NIỆM
PHẬT VÔ
TƯỚNG
(Lí Luận và Nhập Môn Pháp Môn Niệm
Phật Viên Thông của Bồ Tát Đại Thế Chí)
Nguyên
tác Hoa văn của Tiêu Bình Thật cư sĩ
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch ra Việt văn
NIỆM
PHẬT VÔ TƯỚNG (VÔ TƯỚNG NIỆM PHẬT)
Nguyên tác Hoa văn của Tiêu Bình Thật cư sĩ (Đài-loan)
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch, giới thiệu, chú thích bổ túc, đánh máy,và
trình bày trang sách
Nữ cư sĩ Tịnh Kiên đọc và sửa chữa bản thảo
Chương Hai
THIỀN TỊNH DUNG THÔNG, THIỀN TỊNH SONG TU
I. THIỀN TỊNH DUNG
THÔNG
Ở thời kì mạt pháp,
thường có nhiều đệ tử Phật, nhân vì tu tập các pháp môn khác nhau mà
sinh ra phê bình cao thấp, tranh luận lẫn nhau; điển hình rõ nhất là các
hành giả tu Tịnh Độ và tu Thiền.
Một số người tu thiền
cho rằng, đại đa số những người niệm Phật là tâm cầu hướng ngoại, như
cầu Phật, cầu Bồ-tát, chỉ biết niệm Phật mà không biết nhiếp phục ở
trong tự thân, không biết khai mở Phật tánh vốn có đầy đủ của mình. Một
số người niệm Phật thì cho rằng, người tu thiền là tự cao, cuồng vọng,
không biết pháp môn niệm Phật có thể trùm khắp ba căn[25],
thu gồm cả lợi căn và độn căn. Những người có thành kiến như vậy là bởi
vì họ chưa từng vào sâu trong hai pháp môn Thiền và Tịnh Độ, cho nên mới
có sự hiểu lầm; từ đó mà đưa đến nội bộ gây chiến lẫn nhau, hoặc phê
bình lời qua tiếng lại, hoặc viết sách báo bút chiến, vừa để cho người
ngoài đàm tiếu, vừa khiến cho những người mới học Phật sinh thối tâm,
quay sang đạo khác. Đó là làm đứt mất huệ mạng của người, tội rất lớn
vậy. Đại sư Hoằng Nhất[26]
nói rất đúng: “Không thua người xưa, gọi là người có chí; không
nhường người nay, gọi là người không có độ lượng.” Kẻ hậu học này
quan niệm rằng, khi chưa hiểu rõ pháp môn tu tập của người khác thì
không nên theo ý chủ quan của mình mà phê bình người ta. Chúng ta phải
hiểu rõ, hiểu sâu, và thực tế tu trì trong một thời gian, chứng nhập
chút ít vào cảnh giới rồi, mới có thể với thành tâm thiện ý đem trình
bày kiến giải của mình cho người nghe.
Trong thời cận đại có
nhiều bậc cao tăng đại đức từng cổ vũ cho thuyết
“Thiền Tịnh song tu”, nói rằng, Thiền và Tịnh Độ có thể dung
thông nhau. Rồi có một số người vừa nghe thế liền sinh tâm nghi hoặc,
bảo rằng, niệm Phật phải chấp trì thánh hiệu, miệng đọc tâm niệm; người
tu quán thì có hình tượng của Phật. Nhưng thiền môn thì lấy cái không
cửa làm cửa, tẩy trừ tất cả hình tướng, chủ trương dứt tuyệt ngôn ngữ,
diệt hết tâm hành. Như thế thì làm sao mà dung thông nhau? Làm sao có
thể song tu?
