Những truyện Niệm Phật cảm ứng
mắt thấy tai nghe
Tác giả: LÂM KHÁN TRỊ
Người dịch: THÍCH HOẰNG CHÍ
|
MỤC
LỤC
- Lời người dịch
- Lời tựa
- Lời nói đầu
Một câu Phật hiệu
khởi tử hồi sinh
Bồ tát thị hiện
khuyến hóa niệm Phật
Phật A Di Đà phóng
quang gia bị
Mẹ già
niệm Phật, con được tai qua nạn khỏi
Chị lạy Phật,
em trai được nhờ phước
Phật vốn là y vương có thể trị dứt các chứng bệnh
Trợ giúp cha vãng sanh Tây phương thật là đại hiếu
Vốn đến đòi
nợ, niệm Phật được giải oan
Bị tai nạn giao thông nhờ niệm Phật được cấp cứu
Xe hư, niệm Phật
được hiệu lực
To tiếng niệm
Phật, đuổi được oan hồn
Niệm Phật có thể độ được hung thần ác sát
Bên bờ sống
chết, được cứu sống lại
Nơi ở của
hung thần hoá thành tốt lành
Thuốc A Già Đà trị
dược vạn bệnh
Thuốc
đại bi khiến cho thai đã chết sống lại
Té
xuống lầu bị thương, qua ngày sau không sao
Bồ tát gia bị
khai mở trí tuệ cho tôi
Chí tâm niệm Phật, khắc phục được tai nạn gió lửa
Đến lúc việc xảy ra mới ôm chân Phật cũng có kết quả
Té xuống
kênh rạch niệm Phật được cứu
Bụng đau khó
chịu, bà ngoại dựa vào
Niệm
Phật: nước rút, người và vật đều bình an
Xe lật, được bình an vô
sự
Xe ba bánh rớt xuống khe một phen thất kinh hồn vía
Nhành dương rải vào thân, cái đau ở ngực liền tiêu
Đức Di Đà tiếp dẫn, cả nhà ánh hào quang kim sắc
Con khỉ sắp bị giết được chuộc mạng biết lạy Phật
Con chó
đầy đủ căn lành theo chủ nghe pháp
Khóa tụng sớm tối,
rắn đến nghe
Cô hồn có
tánh linh theo người nghe kinh
Một đạo bạch
quang tiếp dẫn người mất
Trợ niệm cho người vãng sanh Tây phương, công đức vô lượng
Bàn
luận trống rỗng vô ích, quỷ thần tính nợ
Bạch y nữ nhân
trong mộng cho thuốc
Con
khỉ, cái móc câu – phúc đến lòng sáng ra
Trong mộng
niệm Phật, gặp dữ hóa lành
Con mèo đòi nợ, yêu
cầu siêu độ
Cháu gái nói chuyện phạm lỗi với ma quỷ, nhờ niệm Phật giải oán
Việc sanh
tử của ai, tự người đó giải quyết
Thường
niệm Phật được thoát khỏi tai nạn
Cành
trúc báo bình an, rớt xuống nước được cứu
Ở cõi đời này được nghe thiên nhạc ở hư không
Một tiếng
Di Đà, khiến xe được ngừng lại
Địa Tạng Bồ tát
chỉ điểm bình an
Chí thành niệm Phật được vãng sanh sắc diện hòa vui
Diêm Vương cũng sợ
Phật A Di Đà
Trong mộng
niệm Phật, cứu mẹ thoát hiểm
Lúc giải phẫu khoét thịt ở cánh tay, thần thức dạo chơi thiên
đường
Nghiệp
lực cản trở khiến nhân hết quả dứt
Vợ chồng thổ địa quy
y Tam Bảo
Cô dâu niệm
Phật lật xe được vô sự
Sát sanh phải bị
quả báo đoản mạng
Dát vàng trang nghiêm tượng Phật, lửa nhảy qua khỏi nhà
Chuyện
cảm ứng chuyển nghiệp kỳ diệu nhất
Niệm Phật chuyển nghiệp hưởng thọ phước báo
Phật, Bồ tát
không phụ người chí tâm
Tai nạn bị treo ở sườn núi, nguy hiểm kinh sợ, rốt cuộc không sao
Đứng
chấp tay mỉm cười vãng sanh Tây phương
Hiện bốn tướng lành, nhất định vãng sanh
Bệnh cũ mười
năm, không thuốc mà khỏi
Con cháu
học Phật cảm hóa được người lớn
Tài xế niệm
Phật, tai ương tiêu trừ
Niệm Phật cảm ứng được Quán Thế Âm Bồ tát ứng hóa cứu đứa em
Nhân duyên tin
Phật của hai bà cháu
Oan
hồn theo đuổi bị sốt cao, niệm Phật hết sốt
Ở trong tù được nghe pháp, kính tu tịnh nghiệp được kết quả
Không gieo
nhân Phật, đâu được quả Phật
Nhờ thiện tri thức khai đạo, người mù được sanh Tây phương
Trong mộng được bác sĩ cắt lá gan cứu chữa, và chuyện cứu độ những
con rệp
Sự linh ứng mầu nhiệm lúc trợ niệm cho mẹ vãng sanh Tây phương
Vong hồn quấn quít theo quấy phá, niệm Phật được giải oán kết
Tác giả của sách này niệm Phật vãng sanh Tây phương |
Lời người dịch
Pháp
môn Tịnh độ theo như huyền ký của Đức Phật trong Kinh Vô Lượng Thọ ([1])
và Kinh Đại Tập ([1])
là một pháp môn thù thắng và rất thích hợp với chúng sanh trong thời mạt
pháp này. Chư Tổ như các ngài Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Huệ Viễn,
Thiện Đạo, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Thiên Như, Liên Trì, Ấn Quang, v.v…
cũng đều đề xướng tuyên dương pháp môn Tịnh độ. Và trên thực tế chúng ta
thấy hành giả tu Tịnh độ ngày một nhiều. Thế nhưng dịch giả nhận thấy
những sách viết về Tịnh độ thì dường như quá ít! Đã thế, mà trong số ít
ỏi đó lại còn có những sách nội dung chẳng những không làm tăng trưởng
niềm tin nơi hành giả, mà còn gây cho hành giả thêm hoang mang. May
thay, dịch giả được đại đức Thích Minh Quang hiện đang du học ở Đài
Loan, trong một chuyến về nước tặng cho quyển “Những Truyện Niệm Phật
Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe” này, dịch giả xem thấy rất hay, cảm thấy
quyển sách này nếu được dịch ra chữ Việt và in ấn lưu hành thì có thể
giúp tăng trưởng tín tâm nơi hành giả tu Tịnh độ rất nhiều, nên dịch giả
không ngại vốn liếng Hán học còn nông cạn và văn từ tiếng Việt cũng rất
vụng về, mạnh dạn phát tâm dịch quyển sách này ra chữ Việt, để các hành
giả tu Tịnh nghiệp cùng xem, với ước nguyện thông qua quyển sách nhỏ
này, mọi người càng thâm tín hơn nơi pháp môn thù thắng mà mình đã chọn.
Ngưỡng mong trên
Hòa Thượng bổn sư (Hòa Thượng thượng Trí hạ Tịnh) chứng minh, cùng toàn
thể chư liên hữu hoan hỷ với pháp sự này.
Đây là lần đầu
tiên dịch giả mạo muội cầm bút dịch một quyển sách Phật ra mắt đại
chúng, chắc chắn sẽ có rất nhiều sai sót. Ngưỡng mong được các bậc cao
minh chỉ giáo.
Nam mô A Di Đà
Phật
Mùa Hạ năm Tân Tỵ
Dịch giả cẩn bút
Tỳ kheo
Thích Hoằng Chí
Lời tựa
Tuyết Lô lão
nhân Lý Bính Nam ([1])
Sách vở của Tam
Đại (ba đời: Hạ, Thương, Chu) như thế nào? Gặp ngọn lửa của nhà Tần, nên
nay không còn biết! Còn lưu lại chỉ là sách vở từ nhà Hán trở về sau.
Nhìn tổng quát những Kinh, Sử, Tử, Tập đều không ngoài hai chữ “Nhân
Quả”. Lấy đó làm gương, làm khuôn phép thì phong hóa trong xã hội được
thuần khiết (trong sáng, tốt đẹp). Trong phần Tập (một trong bốn phần
Kinh, Sử, Tử, Tập) thì có những tiểu thuyết giả sử, tiếp diễn đến nay
vẫn thịnh hành và sự phổ cập đến các hàng độc giả, thực ra còn vượt lên
trên cả Kinh, Sử. Chỉ có điều chất lượng của tiểu thuyết không đồng đều,
nên không được xếp vào văn hiến. Nhưng những loại tiểu thuyết có nhiều
loại phức tạp như loại lịch sử, loại phong tục, loại võ hiệp, loại thần
quái, loại ngụ ngôn biếm đời, loại tình yêu nam nữ, v.v… Thể loại tuy
nhiều, nhưng đều dùng “thiện ác” để khuyên răn đời, lấy đó làm tông chỉ.
Do có công năng giúp đỡ cho Kinh, Sử, cho nên các bậc danh nho, học sĩ
đều không bài xích nó, nhưng có những chuyện có hư cấu, dùng từ khoa
trương quá đáng; cũng có cái vừa phải xác đáng, cho nên có người tin, có
người không tin, vì vậy sách Mạnh Tử có lời than: “Tin hết vào sách
không bằng không có sách!”, đây là vì ghét sự khoa trương quá đáng. Sách
đã như vậy mà lòng người phần nhiều cũng không đồng: có người tin những
điều ghi chép trong sách xưa; có người thì tin những lời nói của người
nay; có người tin sách không tin người; có người tin người không tin
sách; có người tin xưa không tin nay; có người tin nay không tin xưa.
Như thế thì chẳng phải đều tin hết, cũng chẳng phải đều chẳng tin hết.
Quyển sách này
người biên soạn là người nay, những điều người nay ghi chép là những
việc nay. Người nay thì nhiều người quen; việc nay thì nhiều người biết,
cho nên chẳng có hư cấu và khoa trương quá đáng, như thế thì sao mà
không tin? Nếu tin thì tăng thêm phước đức, làm cho phong hóa xã hội
được thuần khiết (trong sáng, tốt đẹp). Tác phẩm ghi lại những chuyện
nhân quả này được viết ra là vì người có lòng tin, cũng làm ra là vì
người chưa có lòng tin. Người chưa có lòng tin hiện nay chưa chắc sau
này không tin, cho nên tác phẩm được viết ra cũng không uổng phí vậy.
