-thông v.v... Năm 1577 ngài về
Yên-kinh (Bắc-kinh) cất am ẩn cư, đến năm 1581 thị tịch, thế thọ
70 tuổi.
[35]
Ném kích (trịch kích)
là chỉ cho việc Đổng Trác (thời Tam-quốc) ném cây kích muốn
giết người con nuôi là Lữ Bố, chỉ vì hai cha con cùng giành nhau
một người đàn bà (Điêu Thuyền); ý nói là việc ác.
Đốt hương (phần hương) là chỉ cho việc thờ kính cúng
dường; ý nói là việc thiện.
[36]
Cao Phong Ngữ Lục: tức Cao Phong Nguyên Diệu Thiền Sư
Ngữ Lục, cũng gọi là Cao Phong Đại Sư Ngữ Lục, do
thiền sư Nguyên Diệu (1238-1295) soạn vào đời Tống.
[37]
Thiền sư Cao Phong: tức thiền sư Nguyên Diệu (1238-1295),
cũng gọi là Cao Phong Nguyên Diệu, hoặc Cao Phong Diệu, là vị
thiền sư thuộc tông Lâm Tế, sống vào thời đại nhà Tống. Ngài họ
Từ, hiệu là Cao Phong, quê ở huyện Ngô-giang (tỉnh Giang-tô).
Ngài xuất gia khi lên 17 tuổi, ban đầu tu học theo tông Thiên
Thai, sau chuyển qua tham thiền, đắc pháp với thiền sư Tuyết
Nhan Tổ Khâm (?- 1287). Năm 29 tuổi ngài ẩn cư ở chùa Long-tu
tại Lâm-an. Vào năm 32 tuổi, một hôm, tình cờ người bạn đồng
tham đẩy cái gối rớt xuống đất, nghe tiếng động ấy mà hoát nhiên
đại ngộ. Năm 45 tuổi ngài lên núi Thiên-mục ở Hàng-châu, kiến
tạo hai ngôi chùa Sư-tử và Đại-giác, độ đệ tử vài trăm người,
còn số người xin thọ giới với ngài có đến vài vạn. Năm 58 tuổi,
một hôm ngài thắp hương, nói kệ, rồi ngồi ngay ngắn thị tịch;
thụy hiệu là Phổ Minh Quảng Tế thiền sư.
[38]
Khuông-sơn tức là núi Lô-sơn (tỉnh Giang-tây), nơi ngài
Tuệ Viễn thành lập Bạch Liên Xã, khởi đầu cho pháp môn tu niệm
Phật cầu vãng sinh Tịnh-độ ở Trung-quốc. Vĩnh-minh là tên
chùa (ở tỉnh Triết-giang), là đạo tràng tu Tịnh Độ rất lớn dưới
sự dẫn dắt của thiền sư Diên Thọ.
[39]
Lăng-nghiêm đại định: tức là “Thủ-lăng-nghiêm tam
muội”, dịch âm từ tiếng Phạn “Suramgamasamadhi”, có
nghĩa là định lực rốt ráo (thủ-lăng), kiên cố (nghiêm),
nhiếp trì tất cả các pháp. Nó được gọi là “đại căn bản định”,
vốn có trong bản tánh của tất cả chúng sinh, nhưng chỉ có Phật
và hàng Bồ-tát ở Địa thứ mười (Thập-địa) trở lên mới chứng đắc
được.
[40]
Hai chướng sự và lí: tức hai thứ chướng ngại (nhị
chướng): - chướng ngại về lí, gọi là “sở tri
chướng”; - chướng ngại về sự, gọi là “phiền
não chướng”.
[41]
Chỉ tịnh (tĩnh): Chữ “chỉ” nghĩa là ngưng hết mọi
hoạt động; chữ “tịnh” (tĩnh) nghĩa là hoàn toàn yên lặng.
