PHÁT KHỞI
BỒ TÁT THÙ THẮNG CHÍ NHẠO
KINH LƯỢC
GIẢNG
(Nguyên văn: Phát Khởi Bồ
Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký)
Chủ giảng: Hoà
Thượng Thích Tịnh Không
Cư Sĩ Truyền Tịnh
Chỉnh Lý
Chuyển Ngữ: Bửu
Quang Tự đệ tử Như Hoà
---o0o---
IV.
LƯỢC GIẢI KINH VĂN
A.
TỰ PHẦN
1. Phật
tại Lộc Uyển, năm trăm tỳ-kheo, năm trăm Bồ Tát cùng nhóm
Chánh kinh:
Như thị
ngã văn: Nhất thời Phật tại Ba Ly Nại thành, tiên nhân trụ xứ, thi Lộc
Uyển trung.
(Tôi nghe
như thế này, một thời Phật ở tại thành Ba Ly Nại, ngự trong Lộc Uyển là
chỗ trụ của tiên nhân).
Đây là năm
thứ thành tựu đầu trong Lục Chủng Thành Tựu; tôi nghĩ chúng ta có thể tỉnh
lược. Ở đây, xứ sở là Lộc Dã Uyển, một nơi thường được nhắc đến. Tôi nghĩ
trong số các vị đồng tu chúng ta cũng có một vài vị đã đến thăm Ấn Độ, đến
Ấn Độ triều thánh. Nếu vậy, đã đến thăm các danh thắng cổ tích Phật giáo.
Vườn Lộc Dã là một địa điểm trọng yếu, ban sơ đức Thích Ca Mâu Ni Phật độ
năm vị tỳ-kheo ngay tại ấy. Sau này, chỗ ấy kiến lập thành tinh xá, Phật
cũng giảng khá nhiều kinh điển tại nơi ấy.
Chánh
kinh:
Dữ đại
tỳ kheo chúng, mãn túc thiên nhân. Phục hữu ngũ bách chư Bồ Tát chúng.
(Cùng
chúng đại tỳ kheo đủ cả một ngàn vị, lại có năm trăm vị Bồ Tát).
Đây là Chúng
Thành Tựu. Lúc ấy, tham gia pháp hội có một ngàn năm trăm người.
2. Có các
Bồ Tát nghiệp chướng sâu nặng, đầy đẫy hạnh bất thiện, nghi hoặc thoái
chuyển, Di Lặc Bồ Tát an ủi khiến họ vui mừng
Đây là đoạn
thứ hai, chính là Phát Khởi Tự của kinh này.
Chánh
kinh:
Thị
thời chúng trung, đa hữu Bồ Tát.
(Lúc ấy
trong chúng có nhiều vị Bồ Tát).
Câu này nói
về đa số trong năm trăm vị Bồ Tát. Do vậy biết rằng, những vị Bồ Tát ấy
chẳng phải là tầm thường, họ đa phần là cổ Phật tái lai, cố ý thị hiện như
thế nhằm tạo cơ hội cho Di Lặc Bồ Tát đến thỉnh pháp để Thích Ca Mâu Ni
Phật răn dạy chúng ta. Những lỗi các ngài phạm chính là những lỗi bọn
người hiện tại chúng ta đang phạm, các vị chỉ đến biểu diễn, lòng từ bi
đến mức cùng cực vậy! Bọn họ mắc những lầm lỗi gì?
Chánh
kinh:
Nghiệp
chướng thâm trọng, chư căn ám độn.
(Nghiệp
chướng sâu nặng, các căn ám độn).
Câu này là
lời thuật tổng quát. Nói gọn một câu là nghiệp chướng nặng nề! Nghiệp là
gì? Nói theo ngôn ngữ hiện đại, Nghiệp là hoạt động, tạo tác. Hoạt động ấy
chướng ngại trí huệ đức năng sẵn có của tự tánh nên gọi là “nghiệp
chướng”. Nghiệp chướng ấy rất sâu, rất nặng, cho nên trí huệ đức năng của
chúng ta chẳng hiện ra được.
