X. CHÁNH THÍCH KINH VĂN
(phần giải thích kinh văn)
Người đầu tiên đề xướng khái niệm phân chia kinh
văn thành ba phần: Tự, Chánh Tông, Lưu Thông là Ngài Thích Ðạo An
(313-385). Ðương thời, Ngài bị các bậc học giả đả kích quyết liệt. Họ công
kích Ngài là tự thị thông minh, thiện tiện phân chia kinh văn khiến thánh
giáo bị rối loạn.
Mãi đến đời Ðường, khi bản Phật Tâm Ðịa Luận của
Thân Quang Bồ Tát được truyền vào Tàu, trong luận ghi rõ: “Phàm là kinh
Phật, chẳng luận Ðại Thừa, Tiểu Thừa, đều có đủ ba phần”, các học giả
đương thời mới mô phỏng theo cách Ngài Ðạo An đề xướng để giải thích kinh
điển.
Tự phần trình bày duyên do phát khởi bản kinh,
Chánh Tông là phần xiển minh yếu chỉ của kinh, Lưu Thông là phần tường
thuật danh đề, sự lưu truyền của kinh.
Từ “như thị ngã văn” cho đến “kim hiện tại
thuyết pháp” là Tự Phần.
Từ “Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?”
cho đến “nguyện sanh bỉ quốc” là phần Chánh Tông.
Từ “Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả tán thán A Di
Ðà Phật” cho đến “tác lễ nhi khứ” là phần Lưu Thông.
A. TỰ PHẦN
Gồm hai phần: Thông tự (chứng tín tự) và Biệt
Tự.
1. THÔNG TỰ:
1.1. Lục chủng thành tựu:
Gọi là Thông vì kinh nào cũng gồm đủ sáu điều.
Sáu điều như thế nhằm xác chứng bản kinh này đích xác từ kim khẩu của Ðức
Phật thuyết ra, nên còn gọi là Lục Chủng Thành Tựu (sáu điều thành tựu):
Tín Thành Tựu, Văn Thành Tựu, Thời Thành Tựu, Chủ Thành Tựu, Xứ Thành Tựu
và Chúng Thành Tựu.
Biển cả Phật pháp do tín tâm mà được vào; nên
nếu không có tín tâm thì làm sao pháp hội thành tựu được? Vì vậy, Lục
Chủng Thành Tựu lấy Tín làm đầu.
Trong các căn, nhĩ căn của chúng sanh tại cõi Sa
Bà này lanh lợi nhất, nên để hóa độ chúng sanh, Ðức Phật phải thuyết pháp.
Nếu không có kẻ nghe, pháp hội cũng chẳng thể thành tựu được, nên phải có
Văn Thành Tựu.
Ðã thuyết pháp thì phải có thời gian thuận tiện,
gặp lúc thời tiết khắc nghiệt hay khi đang ly loạn, pháp hội cũng chẳng
thể thành tựu. Vì thế phải có Thời Thành Tựu.
Nếu không có người đứng đầu thuyết pháp thì dù
có đủ cả năm nhân duyên kia, pháp hội vẫn không thể thành tựu được. Vì
thế, phải có Chủ Thành Tựu.
Nếu không có nơi chốn để thuyết pháp thì pháp
hội cũng chẳng thể thành tựu. Vì thế phải có Xứ Thành Tựu.
Giảng kinh, thuyết pháp để cho đại chúng nghe.
Nếu không có đại chúng nghe pháp thì giảng pháp cho ai. Vì thế phải có
Chúng Thành Tựu.
1.2. Tiền ngũ chủng thành tựu
(năm thứ thành tựu đầu)
Chánh kinh:
Như thị ngã văn: Nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc,
Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên.
Giải:
Câu kinh này không phải là lời Ðức Phật nói mà
là do người kết tập kinh thêm vào.
“Như thị” là Tín Thành Tựu, “ngã văn” là Văn
Thành Tựu.
1.2.1 Như thị:
Chữ “như thị” ngụ ý việc gì đúng đắn, đáng tin
tưởng được. Việc gì đáng tin thì gọi là Như Thị, chẳng đáng tin gọi là Bất
Như Thị.
Chẳng khác là Như, chẳng sai là Thị. Nghĩa là
sau khi Ðức Phật diệt độ, khi kết tập kinh điển, Phật dạy sao, Ngài A Nan
cứ trùng tuyên đúng như thế, chẳng sai khác mảy may. Ðó là Như. Lời Phật
dạy sao, Ngài lập lại không thiếu sót mảy may nên gọi là Thị.
