PHÁT KHỞI
BỒ TÁT THÙ THẮNG CHÍ NHẠO
KINH LƯỢC
GIẢNG
(Nguyên văn: Phát Khởi Bồ
Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký)
Chủ giảng: Hoà
Thượng Thích Tịnh Không
Cư Sĩ Truyền Tịnh
Chỉnh Lý
Chuyển Ngữ: Bửu
Quang Tự đệ tử Như Hoà
---o0o---
I.
GIẢNG KINH DUYÊN KHỞI
Chư vị đại
đức đồng tu! Ngày hôm nay nhân duyên thù thắng phi thường: Nghi thức xuất
gia của nhà Phật đều cử hành vào giờ Ngọ. Sau khi nghi thức hoàn tất, theo
thông lệ là cúng Phật. Nghi thức chúng ta cử hành hôm nay vào thời khắc
này có ý nghĩa chẳng kém tầm thường, thật sự có quan hệ mật thiết phi
thường với bản kinh này. Đức Thế Tôn đã giảng cho chúng ta một bộ kinh,
nói theo ngôn ngữ hiện đại, là từ ba ngàn năm trước Ngài đã biết trước
thời hiện tại, hàng tại gia, xuất gia dù tu học theo một pháp môn nào:
Hiển giáo, Mật giáo, Tông môn, Giáo hạ, cho đến Tịnh Độ đều chẳng thể
thành tựu.
Nguyên nhân
rốt cuộc là do đâu?
Đức Di Lặc Bồ
Tát từ bi phi thường, thay mặt chúng ta khải thỉnh, mong Thế Tôn vì chúng
ta chỉ dạy tường tận. Nếu như chúng ta thật sự có thể y chiếu theo lời răn
dạy trong kinh này, chú tâm thể hội, phản tỉnh, sửa lỗi đổi mới, quay đầu
về bờ, được như thế thì pháp mình tu, hạnh mình hành trong một đời quyết
định được thành tựu. Đấy chính là nhân duyên giảng kinh lần này của chúng
tôi. Do thời gian hữu hạn, nên trong lần này, chúng tôi chỉ chọn lấy những
điểm trọng yếu trong kinh văn để giới thiệu, xem nhiều lần sẽ hiểu được,
còn như những danh từ, thuật ngữ thường được giảng tại giảng đường, chúng
tôi đều tỉnh lược cả.
II. BẢO TÍCH - PHÁP BẢO TÍCH
TẬP
Trước khi
giảng kinh, trước hết sẽ giới thiệu đơn giản về bộ kinh này. Bản kinh này
là một hội trong kinh Đại Bảo Tích; vì thế, trước hết, tôi sẽ giới thiệu
sơ lược kinh Đại Bảo Tích.
Ngẫu Ích đại
sư nói: “Bắt đầu từ Hoa Nghiêm, kết thúc tại Đại Niết Bàn”. Câu nói
này bao quát toàn bộ bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp của đức
Thích Ca Mâu Ni Phật. “Hết thảy pháp tạng Bồ Tát đều gọi là Phương
Đẳng”. Thế nên phạm vi của Phương Đẳng rộng phi thường.
“Phương” là
phương tiện. Trong nhà Phật thường nói: “Từ bi là gốc, phương tiện là
cửa”. Hết thảy kinh pháp đức Phật nói đều là pháp phương tiện, chứ
chân thật thuyết pháp chẳng thể nói ra. Luận về chân thật, thường nói:
“Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”. Bởi thế pháp gì nói ra được đều
là pháp phương tiện cả.
“Đẳng” là
bình đẳng, ý nghĩa giống với chữ “Bình Đẳng Giác” trong đề mục kinh Vô
Lượng Thọ. Sở dĩ Phương Đẳng đại biểu toàn bộ Phật pháp là vì xưa kia, Tổ
Sư đại đức đem giáo pháp cả một đời của đức Thế Tôn chia thành năm thời
kỳ. Phương Đẳng thuộc thời kỳ thứ ba, điều này có ý nghĩa đặc biệt.
