Trang tiếng Việt

Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


.........

.

Chú Nghĩa
Kinh A Di Đà


Kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn

và được tất cả các đức Phật hộ niệm

Phần C

chú nghĩa Kinh A Di Đà

– Danh hiệu Phật như hóa thân Phật bất tư nghì, vì luôn hiện thân Phật ngay nơi thân và tâm của người xưng niệm danh hiệu A Di Đà Phật.

Niệm Phật Bát Nhã Tam Muội Kinh

chú nghĩa Kinh A Di Đà

kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn

và được tất cả các đức Phật hộ niệm

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Phật nói Kinh A Di Đà, tức là kinh A Di Đà tiểu bổn, còn gọi là kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ niệm, ý lời rất sâu xa diệu nghĩa, do đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng nói, khai thị về pháp môn niệm Phật.

Đại bổn kinh A Di Đà là Vô Lượng Thọ Kinh, với 48 lời nguyện của đức Phật A Di Đà.

Tiểu bổn nầy, đời Hậu Tần (383-416), ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu của vua Dao Hưng, dịch từ Phạn ngữ ra Hán văn, vào năm 402, tại chùa Thảo Đường ở xứ Trung Quốc thời đó. Bản dịch Hán ngữ của ngài Cưu Ma La Thập đã được dùng làm kinh nhật tụng cho các thời khóa công phu và được xem là định bản để dùng cho các bộ A Di Đà chú giải cũng như đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác.

Pháp sư Cưu Ma La Thập, tức là ngài Đồng Thọ, người xứ Thiên Trúc (Ấn Độ), là vị Pháp sư đã phiên dịch trên 380 quyển kinh Phật từ tiếng Phạn ra tiếng Hán. Đồng Thọ, có nghĩa là vị đồng tử có tuổi thọ rất lâu dài.

Phần Tự

Phật nói về thế giới Cực Lạc ở phương Tây

Lời mở đầu của bản kinh A Di Đà, như sau:

Câu hội tại vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc

KINH: “Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Phật ở nước Xá Vệ, nơi vườn của ông Cấp Cô Độc và cây của ông Kỳ Đà, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ Kheo tụ hội, đều là bậc đại A La Hán mà mọi người biết đến: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Dà, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lầu Đà, các đại đệ tử như thế.”

Tôi nghe như vầy (như thị ngã văn) là chính ngài A Nan đã nghe và thuật lại đúng y như vậy những lời của Phật Thích Ca nói.

Kỳ Đà Cấp Cô Độc là tên của 2 ông Kỳ Đà và Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc (người giúp đỡ kẻ cô thân nghèo khốn) là ông Tu Đạt Đa, rất giàu có và nhân hậu, đã dùng vàng trải trên mặt đất để mua mảnh vườn của thái tử Kỳ Đà, làm Tịnh Xá cho Phật và Tăng chúng. Thái tử Kỳ Đà là con của vua Ba Tư Nặc. Những hàng cây trong vườn là của thái tử Kỳ Đà cúng dường cho đức Phật. Vì thế, khu vườn nầy được gọi là Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên (cây của ông Kỳ Đà và vườn của ông Cấp Cô Độc), còn gọi là Kỳ Viên Tịnh Xá Jetavana.

Xá Vệ (tiếng Pali: Savatthi, tiếng Phạn: Sravasti) là kinh đô nước Kosala của vua Ba Tư Nặc ở xứ Ấn Độ thời đó, nằm ở khoảng giữa của 3 nơi giáp quanh là sông Hằng, vườn Lâm Tỳ Ni (gần thành Ca Tỳ La Vệ, nơi Phật đản sanh) và dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (biên giới Nepal).

Tỳ Kheo (có 3 nghĩa: Khất Sĩ, Phá Ác, Bố Ma) là các vị thầy tu xuất gia, thọ 250 giới cụ túc của Phật (người nữ xuất gia, gọi là Tỳ Kheo Ni). Khất Sĩ là người tìm cầu pháp giải thoát của Phật và sống bằng lòng nhân hậu của thí chủ cúng dường. Phá Ác là phá trừ phiền não và ngã chấp. Bố Ma là khiến các loài ma phải khiếp sợ.

Các vị đại Tỳ Kheo đến dự pháp hội đều là những bậc đã chứng đắc quả vị A La Hán. A La Hán (có 3 nghĩa: Ứng Cúng, Sát Tặc, Vô Sanh) là người đã đạt được sự giải thoát và đoạn dứt tất cả mọi phiền não. A La Hán là quả vị cao nhất trong bốn quả Thanh Văn, là bậc Thánh, đã chứng đắc viên mãn tuệ, còn gọi là Bất Sinh. Ứng Cúng là xứng đáng được mọi người cúng dường. Sát Tặc là diệt trừ tất cả giặc phiền não. Vô Sanh là không còn trong vòng sanh tử.

Những vị đại Tỳ Kheo có đạo hạnh cao, xuất gia lâu năm, lớn tuổi, có tài biện luận và lý giải, được mọi người tôn quý và kính ngưỡng, gọi là Trưởng lão (người lớn tuổi), hoặc Tôn giả (người xứng đáng được tôn kính).

Các ngài Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên… đều là những vị Trưởng lão mà mọi người quen biết vì các ngài là những đại đệ tử rất thường đi theo và gần gũi đức Phật.

Những vị đại đệ tử như thế (như thị đẳng chư đại đệ tử) đã đến tham dự pháp hội và nhiều vị đại đệ tử khác cũng cùng đến câu hội, tất cả là 1.250 vị. Câu hội là cùng đến tụ hội ở một nơi, để cùng nhau tham dự pháp lễ.

Trong số 1.250 vị đại Tỳ Kheo đến câu hội (1.000 vị là các đệ tử của 3 anh em ngài Ca Diếp, 200 vị là các đệ tử của 2 ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, 50 vị là các đệ tử của ngài Da Xá Tử) có 16 vị đại Trưởng lão đã được nêu tên, làm chứng tín cho lời thuật lại của ngài A Nan trong bản kinh A Di Đà:

– Xá Lợi Phất (còn gọi là Xá Lợi Tử) là con của bà Xá Lợi (tiếng Hán là Thu Lộ). Ngài là người có trí tuệ cao siêu đệ nhất trong hàng đại đệ tử của Phật, có tài diễn thuyết và nghị luận.

– Ma Ha Mục Kiền Liên (con của bà Thanh Đề) là bạn thân của ngài Xá Lợi Phất, là người có thần thông đệ nhất trong hàng Thanh Văn đại đệ tử của Phật.

– Ma Ha Ca Diếp, có nghĩa là Ấm Quang (vì thân sắc của ngài luôn tỏa ra ánh sáng chói ngời), là người tu khổ hạnh đệ nhất (hạnh đầu đà) trong hàng đại đệ tử của Phật và là người đã được Phật Thích Ca trao cho y bát.

– Ma Ha Ca Chiên Diên là người có tài biện thuyết phi thường nên được đại chúng tôn xưng là người luận nghị đệ nhất.

– Ma Ha Câu Hy La là cậu ruột của ngài Xá Lợi Phất, là người có tài vấn đáp đệ nhất trong hàng đại Tỳ Kheo của Phật.

– Ly Bà Đa là người hiểu biết thông suốt mọi lý lẽ các pháp, không bao giờ nghi ngờ lời Phật dạy, có định lực ngồi thiền rất cao, nên được đại chúng tôn xưng là bậc đệ nhất không điên đảo trong hàng đại đệ tử của Phật.

– Châu Lợi Bàn Đà Dà là người dốt chữ và rất chậm hiểu. Sau khi chứng đạo, ngài thấu suốt hết mọi nghĩa lý trong kinh điển, vì vậy được đại chúng tôn xưng là bậc liễu nghĩa đệ nhất.

Nan Đà là em cùng cha khác mẹ với Phật, là người có tướng hảo rất trang nghiêm, nên được đại chúng tôn xưng là người có dung nghi đệ nhất trong hàng đại Tỳ Kheo của Phật.

– A Nan Đà, gọi tắt là A Nan, có nghĩa là Khánh Hỷ, con người chú (vua Hộc Phạn), là thị giả (người hầu cận) của đức Phật lúc còn tại thế. Ngài là người đa văn đệ nhất trong hàng Thanh Văn đại đệ tử của Phật, có biệt tài về chữ nghĩa và trí nhớ siêu phàm. Tất cả kinh Phật đều là do ngài A Nan ghi nhớ và thuật lại.

– La Hầu La, có nghĩa là sự trói buộc (Phú Chướng), là con của thái tử Sĩ Đạt Đa (còn gọi là Tất Đạt Đa, tức là đức Phật Thích Ca trước khi xuất gia). Ngài La Hầu La được đại chúng tôn xưng là người có mật hạnh đệ nhất trong số các đại đệ tử Thanh Văn của Phật.

– Kiều Phạm Ba Đề là người được chư Thiên cúng dường đệ nhất trong hàng Tỳ Kheo đại đệ tử của Phật.

– Tân Đầu Lô Phả La Đọa là người được tôn xưng có phước điền đệ nhất trong hàng đại đệ tử của Phật, vì ngài là ruộng phước ở cõi trần gian để mọi người gieo hạt giống lành (cúng dường).

– Ca Lưu Đà Di là người được đại chúng tôn xưng là bậc giáo hóa đệ nhất trong số các đại đệ tử của Phật, có tài thuyết phục mọi người.

– Ma Ha Kiếp Tân Na là người có tài thiên văn đệ nhất trong hàng Thanh Văn đại đệ tử của Phật.

– Bạc Câu La là người có thọ mạng đệ nhất trong hàng đại đệ tử của Phật, sống lâu 160 tuổi trong 91 kiếp.