Thật ra, mối nghi hoặc
trên chỉ có trong tâm những người sơ cơ mới bước vào cửa Phật. Nếu hành
giả đã có năng lực thâm nhập một môn, thì sẽ phát giác ra rằng, tất cả
môn đều thông nhau, rốt cuộc thì tất cả đều không sai khác. Chúng ta có
thể nói như thế này: “Tất cả các pháp môn tu hành đều chảy về thiền
định; tất cả kết quả tu hành đều chảy về tịnh độ.” Phật pháp tuy có
đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhưng mỗi một pháp môn nào, đến chỗ tối
hậu cũng qui về định; nhân nơi định mà y vào bốn thánh đế, tám chánh
đạo, mười hai nhân duyên, đệ nhất nghĩa đế v.v... để phát huy, tự thấy
Phật tánh, đoạn trừ phiền não.
Người niệm Phật ở thế
giới này, tu pháp môn niệm Phật mà ngộ nhập Phật tánh là như thế; đới
nghiệp vãng sinh[27]
về thế giới Cực-lạc, sau khi hoa sen nở được thấy Phật nghe pháp mà
chứng nhập vô sinh nhẫn[28]
(xin xem chú thích số 2 của tác giả ở cuối sách),
cũng lại như thế. Cho nên tất cả pháp môn
tu hành đều phải qui về thiền định.
Do đó, nói theo nghĩa
rộng, tám vạn bốn ngàn pháp môn, bao hàm cả các loại pháp môn tịnh độ,
đều thuộc trong phạm vi thiền định, mà việc tu trì tám vạn bốn ngàn pháp
môn, chỉ cần có tu có chứng, thì ít nhiều cũng chứng được “duy tâm tịnh
độ”. Nếu đạt đến địa vị Vô-học (xin xem chú thích số 3 của tác
giả ở cuối sách) thì an trú niết bàn,
là tịnh độ chân thật. Đến địa vị đó rồi thì tùy ý được sinh về ba loại
tịnh độ của chư Phật là Phàm-thánh đồng-cư độ, Phương-tiện hữu-dư độ, và
Thật-báo trang- nghiêm độ. Nếu chứng nhập quả vị Phật thì tự an trú nơi
Thường-tịch-quang độ, là duy tâm tịnh độ, là loại tịnh độ chân chính,
cứu cánh, không giống như ba loại tịnh độ trước, là những tịnh độ do chư
Phật hóa hiện để hóa độ. Cho nên, thiền định là phương pháp, mà tịnh độ
là kết quả. Đã hiểu rõ như thế rồi thì chẳng cần phải tranh chấp lẫn
nhau giữa Thiền và Tịnh Độ.
Đệ tử Phật tu học
thiền định ở thế giới này, đó là con đường khó đi, mà cũng là con đường
chóng thành. Vãng sinh thế giới Cực-lạc là con đường dễ đi, nếu người có
đầy đủ công phu niệm Phật vô tướng này, muốn vãng sinh về tịnh độ
Cực-lạc, chỉ trong một đời này có thể toại nguyện; nếu đứng trên phương
diện chứng đắc cảnh giới giải thoát rốt ráo mà nói, người vãng sinh tịnh
độ Cực-lạc phải cần thời gian trội hơn mười, trăm, ngàn, vạn lần đối với
người tu hành ở thế giới này. Nhưng vấn đề đó không thuộc phạm vi của
cuốn sách này, nên không đề cập tới.
II. NHỮNG VÍ DỤ ĐIỂN
HÌNH về THIỀN TỊNH SONG TU
Thiền của đại thừa đạt
được cảnh giới giải thoát rốt ráo là do khởi tâm ở chỗ vô trụ. Vì khởi
tâm ở chỗ vô trụ cho nên sáu niệm đều đầy đủ. – Sáu niệm là: niệm Phật,
niệm pháp, niệm tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên[29].
Trong sáu niệm này thì Niệm Phật là đứng đầu; và niệm Phật thì thông với
Tịnh Độ, mà năm niệm kia cũng thông với Tịnh Độ. Thiền của đại thừa đạt
được cảnh giới giải thoát rốt ráo, tức là thấy rõ Phật tánh một cách
trọn vẹn, mới chứng nhập được tri kiến Phật; nhân đó mà chứng được cảnh
giới “duy tâm tịnh độ”. Vì vậy cho nên Thiền và Tịnh Độ có thể thông
nhau.