“Nay trong
pháp Đại Thừa, chọn riêng những pháp thích hợp với đại cơ gọi là Hoa
Nghiêm bộ”. Vì thế, đối tượng của kinh Hoa Nghiêm là người căn tánh
thượng thượng thừa, bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân Đại Sĩ nói trong kinh đó
chính là đương cơ của Hoa Nghiêm. Còn thì “dung thông Không - Hữu”,
Không - Hữu bất nhị, tánh tướng như một, những pháp nói như thế thuộc về
Bát Nhã bộ. Ấy là do trí tuệ chân thật mới có thể thấu rõ chân tướng sự
thật. “Khai Quyền hiển Tích” là Pháp Hoa. “Hiện diệt bàn Thường,
gọi là Niết Bàn bộ”. Duyên giáo hóa của Phật Thích Ca Mâu Ni đã hết,
thị hiện nhập Niết Bàn, di giáo tối hậu cảnh tỉnh chúng ta tu học phải hạ
thủ chỗ nào. Những lời răn dạy ấy xếp vào bộ Niết Bàn. Đó là bốn giai đoạn
của pháp Đại Thừa.
“Kỳ dư, dù
Hiển hay Mật, hoặc đối Tiểu hiển Đại” (trái với Tiểu Thừa gọi là Đại
Thừa) “hoặc dạy khắp nhân quả, sự lý, hạnh vị, trí đoạn của chư Phật,
Bồ Tát” (Hạnh là tu hành, Vị là quả vị chứng đắc. Ví như năm mươi mốt
địa vị Bồ Tát: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng... đều thuộc
vào Vị. “Trí đoạn”: Trí là trí huệ, Đoạn là đoạn phiền não, đoạn vô minh.
Nói đến đoạn phiền não thì nhất định phải khai trí huệ; Định chỉ có công
năng khuất phục phiền não, chẳng thể đoạn nổi phiền não) “đấy đều là bộ
Phương Đẳng” (do đó, có thể biết là nội dung của Phương Đẳng rộng lớn
phi thường), “chẳng giống như lời ngoa truyền trong đời, nói [thời
Phương Đẳng] chỉ gồm tám năm”. Đấy là lời giảng thông thường về năm
thời thuyết giáo, ý nghĩa hạn hẹp phi thường.
Chữ Phương
Đẳng được giảng ở đây so ra chẳng giống với ý nghĩa được giảng trong tông
Thiên Thai, [tôi giảng] chữ “Phương Đẳng” này bao quát hết thảy kinh giáo
đức Thế Tôn đã nói trong bốn mươi chín năm. Nhân vì kinh Đại Bảo Tích
thuộc bộ Phương Đẳng nên trước hết, tôi giới thiệu sơ lược qua ý nghĩa của
Phương Đẳng.
Kinh Đại Bảo
Tích có bốn mươi chín hội, gồm bảy mươi bảy phẩm. Mỗi một hội là một bộ
kinh. Do đó có thể biết là bộ kinh Đại Bảo Tích này giống hệt như tụ tập
các kinh tạo thành một bản hợp tuyển vậy. Nội dung kinh rất phong phú,
người phiên dịch bộ kinh này cũng chẳng phải là một người, mà do nhiều
người phiên dịch. Vì thế, các sư có vị phiên dịch một hội, cũng có vị
phiên dịch hai hội, ba hội. Trước đời Đường, chưa có ai tập hợp các kinh
này lại, nên chúng được lưu hành từng bộ riêng rẽ. Kinh Vô Lượng Thọ của
Tịnh tông chúng ta cũng nằm trong kinh Đại Bảo Tích, bản được phiên dịch
vào thời Đường là hội thứ năm của kinh Đại Bảo Tích [mang tên] “Vô Lượng
Thọ Hội”.