– A Nậu Lầu Đà (còn gọi là A Na Luật) là người khất sĩ mù (vì tinh tấn tu tập suốt 7 ngày đêm không ngủ nghỉ). Sau khi chứng đạo, ngài là người có thiên nhãn thông đệ nhất trong số các hàng Tỳ Kheo đại đệ tử của Phật.

KINH: “Lại có hàng đại Bồ Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, cùng với các đại Bồ Tát như thế, và Thích Đề Hoàn Nhân, vô số chư Thiên, tất cả đại chúng dự hội.”

Trong số chư vị Bồ Tát đến câu hội, có 4 vị đại Bồ Tát đã được nêu tên, làm chứng tín cho lời thuật lại của ngài A Nan trong bản kinh A Di Đà. Đó là các ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát. Những vị đại Bồ Tát như thế (như thị đẳng chư đại Bồ Tát) đã đến tham dự pháp hội và nhiều vị đại Bồ Tát khác cũng cùng đến câu hội:

– Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là người đứng đầu trong hàng Bồ Tát của Phật, là vị đại Bồ Tát có trí tuệ bất khả tư nghì, nên được đại chúng tôn xưng là bậc Diệu Đức. Thời Phật còn tại thế, ngài đang tu hành hướng về Phật quả viên mãn, sẽ thành Phật sau đức Thế Tôn, vì vậy ngài được gọi là Pháp Vương Tử (con của vua pháp). Tiền thân, ngài là người con thứ 3 của vua Vô Tránh Niệm (tức là đức Phật A Di Đà trước khi xuất gia).

– A Dật Đa Bồ Tát (có nghĩa là Vô Năng Thắng), tức là đức Di Lặc Bồ Tát (tiếng Hán là Từ Thị), là vị đại Bồ Tát thuộc hàng nhất sanh bổ xứ của Phật, phát tín tâm nơi pháp môn Tịnh Độ. Ngài hiện đang thuyết pháp ở cung Trời Đâu Suất, tương lai hạ sanh vào thế giới Ta Bà và sẽ thành Phật tại hội Long Hoa. Tiền thân, đức Di Lặc là đệ tử của ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử.

– Càn Đà Ha Đề Bồ Tát (có nghĩa là Bất Hưu Tức), là vị đại Bồ Tát tu tập rất tinh tấn, đã trải qua bao nhiêu số kiếp mà vẫn không ngừng nghỉ tu tập.

– Thường Tinh Tấn Bồ Tát là vị đại Bồ Tát thường luôn kiên trì tu tập hạnh tự lợi và lợi tha, giáo hóa và cứu độ chúng sanh không bao giờ chán mỏi.

4 vị đại Bồ Tát nầy (Bồ Tát Ma Ha Tát) là những bậc mô phạm, đầy đủ công đức trí tuệ và đạo hạnh, đại diện cho chánh pháp Đại Thừa của Phật, biểu trưng cho 4 Thánh đức: Trí Tín Nguyện Hạnh.

- Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, biểu trưng cho Trí

- Bồ Tát A Dật Đa, biểu trưng cho Tín

- Bồ Tát Càn Đà Ha Đề, biểu trưng cho Nguyện

- Bồ Tát Thường Tinh Tấn, biểu trưng cho Hạnh

Lại có ngài Thích Đề Hoàn Nhân, là vị vua Đế Thích ở cung Trời Đao Lợi trên đỉnh núi Tu Di, chủ tể của 33 cõi Thiên, cùng với vô lượng vô số các vị Thần, chư Thiên, các loài Rồng, các vị A Tu La, các vị Trưởng giả, các vị Cư sĩ cùng gia đình quyến thuộc… tất cả đại chúng đều đến tham dự pháp hội.

Tu Di là ngọn núi lớn nhất thế giới (Tu Di sơn vương), cao 84.000 do tuần, bằng 4 chất báu sáng ngời là vàng bạc lưu ly pha lê, ở trung tâm điểm của vũ trụ, là trú xứ của chư Thiên. Trên đỉnh núi là cõi Đao Lợi của vua Đế Thích, ở khoảng giữa lưng chừng núi là 4 cõi Trời của Tứ Đại Thiên Vương (mỗi vị ở mỗi phương: Đông, Tây, Nam, Bắc), các cõi nầy nương theo ánh sáng của mặt trời. Từ đỉnh núi lên cao hơn nữa là 28 cõi Trời khác nương theo mây, có ánh sáng riêng ở mỗi cõi. Tổng cộng tất cả là 33 cõi. Do tuần (yojana), số dặm của Ấn Độ, có rất nhiều hạng: 30 dặm, 40 dặm, 60 dặm, tính theo dặm Tàu. 1 dặm Tàu là 500 mét (0.5 km).

Thế nào là Tri-Tín-Nguyện-Hạnh?

Tri-Tín-Nguyện-Hạnh được xem là 4 món lương thảo (gọi là tứ tư lương: hiểu sâu, tin chắc, nguyện thiết, hành chuyên) rất cần thiết cho người niệm Phật, để dựa theo đó làm phương hướng tu hành. Mỗi món đều cần nhau, nương vào nhau, không thể thiếu bất cứ một món nào. Nếu không hiểu sâu thì tin sẽ không chắc. Nếu tin không chắc thì nguyện sẽ không thiết tha. Nguyện không thiết tha, vì niềm tin không chắc, thì làm sao có thể hành cho chuyên. Vì vậy mà nói, tất cả đều là những lương thảo rất cần thiết, làm hành trang 6 thời cho người tìm học và tu trì theo pháp môn Niệm Phật Tam Muội.

– Tri là hiểu sâu. Tìm học để thấu suốt diệu nghĩa của chánh pháp. Khi hiểu sâu thì TRI tức là TRÍ, tức là Văn Huệ và Tư Huệ, trí tuệ đạt được do sự lắng nghe, tìm học, suy luận về những nghĩa lý nhiệm mầu trong kinh điển. Nếu không có nhiều thời gian để nghiên cứu về Phật pháp, thì chỉ cần học hiểu cho rốt ráo mọi nghĩa lý sâu kín của bản kinh A Di Đà, rồi theo đó mà thọ trì, thì cũng là đầy đủ. Nếu có thời giờ, nên thường đọc kinh A Di Đà, mỗi ngày một lần, mỗi lần đọc sẽ hiểu thêm một chút sâu xa hơn, cho niềm tin được vững vàng, để thọ trì đúng pháp, cảm ứng sự diệu mầu trong lời Phật dạy.

– Tín là tin chắc. Tin vào lời của Phật Thích Ca, tin vào lý nhân quả, tin vào luật luân hồi và nghiệp báo, tin thật có thế giới Cực Lạc ở phương Tây, tin có cõi Tịnh Độ ở trong tâm mình, tin vào 48 lời nguyện của đức Phật A Di Đà, tự tin chính mình cũng có khả năng thành Phật.

– Nguyện là nguyện thiết. Tha thiết cầu vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc, tu tạo công đức và đạo hạnh để sớm đạt thành Phật quả, giải thoát chính mình và cứu độ chúng sanh.

– Hạnh là hành chuyên, trên cả 2 mặt Thiện nghiệp và Tịnh nghiệp. Nghĩa là phải nỗ lực gieo trồng những nghiệp lành, nắm giữ các thiện pháp, tránh làm những điều ác, thực hành hạnh bố thí và tha thứ, thường xuyên sám hối tu sửa tâm tánh, không hại người và vật, không báo thù người, nghiêm giữ giới luật, tinh tấn trì niệm A Di Đà để chuyên nhất tâm tưởng, dùng câu Phật hiệu để diệt trừ mọi tà ý sân niệm sanh khởi, tâm tưởng ngày đêm hướng về các cõi lành và các điều lành, hồi hướng công đức về Cực Lạc và chúng sanh muôn loài.

Bốn món tư lương Tri-Tín-Nguyện-Hạnh là hành trang tu đạo mà người niệm Phật phải nắm chặt lấy. Hãy giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau, cùng tiến tu đến quả vị cứu cánh Niết Bàn ngay trong kiếp nầy. Chúng ta hãy cùng nhau cố gắng, ráng làm cho xong trong một đời nầy. Hãy tinh tấn tu trì, với niềm tin thật vững chắc, tin ở khả năng tự lực của chính mình, tin ở sức mạnh hộ trì của chư Phật mười phương. Người niệm Phật phải thiết tha một lòng hướng nguyện sanh về cõi nước Phật A Di Đà. Đức Thế Tôn đã dạy, niềm tin ở chánh pháp là cửa vào của pháp môn Niệm Phật Tam Muội, người niệm Phật nhất định phải thành Phật.

Người tu trì theo pháp niệm Phật phải phát tâm Bồ Đề vô thượng, tu tập Giới Niệm Định Huệ, ngày đêm 6 thời thành kính thọ trì danh hiệu A Di Đà Phật. Phát tâm Bồ Đề vô thượng là tìm cầu giải thoát để thành Phật, tu tập theo hạnh của Phật và chư đại Bồ Tát.

Thế nào là Nhân Quả?

Nhân Quả là nguyên nhân và kết quả. Hễ gieo nhân gì thì gặp quả đó. Nếu không có nhân thì không có quả. Trồng nhân tốt thì được quả tốt. Trồng nhân xấu thì bị quả xấu. Làm việc thiện thì được quả thiện. Làm việc ác thì bị quả ác. Sự chuyển tiếp từ Nhân để trở thành Quả do bởi các trợ duyên. Nhân và Quả tiếp nối với nhau và tương quan vào nhau, trong nhân có quả, trong quả có nhân, có nhân thì sẽ có quả, có quả thì sẽ có nhân mới. Đó là chân lý bất biến của vũ trụ vạn thể.

