LƯỢC THUẬT HÀNH TRẠNG
HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM
Dịch giả: Ni Chúng Tự Viện Vĩnh Minh
Lâm Đồng
Hiệu Đính: GS. Phạm Phú Thành, ĐĐ:
Thích Giải Hiền
NHÂN DUYÊN IN SÁCH
Chùa Thừa Thiên Thiền Tự ở Thành Phố Thổ Thành, huyện Đài
Bắc cùng với tên tuổi của Ngài Quảng Khâm từ lâu đã đi vào lòng người
Phật tử và trở thành niềm tự hào của Phật giáo Đài Loan.
Ngài Quảng Khâm xuất gia tu học tại chùa Thừa Thiên, Tuyền
Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc: Sau đó, Ngài đến Đài Loan hoằng pháp và xây
dựng chùa Thừa Thiên Thiền Tự. Ngài được tôn như Quốc Sư của Đài Loan,
tổng thống Tưởng Kinh Quốc mỗi khi gặp việc lớn của quốc gia thường đến
cầu thỉnh ý Ngài. Ngài nổi tiếng về hạnh tu đầu đà, sáu mươi năm Ngài
không ăn đồ nấu, toàn ăn hoa quả và không hề đặt lưng xuống giường
thường ngồi thiền tọa. Ngài viên tịch trong tư thế thiền tọa.
Chùa Thừa Thiên Thiền Tự cho đến nay vẫn giữ hạnh tu đầu đà,
chư tăng ni ở chùa sống cuộc sống thanh bần, mặc dầu Phật tử và du khách
đến chùa rất đông, nguồn thu nhập rất lớn nhưng cuộc sống đầu đà của
chư tăng vẫn không thay đổi. Sau khi Ngài Quảng Khâm viên tịch đệ tử
Ngài là Hòa thượng Tuyền Hối lên kế thế. Trong thời gian Ngài Tuyền Hối
kế thế trụ trì Ngài đã đem số tiền mà thập phương thiện tín cúng dường
cho chùa Thừa Thiên Thiền Tự đi giúp xây dựng các Phật học viện và cơ sở
hoằng pháp khác ở Đài Loan mà đặc biệt là những cơ sở này không phải của
Ngài và không thuộc hệ thống của Thừa Thiên Thiền Tự, chỉ cần những nơi
ấy yêu cầu là Ngài đều sẵn lòng giúp tất cả nguồn tài chánh, điều này
giúp chúng ta thấy được tâm hạnh Bồ tát của Ngài. Trước khi Ngài viên
tịch, Ngài bảo đệ tử tống kết số tiền mà trong mấy chục năm Ngài làm trụ
trì thập phương Phật tử cúng riêng cho Ngài tất cả được năm trăm triệu
Đài tệ (khoảng hai mươi tỷ đồng Việt Nam) Ngài phân làm năm phần cúng
dường cho bốn cơ sở Phật giáo là: Ttường đại học Phật Quang của Ngài
Tinh Vân Phật Quang Sơn, trường đại học Pháp Cổ Sơn của Ngài Liểu Trung
và công trình hy vọng xây dựng sáu mươi ngôi trường trung tiểu học do
hội Từ Tế của Ni Sư Chứng Nghiêm đảm trách mỗi đơn vị một trăm Đài tệ,
còn lại một trăm triệu Đài tệ Ngài cúng cho năm tổ chức từ thiện của
chính phủ và các tôn giáo khác.
Sau khi Ngài Truyền Hối viên tịch đệ tử là Thượng Tọa Đạo
Cầu lên kế vị trụ trì, vẫn tuân giữ đạo phong và thanh quy của chùa tiếp
tục tu hạnh đầu đà. Mặc dầu là trụ trì một chùa lớn Thượng Tọa Đạo Cầu
vẫn rất giản dị mộc mạc và Ngài không bao giờ bỏ thời khóa tụng kinh ở
chùa, khi tiếp khách dù là vị khách như thế nào cứ đến 3h45 chiều là
Ngài nói với khách hoan hỷ ra về hay lên chùa làm lễ vì sắp đến giờ Ngài
phải đi công phu chiều với đại chúng rồi. Việc tuân thủ giờ giấc của
thời khóa tu tập hằng ngày của Thượng Tọa trụ trì như vậy cũng đủ cho
chúng ta thấy được đạo phong của chùa Thừa Thiên Thiền Tự như thế nào.
Trong thời gian du học ở Đài Loan, tôi được quen Phật tử
Triệu Sâm Phát và vợ là Lữ Tá Trí. Hai vị là hộ pháp của chùa Thừa Thiên
Thiền Tự. Mọi giấy tờ nhà đất của chùa đều do vợ chồng Phật tử Triệu Sâm
Phát đứng ra giải quyết. Trong chùa mỗi khi có việc quan trọng điều gọi
và giao cho vợ chồng Phật tử đứng ra lo liệu. Khi Ngài Truyền Hối Sắp
viên tịch Ngài cho gọi hai vợ chồng Phật tử Triệu Sâm Phát thay Ngài
chuyển số tiền của Ngài cúng dường đến hội Từ Tế nên vợ chồng Phật tử
rất được chùa tin cẩn.
Trong một lần về Việt Nam nghỉ hè và lo trai đàn Chẩn tế ở
chùa Linh Ẩn, các chư Ni của Vĩnh Minh Tự Viện có thưa với tôi việc dịch
quyển (Quảng Công Hành Trạng) và muốn in nhưng không có kinh phí nhờ tôi
tìm cách giúp cho quý vị đạt thành sở nguyện tôi liền nghĩ ngay đến vợ
chồng Phật tự Triệu Sâm Phát và Lữ Tá Trí mà tôi quen, nên nói quý vị
viết liền cho tôi ít chữ để khi xong lễ sang lại Đài Loan tôi sẽ tìm
cách giúp quý vị.
Sau khi về lại Đài Loan tôi đã nhờ Phật tử Triệu Sâm Phát
đưa đến chùa Thừa Thiên Thiền Tự tổng cộng ba lần để đảnh lễ Thượng Tọa
Đạo Cầu cùng ban quản trị của chùa để xin phép cho quý cô được dịch và
in quyển sách trên ra Việt văn, Thượng Tọa Đạo Cầu rất hoan hỷ và xin
ban quản trị ủng hộ kinh phí một trăm năm mươi lăm ngàn Đài tệ để in
sách. Được phép và được tiền rồi tôi cùng thầy Phạm Phú Thành nỗ lực sửa
bản dịch (theo khả năng của chúng tôi) để không phụ lòng của Thượng Tọa
Đạo Cầu, ban quản trị của chùa cùng quý Phật tử Triệu Sâm Phát và Lữ Tá
Trí đã dốc lòng giúp đỡ.
Nay công việc in sách sắp đi vào giai đoạn cuối. Tôi kính
ghi đôi dòng nhân duyên này để tỏ lòng tri ân cùng chư Tôn đức, quý Phật
tử và cần cầu chư Tôn thức giả chỉ giáo nhiều cho lần tái bản sau.
Đà Lạt, ngày Vu Lan năm 2003
Thích Giải Hiền khể thủ
THƯ ỦY QUYỀN
Về việc: Dịch ra Việt văn và Ấn
tống sách “Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích”
-
Nay chấp nhận cho Đại Đức Thích
Giải Hiền cùng quý sư cô (tất cả 5 vị) được toàn quyền phiên dịch
“Quảng Công Thượng Nhân Sự Tích” (phụ khai thị lục hành trì ngữ lục)
do Thừa Thiên Thiền Tự ấn bản ra Việt văn.
-
Nay chấp nhận cho Đại Đức Thích
Giải hiền cùng quý sư cô (tất cả 5 vị) ấn tống 5.000 quyển “Quảng Công
Thượng Nhân Sự Tích” bằng Việt văn. Đồng thời hoan nghênh việc phiên
dịch ấn tống lưu truyền sách trên.
-
Kinh phí ấn tống 5.000 quyển bản
Việt văn là 30 Đài tệ/1 cuốn. Tổng cộng 150.000 Đài tệ (một trăm năm
mươi nghìn Đài tệ) do Thừa Thiên Thiền Tự cúng dường.
Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 91
Ngày 28 tháng 10 năm 2002
Bên được quỷ
quyền Bên lập thư ủy quyền
Việt Nam Minh Đức Tư
Thiện Phật Giáo Tài Đoàn Pháp Nhân
Sự Nghiệp Cơ Kim
Hội Thừa Thiên Thiền Tự Trụ Trì
THÍCH GIẢI
HIỀN THÍCH ĐẠO CẦU
(Đã
ký) (Đã ký và đóng dấu)
Biên tập thuyết minh
Vào năm 1997, khi chỉnh lý các bài ghi chép cũ, chúng tôi
tìm thấy một số bài ghi lại lời giảng của Ngài Quảng Khâm tại Pháp Hội
tháng 7 năm 1974. Cùng thời gian này, thấy xuất hiện một phần tư
liệu do một vị đệ tử của Ngài lưu giữ. Hai nhóm tư liệu được đem kết tập
thành cuốn “Quảng Khâm Thượng Nhân khai thị” (Những lời giảng dạy của
Ngài Quảng Khâm). Xét về thời gian thì phần tư liệu chúng tôi đọc thấy
sau lại có trước, nhưng lúc bấy giờ nhân duyên chưa hội đủ để có thể phổ
biến đến các vị độc giả. Nay xin theo thứ tự thời gian, đưa phần tư
liệu này lên phía trước của ấn bản đầu tiên, và sách trở thành “Bản có
bổ sung”.
Tập sách viết về cuộc đời của Ngài Quảng Khâm xuất bản
lần đầu tiên vào tháng 5 năm 1986 sau khi Ngài viên tịch ít lâu. Tập
sách này tập hợp những bài viết về Ngài được đăng tải trên các báo và
tạp chí, lúc đó ấn tống 5000 bản. Sau khi xuất bản phát hiện thấy nhiều
sai sót, nên khi tái bản đã cho đính chính và sửa chữa những sai sót ấy.
Sau lần xuất bản đầu tiên chưa đầy vài tháng, độc giả đã
nhanh chóng thỉnh hết; vì vậy vào tháng 9 năm đó sách lại được tái bản
5000 cuốn. Lần đầu và lần thứ hai xuất bản, sách đều gồm 32 bài viết;
lần thứ ba sửa còn 25 bài. Nội dung và văn chương của lần xuất bản đầu
và lần thứ hai hoàn toàn giống nhau; nhưng lần thứ hai, ngoài việc sửa
chữa một số sai sót của lần đầu, các bài viết còn được sắp xếp theo thứ
tự thời gian; đến lần xuất bản thứ ba mới thêm vào phần đối thoại giữa
Hòa Thượng Quảng Khâm và Hòa Thượng Tuyên Hóa, và thiên cuối sách nói về
“Những điều linh hiển”.