Ngài Bồ Đề
Lưu Chí đến Trung Quốc vào thời Võ Tắc Thiên nhà Đường. Ngài thấy đại bộ
phận kinh Đại Bảo Tích gần như đã được phiên dịch ra nhưng chưa hoàn
chỉnh. Vì thế, một lần nữa Ngài lại đem những chỗ người khác chú thích
nhưng chưa phiên dịch, dịch toàn bộ ra, cho nên Ngài dịch được ba mươi sáu
hội, gồm ba mươi chín quyển. Sau đó, đem các bản dịch của những vị pháp sư
khác (gồm hai mươi ba hội, tám mươi mốt quyển) gộp vào gạn lọc, tạo thành
một bộ kinh Đại Bảo Tích hoàn chỉnh. Tổng cộng bốn mươi chín hội, một trăm
hai mươi quyển, hiện tại chúng ta có thể xem trong Đại Tạng Kinh, hình như
ở Đài Loan kinh này cũng có bản lưu hành riêng. Đấy là toàn bộ kinh Đại
Bảo Tích.
* Vì sao
gọi là Bảo Tích?
Có cách giải
thích như sau:
“Pháp bảo
tích tập. Là pháp Đại Thừa thâm diệu nên gọi là Bảo”. Bốn mươi hội
trong kinh này là bốn mươi chín bộ kinh, mỗi một bộ đều thâm diệu chẳng
thể nghĩ bàn, vì thế sánh ví với “Bảo”. “Vô lượng pháp môn gồm thâu
trong đây” cho nên gọi là “Tích”, Tích nghĩa là tụ tập. “Bảo Tích
Kinh Luận quyển một chép:”. Bảo Tích Kinh Luận là sách chú giải kinh
này, nhưng không còn toàn vẹn, chỉ có bốn quyển, ai chú giải cũng không
biết, đã thất truyền, nhưng lời luận được lưu trong Đại Tạng Kinh, sách
này giải thích đơn giản đề mục kinh. Sách ấy viết: “Hết thảy các pháp
sai biệt trong pháp bảo Đại Thừa, kinh này gom sạch, nên gọi là Bảo Tích”.
Từ một câu này, chúng ta có thể hiểu được đại khái ý nghĩa của đề mục kinh
này. Giới thiệu giản lược về Phương Đẳng và kinh Đại Bảo Tích thuộc Phương
Đẳng Bộ như thế.
III. GIỚI
THIỆU SƠ LƯỢC DỊCH GIẢ: NGÀI BỒ ĐỀ LƯU CHÍ
Vừa rồi giới
thiệu người phiên dịch kinh rất nhiều, chúng tôi bất tất giới thiệu từng
vị một, chúng tôi chỉ giới thiệu riêng mình vị tập đại thành là ngài Bồ Đề
Lưu Chí. “Bồ Đề Lưu Chí” là dịch âm tiếng Phạn, “ở đây nói là
Giác Ái”: phiên dịch thành tiếng Trung Quốc là Giác Ái. Bồ-Đề là Giác,
Lưu Chí là Ái. “Người Nam Thiên Trúc”: lúc ấy, Ấn Độ được gọi là
Thiên Trúc, Ngài là người Nam Ấn Độ. “Đến vào thời Đường Võ Hậu”:
Ngài đến Trung Quốc vào thời đại Võ Tắc Thiên. “Dịch Tam Tạng kinh”:
Ngài là pháp sư dịch kinh.
“Sách Khai
Nguyên Thích Giáo Lục quyển 9 ghi:” Thích Giáo Lục là mục lục kinh
điển Phật giáo, trong mục lục có lời giới thiệu đơn giản cho mỗi kinh.
“Sa-môn Bồ Đề Lưu Chí, vốn tên là Đạt Ma Lưu Chi”: Tên Ngài vốn là Đạt
Ma Lưu Chi, Đạt-Ma là pháp, Lưu Chi nghĩa là “hy hữu”. Vì thế, Ngài vốn có
tên là Pháp Hy Hữu. “Thiên Hậu đổi tên Ngài thành Bồ Đề Lưu Chí”:
Thiên Hậu là Võ Tắc Thiên. Đại khái, bà Võ Tắc Thiên cho rằng ý nghĩa cái
tên của Ngài không hay, nên dốc tâm huyết ra đổi tên cho Ngài, đổi thành
Giác Ái. “Tiếng Đường là Giác Ái, người Nam Ấn Độ”. Tống Cao Tăng
Lục quyển 3 ghi: ‘Thích Bồ Đề Lưu Chí, người xứ Nam Thiên Trúc, thuộc
dòng tịnh hạnh bà-la-môn, họ Ca-Diếp”. Nếu các vị muốn biết rõ chi
tiết, hãy xem Tống Cao Tăng Truyện. Trong quyển 3 bộ Tống Cao Tăng Truyện
có chép truyện Ngài.