Hơn nữa, khi kết tập Kinh Tạng, đại chúng cung
thỉnh: “Tôn giả nghe như thế nào xin hãy nói đúng như thế ấy”; Ngài
A Nan đáp: “Tôi sẽ nói đúng như thế, đúng như tôi đã được nghe”. Vì
thế đầu kinh dùng chữ Như Thị để tiêu biểu ý tín thuận.
Chữ Như Thị còn có thể hiểu theo hai nghĩa Thông
và Biệt như sau:
a. Về Thông nghĩa, chữ Như Thị chỉ về Thật
Tướng. Xét về Lý, Thật Tướng xưa nay chẳng biến đổi là Như. Xét về Thể,
Thật Tướng lìa hết thảy hư vọng, hý luận. Ðó là Thị.
b. Nếu ước theo Biệt nghĩa, mỗi kinh lại hàm
nghĩa Như Thị khác nhau. Trong kinh này Nhất Tâm Bất Loạn là Như, Quyết
Ðịnh Vãng Sanh là Thị.
Hơn nữa, tâm chẳng khác Phật, Phật chẳng khác
tâm nên gọi là Như. Tâm này chính là Phật, Phật ấy chính là tâm này nên
gọi là Thị. Tâm và Phật tuy có tên gọi sai khác nhưng đồng nhất thể, duy
tâm Tịnh Ðộ, tự tánh Di Ðà nên gọi là Như Thị.
Nếu ước theo chúng sanh niệm Phật thì đạt được
nhất tâm bất loạn là Như, lâm chung quyết định vãng sanh Cực Lạc là Thị.
Nếu ước theo cảnh giới Cực Lạc thì cõi Cực Lạc
chẳng có bốn tướng biến đổi “thành, trụ, hoại, không” nên là Như; cảnh
giới Cực Lạc thù thắng trang nghiêm, chân thật chẳng hư huyễn nên gọi là
Thị.
Hơn nữa, xét theo chánh báo, chúng sanh cõi Cực
Lạc liên hoa hóa thân, thọ mạng vô lượng, chẳng giống với huyễn thân của
chúng sanh cõi Sa Bà có sanh tử; cho nên gọi là Như. Hoa nở gặp Phật,
chứng ngộ tự tánh nên gọi là Thị.
Nếu ước theo đức Di Ðà Như Lai mà nói thì bốn
mươi tám nguyện độ khắp chúng sanh, trải bao nhiêu kiếp tu hành đúng như
thệ nguyện, trước sau trọn chẳng đổi dời nên gọi là Như. Nay đã thành tựu,
thỏa mãn sở nguyện, tạo thành cõi Cực Lạc để độ khắp chúng sanh niệm Phật,
từ khi thành Phật đến nay đã là mười kiếp, thật chẳng phải là chuyện hư
vọng nên gọi là Thị.
Hơn nữa, y báo, chánh báo cõi Cực Lạc đều là
chơn thường bất biến nên gọi là Như, những sự thù thắng trang nghiêm trong
cõi Cực Lạc, không điều gì chẳng phải do công đức nguyện lực chẳng thể
nghĩ bàn của Phật A Di Ðà tạo thành và do tâm niệm của chúng sanh niệm
Phật trong mười phương chiêu cảm nên gọi là Thị.
Hơn nữa, pháp môn Niệm Phật thù thắng bậc nhất,
không có pháp nào hơn được nổi nên gọi là Như. Tuân lời Phật dạy, niệm
Phật cầu sanh, quyết định không sai nên gọi là Thị.
1.2.2. “Ngã văn”
“Ngã văn” là Văn Thành Tựu, ngụ ý: pháp như thế
ấy, đích thân A Nan tôi được nghe đức Phật nói.
Phàm những lời Ðức Phật đã giảng, Ngài A Nan đều
lãnh hội, chẳng quên một câu nào, nên Ðức Phật từng tán thán: “Phật
pháp như biển cả dốc trọn vào trong tâm của A Nan”.
Chữ Ngã ở đây là Ngài A Nan tự xưng, thuận theo
thế tục mà nói. Nếu có kẻ bắt bẻ: “Phật pháp coi Ngã Chấp là căn bịnh chấp
trước lớn và là căn bản của mọi sự ác. Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả sao còn
chấp ngã tướng như vậy?” Xin trả lời: Ngã có nhiều thứ bất đồng:
- Vọng ngã: Phàm phu trong tam giới, đối với sắc
thân tứ đại chẳng phải là Ngã mà vọng chấp là Ngã.