Có người bảo: “Cái
nhân quả mà ngài nói, tôi không dám bác, nhưng những chuyện cảm ứng ghi
ở đây, không khỏi đáng nghi?”. Ôi, nhân quả là hiện tướng của Sự; cảm
ứng là động thái của Lý. Sự và Lý, Động và Hiện nếu có thể tách làm hai,
thì làm gì có nhân quả? Lại có người nạn vấn rằng: “Nhân quả, Kinh, Sử
đã nói rõ rồi, cần chi đến những chuyện cảm ứng này?”. Đáp: “Ông không
nghe việc phương tiện khéo léo trong kinh Pháp Hoa sao? Thuyết pháp thì
hàng trung căn, hạn căn không khế ngộ; thuyết thí dụ thì hàng thượng căn
trung căn đều nghe; thuyết nhân duyên thì ba căn đều thông suốt, mà
quyển sách này đã giúp thêm được cho Kinh, Sử, thế há chẳng tốt hơn
sao?”. Như ai thực sự tin được điều này, mới có thể thấy được chỗ thâm
áo của Kinh, Sử.
Trung Hoa Dân
Quốc năm thứ 58,
Cuối Xuân năm
Kỷ Dậu
Lý Bính Nam
ghi
Lời nói đầu
“Người tu Tịnh
nghiệp phải nên thực tiễn. Nếu như tu hành mà không niệm Phật, thì cũng
giống như người nói ăn mà không có ăn và người đếm tiền của người khác,
không có ích gì cho việc tu hành cả. Nói một trượng không bằng làm một
tấc! (nói nhiều không bằng làm ít). Đây là lời của ân sư Bính Công (Lý
Bính Nam) thường hay khuyên gắng những người tu học. Ngài (Bính Công)
hằng tự tu và hóa độ cho người, hai mươi năm ở tại Đài Trung, ngài hoằng
dương chánh pháp chưa từng có một ngày gián đoạn, với tâm Từ Bi khuyên
người không biết mệt mỏi, khuyên người chân thật niệm Phật, cầu sanh Tây
phương, độ người vô số. Tất cả Sĩ, Nông, Công, Thương cho đến những bà
già không biết chữ hoặc những trẻ nhỏ ba tuổi … rất nhiều người đạt được
sự lợi ích của niệm Phật.
Hiện nay đang là
thời mạt pháp, tà thuyết rối rắm, những người tu học muốn đầy đủ pháp vị
tốt đẹp, chỉ có y giáo phụng hành, chuẩn bị tư lương chờ đến kỳ hạn có
thể vãng sanh về An Dưỡng (cõi Cực Lạc). Đồng trong loài người, mà có
người nhân nơi chí tâm niệm Phật mà có được những cảm ứng kỳ diệu, tiêu
tai giải nguy, hoặc có người nhất tâm niệm Phật, khi lâm chung nhờ Phật
tiếp dẫn thị hiện những tướng lành. Học nhơn (tôi, lời khiêm xưng của
tác giả) không ngại ngu muội vụng về, nghĩ ra nên đem những sự thật cảm
ứng không thể nghĩ bàn, chính mình mắt thấy tai nghe trong hơn mười năm
trở lại đây, nhất nhất ghi chép lại, để cho những người chưa tin Phật,
niệm Phật, sớm biết tin Phật niệm Phật; những người đã tin Phật niệm
Phật rồi sẽ càng gắng gỏi nỗ lực hơn, tinh tấn hơn gấp bội; những ai
thấy nghe đều được lợi ích trong Phật Pháp. Đây chính là nguyện vọng của
bút gia.
Lâm Khán Trị
1. MỘT CÂU PHẬT HIỆU
KHỞI TỬ HỒI SINH
Có một vị liên hữu ở làng Bắc
Đồn, ngoại ô của Đài Trung tên là Lại Lâm Trị, vì chồng của bà tên là
Tuấn, cho nên mọi người đều gọi bà là thím Tuấn, năm nay bà sáu mươi bốn
tuổi. Mỗi thứ tư và thứ bảy bà đều đến thư viện và Liên xã chùa Từ Quang
nghe thuyết pháp; hai thời khóa tụng sáng, tối chỉ biết niệm Phật. Bà có
một người con gái tên là Lan, năm mười tám tuổi đã lấy chồng và sanh
được một đứa con trai tên là Đạt Tử. Mười ba năm trước lúc Đạt Tử vừa
mới ba tuổi, một hôm đi chơi trước cổng, bỗng nhiên có một con heo nái
chạy lại đụng ngã Đạt Tử, từ hôm đó trở đi bị sốt cao, lại hôn mê bất
tỉnh, theo chẩn đoán của bác sĩ là viêm màng não. Trung y, Tây y, thuốc
thang gì đều vô hiệu, hai mươi ngày sau thì chết! Vào khoảng 8 giờ tối
là dứt thở, người trong nhà để Đạt Tử trên nền gạch trong phòng khách
dùng một bao vải rách đắp lên, giấy khai tử mọi việc chuẩn bị xong, dự
định sáng mai đem đi chôn.
Thím Tuấn nhìn thấy đứa cháu
chết đi, vô cùng đau lòng, chiều tối đó đến thời khóa, bà vẫn cứ lên
niệm Phật như thường, nhưng tình cảm đau thương khó mà ngăn chận. Bà vừa
niệm Phật vừa khóc, hướng lên Phật Bồ Tát nói rằng: “Nam mô A Di Đà
Phật, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát! Các Ngài sao không phò hộ cho con? Vùng
này chỉ có mình con tin Phật, niệm Phật, vậy mà người ta còn cười con,
đã nghèo mà còn bày đặt tin Phật, niệm Phật cái gì? Sau này nhất định họ
càng cười con! Phật, Bồ Tát ơi! Các Ngài sao không phò hộ cho con?”.
Thím Tuấn lại khóc to lên một hồi, rồi nặng nề lên giường đi ngủ, nhưng
nhớ lại đứa cháu dễ thương bị chết đi, bà lăn qua lăn lại hoài mà không
ngủ được. Vào khoảng 4 giờ hơn, bỗng nhiên thấy một đạo kim sắc quang
minh (ánh sáng màu vàng) từ trong hư không xẹt thẳng vào trong nhà
khách, ánh sáng rực rỡ không thể nghĩ bàn. Trong khoảnh khắc, bỗng nhiên
nghe được tiếng của Đạt Tử hơn hai mươi ngày không biết khóc và tay chân
cứng còng khóc ré lên! Thím Tuấn và con gái là A Lan, vội vã tới xem,
thấy hai tay của Đạt Tử đã kéo cái bao vải ra, hai mẹ con vừa mừng vừa
sợ, bế nó lên và rót cho nó một tí nước, thì nó cũng uống được, thật là
không thể nghĩ bàn. Sáng sớm hôm sau, hai mẹ con lại bồng Đạt Tử đi Bắc
Đồn cho bác sĩ khám, bác sĩ cũng thấy kỳ lạ, làm sao chết rồi mà sống
lại? Bảo hai mẹ con nhanh chóng đưa lên bệnh viện tỉnh Đài Trung. Lúc đó
thím Tuấn yêu cầu tôi phụ giúp bà đưa cháu đi bệnh viện nhập viện!
Đạt Tử liền được đưa đi bệnh
viện ở Đài Trung vào Khoa Nhi. Nhưng khi thím Tuấn nhìn thấy mấy chục
đứa nhỏ bị viêm màng não trong bệnh viện bị biến dạng kỳ quái: có đứa
mắt lệch, có đứa miệng méo, có đứa tay chân không động đậy gì hết, trong
lòng rất là buồn. Bà hỏi thăm thì đa số nhập viện từ sáu tháng đến hai
năm, sức khỏe vẫn chưa bình phục, mà bác sĩ chẩn đoán cho Đạt Tử, tối
thiểu phải nằm viện bốn tháng, còn khả năng hết bệnh hay không cũng
không dám chắc! Thím Tuấn mới nói với tôi: “Về tình hình kinh tế nhà tôi
làm sao có thể nằm viện lâu đến bốn tháng được?!”. Tôi liền khuyên bà
rằng: “Thím Tuấn à! Thím thực là cả đời khôn ngoan, lại đi tính dại một
lúc! Đạt Tử là nhờ phước ấm của thím mà được Phật, Bồ Tát phò hộ, mới
chết mà được sống lại, tôi nghĩ cháu nhất định sẽ khỏi, chỉ cần chúng ta
vừa cố hết sức trị liệu cho cháu, vừa thành khẩn cầu Phật, Bồ Tát cứu
giúp, rồi mới phó mặc mạng cho trời!”. Thím Tuấn vẫn còn do dự chưa
quyết định, rốt cuộc tôi lại khuyên bà: “Thôi tạm nằm hai tuần đi, khỏe
hay không cũng xuất viện, nhưng thím cần ở lại bên cạnh Đạt Tử niệm Phật
không được gián đoạn”. Thím Tuấn cuối cùng bị tôi thuyết phục, bèn làm
thủ tục nằm viện điều trị!
Đạt Tử nằm viện trị liệu được
tốt đẹp, sốt cao đã lui dần; tròng đen con ngươi vốn đã bị lật vào trong
chỉ còn thấy tròng trắng nhìn không thấy người, cũng ngày một khôi phục
như cũ; dần dần cũng đã nói chuyện lại được, xưng hô với người thân cũng
từ từ rõ ràng lại. Khoảng một tuần thím Tuấn muốn về nhà, liền kêu A Lan
lại thay thế cho bà chăm sóc Đạt Tử. Nhưng có điều kỳ lạ là thím Tuấn
vừa ra khỏi cổng bệnh viện, thì bệnh của Đạt Tử lại nặng trở lại, trong
miệng nổi lên hai cái lưỡi và trạng thái hôn mê cũng trở lại, còn chảy
máu đầy cả miệng, bác sĩ liền dùng bông gòn nhét vào giữa hai hàm răng.
Thím Tuấn vừa về đến trong nhà, con rể bà liền nói: “Má à! Má về làm gì?