[Trong câu]
“các căn ám độn”, chữ “các căn” chỉ sáu căn. Sáu căn chẳng
thông minh, mắt tuy vẫn có thể thấy nhưng lắm việc nhìn lầm, tai tuy vẫn
có thể nghe nhưng ý nghĩa đúng đắn chẳng nghe ra. Nhóm chữ này chỉ căn
tánh chẳng lanh lợi. Tiếp theo đây kinh nói mười hai câu, mười hai câu này
là nội dung của bản kinh này. Ở phần sau, với mỗi một điều Phật sẽ giảng
tường tận cho chúng ta. Điều thứ nhất là:
Chánh
kinh:
Thiện
pháp vi thiểu
(Thiện
pháp ít ỏi).
Thế nào là
“thiện căn”? Thiện căn pháp thế gian, không tham, không sân, không si.
Chúng ta hãy nghĩ xem là mình có hay không có [thiện căn]. Nếu như chúng
ta tham sân si đều đầy đủ cả thì căn bản là chúng ta không có thiện căn.
Bọn họ vẫn có thiện căn, nhưng thiện căn ít ỏi; chúng ta không có thiện
căn; làm sao biết vậy? Thiện căn của Bồ Tát là tinh tấn, còn chúng ta mỗi
ngày càng giải đãi, biếng nhác, tán loạn.
Chánh
kinh:
Háo ư
hội náo
(Ưa nơi
náo nhiệt)
Ở đây, “hội”
là “hôn hội” chúng ta thường nói là hồ đồ. “Hội náo” nghĩa là ồn
náo lộn xộn. Các vị có biết nơi nào là ồn náo lộn xộn chăng? Chính là
những chốn ăn chơi có khá nhiều trong xã hội hiện tại: ca xướng, khiêu vũ,
đấy là những chỗ ồn náo lộn xộn. Bọn họ ưa thích những chỗ ấy.
Chánh
kinh:
Đàm
thuyết thế sự.
(Bàn nói
thế sự).
Đây là câu
thứ ba. Phạm vi bao quát của “thế sự” rất rộng. Trong thế sự có cả tà lẫn
chánh. Thế nào là chánh? Những điều Khổng Tử, Mạnh Tử nói là chánh, đều là
thế sự cả! Thế sự bất hảo ư? Thế sự chẳng thể thoát tam giới. Quý vị phải
hiểu rằng: Mục tiêu của Phật pháp là dạy chúng ta liễu sanh tử, xuất tam
giới. Vì thế, sự giáo dục của Nho giáo dẫu tốt, có thể giúp chúng ta đạt
được thân người, thậm chí giúp chúng ta sanh thiên, nhưng chẳng thể giúp
chúng ta liễu sanh tử, thoát tam giới.
“Thế sự”
là gì? Là mọi việc trong lục đạo. Vui vẻ bàn nói những chuyện ấy. Ngày nay
người ngoại quốc bàn đến khoa học, kỹ thuật cũng là thế sự. Họ luận đến
chuyện vượt ngoài hư không, nhưng ngoài hư không vẫn là trong luân hồi lục
đạo, vẫn chưa vượt thoát luân hồi lục đạo. Thế sự có chánh, có tà. Tà là
đọa ba ác đạo, Chánh là ba thiện đạo.
Điều thứ tư
là ưa thích ngủ nghỉ, ham ngủ. Điều thứ năm là:
Chánh
kinh:
Đa chư
hý luận
(Lắm điều
hý luận)
Phạm vi của
“hý luận” cũng rộng rãi phi thường; như thông thường chúng ta nói
giỡn chơi, đều gọi là hý luận.
Chánh
kinh:
Quảng
doanh chúng vụ.