Về những hình ảnh tư liệu, có thêm ảnh chụp điện Tam
Thánh của chùa Thừa Thiên trước khi trùng tu và ảnh nhà kỷ niệm Ngài
Quảng Khâm. Lại có các ảnh cũ về đời sống sinh hoạt của Ngài, cùng một
số hình ảnh hai ngày trước khi Ngài viên tịch.
Tháng 2 năm 1992, sách lại thêm bài “Niệm Nam – Mô A –
Di-Đà- Phật, tức là Tổng tụng”.
Tập sách viết về hành trạng (tiểu sử) này đã được xuất
bản 3 lần, mỗi lần ấn tống 5000 cuốn, đều được độc già thỉnh hết.
Đến lần xuất bản thứ tư này, có người đề nghị nên có lời
giải thích về những điều sửa đổi của ba lần xuất bản trước cho độc giả
hiểu nhưng vì lúc đó công việc ở chùa quá bận rộn nên không kịp cải
chính. Do vậy mà nay chúng tôi đặc biệt xin có đôi lời thuyết minh giải
bày ở đây.
Ban biên tập cẩn chí
Lược thuật HÀNH TRẠNG HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM
Hòa thượng sinh ngày 26 tháng 10, năm Quang Tự thứ 18, cuối
đời Nhà Thanh. Ngài là con gia đình họ Hoàng ở huyện Huệ An, tỉnh Phúc
Kiến. Năm lên bốn tuổi, vì gia đình nghèo khó, anh của Ngài không có
tiền cưới vợ, cha mẹ đem Ngài bán cho một gia đình họ Lý ở ngoại thành
phía Nam thuộc huyện Tấn Giang để làm con nuôi,
Cha nuôi ngài tên Lý Thọ, mẹ nuôi tên Lâm Thái. Từ thuở nhỏ
Ngài yếu đuối và nhiều bệnh tật, nhưng huệ căn đầy đủ, theo mẹ tin Phật,
ăn chay.
Khi Ngài vừa lớn lên cha mẹ nuôi lần lượt qua đời để lại
ruộng vườn, bà con rắp tâm chiếm đoạt. Ngài cảm nhận sâu sắc cuộc đời là
vô thường khởi tâm xuất gia, đem ruộng đất chia cho bà con, rồi đến xin
vào tu trong chùa Thừa Thiên ở Tuyền Châu.
Vị trụ trì chùa Thừa Thiên là Hòa Thượng thượng
Chuyển hạ Trần bảo Ngài quy y tu khổ hạnh với Pháp sư thượng
Thụy hạ Phương. Pháp sư giao Ngài làm các công việc bên ngoài như: nhổ
cỏ, trồng rau… Sau đó, do nhân duyên đặc biệt Ngài có đến Nam Dương
(Inđônêxia) ở nhiều năm. Khi trở về chùa Thừa Thiên Ngài đã 36 tuổi, lúc
bấy giờ mới được Pháp sư thượng Thụy hạ Phương xuống tóc,
đặt Pháp danh là Chiếu Kính, tự là Quảng Khâm. Sau khi xuất gia, Ngài
chuyên tâm tu khổ hạnh, ăn những món mà người khó ăn, làm những việc
người khó làm, thường ngồi không nằm, nhất tâm niệm Phật. Năm 1933,
Ngài đến chùa Từ Thọ Thiền Tự ở Nang Sơn, huyện Bồ Điền yết kiến Hòa
thượng Diệu Nghĩa để cầu giới, lúc ấy Ngài đã 42 tuổi. Sau khi thọ giới
trở về, Ngài quyết chí tinh tấn ẩn tu. Được sự đồng ý của Hòa Thượng
thượng Chuyển hạ Trần. Ngài chỉ mang theo áo quần, vật dụng
đơn sơ và hơn 10 cân gạo (một cân = 600 gam) đến núi Thanh Nguyên phía
Bắc thành Tuyền Châu, tìm một động đá giữa sườn núi làm chỗ trú thân, ở
trong động tọa thiền niệm Phật. Khi lương thực mang theo cạn hết, Ngài
ăn củ rễ cây và trái rừng cho đỡ đói. Trong núi có nhiều cọp và khỉ, lâu
ngày người và thú sống với nhau không còn sợ sệt, lại có vượn khỉ dâng
trái cây, cọp dữ đến quy y. Từ đó mỹ hiệu “Phục hổ sư” (Thầy hàng phục
cọp) lan truyền khắp nơi.
Ngài thường nhập định có khi đến vài tháng không ăn, không
cử động, thậm chí hơi thở cũng không còn. Mọi người lầm tưởng Ngài đã
viên tịch, nhiều lần xin hòa thượng trù trì chuẩn bị hỏa táng Ngài.
Lúc bấy giờ Ngài Hoằng Nhất Đại Sư – một vị cao tăng Luật
tông - ở chùa Phổ Tuế huyện Vĩnh Xuân, nghe tin vội vàng đến chùa Thừa
Thiên, rồi cùng với Đại lão Hòa thượng thượng Chuyển hạ
Trần và vài người nữa lên núi xem xét, đến nơi mới biết Ngài còn ở trong
Định, mọi người vô cùng tán thán. Đại sư Hoằng Nhất búng ngón tay ba lần
thỉnh Ngài xuất định.
Ngày tháng trôi mau, thấm thoát đã 13 năm. Vào năm Ất Dậu
(1945), Ngài xuống núi trở về chùa Thừa Thiên; mùa thu năm sau Ngài đến
Nam Phổ Đà – Hạ Môn, vào ở trong động đá nơi núi phía sau để ngày đêm lễ
Phật. Năm Đinh Hợi (1947) Ngài 56 tuổi, ngảy rằm tháng sáu, Ngài từ Hạ
Môn lên tàu Anh vượt biển sang Đài Loan, trưa ngày 16 cập bến Cơ Long.
Lúc đầu Ngài ở tạm trong các chùa Cực Lạc. Linh Tuyền, Tối
Thắng, đầu tháng 7 dời sang động núi Chi Sơn ở Đài Bắc. Sau Trung Thu
Ngài lại đến tạm trú trong một ngôi nhà trống xây theo kiểu Nhật Bản nằm
giữa sườn núi bờ nam thuộc Điếu Kiều – Tân Điếm. Lúc bấy giờ Ngài cũng
thường lui tới chùa Pháp Hoa – Đài Bắc, nơi đây Ngài đã siêu độ hồn ma
người Nhật. Mùa xuân năm Mậu Tý (1948) Ngài khoét một động đá nơi vách
núi phía sau đường Tân Điếm và gọi nó là hàng núi Quảng Minh (chùa Quảng
Minh ngày nay). Đến năm Tân Mão (1951) Ngài tạc tượng Phật A-Di-Đà lớn
trên vách đá phía bên phải động, mở đầu cho phong cách tạc tượng Phật
trên đá, ở Đài Loan.
Tháng 11 cùng năm (1951), nghe nói có động cổ thiên nhiên
trên núi Thành Phước nằm giữa Thổ Thành và Tam Hiệp, Ngài liền dẫn bốn
đệ tử, bám dây rừng leo lên. Quả nhiên gặp một thạch động rất lớn, cao
hơn hai trượng, rộng vài trượng, sâu khoảng hai trượng. Ngài ở một mình
trong động ngay đêm ấy. Động quay về hướng đông, mặt trời mặt trăng khi
mới mọc đều chiếu ánh sáng vào động, do vậy Ngài đặt tên là động Nhật
Nguyệt. Trên đỉnh động có dòng suối, nước rất trong, uống vào thấy ngọc
ngào, tinh thần sảng khoái.
Từ đó Ngài trở lại cuộc sống ẩn cư.
Tháng 5 năm sau (1952), Ngài cất thêm ba gian nhà ván, bên
ngoài động thờ tượng Bồ-Tát Địa Tạng. Ngài ở đó được 3 năm, đồng thời
lại cất thêm một gian nhà tranh trên đỉnh động để độ đệ tử cùng tu.
Tháng 2 năm 1953, Ngài lại lên đỉnh núi cất một am tranh nhỏ trước một
tảng đá lớn để ở.
Tháng ba năm Ất Mùi (1955), Phật tử ở Bản Kiều mua vùng đất
núi Hỏa Sơn ở Thổ Thành huyện Đài Bắc cúng cho Ngài. Nay chính là chùa
Thừa Thiên núi Thanh Nguyên, Thành phố Thổ Thành, huyện Đài Bắc – Đài
Loan).
Vùng đất này, trước khi vốn là rừng tre ít người lui tới.
Ngài cùng đệ tử đốn tre làm giường, trải cỏ mịn lên trên để ngồi thiền.
Ngài nói với các đệ tử: “Thầy ngồi đây rất tốt, các con về được rồi”.
Đến giữa tháng 5 năm ấy, Ngài xây một gian nhà ngói để thờ Phật. Năm sau
Ngài trở về chùa Quảng Chiếu ở Tân Điếm.
Cuối năm 1958 (năm Mậu Tuất), Ngài trở về Hỏa Sơn, năm sau
(năm Kỷ Hợi) lại cất thêm vài gian nhà tranh. Đến tháng 4 năm 1960 (năm
Canh Tý) mới xây dựng Đại Hùng Bảo Điện để nhớ về Tổ đình (ở Trung Quốc)
Ngài đặt tên là Thừa Thiên Thiền Tự. Núi Hỏa Sơn thì gọi là núi Thanh
Nguyên. Năm 1962 Ngài xây dựng Điện Tam Thánh.
Năm 1963 (Năm Quý Mão), Ngài 72 tuổi, thể theo lời mời của
Phật tử, Ngài đến Thiên Tường – Hoa Liên ở vài tháng giúp xây chùa Tường
Đức (nay là tháp Thiên Phong, tức là am tranh mà Ngài ngồi thiền xưa
kia). Sau lại chấp nhận lời thỉnh cầu của những đệ tử ở miền trung thỉnh
Ngài đến Nam Liêu núi Long Tỉnh-Đài Trung sáng lập chùa Quảng Long. Năm
1964 (năm Giáp Thìn) Ngài trở về chùa Thừa Thiên ở Thổ Thành, cuối năm
đó Ngài dựng cổng chùa, sửa lều tranh lại thành phương trượng xây bằng
bê-tông, kế tiếp vào tháng 9 năm 1965 xây trai đường và nhà trù… Chùa
Thừa Thiên, bước đầu kể như được hoàn tất.