IV. GIỚI THIỆU ĐẠI LƯỢC BẢN
KINH NÀY
Tiếp đây, tôi
sẽ giảng về nội dung bản kinh, cũng chỉ giới thiệu đại lược.
Kinh này
thuộc quyển chín mươi mốt và chín mươi hai của kinh Đại Bảo Tích. Vì thế,
kinh văn có hai quyển Thượng và Hạ, quyển Thượng là quyển chín mươi mốt,
quyển Hạ là quyển chín mươi hai. [Trong kinh Đại Bảo Tích ghi là] “Phát
Thắng Chí Nhạo Hội đệ nhị thập ngũ, Tam Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chí phụng
chiếu dịch”. Trong đó, chữ “chiếu” chỉ thánh chỉ của Võ Tắc
Thiên, Sư tuân mạng lệnh của Hoàng Đế mà phiên dịch. “Sách Duyệt Tạng
Tri Tân đem nội dung toàn kinh chia ra làm mười lăm đoạn”: Duyệt Tạng
Tri Tân là tác phẩm của đại sư Ngẫu Ích. Ngẫu Ích đại sư đem toàn bộ kinh
này chia thành 15 đoạn, nội dung mỗi đoạn được giới thiệu như dưới đây.
Đoạn thứ
nhất, “Phật ở tại Lộc Uyển, cùng một ngàn tỳ kheo, năm trăm Bồ Tát cùng
nhóm”. Đoạn trên đây thuộc về Tự Phần đi trước Chánh Tông Phần. Phần
này trong Duyệt Tạng Tri Tân không nhắc đến, ở đây nhân vì giảng bộ kinh
này, để tiện theo dõi, chúng tôi thêm vào, lại chia kinh thành ba phần
lớn. Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai thuộc Tự Phần.
Đoạn thứ nhất
là Thông Tự, đoạn thứ hai là Phát Khởi Tự. Trong đoạn thứ hai: “Có các
Bồ Tát nghiệp chướng sâu nặng, nghi hoặc thoái chuyển. Di Lặc Bồ Tát an ủi
khiến họ vui mừng”. Vì thế, đây là đầu mối để hiểu được bộ kinh này sẽ
nói những gì, đoạn này đối với người học Phật hiện thời của chúng ta trọng
yếu phi thường. Chúng ta đích thực là các Bồ Tát ngu si nghiệp chướng sâu
nặng đấy! Tất cả mọi người đã thọ Bồ Tát giới đều là Bồ Tát, dẫu đã thọ Bồ
Tát giới nhưng vẫn rất ngu si! Đó chính là điều kinh này nhắc đến.
Đoạn thứ ba
thuộc về Chánh Tông Phần. “Có mười sáu người theo lời khuyên đến chỗ
Phật”: thuận theo lời khuyên bảo của Bồ Tát Di Lặc, mười sáu người
theo chân Di Lặc Bồ Tát đến gặp đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi thấy
được Phật họ rất hổ thẹn, thiện căn phát khởi, “gieo mình xuống đất
buồn khóc”. Phật an ủi họ, bảo họ đứng dậy, thuật lại ác nghiệp phỉ
báng pháp sư xưa kia của họ nên họ nhiều đời nhiều kiếp chịu khổ, tương
lai khi nghiệp báo đó tận, nhất định sẽ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Do đấy có thể biết là bọn họ trong nhiều đời nhiều kiếp trước đã
từng học qua pháp môn Tịnh Độ, đều niệm đức Phật A Di Đà, chỉ vì nghiệp
chướng quá nặng nên chẳng thể vãng sanh, ở trong lục đạo chịu hết nỗi khổ.