Nhanh chóng đi vào bệnh viện lại đi! Nhanh đi! Nhanh đi!”. Thím Tuấn trở
lại bệnh viện, vừa thấy biến chứng của cháu như thế liền vội ngồi xuống
bên mình cháu, chí thành niệm Phật. Kỳ tích lại phát sanh lần nữa, thật
là vạn đức hồng danh linh nghiệm không gì bằng! Bà niệm được nửa giờ,
Đạt Tử đã thở nhè nhẹ đi vào giấc ngủ, lúc thức dậy, chứng bệnh hai lưỡi
đã hết, thật là Phật pháp vô biên. Thím Tuấn đi về chỉ có ba tiếng đồng
hồ mà bệnh tình đã biến đổi xấu nghiêm trọng như thế. Khi trở lại, vừa
qua niệm Phật thì bệnh càng lúc càng hồi phục bình thường. Đến ngày thứ
mười ba, bác sĩ tuyên bố ngày mai có thể xuất viện. Mọi người đang vui
mừng, nhưng vào lúc nửa đêm bệnh của Đạt Tử lại lần nữa biến đổi xấu
nghiêm trọng, phát sốt rất cao, trong khoảnh khắc thím Tuấn vô cùng hốt
hoảng, nhứt thời không có cách gì, bèn lấy mười đồng kêu A Lan đi ra chợ
tìm thầy tướng số đưa ngày sinh tháng đẻ của Đạt Tử cho thầy đoán xem số
mạng của nó có tới số chết chưa? A Lan đi xem số mạng về nói: “Trong số
mạng của Đạt Tử mang chứng tê liệt, năm ba tuổi chắc chắn bị phát sởi mà
chết!”. Lúc đó bác sĩ và y tá lại đến chẩn bệnh, lột hết quần áo của Đạt
Tử ra xem, phía sau lưng phát hiện đầy những chấm đỏ nhỏ, liền lắc đầu
nói: “Đáng tiếc! Đáng tiếc! Thằng bé này đột nhiên lại phát sởi, sau khi
bị viêm màng não lại bị sởi rất dễ dẫn đến sưng phổi. Nếu như thế, thì
thật không còn cách trị!”. Thím Tuấn và A Lan trước đã nghe đoán số mạng
sẽ chết, nay bác sĩ cũng nói sẽ chết càng đau lòng vô cùng! Lúc đó lại
hối hận là không nên vào viện, trong hai tuần đã tốn hết mấy ngàn đồng.
Lúc đó tôi cũng ở kế bên, liền nói với họ rằng: “Có lẽ Đức Phật A Di Đà
và Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi thương xót cho bà là người đệ tử trung thật,
mới đặc biệt gia bị, khiến Đạt Tử trước khi xuất viện tái phát sởi, ở
trong bệnh viện y dược dễ dàng thuận tiện, chớ nếu sau khi xuất viện về
nhà rồi mà tái phát sởi thì càng nguy hiểm hơn! Không tin, ở lại thêm
một tuần lễ nữa liền có thể bình an xuất viện. Bây giờ bà phải khẩn
thiết hơn nữa ở bên cạnh nó niệm Phật, không được gián đoạn, không nên
nản lòng!”. Lúc đó tôi cũng chỉ an ủi họ như thế thôi, thật ra tôi còn
sốt ruột hơn họ nữa!
Một tuần lễ trôi qua, trải
qua sự trị liệu rất thuận lợi, quả nhiên Đạt Tử đã vượt qua cửa ải tử
vong một cách an nhiên, có thể xuất viện được rồi. Nhưng theo nguyên tắc
của bệnh viện, người bệnh muốn xuất viện, nhất định phải qua bác sĩ tái
khám một lần. Khi bác sĩ khám lại cho Đạt Tử, miệng nói luôn không ngớt:
“Kỳ lạ! Kỳ lạ! Làm sao mà bệnh trạng nghiêm trọng quá sức như thế, lại
mau khỏi như vậy?”. Liền hỏi thím Tuấn: “Trong miệng bà không ngớt niệm
những gì vậy?”. Thím Tuấn nói: “Niệm A Di Đà Phật”. Bác sĩ nghe xong
nói: “Mẹ tôi cũng là người ăn chay trường hai, ba chục năm nay rồi, vì
sao không biết niệm A Di Đà Phật?”. Đáng tiếc thím Tuấn không biết trả
lời, lỡ mất một cơ hội! Lại nói về Đạt Tử, từ khi xuất viện về nhà, sức
khỏe cùng với những đứa trẻ bình thường khác mạnh khỏe như nhau, nhưng
hay hỏi bà ngoại: “Con còn nhỏ như thế này tại sao biết tự mình ăn cơm,
lại biết nói chuyện, biết đi?”. (có lẽ bị ảnh hưởng viêm não nên hơi bị
thần kinh - dịch giả). Thím Tuấn liền đổi tên nó lại là “A Châu”
Thời gian qua như tên, mới
chớp mắt, A Châu năm nay đã mười bảy tuổi, anh ta thường ngày làm việc
rất siêng năng, lại hiếu thuận với người lớn, là một thanh niên tốt có
lễ giáo nhân nghĩa.
Cuối cùng chúng ta hãy nghiên
cứu một chút, một câu Thánh hiệu này thế mà hơn khoa học. Hãy xem các
bác sĩ đã nghiên cứu khoa học mấy chục năm họ chẩn đoán: nếu như thằng
nhỏ nằm viện ít nhất phải bốn tháng, còn khả năng khỏi hay không còn
không dám chắc! Và một vị khác có khả năng bói bát tự, khéo đoán về âm
dương, đoán là chỉ sống có ba tuổi bị ban sởi mà chết, rốt cuộc bị câu
Thánh hiệu A Di Đà Phật mà tiêu tai giải nạn, gặp dữ hóa lành. Nhưng có
lẽ có người sẽ hoài nghi: “Niệm Phật thì không chết ư?”. Đương nhiên tôi
không dám nói quả quyết như thế, do vì đời người có sanh ắt có tử. Nhưng
trong kinh có nói rằng: “Chí tâm niệm một câu A Di Đà Phật có thể tiêu
diệt tội nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp”. Chỉ cần xem người niệm
Phật có phải là “chí tâm” niệm hay không? Nếu như không chí tâm, niệm
Phật không có cảm ứng, không tự trách mình, lại đi trách ai đây?
2. BỒ TÁT THỊ HIỆN
KHUYẾN HÓA NIỆM PHẬT
Đầu tuần tháng 5 năm ngoái,
con gái của thím Tuấn là A Lan, do vì đẻ non nên sức khỏe rất yếu, một
hôm bị băng huyết té ngã trên giường hôn mê, thím Tuấn tưởng cô ta ngủ,
không để ý. Vài giờ sau tỉnh dậy, cô nói với mẹ: “Con vừa rồi bị hôn mê,
thần thức sợ sệt đi đến một nơi rậm rạp um tùm, dường như rất xa, nhưng
con vẫn cứ đi mãi về phía trước, giữa đường gặp một người nữ trẻ tuổi,
rất là đoan chánh trang nghiêm, vừa chặn con lại, lại thêm duỗi tay đẩy
con một cái té lộn nhào, lúc bò dậy con liền mắng cô ta: “Ngươi… cái cô
gái này sao mà vô cớ xô ta vậy? Cô tên là gì?”. Cô gái đó liền nói với
con rằng: “Chỗ này không phải chỗ ngươi đến, mau mau về đi, ngươi về nhà
sẽ biết tên ta”. Nói như thế xong, cô liền cung kính chắp tay lại, miệng
niệm: “Nam mô A Di Đà Phật”. Lúc đó con liền tỉnh dậy”. Thím Tuấn nghe
xong liền nói với con gái rằng: “Cô gái đó e rằng chính là Quán Thế Âm
Bồ Tát biến hóa ra để cứu con đó. Có khả năng là Đức Đại Từ Đại Bi cứu
khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát rồi!”.
Từ đó về sau sức khỏe của A
Lan hồi phục mạnh khỏe như thường. Sau việc đó, thím Tuấn đến Liên Xã
thăm tôi và kể cho nghe chuyện của A Lan trải qua và còn hỏi tôi rằng:
“Tại sao Quán Thế Âm Bồ Tát cũng phải chắp tay niệm A Di Đà Phật? Quán
Thế Âm Bồ Tát không phải là một trong Tam Thánh của Tây phương Cực Lạc
thế giới sao?”. Tôi liền nói với bà ta rằng: “Quán Thế Âm Bồ Tát chắp
tay niệm Phật là dạy cho A Lan niệm, không phải ngài tự mình cần phải
niệm. Đây chính là dùng tự bản thân làm khuôn phép dạy cho người (thân
giáo) muốn khuyến hóa A Lan con gái của bà, không niệm Phật làm sao có
thể thoát ly được Ta Bà khổ hải, khỏi vào trong vòng luân hồi?”. Từ đó
con gái của thím Tuấn cũng bắt đầu niệm Phật.
3. PHẬT A DI ĐÀ PHÓNG QUANG
GIA BỊ
Đây là một câu chuyện thật
xảy ra vào ngày mồng 9 tháng 11 ÂL năm Dân Quốc thứ 52 (Dân Quốc sơ niên
là 1911) do niệm một câu đại chú vương vạn đức hồng danh mà được cảm ứng
không thể nghĩ bàn. Một phụ nữ họ Lại ở trong vùng nông thôn mới do
thành phố Đài Trung hỗ trợ, năm nay 54 tuổi, bà ta đã từng dẫn đứa cháu
mới 5 tuổi của bà sang một vị liên hữu tên Lý Kim Phương đối diện với
nhà bà để nhờ gia trì chú Đại Bi “thâu cảnh”. Gia trì chú Đại Bi “thâu
cảnh” là một phương pháp rất hiệu nghiệm, cũng là một pháp môn phương
tiện hay, khéo khuyên người niệm Phật.