(Rộng lo
liệu các việc).
Trong xã hội
hiện tại, hiện tượng này rất nhiều. “Doanh” là kinh doanh, “vụ” là sự vụ.
“Quảng” là nhiều. Tôi vừa mới nhắc qua, Bách Trượng thiền sư từng nói:
“Phật môn lấy vô sự làm hưng vượng”; há nên đa sự? Thế nào là đa sự?
Nêu một thí dụ phổ biến để nói, pháp hội là đa sự, huống gì những chuyện
khác! Điều này trong phần sau đức Phật sẽ giảng rộng, quý vị nhất định
phải hiểu sâu xa ý Phật.
Tu học Phật
pháp là gì? Đề mục kinh Vô Lượng Thọ đã cho chúng ta biết: “Thanh tịnh,
bình đẳng, giác”. Làm nhiều việc quá thì tâm sao thanh tịnh được? Thù
tạc quá nhiều, chẳng thể thanh tịnh được! Sự vụ quá nhiều chẳng thể bình
đẳng được. Mỗi ngày từ sáng đến tối mê hoặc điên đảo, làm sao có thể giác
ngộ cho được? Đấy chính là lỗi hại của việc “quảng doanh chúng vụ”.
Đấy là câu thứ bảy.
Chánh
kinh:
Chủng
chủng tham trước.
(Tham chấp
các thứ)
Câu này phạm
vi rất lớn. Tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, buông xuống chẳng
được! Đây là câu thứ tám.
Chánh
kinh:
Vi sở
bất ưng.
(Làm điều
chẳng nên làm)
Những điều họ
làm đều là điều chẳng nên làm, đều là điều Phật chẳng cho phép, họ cứ
nhiều phen tạo tác. Đây là câu thứ chín.
Chánh
kinh:
Vọng
thất chánh niệm.
(Hư vọng
mất chánh niệm)
Vọng là hư
vọng. Suốt ngày hư vọng nên chánh niệm bị mất. Đây là câu thứ mười.
Chánh
kinh:
Tu tập tà huệ.
“Tà huệ”
như trong nhà Phật thường bảo là thế trí biện thông, chẳng phải là chân
trí huệ. Đây là câu thứ mười một.
Chánh
kinh:
Hạ liệt
tinh cần.
(Siêng
gắng hèn kém).
Bọn họ cũng
rất nỗ lực, một ngày từ sáng đến tối chẳng nghỉ ngơi, dù bận vẫn vui. Bận
bịu những gì? Bận bịu với sự nghiệp tam đồ. Chữ “hạ” chỉ ba ác đạo, chẳng
phải ba thiện đạo! “Hạ liệt” nghĩa là gì? Vướng tham sân si, tranh
danh đoạt lợi, bọn họ dũng mãnh tinh tấn làm những việc như thế. Câu cuối
cùng là:
Chánh
kinh:
Hành mê
hoặc hạnh.
(Làm hạnh
mê hoặc)
Đây là hiện
tượng bao gồm cả tại gia lẫn xuất gia trong cửa Phật vào thời Mạt Pháp
này. Nếu như chúng ta thật sự chăm chú phản tỉnh, [sẽ thấy là] nếu mắc căn
bệnh này thì bất luận đang tu học pháp môn nào cũng đều chẳng thể thành
tựu, niệm Phật cũng chẳng thể vãng sanh. Điều kiện để vãng sanh là tâm
phải thanh tịnh - “tâm tịnh thì cõi nước tịnh”. Tây Phương thế giới
là Tịnh Độ, chẳng phải là uế độ! Vì thế tâm chẳng thanh tịnh, làm sao vãng
sanh được? Mê hoặc là chẳng thanh tịnh, chẳng ứng hợp Tịnh Độ. Tụng kinh
cho nhiều, niệm Phật cho lắm thì cũng như lời cổ nhân nói: “Long hầu
rách họng vẫn uổng công!”, chỉ có thể kết duyên lành với Tịnh Độ chứ
chẳng thể vãng sanh ngay trong một đời!