Đoạn thứ tư:
“Khi ấy, các Bồ Tát liền phát mười ba hoằng thệ, Phật khen ngợi ấn khả”:
Mười sáu vị Bồ Tát ấy thật là hy hữu, ít người được vậy, bọn họ nghe Phật
chỉ dạy bèn chân chánh sám hối, hồi đầu sửa lỗi đổi mới, phát mười ba
hoằng thệ. Đức Phật nghe xong rất khen ngợi họ.
Đoạn thứ năm:
“Nhân đấy, Di Lặc Bồ Tát bèn hỏi trong đời mạt, Bồ Tát thành tựu mấy
pháp thì được an ổn độ thoát”. Vấn đề này rất trọng yếu. Thời kỳ Mạt
Pháp chính là thời đại của chúng ta. Hiện tại chúng ta nên thành tựu bao
nhiêu pháp thì mới có thể an ổn thoát ly lục đạo luân hồi, thoát ly biển
khổ sanh tử.
Đoạn thứ sáu,
“Phật đáp dùng hai loại bốn pháp”. Hai loại “bốn pháp” này từ đoạn
thứ sáu đến đoạn thứ bảy. Trong loại thứ nhất, “chẳng tìm lỗi người
khác” là điều thứ nhất; “cũng chẳng cử tội người” là điều thứ
hai; “lìa lời thô, keo kiệt, người ấy sẽ giải thoát”. Trong thời kỳ
Mạt Pháp, bốn điều này tối trọng yếu, nhất định phải tuân thủ, phải làm
cho được. Phật nói bốn pháp ấy xong, lại nói ra bốn pháp khác, đó là đoạn
thứ bảy. “Hãy bỏ sự biếng nhác” là điều thứ nhất; “xa lìa các ồn
náo” là điều thứ hai; ưa thích chỗ náo nhiệt là điều chướng ngại rất
lớn. “Tịch tĩnh, thường tri túc”, vâng giữ bốn pháp này “người
ấy sẽ giải thoát”. Đoạn này dạy chúng ta tu hành trong thời kỳ Mạt
Pháp phải có đủ hai loại “bốn pháp” này, tức là đủ tám pháp mới có thể yên
ổn tu học đạt hiệu quả, đạt được mục tiêu tu học.
Đoạn thứ tám,
“tiếp đó, kinh dạy lúc hành pháp thí, tâm không mong cầu sẽ thành hai
mươi điều lợi, lại thành hai mươi điều lợi nữa”. Hai thứ “hai mươi
điều lợi” này cộng thành bốn mươi thứ lợi ích, phải dùng tâm không mong
cầu để tu hành pháp bố thí mới có thể đạt được!
Đoạn thứ chín
thuyết minh các lỗi lầm, ác nghiệp trong thời kỳ Mạt Pháp, hoàn toàn là
nói về những hiện trạng xã hội cũng như tình trạng của bọn người tu hành
chúng ta. Đọc xong đúng là rét buốt tận xương! Đức Thế Tôn cách xa chúng
ta ba ngàn năm, ba ngàn năm trước Ngài đã thấy rõ ràng tình trạng tu hành
hiện tại của chúng ta, thật có thể nói là nhân duyên quả báo chẳng sai sót
mảy may!
Đoạn thứ mười
nói về “tướng trạng bất đồng giữa huệ hạnh Bồ Tát và sơ nghiệp Bồ Tát”.
Chữ “huệ hạnh Bồ Tát” này chúng ta phải hiểu rõ, nếu không hiểu được nhất
định sẽ không học gì khác được! Thế nào là “huệ hạnh?”
Khai mở trí
huệ, trong nhà Thiền gọi là “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”,
trong pháp Đại Thừa ta thường gọi là Pháp Thân Đại Sĩ. Pháp Thân Đại Sĩ
mới là huệ hạnh Bồ Tát. Cũng như những bậc thường được xưng tụng là
“phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân”, người như vậy mới là
huệ hạnh Bồ Tát, chưa đạt đến địa vị ấy thì chẳng phải là huệ hạnh Bồ Tát.