Buổi trưa mồng 9 hôm đó, bà
họ Lại đang làm việc trong nhà bếp, bỗng dưng đầu bà cúi gục xuống, toàn
thân co giật. Đứa cháu 5 tuổi đó thế mà rất thông minh, thấy tình trạng
như thế, vội vã chạy sang nhà đối diện lớn tiếng kêu lên: “Bà cụ ăn chay
ơi! Bà cụ ăn chay ơi! Mau qua giúp bà của con “thâu cảnh”. Vị liên hữu
Lý Kim Phương lập tức đến nhà bếp bà Lại, vừa xem, bà giựt mình hốt
hoảng, chỉ thấy bà Lại hai con mắt trắng dờ, đã hôn mê bất tỉnh nhân sự,
bà mẹ chồng hơn 70 tuổi đang đỡ một bên hông phải của bà ta; đứa con
trai lớn đang đỡ hông bên trái, hai người đều sợ đến mức chỉ biết kêu
la. Vị liên hữu Lý Kim Phương bảo họ cần phải trấn tỉnh và mọi người
phải cùng nhau niệm A Di Đà Phật. Như thế niệm được khoảng 20 phút bà
Lại đang trong hôn mê thở ra một hơi, mới mở miệng nói: “Ông ta đứng ở
kia kìa, bảo tôi đi với ông ta”. Vị liên hữu Kim Phương hỏi bà ta: “Ông
ta là ai vậy?”. Bà Lại đáp: “Là ông Lâm chồng tôi”. Vị liên hữu Kim
Phương vừa cao giọng niệm Phật vừa nói với hồn quỷ rằng: “Ông Lâm à! Ông
không nên dẫn bà Lại đi, mà nên cố gắng phò hộ sức khỏe của bà được bình
an, vì bà ấy là một người con dâu hiếu thảo, trên thì lo hầu hạ mẹ của
ông, dưới còn có con nhỏ chưa trưởng thành, cần phải nuôi dạy, ông nhất
thiết không được dẫn bà ấy đi!”. Bà mẹ chồng của bà Lại lúc đó cũng nói:
“Con à! Từ sau khi con qua đời, vợ con và mẹ cùng nương nhau mà sống,
con không được dẫn nó đi, con nếu dẫn nó đi, để lại mẹ già cả thế này và
mấy đứa nhỏ còn nhỏ như thế kia, làm sao mà sống đây? Như vậy con chính
là đại bất hiếu!”. Vị liên hữu Kim Phương lần nữa lại khuyên hồn quỷ:
“Ông Lâm à! Ông phải nên niệm A Di Đà Phật phát nguyện cầu sanh Tây
phương, mới có lối thoát, luân hồi trong sáu đường là cái khổ nói không
cùng. Bây giờ tôi niệm A Di Đà Phật, ông cũng phải phát tâm niệm A Di Đà
Phật theo!”. Nói xong liền niệm “A Di Đà Phật”, niệm liên tục không
dừng. Niệm được khoảng nửa tiếng đồng hồ, thì nghe bà Lại bắt đầu nói:
“Tam Tiên ánh vàng rực rỡ, Tam Tiên ánh vàng rực rỡ, chồng tôi cũng đi
rồi”. Vị liên hữu Kim Phương hỏi bà ta: “Bà hỏi thử xem, Tam Tiên tên là
gì?”. Bà Lại nói: “Họ nói là Phật A Di Đà phóng quang gia bị”. Bà Lại
đang trong hôn mê tức thời tỉnh táo trở lại, chưa đầy mấy ngày sức khỏe
của bà bình an vô sự (Tam Tiên tức là Tam Tôn, do vì bà Lại không phải
tín đồ chính thức của Phật giáo, nên không biết tôn xưng Tam Tôn). Bà
Lại lần này bị sự nguy khốn đó, cũng không phải không có nguyên nhân,
việc xong bà mẹ chồng của bà ta nói với vị liên hữu Kim Phương rằng:
“Thằng Lâm con tôi sau khi kết hôn với con dâu họ Lại này chưa từng có
gây gổ với nhau lần nào, thật là một cặp vợ chồng hạnh phúc. Từ ba năm
trước khi thằng Lâm chết rồi, con Lại ngày ngày đều thương nhớ chồng.
Mười mấy hôm trước nó một mình đi ra mộ dọn dẹp, cúng bái, khóc lóc thảm
thiết một trận nữa, cho nên bắt đầu từ hôm đó, đêm nào cũng mộng thấy
hồn chồng về trong nhà. Điều kỳ lạ là không chỉ một mình nó mộng thấy,
trong nhà lớn nhỏ đều mộng thấy cả!”.
Vị liên hữu Lý Kim Phương có
hơi không hiểu: Tại sao một người đã chết ba năm rồi, thần thức còn ôm
giữ trong mộ? Riêng tôi, tôi cho rằng việc này có hai cách giải thích:
Một là ông Lâm này lúc còn
sống, “chấp ngã” rất nặng cho nên sau khi chết đọa vào quỷ đạo vẫn lưu
luyến cái thi thể cũ của mình như trước mà trở thành loài quỷ giữ xác!
Hai là lúc bà Lại đi ra mộ
quét dọn cúng bái, thì những cô hồn ngạ quỷ ở gần mộ đó biến hóa ra hình
tướng của ông Lâm theo bà ta về nhà làm loạn! Căn cứ theo trong Kinh Địa
Tạng có nói: “Cõi Diêm Phù Đề này, người hành thiện, lúc lâm chung, cũng
có trăm ngàn quỷ thần ác đạo hoặc biến ra làm cha mẹ, nhẫn đến biến ra
những bà con quyến thuộc, dẫn dắt người chết khiến vào đường ác, huống
nữa là người lúc sống vốn tạo ác nghiệp.
Hai cách giải thích trên đây,
không biết thuộc về cách nào? Những vị độc giả thông minh, các ngài có
thể giải đáp cho tôi không?
4. MẸ GIÀ NIỆM PHẬT, CON ĐƯỢC
TAI QUA NẠN KHỎI
Vị liên hữu Lý Thủy Cẩm
trưởng ban Kim Cang trong Liên Xã ở Đài Trung là một vị đệ tử Phật phát
tâm Bồ Tát rất thành khẩn. Nhà của bà ở số 31 đường Nam Kinh trong nội
thành, chẳng những làm cho cả gia đình theo Phật mà còn độ được cả nhà
của mẹ mình. Nhà của mẹ bà ở trên núi làng Minh Tú trấn Sa Lộc. Vào ngày
mồng 8 tháng 9, tám năm về trước bắt đầu mời các vị hoằng pháp trong
Liên Xã đến đó tuyên giảng chánh pháp, khuyên người niệm Phật. Trong nhà
bà thờ phụng tượng Tây phương Tam Thánh, đặt tên là “Tín Nghĩa Đường”,
lại còn lấy ngày mồng 8 tháng 9 hằng năm làm ngày lễ kỷ niệm định kỳ.
Những tín đồ ở gần đấy, mỗi lần đến ngày đó đều sắm sửa hương hoa quả
phẩm đến Tín Nghĩa Đường lễ Phật, nghe pháp. Ngày mồng 8 tháng 9 năm Dân
Quốc thứ 52, học nhơn (lời khiêm xưng của tác giả sách này: Khán Trị)
được mời đến đó giảng Phật Pháp kết duyên. Hôm đó có một bà lão cùng một
người nam trong tay bưng một khung kiếng đi đến Tín Nghĩa Đường, trên
mặt hai người lộ nét rất vui vẻ, ở trước Phật, năm vóc sát đất, rất là
cung kính dập đầu ba lạy, tôi nhìn thấy không khỏi hiếu kỳ liền đến hỏi
bà lão: “Các vị tin Phật lễ bái thành khẩn như thế, không biết là nhân
duyên gì?”. Lúc đó bà lão lập tức trả lời rằng: “Tôi đến để đáp tạ Phật,
Bồ Tát đã phò hộ”. Tôi tìm cho bà ta một chỗ ngồi, thế là bà từ từ nói
ra một đoạn nhân duyên tin Phật như sau:
“Vào trung tuần tháng rồi, có
một đêm tôi nằm mộng thấy răng của tôi toàn bộ rụng hết. Trời sáng thức
dậy suy nghĩ đây là một điềm báo trước không tốt lành, tôi liền đem việc
chiêm bao không tốt lành này nói với em dâu Cẩm Tỉ, cô ta dạy tôi quỳ
trước Phật, nhứt tâm niệm Phật, khẩn cầu Phật Tổ phò hộ cho cả nhà bình
an, gặp dữ hóa lành, nạn lớn biến thành nhỏ, nạn nhỏ biến thành không”.
Bà lão nói một mạch đoạn nguyên nhân trước này, dừng lại một chút lại
nói tiếp: “Tôi có đứa con lớn tên là Thành, làm công nhân đốt than trong
vùng núi sâu ở miền Trung. Sáng hôm đó nó đang công tác nổi lửa đốt củi,
thì bên tai bỗng nghe có người gọi: “Thành à! Về nào!”. Nó quay nhìn
xung quanh, hoàn toàn không thấy ai, tại sao lại có tiếng kêu? Lại chạy
ra bên ngoài nhìn xem cũng chẳng thấy người nào gọi nó, nhưng khi nó đi
lại vào trong nhà, thì bên tai lại nghe tiếng gọi: “Thành à! Về nào!”.
Lúc đó anh Thành cảm thấy rất kinh ngạc, liền nghĩ đến bà mẹ già hơn bảy
mươi tuổi ở nhà, có phải đã xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn rồi không? Lập
tức đến ông chủ xin nghỉ phép, kiên quyết sửa soạn hành trang về nhà
thăm. Khi anh Thành vai mang quần áo, mền bông rời khỏi nơi đốt than
khoảng hơn một trăm bước, thì bỗng nhiên nghe “bình” một tiếng thật to,
quay đầu nhìn lại xem thử, thì chính là cái gian nhà của anh ta ở đốt
than vừa bị sập xuống, anh Thành lúc đó thở phào ra một hơi, mừng rỡ đã
thoát khỏi tai nạn bị đè chết, trong lòng rất là an ủi, sau đó anh vẫn
cứ vai mang hành lý lên đường về nhà.
Suốt đường đi toàn là đường
núi, anh Thành vượt qua mấy ngọn núi rồi, còn phải đi qua một cái khe
núi lớn, cái khe núi này không có cầu, mà phải dùng một loại dây thừng
to, cái giỏ tre để làm dụng cụ qua lại hai bờ, người ngồi trong cái giỏ
tre, trên hai bờ đều có người kéo dây thừng qua lại cho khách, anh Thành
cần qua khe núi này cũng không ngoại lệ, ngồi trong giỏ tre, mền bông và
các thứ đồ v.v… đều để kế bên, đang lúc được kéo đến giữa khe thì bỗng
nhiên dây thừng bị đứt, cả người và hành lý đều bị rớt xuống khe và bị
nước cuốn đi, do vì khe sâu mấy trượng, nên nước trong khe chảy rất
mạnh, người ở hai bên bờ đều đành bó tay, không có cách gì, chỉ có kêu
lên “tội nghiệp” mà thôi! Anh Thành rơi vào trong khe cũng tự lượng
không sống được, nhưng bị nước cuốn đi một đoạn, kỳ tích lại phát sanh:
anh ta đang quẫy đạp trong nước, mạng sống như ngàn cân treo sợi tóc,
bỗng ở trong khe phát hiện một đám cỏ nước, tay mặt tức thời nắm đám cỏ
nước đó, chuyển mình một cái liền đứng lại trong nước, sau đó bò dần lên
trên bờ, đương nhiên là những hành lý v.v… đã bị nước cuốn trôi mất, đơn
độc một thân, rốt cuộc được bình an vô sự về đến nhà”. Trên đây là câu
chuyện thật, không thể nghĩ bàn như thế, do bà lão đó kể lại, nhờ mẹ già
nhứt tâm niệm Phật mà cảm ứng được người con tiêu tai thoát nạn nguy
hiểm hai lần.