Sự việc như
vậy có gì là lạ, chẳng biết là trong đời quá khứ chúng ta đã làm như thế
bao nhiêu lần. Chúng ta có nhân duyên rất sâu xa với Tây Phương Tịnh Độ,
vì sao chẳng thành tựu? Nói chung là vì phạm phải những lầm lỗi ấy. Đời
đời kiếp kiếp quá khứ phạm phải những lầm lỗi ấy nên niệm Phật mà chẳng
thể vãng sanh. Đời này gặp được bản kinh này, đấy là nhân duyên hy hữu.
Thử nghĩ nếu lại phạm những lỗi ấy thì một đời này ắt phải luống uổng. Nếu
quả thật có thể thường tích cực phản tỉnh, sửa lỗi đổi mới, quay đầu là bờ
thì trong một đời này chúng ta quyết định sẽ thành tựu.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát tại ư hội trung, kiến chư Bồ Tát cụ túc như
thị bất thiện chư hạnh.
(Lúc bấy
giờ, Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát ở trong hội thấy các Bồ Tát đầy đủ các hạnh
bất thiện như thế).
“Cụ túc”:
mười hai điều vừa nhắc đến ở phần trên đều phạm đủ cả, phạm toàn bộ. Ngài
Di Lặc thấy các Bồ Tát ấy có nhiều lầm lỗi như thế.
Chánh
kinh:
Tác thị
niệm ngôn.
(Nghĩ như
thế này)
Trong tâm
Ngài suy nghĩ.
Chánh
kinh:
Thử chư
Bồ Tát ư vô thượng Bồ Đề, viên mãn đạo phần, giai dĩ thoái chuyển.
(Các vị Bồ
Tát này đối với vô thượng Bồ Đề, viên mãn đạo phần, đều đã lui sụt).
Cổ nhân
thường nói: “Người sơ phát tâm thành Phật có dư”. Sơ Phát Tâm đều
là phát thiện tâm, hảo tâm, do nghiệp chướng sâu nặng, các căn ám độn nên
rất dễ bị thoái chuyển, rất dễ bị mê hoặc, đặc biệt là [mê hoặc] bởi danh
tiếng, lợi dưỡng! Người sơ phát tâm xuất gia không có ai cúng dường
họ, cuộc sống rất thanh bần, khổ sở, đạo tâm rất kiên định. Tu hành được
mấy năm, có chút ít thành tựu, danh tiếng, lợi dưỡng đưa tới, kẻ ấy lại bị
đọa lạc. Trong có phiền não, ngoài có dụ hoặc, làm sao không đọa lạc cho
được? Vì thế đối với Vô Thượng Bồ Đề bèn thoái chuyển. Di Lặc Bồ Tát thấy
xong bèn khởi tâm từ bi.
Chánh
kinh:
Ngã kim
đương linh thị chư Bồ Tát giác ngộ khai hiểu, sanh hoan hỷ tâm.
(Nay ta
nên làm cho các Bồ Tát này giác ngộ, hiểu biết, sanh lòng hoan hỷ).
Di Lặc Bồ Tát
đến giúp đỡ các Bồ Tát ngu si ấy. Ở đây, chúng ta phải chú ý: Thế nào là
đại từ đại bi? Thế nào gọi là cứu tế bần khổ? Người tu hành không có đạo,
ấy là “bần”. Người tu hành vẫn phạm những lầm lỗi y như cũ, thật là “khổ”!
Ở đây Di Lặc Bồ Tát hành từ bi cứu tế. Ngài cứu tế các Bồ Tát điên đảo mê
hoặc đó, bảo họ “giác ngộ khai hiểu”, nghĩa là phá mê khai ngộ.
Giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ là đại từ đại bi, là chân
chánh cứu tế.