Trong lịch sử Phật
giáo có rất nhiều vị thiền sư từng cổ xúy pháp môn niệm Phật. Thực sự
ra, người tham thiền cũng nên lạy Phật và niệm Phật, lấy đó làm phương
tiện nhập môn; và cũng không thiếu gì các tự viện của tông Tịnh Độ từng
đề xướng sinh hoạt tham cứu niệm Phật. Như thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ[30]
đề xướng tông chỉ “tông - giáo - thiền - tịnh”. Lại như ngài Trường Lô
Tông Trách[31]
đã do thiền mà ngộ nhập, liền chủ trương Thiền Tịnh song tu, được người
đời xưng là Từ Giác đại sư. Về Thiền tông, ngài trước tác bộ Thiền
Uyển Thanh Qui, gồm 10 quyển; về Tịnh Độ tông ngài cũng có nhiều tác
phẩm, như Tịnh Độ Giản Yếu Lục, trong đó ngài chủ trương “Niệm
Phật tham thiền, mỗi pháp đều cầu tông chỉ. Khe, núi tuy khác; mây,
trăng là đồng. Có thể nói, cây xanh khắp nơi đều có thể buộc ngựa, mọi
người khắp chốn đều có thể thấy rõ thành Trường-an.”
Nổi tiếng hơn hết là
thiền sư Vân Thê Châu Hoằng[32]
ở cuối đời Minh, từng được những người tu niệm Phật tôn xưng là Liên Trì
đại sư. Trong bài “minh”[33]
ở tháp của đại sư Liên Trì có ghi: “Một bầu nước, một cây gậy, ngài
vân du các nơi, tham học chư vị tri thức. Lên núi Ngũ-đài ở phía Bắc,
được đức Văn Thù cảm ứng phóng hào quang. Đến núi Phục-ngưu theo chúng
trị ma. Vào kinh sư yết kiến thiền sư Tiếu Lãnh Đức Bảo[34].
Thiền sư Tiếu Lãnh nói: ‘Quái! Ngươi từ ngoài ba ngàn dặm đến cầu ta
khai thị. Ta có gì khai thị?’ Ngài bèn từ tạ và đi về hướng Đông,
giữa đường nghe tiếng trống phát ra từ một căn nhà sàn của người tiều
phu, hốt nhiên đại ngộ! Ngài liền nói bài tụng rằng:
Hai
mươi năm trước việc còn nghi
Ngàn dặm gặp nhau thật lạ kì
Ném kích đốt hương[35]
toàn giấc mộng
Phật ma không luận thị cùng phi
Cả ý niệm về giáo
pháp và giác ngộ đều triệt tiêu, qui về tâm vô sở đắc. Ban đầu ngài khởi
bước vân du, từ nơi công phu tham cứu niệm Phật là có được năng lực; đến
đây bèn khai pháp môn Tịnh Độ, nhiếp hóa cả ba loại căn tánh. Ngài trước
tác bộ
Di Đà Sớ Sao, gồm đến mười vạn lời, để
cực lực cổ xúy cho chủ trương của mình, là dung hội sự lí, chỉ qui về
tâm. Ngài lại nhớ ngày trước có xem tác phẩm Cao Phong Ngữ Lục[36],
thấy rằng, từ khi tham cứu việc này cho đến nay, cái tinh nhuệ nhất,
không gì trội hơn sự đào luyện thuần thục của thiền sư Cao Phong[37];
đó là hướng vào nội tâm mà cầu đạo. Ý của ngài lúc đó là gom nhập
Khuông-sơn và Vĩnh-minh[38]
làm một, lại sao lục những lời nói khẩn yếu trong lúc gặp cơ duyên của
chư vị cổ đức, biên thành sách Thiền Quan Sách Tấn, đồng thời cho
khắc lên đá, nêu những khẩu quyết cho người tham cứu, nêu rõ chủ trương
Thiền Tịnh song tu, không ra ngoài một tâm.”