5. CHỊ LẠY PHẬT, EM
TRAI ĐƯỢC NHỜ PHƯỚC
Phật và Bồ Tát là thầy tốt,
là phước điền của chúng sanh. Vị liên hữu Lý Thủy Cẩm, cũng là một vị
thiện hữu tri thức, gieo rắc hạt giống Bồ Đề. Bà mỗi lần mời hẹn các
nhân viên hoằng pháp của Liên Xã ở Đài Trung, ngày giờ đã định xong,
liền về nhà trước đi tuyên truyền khắp các nơi ở trên núi, già trẻ trai
gái không ai không đến niệm Phật, nghe pháp. Gieo giống thì nhất định sẽ
nảy mầm; có niệm Phật thì nhất định có cảm ứng. Vào khoảng tháng 5 năm
trước, có một hôm vị liên hữu Thủy Cẩm nói với tôi: “Trong xóm nhà của
mẹ tôi có một bé gái mười tuổi, rất là thông minh và có căn lành, cô ta
lần nào cũng đến tham gia nghe các vị giảng về Phật pháp, cảm thấy rất
là hay, bèn phát tâm hàng ngày niệm A Di Đà Phật. Do vì trong nhà cô ta
chưa có lập bàn thờ Phật cho nên sáng tối đều đến nhà bên cạnh có bàn
thờ Phật để nhờ lạy Phật”.
Khoảng mấy tháng sau, đứa con
trai ở nhà có bàn thờ Phật kia mắng cô: “Mầy không biết thể diện, không
biết xấu hổ, Phật ở nhà tao, không cho mày đến lạy!”. Cô gái thông minh
này không dám đến nhà đứa con trai kia lạy Phật nữa, nhưng trong lòng
lúc nào cũng nhớ nghĩ đến lạy Phật, tâm không rời Phật, Phật không rời
tâm. Có một đêm đang ngủ bỗng nhiên thức dậy, quỳ trên giường, chắp tay
niệm: “Nam mô A Di Đà Phật”, niệm mãi không thôi. Mẹ của cô ta cũng thức
dậy nói: “Con nhỏ này nửa đêm nửa hôm thức dậy làm gì vậy?”. Cô bèn nói:
“Má! Con thấy được kim thân to lớn của Đức Phật A Di Đà, diện mạo tươi
vui, từ trong hư không bay đến trước mặt con, con vội vã thức dậy cung
kính niệm Phật. Má! Con rất mong có được một tượng Phật để cúng dường.
Con cầu xin má thỉnh một tượng Phật về nhà thờ được không má?”. Cô ta
chắp tay lại cầu xin mẹ: “Má! Con nghĩ ra rồi, con heo đất của con ngày
mai sẽ đập ra, có được bao nhiêu tiền, nhờ ba đến đường Sa Lộc thỉnh về
một tượng, như thế mỗi ngày con đã có Phật, có thể lễ lạy được rồi”. Má
của cô ta liền hứa nhận lời. Sáng sớm thức dậy, đập vỡ con heo ra đếm,
tất cả được 28 đồng, cha của cô ta đi đến đường Sa Lộc, tìm được một
tượng Quán Thế Âm Bồ Tát đến 50 đồng thỉnh về nhà. Buổi sáng ngày mồng 1
hôm đó liền an vị tượng, mẹ cô ta chuẩn bị bánh dày đỏ và mua về hương
hoa quả phẩm v.v… Đang khi cả nhà vui vẻ, bỗng nhiên phát hiện mất đứa
em trai bốn tuổi của cô bé! Thế là cả nhà hoảng hốt lập tức cho người đi
tìm khắp nơi, đồng thời tổng động viên mấy trăm người bà con trên núi
dưới núi chia ra đi tìm, ngay cả mấy ao cá lớn trong làng, cũng đều có
người lặn xuống mò tìm, vẫn không tìm ra!… Từ sáng đến tối vẫn không tìm
được! Có mấy người cười cha mẹ cô ta rằng: “Vợ chồng mấy người là người
lớn cũng đi nghe lời của con nít, muốn lạy Phật cái gì! Mấy người ngày
hôm nay cũng chính vì bận lo việc an vị tượng Phật mới xảy ra đại họa
như thế!”. Tội nghiệp cho cô bé thông minh này, bị người này một câu,
người kia một câu đàm tiếu, sợ đến nỗi một mình lén lén quỳ trước tượng
Bồ Tát hai mắt đoanh tròng lệ rơi, khổ sở cầu xin: “Phật, Bồ Tát ơi! Các
ngài phải phò hộ cho đứa em trai bốn tuổi của con được bình an về nhà.
Nếu như xảy ra điều không may gì, con từ nay về sau không thể tiếp tục
lạy Phật, niệm Phật được nữa, những người hàng xóm đây cũng không dám
tin Phật nữa!”. Lúc đó cha của đứa bé sực nhớ lại thằng bé bốn tuổi này
sau khi sanh, đã từng có đi xem quẻ bát tự (bát tự hà lạc) liền tìm
trong tủ lấy ra tờ giải về số mạng của thằng bé đưa cho mọi người xem.
Quả nhiên trong quẻ giải viết rất rõ ràng vào năm đó tháng đó (vừa khéo
chỉ đúng vào tháng này năm này!) sẽ xảy ra tai họa bất ngờ! Thế là mọi
người nhìn nhau nhưng rồi cũng không ai biết làm thế nào!
Nguyên thằng bé bốn tuổi này,
từ lúc sáng sớm, tự mình chạy ra khỏi nhà, cũng không biết là thuận theo
đường sắt dọc biển, hay là từ đường đó chạy đi thẳng một mạch đến hơn 5
giờ chiều. Ở gần trạm xe Vương Điền có một anh sinh viên trẻ trông thấy
nó một mình cắm đầu chạy trên đường sắt, anh sinh viên trẻ đó liền kêu:
“Em bé! Em bé! Ở đó nguy hiểm lắm, mau dừng lại đi!”. Thằng nhỏ cũng
chẳng thèm quay đầu lại, cứ cắm đầu chạy miết. Anh sinh viên tốt bụng
này liền chạy thẳng tới trước ôm cứng thằng bé lại. Ai có ngờ thằng nhỏ
này, mắt trợn lên dữ dằn, há miệng cắn trên tay anh sinh viên một cái.
Anh này vẫn không giận nó, cố nén chịu đau, ôm thằng bé ép đưa đến trạm
xe, giao cho trưởng trạm giữ nó. Hỏi ở đâu, tên họ là gì cũng không biết
nói, trưởng trạm sực nhớ đến hồi sáng ở trạm xe Long Tỉnh có liên lạc
điện thoại đến dặn chú ý ở trên núi Long Tỉnh có một đứa bé bốn tuổi đi
lạc, trưởng trạm xe Vương Điền liền gọi điện thoại cho trạm xe Long Tỉnh
mời người nhà của thằng bé đến nhận lãnh về.
Bà vợ của trưởng trạm thấy
thằng bé toàn thân bụi bặm, bộ dạng đáng thương và rất đói, liền dắt nó
về nhà, trước tắm cho nó, lại lấy quần áo của con mình thay cho và cho
nó ăn hai chén cơm. Có lẽ chạy suốt ngày đường mệt quá, nên nuốt hai
chén cơm xuống bụng xong, liền lăn ra ngủ, bà vợ của trưởng trạm liền bế
lên giường để nó ngủ yên.
Người ở trạm xe Long Tỉnh lập
tức cho cha mẹ nó hay, nhanh chóng đi nhận về. Từ nhà của trưởng trạm xe
Vương Điền đem nó về, lúc đó đã 11 giờ đêm. Mặc dù đã nửa đêm, nhưng
những bà con già trẻ lớn bé ở vùng đó đều đến thăm nó. Thằng bé này đã
được bà vợ tốt bụng của trưởng trạm dùng xà bông thơm tắm cho toàn thân
thơm phức, lại mặc cho bộ đồ đẹp nữa, mọi người ai nấy đều nói: “Hôm nay
thằng bé được bình yên về nhà, chính là nhờ phước phần của chị nó lạy
Phật. Thật là tin Phật, niệm Phật có cảm ứng vậy!”. Nếu không thế thì
thằng bé này từ Long Tỉnh đến Vương Điền chạy suốt một ngày trên đường
sắt dọc biển lại không gặp việc gì bất trắc ngoài ý muốn… Đồng thời lại
còn gặp được người tốt giúp đỡ, gặp được sự thương yêu giúp đỡ của anh
sinh viên và bà vợ tốt bụng của ông trưởng trạm xe. Đây nếu không phải
Phật, Bồ Tát phò hộ thì làm sao có thể về nhà bình yên vô sự như thế?
6. PHẬT
VỐN LÀ Y VƯƠNG CÓ THỂ TRỊ DỨT CÁC CHỨNG BỆNH
Câu chuyện thật ở trên là của
một bé gái mười tuổi nhờ nhất tâm niệm Phật, được Phật A Di Đà phò hộ
cứu đứa em trai 4 tuổi của cô ta tiêu tai thoát nạn. Các vị độc giả có
lẽ suy nghĩ rằng: “Đây có lẽ do nghiệp chướng của cô bé còn nhẹ, hãy
chưa kết oán cừu với nhiều người cho nên niệm Phật dễ được cảm ứng, nếu
như người già lớn tuổi niệm Phật sao có thể có được cảm ứng như thế?”.
Nhưng phải biết Phật Pháp vốn bình đẳng, không có cao thấp, người già
lớn niệm Phật cũng có cảnh giới bất tư nghì. Tôi một lần nữa kể ra một
chuyện thật để chứng minh:
Mẹ của liên hữu Lý Thủy Cẩm
là một vị thọ Bồ Tát giới ở thư viện Từ Quang vào ngày 10 tháng 6 năm
Dân Quốc thứ 49, mọi người đều gọi bà là lão Bồ Tát. Bốn năm trước lúc
bà 80 tuổi, ở dưới vú bên phải bỗng nhiên nổi lên một cục thịt to bằng
cái chén trung. Theo bác sĩ chẩn đoán là ung thư gan, đã rất nguy kịch,
hết phương cứu chữa, chẳng những dùng thuốc không hiệu quả, mổ lại càng
không được, chỉ có để bà muốn ăn gì thì cố mua cho bà ăn, thế là tốt
rồi! Tây y, Đông y đều nói như thế, không kê thuốc cũng không chích
thuốc, châm cứu gì
cả! Cứ như thế nằm trên giường bệnh đau đớn triền miên suốt 6 tháng, nhờ
vào đứa con trai tên là Nghĩa, là một cư sĩ và người con dâu chăm sóc
phục dịch kề bên; con gái là Thủy Cẩm cũng về nhà chuẩn bị hậu sự (đám
tang). Nhưng trong 6 tháng, lão Bồ Tát mỗi ngày hai thời sáng tối, bất
luận thế nào đều nhất định đứng dậy lạy Phật, dầu là đang trong cơn bệnh
khổ, nằm trên giường bệnh, miệng cũng không rời Thánh hiệu A Di Đà Phật.