Thế nào là Luân Hồi?

Luân Hồi là bánh xe quay vòng và liên tục, tác động trên mọi người và mọi loài, dựa trên lý Nhân Quả mà chuyển tiếp, từ Nhân thành ra Quả, từ Quả thành ra Nhân mới, du hành liên tục qua 6 cõi: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A Tu La, Người, Trời (gọi là Lục Đạo).

(Ngạ quỷ là loài quỷ đói vì cổ họng chỉ nhỏ bằng ống kim nên không thể ăn được nhiều. A Tu La là loại thần Phi Thiên, tánh khí rất nóng nảy và hung bạo, sống ở cõi Người hoặc cõi Thiên.)

Theo định luật Luân Hồi, khi chết đi không có nghĩa là đã đoạn diệt mất hẳn tất cả (đó là lối chấp đoạn), cũng không có nghĩa là linh hồn vẫn thường còn để đầu thai trở lại làm người (đó là lối chấp thường), mà là chúng nhận chịu sự chi phối trên lý Nhân Quả và luật Nghiệp Báo để chuyển tiếp đến 1 trong 6 cõi luân hồi.

Nếu khi sống, mình gieo nhân tốt, nghiệp tốt, thì khi chết sẽ được chuyển đến cảnh giới tốt, thân tốt. Nếu khi sống, mình gieo nhân xấu, nghiệp xấu, thì khi chết sẽ bị chuyển đến cảnh giới xấu, thân xấu. Đó là định luật chuyển tiếp quay vòng của tất cả vạn vật nhân sinh nơi cõi Ta Bà.

Muốn thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi trong 6 cõi và đạt đến cảnh giới an vui vĩnh hằng thì bản thân phải tu đạo giải thoát, phải gieo nhân giải thoát, phải hành theo các pháp lành, ngay trong kiếp hiện tại nầy.

Con đường đưa đến sự giải thoát nhiệm mầu mà đức Phật Thích Ca đã trao dạy suốt 25 thế kỷ qua, là pháp môn Niệm Phật Tam Muội (tức là thọ trì danh hiệu Phật, tu tạo công đức và đạo hạnh, phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà).

Thế nào là Nghiệp Báo?

Nghiệp là hành động có tác ý, nghĩa là có ý muốn làm như vậy. Những hành động có sự chỉ đạo của tâm thức thì sẽ tạo Nghiệp. Những hành động vô ý mà làm thì không tạo Nghiệp. Nghiệp được tạo ra từ những biểu hiện qua hành động (gọi là thân nghiệp), qua lời nói (gọi là khẩu nghiệp), qua ý nghĩ (gọi là ý nghiệp).

Những ác nghiệp tạo ra trong ý mà nếu được ngăn lại, sám hối, tẩy trừ, đoạn diệt, thì tâm sẽ trở lại trong sạch và không tạo ý nghiệp. Nhưng nếu tà ý đó được thể hiện ra lời nói, qua hành động, thì sẽ tạo ra Nghiệp.

Một hành động xấu thì tạo ra một thân nghiệp xấu. Một lời nói ác thì tạo ra một khẩu nghiệp ác. Một ý tưởng tà bậy thì tạo ra một ý nghiệp xấu. Nghiệp tốt thì sẽ thành Quả tốt. Nghiệp xấu thì sẽ thành Quả xấu. Đó gọi là Nghiệp Báo, dựa trên định luật Nhân Quả.

Sự báo ứng của Nghiệp (gọi là Nghiệp báo) sẽ ngay trong kiếp hiện tại nầy (gọi là Hiện nghiệp), hoặc có thể sẽ là ở kiếp sau, hoặc những kiếp mai sau nào đó, tùy theo cái sức của Nghiệp đó nặng hoặc nhẹ, tùy theo cái phước đã được tích lũy từ nhiều kiếp trước của người đã gây ra Nghiệp, mà việc trả Nghiệp sẽ đến nhanh, hoặc chậm (gọi là Hậu nghiệp).

Có 2 thứ Nghiệp báo:

– Biệt nghiệp: nghiệp do riêng mình tạo ra và chỉ riêng mình sẽ nhận lấy nghiệp báo ấy.

– Cộng nghiệp (còn gọi là Đồng nghiệp): nghiệp do mình tạo ra và người khác cũng có ít nhiều nghiệp duyên trong đó, hoặc do người khác tạo ra và mình cũng gây tạo những nghiệp tương tự như vậy, thì mình và nhiều người sẽ cùng chịu ảnh hưởng chung của nghiệp báo ấy.

Y báo và Chánh báo

KINH: “Bấy giờ, Phật bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất: Từ đây tới phương Tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Trong cõi đó, có đức Phật hiệu A Di Đà, hiện đang nói pháp.”

Từ đây, tức là vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ, hướng về phía Tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật (thập vạn ức Phật độ), nghĩa là cách xa nơi nầy 10 tỷ thế giới của các đức Phật, có thế giới tên là Cực Lạc (y báo) của đức Phật hiệu A Di Đà (chánh báo), ngài hiện đang thuyết pháp cho đại chúng trong cõi nước của ngài (kim hiện tại thuyết pháp). Trong kinh Hoa Nghiêm nói: “ÔÛ Ta Baø theá giôùi coõi cuûa Thích Ca Maâu Ni Phaät ñaây moät kieáp, nôi Cöïc Laïc theá giôùi, coõi A Di Ñaø Phaät laø moät ngaøy moät ñeâm”. Một tiểu kiếp của con người ở thế giới Ta Bà tương đương 16 triệu năm sinh tử. Vì thế, đức Thế Tôn nói Phật A Di Đà hiện bây giờ đang nói pháp.

Theo Hán Việt tự điển, 1 vạn là 10 ngàn. 1 ức là 10 vạn, tức là 100.000 (10 x 10.000 tính theo số mục của thời xưa). Thập vạn ức là 10 tỷ (10 x 10.000 x 100.000).

Thế nào là Chánh báo? Chánh báo là quả báo chánh, là thân tâm của con người, do những nghiệp duyên từ nhiều kiếp trước mà cảm ứng và sanh ra như vậy. Ở đây, Chánh báo là nói về Phật A Di Đà và các hàng đệ tử Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát trong cõi nước của ngài.

Thế nào là Y báo? Y báo là quả báo phụ, theo liền với Chánh báo, là tất cả những gì nương theo thân mạng và đời sống của con người, như nhà cửa, đất đai, tiền bạc... Ở đây, Y báo là nói về cõi nước Cực Lạc ở phương Tây.

– Trước mặt, hướng về phía mặt trời mọc là phương Đông. Sau lưng, hướng về phía mặt trời lặn là phương Tây. Bên tay trái là phương Bắc, bên tay phải là phương Nam. Thế giới mà chúng ta đang sinh sống đây là 1 tiểu thế giới, tương đương với 1 thái dương hệ (nơi có ánh sáng mặt trời). Cõi Cực Lạc ở về phương Tây của nước Xá Vệ (Savatthi), cách xa thế giới Ta Bà 10 tỷ cõi Phật, tương đương với 10 tỷ thái dương hệ. Ta Bà (tiếng Phạn), có nghĩa là Kham Nhẫn, tức là thế giới trần gian ngập đầy những khổ đau trầm luân và ác chướng mà con người khó lòng chịu đựng nổi.

Phần Chánh Tông

Cõi nước Cực Lạc và đức Phật A Di Đà,

nhân hạnh để được vãng sanh

Y báo vô cùng trang nghiêm

KINH: “Xá Lợi Phất, vì sao cõi đó tên là Cực Lạc?”

Đây là câu hỏi thứ nhất trong 3 câu hỏi, mà đức Phật đã hỏi ngài Xá Lợi Phất trong pháp hội giảng nói kinh A Di Đà. Phật hỏi ngài Xá Lợi Phất vì ngài là người có trí tuệ bậc nhất trong hàng Thanh Văn đại đệ tử của Phật, có đầy đủ trí huệ để có thể hiểu và có thể tin về những sự mầu nhiệm ở thế giới Cực Lạc.

KINH: “Vì chúng sanh trong cõi nước đó không có những sự khổ, chỉ thọ hưởng các điều vui, nên cõi đó tên là Cực Lạc.”

Thế giới Cực Lạc là thế giới công đức của Phật A Di Đà ở phương Tây, cách xa nơi nầy 10 tỷ cõi nước Phật, là cõi sáng rất an vui và không có sự khổ nạn, vì vậy nên gọi là Cực Lạc (cõi rất vui). Cái vui ở cõi Cực Lạc là vui tịch tĩnh, khinh an, đó không phải là vui đối đãi với khổ theo quan niệm nhị nguyên ở cõi thế gian.

Nơi chốn Cực Lạc trang nghiêm ấy, có đầy đủ tất cả 8 điều vui sướng Niết Bàn (gọi là bát lạc):

– hóa sanh từ hoa sen tinh khiết, trẻ mãi không già, không bao giờ bị ốm đau, sống lâu vô cùng, tùy ý toại nguyện mọi y thực và có thần thông tới lui khắp các cõi Phật không ngăn ngại, gần gũi bạn lành, cùng chung chí hướng với người tốt, thân tâm thanh tịnh và an lạc.

Những sự khổ nạn mà đức Phật muốn nói đến là 84.000 thứ phiền não trói buộc làm khổ lụy thân tâm con người ở cõi Ta Bà nầy. 84.000 sự khổ, chung quy lại, thì có 8 cái khổ chính (gọi là bát khổ), đó là sanh, già, bệnh, chết, mong cầu mà không được như ý, xa cách người mình yêu thương, gần gũi người mình oán ghét, bị ràng buộc và khống chế bởi thân ngũ ấm.