Ban đầu chùa Thừa Thiên làm bằng gạch ngói, nhưng xây cất
vội vàng cho xong, lâu ngày nền đất lún xuống, tường vách bị nứt nẻ, do
vậy mà vào mùa xuân năm 1976 bắt đầu xây cất lại. Đầu tiên liêu phòng
của chúng nữ trước điện Tam Thánh được xây lại thành lầu hai tầng bằng
bê-tông cốt sắt. Mùa thu năm sau, mở núi ban đất, tháo dỡ các công trình
xây dựng cũ: điện Tam Thánh, trai đường, nhà bếp, Đại Hùng Bảo Điện,
liêu phòng chúng nam và phương trượng. Mùa xuân năm 1978, trên nền Đại
Hùng Bảo Điện cũ xây điện Tam Thánh và liêu phòng hai tầng, rồi dựa theo
thế đất núi xây Tổ Đường; chỗ trai đường cũ cất lại trai đường hai tầng
và nhà bếp. Năm 1979 bắt đầu kiến tiết Đại Điện mới. Năm 1983, đặt móng
Lầu Đại Bi bên triền núi phải, hiện nay cấu trúc Lầu Đại Bi sắp hoàn
thành. Năm 1969 Ngài lại xây dựng chùa động Quảng Thừa ở bên phải phía
sau nhà hành chánh thị trấn Thổ Thành.
Năm 1978, tại nơi đây xây tháp Hoa Tạng, kế đến là Đại Hùng
Bảo Điện, hai dãy thiền phòng, tầng hầm dưới mặt đất, tàng kinh các,
điện La Hán, giảng đường, thiền phòng trên và dưới lầu lần lượt được
hoàn thành. Sau lại lợp lại Điện Địa Tạng hoàn thành mới như ngày nay.
Công trình thi công kiến trúc chùa động Quảng Thừa do Pháp sư Truyền Bân
chủ trì.
Tháng 9 năm 1982, Ngài phái người đệ tử từng theo Ngài trên
dưới 10 năm là pháp sư Truyền Văn đến thôn Bảo Lai, hương Lục Quy huyện
Cao Hùng xây dựng chùa Diệu Thông. Đến nay Đại Hùng Bảo Điện, Ngũ Quán
đường, Niệm Phật đường, liêu phòng chúng nữ đều đã cất xong. “Linh
sơn bảo tháp” sau này thờ linh cốt Ngài cũng đang bắt đầu thi công.
Tháng 7 năm 1984 Ngài đến chùa này, sang tháng 10 năm 1985 mở Đại Giới
Đàn, giới từ khắp nơi quy tụ về rất đông, trên mấy ngàn người; đồng thời
Ngài mở Pháp Hội “Thủy Lục” phổ độ chúng sanh, trang nghiêm chưa
từng thấy.
Ngài có nếp sống mộc mạc, bình dị, khiêm cung hòa ái, tuy đã
gần trăm tuổi mà đi không dùng gậy, không cần người dìu đỡ, thân thể nhẹ
nhàng rắn chắc. Ngài thường ngồi mà không nằm, có khi ngồi thoài thất,
giữa trời hoặc dưới mái hiên. Từ năm 78 tuổi Ngài đổi dùng thức ăn lỏng.
Cuối năm 1985, Ngài lấy lý do, trông coi công việc xây lầu
Đại Bi chùa Thừa Thiên nên ngài muốn trở về Đài Bắc. Ngày 25 tháng 12 âm
lịch, pháp sư Truyền Hối xuống miền Nam. Ngày 26 thỉnh Ngài về chùa Thừa
Thiên. Các phật tử miền Bắc nghe tin, từng đoàn đến thăm viếng Ngài.
Sáng sớm mồng một Tết, Ngài triệu tập các đệ tử có trọng
trách ở các phân viện cùng đại chúng chùa Thừa Thiên đến để dặn dò cẩn
thận, đồng thời nói về việc hỏa táng sau khi Ngài viên tịch: linh cốt sẽ
chia làm ba phần, để tại các chùa Thừa Thiên, chùa Diệu Thông và chùa
Quảng Thừa. Cơm sáng xong, Ngài tỏ ý muốn trở về chùa Diệu Thông, đại
chúng thấy ý Ngài đã quyết không dám giữ lại, liền đó đưa Ngài về miền
Nam.
Về đến chùa Diệu Thông, Ngài niệm Phật liên tục cả đêm lẫn
ngày, có khi tự gõ mõ và dạy đệ tử cùng niệm. Đến ngày mùng 5, mắt Ngài
trong sáng, định tĩnh an tường, không có vẻ gì khác lạ. Khoảng hai giờ
chiều, bất chợt Ngài nói với đại chúng: “không đến cũng không đi,
chẳng có việc gì”. Ngài quay sang các đệ tử, gật đầu mỉm cười rồi an
tọa nhắm mắt. Một lát sau mọi người thấy Ngài bất động, đến xem kỹ mới
hay Ngài đã an lành viên tịch trong tiếng niệm Phật của đại chúng.
Cả một đời Ngài ẩn tu khổ hạnh, an bần lạc đạo, ý chí kiên
cường, tâm hồn chất phác, trí tuệ khai thông, cuối cùng Ngài đã giác ngộ
hoàn toàn. Khi đến Đài Loan, Ngài rộng độ cả hai cõi âm dương, cầm thú
quy phục, an vui với thiền, không dùng thức ăn nấu chín. Trải qua nửa
đời người, Ngài là bậc mô phạm thể hiện công đức tu hành, thực hành đúng
khuôn mẫu của những bậc tu khổ hạnh đầu đà, thật đáng tán tụng
như các bậc Cổ Đức. Tiếc rằng chúng sanh phước mỏng nghiệp dày, chưa
được hưởng những lời dạy dỗ của Ngài mà Ngài đã ra đi. Biết bao nhiêu
người đốt hương khấn nguyện cầu mong Ngài không xả ly bi nguyện, trở lại
lèo lái thuyền từ, rộng độ quần mê, đưa chúng sanh sang bờ giải thoát,
đồng thành tựu Chánh Giác.
Quảng Khâm Lão Hòa Thượng Viên Tịch Tán Tụng Uỷ Viên Hội
(Ban tang lễ, lễ tang Đại Lão Hòa Thượng thượng Quảng hạ
Khâm)
Trung Hoa Dân Quốc năm 75, ngày 28 tháng 2
Hòa Thượng trụ tại chùa Thừa Thiên Thiền Tự từ tháng ba năm
1955 đến tháng bảy năm 1984 thì về ở tại chùa Diệu Thông tổng cộng hơn
30 năm. Mùa xuân năm 1984 chùa Diệu Thông bắt đầu được xây dựng, sau khi
dự Pháp Hội Đại Bi tháng 2 âm lịch xong, Ngài liền về chùa Diệu Thông,
trước khi đi Ngài cho biết cứ mỗi tháng vào dịp Pháp Hội Đại Bi Ngài sẽ
trở về. Như thế là mỗi tháng Ngài đều chấn tích giữa hai miền Bắc Nam
Đài Bắc và Cao Hùng. Đến kỳ Pháp Hội Đại Bi tháng năm, khi Ngài trở về
gặp lúc miền Bắc Đài Loan bị nạn lụt “Ngày 03 tháng 6” rất lớn đường lên
chùa Thừa Thiên ngập nước đến hông, xe cộ không lưu thông được, tin
chúng tham gia Pháp hội Đại Bi chỉ có sáu bảy người; từ đó về sau Pháp
Hội Đại Bi chùa Thừa Thiên Ngài không về dự nữa. Tháng bảy âm lịch năm
ấy, chùa Thừa Thiên lần đầu tổ chức Pháp hội Địa Tạng, Ngài lại trở về
núi Thanh Nguyên, nhưng chưa kịp đợi đến ngày Pháp Hội hoàn mãn thì vào
trung tuần tháng ấy Ngài lại phải trở về chùa Diệu Thông. Cho mãi đến
tháng 10, nhân dịp Sinh nhật 93 tuổi của Ngài, Ngài lại trở về chùa Thừa
Thiên dự Lễ Chúc Thọ, trong tuần Phật thất chúc thọ Ngài tuyên bố với
chúng đệ tử rằng năm tới địa điểm tổ chức truyền giới dời về chùa Diệu
Thông.
(Phụ lục của ban biên tập)
NHỮNG LỜI KHAI THỊ CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM
Ngày 6 tháng 2 năm 1973, khi đến viếng chùa Đại Tiên, chúng
tôi ghi lại cuộc pháp đàm giữa Hòa thượng Quảng Khâm [lời in chữ
nghiêng] và Hòa thượng Khai Sâm.
Hoà thượng Khai Sâm:
“Thiện sanh thọ hạ văn thủy âm
Cổ kim thắng cảnh hiện mục tiền
Đắc ý vong ưu vô giá bảo
Bốn trân phi Phật diệt phi Tâm”
Tạm dịch ý:
“Lành thay sống chốn lâm tuyền,
Suối reo thông gọi cõi thiền là đây.
Cổ kim thắng cảnh nơi này,
Hiện ra trước mắt vẻ đầy thiên nhiên.
Bảo vật vô giá hiện tiền,
Thỏa lòng vứt bỏ ưu phiền nơi đây.
Bảo vật vốn chẳng phơi bày,
Chẳng tâm chẳng Phật, vật này vốn không”.
Hòa thượng Quảng Khâm:
- Không cần tiền mới có tiền.
- Làm người không nhiễm trần.
- Ăn, mặc, ở phải buông bỏ mới thoát ly sanh tử.
- Ý khởi là sanh tử,
Tha hương gặp cố nhân.
Đa tạ Pháp sư lời vàng tiếng ngọc.
-
Hoan hỷ khổ hạnh.
-
Hoan hỷ lạc hạnh. Mặc cho nó đi, mặc tình nó đến….
Thân tâm đều xuất gia, thân xuất gia tâm không xuất gia, thân
không xuất gia tâm xuất gia.
Ngồi trên đá nói Pháp
Hòa thượng Khai Sâm:
-
Cây nào vỏ cũng màu xanh,
Đơm bông kết trái hai cái phân biệt rõ.