- Thần ngã: ngoại đạo tà kiến vọng chấp năm ấm
là Thần Ngã.
- Giả ngã: Nhị Thừa hiểu rõ Ngũ Ấm chẳng phải là
Ngã, nhưng giả nói có Ngã.
- Chân ngã: chư Phật, Bồ Tát thân chứng Pháp
Thân, gọi là Chân Ngã.
- Tự tại ngã: Từ quả khởi dụng, hoằng pháp lợi
sanh, gọi là Tự Tại Ngã.
Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả, đã đoạn sạch phiền
não trong tam giới, đã trừ khử được ngã chấp lầm lạc của phàm phu, không
còn dính mắc nơi tà kiến chấp ngã của ngoại đạo, nên chỉ giả xưng Ngã
giống như các hàng Bồ Tát. Kinh Pháp Hoa chép: “Ta cùng A Nan ở chỗ
Phật Không Vương đồng thời phát Bồ Ðề tâm”, cho thấy Ngài A Nan chỉ
quyền hiện làm bậc Tiểu Thừa, chứ công hạnh của Ngài thật cao thâm khôn
lường. Trong kinh này, Ngài thuận theo thế tục giả xưng là Ngã. Ðấy là
phương tiện quyền biến độ sanh của bậc Pháp Thân đại sĩ đó thôi.
Hơn nữa, Ngài A Nan xưng Ngã, chẳng nói là Vô
Ngã là vì các nguyên nhân sau:
- Vì dễ nói: Nếu nói là Vô Ngã thì trong ba thứ
Uẩn, Xứ, Giới, thứ nào là đối tượng lãnh thọ kinh này?
- Thuận theo thế gian mà nói Ngã.
- Tránh cho đại chúng sơ cơ khỏi hoảng hốt khi
nghe nói Vô Ngã. Ðại chúng nghe nói Vô Ngã sẽ chấp: Ai sẽ là người tu học?
Nếu vậy, tại sao không nói rõ là “A Nan tôi
nghe” mà lại chỉ chép là “ngã văn?”
Vì các lý do sau đây:
- Chẳng trái với thế tục: Tuy kinh đề cao Chân
Ðế, nhưng trong Tự Phần chẳng dùng văn tự trái nghịch với Tục Ðế. Về lý
tuy phô bày diệu nghĩa, nhưng lời lẽ chẳng tách rời lời lẽ thông tục. Nói
chung là: Tuy hiển thị Chân Ðế nhưng chẳng rời Tục Ðế vậy.
- Chữ Ngã có nghĩa là “tự tại”. Tập Tạng Truyện
ghi: “Có ba A Nan: Một là A Nan Ðà (Khánh Hỷ) trì Thanh Văn Tạng; hai
là A Nan Bạt Ðà (Hỷ Hiền) trì Ðộc Giác Tạng; ba là A Nan Già La (Hỷ Hải)
trì Bồ Tát Tạng”. Thật ra chỉ có một vị A Nan, tùy theo đức mà lập ra
ba tên như thế. Ngài A Nan đa văn, tích tập tam huệ (Văn, Tư, Tu), văn
nghĩa đều trọn đủ, lại tổng trì Tam Tạng một cách tự tại. Nếu xưng danh
thì đối với các pháp sẽ chẳng được tự tại (vì còn hạn cuộc vào một pháp
nhất định). Vì thế, Ngài phải xưng là Ngã để trọn đủ nghĩa “tự tại”.
- Chữ “Ngã” ngụ ý là đích thân. Thế gian hay nói
“đích thân tôi nghe thấy” sự như thế đó. Nếu viết là “A Nan nghe” ắt sẽ có
kẻ nghi là Ngài A Nan chỉ nghe nói lại, chứ không phải đích thân Ngài được
nghe từ nơi Thế Tôn.
Nhĩ căn nhận lãnh âm thanh gọi là Văn (nghe).
Tai nghe nhưng lại bảo là “ngã văn” vì Ngã là chủ thể, Nghe là công dụng
của nhĩ căn, mà thân lại chính là tổng thể của sáu căn. Vì thế, dựa theo
tổng thể mà nói nên chép là “ngã văn”.