Chánh
kinh:
Tác thị
niệm dĩ.
(Nghĩ như
vậy xong).
Di Lặc Bồ Tát
khởi lên ý niệm ấy xong.
Chánh
kinh:
Tức ư
bô thời, tùng thiền định khởi.
(Liền sau
giờ Ngọ, từ thiền-định dậy).
“Bô thời”
là sau Ngọ, sau khi dùng Ngọ trai xong, Ngài từ thiền định xuất.
Chánh
kinh:
Vãng
đáo kỳ sở, cộng tương úy vấn, phục dĩ chủng chủng nhu nhuyễn ngôn từ, vị
thuyết pháp yếu, linh kỳ hoan hỷ.
(Đến chỗ
bọn họ cùng nhau an ủi, thăm hỏi, lại dùng các lời lẽ mềm mỏng nói pháp
yếu khiến họ hoan hỷ).
Đích thực là
Di Lặc Bồ Tát rất có trí huệ, nói theo cách chúng ta ngày nay là trí huệ
cao độ! Ngài chẳng trách móc bọn họ, mà đến an ủi họ, lời lẽ nhu hòa, dịu
dàng an ủi họ khiến họ sanh lòng vui mừng, sanh hảo cảm đối với Bồ Tát.
Phải dùng cách khéo như vậy để họ tiếp thọ lời dẫn dụ của Ngài.
Chánh
kinh:
Nhân
cáo chi viết: “Chư nhân giả!”
(Nhân đó
bảo rằng:“Này các nhân giả!”)
“Chư nhân
giả” là tiếng tôn xưng bọn họ.
Chánh
kinh:
Vân hà
nhữ đẳng ư vô thượng Bồ Đề viên mãn đạo phần nhi đắc tăng trưởng, bất
thoái chuyển da?
(Các vị
làm thế nào để đối với vô thượng Bồ Đề viên mãn đạo phần được tăng trưởng,
chẳng thoái chuyển vậy?)
Lời hỏi rất
khéo! Chẳng trách móc họ phạm lỗi lầm, chẳng trách họ thoái chuyển, trái
lại Ngài hỏi: Đối với vô thượng Bồ Đề viên mãn đạo phần, các vị có phương
pháp nào làm cho nó tăng trưởng, chẳng thoái chuyển hay chăng? Chúng ta
phải học tập điểm này: bình thường đối người, đối sự, đối vật phải nói
năng thế nào để thật sự giúp người giác ngộ, giúp người sửa lỗi đổi mới,
chẳng dùng lời lẽ trách móc, mà phải dùng những lời quan hoài, thương yêu,
che chở, dùng phương pháp dẫn dụ khơi gợi. Ở đây ta mới thấy chỗ cao minh
của Di Lặc Bồ Tát. Vì thế, lúc bọn họ nghe Ngài nói đều rất hoan hỷ, vui
vẻ trò chuyện với Ngài.
Các vị xem
nhé!
Chánh
kinh:
Thị chư
Bồ Tát đồng thanh bạch ngôn:
- Tôn
giả! Ngã đẳng kim ư vô thượng Bồ Đề viên mãn đạo phần vô phục tăng trưởng,
duy hữu thoái chuyển.
(Các vị Bồ
Tát ấy đồng thanh thưa rằng:
- Thưa tôn
giả! Chúng tôi nay với vô thượng Bồ Đề viên mãn đạo phần chẳng còn tăng
trưởng, chỉ có thoái chuyển).
Những người
ấy đều thưa thật: Đối với vô thượng Bồ Đề chúng tôi không tăng trưởng,
ngày càng lui sụt!
Chánh
kinh:
Hà dĩ
cố?
(Vì sao
vậy?)
Vì sao chúng
tôi ngày càng lui sụt?
Chánh
kinh:
Ngã tâm
thường vị nghi hoặc sở phú.