Ba bước thiền Sư có thể độ Sư.
Minh tâm kiến tánh, không sát sanh tức thái bình.
Tu lợi, tu lợi; tu không cầu lợi mới thoát sanh tử.
Cơm nhạt trong bụng no, mọi việc đều tùy duyên.
Sư Tâm Giác hỏi:
-
Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn “phi huyễn… diệc phi…”.
Sư phụ đáp:
-
Sáu căn phân biệt, liền có sanh tử, phàm cái gì có
tiếp xúc sáu căn thì có sanh diệt, trở thành đời ác ngũ trược.
-
Phân biệt tức là giặc, đúng hay không?
-
Đúng hay không đúng cũng là phân biệt.
-
“Lấy giặc đánh giặc”, trong Chỉ nguyệt lục có ghi
công án:
Một vị tăng hỏi Triệu Châu “con chó có Phật tánh chăng?”
-
Có hay không cũng không đúng, vì khởi vô minh. Nếu
không vô minh thì hai người đều đúng, cũng đều không đúng.
-
Buổi sáng Triệu Châu đáp KHÔNG để phá chấp CÓ
của tăng, buổi chiều Triệu Châu đáp CÓ để phá chấp KHÔNG
của tăng.
Pháp sư Sâm Nghĩa, người quốc tịch Úc hỏi:
-
Sư phụ từ đâu đến?
Sư phụ đáp:
-
Từ không chỗ trụ mà đến.
Pháp sư nghe, lấy làm thú vị nói rằng:
“Ấy là ngôn ngữ của bậc hiền tánh”.
Sư phụ hỏi:
-
Hôm nay ông đến đây, vậy ông đến hay là ai đến?
-
Con đến.
-
Vậy lại có một cái “ta” đến, cũng chưa đúng.
Có một tướng tới lui thì có sanh diệt, đều là huyễn hóa. Bản tánh
không đến không đi không sanh không diệt, không mình không
người. Nói không cần suy nghĩ, chuẩn bị; khi có người hỏi thì lập
tức trả lời, thế mới là không có đến có đi. Chúng ta nói chuyện
phải qua suy nghĩ, vậy là có đến có đi, Phật Pháp không thể nghĩ
bàn, không thể dùng miệng mà nói được,
Pháp sư nói:
-
Xin sư phụ chỉ dạy cho con phương pháp tu hành.
Sư phụ:
-
Thọ giới là thọ nhẫn nhục, tai nghe người khác mắng
ông, kích bác ông, mà ông không quan tâm đến những điều đó thì gọi là
giới.
-
Tu hành rất khó, giữ được hạnh nhẫn nhục lại còn khó
hơn; như nhẫn một tuần, hai tuần, một tháng cho đến một năm, ba năm thì
dễ. Nhưng nhẫn cả đời thì không phải là việc giản đơn.
-
Vô minh của người xuất gia như lửa, vô minh của người
tại gia như khói.
Có vị pháp sư nói:
-
Căn phòng đóng kín của tôi rất nhỏ, không khí không được
tốt.
-
Nếu đóng kín tâm thì thân này tạm dùng được, còn như
đóng kín thân thì điều đó thường xảy ra.
Pháp sư:
-
Ban-chu tam-muội là một trong bốn loại tam muội mà
Đại Sư
Trí Giả gọi là Trường hành tam-muội, pháp môn Sư
phụ đang hành trì là Trường tọa tam-muội.
Sư phụ nói:
-
Tôi không biết tôi đang làm gì, nếu ông không nói thì
tôi cũng không biết. Vậy đừng nói tôi đang làm gì.
Năm 1974 – Có một nữ cư sĩ hỏi rằng:
-
Con học Phật pháp ba năm sao không hiểu gì hết, chỉ biết
niệm Nam-mô A-Di-Đà Phật. Có người nói Phật, Ma chỉ khác nhau một chút,
không biết hiểu như thế nào mới đúng.
Sư phụ đáp:
-
Phật, Ma đều do chúng ta vọng tưởng mà có, chánh niệm
tức là Phật, tà niệm tức là Ma.
-
Con học Phật chỉ mới ba năm, không biết gì cả, chỉ biết
niệm.
Phật, phần lớn thời gian đều ở trên núi, chỉ có 2-3 tháng là ở
nhà; con ở trên núi niệm Phật, có một thứ linh cảm, ấy là nếu nhà con
xảy ra việc gì con đều biết ngay.
-
Như vậy là con không có chánh niệm, tưởng nhớ đến
việc nhà nên niệm Phật không chuyên nhất, có tạp niệm thì không có chánh
niệm. Con vừa nói muốn học Phật, mà học Phật thì tư tưởng của thế gian
phải vứt bỏ.
Sư phụ dạy:
*** Lịch sử và văn hóa Trung Quốc có giáo dục lễ,
nghĩa; có Phật pháp Đại thừa và Tiểu thừa, nhưng mà người không có
lễ nghĩa thì học Phật tương đối khó. Từ xưa Trung Quốc đã có lễ,
nghĩa, trung, hiếu. Thuận với đạo lý mà làm, thì xã hội ổn định,
quốc thái dân an. Thế giới ngày nay muôn màu muôn vẻ, muốn có được thân
người không phải dễ. Nếu không biết lễ, nghĩa, trung, hiếu thì dù có làm
bác sĩ, cũng khó cứu được người. Bác sĩ chỉ học về sắc tướng; những gì
có sanh có diệt thường chỉ gây nguy hại chứ không cứu được người; mắt
cho thấy có sanh ắt có diệt. Các bậc thánh hiền ngày xưa có lễnghĩa,
tuân theo quy cũ, làm cho thế giới thái bình, mới có thể cứu được người.
*** Vô minh của chúng ta giống như đám mây, có lúc che
ánh sáng mặt trời. Phàm mọi sự muốn đạt được đến chỗ rốt ráo, thì bắt
đầu là phải dứt vô mình; không dấy lên ngọn lửa vô minh, không sanh
phiền não, không đố kỵ người. Nếu như có tâm đố kỵ thì sẽ đọa vào ba
đường ác, kiếp sau không biết có được trở lại làm người hay không? Cho
nên mới nói: “Thân người khó có, Phật pháp khó được nghe, chánh pháp khó
gặp”.
*** Trong tâm chứa đầy đủ tất cả, cần dùng liền có, không
dùng thì không có, ấy gọi là “không tức là sắc, sắc tức là không”.
*** Ăn thịt chúng sanh tức là ăn thịt chính mình, giết
người tức là tự giết mình. Nói điều phải trái của người tức là nói điều
phải trái của mình; nói người khác xấu tức là chính mình xấu.
Việc của người xuất gia chúng ta, không nên nói cho người
tại gia nghe. Mỗi đạo tràng đều có một vị La Hán. Ta phê bình người
khác, chẳng phải là động đến các vị La Hán đó sao?
Mặc ai có đúc tượng Phật cao bao nhiêu, hay làm hàng vạn
tượng Phật đi nữa, các vị chỉ nên lo niệm Phật, tu khổ hạnh, ăn mặc đạm
bạc thô sơ thì tự nhiên có người đến cúng dường, so với người xây đắp
tượng Phật, công đức vẫn hơn.
*** Phải khổ hạnh mới đạt đến trí tuệ và Phật báo, phước
báo.
Phước báo là khi người nhìn mình, họ liền phát sinh lòng
vui mừng, tâm cung kính. Phước báo là được người cúng dường, nhưng mình
phải quý phước, không nên xa xỉ. Mặc dầu có phước báo nhưng cần phải
chừng mực, tốt hơn nên đem phước ấy ban bố cho người khác, không nên ôm
giữ riêng cho mình.
*** Tự mình tinh tấn mà không hay biết, cần thuận theo tự
nhiên không nên chấp trước – chấp rằng phải ra sức dụng công.
*** Phật pháp không lìa thế gian pháp, tức là muốn cứu độ
người cần phải đề cập đến những liên hệ nhân quả trong xã hội; phải tiếp
xúc với xã hội. Còn thế gian cũng không lìa Phật pháp, nghĩa là mọi sự
mọi việc trong xã hội phải dựa vào Phật pháp mới có thể đề cao cái thiện
và tiêu trừ cái ác.
Có người hỏi Sư phụ:
-
Vì sao con không muốn ngủ nhiều mà chẳng có cách gì để
đối trị.
Sư phụ đáp:
-
Vì con người có vô số tham dục, chẳng hạn miệng thích
ăn, ăn no thì ưa ngủ. Mũi thích ngửi mùi thơm, mà hương thơm thì làm cho
tâm tán loạn. Tai ưa nghe nên sinh ưa thích, ưa thích mà phải xa lìa thì
khổ. Mắt ưa nhìn thì tâm động, tâm động thì bị “nhập tâm”.
Có người ngoại đạo phát biểu:
-
Tôi muốn tu cho đến ống mãi không già.
Sư phụ nói:
-
Thân xác tôi không có chỗ gởi vào, nhưng tâm linh
tôi thì có nơi để đến. Ngày nào đó, tâm linh sẽ lìa cái thân giả tạm
này.
Tôi đã chuẩn bị cho cái thân, thì tâm linh tôi có chỗ để
đến.
Ấy là: thân xác trở về tứ đại, tâm linh đến Tây Phương.
Ngoại đạo nói:
-
Tâm linh của tôi ở trong vạn vật vũ trụ.
-
Tâm linh mà gởi trong vạn vật vũ trụ thig thật là
nguy, vì phải thay hình đổi dạng và luân chuyển trong bốn loài chúng
sinh. Mắt cho thấy, có sanh phải có diệt, vạn vật trong vũ trụ đều bị
hủy hoại. Dù cho thân thể này tồn tại hai ngàn năm đi nữa, cũng giống
như tảng đá kia, vẫn bị hủy hoại mà thôi.
Ngày 14-01-1974
Sư phụ nói:
-
Độ chúng sanh không chỉ dùng lời nói, mà phải tu đạt
đến chỗ vô hình trung cảm hóa được người, chứ không phải “lấy
cái gì đó” để hoằng pháp.