“Chỉ tịnh” là một thuật ngữ được dùng trong thiền môn,
chỉ cho lúc bắt đầu giờ tọa thiền và lúc đi ngủ.
[42]
Cơ phong: cũng gọi là “thiền cơ”, là một thuật ngữ
được dùng trong thiền môn, chỉ cho cái tác dụng mẫn nhuệ của tâm
để khế hợp với chân lí, khi một thiền tăng thọ giáo với một vị
thiền sư. Do sự phát lộ của “cơ phong” này mà vị thiền sư
thấy được trình độ tâm linh của người đối diện.
[43]
Vô sự: là một thuật ngữ Thiền học, có nghĩa là không mong
cầu gì cả. Có một phái Thiền chủ trương xa lìa tất cả tạo tác,
không dụng tâm cố sức tu tập để mong cầu chứng ngộ. Tập thiền
theo cách đó gọi là “vô sự thiền”.
[44]
Hình nhi thượng học: cũng gọi là “huyền học”, tức
là phần triết học về siêu hình, trừu tượng; trái lại là “hình
nhi hạ học”, tức là phần triết học hữu hình, cụ thể.
[45]
Nghi tình: là tâm trạng nghi hoặc, dụ dự, không quyết
định. “Nghi” là lí trí suy xét nhưng không nhận rõ được
lẽ thật hư, là trạng thái tâm lí không biết chắc rõ ràng, không
thể xác quyết là phải hay quấy. Khi có điều nghi ngờ, người ta
thường có khuynh hướng dùng triết lí để phân tích vấn đề, hoặc
quán sát trực tiếp vấn đề, để mong thấy rõ cái lí lẽ chân thật.
Như vậy, đặc tính của “nghi”, khởi đầu là nghi một hiện
tượng ngoại giới, rồi dần dần chuyển hướng vào nội giới, hình
thành một “khối nghi” - tức là “nghi tình”, làm
điều kiện dễ dàng cho trí quán chiếu trực tiếp phát sinh. Bởi
vậy, Thiền tông thường nhấn mạnh rằng, cái nghi lớn (đại
nghi) chính là cái tuyệt đối cần thiết cho sự tham thiền ngộ đạo.
Ví như có vị sư làm mất chiếc áo cà sa duy nhất, tìm không thấy,
cứ nhớ mãi trong lòng, niệm niệm không quên, để rồi lại đi tìm,
cho đến khi nào tìm thấy mới thôi. Cho nên, “nghi” là
điều tối quan trọng của hành giả tập thiền, có nghi mới có chứng
ngộ; và cái nghi đó được gọi là “chân nghi” (cái
nghi chính đáng). Không có cái nghi tình (chân nghi)
này thì sẽ không hi vọng có ngày chứng ngộ.
[46]
Theo Kinh Đại A Di Đà (cư sĩ Chi Khiêm dịch, nước Ngô,
thời Tam-quốc), 12 đức Phật đó là: Vô Lượng Quang, Vô
Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Đối Quang, Viêm Vương Quang, Thanh
Tịnh Quang, Hoan Hỉ Quang, Trí Tuệ Quang, Bất Đoạn Quang, Nan Tư
Quang, Vô Xưng Quang, và Siêu Nhật Nguyệt Quang.
[47]
Hương quang trang nghiêm: “Hương” tức là mùi hương
pháp thân Phật; “quang” tức là trí tuệ; “trang nghiêm”
tức là trang sức cho đẹp đẽ. Niệm Phật tức là đem mùi hương pháp
thân Phật và ánh sáng trí tuệ để trang sức cho bản tính giác ngộ
của chính mình, gọi là “hương quang trang nghiêm”.