(Tâm tôi
thường bị nghi hoặc che phủ)
Tham, sân,
si, mạn, nghi. Nghi là phiền não trọng đại đối với Bồ Tát, là chướng ngại
nghiêm trọng đối với tu học. Bọn họ có nghi, có Hoặc. Hoặc là mê hoặc.
Chánh
kinh:
Ư vô
thượng Bồ Đề bất năng giải liễu.
(Đối với
vô thượng Bồ Đề chẳng thể hiểu rõ).
Câu này ý nói
bọn họ nghiệp chướng sâu nặng, tuy thường nghe Thế Tôn giảng kinh thuyết
pháp, nghe xong chẳng hiểu rõ chi mấy, chẳng những không thể liễu giải,
còn lắm phen nghe lầm lời Phật dạy, hiểu lầm ý nghĩa. Lúc chúng ta khai
kinh kệ, niệm “nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa”. Bọn họ hiểu
lầm ý nghĩa chân thật của Như Lai, hiểu cong quẹo ý nghĩa lý chân thật của
đức Như Lai. Ấy là tướng nghiệp chướng sâu nặng, tiếp theo đây các vị nói
rất rõ.
Chánh
kinh:
Vân hà
ngã đẳng đương tác Phật da? Bất tác Phật da?
(Vậy thì
chúng tôi sẽ thành Phật ư? Chẳng thành Phật ư?)
Đây là nêu
lên một thí dụ cụ thể để minh họa. Bọn họ thường hoài nghi: Học Phật là
tốt hay chẳng học Phật là tốt? Thành Phật là tốt hay chẳng thành Phật là
tốt? Thường có vấn đề như thế, đó là hoài nghi thiện pháp.
Chánh
kinh:
Ư đọa
lạc pháp diệc bất năng liễu!
(Với pháp
đọa lạc cũng chẳng rõ được).
Tam đồ lục
đạo, gieo thiện nhân được thiện quả, tạo ác nghiệp nhất định phải thọ ác
báo. Phật cũng đã giảng rất rõ ràng, nhưng họ đối với điều ấy vẫn nghi
hoặc!
Chánh
kinh:
Vân hà
ngã đẳng đương đọa lạc da? Bất đọa lạc da?
(Vậy thì
chúng tôi sẽ đọa lạc ư? Chẳng đọa lạc ư?)
Chúng tôi có
bị đọa lạc hay chăng? Đọa lạc thật sự hay là chỉ đọa lạc giả? Những nghi
vấn ấy thường xuyên hiện hữu.
Chánh
kinh:
Dĩ thị
nhân duyên, thiện pháp dục sanh thường vị nghi hoặc chi sở triền phú.
(Bởi nhân
duyên ấy, thiện pháp sắp sanh thường bị nghi hoặc ràng buộc, che phủ)
Lẽ đương
nhiên là trong bất cứ thời đại nào, bất cứ cá nhân nào chẳng thể không có
lấy một thiện niệm. Hết thảy chúng sanh đều là thiện ác hỗn tạp, có lúc
thiện nhiều, ác ít, lại có lúc ác nhiều, thiện ít nên mới hình thành lục
đạo và mười pháp giới. Bọn họ sanh thiện niệm, nhưng chỉ vì nghi hoặc nên
lúc hoài nghi thì thiện chẳng thể hình thành, lúc đó rất dễ thoái chuyển.
Những vị Bồ Tát này đều rất thành thật, rất khó có. Nói theo ngôn ngữ hiện
nay là bọn họ còn tự biết rõ mình, vẫn kể là chưa lầm lạc! Dù có phạm lầm
lỗi, vẫn còn có thể cứu, vì thế Di Lặc Bồ Tát đến cứu bọn họ.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát nhi cáo chi viết:
- Chư
nhân giả! Khả cộng vãng nghệ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri sở. Nhi bỉ
Như Lai nhất thiết tri giả, nhất thiết kiến giả, cụ túc thành tựu vô
chướng ngại trí, giải thoát tri kiến, dĩ phương tiện lực thiện tri nhất
thiết chúng sanh sở hạnh, đương vị nhữ đẳng tùy kỳ căn tánh chủng chủng
thuyết pháp.