Pháp sư Độ Luân:
-
Đúng vậy, dùng pháp vô vi, không dạy bằng lời. Hiện nay
tôi muốn làm việc gì thì tôi cũng có thể làm được, thí dụ: tôi muốn chỗ
tôi đang ở là thành phố SanFrancisco không bị động đất, thì không bị
động đất, không phải là đất không động, mà do tôi khiến cho đất không
động. Trước khi tôi ở Hồng Kông, có trạn cuồng phong sắp thổi đến, tôi
làm cho nó thổi ở ngoài khơi, cách 20 dặm Anh. Khi tôi còn là sa-di có
quỉ, thần, rồng, hồ ly đến quy y. Bây giờ tôi có một số đệ tử người Mỹ,
dù cho tôi đánh họ, mắng họ, họ cũng không bỏ tôi mà đi.
-
Tu hành phải tu tới chỗ nói được thì làm được, nói
như thế nào thì phải làm như thế ấy. Còn phần tôi, tôi không nói là tôi
đang làm gì cả, người ta thấy tôi hoặc nghe tôi nói một vài câu, họ cảm
thông; sau khi tôi đến Đài Loan, Đài Loan cũng tương đối được an ổn.
-
Đó là đức hạnh của Hòa thượng cảm hóa được mọi người,
nhưng điều ấy tôi chưa nói với ai, vì gặp được tri kỷ nên mới thổ lộ.
Tôi đến nước Mỹ, là do Lục Tổ Đại Sư bảo tôi đến, pháp tự của tôi là Độ
Luân, pháp danh là An Từ, Hòa thượng Hư Vân đặt tên tôi là Tuyên Hóa.
-
Khi tôi ở Cổ Sơn cũng đã từng gặp Hòa thượng Hư Vân.
Tôi là người tu khổ hạnh, một chữ cũng không biết, không biết thuyết
pháp, không biết gì cả.
-
Hòa thượng quá khách khí, xưa nay vốn gọi đó là vô sở
đắc, tu hành không phải dựa trên văn tự mà phải có đức hạnh mới độ chúng
được. Lục Tổ Đại Sư một chữ cũng không biết, công phu mà tôi có được là
nhờ rì chú Lăng Nghiêm và chú Đại Bi, lúc gặp việc gì nguy cấp phải dùng
đến, không cần phải niệm từ đầu tới cuối, chỉ niệm một vài câu hoặc một
chữ trong đó cũng có thể cảm ứng, tùy theo tình huống mà dùng câu cần
thiết.
-
Tôi chỉ niệm Phật khi gặp việc gì chỉ cần niệm một
câu A-Di-Đà Phật là được.
-
Tôi vốn ưa giúp người, nhưng vì giúp người mà bị nhiều
sự hủy báng. Mặc dù vậy, lòng lợi tha của tôi cũng không thối chuyển,
nếu đem đầu tôi chặt đi, tôi cũng vui vẻ bằng lòng. Ai chửi mắng tôi,
tôi cũng xem đó như lời ca tiếng hát; ai đánh tôi cũng như đánh vào
vách, vì tôi muốn hàng phục thiên ma, ngoại đạo.
-
Ngài chính là Bồ Tát.
-
Ngài là đại A La Hán, chúng ta
sớm đã biết nhau, mấy chục năm không gặp, bây giờ lại được trùng phùng.
Tuy nói như vậy nhưng thật ra chúng ta đã gặp nhau mấy lần rồi.
-
Ngài vừa đến, tôi đã
biết trước Ngài là ai; tâm Bồ Tát định gặp tức là gặp.
-
Phàm có tướng đều là hư vọng.
Nếu thấy các tướng là phi tướng tức là thấy Như Lai.
-
Ấy vẫn còn là sắc
tướng, dù sao tướng vô hình có được cũng do tu luyện từ tướng
hữu hình mà ra.
-
Mượn giả để tu chơn.
-
Những gì mắt thấy được
thì vẫn còn sanh diệt, những gì mà tai nghe được cũng
như vậy.
-
Thỉnh Hòa thượng trụ thế lâu
hơn, trong chỗ vô hình Ngài hộ trì cho tôi hoằng pháp.
-
Lần này tôi muốn rời
cõi Ta-bà, không ngờ bị tín chúng giữ lại.
-
Đến – không từ đâu mà đến; đi –
không từđâu mà đi.
-
Tôi muốn đến thì đến,
muốn đi thì đi, - đến đi tự tại.
-
Pháp sư cười nói:
-
Ngài không đi, bởi vì tôi chưa đến; bây giờ tôi đến rồi
thì Ngài lại càng không được đi. Ngài phải trụ thế lâu hơn để cho thế
giới hòa bình. Chúng ta mỗi người ở mỗi nơi, làm việc riêng của mình.
Xin Hòa thượng đem tinh thần giúp tôi hoằng pháp lợi sanh, hàng phục
thiên ma, thuyết phục ngoại đạo.
-
Còn như bây giờ chúng ta đang nói đến chuyện hoằng
pháp; không thể mang cái gì ra để hoằng pháp, mà phải tu đạt đến chỗ cảm
hóa người một cách vô hình. Đến như kẻ xấu trông thấy cũng khởi lòng
tin, không cần dùng lời nói.
-
Đúng vậy, đúng vậy! Hồi tôi ở Mỹ, nhiều người giàu có
đến chùa tôi cũng không tiếp chuyện, nhưng họ vẫn khởi tâm kính ngưỡng
ấy gọi là: “động” cũng đại chuyển pháp luân, “tĩnh” cũng
đại chuyển pháp luân; độtĩnh không hai, tĩnh-động là một.
Sư phụ cười, Pháp sư Độ Luân cũng cười, Pháp sư ngửa bàn tay
đưa cho sư phụ xem, sư phụ cũng ngửa bàn tay đưa cho Pháp sư xem. Hai
người cùng mỉm cười hiểu ý nhau.
Sư phụ nói:
-
Tôi không định nói điều gì cả, nhưng vì Ngài nói nên tôi
mới nói, không cần phải nói nhiều lời.
-
Tôi không nói gì cả.
Pháp sư Tạng Độ thấy sư phụ ngồi từ sáng đến chiều, tỏ ý:
-
Hòa thượng ngồi lâu quá rồi!
-
Chính Ngài mới ngồi lâu đấy chứ.
Ngày 3 và 4 tháng 7-1974
Sư phụ bắt đầu giảng dạy. Lúc ấy không có người ghi chép,
bây giờ chúng tôi hồi ức lại lời sư phụ dạy, xin lược ghi ra đây:
“Cư sĩ đến chùa cúng dường tài vật là để tạo phước điền,
phải nên bố thí không hình tướng thì công đức mới lớn, nghĩa là không
thấy người bố tí, vật bố thí và người được bố thí.
Cư sĩ đến chùa tụng kinh bái sám phải thành tâm, phải
buông xả. Không nên thân ở Chùa mà tâm lại lo nghĩ đến con cái ở nhà,
con cái tự có phước báo của chúng, nên không cần quan tâm đến mà phải
chuyên tâm học Phật. Nếu như còn để tâm lo nghĩ đến con cái và việc nhà,
tức là người si mê.
Cư sĩ đem phẩm vật đến cúng dường chư Phật, vật ấy trở
thành vật của Tam Bảo, không còn là vật của mình.
Giả sử trử con dẫn đến chùa đòi ăn trái
cây cùng Phật hoặc đã cúng rồi, không thể tự tiện lấy cho. Vì phẩm vật
ấy đã trở thành vật của Tam Bảo, không thuộc về mình. Muốn cho chúng thì
phải có sự đồng ý của người xuất gia trong chùa.
Cư sỹ đến chùa tụng kinh bái sám, tham gia Pháp hội, phải
sống hòa đồng, không nên chê thức ăn ngon dở, vì ở chùa không giống như
ở nhà. Ở nhà có thức ăn ngon, còn đến chùa thì phải ăn thức ăn đơn sơ,
đạm bạc mới đúng. Cư sỹ đến chùa phải giúp đỡ công việc trong chùa,
không nên nhàn rỗi vô sự, không nên nói chuyện đông chuyện tây, bàn luận
thị phi.
Người xuất gia ở trong chùa, đối với người tại gia đến
chùa lễ bái, không được cùng họ bàn chuyện thế tục, cần phải hướng dẫn
họ học Phật như thế nào. Vì mục đích của cư sỹ đến chùa là để xin nhờ
người xuất gia giảng dạy Phật pháp, theo người xuất gia để học cách đốt
hương lễ Phật, niệm Phật. Mục đích của người xuất gia là liễu sanh thoát
tử mà muốn liễu sanh thoát tử thì cần phải nỗ lực tu hành, nếu không khổ
hạnh thì không thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, chắc chắn đời sau sẽ
rơi vào sáu nẻo luân hồi. Trong 4 loài noãn, thai, thấp, hóa, người là
thai sanh có linh giác trong vạn vật, rất thông minh, cho nên con người
tu học Phật pháp tương đối dễ dàng. Còn các động vật khác thì rất ngu
si, không thích ứng được với sự học Phật pháp.
Người xuất gia phải nên biết rằng, được làm thân người
không phải là dễ, phải biết nắm lấy cơ hội được làm thân người để nỗ lực
tu hành, mong cầu giải thoát. Nếu không thì tu chưa thành đạo lại sẽ
phải tái sanh trong bốn loài, cũng chẳng biết sẽ sanh vào loài nào.
Giả như kiếp sau sanh vào loài chim (noãn
sanh) loài cá (thấp sanh), lòai sâu bọ (hóa sanh), trí tuệ của chúng
thấp kém hoặc không có trí tuệ, các loài ấy muốn tu học Phật pháp rất
khó.
Ngày 8-7-1974 – Sư phụ kể lại cuộc đời
của Ngài.
Khi tôi lên 5, 6 tuổi cùng mẹ đến chùa lễ Phật, có vị
pháp sư bảo: “Gieo thiện căn cho con”. Lúc 25, 26 tuổi tôi đến chùa Thừa
Thiene. Chẳng bao lâu cha mẹ qua đời, tôi bèn đi Nam Dương, vẫn ăn chay
như cũ. Trong khoảng thời gian ấy tôi cảm nhận sâu sắc về cuộc đời,
không có gì đáng để mơ ước, đời người cũng chẳng có ý nghĩa gì. Cha mẹ
có để lại tài sản, ruộng đâts; nếu như tôi cũng sống cày cấy như cha mẹ
cho đến già, cuối cùng cũng đi đến cái chết mà thôi, vĩnh viễn trong
vòng luân hồi sanh tử, do đó mà tôi mong thoát khỏi sanh tử. Ba mươi sáu
tuổi tôi từ Nam Dương trở về chùa Thừa Thiên, chánh thức xuất gia. Tôi
đảnh lễ Pháp sư Thụy Phương xin làm đệ tử, xuống tóc cho tôi. Lúc bấy
giờ ai cũng chỉ nghĩ đến nghề ruộng vườn. Tôi không được học, không biết
chữ. Trước tiên tôi học làm vườn, bửa củi, nấu ăn, làm những việc không
ai muốn làm. Trong thời gian ấy tôi vẫn niệm Phật, ngồi thiền. Đến 42
tuổi tôi mới được thọ giới. Sau khi thọ giới xong, tôi trở về chùa Thừa
Thiên ở ba năm, dốc lòng tu tập, chuẩn bị vào núi sâu để tu khổ hạnh.