Thế nào là Ngũ ấm? Ngũ ấm, còn gọi là ngũ uẩn, là 5 nhóm cấu thành thân xác và tinh thần của con người:

- sắc: thân xác

- thọ: cảm giác

- tưởng: sự nhận biết (tri giác)

- hành: sự vận hành của tư tưởng (tâm tư)

- thức: ý thức phân biệt

Để đối trị với 84.000 phiền não, đức Thế Tôn đã thuyết dẫn ra 84.000 pháp môn tu trì, tùy căn cơ của người tín nhận. Sở dĩ có con số 84.000 là vì dựa trên 250 giới cấm của người Tỳ Kheo, trong 4 oai nghi đi đứng nằm ngồi, qua 3 thời Quá khứ Hiện tại Vị Lai, với 4 món Độn Sử (tham, sân, si, mạn), tác động qua lời nói và hành động, gây tạo ra 7 tội (sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác). Tổng cộng tất cả là 84.000 phiền não (250 x 4 x 3 x 4 x 7 = 84.000).

KINH: “Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cõi nước Cực Lạc đó có bảy lớp dậu rào, bảy lớp mành lưới, bảy lớp hàng cây, đều bằng bốn chất báu, bao vòng khắp nơi, vì thế nên cõi nước đó tên là Cực Lạc.”

Ở cõi nước Phật A Di Đà, có những lan can dậu rào 7 lớp, có những mành lưới giăng 7 tầng, có các hàng cây mọc theo từng hàng 7. Tất cả đều làm bằng 4 món châu báu (tứ bảo) là vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Những lớp hàng cây, dậu rào, mành lưới được xếp theo từng hàng 7 của 3 loại, tượng trưng cho con số 21 (tức là 7 x 3), bao vòng ở khắp mọi nơi (châu tráp vi nhiễu), vì vậy nên cõi đó được gọi là Cực Lạc. Các dậu rào ở đây là rào vàng, lưới ở đây là lưới báu, cây ở đây là cây ngọc. Có những thân cây bằng vàng, lá pha lê, trái lưu ly, hoa nhánh bạc. Cũng có rất nhiều hàng cây với thân cành lá chỉ thuần một chất báu của vàng, bạc, lưu ly hoặc pha lê.

Ý nghĩa của số 7:

Số 7 là con số biểu trưng cho cõi chánh đạo của chư Phật, đó là cõi thứ 7 giải thoát khỏi 6 nẻo luân hồi. Số 7 cũng là 7 nhóm trong 37 phẩm trợ đạo. Ở đây, số 7 là để nêu lên 7 thứ Thánh Tài: Tín, Giới, Văn, Xả, Huệ, Tàm, Quý. Có nghĩa là người niệm Phật phải phát khởi niềm tin vững mạnh để tiến tu, nghiêm mật giữ gìn giới luật, nghiên cứu đọc tụng kinh điển, lắng nghe và học hiểu các lời khuyến dẫn đúng đắn của chư Tăng Ni, buông xả những buộc ràng vướng mắc trong tâm thức, bình thản với sự đời, không chấp trước vào pháp, không chấp giữ ở những gì tốt xấu, vừa ý, nghịch lòng, tìm đạt đến trí tuệ sáng suốt, đối với mình thì luôn sanh tâm biết lỗi, sám hối để chừa bỏ các lỗi lầm, đối với người thì luôn sanh tâm biết hổ thẹn khi lỡ phạm những điều sai trái.

Số 7 thường gắn liền với cuộc đời của đức Thế Tôn. Khi vừa được sinh ra, ngài đi 7 bước, mỗi bước một đóa sen nở dưới chân ngài. Sau khi đản sanh được 7 ngày, Thánh mẫu Ma Gia, mẹ của ngài, đã từ trần, sanh lên cõi Trời Đao Lợi của vua Đế Thích.

Đức Thế Tôn học đạo, ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, bên bờ sông Ni Liên Thiền (thuộc chi nhánh sông Hằng), ở miền Bắc Ấn Độ xứ Ma Kiệt Đà, 7 lần của 7 ngày, tức là liên tục 49 ngày suy niệm (7 x 7), đến tuần lễ thứ 7 thì ngài đạt được sự giác ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và thành Phật.

Khi ngài thuyết giảng đại pháp, đã giảng nói kinh Hoa Nghiêm lần đầu tiên, tại Bồ Đề Đạo Tràng, xứ Ma Kiệt Đà, trải qua 21 ngày liền (3 lần của 7 ngày). Cuộc đời hành đạo của ngài là 49 năm (7 x 7). Sau khi nhập diệt, thân xác của ngài được giữ trong kim quan đúng 7 ngày trước khi làm lễ trà tỳ (hỏa thiêu) ở thành Câu Thi La.

Số 7 cũng là thời gian 7 ngày, khi đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ, nói pháp và cảm hoá toàn bộ giòng họ Thích, gia đình của ngài, theo về với Phật pháp.

Nếu nói về thời gian, số 7 là 7 ngày của một tuần, tính từ ngày chủ nhật cho đến thứ 7. Bảy ngày là định kỳ mà Phật đã khuyến dẫn trong kinh A Di Đà, để người tu dựa theo thời hạn đó mà trì niệm danh hiệu Phật cho được nhất tâm, đạt đến cảnh giới Niệm Phật Tam Muội.

Nếu nói về khoa học, thì sau mỗi 7 năm, cơ thể con người sẽ hoàn toàn thay đổi với tế bào mới. Số 7 cũng gắn liền với 7 ngày, 21 ngày (7 x 3), 49 ngày (7 x 7) khi người chết có thể đầu thai vào cõi khác, hoặc tái sanh trở lại kiếp người, hoặc hóa sanh về ao thất bảo ở cõi Cực Lạc. Sau mỗi 7 ngày và 7 lần như vậy (trong 49 ngày sau khi chết và chưa đầu thai, còn ở giai đoạn thân trung ấm), người chết sẽ phải đối diện trở lại với ký ức sợ hãi về cái chết của mình và sự đau đớn thân xác lúc hấp hối.

Trên khuôn mặt con người cũng có thất khiếu (7 lỗ) là mắt, tai, mũi, miệng. Số 7 cũng gắn liền với Pháp thân, là 7 chỗ đầy đặn và đẹp tốt của 32 tướng đại nhân: 2 lòng bàn tay, 2 lòng bàn chân, 2 vai và yết hầu. Niệm hồng danh chư Phật và trì chú Đà Ra Ni cũng thường gắn liền với con số 7 trong các bản kinh Phật đã thuyết (niệm 7 lần, 21 lần, 49 lần). Con số 7 còn có rất nhiều ý nghĩa cũng như thế.

– Ý nghĩa của 7 lớp dậu rào: 7 lớp dậu rào (thất trùng lan thuẫn) là biểu thị cho Giới, như những lan can, bao lơn, rào cản… ngăn chặn thân tâm không để bị uế nhiễm bởi sự cám dỗ của ngũ dục là tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thùy).

– Ý nghĩa của 7 lớp mành lưới: 7 lớp mành lưới (thất trùng la võng) là biểu thị cho Định, cảnh giới tịch tĩnh bao trùm khắp mọi nơi như lưới giăng.

– Ý nghĩa của 7 lớp hàng cây: 7 lớp hàng cây (thất trùng hàng thọ) là biểu thị cho Huệ, trí tuệ chiếu soi như những thân cây cành lá nẩy chồi vươn lên cao, tìm đến ánh sáng của mặt trời.

Bốn món châu báu (tứ bảo: vàng, bạc, lưu ly, pha lê) của 7 lớp dậu rào (biểu trưng cho giới), 7 lớp mành lưới (biểu trưng cho định), 7 lớp hàng cây (biểu trưng cho huệ), ở cõi nước Cực Lạc, là biểu thị cho 4 đức Niết Bàn trang nghiêm và ngời sáng:

- sống lâu (chân thường)

- an vui (chân lạc)

- thần thông biến hoá (chân ngã)

- thanh tịnh tịch tĩnh (chân tịnh)

KINH: “Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cõi nước Cực Lạc đó có ao bảy chất báu, trong ao tràn đầy tám nước công đức, đáy ao thuần bằng cát vàng trải làm mặt đất. Những lối đi bốn bên bờ ao là vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Trên đó, có lầu các, cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, trân châu, mã não. Trong ao, có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh ánh sáng xanh, hoa sắc vàng ánh sáng vàng, hoa sắc đỏ ánh sáng đỏ, hoa sắc trắng ánh sáng trắng, hương thơm vi diệu tinh khiết.”

Ở cõi Cực Lạc, có ao bảy chất báu, có tám thứ nước công đức, có vô lượng vô số hoa sen với ánh hào quang sáng chói, có các lầu đài, cung điện, tịnh xá bằng bảy món châu báu quý giá và rực rỡ trang nghiêm. Ao bảy chất báu (thất bảo trì) là ao vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, trân châu, mã não. 7 món châu báu nầy, của ao thất bảo ở cõi Cực Lạc, biểu thị cho sự sáng ngời của 7 phần giác ngộ (tức là Thất Giác Chi, còn gọi là Thất Bồ Đề Phần):

- quán sát các pháp, biện giải đúng lý nghĩa (trạch pháp)

- dũng mãnh tu tập theo chánh pháp (tinh tấn)

- vui mừng an trụ nơi chánh pháp (hỷ)

- thư thái khinh an trong chánh pháp (lạc)

- lìa xa các pháp hư vọng, buông bỏ mọi chấp trước (xả)

- nhất tâm an trụ nơi chánh pháp (định)

- luôn nhớ tưởng chánh pháp (niệm)

Trong ao, có 8 thứ nước công đức rất diệu dụng (bát công đức thủy), đó là các yếu tố trong sạch, đượm nhuần, mát mẻ, thơm tho, ngon ngọt, êm đềm, giải trừ đói khát, tươi khỏe thân tâm. 8 thứ nước công đức nầy, thể hiện qua 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), tác động vào 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), đưa đến sự vui thích như ý qua 6 yếu tố thọ nhận (lục nhập):

- yếu tố sắc nhập: trong sạch

- yếu tố thanh nhập: êm đềm

- yếu tố hương nhập: thơm tho

- yếu tố vị nhập: ngon ngọt

- yếu tố xúc nhập: đượm nhuần, mát mẻ

- yếu tố pháp nhập: giải trừ đói khát, tươi khỏe thân tâm

8 thứ nước như ý (Như-ý-thủy), tuôn chảy ra từ hạt ngọc Ma Ni của Phật (còn gọi là Như-ý-châu-vương). Mình muốn nước ấy ấm mát, dịu ngọt, nhuần khiết ra sao thì nó sẽ y như vậy trong sự thấy biết và cảm nhận của chính mình. Nước nầy chảy qua những cọng sen, lá sen, phát ra những tiếng pháp Ba La Mật rất là mầu nhiệm.