Từ những ghi chép
trên, có thể thấy đại sư Liên Trì, từ lúc ban đầu do tham cứu niệm Phật
mà có được năng lực, rồi lại do tham thiền mà chứng nhập lí tánh; nhân
đó mà đề xướng chủ trương “Thiền Tịnh song tu”, soạn sách
Di Đà Sớ Sao gồm mười vạn lời, làm cho các hành giả Tịnh Độ chan
chứa niềm vui đạo vị; một tác phẩm trọng yếu khác của ngài là Thiền
Quan Sách Tấn, thì “Trong đời sống, đi thì mang đãy, ở thì đặt
án, một lần xem thì tâm chí được khích lệ, thần thái tươi tỉnh, ở cái
thế bắt buộc phải tiến tới trước.” Suốt một đời, ngài y theo sách
Thiền Quan Sách Tấn ấy để tự thúc đẩy mình tiến tới cảnh giới giải
thoát rốt ráo. Tác phẩm trứ danh ấy cũng còn được chư vị thiền giả đời
sau rất mực tôn sùng.
Ngài Vân Thê Châu
Hoằng đã đem kiến giải của một vị thiền sư mà đề xướng pháp môn “Thiền
Tịnh song tu”, không những cổ xúy phương pháp trì danh niệm Phật – gọi
là “sự trì”, mà cũng còn đề xướng phương pháp tham cứu niệm Phật
– gọi là “lí trì”; như dạy người tham cứu câu “Niệm Phật là
ai?”, đó tức là Thiền Tịnh song tu. Những vị được hành giả tu Tịnh
Độ tôn làm tổ sư trọng yếu của tông Tịnh Độ, như thiền sư Vĩnh Minh Diên
Thọ thuở trước, cũng như vậy, tức là do kinh nghiệm tu chứng của một
thiền sư mà thấy biết sâu xa cái đạo lí “tất cả các pháp môn tu hành đều
chảy về Thiền Định, tất cả các kết quả của công phu tu hành đều chảy về
Tịnh Độ”; cho nên biết rằng, Thiền Tịnh có thể thông nhau.
III. SƠ LƯỢC về THIỀN
TỊNH SONG TU
Nói chung người niệm
Phật, phần đông những người chấp trì danh hiệu Phật đều là niệm Phật
trong tán loạn. Tuy gọi là niệm Phật, nhưng có lẽ cái thời gian nổi vọng
tưởng chiếm phần nhiều. Người có chút ít tinh tấn, khi phát giác thấy có
vọng tưởng, liền vội vàng trở về với danh hiệu Phật. Người thật sự có
tinh tấn, khi niệm Phật, không những trong tâm mặc niệm danh hiệu Phật,
mà đồng thời cũng nghĩ nhớ tới Phật. Cuối cùng là khi niệm Phật, danh
hiệu Phật không còn khởi hiện mà trong tâm vẫn niệm Phật, đó là lúc tiến
vào cảnh giới “vô tướng”; đó cũng là điều mà người ta thường nói là
“Niệm Phật, niệm cho đến khi không còn Phật có thể niệm.” Đi đứng
ngồi nằm, luôn luôn ở trong cảnh giới vô tướng niệm Phật; đó là bước đầu
nhập môn vào pháp môn niệm Phật viên thông của Bồ-tát Đại Thế Chí. Lúc
bấy giờ tâm chuyên nhất không tán loạn, tịnh niệm nối tiếp nhau, không
có hình tướng Phật, không có danh hiệu Phật. Vẫn niệm Phật không bỏ,
hưởng được niềm vui đạo pháp, cùng cực khinh an. Người niệm Phật đạt đến
trình độ này là đã cùng thông với pháp môn thiền định, thì tự nhiên có
thể khán thoại đầu, tham công án; đó chẳng phải là Thiền Tịnh dung thông
ư?