Khi vào núi, tôi chỉ mang theo một ít gạo, kim chỉ, áo quần và những
dụng cụ cần thiết.
Nơi đây tôi tìm được một động đá. Động ấy có hai cửa, tôi
ngăn lại một cửa. Trong động rất kín đáo và mát mẻ, lại có một tảng đá
bằng phẳng có thể ngồi thiền rất thoải mái. Vào lúc mặt trời lặn bỗng
nhiên có một con hổ tiến vào động, nó đưa mông vào trước. Tôi giật mình
niệm liên tiếp “A-Di- Đà Phật…” Hổ cũng hoảng hốt bỏ chạy, một lúc sau
nó trở lại, tôi nói với nó: “Này hổ, con không thể nhường động này cho
ta tu hành được sao, hay là con muốn ăn thịt ta?” Tôi thấy con hổ không
tỏ ý dữ, nên liền quy y cho nó, ấy gọi là “tâm động tâm”. Tôi không có
ác ý, nó cũng không có ác ý. Vậy là ngày hôm sau nó dẫn vài con hổ đến,
chúng nhảy qua nhảy lại ở trước cửa động, tỏ vẻ rấ vui thích, cảnh tượng
ấy rất đẹp. Đó là nhờ ăn chay tu hành mới được vậy. Chốn thiên nhiên u
tịch, ngoài tiếng chim kêu vượn hú ra, không có tiếng ồn ào của thế giới
bên ngoài, thật là thanh tịnh.
Dù trước kia ở chùa Thừa Thiên tôi đã tập quen ăn, mặc, ở
thật đơn giản, nhưng chỉ sau vài tháng số gạo mang theo cạn hết. Lúc đó
tôi mới bắt đầu dụng công ngồi thiền, lần đầu chỉ được một tuần thì cảm
thấy đói. Tôi ra khỏi động tìm thức ăn, nhìn thấy bầy khỉ ăn trái cây.
Tôi nghĩ, khỉ ăn được thì người cũng có thể ăn được. Thế là tôi lượm vài
trái khỉ ăn còn lại để ăn. Sau khi ăn xong, cảm thấy dễ chịu, định lượm
một ít đem về ăn, bầy khỉ thấy vậy ra sức rung cây khiến cho trái rụng
xuống, tôi lấy đem về. Số trái cây ấy chỉ ăn đủ vài ngày, tôi lại tiếp
tục dụng công thiền định. Khoảng một tháng sau lại cảm thấy đói. Lần này
ra ngoài tìm thức ăn, kiếm được một đám khoai rừng ước chừng một-hai
mươi cân, tôi lấy cành cây đào lên một ít để ăn rồi lấy đất lấp lại, về
động dụng công hành thiền tiếp. Xưa nay việc tu hành chỉ là mượn giả tu
chơn, ăn ít, tạm đỡ đói là đủ. Đám khoai rừng ấy lại ra củ non, đủ ăn
trong vòng 3, 4 năm.
Ở trong động khô ráo sạch sẽ nên áo quần ít khi giặt. Có
lúc tôi cũng vá lại nó. Nhưng ngày qua tháng lại, áo quần vẫn phải rách.
Đến khi ba cái chỉ còn một mà lại quá rách nát, tôi liền
an ủi tấm thân giả tạm này: “Sau sẽ may cái tốt hơn cho ngươi mặc”. Về
sau tôi nghĩ, ở lâu trên núi làm bạn với cầm thú chẳng qua chỉ tự độ mà
thôi. Đức Phật dạy rằng: “Trước tự độ mình, sau cần phải độ chúng sanh”.
Dù ở trên núi một ngàn năm cũng chỉ là tự độ, muốn độ chúng sanh ắt phải
xuống núi. Thế rồi tôi trở về chùa Thừa Thiên. Khi xuống núi râu tóc mọc
dài, giống như người rừng chẳng khác. Người trong chùa đều không nhận ra
tôi, buộc tôi phải nói là ai, ở chùa nào, thầy tôi là ai. Họ bèn đem y
phục cho tôi mặc, cho tôi uống một ít nước cháo trắng. Tuy tôi không
muốn uống nhưng không nỡ phụ lòng tốt của mọi người. Sau khi uống vào ít
cháo tôi cảm thấy đầu óc không còn sáng suốt minh mẫn như trước.
Khi tôi còn ở trên núi, các tiều phu gọi tôi là “thầy
phục hổ”. Tôi trở về chùa Thừa Thiên được 5, 6 năm, có cư sĩ Lâm Giác
Phi muốn bái tôi làm thầy. Tôi bảo: “Anh nên tìm vị khác làm thầy, tôi
không biết chữ”. Nhưng sau khi anh ta đi thăm dò khắp nơi, cuối cùng vẫn
xin bái tôi làm thầy. Tôi đồng ý. Anh ta xin tôi bảo hộ để được bình an
trót lọt trên đường đi ra Đài Loan. Đến Đài Loan, anh viết thư thỉnh tôi
qua đó hoằng pháp. Tôi nghĩ mình không biết chữ làm sao hoằng pháp.
Huống nữa, hồi tôi ở chùa Thừa Thiên đi mua rau không biết làm toán nên
lộn mất cả tiền, nói gì đến việc qua Đài Loan hoằng pháp. Anh ta biết
việc ăn mặc của tôi rất đơn giản, không gì đáng lo, liền gởi tiền cho
tôi làm lộ phí. Sau khi tôi đến Nam Phổ Đà – HẠ MÔN, nhận được thư và
1000 đồng Đài Loan từ chùa Thừa Thiên chuyển đến. Đúng dịp ấy có pháp sư
Phổ Quán (trụ trì Đại Phật Viện Cơ Long) vốn từ Đài Loan đến Lục Địa,
cũng muốn trở về Đài Loan, nói với tôi: “Thầy chưa quen biết Đài Loan.
Tôi có người chị ở Tiên Động, tôi sẽ đưa Thầy đến đó”. Tôi và vị pháp sư
ấy cùng đến Tiên Động – CƠ LONG ở vài tháng. Sau đó, Lâm Giác Phi đón
tôi đến chỗ ở của anh ta. Lúc bấy giờ cũng có nhiều vị pháp sư mời tôi
đến ở, tôi đều nhẹ nhàng từ chối, vì tôi thích ở trên núi cất am tranh
để tự tu.
Độ chúng sanh không phải đơn giản, cần phải có Phật duyên
và Phật báo, tự mình có công phu tu hành, phước huệ đầy đủ thì tự nhiên
Hộ pháp Vi Đà gia hộ. Nếu không như vậy, dù muốn độ người, người cũng
không để cho mình độ.
Ngày nay tôi độ được nhiều người cũng là nhờ Hộ pháp Vi
Đà gia hộ. Muốn độ người cần phải có tâm khoan dung độ lượng, ai hỏi bất
cứ điều gì tôi cũng đều nhẫn nại trả lời, không hề khó chịu, mọi người
thấy tôi vui vẻ; còn phần tôi, tôi không hiểu làm sao độ được chúng, lập
được đạo tràng. Tuy tôi không biết giảng kinh, nhưng có chút ít công phu
tu hành có thể tỏ bày, chỉ ngay cho họ con đường đến Tây phương”.
Sư phụ bảo đại chúng cùng niệm Phật
Nam mô A-Di-Đà Phật
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Ngày 9-7-1974
Vào tháng 7, Sư phụ tổ chức pháp hội Địa Tạng trong vòng một
tháng, cứ mỗi chiều Ngài giảng một giờ, thầy Truyền Hỷ dịch sang tiếng
phổ thông, thầy Truyền Văn dịch lại sang tiếng Đài Loan. Đệ tử xuất gia
của Sư phụ gồm có các thầy Truyền An, Truyền Phụng, Truyền Hối, Truyền
Tổng, Truyền Tịnh, Truyền Đăng. Truyền Hải. Truyền Ngạn, Truyền Duyên,
Truyền Thực, Truyền Âm, Truyền Đà, Truyền Tu, Truyền Nghĩa, Truyền
Thông.
Mỗi chiều sau khi Sư phụ giảng xong, hướng dẫn chúng niệm
Phật, lễ Phật. Hôm trước Sư phụ ói về nhân duyên xuất gia và việc tu
hành ở chùa Thừa Thiên và ở núi Thanh Nguyên, còn hôm nay thì Sư phụ kể
lại những việc ở Đài Loan.
“Tôi ở
chùa Thừa Thiên, định đến Nam Phổ Đà thì có điềm báo trước, một con chim
(chim bạch lộ-ty) đến trước mặt tôi kêu: “Lão hoà thượng” (tiếng kêu của
nó nghe giống như vậy). Tôi ngờ rằng nó kêu Thầy tôi là Ngài Chuyển
Trần, vì lúc ấy Ngài Chuyển Trần là hoà thượng trụ trì, không ngờ nó lại
kêu tôi.
Có người không
dám làm hoà thượng, vì làm hoà thượng không phải dễ, không thể tuỳ tiện
gọi ai cũng là hoà thượng. Nếu làm hoà thượng thì phải trụ trì, xây dựng
đạo tràng, độ người; vả lại cách hành đạo có chỗ khác với pháp sư. Sở dĩ
tôi rời chùa Thừa Thiên đến Nam Phổ Đà là do cư sĩ Lâm Giác Phi viết thư
mời tôi đến Đài Loan để hoằng pháp độ sanh. Tôi nghĩ rằng đã có người
thỉnh thì tôi cũng tuỳ duyên đến Đài Loan xem sao. Thế là tôi đi thuyền
đến Hạ Môn lo giấy tờ xuất cảnh.