Hơn nữa, chữ Văn nhấn mạnh tầm quan trọng của
Văn Huệ: Muốn chứng đạt thâm lý, trước hết phải nghe pháp. Cõi Sa Bà này
dùng âm thanh làm Phật sự nên phải dùng Văn Huệ để huân tập. Do Văn Huệ
huân tập nên Tư Huệ, Tu Huệ mới phát khởi được công dụng để thành tựu đạo
xuất thế.
Hiểu ở mức độ sâu hơn, Ngã ở đây là Chân Ngã nơi
tự tánh. Dùng cái chân ngã nơi tự tánh để lắng nghe diệu pháp Tịnh Ðộ
chẳng thể nghĩ bàn. Phải biết rằng: nhĩ căn có công dụng thô phù, chỉ lãnh
nạp được những thanh trần thô phù, đó chưa phải là “nghe” một cách chân
thật. Ở đây, ta dùng tánh nghe chân thật nơi chân tâm để lắng nghe nên gọi
là “ngã văn”.
1.2.3. Tín văn duyên do
(nguyên do phải có Tín Thành Tựu và Văn Thành Tựu)
Tín Thành Tựu và Văn Thành Tựu nhằm phát khởi
tín tâm nơi thính giả. Tín tâm có phát khởi mới có thể y giáo tu hành, đạt
được lợi ích chân thật.
Nói tổng quát, đầu các kinh phải đề bốn chữ “như
thị ngã văn” vì:
a. Tuân thủ lời di chúc của Phật:
Hết thảy kinh điển đều do đích thân Ðức Phật
thuyết ra; nhưng lúc Phật còn tại thế kinh điển chưa được ghi chép lại.
Khi Phật sắp nhập Niết Bàn, Ngài A Nan bi cảm, khóc lóc thảm thiết. Trưởng
lão A Na Luật khuyên A Nan nên nén lòng, hỏi Phật bốn điều: “Lúc Phật
còn tại thế, chúng con nương vào Phật mà trụ. Khi Phật đã nhập diệt rồi,
nên nương vào đâu? Lúc Phật còn tại thế, lấy Phật làm thầy, Phật nhập diệt
rồi, lấy gì làm thầy? Phật còn tại thế, Ngài tự điều phục ác tánh tỳ kheo;
nay Phật mất đi, làm sao điều phục? Hết thảy kinh giáo Ðức Phật đã
thuyết, đến khi kết tập nên để thế nào, để cho hậu thế dốc lòng tin
tưởng?”
Phật dạy: “Nên lấy giới làm thầy, y theo Tứ
Niệm Xứ mà trụ. Bọn tỳ kheo khác nên dùng biện pháp mặc tẫn để trị phạt
(“mặc tẫn” là im lặng, không chuyện trò, giao thiệp với họ để cô lập
họ). Ðầu hết thảy các kinh nên để “như thị ngã văn nhất thời Phật tại
mỗ xứ dữ đệ tử nhược can câu” (tôi nghe đúng như thế này: Một thời Ðức
Phật ngự tại chỗ mỗ), cùng với bao nhiêu đệ tử nhóm họp).
b. Ðoạn nghi hoặc:
Lúc kết tập kinh điển, A Nan lên pháp tòa, đột
nhiên tướng hảo trang nghiêm giống hệt như Phật, khiến cho thính chúng
phát khởi ba thứ nghi vấn: Một là nghi Phật sống lại, hai là nghi Phật từ
phương khác đến, ba là nghi A Nan đã thành Phật. Khi Ngài A Nan xướng to
“như thị ngã văn”, ba mối nghi ấy đều trừ sạch.
c. Dứt tranh cãi:
Khi kết tập, Ngài A Nan thị hiện mới chứng Sơ
Quả, đức hạnh còn thua các trưởng lão A La Hán khác, huống hồ là các bậc
địa thượng Bồ Tát (địa thượng Bồ Tát là các vị Bồ Tát đã chứng từ Sơ Ðịa
trở lên)? Nếu chẳng nói “như thị ngã văn’, ắt sẽ có vị bắt bẻ, cho rằng
những kinh pháp đó do A Nan tự ý nói ra. Nay nói những pháp ấy đều do đích
thân Ngài nghe từ Ðức Phật thì đại chúng đều công nhận A Nan là bậc đa văn
đệ nhất, nghe qua tai chẳng hề quên mất, nên sẽ không tranh biện nữa.
d. Khác với kinh điển ngoại đạo:
Kinh ngoại đạo thường bắt đầu bằng hai chữ “A
Ưu”. A là không, Ưu là có. Họ dùng hai chữ ấy với ngụ ý có và không đều đủ
cả chẳng khuyết. Nay dùng sáu thứ thành tựu để giúp người học Phật phân
biệt giữa kinh Phật và kinh ngoại đạo.