[48]
Đoạn kinh văn này tác giả trích từ Kinh Lăng Nghiêm (do
sa môn Bát Lạt Mật Đế dịch ra Hán văn vào đời Đường); đó là đoạn
chót của quyển 5, từng được chư cổ đức đặt tựa đề là “Đại Thế
Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương”. Ở phần đầu của
quyển 5, đức Phật có hỏi các vị Đại Bồ-tát và Đại A-la-hán rằng:
“Nay tôi hỏi các ông: Lúc ban đầu mới phát tâm, trong mười
tám khu vực (thập bát giới), các ông chứng ngộ viên thông ở khu
vực nào? Và do phương tiện gì mà nhập vào chánh định?” Có
tất cả 25 câu trả lời cho câu hỏi của đức Phật; và đoạn kinh văn
trên là câu trả lời thứ 24 của Bồ-tát Đại Thế Chí. Để trả lời
câu hỏi của đức Phật, có vị chọn thanh trần, nhãn căn, thân
thức, v.v... Riêng Bồ-tát Đại Thế Chí thì đã không chọn
lựa một căn nào, mà thu nhiếp cả sáu căn, nhất tâm niệm
Phật, từ đó mà nhập vào chánh định.
[49]
Hai chữ “ức” và “niệm” có nghĩa gần giống như
nhau. “Ức” nghĩa là ghi giữ trong tâm, không để quên mất,
tức là “nhớ”, trái lại với “quên”; “niệm” là nghĩ tới,
không xa rời, cũng tức là nhớ.
[50]
“Tín” là lòng tin sâu sắc đối với đức Phật A Di Đà và thế
giới Cực-lạc; “nguyện” là tâm tha thiết nguyện cầu được
vãng sinh về cõi Cực-lạc; “hạnh” là hành trì pháp môn
niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn để được vãng sinh về
Cực-lạc.
[51]
Đoạn kinh văn này nằm trong chương “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm
Phật Viên Thông” vừa được trích ở bên trên.
[52]
Đây là hai câu chót trong bài ca dao “Quan Thư”, là bài
đầu tiên trong thiên “Quốc Phong” của bộ Kinh Thi
(Trung-hoa). Bài ca dao ấy như sau:
Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu
(nghĩa là: Ở
bãi sông có đôi chim thư cưu, cất tiếng kêu “quan quan” tỏ ý
cùng nhau thương yêu hòa hợp. Có người con gái xinh đẹp dịu dàng
yểu điệu, sánh đôi với người quân tử thật là tốt đẹp.)
[53]
Từ “Vô-học” ở đây được dùng để chỉ các vị đệ tử Phật đã
chứng thánh quả A-la-hán. Các vị này đã dứt hết phiền não, tu
tập thành công, thoát ra ngoài ba cõi, chứng nhập niết bàn,
không còn phải tu học gì nữa, nên gọi là bậc “Vô-học”. Trái lại,
các vị hành giả từ quả A-na-hàm trở xuống, còn phải tinh tấn tu
học để chứng quả A-la-hán, nên gọi là bậc “Hữu-học”. Đó là
Thanh-văn thừa. Giống như quả vị A-la-hán của Thanh-văn thừa,
quả vị Bích-chi Phật của Duyên-giác thừa cũng gọi là bậc Vô-học.
Ở Bồ-tát thừa thì quả vị Diệu-giác (Phật) được gọi là bậc
Vô-học, còn từ địa vị Đẳng-giác trở xuống đều thuộc hàng
“Hữu-học”.
[54]
Bảy đức Phật: cũng nói là bảy đức Phật quá khứ, tức đức
Phật Thích Ca Mâu Ni và sáu đức Phật ra đời trước Ngài, đó là:
Phật Tì Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tì Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn,
Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp, và Phật Thích Ca Mâu Ni.