Ph Tôi không giống như những pháp sư khác đi theo bộ đội
mà đến. Sau khi tới Đài Loan, tôi ở Tiên Động 4-5 tháng rồi lại đi Đài
Bắc. Ban đầu tôi ở động núi Chi Sơn được mấy tháng, sau đó đến chùa Long
Sơn, nhưng vì khí hậu nơi đây quá nóng chỉ ở được vài ngày, bèn đến Thuỷ
Liêm Đình – TÂN ĐIểM; ở được một hai ngày có một “thái cô” (cô ăn rau
chay) mời tôi đến chùa Pháp Hoa. Chùa này vốn là của người Nhật, sau khi
người Nhật rút về nước còn nhiều hồn ma Nhật ở đấy. Ban đầu tôi không
biết, nh lúc cùng đến đó với cư sĩ Cao Minh Thụ, đêm nghe âm khí lạnh
buốt. Có nhiều bóng ma mặc đồ Nhật, tóc chải, mang đồ đạc trên lưng hiện
ra. Mọi người không ai dám ngủ lại, lần lượt lén bỏ đi, chỉ còn lại một
mình tôi. Tôi giảng pháp cho các hồn ma, đồng thời phát hiện thấy nhiều
xương người dầm trong chum nước để dưới đất. Tôi vớt ra từng cái đem
phơi khô, sau đó bọc kỹ lại, niệm Phật siêu độ cho họ, thế là mọi sự
bình an trở lại. Hiện nay ở chùa Pháp Hoa vào ngày 17 mỗi tháng có tổ
chức tụng kinh cầu siêu, thông lệ này bắt đầu từ đó. Các “thái cô” chùa
Pháp Hoa chỉ biết ăn chay, không hiểu Phật pháp, cũng không biết coi
trọng pháp sư. Sau khi tôi làm cho ngôi chùa ấy được bình an trở lại họ
vẫn không biết cung kính pháp sư và ứng xử như người thế tục, có người
còn nói rằng thỉnh tôi đến đây chưa chắc đã mời tôi ra khỏi được. Mà tôi
thì không thích ở chùa người, bèn giả từ họ.
Từ chùa Pháp Vũ đến núi Đại Đồn có chùa Đại Từ, nơi đây
có vài ngôi nhà Nhật Bản, có mấy “thái cô” ở, họ đều để tóc, có gia đình
và con cái. Có “thái cô” tên A Thụy mời tôi đến. Tôi cùng cư sĩ Cao Minh
Thụ đến xem qua thì thấy giống như chùa áPhỏp Hoa. Thế là lại tiếp tục
lên đường đi đến Thuỷ Liêm Đình nằm bên kia Điếu Kiều – Tân Điếm, gần
Tân Xã.
Nếu muốn xây dựng
đạo tràng tôi có thể mua một ngọn núi ở Thủy Liêm đình, nhưng tôi nghĩ
người xuất gia không cần làm như thế, ở đâu cũng xong, sống qua ngày là
được. Về sau, từ Thuỷ Liêm Đình nhìn ra tôi thấy một ngọn núi giống như
đầu sư tử, trên núi này có một tảng đá lớn, tôi liền nghĩ có thể đục đá
thành động để ở, vì người xuất gia không nên ở nhà thế tục (chỉ Thuỷ
Liêm Đình). Do đó tôi mới rời Thuỷ Liêm Đình cùng cư sĩ Cao Minh Thụ lên
núi đục đá làm động, thiên hạ ở đây cũng đến giúp đỡ. Thế là tôi có được
một động đá để an trú. Dần dần có một số người đến quy y.
ở Tân
Điếm, nhiều người không có tinh thần hộ Pháp nhưng lại tổ chức Hội hộ
pháp, lợi dụng người xuất gia để thu tiền hương đèn. Người Đài Loan lúc
bấy giờ không có chánh tín, không hiểu Phật pháp, giống như những người
thờ thần miếu vậy. Tôi ở động Quảng Minh độ chúng. Lúc đầu cứ nghĩ Hội
hộ pháp là nhằm để ủng hộ Phật pháp, sau đó thấy nhiều người hăm hở đến
quy y... Tín đồ đến, tôi nấu cơm đạm bạc cho họ ăn, nghĩ rằng mình chỉ
cần hoá độ chúng sanh, nếu hoá độ tốt thì đạo tràng nào mà chẳng thành.
Nhưng mọi người không hiểu, họ bảo không nên cho tín chúng ăn, làm như
vậy là phí của, nhà chùa mất đi thu nhập. Tôi chỉ chú trọng độ chúng,
không chú trọng đến tiền bạc và không xem trọng hình thức bên ngoài,
nghĩ rằng ở Đại Lục người tại gia phải cất nhà cho người xuất gia ở, làm
gì có người tại gia lợi dụng người xuất gia. Tôi chỉ muốn độ sinh chứ
không muốn mình giống như ông thần miếu. Do đó bèn xây dựng chùa Quảng
Chiếu phía trên động Quảng Minh và tạc một pho tượng Phật A-Di-Đà cao 1
trượng 8. Có người nói với tôi: "Ngài vào ở chùa Quảng Chiếu, để động
Quảng Minh cho chúng tôi quản lý". Tôi bảo: "Các ông muốn quản lý động
Quảng Minh tuỳ các ông, chúng tôi là người xuất gia không thể để các ông
quản lý được". Vì thế tôi vẫn ở trong chùa Quảng Chiếu. Tôi nghĩ bụng,
sau khi tượng đức A-Di-Đà chùa Quảng Chiếu hoàn thành dân chúng ở Tân
Điếm sẽ được bình an; nơi đây ắt sẽ được phát đạt và tương lai có thể
trở thành khu du lãm.
Về sau
chùa Quảng Chiếu cũng có người muốn lấy, tôi mới cùng với sư Truyền ý và
Trịnh Thuỷ Thanh đi đến động Nhật Nguyệt. Trong động có một cái ao - nơi
đây heo rừng thường đến tắm, trong động có cây cối, trên đỉnh động có
nước nhỏ giọt, tôi nhận thấy nơi này thật tốt. Lúc đầu động Nhật Nguyệt
không có lối đi, cỏ giây mọc đầy, tôi phải lần theo dây mây bám dọc theo
vách đá mà leo lên. Đến nơi thấy chẳng có gì để ăn, mọi người bảo tôi:
"Sư phụ không thể ở đây được". Tôi nói: "Các vị về đi". Sư Truyền ý nói
muốn ở lại cùng tôi. Trước kia ở Đại Lục tôi đã có nhiều công phu tập
luyện, dụng công ngồi thiền. Nhờ công phu thiền định nên không sợ lạnh,
vả lại lúc ấy tôi còn trẻ, thân thể khoẻ mạnh, nên một mình tôi ở nơi
này cũng không sao. Còn sư Truyền ý thì ngủ nằm, sợ lạnh, phải xuống núi
lấy chăn bông, khi trở lên trời tối không tìm ra đường nên rán hết sức
kêu tôi, tôi gọi to trả lời, sư mới nương theo tiếng lần lên tới động
được, sau đó động được sắp xếp lại tốt hơn. Dần dần một số tín đồ ở Tân
Điếm tìm tôi không thấy, nghe tin tôi đến chốn này, họ cũng theo lên,
rồi có nhiều kẻ ở lại, nam nữ cộng khoảng mười người.
Động
Nhật Nguyệt là tên do tôi đặt. Tôi thấy lần này không phải như khi ở núi
bên Đại Lục; trước mắt, việc độ chúng không được thuận lợi, nhất là đối
với người già cả, nên đã kiếm xem một mảnh đất nào đó tương đối thấp để
mua, và kiến lập chùa Thừa Thiên. Núi này lúc đầu giá rất rẻ, mua chỉ
một ngàn đồng. Tín đồ lúc ấy đều là dân ở Bản Kiều, họ kiến nghị tôi mua
khoảnh đất này, và tự họ bỏ tiền ra mua. Nơi nay vốn có tên là "trúc tử
lâm", rất âm u, không có lối đi, rắn rết rất nhiều, nếu là người không
bản lãnh thì không dám đến. Dân địa phương muốn chặt tre, ít nhất cũng
phải 5, 6 người cùng đi. Sau khi mua đất này xong, tôi liền dùng vật
liệu tại chỗ và nhờ người xung quanh giúp chặt tre, dựng một lều tranh.
Sư phụ bảo
đại chúng cùng niệm Phật
Nam mô
A-Di- Đà Phật
Nam-mô
Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam-mô
Địa Tạng Vương Bồ Tát
Ngày
10-7-1974
"Phàm
là người thế gian đều phải chịu cái khổ sanh, lão, bệnh, tử. Chúng ta
phải biết mình từ đâu sanh ra, chết đi về đâu. Con cái càng đối xử tốt
với ta, ta càng khó xa lìa chúng. Vì quyến luyến thế gian nên không biết
thoát ly khổ hải, vẫn ở mãi trong vòng luân hồi. ấy là do nghiệp chướng
quá nặng, mà nghiệp chướng là phiền não, là vướng vít, như vướng vít con
cái trong gia đình. Mỗi người bị vướng vít khác nhau, nhưng đều vì thế
mà quên mất con đường sanh tử của chính mình, thậm chí khi sắp chết,
cũng chẳng quan tâm sẽ đi về đâu.
Trẻ con
mà đã biết kính Phật đó là nhờ thiện căn từ kiếp trước.
Cho nên
nói rằng chúng sanh tuỳ nghiệp chuyển; chúng sinh nghiệp chướng không
giống nhau, không chuyển được nghiệp thì phải luân hồi, chịu phiền não
vô tận. Người già biết sám hối niệm Phật thì khỏi thác sanh vào bốn
loài; bằng không, ắt sẽ có chỗ của mình trong đó.
Có
người hỏi Ngài rằng "Định nghiệp không thể chuyển?", Ngài nói: "Nếu hiểu
đạo, tin Phật, sám hối niệm Phật thì định nghiệp có thể chuyển được".
Nghiệp cảm của mỗi người không giống nhau; không giác ngộ thì ở cõi
Ta-bà mà cho là chốn Cực lạc. Như dòi bọ trong nhà xí, như người ăn thịt
đi mua gà vịt ở chợ rất lấy làm sung sướng; khi hiểu ra rồi, mới biết đó
là tội lỗi. Người ăn chay nhìn thấy người ăn mặn mắc tội, mới cảm thấy
ăn chay là hạnh phúc. Người đang hưởng phước thế gian tự cho mình đang ở
thế giới cực lạc, mà chẳng biết hưởng phước như vậy có vĩnh viễn không?