Theo tinh thần của bản kinh A Di Đà, 8 thứ nước công đức nầy, ý nói tự tánh thanh tịnh A Di Đà, biểu trưng cho Bát Chánh Đạo (còn gọi là Bát Thánh Đạo Phần, 8 con đường tu hành chân chánh):

- hiểu biết chân chánh (chánh kiến)

- suy nghĩ chân chánh (chánh tư duy)

- lời nói chân chánh (chánh ngữ)

- hành động chân chánh (chánh nghiệp)

- sinh sống chân chánh (chánh mạng)

- chuyên cần chân chánh (chánh tinh tấn)

- nhớ tưởng chân chánh (chánh niệm)

- thu nhiếp tâm chân chánh (chánh định)

8 phạm trù trên chia thành 3 nhóm:

- giới: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng

- định: chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định

- huệ: chánh kiến, chánh tư duy

Giới là những điều răn cấm của Phật dạy, để tránh vướng mắc vào lầm lỗi. Định, thuộc về tâm linh, là giữ tâm cho chuyên nhất, không để bị loạn náo bởi vọng tưởng điên đảo hoặc ngoại cảnh chi phối. Huệ là sự nhận thức sáng suốt, trí tuệ chiếu soi, hướng về chân lý.

Nếu nói về Pháp thân, Giới Định Huệ được hiểu như sau: 3 nghiệp thân khẩu ý (hành động, lời nói, ý nghĩ) xa lìa tất cả tội lỗi, gọi là Giới. Chân tâm xa lìa tất cả vọng niệm, gọi là Định. Chân trí sáng suốt chiếu soi, nhận hiểu rõ tất cả các pháp, gọi là Huệ.

8 con đường tu hành chân chánh:

– Chánh kiến (hiểu biết chân chánh): hiểu rõ về 4 chân lý của Tứ Diệu Đế (chân lý về sự khổ), tin hiểu vào lý nhân quả, luật luân hồi, nghiệp báo và duyên sinh.

– Chánh tư duy (suy nghĩ chân chánh): không tham muốn, không sân hận, không khinh mạn, không nghĩ suy làm hại người và vật, biết suy xét Vô Minh (tâm thức mê mờ vì bị vọng tưởng che lấp) là nguyên nhân đau khổ, nhận biết những lỗi lầm của mình để sám hối, chừa bỏ.

– Chánh ngữ (lời nói chân chánh): không nói láo, không nói lưỡi hai chiều, không nói thêu dệt, không nói lời hung ác, không nói chuyện thị phi.

– Chánh nghiệp (hành động chân chánh): không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không uống rượu, không trả thù, không phan duyên (lợi dụng), không làm tổn hại đến quyền lợi và hạnh phúc của người khác.

– Chánh mạng (sinh sống chân chánh): không nuôi sống bằng những nghề bất lương làm nguy hại đến người và vật, không chấp theo ngoại đạo, không mê tín dị đoan.

– Chánh tinh tấn (chuyên cần chân chánh): nỗ lực làm những điều đúng, dũng mãnh tiến bước trên con đường giải thoát.

– Chánh niệm (nhớ tưởng chân chánh): luôn nhớ nghĩ đến danh hiệu Phật và các cõi lành, cảm mộ ân đức của tất cả chư Phật, chư thầy, cha mẹ và thí chủ (tứ trọng ân).

– Chánh định (thu nhiếp tâm chân chánh): tập trung suy tưởng và quán sát sự việc đúng theo chánh pháp, không có những mục đích sai lầm, nghịch lý.

Bát Chánh Đạo là pháp môn chính trong 37 phẩm trợ đạo. Người niệm Phật phải dựa vào 8 con đường chân chánh đó để tu tập Giới Niệm Định Huệ, đạt đến quả vị Thánh Trí vô thượng.

Theo tinh thần của bản kinh A Di Đà, những lối đi ở bốn bên bờ ao thất bảo (tứ biên giai đạo), là sự hợp thành của 4 chất báu: kim, ngân, lưu ly, pha lê, biểu trưng cho sự thành tựu trang nghiêm công đức Giới Niệm Định Huệ của pháp môn Nhất Hạnh Tam Muội.

Giới là vị thầy hộ trì cho pháp thân, giữ gìn thân khẩu ý thanh tịnh. Định là cửa vào Thánh Trí, tiến đến cảnh giới nhất niệm, đó là niệm tưởng A Di Đà. Huệ là ngôi nhà Kim Cang Thánh Trí, viên ngọc Ma Ni ngời chiếu, giòng suối Tâm an lạc tịch tĩnh. Niệm là trái tim ánh sáng huyền nhiệm của 4 chữ A Di Đà Phật không thể nghĩ bàn, là mấu chốt đan kết và tương hợp giữa 3 điểm vô thượng Giới Định Huệ:

- Niệm ở giữa Giới và Định (Giới-Niệm-Định)

- Niệm ở giữa Định và Huệ (Định-Niệm-Huệ)

- Niệm ở giữa Huệ và Giới (Huệ-Niệm-Giới)

Giới Niệm Định Huệ là 4 món Ba La Mật vô cùng vi diệu của người tu trì theo pháp môn Niệm Phật. Người tu học phải giữ giới thanh tịnh, trì niệm danh hiệu Phật để chuyên nhất tâm tưởng, buông bỏ vạn duyên bên ngoài, diệt trừ mọi phiền não bên trong, đạt đến cảnh giới an lạc của Phật Trí vô thượng.

Bát Chánh Đạo

8 con đường tu hành chân chánh

Nền tảng của Bát Chánh Đạo là Giới, với 3 phạm trù căn bản về đạo đức là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng. Ngôi nhà Thánh Trí mà người tu học phải nương trú vào đó, để tu tập Chánh niệm và để thành tựu Chánh định, là pháp Niệm Phật Tam Muội. Cánh cửa để mở vào Bát Chánh Đạo là Văn Huệ và Tư Huệ, tức là 2 yếu tố Chánh kiến và Chánh tư duy ở giai đoạn Tri Thức.

Trên bước đường tu học, yếu tố Chánh tinh tấn là để trợ lực cho người niệm Phật có ý chí mạnh mẽ và chuyên cần. Khi yếu tố Chánh niệm thành tựu, dựa trên pháp niệm Phật A Di Đà, đưa đến sự phát sinh và thành tựu yếu tố Định, tức là cảnh giới Nhất Tâm Bất Loạn, từ đó mở rộng 2 phạm trù Thánh Trí là Chánh kiến và Chánh tư duy, tức là sự phát triển của yếu tố Tu Huệ, thấy hiểu và nghĩ suy theo Chánh đạo, nhìn thấu rõ thật tướng của vạn pháp thế gian, giúp ta vượt thắng tất cả mọi phiền não tư duy và đạt đến sự giải thoát tâm linh.

Thế nào là Kim sa nơi ao thất bảo?

Ở dưới đáy ao thất bảo trải thuần bằng cát vàng bóng mịn, màu sắc sáng chói lên cả trên mặt nước và bốn bên bờ ao, gọi là kim sa (cát vàng).

Đáy ao trải dài bằng cát vàng quý báu, là biểu trưng cho Bồ Đề Tâm của đức Phật A Di Đà đã vì chúng sanh mà nguyện thề cứu độ, cũng là biểu trưng cho Bồ Đề Tâm của hàng Thánh chúng đã chí thành trải lòng mình theo về thế giới Cực Lạc, phát khởi lòng đại bi, tu dưỡng công đức và đạo hạnh, hướng nguyện sanh về cõi Niết Bàn Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà. Bồ Đề Tâm là tâm tìm cầu giải thoát, hướng về Phật đạo, với ý nguyện lợi tha, muốn giúp đời và cứu người thoát khổ.

Trong ao thất bảo, có các loài hoa sen lớn như bánh xe (đại như xa luân), ý nói là các hoa sen nầy to lớn như bánh xe chuyển pháp của đức Như Lai. Sau khi thành đạo, đức Phật chuyển pháp luân (thuyết giảng đại pháp) lần đầu tiên, về Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo, tại vườn Lộc Uyển, thuộc miền Sarnath ở xứ Isipatana.

Các hoa sen nầy có vị hương rất tinh khiết, nhiệm mầu và ngời chiếu ánh hào quang (vi diệu hương khiết). Hoa màu xanh thì tỏa chiếu ánh sáng xanh, hoa màu vàng thì tỏa chiếu ánh sáng vàng, hoa màu đỏ thì tỏa chiếu ánh sáng đỏ, hoa màu trắng thì tỏa chiếu ánh sáng trắng.