Nếu người niệm Phật,
từ chỗ lạy Phật và xưng niệm danh hiệu Phật mà tiến vào cảnh giới vô
tướng niệm Phật, muốn tu Lăng-nghiêm đại định[39],
cần phải có sẵn những kiến thức về tu định, đồng thời phải đọc kĩ kinh
Lăng Nghiêm; trong mọi hoạt động của đời sống hằng ngày đều niệm
Phật vô tướng, và mỗi ngày cũng nên chọn một thời giờ cố định để tĩnh
tọa niệm Phật vô tướng. Đợi đến khi hai chướng sự và lí[40]
đều tiêu trừ thì tự nhiên dần dần vào sâu Lăng Nghiêm đại định, chứng
đắc các loại niệm Phật tam muội (xin xem chú thích số 4 của
tác giả ở cuối sách).
Có những người niệm
Phật hoặc trì chú khác, trong mọi sinh hoạt hằng ngày, trong tâm chấp
trì danh hiệu Phật hoặc một thần chú cố định, niệm niệm không quên lãng,
đồng thời cũng chọn một thời gian cố định trong ngày để tĩnh tọa, từ một
đến hai giờ đồng hồ, trong lúc ngồi thì chắp tay hoặc bắt ấn, chuyên
tụng danh hiệu Phật hoặc câu chú; lúc đầu thì miệng tụng tai nghe, tâm ý
theo sát danh hiệu Phật hoặc câu chú, không gấp gáp, không chậm rãi,
chuyên chú xưng niệm; tâm tán loạn dần dần tập trung, an định, thư thái,
tự tại, không bị cái gì níu kéo, cũng không vướng mắc vào cái gì. Người
có trí tuệ, lúc bấy giờ trong miệng vẫn an tường tụng niệm không ngừng,
mà trong tâm thì không còn nhớ tới tiếng niệm Phật hay tụng chú, dần dần
tiến vào trong định (lúc vào không biết vào, đến lúc ra mới biết là mình
vừa vào định), mất hẳn cái ý niệm về thời gian và không gian. Lúc bấy
giờ tuy trong miệng vẫn niệm Phật tụng chú, mà sự thật thì tâm đã vào
định. Cũng có người niệm Phật trì danh, vào lúc chỉ tịnh[41],
tâm niệm và tâm nghe tập trung làm một, danh hiệu Phật không khởi, an
trụ nơi một niệm tương tục là nhớ Phật, cuối cùng thì mất hết dấu vết mà
vào định. Cảnh giới này cũng là định lực đầy đủ, mà chỉ có những người
đã chuẩn bị đầy đủ tri kiến về tu định mới có thể thực tập được. Đạt đến
trình độ này thì Tịnh Độ đã thông với Thiền Định.
Những điều vừa trình
bày trên, vẫn chỉ là “sự nhất tâm” và thứ lớp của định; “lí nhất tâm”
thì tương ưng với chân lí, cũng tức là chính mình thấy rõ Phật tánh (tự
tánh) mình vốn có đầy đủ. Điều mà người ta gọi là “Di Đà tức là tự
tánh, Tây-phương không rời gang tấc”, cái cảnh giới “tự tánh Di Đà,
duy tâm Tịnh-độ” tự nhiên hiện bày trước mắt; đó chính là cái cảnh giới
chứng ngộ của Thiền. Nếu không thực tập pháp môn “Thiền Tịnh song tu”
thì không thể nào đạt đến được. Hành giả, bất luận là tham thoại đầu,
công án, hay cơ phong[42],
hoặc do ở sự tham cứu niệm Phật mà chứng nhập chân lí, thì bản chất của
tất cả các loại công phu ấy vẫn là thiền. Tuy cách thức phát khởi thiền
của các loại công phu ấy không giống nhau, nhưng cái cảnh giới chứng
nhập sau khi đã lên địa vị Kiến-đạo, hoàn toàn không khác; mà cái quá
trình tham cứu để chứng nhập chân lí cũng không sai khác. Bởi vậy mà chủ
trương Thiền và Tịnh Độ bổ sung cho nhau, trợ giúp cho nhau, không cần
phải phân biệt cái kia với cái này.