Khi phước hưởng đã hết thì khổ não và phiền não sẽ đến. Cho nên chúng ta
đã quy y Tam Bảo, phải thường xuyên niệm Phật, không bận bịu vì con
cháu, không vướng vít với người khác, phải vứt bỏ tất cả. Rất ít người
được hưởng phước mãn đời, có kẻ hưởng phước bao nhiêu thì lại chịu khổ
bấy nhiêu. ở nhà phải tinh tấn lễ Phật niệm Phật, ít nói chuyện phù
phiếm, ngõ hầu thoát khỏi biển khổ.
Con
người ai cũng mang nghiệp chướng, mà đời người thì ngắn ngủi; còn nghiệp
chướng là còn sinh tử luân hồi. Ngay trong bốn loài, thân người cũng khó
được; người phiền não thác sinh vào bốn loài, các loài đều có khổ não
riêng, như gà có khổ não của gà... Chỉ có niệm Phật thì mới dứt đường
sanh tử.
Chúng
sanh tuỳ nghiệp mà lưu chuyển, có kẻ đầu thai làm trâu, heo, gà,
bướm.... Chúng ta muốn thoát khỏi luân hồi phải nhất tâm niệm Phật. Nếu
không như vậy thì tuỳ theo nghiệp mà lăn lộn mãi trong sáu đường. Có
người vì mắt phàm không thấy, chẳng tin ở luân hồi; song chúng ta có thể
nhìn thấy điều đó trong cuộc sống, những súc vật như heo, bò do nghiệp
gì mà đầu thai? Chúng sanh do nghiệp chuyển, muốn nhờ Phật lực chuyển
không phải dễ; mong giải thoát quả thực rất khó khăn. Tập khí, cá tính
mỗi người khác nhau, nhưng nói chung thân thể ta cũng giống như một địa
ngục mà tâm linh vào lưu trú.
Người
tại gia khó mà hiểu được sự tu hành của người xuất gia. Cùng là người cả
nhưng chúng ta không thể nói "người tại gia giống như người xuất gia".
Người xuất gia biết được căn cơ của người tại gia, có thể hướng dẫn họ
về với Đạo mà không đòi hỏi tiền của. Nếu mưu cầu tiền của thì rơi vào
tham ái; phải cảm hoá tín chúng tại gia một cách vô hình. Hai chữ giải
thoát không đơn giản; độ chúng sanh cần phải tuỳ duyên, cần lòng từ bi;
không thể đem phương pháp độ người xuất gia mà độ người tại gia. Mong
rằng các vị sau này tu hành như chúng tôi, khi có đủ đức hạnh, nói một
câu cũng có thể độ được người. Mặc vào chiếc áo của người xuất gia đâu
phải là việc giản đơn.
Lại
nữa, thế nào là người tội lỗi lại cần được độ? Bồ Tát Địa Tạng phát đại
nguyện thế nào, tại sao các vị không làm giống như Ngài? Chẳng qua là
việc ấy rất khó. Lời nguyện lớn của Ngài là "Địa ngục còn một chúng
sanh, ta thề không thành Phật", nếu tâm chúng ta đều phát ra thệ nguyện
lớn như Ngài thì địa ngục có thể không còn chúng sanh.
Trong
cõi ngũ trược và trong bốn loài, chúng sinh ăn thịt lẫn nhau, Bồ Tát Địa
Tạng muốn chúng ta ăn chay là để chấm dứt cái vòng luân hồi sinh tử. Nếu
con nói sai, xin Bồ Tát Địa Tạng tha thứ, con xin sám hối với Ngài".
Sư phụ bảo
đại chúng cùng niệm Phật
Nam-mô
A-Di-Đà Phật
Nam-mô
Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam-mô
Địa Tạng Vương Bồ Tát
Ngày
12-7-1974.
"Trong
xã hội, làm việc gì cũng cần phải giữ chữ tín, không tham lam, tận tâm
tận lực, phải thành thực; làm nhân viên giúp việc có hết lòng thì "cấp
trên" mới trọng dụng. Người phật tử cũng phải như thế, đối với chư Phật
phải thành tâm kính ngưỡng thì chư Phật mới gia hộ. Làm ăn lớn, hoặc làm
ăn với người nước ngoài lại cần phải giữ chữ tín mới được tin cậy, được
đề bạt và bồi dưỡng, sự nghiệp mới dần dần lớn ra, và tiền đồ sẽ xán
lạn. Học bác sỹ không chỉ cốt lo cho bản thân, mình phải chịu khó mới
thành tài, rồi có tận tuỵ vất vả người ta mới tín nhiệm, tương lai mới
sáng sủa. Cho nên, người nào chịu khổ cực được thì con đường tương lai
sẽ rộng mở.
Quay
nhìn lại, người xuất gia tu hành cũng như thế. Chư Phật, Bồ Tát đều dụng
công khổ hạnh, không cần phải chọn một nhân tài nào đó, cũng không nhất
định phải học trong Phật học viện nào mới thành tựu được. Phật và Bồ Tát
đều tu từ khổ hạnh, thể nghiệm, tôi luyện mà thành.
Người
tin theo đạo Phật hay người xuất gia thường bị thử thách, đả kích, kích
thích; có bị thử thách như thế mới có thể tu hành đến giác ngộ được. Mỗi
người xuất gia đều có nhân duyên riêng, nhưng không nên cho rằng "vì bị
kích thích mà đi tu là đỡ". Trái lại, bị kích thích mà xuất gia thì đạo
tâm càng kiên cố, bất luận người xuất gia hay người tại gia đều cần phải
có chí khí. Người có bị khích động mới nâng cao ý chí tu hành, hay hành
sự.
Người
đi tu hiện nay ít chịu cực khổ, không biết rằng đi tu cần phải trăm ngàn
cay đắng để liễu sanh thoát tử. Họ cũng không biết vì sao đi tu và tu
như thế nào? Tu sỹ phải chịu kham khổ, làm những việc khó làm, nhẫn
những điệu khó nhẫn. Tu sỹ hiện nay không hiểu như vậy nên sợ khổ, sợ bó
buộc, rồi tự đi cất chùa riêng, kết quả là không lo liệu gì được cho đại
chúng. Thực ra, tự mình còn không biết tự độ làm sao mà độ người? Do đó
người xuất gia chịu khổ để tu, chứ chẳng phải xuất gia để hưởng thụ.
Người
tu mà không bàn luận về Phật pháp, chỉ bàn luận về chuyện thế tục, ấy
đâu phải bổn phận của người xuất gia? Đem việc gia đình thế tục áp dụng
trong chùa, tập khí chưa dứt làm sao nói đến việc tu đạo? Người xuất gia
phải tu khổ hạnh, tu giới, định, tuệ. Có một số người mới thọ giới xong,
liền tự cho mình là pháp sư. Thọ giới là phải tự mình giữ giới luật, trì
giới mới phát định phát tuệ; giới, định, tuệ không phải chuyện dễ dàng,
phải nương theo Kinh, Luật, Luận để thực hành. Giới, định, tuệ là: đối
với bốn loài chúng sinh không làm tổn thương, phải từ bi, phải nhẫn
nhục, phải chịu cực khổ.
Có
người đi thọ giới về mang theo lòng tham dục, tính chuyện hưởng thụ ăn
ngon, mặc đẹp, ở chỗ tiện nghi; không chịu dũng mãnh tinh tấn. Người thế
tục làm ăn muốn cho người ta tin còn phải chịu khó khăn vất vả, phải thủ
tín; tu sỹ lại không được người ta tin tưởng lý do là vì tham ăn, mặc, ở
chẳng giữ giới chẳng tu trì, thì làm sao người ta tin theo? Chúng ta
phải giữ giới, phải chịu khổ cần lao thì tín đồ mới tin tưởng và kính
trọng chúng ta.
Có một
số tu sỹ kiếm sống như người thế tục. Người tại gia biết tụng kinh (hộ
niệm), người xuất gia cũng tranh đi tụng kinh (hộ niệm) với họ, giống
như cạnh tranh nhau làm ăn, hiện tượng này không tốt, chẳng khác gì "tôi
độ họ, họ độ tôi". Sau khi thọ giới phải gia tăng giữ giới, nỗ lực hành
trì. Trì giới, được Giới Thần gia hộ các vị, mới mong thoát khỏi biển
khổ. Nếu như sau khi thọ giới về lại tranh đi hộ niệm với người tại gia
thì làm sao có thể độ người được? Có trì giới, có định - tuệ đầy đủ thì
Vi Đà Bồ Tát sẽ gia hộ các vị. Một lời nói ra quỷ thần nghe được cũng
thoát khổ, như thế mới gọi là tự độ, độ tha.
Người
xuất gia không nên vui mừng được ăn, mặc, ở đầy đủ. Nếu ham hưởng thụ
thì dễ sanh ra giãi đãi. Người xuất gia phải nỗ lực tu hành, xem mình có
thể liễu sanh thoát tử được không? Thọ giới là nương vào giới-định-huệ.
Xem khả năng tu hành của mình đến đâu thì an nhiên tự tại, đến nơi nào
cũng độ được người, tới đâu cũng được người cung kính.
Người
thế tục tu danh tu lợi, còn ở trong thế giới ta - bà là vẫn còn luân
hồi, khi chết đi thần thức đầu thai trở lại. Còn xuất gia là để thoát ly
sanh tử. Người xuất gia lấy giới làm thầy, lấy giới làm thầy là tu đến
chỗ người thấy mình như là thấy Phật, khởi tâm hoan hỷ kính ngưỡng.
Người xuất gia cần phải có nguyện lực, không nên luyến tiếc thân thể vì
thân thể này không trường tồn vĩnh cửu.
Xét
người là xem xét lỗi người để sửa lỗi mình, không nên vì bị chỉ trích mà
cho người chỉ trích là xấu, họ là thiện tri thức của chúng ta, dù phải
hy sinh ta cũng phải độ họ. Phải tu đến chỗ bất sanh bất diệt, hiển lộ
chơn tánh.
Tôi
không biết chữ, cũng không theo phương pháp giảng dạy nào, nay nghĩ gì
thì nói nấy, nếu có nói sai xin lượng thứ cho".
Sư phụ bảo
đại chúng cùng niệm Phật.
Nam-mô
A-Di-Đà Phật
Nam-mô
Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam-mô
Địa Tạng Vương Bồ Tát
Ngày
13-7-1974.
"Hôm
trước tôi nói về tuỳ duyên mà chuyển, ví như niệm Phật thì được Phật
chuyển, còn tạo nghiệp thì bị nghiệp chuyển.