4 màu sắc chính, xanh vàng đỏ trắng, của các hoa sen ở ao thất bảo, biểu trưng cho phẩm đức và hạnh nguyện của người chân tu (cũng như những hạt Xá Lợi, thể hiện qua nhiều màu sắc khác nhau, đó là những việc mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn). Người niệm Phật, khi được sanh về cõi Tịnh Độ, tùy ở phẩm hạnh mà được hoá sanh vào một trong các loại sen đó. Khi vãng sanh, tùy theo phước huệ, mà hoa sen sẽ nở và tỏa chiếu ánh hào quang, liền sau khi được sanh về, hoặc sau 1 ngày đêm, hoặc sau 7 ngày, 49 ngày, hoặc sẽ phải sau nhiều kiếp.

Có tất cả 9 phẩm cứu cánh để người niệm Phật phát nguyện vãng sanh, chia ra 3 bậc Thượng, Trung, Hạ:

– Muốn sanh về hàng thượng bối (tức là 3 thượng phẩm của bậc Bồ Tát Đại Thừa), thì người ấy phải xuất gia, dũng mãnh phát tâm Bồ Đề vô thượng, trì niệm danh hiệu A Di Đà, nghiêm trì giới luật, tu tạo nhiều hạnh nghiệp và công đức độ sinh, thiết tha nguyện sanh về cõi Tịnh Độ.

– Muốn sanh về hàng trung bối (tức là 3 trung phẩm của bậc Thanh Văn Tiểu Thừa), thì người ấy phải phát tâm Bồ Đề vô thượng, trì niệm danh hiệu A Di Đà, làm các điều phước thiện, lánh xa mọi điều ác, quy y Tam Bảo, giữ gìn ngũ giới tại gia, hiếu dưỡng cha mẹ, tu tạo nhiều công quả, cúng dường chư Tăng Ni, thờ kính Phật, đọc tụng kinh điển, không phạm vào thập ác ngũ nghịch, thường xuyên sám hối lạy Phật và hồi hướng công đức về Cực Lạc.

– Muốn sanh về hàng hạ bối (tức là 3 hạ phẩm của bậc Thiện Nhân), thì người ấy phải phát tâm Bồ Đề vô thượng, trì niệm danh hiệu A Di Đà, không phạm vào các trọng tội ngũ nghịch, hoặc hủy báng chánh pháp của Phật, tha thiết nguyện sanh về Tây phương Tịnh Độ.

Các bậc thượng bối có 3 phẩm là thượng phẩm thượng, thượng phẩm trung, thượng phẩm hạ. Các bậc trung bối và hạ bối cũng chia ra 3 bậc thượng trung hạ giống như vậy. Tất cả là 9 phẩm vãng sanh (3 x 3).

Bậc thượng phẩm thượng là bậc cao nhất được vãng sanh, gọi là bậc tối thượng phẩm của các vị đại Bồ Tát. Người được sanh vào hàng thượng phẩm thượng (tức là bậc tối thượng phẩm) sẽ được hóa sanh từ hoa sen liền ngay sau khi người ấy chấm dứt hơi thở, được Phật A Di Đà và hàng Bồ Tát Thánh chúng tiếp dẫn về Cực Lạc.

Những bậc khác (tức là 8 phẩm còn lại), tính từ thượng phẩm trung cho đến hạ phẩm hạ, thì khi sanh về, phải sau 1 ngày đêm, hoặc sau 7 ngày, 49 ngày, hoặc sau 6 kiếp, 12 kiếp, thì hoa sen hóa sanh mới nở. Khi hoa sen nở, người được hóa sanh có thân sắc vàng (yến sáng), không nam không nữ, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, ngồi kiết già trong hoa sen, và tùy ở phẩm hạnh, sẽ được 2 vị đại Bồ Tát là đức Quán Thế Âm và đức Đại Thế Chí thuyết giảng cho nghe những nghĩa lý diệu mầu của Phật pháp. Trên mỗi cánh sen khi nở, có 84.000 đường gân, mỗi hoa sen có 84.000 cánh, tỏa chiếu ra 84.000 ánh hào quang, biểu thị cho 84.000 đức hạnh và 84.000 pháp mầu.

4 thứ ánh sáng chiếu tỏa ra từ các hoa sen, xanh vàng đỏ trắng, biểu trưng cho Tứ Vô Lượng Tâm (còn gọi là Tứ Đẳng Tâm, bốn thứ tâm vô cùng rộng lớn):

- lòng yêu thương, đem niềm vui đến cho người (từ)

- lòng thương xót, muốn cứu người thoát khổ (bi)

- lòng vui theo khi thấy người thoát khổ (hỷ)

- lòng buông xả, tha thứ, không cố chấp (xả)

Trong từng mỗi câu niệm A Di Đà, người niệm Phật phải trải rộng tâm Từ của mình đến tất cả mọi chúng sanh bình đẳng, trải tâm Bi đến những kẻ đang đau khổ, trải tâm Hỷ đến những ai đang vui sướng, trải tâm Xả đến những người mình yêu thích hoặc ghét bỏ. Đó là thể hiện 4 đức tánh liên hoa: vi, diệu, hương, khiết trong câu Phật hiệu A Di Đà.

người niệm Phật phải phát khởi 4 thứ tâm vô lượng và tin vào tha lực hộ trì của tất cả chư Phật mười phương

4 màu sắc hào quang, xanh vàng đỏ trắng, chiếu tỏa từ các hoa sen ở ao thất bảo, cũng là biểu trưng cho các cảnh giới ánh sáng chói ngời trong giai đoạn thân trung ấm (thân trung ấm là phần linh thể của con người xuất ra khỏi thân xác lúc hơi thở vừa dứt hẳn, ở giai đoạn giữa của kiếp nầy và kiếp sau trong thời hạn 49 ngày).

Ánh sáng xanh có 2 loại là ánh sáng màu xanh dương và ánh sáng màu xanh lục. Có tất cả 5 loại ánh sáng chói ngời và 6 loại ánh sáng mờ nhạt trong 7 ngày đầu ở giai đoạn thân trung ấm:

ánh sáng xanh dương chói ngời: đây là luồng ánh sáng cứu độ của đức Phật Tỳ Lô Giá Na.

ánh sáng trắng chói ngời: đây là luồng ánh sáng từ bi lực của đức Phật Kim Cang Tát Đỏa và các vị đại Bồ Tát Địa Tạng, Di Lặc.

ánh sáng vàng chói ngời: đây là luồng ánh sáng của đức Phật Bảo Sanh và đại Bồ Tát Phổ Hiền.

ánh sáng đỏ chói ngời: đây là luồng ánh sáng diệu hạnh thanh tịnh của Tự tánh A Di Đà.

ánh sáng xanh lục chói ngời: đây là luồng ánh sáng công năng Trí Tuệ nhiệm mầu của Tự thân.

Các loại ánh sáng nầy, khi lâm chung, thân trung ấm sẽ phải đối diện (lúc hơi thở đã hoàn toàn dứt hẳn). Cùng với những luồng ánh sáng chói lòa nầy là những ánh sáng mờ nhạt của 6 cõi Lục Đạo cũng tuần tự phát xuất:

- ánh sáng trắng mờ nhạt của cõi Trời

- ánh sáng xám mờ nhạt của cõi Địa ngục

- ánh sáng vàng mờ nhạt của cõi Người

- ánh sáng đỏ mờ nhạt của cõi Ngạ quỷ

- ánh sáng xanh lục mờ nhạt của cõi A Tu La

- ánh sáng xanh dương mờ nhạt của cõi Súc sanh

Lúc lâm chung, người niệm Phật cần phải thật an định trong giờ phút cuối cùng đó, cố gắng trì giữ câu Phật hiệu A Di Đà không buông lơi, để thể nhập chân tánh của mình vào các luồng ánh sáng chói ngời và rực rỡ kia, giải thoát đến cảnh giới tốt đẹp của chư Phật và Bồ Tát.

Khi đối diện với những luồng ánh sáng chói lòa đó, chớ nên sợ hãi và trốn lánh, vì đó là những luồng ánh sáng có năng lực cứu độ. Hãy bình tâm nương tựa vào ánh sáng đó và trì niệm danh hiệu Phật. 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật, có công năng phá trừ 6 nẻo sanh tử luân hồi trong Lục Đạo.

Nếu để bị lôi cuốn vào các vùng ánh sáng mờ nhạt (vì bị nghiệp lực lôi kéo, hoặc vì sợ hãi những luồng ánh sáng chói lòa kia, hoặc vì quá tham luyến cõi đời mà mê loạn) thì sẽ bị đọa lạc vào 6 nẻo luân hồi (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A Tu La, Người, Trời).

Vì vậy, trong giờ phút sống, nếu chúng ta không tinh tấn trì niệm A Di Đà để giữ vững tâm, thì khi hấp hối, giờ phút mà sự đau đớn bức xẻ cùng cực trên thân xác và trí lực, chúng ta khó có thể giữ được liên tục 10 niệm A Di Đà vững chắc trong định tỉnh và vô úy.

Những người tạo nhiều nghiệp ác trong lúc sống, khi đối diện với những luồng ánh sáng chói ngời trong giờ phút hấp hối, thân trung ấm sẽ rất sợ hãi và tìm mọi cách để trốn lánh. Vì thế, thần thức rất dễ bị cuốn hút, cám dỗ vào những vùng ánh sáng mờ nhạt của các cõi Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh (tam ác đạo).