(Lúc bấy
giờ, Di Lặc Bồ Tát bảo họ rằng:
- Các nhân
giả! Nên cùng đến chỗ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri. Đức Như Lai là
bậc biết hết thảy, bậc thấy hết thảy, thành tựu đầy đủ trí vô chướng ngại,
giải thoát tri kiến, dùng sức phương tiện khéo biết sở hạnh của hết thảy
chúng sanh, Ngài sẽ vì các ông thuyết pháp các thứ tùy theo căn tánh).
Đây cũng là
điểm cao minh của Di Lặc Bồ Tát. Di Lặc Bồ Tát chẳng thể thuyết kinh giảng
pháp cho họ ư? Đương nhiên là có thể.
Vì sao Di Lặc
Bồ Tát chẳng thuyết pháp? Bởi vì họ thuộc vào địa vị Bồ Tát, chưa chắc bọn
họ đã tin tưởng vào lời giảng kinh thuyết pháp của Ngài. Vì thế, Di Lặc Bồ
Tát giới thiệu: “Chúng ta đi gặp Phật”. Mọi người nghe đến Phật đương
nhiên chẳng dị nghị, chúng ta cùng nhau đi đến chỗ Phật.
“Như Lai,
Ứng Cúng, Chánh Biến Tri” là ba thứ trong mười danh hiệu của đức Như
Lai, chúng tôi cũng không giải thích chi tiết. Câu “nhi bỉ Như Lai,
nhất thiết tri giả, nhất thiết kiến giả” là lời tán thán trí huệ đức
năng của Phật: không chi chẳng biết, không gì chẳng thể! Ý nói: quả vị
Phật là thành tựu đầy đủ, chẳng có một mảy gì thiếu khuyết. Trí huệ Phật
đầy đủ viên mãn, Phật tự tại viên mãn, hơn nữa phương pháp của Phật hay
khéo phi thường. “Dùng sức phương tiện” dạy dỗ chúng sanh khế cơ,
khế lý.
Trước hết nói
“thành tựu đầy đủ trí vô chướng ngại, giải thoát tri kiến”, đó là
Lý. Phật thuyết pháp khế lý! Lại nói “khéo biết sở hạnh của hết thảy
chúng sanh”: hết thảy chúng sanh đời đời kiếp kiếp đã tạo nhân gì, thọ
quả báo gì, Phật đều biết cả, vì thế thuyết pháp bèn khế cơ. Bọn họ đến
gặp Phật, nhất định đức Phật sẽ tùy theo căn tánh của mỗi người mà thuyết
pháp các thứ. Ấy là khế cơ, khế lý.
Kinh văn chia
làm ba phần: Phần Phát Khởi đến đây là hết. Đó là một đoạn lớn. Dưới đây
là phần mở đầu phần Chánh Tông của kinh, phải nên đơn khởi một hạnh. Bản
kinh hiện thời tôi bảo thầy Ngộ Quảng sao từ bản Tần Già Tạng ra, rồi lại
dựa theo Đại Chánh Tạng phân thành đoạn. Tiêu chuẩn phân đoạn trong Đại
Chánh Tạng có rất nhiều vấn đề, quý vị cứ xem kinh văn thì thấy ngay, quý
vị xem kỹ thì thấy bốn chữ (1) là một câu, cho nên đọc tụng chẳng khó.
---o0o---
Mục Lục >
I-II-III
-IV
> V-A
> V-B1
>V-B2
> V-B2 >
V-B4
> V-C
---o0o---
Source: http://www.niemphat.net/
Cập nhật
ngày: 01-06-2005