Vào khoảng đầu tuần tháng Tám (từ mồng 1 đến mồng 10) bệnh trạng đã rất
trầm trọng, thân thể không thể cử động được, miệng không nói được! Một
đêm kia, lúc bệnh trạng đang rất nguy cấp bỗng nhiên thấy bà nói lẩm
bẩm: “A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát … các ngài viết chi nhiều chữ như
thế, con một chữ cũng không biết! Các ngài sao không nói thẳng với con
có tốt hơn không?”. Ngưng lại một chút, lão Bồ Tát lại nói tiếp: “Cảm ơn
lòng từ bi của Phật rất nhiều, các ngài 10 giờ tối mai sẽ đến giải phẫu
cho con cắt bỏ đi cục thịt ở dưới ngực bên phải này, A Di Đà Phật, Quán
Thế Âm Bồ Tát, các ngài thật là từ bi quá!”. Những lời này đều là vợ
chồng A Nghĩa và vị liên hữu Thủy Cẩm tự tai nghe được, nhưng lúc đó lại
cho là người già trước lúc lâm chung, tinh thần rối loạn nói lung tung
vậy thôi! Nhưng đến sáng lão Bồ Tát liền kêu con, cháu đi chuẩn bị hương
hoa quả phẩm, đặt một cái bàn thờ trong phòng để tiếp đón Phật Bồ Tát
đến trị bệnh. Thật là không thể nghĩ bàn, vừa đợi đến 10 giờ, liền nghe
tiếng khua của dao kéo… Đột nhiên nghe một tiếng “sựt”, cục thịt ở dưới
ngực bên phải đó bỗng bị cắt rời ra, máu chảy ra đen như than, từng giọt
từng giọt to bằng ngón tay cái, chảy ra rất nhiều. Từ đêm đó trở đi, sức
khỏe của bà mạnh khỏe dần dần, miệng của vết thương nơi cắt cục thịt,
nhờ con dâu hằng ngày dùng nước trà rửa, rửa không đến một tháng, không
cần thuốc gì mà khỏi bệnh.
Hiện nay lão Bồ Tát gặp người
nào cũng liền khuyên niệm A Di Đà Phật; xâu chuỗi từ nào đến giờ chưa
từng rời tay. Năm nay dù đã tám mươi bốn tuổi nhưng sức khỏe còn mạnh
hơn người thường. Giữa Đài Trung và Minh Tú thường đi đi về về tinh thần
sung mãn khác thường. Phật vốn là đại Y Vương, ngoại khoa đại phẫu thuật
của Phật, Bồ Tát là trị muôn người lành muôn người, nhưng điều quan
trọng là chỉ hỏi nơi bạn là có đúng “nhất tâm niệm Phật” hay không? Độc
giả nếu không tin, lão Bồ Tát đến nay vẫn còn mạnh khỏe, nếu không ngại
xin mời đích thân đến thăm một lần. Bà cụ già rồi, đã không vì danh cũng
không mưu lợi, cần gì phải dựng ra câu chuyện này để lừa gạt người?
7. TRỢ GIÚP CHO CHA VÃNG SANH
TÂY PHƯƠNG THẬT LÀ ĐẠI HIẾU!
Ban trợ niệm của Liên Xã ở
Đài Trung khởi đầu là do một tay của lão cư sĩ Giang Ấn Thủy tổ chức
dựng nên, cho nên mọi người cử ông làm trưởng ban trợ niệm, chuyên phụ
trách niệm cho người lâm chung được vãng sanh Tây phương. Mọi người đều
quen tôn xưng lão cư sĩ là Giang tiên sinh. Lúc ông 71 tuổi còn kiêm
nhiệm chức giáo sư lịch sử ở Học Uyển chùa Linh Sơn, ông gánh vác mọi
việc vì người, rất tận tình, không từ khó nhọc. Không may vào hạ tuần
(khoảng 20 đến 30) tháng 8 năm Dân Quốc thứ 48, ông bỗng bị chứng bệnh
suyễn mệt tim, Đông Tây y đều không hiệu quả, đến khi bệnh quá nguy
kịch, có một hôm vào lúc 7 giờ sáng, con trai của ông là Giang Trọng
Phan Quân (dạy học tư gia trong thành phố Đài Trung), đến nhà tôi nói
với tôi: “Sư cô Khán Trị! Hôm qua bác sĩ nói cha tôi sống tối đa thêm
bảy ngày nữa thì lìa đời, kêu tôi phải lo chuẩn bị hậu sự, không biết
nên làm thế nào đây?”. Tôi vốn biết Trọng Phan Quân lúc bình thường là
đứa con rất hiếu thuận, liền hỏi anh ta: “Từ lúc cha anh bệnh đến nay,
anh đã tốn hết bao nhiêu tiền cho cha anh rồi?”. Anh ta nói khoảng hơn
năm mươi ngàn đồng. Tôi nói: “Nếu theo pháp thế gian mà nói, như thế đã
hết sức vì người rồi. Nhưng tốn nhiều tiền như thế đối với cha anh mà
nói lại không có ích gì cả, chỉ có thể làm tăng thêm đau khổ cho thân
xác! Tôi nghe nói anh mấy tháng nay không nhớ đến thay đổi y phục, ngày
đêm chỉ lo hầu hạ thuốc thang, có thể nói anh là một người con có hiếu
trong đời, nhưng như thế cũng chưa thể gọi là lòng hiếu chơn chánh!”.
Trọng Phan Quân nghe xong lấy làm lạ không biết gì, lặng lẽ nhìn tôi,
tôi liền vì anh ta mà giải thích: “Theo lý nhà Phật nói, anh phải làm
cho cha anh tâm được an, chết có chỗ về (tâm hữu sở an, tử hữu sở quy).
Anh nếu thật có lòng hiếu, ắt phải về nhà ở bên cha mà niệm Phật, bắt
đầu hôm nay niệm 7 ngày, tâm của cha anh chắc chắn sẽ vô cùng vui vẻ,
khiến cho ông ra đi được nhẹ nhàng, vãng sanh về cõi Phật, như thế mới
là đại hiếu chơn chánh. Hiếu hạnh chung chung của người thế gian chỉ là
cung cấp những sự hưởng thụ trong cuộc sống của cha mẹ vào lúc tuổi già,
sau khi chết thần thức đọa lạc vào đâu lại không cần biết, đây chỉ là
hiếu về vật chất, cho nên không thể nói là đại hiếu”. Giang Quân nghe
xong rất vui mừng tiếp nhận đề nghị của tôi, tôi bèn chỉ cho anh phương
pháp niệm Phật, hy vọng anh ta mỗi lần niệm một giờ cho đến hai giờ, cần
chí tâm thành khẩn, mỗi câu phải rõ ràng, mới có hiệu quả.
Ngày hôm ấy là ngày tôi giảng
kinh định kỳ ở giảng đường Tân Trúc Văn Nhã, nhưng từ lúc sáng sớm sau
khi nghe được tin này, nghĩ đến việc một thành viên quan trọng trong
Liên Xã chúng tôi chỉ sống thêm 7 ngày nữa sẽ lìa đời, trong lòng khó
tránh khỏi tình cảm đau thương của sự sinh ly tử biệt, cho nên không thể
đi Tân Trúc, vốn muốn đi thăm họ (gia đình Giang tiên sinh), lại nghĩ có
lẽ Trọng Phan Quân đang niệm Phật, cha anh ta chắc chắn nghe rất hoan
hỉ. Mãi tới 8 giờ tối, tôi mới đến nhà họ Giang. Giang tiên sinh vừa
nhìn thấy tôi liền nói: “Chị Khán Trị! Mời ngồi! Mời ngồi. Có lẽ chị rất
bận, cho nên mấy ngày nay không đến thăm tôi, hôm nay pháp sư Sám Vân
tặng cho tôi hai xâu chuỗi Bồ Đề Tinh Nguyệt, mấy đứa đem lại cho chị
Khán Trị xem nào”. Lại nói rất nhiều về con cái của ông ta. Lúc đó tôi
liền nói với ông: “Vạn pháp đều vô thường, gia tài con cái đều là giả
tướng, biển khổ thế gian không nên lưu luyến thêm, Tây phương là vườn
nhà yên ổn, là quê hương an lạc của chúng ta, tâm chúng ta nhất thiết
không được điên đảo, bây giờ tôi niệm A Di Đà Phật cho ông nghe, ông
phải buông bỏ hết mọi duyên, nhất tâm niệm Phật!”. Tôi liền cầm cái
khánh dẫn lên, to tiếng niệm Phật. Cả nhà ông ta từ bà Giang và vợ chồng
của Trọng Phan cho đến con gái, con rể tổng cộng 7 người, đều cùng niệm
Phật, niệm khoảng 30 phút, bỗng nhiên Giang lão cư sĩ tự mình ngồi dậy,
hai tay chấp lại, hai chân ngồi kiết già, hai mắt mở to, nét mặt vui
tươi, lúc nằm xuống lại, an tường vãng sanh trong tiếng Phật hiệu A Di
Đà. Trong khoảnh sát na hiện ra kỳ tích không thể nghĩ bàn như thế, thật
tình mà nói, tôi lúc đó cũng giật mình!
Cả nhà con cháu của Giang lão
cư sĩ do tôi hướng dẫn phân ban trợ niệm, niệm đến trời sáng đã qua 8
giờ đồng hồ, thử sờ trên đỉnh còn rất ấm, thân thể vẫn mềm mại như bông,
nghi dung còn tươi tốt, trang nghiêm hơn cả lúc còn sống.