Sau đây xin chép lại
một đoạn nguyên văn trong quyển 3 của bộ Di Đà Sớ Sao của thiền
sư Vân Thê Châu Hoằng (tức Liên Trì đại sư), hành giả có thể do đây mà
có một cái nhìn toàn diện:
“Thể cứu nghĩa là
nghe danh hiệu Phật, không những chỉ có nhớ nghĩ, mà còn phải quán sát
ngược lại chính mình, xem xét kĩ càng, thấy rõ nguồn cội. Xem xét đến
chỗ cùng cực thì tự nhiên khế hợp với bản tâm mình. Nếu bảo danh hiệu
Phật là có, thì cái tâm ‘năng niệm’, bản thể vốn không, cho nên
Phật mà mình niệm, hoàn toàn không thể nắm bắt được. Nếu bảo là
không, thì cái tâm ‘năng niệm” sáng suốt, không mơ hồ, cho nên
Phật mà mình niệm, hiển lộ rõ ràng. Nếu bảo là cũng có cũng không,
thì cả có niệm và không niệm đều chấm dứt. Nếu bảo là chẳng phải có
chẳng phải không, thì cả có niệm và không niệm đều tồn tại. Chẳng
phải có thì thường vắng lặng; chẳng phải không thì thường chiếu soi;
không phải cũng có cũng không, không phải chẳng phải có chẳng
phải không, thì không vắng lặng không chiếu soi, mà vừa chiếu soi
vừa vắng lặng. Dứt đường ngôn thuyết, tuyệt đường tư duy; không làm sao
khởi được tên, hiện được tướng, cho nên chỉ có
‘nhất tâm’. Do thấy được chân lí mà gọi là
‘lí nhất tâm’
vậy. Tuệ có năng lực soi vọng; kèm thêm
định thì soi vọng vốn không, vọng tự điều phục. Lại nữa, chiếu soi có
thể phá trừ vọng, không phải chỉ điều phục mà thôi.”
Lại một đoạn khác:
“Hai chữ tham và nghi, không cần phải phân giải. ‘Nghi’ là tên khác của
tham, đều là cái ý xem xét kĩ càng. Nhưng, khán câu
‘Niệm Phật là ai?’, thì lấy sự chứng ngộ làm chuẩn tắc mới thôi. Lại
nữa, cổ nhân nói rằng: Khán thoại đầu, không nên đoán mò, bóp méo, cũng
không được ném vào trong cái vỏ vô sự[43].
Chỉ ‘nhìn như vậy’. Đó là lời nói cốt yếu vậy.”
Những lời dạy của đại
sư Liên Trì về tham cứu niệm Phật và thể cứu niệm Phật vừa được ghi lại
ở trên, từ lúc khởi đầu tham cứu câu “Niệm Phật là ai?”, cho đến
khi cảnh giới giác ngộ hiện ra trước mắt, thì ở cái khoảng giữa Thiền và
Tịnh Độ hiển bày, là vô cùng mật thiết. Bất luận là từ niệm Phật mà ngộ
nhập, hoặc do tham thiền mà ngộ nhập, bản chất của chúng đều là Thiền.
Bất luận là ở nơi thế giới này niệm Phật mà ngộ nhập, hoặc sau khi vãng
sinh về thế giới Cực-lạc được nghe Phật và Bồ-tát thuyết pháp mà ngộ
nhập, thì bản chất của chúng vẫn không gì khác hơn là Thiền. Và cái cảnh
giới giác ngộ của hai con đường đó cũng chỉ là một, không hai, không
khác.