1.2.4. Nhất thời
“Nhất thời” là Thời Thành Tựu (thời tiết nhân
duyên chưa đến thì chưa ban đại pháp, đúng thời mới thuyết pháp nên gọi là
Thời Thành Tựu).
Thời không có thực thể nhất định, chỉ là từ sự
mà đặt tên, chẳng hạn như thời thuyết pháp, thời làm việc v.v... Ðức Phật
thuyết pháp trên cõi trời, hoặc ở long cung, hoặc nơi chốn quỷ. Do xứ sở
sai khác nên thời gian cũng chẳng đồng nhất. Chẳng hạn năm mươi năm trên
cõi người chỉ bằng đúng một ngày nơi cõi Tứ Thiên Vương, ở Nam Thiệm Bộ
Châu vừa đúng ngọ, Bắc Câu Lô Châu đã sang canh ba; lịch pháp của Ðông
phương khác với lịch Tây Phương. Bởi thế chẳng thể xác quyết là năm tháng
nào, ngày giờ nào.
Hiểu theo Duy Thức, chữ Thời có hai nghĩa:
- Một là “đạo lý thời”: Trong từng sát na, ngũ
uẩn của người nói lẫn kẻ nghe sanh diệt liên tục, thành ra dường như có
trước, có sau, nên mới giả lập có tam thế. Cứ mỗi một khoảng sanh diệt ấy
gọi là Nhất Thời vậy.
- Hai là “duy thức thời”: nơi tâm thức của người
nói, kẻ nghe sanh khởi tướng trạng ba thời. Do tâm tưởng phân biệt của
chúng sanh mà thấy có thời gian dài ngắn, khi sự việc kết thúc thì gọi là
“nhất thời”. Khác nào như nằm mộng tưởng là đã trải qua nhiều đời, tỉnh
giấc mới biết toàn là những sự biến hiện trong tâm chứ chẳng có cảnh thật.
Tâm của người nghe sanh khởi ý niệm tam thế cũng như vậy.
Như vậy, cứ mỗi khi người nghe căn cơ thuần thục
sẽ cảm được Ðức Phật thuyết pháp. Ðức Phật từ bi ứng cơ, nói và vừa xong
thì gọi là Nhất Thời.
1.2.5. Phật:
Phật là Chủ Thành Tựu (nếu thuyết pháp không có
người làm chủ thì biết nhờ vào ai để khai hiển giáo pháp). Phật ở đây là
đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Ðức Phật đầy đủ ba thứ giác như phần trên đã
giảng. Ngài là bậc đại giác thánh nhân, công đức viên mãn tột bậc.
1.2.6. “Tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc
viên”:
Ðây là Xứ Thành Tựu.
a. “Tại” có nghĩa là trụ. Pháp thân chư Phật vô
trụ, vô bất trụ. Pháp thân vốn vô hình vô tướng nên bảo là “vô trụ”. Tâm
lượng bao trùm trọn khắp pháp giới nên bảo là “vô bất trụ”. Báo thân chẳng
trụ, hễ gặp đại căn cơ cảm phát thì trụ, như trong hội Hoa Nghiêm Phật
hiện thân Tỳ Lô Giá Na (Hán dịch là Quang Minh Biến Mãn) để thuyết giáo
pháp viên đốn. Ứng thân cũng chẳng trụ, toàn là do căn cơ của chúng sanh
cảm ứng mà được thấy, tùy từng loại chúng sanh mà thấy thân Phật khác
nhau.
Ứng thân ứng hiện theo căn cơ để thuyết pháp thì
giả gọi là Trụ. Chẳng hạn như đức Bổn Sư trụ thế tám mươi năm, khi căn cơ
hóa độ đã hết, ứng thân liền diệt. Nay trong kinh này, Phật trụ tại nước
Xá Vệ, ngự trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc.
b. Xá Vệ là tên một thành phố, gọi cho đúng là
Thất Lợi La Phiệt Tất Ðể, chính là đô thành của nước Kiều Tát La (Hán dịch
là Công Xảo). Kiều Tát La là một trong mười sáu nước lớn ở Trung Ấn Ðộ
thời ấy. Ở đây nói “Xá Vệ Quốc” là gọi tên nước theo kinh đô vậy.