Tôi liền hỏi Trọng Phan Quân:
“Anh hôm qua khi về nhà, có niệm Phật cho cha anh nghe không?”. Giang
Quân liền nói: “Có! Có. Tôi từ nhà bà cô về, liền ngồi bên cạnh cha mà
niệm Phật. Lần đầu niệm được hai tiếng đồng hồ, buổi chiều được hai
tiếng nữa, cha tôi vô cùng hoan hỉ, gọi tôi là con ngoan và hỏi ai dạy
tôi niệm Phật? Làm sao hôm nay có thể niệm Phật được nhiều như thế? Tôi
liền trả lời: “Ba! Đó là tự con phát tâm niệm Phật, con từ nay trở đi
phải niệm Phật hàng ngày, cầu nguyện cho ba sớm được khỏe mạnh”. Cha tôi
nghe xong rất hài lòng, vui vẻ, buổi trưa liền ăn một chén cháo, nửa dĩa
rau xanh, đau đớn hầu như bớt phân nửa. Bác sĩ nói có thể sống thêm 7
ngày nữa mới chết, không ngờ có mấy tiếng đồng hồ sau linh giác lại an
tường vãng sanh trong tiếng niệm Phật, thật là Phật Pháp vô biên, không
thể nghĩ bàn.
Lão cư sĩ Giang Ấn Thủy là
người vãng sanh vào tháng 2 năm Dân Quốc thứ 49. Vào khoảng tháng 6 tôi
đi bộ vô ý bị té gãy cánh tay rất nặng, xương gãy làm ba khúc, đêm đó
đau đến nỗi không thể ngủ, đến 2 giờ khuya vẫn không thể nhắm mắt. Tôi
liền lẩm bẩm nói với cánh tay bị đau rằng: “Mi là thứ đồ giả! Cái túi da
hôi thối sống đã mấy chục năm! Đau là do mi đau, vì mi là mi, ta là ta.
Ta cần đi Tây phương, không liên can gì tới mi!”. Tôi liền một mực quán
tưởng đến Phật, trong lúc nửa tỉnh nửa thức, bỗng thấy một người từ
trong hư không đáp xuống, đi thẳng đến trước mặt tôi, ông ta mặc áo vải
màu xám, thân thể to lớn, gương mặt cũng to, chỉ thấy phân nửa thân trên
còn phân nửa thân dưới bị mây màu che khuất. Người này đột nhiên gọi
tôi: “Chị Khán Trị! Tay của chị đau lắm hả? Đây là thời vận không tốt
nhưng tai nạn đã qua rồi, không sao đâu!”. Tôi vừa nghe tiếng liền ngẩng
đầu lên xem lần nữa, rất giống Giang tiên sinh, tôi liền hỏi: “Giang
tiên sinh! Ông có vãng sanh không?”. Ông ta trả lời liên tiếp: “Có!
Có!…” rồi xoay mình biến mất. Lúc tôi mở mắt ra xem là đúng 3 giờ, tay
cũng không còn đau nữa, không đầy mấy ngày liền khỏi. Đây là lần thứ
nhất tôi nhìn thấy người vãng sanh, có bút mực thế nào cũng khó mà diễn
tả hết cái tướng trang nghiêm tốt đẹp đó được!
Tháng 3 năm thứ 50 là ngày
giáp năm của Giang tiên sinh, nhà ông ta ở đường Dân Tộc dời về nhà mới
ở đường Đài Trung, bà Giang nhờ tôi thỉnh tượng Phật về an vị nhà mới và
niệm Phật siêu độ, chuyển các lư hương bài vị của tổ tiên, chủ thần. Bận
rộn suốt một ngày, đến tối ngủ lại chiêm bao thấy Giang tiên sinh hình
tướng cũng như lần trước, đến trước mặt tôi nói: “Chị Khán Trị! Cám ơn
chị nhiều. Thọ nhận sự giúp đỡ của chị rất nhiều!”. Tôi lại hỏi ông ta
như lần trước: “Giang tiên sinh! Ông có vãng sanh không?”. Ông ta cũng
lại như lần trước nói: “Có! Có!”. Xong liền biến mất. Sáu năm sau không
còn chiêm bao thấy nữa, tôi hối hận tâm mình ngu si, điều quan trọng
không hỏi, hai lần đều chỉ hỏi ông ta có vãng sanh không? Tại sao không
hỏi: “Khán Trị tôi đây có thể được vãng sanh không? Phải đến ngày nào
mới được vãng sanh?”.
8. VỐN ĐẾN ĐÒI NỢ, NIỆM PHẬT
ĐƯỢC GIẢI OAN
Nhớ lại vào đầu tuần tháng 2
mười năm trước, Ái cô nương, trụ trì của chùa Đại Nhã Long Thiện, gặp
tôi ở trạm xe cục Công lộ, bèn nói với tôi rằng: “Chị Khán Trị, ngày 19
tháng 2 là ngày khai pháp hội của chùa tôi, tín chúng đều muốn nghe chị
giảng Phật Pháp, xin mời chị phát tâm đến”. Tôi liền nhận lời. Ngày ước
định đến liền đi, lại còn mang theo rất nhiều “vô thượng chí bảo” và
những sách về pháp môn Tịnh độ, hôm đó sau khi giảng xong, phân phát cho
các thính chúng để kết duyên. (Vô thượng chí bảo là một loại như tấm
thiếp xếp bỏ túi, in hình Tây phương Tam Thánh và những phương pháp giản
tiện về niệm Phật)
Tháng 2 năm sau lúc tôi đả
thất tại chùa Linh Sơn ở Đài Trung, hôm đó là ngày sư tỷ Huệ Phồn hộ
thất; khoảng hơn 3 giờ chiều, tôi đang niệm Phật trong Niệm Phật đường,
sư tỷ Huệ Phồn đi vào nhè nhẹ kéo áo tràng tôi một cái, tôi liền đi theo
Huệ Phồn ra ngoài xem coi chuyện gì, chỉ thấy một người đàn bà ở dưới
quê, hoàn toàn không quen biết, khoảng hơn 50 tuổi, đang đứng ngoài sân.
Tôi liền hỏi: “Bà ở đâu kêu tôi có việc gì?”. Bà ta nói: “Ông nhà tôi
kêu tôi kiếm bà, gặp mặt bà để nói lời tạ ơn bà. Tôi từ sáng sớm vào
thành, ở trong thành hỏi thăm khắp hết: “Sư tỷ Khán Trị ở đâu?”, trong
đó có người chỉ, nói bà ở trong Liên Xã. Đến Liên Xã, người trong Liên
Xã nói bà đang ở chùa Linh Sơn cho nên tôi tìm đến đây, muốn nói một
chuyện để bà biết, cũng là báo đáp cái ân của bà”. Tôi nghe xong lấy làm
lạ, thật chẳng biết ất giáp gì cả! Xem ra chuyện này không thể nói hai
ba lời mà xong được, vả lại quy củ Phật thất ở chùa Linh Sơn rất nghiêm,
ở sân chùa không được nói chuyện, tôi liền dẫn bà ta cùng ra phía ngoài
tường, để tiện hỏi cho rõ, lúc đó Huệ Phồn cũng đi theo.
Người đàn bà kia liền nói:
“Tôi là người ở trong làng Lại Lịch mười ba giáp, hồi tháng 2 năm ngoái
lúc bà giảng Phật Pháp ở chùa Đại Nhã Long Thiện, con trai của tôi là
Lại Phúc Hưng cũng có nghe giảng ở đó. Sau khi nghe xong có thỉnh “vô
thượng chí bảo” và một ít quyển sách nhỏ về nhà nữa. Từ hôm đó, nó bắt
đầu tin Phật, lại còn mỗi ngày lạy Phật, niệm Phật, y theo phương pháp
trong “vô thượng chí bảo”, hai thời khóa tụng niệm sáng tối, từ đó đến
giờ không hề gián đoạn, gần như là được đến trình độ đi, đứng, nằm, ngồi
Phật không rời tâm, tâm không rời Phật”. Tôi nghe xong rất là ngạc
nhiên, trong thế giới Ta Bà này sao lại có người có phúc khí lớn như
thế, mới nghe Phật pháp một lần, liền bắt đầu tu hành sớm tối như vậy?
Tôi liền hỏi bà ta: “Con bà bao nhiêu tuổi? Làm nghề nghiệp gì? Làm sao
mà phát tâm được như thế?”. Người đàn bà đó lại nói: “Con tôi hồi năm
ngoái hai mươi lăm tuổi, nó học xong trung học vào đại học và hai mươi
ba tuổi thì tốt nghiệp đại học, song về nhà nó bị lao phổi, hàng ngày
chạy chữa Đông Tây y, chích thuốc châm cứu v.v… trong ba năm tốn rất
nhiều tiền, mãi đến sau khi nó niệm Phật sức khỏe mới đỡ hơn lúc trước,
về mặt tinh thần cũng rất lạc quan, nó cũng thường vào thành phố thỉnh
mua những sách Phật Pháp về xem, cho nên thấy nó rất là vui vẻ”.
Tôi hỏi bà ta: “Trong nhà bà
có mấy người?”. Bà nói: “Ông nhà tôi ngoài tôi là vợ chính ra, còn có
một người vợ lẽ, cùng với con tôi tổng cộng bốn người. Vì bệnh của con,
chúng tôi ba người già đều phải hết sức trông nom nó, hy vọng nó mau
lành bệnh, một lòng nuôi con phòng lúc tuổi già, hy vọng ba người già
chúng tôi có chỗ nương tựa. Nhưng đến cuối năm ngoái, đầu tuần tháng
chạp âm lịch, Phúc Hưng bỗng nhiên mời ba người già chúng tôi đến bên
giường, nói rằng: “Ba và hai má! Con trưa hôm nay sẽ vãng sanh Tây
phương Cực Lạc thế giới, ba má đều già, nhất thiết chớ quá đau buồn,
than thở tuổi già không con, anh cả của con đi qua Nhật mười mấy năm bặt
vô âm tín, nhưng ba má không cần phải lo, hiện nay anh ấy đã lập nghiệp,
thành gia thất, lấy vợ sinh con ở Nhật Bản rồi, anh ấy vào đầu tuần
tháng 2 sẽ có thư về hỏi thăm, về sau sẽ qua qua lại lại giữa Đài Loan
và Nhật Bản, cảnh già của ba má không đến nỗi cô quạnh đâu!”.
Ông nhà tôi nghe xong những
lời như thế, liền khóc mà nói với con rằng: “Sức khỏe con gần đây đã đỡ
hơn trước nhiều rồi mà, con không được bỏ ba má. Con nên cầu Phật A Di
Đà phò hộ cho con đi”. Lúc đó Phúc Hưng con chúng tôi lại nói: “Con vốn
là đến đây để đòi nợ, ba má ba người trong đời quá khứ đã kết oán cừu
với con rất sâu, thiếu nợ của con rất nhiều, đời này đến làm con của ba
má, từ lúc sanh cho đến khi tốt nghiệp đại học, rồi bị cái bệnh lao phổi
ác ôn này, thuốc thang suốt ba năm, đến nay nợ vẫn chưa hết, con vốn
muốn chờ đến sau khi bán tiêu căn nhà này đi khiến cho ba má ba người
già nghèo cùng khốn khổ, không có chỗ nương thân, sống khổ như chết.