Màu sắc của hoa sen:

Những màu sắc xanh vàng đỏ trắng của hoa sen là 4 màu sắc chính, tỏa chiếu ra 4 màu hào quang chính. Các loài sen ở ao thất bảo thì nhiều vô lượng vô biên, dù là bậc A La Hán có thiên nhãn thông cũng chẳng thể nào tính đếm mà biết được số lượng. Trong vô số các loại hoa sen đó, có tất cả 84.000 màu sắc khác nhau và mỗi hoa sen ngời chiếu 84.000 ánh hào quang rực rỡ. Hoa sen xanh thì tỏa chiếu 84.000 hào quang xanh, hoa sen vàng thì tỏa chiếu 84.000 hào quang vàng, hoa sen đỏ thì tỏa chiếu 84.000 hào quang đỏ, hoa sen trắng thì tỏa chiếu 84.000 hào quang trắng...

Một khi có người ở cõi thế gian chứng được cảnh giới Niệm Phật Tam Muội thì sẽ có một nụ sen mới trổi lên từ ao thất bảo và phát ra ánh sáng hào quang công đức. Đến khi người ấy được vãng sanh thì hoa sen sẽ nở. Tùy ở phẩm đức đã tích tập qua nhiều kiếp và trong kiếp nầy mà được hóa sanh vào hoa sen có màu sắc và ánh sáng đó. Những người sanh về Cực Lạc, sẽ được hóa sanh thành thân kim cang Na La Diên không bao giờ bị hư hoại. Thân sắc đó rất linh hoạt và có ánh sáng màu vàng bao quanh (gọi là yến sáng). Thân sắc nầy không giống như thân xác tứ đại nhơ uế ở cõi thế gian. Vì vậy, người ở cõi đó có ánh hào quang rất chói ngời và việc tới lui ngàn dặm ở đó cũng rất mau lẹ và kỳ diệu.

Ở cõi Cực Lạc, những khi có mưa hoa, nhạc trời, mọi người đều tự nhiên nhất tâm niệm Phật, thì yến sáng của người niệm Phật, tương ưng với tiếng niệm Phật chân thành của chính người ấy, lại càng ngời sáng hơn lên.

Thế nào là Quy y Tam Bảo?

Quy y, tiếng Phạn là Namo (Nam Mô), có nghĩa là trở về nương tựa. Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng. Phật là đấng giác ngộ, sáng suốt và từ bi. Pháp là con đường đưa chúng ta đến sự giải thoát. Tăng là người đang thực hành pháp giải thoát của Phật, hướng dẫn chúng ta trên bước đường tu đạo. Nam Mô A Di Đà Phật, là trở về nương tựa vào đức Phật A Di Đà.

– Quy y Phật là luôn nhớ tưởng đến Phật, niệm danh hiệu Phật, trở về với Phật tánh sáng suốt của chính mình.

– Quy y Pháp là luôn nhớ tưởng đến chánh pháp của Phật, thường đọc tụng kinh điển, phát huy các đức hạnh từ bi, nhẫn nhục, bố thí, tha thứ, buông xả.

– Quy y Tăng là luôn nhớ tưởng, tôn kính, tu tập theo sự khuyến dẫn đúng đắn của chư Tăng Ni và cùng hòa hợp vào chân tánh thanh tịnh của chính mình.

Khi đã quy y Phật, mình là con của Phật, tu theo hạnh của Phật, sẽ không bị đọa vào Địa ngục. Khi đã quy y Pháp, mình tu tập theo chánh pháp, sẽ không bị đọa làm Ngạ quỷ. Khi đã quy y Tăng, mình tu tập theo sự hướng dẫn và khuyến tấn của chư Tăng Ni, sẽ không bị đọa làm Súc sanh.

Thế nào là Thập ác? Thập ác là 10 điều ác đức:

- sát sanh

- trộm cướp

- tà dâm

- nói dối (vọng ngữ)

- nói thêu dệt (ỷ ngôn)

- nói lưỡi hai chiều (lưỡng thiệt)

- nói lời hung ác (ác khẩu)

- tham lam

- sân hận

- si mê (hiểu thấy sai lầm, tin mê ngoại đạo)

(tin mê ngoại đạo: thần tài, xin xăm, bói quẻ, bốc dịch, bấm độn, buộc tôm, đeo niệt, coi sao, cúng hạn, đốt giấy tiền vàng bạc, cúng tế tà thần…)

Thế nào là Ngũ nghịch? Ngũ nghịch là 5 trọng tội ác nghịch, trái với đạo lý:

- giết cha

- giết mẹ

- giết các bậc Thánh (A La Hán)

- nhiễu phá sự hòa hợp của Tăng (Ni) chúng

- làm cho thân Phật chảy máu

Người phạm vào 1 trong 5 trọng tội ác nghịch trên sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián (còn gọi là đại ngục A Tỳ). Vô gián, nghĩa là không có thời gian hạn định, hoặc gián đoạn, trong việc thọ nhận ngục hình nghiệp báo.

Thế nào là Thân tứ đại? Thân xác con người được cấu thành bởi 4 yếu tố chính:

- yếu tố đất như da, xương, thịt, tim, gan…

- yếu tố nước như máu, mủ, đàm…

- yếu tố gió như hơi thở vô ra…

- yếu tố lửa như sức nóng trong người…

Những gì hiện hữu ở xác thân hoàn toàn không có tự tánh riêng biệt. Nếu như một mai thân xác có mất đi, có tan rã, thì gió sẽ về với gió, lửa sẽ về với lửa, nước sẽ về với nước, đất sẽ về với đất. Không có sự mất. Không có sự được. Không có sự thêm. Không có sự bớt. Thân xác con người, tất cả chỉ là đất nước gió lửa tạm bợ hòa hợp trong một tổng thể vô thường, theo thời gian rồi cũng hoại tàn, tất cả sẽ trở về với đất nước gió lửa. Đó là định luật chung cho tất cả vạn vật trần gian.

KINH: “Xá Lợi Phất, cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.”

Cõi Cực Lạc có được là vì 48 đại nguyện của ngài Bồ Tát Pháp Tạng (tức là đức Phật A Di Đà), đã lấy công đức đạo hạnh và trí huệ của chính mình để thành tựu nên sự trang nghiêm như thế, không ngoài mục đích vì thương xót và muốn cứu độ chúng sanh có được một nơi chốn an vui, để cùng nhau tu hành, vượt thoát con đường sanh tử luân hồi.

Trong bản kinh A Di Đà, đức Phật Thích Ca đã 4 lần nói đến sự thành tựu công đức trang nghiêm ở cõi Tịnh Độ, đó là một nơi chốn vãng sanh rất thiêng liêng và kỳ diệu.

Sự trang nghiêm ở công đức trí huệ đã được dựng lên tại cõi nước Cực Lạc là các dậu rào, các mành lưới, các hàng cây bằng bốn món châu báu, với ao thất bảo, với tám thứ nước công đức, đáy ao toàn bằng cát vàng, những lối đi ở bốn bên bờ ao do tứ bảo hợp thành, các lầu đài và tịnh xá cũng đều nghiêm sức bằng bảy chất báu vô cùng rực rỡ, có vô số các loại hoa sen hương thơm tinh khiết, với hào quang tỏa sáng rất trang nghiêm.

Mỗi một vật thể nơi cõi Cực Lạc được đề cập đến trong bản kinh A Di Đà là sự biểu trưng cho công đức đạo hạnh thành tựu và giáo pháp vô biên nhiệm mầu của đức Phật A Di Đà, và sự biểu trưng đó được bồi dựng thêm lên bởi hàng Thánh chúng đã hồi hướng công đức trang nghiêm cõi Phật Tịnh Độ.

KINH: “Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cõi nước Phật đó thường trổi nhạc trời, mặt đất bằng vàng, ngày đêm sáu thời có mưa hoa Mạn Đà La. Chúng sanh trong cõi đó, thường mỗi sáng sớm, lấy vạt áo đựng những hoa kỳ diệu đó, cúng dường mười vạn ức Phật ở các phương khác. Đến giờ ăn, liền trở về nước của mình, ăn cơm, rồi kinh hành.”

Ở cõi đó thường có nhạc trời và mưa hoa. Nhạc từ mây trời (thiên nhạc) rất thường trổi lên nhiều lần trong suốt ngày đêm. Những khi như vậy thì các nhạc cụ tự nhiên hiện ra, bay lơ lửng trên không trung, tự động cùng hòa nhịp với nhau và phát ra muôn ngàn thanh âm huyền diệu. Mọi người nghe những thanh âm ấy, thân tâm cảm thấy rất thanh tịnh và an lạc. Các vị thần âm nhạc và chư Thiên ở khắp mười phương cũng cùng đến tấu nhạc trên không trung và trong các lầu đài tịnh xá.

Mặt đất ở cõi đó đều toàn bằng vàng (huỳnh kim vi địa) và chiếu sáng khắp mọi nơi, biểu trưng cho sự chí thành ngời chói Bồ Đề Tâm, của đức Phật A Di Đà đã vì chúng sanh mà trải lòng từ bi cứu độ, của đại chúng đã phát trải lòng mình theo về với Phật, không ngừng tu dưỡng đức hạnh tự lợi và lợi tha, cứu mình và giúp người.

Thế nào là 6 thời?