Nhân vì những hành vi, biểu hiện của huệ hạnh Bồ Tát rất đặc thù, chúng ta
chẳng học đòi nổi. Nếu học theo, họ sanh lên trời, ta bị đọa địa ngục. Đối
với điểm này, đức Phật giảng rất rõ ràng, rất minh bạch.
Đoạn thứ mười
hai thuyết minh “sơ nghiệp Bồ Tát phải nên quán sát cái họa lợi dưỡng”.
Sơ Nghiệp là sơ học Bồ Tát, chúng ta hiện đang thuộc giai đoạn này, nhất
định phải hiểu rõ họa hại của lợi dưỡng, chỉ cần vướng chút lợi dưỡng thì
chẳng những đạo nghiệp chẳng thể thành tựu mà nhất định còn bị nó lôi vào
A Tỳ địa ngục! Học Phật chẳng thành Phật, ngược lại bị đọa vào A Tỳ địa
ngục, đấy chẳng phải là điều Phật, Bồ Tát mong trông thấy. Nhưng trong
thời kỳ Mạt Pháp, người như vậy nhiều lắm lắm. Bởi vậy, đoạn kinh văn
thuyết minh họa hại của lợi dưỡng này rất dài.
Đoạn thứ hai
là “cũng nên quán sát ồn náo có hai mươi lỗi, lời lẽ thế gian có hai
mươi lỗi”. Đến phần sau tôi sẽ nói chi tiết cho quý vị. “Ngủ nghê
có hai mươi lỗi, các việc có hai mươi lỗi”. Chữ “các việc” ở đây chỉ
các thứ sự việc chẳng liên quan đến việc tu hành, hiện tại rất phổ biến
vậy!
Mọi người
quên hết cả rồi! Bách Trượng đại sư đã từng nói: “Phật môn do vô sự mà
hưng vượng”. Đạo tràng thế nào là hưng vượng? Vô sự gọi là hưng vượng.
Sự việc quá nhiều, hương hỏa tưng bừng, tín đồ quá đông, đấy là tướng suy
sụp của Phật môn chứ chẳng phải là tướng hưng thạnh. Vì sao vậy? Chẳng có
ai thành tựu hết. Người tuy đông nhưng không có một người nào khai ngộ,
không ai chứng quả, thậm chí không một ai có thể vãng sanh thì thạnh vượng
ở đâu? Chúng ta phải nhận thức rõ ràng điều này!
Trong đoạn
thứ mười ba, Phật dạy “chẳng tu các hạnh, chẳng đoạn phiền não, chẳng
tập thiền tụng, chẳng cầu đa văn thì chẳng phải là người xuất gia!”
Đấy là xuất gia chỉ có hình thức, chứ thật sự ra chư Phật Như Lai chẳng
thừa nhận kẻ ấy là đệ tử xuất gia.
Đoạn thứ mười
bốn thuyết minh hý luận có hai mươi lỗi họa.
Cuối phần
Chánh Tông, thuyết minh phát mười thứ tâm có thể sanh về thế giới Cực Lạc.
Vì thế, tối hậu bộ kinh này cũng dẫn dắt về Cực Lạc. Chúng ta mong quyết
định được sanh về Tịnh Độ của đức Di Đà trong một đời này nên đối với
chúng ta, bộ kinh này cũng trọng yếu phi thường!
Cuối cùng,
đoạn thứ mười sáu là Lưu Thông Phần. Trong sách Duyệt Tạng Tri Tân của
Ngẫu Ích đại sư chỉ giảng đến đoạn thứ mười lăm, sau đấy lại có một đoạn
là phần Lưu Thông của kinh này. Trên đây tôi đã nói cho quý vị biết sơ
lược đại ý kinh này.
---o0o---
Mục Lục > I-II-III
-IV
> V-A
> V-B1
>V-B2
> V-B2 >
V-B4
> V-C
---o0o---
Source: http://www.niemphat.net/
Cập nhật
ngày: 01-06-2005