Nhưng năm nay nhờ gắng sức nhất tâm niệm Phật, nên đã tiêu diệt được tội
nghiệp nhiều đời, sắp vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới. Từ nay bốn
người chúng ta không còn oán cừu gì nữa, oán cừu đã được cởi mở hết rồi.
Ba má ba người cũng phải chí tâm niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây phương,
về sau chúng ta sẽ có thể ở chung một chỗ mãi mãi, không còn chia lìa
nữa. Mong rằng ba má nhờ kỹ lời con! Thôi thời gian đã đến rồi, đem giùm
quyển “Vô Thượng Chí Bảo” lại cho con, không được khóc, cũng không nên
động đến thân con, ba má ba người nên quay lưng lại, không nên nhìn con,
con cũng sẽ tự niệm Phật”
Phúc Hưng để quyển “Vô Thượng
Chí Bảo” trong lòng bàn tay và chắp tay lại, bắt đầu to tiếng niệm Phật,
chúng tôi cũng giúp trợ niệm, mặc dù nó đã nói không nên nhìn nó, nhưng
chúng tôi cũng cứ lén lén quay đầu lại nhìn. Niệm được 20 phút, tiếng
của Phúc Hưng từ từ nhỏ dần, đến khi dứt thở, hai tay buông ra, quyển
“Vô Thượng Chí Bảo” rớt trên ngực, liền ra đi một cách nhẹ nhàng tốt
đẹp. Người đàn bà nói tới đây thở một cái, lại nói tiếp: “Nhà của tôi có
nhiều phòng đều cho mướn, số người mướn trong đó có người tỉnh này, có
người tỉnh khác đến, lâu nay thấy Phúc Hưng bị lao phổi, mọi người đều
sợ lây bệnh, nên đã đi khắp các nơi muốn dời chỗ, bây giờ nhìn thấy con
chúng tôi khi lâm chung nói chuyện một cách sáng suốt rõ ràng, tướng
trạng trang nghiêm khác người thường như thế, ai cũng khen ngợi Phật
Pháp vô biên, không thể nghĩ bàn! Thế là họ đều không dời nhà nữa. Nhưng
cái việc nó nói lúc lâm chung về anh cả của nó ở Nhật Bản, mới đầu chúng
tôi không tin, nhưng gần đây quả thực có thư anh nó từ Nhật gửi về nói
sắp về Đài Loan thăm chúng tôi, so với lời dự báo trước của Phúc Hưng
hoàn toàn phù hợp. Ông nhà tôi rất vui nói: “Nếu không có sư tỷ Khán Trị
đến dạy người niệm Phật, thì Phúc Hưng làm sao lúc lâm chung biết được
nhân duyên đời trước và cái quả sau này, đồng thời giải hết được oán
kết? Từ việc lá thư của anh cả nó từ Nhật Bản gửi về có thể chứng minh
những lời của Phúc Hưng có thể tin chắc được”. Ông nhà tôi lại nói ba
người chúng tôi về sau có thể sống an nhiên trong tuổi già đây đều là
công đức của sư tỷ Khán Trị. Cái ân tình này nhất định cần tôi phải đến
Đài Trung tìm sư tỷ Khán Trị, gặp mặt sư tỷ để nói ra việc cảm ứng đặc
biệt này cho sư tỷ biết, cũng là để sư tỷ hoan hỷ! Đây chính là chúng
tôi muốn báo đáp ân tình của sư tỷ, nên tôi từ sáng sớm đến bây giờ mới
tìm ra được sư tỷ đấy!”. Sau khi nói những lời cám ơn liền muốn đi về.
Lúc đó tôi liền hỏi bà: “Nhà bà ở đâu? Chồng của bà tên họ là gì?”. Bà
ta nói: “Tôi ở số 13 giáp, đường Đại Nhã, chồng tôi tên là Lại Tuấn, con
tên là Lại Phúc Hưng”. Lúc đó sư tỷ Huệ Phồn ở kế bên, nghe từ đầu đến
đây bỗng nhiên nói với bà ta: “Thì ra cô là em dâu Tuấn, tôi là chị của
ông Tuấn, do vì nhiều năm không có qua lại, thật có lỗi! Xin mời đến nhà
tôi dùng trà đi”. Bà ta nói cám ơn xong liền bỏ đi. Lúc đó mặt trời đã
lặn về phía Tây, hơn 5 giờ rồi. Ba người chúng tôi đứng ngoài tường chùa
Linh Sơn, lâu hơn hai tiếng đồng hồ.
Hai câu chuyện vãng sanh ghi
đúng sự thật ở trên đều có thể chứng minh đích thực có Phật A Di Đà,
đích thực có thế giới Cực Lạc ở Tây phương; niệm A Di Đà Phật đích thực
có thể giải được oán kết, tiêu diệt được oán thù trong nhiều đời nhiều
kiếp. Căn cứ theo Đức Phật Thích Ca trong Kinh A Di Đà có nói: “Chúng
sanh trong cõi đó, thường vào lúc sáng sớm đều lấy đãy đựng hoa tốt đem
cúng dường mười muôn ức Đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về
bổn quốc…”. Đây là Đức Phật nói về chúng sanh ở Tây phương, sau khi vãng
sanh về đó liền có được thần túc thông. Còn căn cứ theo kỳ tích của Lại
Phúc Hưng mà suy đoán, Lại Phúc Hưng lúc lâm chung đã phát sanh được tha
tâm thông, mặc dù không thể tìm ra chứng cứ trên kinh điển, nhưng sự
thật là như thế. Các độc giả thông minh có thể giải thích dùm cho tôi
không?
9. BỊ TAI NẠN GIAO THÔNG, NHỜ
TIẾNG NIỆM PHẬT ĐƯỢC CẤP CỨU
Ở Đài Loan có câu tục ngữ:
“Không có quỷ không làm cho chết người” thật là đúng. Mấy năm gần đây, ở
các nơi, tai nạn giao thông liên tiếp không ngừng, có lẽ là cô hồn uổng
tử các nơi quấy phá, mắt phàm của chúng ta không thể thấy biết được. Tuy
không thấy được, nhưng nếu như biết trì một câu Thánh hiệu vạn đức hồng
danh A Di Đà Phật thì có thể khiến cho những ma quỷ đó bỏ đi ngay tức
thời, lập tức được an nhiên vô sự. Độc giả nếu như không tin thì mấy câu
chuyện thật sau đây sẽ chứng minh:
Vị liên hữu Khưu Liên Châu
hiện ở làng Nội Tân phía ngoài cửa thành Nam Đài Trung, mọi người đều
gọi bà là sư tỷ Ngọc. 10 năm trước bà mở một tiệm chụp ảnh ở gần chợ Đệ
Tam đường Đài Trung. Một hôm sư tỷ Ngọc ở ngã tư trước bưu điện, bị một
chiếc xe hơi không rõ của hãng nào đụng ngã trên đường, chiếc xe gây ra
tai nạn bỏ chạy mất! Tội nghiệp sư tỷ máu ra đầy mặt, hơi thở thoi thóp
không còn biết gì nữa, những người vây quanh nhìn nhau, không nhận biết
người bị thương là ai? Ngay lúc đó có một anh lính trẻ đi đến, bỗng
nhiên kêu lên: “Sư tỷ! Đây là sư tỷ ở tiệm chụp hình đây mà!”. Lập tức
cõng bà ta đưa về tiệm chụp hình, con cái bà vừa thấy liền hoảng kinh,
thất sắc, cả nhà đều lớn tiếng niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát,
anh lính trẻ kia cũng niệm Phật cùng với mọi người. Không bao lâu sau sư
tỷ Ngọc đang hôn mê bỗng lên tiếng, chỉ nghe bà ta nói rằng: “Các người
đông như thế muốn ta đi theo các người, ta không đi! Các người lái xe
hơi lại, muốn ép ta lên xe hả? Ta cũng không đi. Không đi là không đi!
Ta là đệ tử của Tam Bảo, suốt ngày niệm A Di Đà Phật, chỉ muốn đi Tây
phương thôi, làm sao có thể tùy tiện đi theo các người được chứ? Nếu như
Phật A Di Đà đến tiếp dẫn thì ta mới đi”. Nói đến đây ngừng một hồi, lại
tiếp: “Rất đông người như thế, muốn đến kéo ta đi, nghe tiếng niệm Phật
của các con ta, đã chạy ra ngoài hết rồi, xe hơi cũng chạy luôn”. Không
bao lâu sư tỷ tỉnh táo lại hẳn, lúc tôi đến thăm thì trên đầu bà ta đã
được bao lớp vải gạc và may mười mấy mũi, bà kể việc bà thấy rất nhiều
tà ma quỷ quái muốn ép bà lên xe. Tôi khen ngợi công sức niệm Phật của
bà là rất tốt. Nếu như là người không có tin Phật hoặc không dụng công
sức nhiều, thì thần thức không sáng suốt, thấy xe hơi có thể đi được,
liền vui mừng đi theo họ ngay, há chẳng đáng sợ ư? Thì ra anh lính trẻ
cõng bà về nhà là một liên hữu trong ban thanh niên của Liên Xã, đã
nhiều năm nghe kinh với Bính Công ân sư, do đó mọi người đều biết nhau,
sư tỷ Ngọc nếu không gặp được anh ta, nhẫn đến tự mình không được chánh
niệm rõ ràng, chắc chắn khó hồi phục mạnh khỏe.
10. XE HƯ, NIỆM PHẬT ĐƯỢC
HIỆU LỰC
Sư tỷ Hoàng Khoan Châu là phó
ban trưởng của ban Cửu Liên, là người từ bi, cũng là trưởng ban của Ban
48 lời nguyện. Nhà sư tỷ ở đường Nguyên Tử thành phố Đài Trung, là một
gia đình theo Phật, rất là phát tâm Bồ Đề, lúc bình thường, thường
khuyên mọi người niệm A Di Đà Phật và thiện xảo phương tiện độ người.
Hàng xóm có con nít hay bị hoảng sợ, giựt mình không ngủ được, đều bồng
lại nhờ sư tỷ gia trì chú Đại Bi, đứa trẻ liền nhẹ nhàng thoải mái dễ
ngủ. Vào khoảng 8 năm trước,