Ngày đêm ở cõi đó chia làm 6 thời (trú dạ lục thời), tính theo giờ của nước Ấn Độ trong thời Phật còn tại thế. Ngày có 3 thời (gọi là sơ nhật, trung nhật, hậu nhật), đêm có 3 thời (gọi là sơ dạ, trung dạ, hậu dạ), mỗi thời là 4 tiếng. Cực Lạc là cõi sáng, không có ngày đêm, đây chỉ là tạm nói ngày đêm theo cái hiểu của thế gian, để dễ phân định ra 6 chuỗi thời gian (6 x 4) những khi có mưa hoa và nhạc trời. Ở cõi Cực Lạc không có mặt trời, không có mặt trăng, không có ngôi sao, không có sáng trưa chiều tối, không có thời gian năm tháng, không có bốn mùa, không có nắng mưa, không có Quá khứ Hiện tại Vị lai, và mọi loài ở cõi nước đó cũng không có tánh ngủ vì tất cả đều được hóa sanh từ hoa sen tinh khiết. Cõi nước ấy rất sáng, sáng hơn cả mặt trời mặt trăng. Cõi đó sáng là vì ánh hào quang vàng chói của Phật A Di Đà (vô lượng quang) với đức tướng to lớn khôn cùng, và yến sáng của Thánh chúng (kim thân), cùng với ánh sáng của 4 bảo, 7 báu tỏa ra từ những hàng cây, lưới, rào, ao hồ, mặt đất, đáy ao, lầu đài, cung điện, tịnh xá, hoa trời, hoa sen, nhạc cụ, chim thiêng… Ở cõi Cực Lạc không có bất cứ chỗ nào có bóng tối.

Theo tinh thần của bản kinh A Di Đà, 6 thời của ngày đêm, với mưa hoa, với nhạc trời… là biểu trưng cho pháp Lục Độ Ba La Mật của bậc Bồ Tát (tức là 6 pháp tu để đạt đến bờ bên kia của sự giải thoát):

- bố thí (hiến tặng)

- trì giới (nghiêm mật giữ gìn giới luật)

- nhẫn nhục (nhận chịu những điều trái ý, nghịch lòng)

- tinh tấn (chuyên cần tu tập không ngừng nghỉ)

- thiền định (giữ tâm cho chuyên nhất)

- trí tuệ (nhận thức sáng suốt)

Bố thí, bao gồm các mặt: lao tác, lòng yêu thương, tiền của, lời khuyên dạy, sự không sợ hãi, ánh mắt hiền lành, nụ cười và nét mặt tươi vui, cử chỉ và lời nói nhã nhặn…

Người tu đạo phải thực hành hạnh Bố Thí trên nhiều khía cạnh như thế. Mỗi một tiếng niệm A Di Đà, phải được thể hiện trên nét mặt tươi vui, trong sự an bình thanh thản của tâm hồn và trong ánh mắt từ bi của chính mình. Người niệm Phật phải dùng tiếng niệm A Di Đà để quét sạch mọi ý niệm biệt phân, chấp trước vào nhân ngã tướng trong khi thực hành hạnh Bố Thí.

Về phần giới luật, Tỳ Kheo thọ 250 giới, Tỳ Kheo Ni thọ 348 giới, Bồ Tát xuất gia thọ 58 giới, Bồ Tát tại gia thọ 34 giới, Cư sĩ thọ 5 giới.

Ngoài ngũ giới (5 giới), còn gọi là ngũ đức, của người tu tại gia, thì các giới thuộc về Tỳ Kheo giới, Tỳ Kheo Ni giới, Bồ Tát giới chỉ có người phát tâm thọ giới mới được học đến.

Thế nào là Ngũ giới? Ngũ giới là 5 điều răn cấm của người Cư sĩ tu tại gia, đây cũng là 5 giới căn bản của những người xuất gia:

- không sát sanh

- không trộm cướp

- không tà dâm

- không nói sai sự thật

- không uống rượu

Nếu nói rộng ra, ngũ giới bao gồm những điều răn cấm như sau: Không giết người, không sát hại thú vật, cũng không khuyến khích người khác giết, hoặc thuê mướn người, nhờ người giết dùm, không đe dọa khủng bố hoặc báo thù người, không đánh đập người và vật, không làm cho người hoặc các loài sinh vật giết hại lẫn nhau, cũng không tàng trữ các loại vũ khí giết người. Không trộm cắp, không cướp bóc, không gạt gẫm, không giựt nợ, không cờ bạc hoặc mua bán gian lận. Không ngoại tình, không thủ dâm, không hãm hiếp người, cũng không gần gũi vợ chồng thái quá. Không nói láo, không nói lưỡi hai chiều, không nói thêu dệt, không nói lời hung ác, không nói chuyện thị phi, không nói lăng nhăng. Không dùng các chất say (bia, rượu) và các chất nghiện (thuốc lá, cần sa, xì ke, ma túy, thuốc phiện), không mua bán rượu, tặng rượu, cũng không khuyến khích hoặc nài ép người khác uống rượu.

Thế nào là Kinh hành và Thiền hành?

Kinh hành là đi từng bước thong dong và thư thả trong chánh niệm, vừa đi vừa niệm Phật. Niệm theo lối mặc niệm (niệm trong tâm, không động môi, không phát ra tiếng) và chỉ niệm 4 chữ A Di Đà Phật. Niệm chậm rãi và rõ ràng từng chữ một. Tập trung tâm ý vào danh hiệu Phật. Mỗi một câu niệm 4 chữ, theo liền với 2 bước. Chân TRÁI bước tới, niệm “A Di”. Chân PHẢI bước tới, niệm “Đà Phật” (chấm dứt chữ “Phật” khi chân PHẢI vừa chạm đất). Pháp kinh hành được áp dụng khi đi trên con đường dài, đi dạo chơi trong rừng, trong công viên, đi dạo quanh chùa, hoặc tản bộ dọc theo bờ sông…

Thiền hành thì cách thức cũng giống như kinh hành nhưng từng mỗi bước đi phải thật chậm rãi và chánh niệm. Pháp thiền hành được áp dụng khi đi dạo trong vườn, đi nhiễu quanh tượng Phật, đi vòng quanh chánh điện… Mỗi bước đi là mỗi một câu niệm (theo lối mặc niệm và chỉ niệm 4 chữ A Di Đà Phật). Chân TRÁI bước tới, niệm “A Di Đà Phật”, chấm dứt chữ “Phật” khi chân trái vừa chạm đất. Chân PHẢI bước tới, niệm “A Di Đà Phật”, chấm dứt chữ “Phật” khi chân phải vừa chạm đất. Từng mỗi bước đi, từng mỗi câu niệm, thành kính quy ngưỡng về Tam Bảo.

Khi đạt được sự an lạc trên từng mỗi bước chân qua lối kinh hành và thiền hành như thế, điều ấy có nghĩa là tương đối đã có sự chuyên nhất trong niệm tưởng A Di Đà. Khi có chánh niệm thì mỗi bước đi sẽ là nguồn an lạc mầu nhiệm vô biên. Từng bước nở hoa sen, nó có ý nghĩa rất thánh thiện là như vậy.

Thế nào là Mưa hoa Mạn Đà La?

Mỗi ngày đêm 6 lần, có hoa Mạn Đà La từ mây trời tuôn rải xuống như mưa (vũ thiên Mạn Đà La hoa). Đây là loại hoa màu trắng, giống hoa sen, nên còn gọi là Bạch liên hoa, có mùi hương rất tinh khiết. Loại hoa nầy, cánh nhỏ vừa thì gọi là Mạn Đà La (tiếng Hán là Bạch hoa), cánh lớn thì gọi là Ma Ha Mạn Đà La (tiếng Hán là Đại bạch hoa). Đây là loài hoa Tự-nhiên-ý, tùy người muốn hình dạng, màu sắc, hương thơm ra sao thì chính người ấy sẽ tự cảm nhận và được thấy y như vậy.

Hoa nầy rơi xuống như mưa, khoảng chừng một bữa ăn, thì hoa sẽ tự động tan biến. Đến thời kế tiếp thì hoa lại rơi, như vậy 6 lần theo ngày đêm. Ngửi được mùi hương của hoa nầy làm cho tinh thần rất vui thích, vì vậy nên còn gọi là Thích-ý-hoa. Mưa hoa trời là vì hoa nầy từ mây trời rơi xuống và nhiều như mưa (ở Cực Lạc thì chỉ có mưa hoa, không có mưa nắng tuyết bão hoặc sấm chớp như ở cõi trần gian, không có lũ lụt, hạn hán, động đất, tật dịch, binh đao, không có cái lạnh và cái nóng, chỉ có sự mát mẻ, dễ chịu và gió pháp nhẹ nhàng). Nếu hoa nầy được đem đi cúng dường cho các đức Phật, thì sau khi dâng cúng, hoa sẽ tự nhiên bay trong hư không, ngát tỏa hương thơm vô cùng vi diệu và tinh khiết.

Mỗi sáng sớm, các Thánh chúng thường dùng vạt áo (y kích) làm đãy hoa, để đựng những hoa trời, đem đi cúng dường cho mười vạn ức chư Phật ở các phương khác (thập vạn ức Phật). Nếu tính theo số mục của thời xưa, thập vạn ức là 10 tỷ (10 x 10.000 x 100.000), hoặc tính theo thời nay là 10.000 tỷ (10 x 10.000 x 100.000.000), ở đây nên hiểu là vô lượng vô số các đức Phật.

Các phương khác (tha phương), ý nói là mười phương. Lấy vạt áo của mình để đựng hoa cúng dường, ý nói là Thánh chúng gói gém những hương hoa dâng lên chư Phật bằng tất cả tấm lòng chân thành của chính người ấy. Cúng dường mỗi sáng sớm, là vì sáng sớm lúc tâm tưởng của mọi người rất thanh tịnh và an bình, đó là việc đầu tiên nhất, nhớ tưởng đến chư Phật và chánh pháp của Phật.

Nơi cõi rất sáng đó, mọi người có thể đọc được tư tưởng của nhau, có thể giao tiếp và cảm thông với nhau bằng tâm thức (vì có tha tâm thông). Những khi muốn đi đến một nơi nào, người ấy chỉ cần tập trung tâm trí, một lòng chuyên chú vào ý thức đó, thì chỉ trong sát na đã tới được nơi mình muốn đến (vì c