[55]
25 pháp môn viên thông của 25 vị Vô-học và Bồ-tát:
1) Tôn
giả Kiều Trần Như (viên thông thanh trần)
2) Tôn giả Ưu
Ba Ni Sa Đà (sắc trần)
3) Tôn giả
Hương Nghiêm (hương trần)
4) Bồ-tát Dược
Vương và Dược Thượng (vị trần)
5) Bồ-tát Bạt
Đà Bà La (xúc trần)
6) Tôn giả Đại
Ca Diếp (pháp trần)
7) Tôn giả A
Na Luật (nhãn căn)
8) Tôn giả Chu
Lị Bàn Đà Già (tị căn)
9) Tôn giả
Kiều Phạm Ba Đề (thiệt căn)
10) Tôn giả
Tất Lăng Già Bà Tha (thân căn)
11) Tôn giả Tu
Bồ Đề (ý căn)
12) Tôn giả Xá
Lợi Phất (nhãn thức)
13) Bồ-tát Phổ
Hiền (nhĩ thức)
14) Tôn giả
Tôn Đà Lị Nan Đà (tị thức)
15) Tôn giả
Phú Lâu Na (thiệt thức)
16) Tôn giả Ưu
Ba Li (thân thức)
17) Tôn giả
Mục Kiền Liên (ý thức)
18) Tôn giả Ô
Sô Sắt Ma (hỏa đại)
19) Bồ-tát Trì
Địa (địa đại)
20) Bồ-tát
Nguyệt Quang (thủy đại)
21) Bồ-tát Lưu
Li Quang (phong đại)
22) Bồ-tát Hư
Không Tạng (không đại)
23) Bồ-tát Di
Lặc (thức đại)
24) Bồ-tát Đại
Thế Chí (căn đại - nhiếp cả 6 căn)
25) Bồ-tát Quán Thế Âm (viên thông nhĩ căn)
[56]
Nhập lưu – vong sở: “Lưu” nghĩa là dòng; có hai
dòng xuôi ngược: một chiều là dòng thánh (hay dòng giải thoát,
dòng niết bàn), một chiều là dòng phàm phu (hay dòng vọng
nghiệp, dòng sinh tử). Khi nói “nhập lưu” thì có
nghĩa là vào dòng thánh; trái lại là “xuất lưu”,
tức là xa lìa dòng thánh mà xuôi theo dòng sinh tử. “Nhập
lưu” cũng tức là “nghịch lưu”, nghĩa là
đi ngược dòng sinh tử để nhập vào dòng niết bàn; trái
lại là “thuận lưu”, tức là trôi xuôi theo dòng sinh tử.
Chữ “sở” ở đây là chỉ tất cả những gì nghe được, tức là
thanh trần. “Vong sở” tức là quên đi cái sở-văn,
cũng tức là xa lìa thanh trần. Trong kinh Lăng Nghiêm,
khi đức Bồ-tát Quán Thế Âm trình bày về pháp môn Nhĩ Căn Viên
Thông (tức pháp môn thứ 25 vừa nói trên) của mình, có nói:
“Sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở, sở nhập kí tịch,
liễu nhiên bất sinh......” (Đầu tiên là ở trong tánh nghe,
nhập vào dòng, quên sở-văn, sở và
nhập đã vắng lặng thì hai tướng động và tĩnh tuyệt nhiên
không phát sinh......) Vậy, hai từ “nhập lưu” và
“vong sở” ở đây, đều là những dụng ngữ đặc biệt
của kinh Lăng Nghiêm, nói lên một phần giáo nghĩa chủ yếu
của kinh Lăng Nghiêm, nhất là trong pháp tu Lăng-nghiêm
đại định.
[57]
Tâm phan duyên: tức tâm ý luôn luôn theo đuổi, nắm bắt
hết đối tượng này đến đối tượng khác, hết trần cảnh này đến trần
cảnh kia, từ đó mà khởi vọng niệm, sinh phiền não, gây tội
nghiệp.
[58]
Đạo Tín (580-651): là vị tổ thứ tư của Thiền tông Trung-quốc, là đệ tử đắc pháp của tổ thứ
ba Tăng Xán (?-?), và là thầy của tổ thứ năm Hoằng Nhẫn
(602-675). Ngài họ Tư-mã, quê ở huyện Quảng-tế, |