Xá Vệ, Hán dịch là Văn Vật hoặc Phong Ðức, ngụ ý
sản vật tươi tốt, dồi dào nổi danh khắp các nước. Nước có nhiều của cải
sản vật là Phong, dân trong nước có nhiều người giải thoát đa văn là Ðức.
Theo kinh Kim Cang Bát Nhã, thuở xưa có hai anh em tu tiên đắc quả tại đó
nên thành ấy được mang tên là Xá Ðề Bà (cách phiên âm khác của chữ Xá Vệ).
Cách thành ấy sáu dặm có một hoa viên lớn, thuộc quyền sở hữu của thái tử
Kỳ Ðà.
c. Chữ Kỳ trong “Kỳ thọ” chỉ thái tử Kỳ Ðà (còn
phiên âm là Thệ Ða - Jeta, nên vườn Kỳ Ðà còn gọi là Thệ Ða Lâm. Thái tử
là con vua Ba Tư Nặc (Hán dịch là Hòa Duyệt hay Thắng Quân). Kỳ Ðà nghĩa
là Chiến Thắng vì khi vua Ba Tư Nặc giao tranh cùng lân quốc, chiến thắng
hồi triều nhằm đúng lúc Thái Tử sanh ra nên đặt tên con như thế. Thọ là
cây cối.
Cấp Cô Ðộc là tên một vị Trưởng Giả, là một đại
thần của vua Ba Tư Nặc, tên thật là Tu Ðạt Ða (còn gọi tắt là Tu Ðạt, Hán
dịch là Thiện Thí). Cấp có nghĩa là chu cấp, chẩn tế. Trẻ nhỏ không cha
gọi là Cô, người già không con gọi là Ðộc. Già không vợ gọi là Quan, già
không chồng gọi là Quả. Ðó là bốn hạng người khốn khổ trong xã hội. Ở đây
chỉ dùng hai chữ “Cô Ðộc” để bao gồm cả hai loại kia, cũng như tất cả
những người bần cùng, khốn khổ khác. Ông Tu Ðạt Ða thường đem của cải chu
cấp, cứu giúp những người nghèo cùng khốn khổ, cô đơn, nên được mỹ hiệu là
Cấp Cô Ðộc.
Khi Ðức Phật còn ngự tại nước Ma Kiệt Ðà, chưa
đến Xá Vệ, ông Tu Ðạt Ða vì cưới vợ cho con phải qua thành Vương Xá, ở tại
nhà trưởng giả San Ðàn Na, thấy ông San Ðàn Na nửa đêm thức dậy, đốc thúc
gia nhân sửa soạn tiệc chay. Ông Tu Ðạt Ða hỏi bạn: “Ngài muốn thỉnh quốc
vương đến nhà hay là làm tiệc chúc thọ vậy?” Ông kia đáp: “Ðâu phải! Tôi
muốn thỉnh Phật Ðà đến cúng dường”. Tu Ðạt Ða nghe đến hai chữ Phật Ðà,
lông trên thân dựng cả lên, trong lòng khoan khoái, hỏi: “Phật Ðà là ai?”
San Ðà Na liền thuật tỉ mỉ các công đức của Phật.
Tu Ðạt Ða nghe xong, thiện căn đời trước lập tức
phát khởi, hoan hỷ, náo nức, sanh lòng kính mộ sâu xa, liền hỏi Phật đang
ở đâu? Khi biết đức Thế Tôn đang ở Trúc Lâm Tinh Xá, ông mong được đến gặp
Phật ngay. Phật biết tâm ông khát ngưỡng thiết tha nên từ bi phóng đại
quang minh khiến đêm đen sáng trưng như ban ngày. Theo ánh sáng, ông tìm
đến Trúc Lâm cách nhà trưởng giả San Ðàn Na hơn năm mươi dặm.
Trong khi đi đường, ông thấy miếu thờ trời bèn
tạt vào làm lễ. Ánh quang minh liền tắt phụt. Tu Ðạt Ða sanh lòng hổ thẹn,
ánh Phật quang lại rạng ngời như cũ, Ðến nơi, ông thấy Phật đang đi kinh
hành trong sân. Thấy tướng hảo trang nghiêm của Phật, ông càng thêm kính
ngưỡng, nhưng chưa biết lễ kính thế nào. Khi ấy, Thủ Ðà Thiên trên hư
không liền hóa ra bốn người đến trước Thế Tôn đầu mặt lạy chân Phật, nhiễu
theo chiều phải ba vòng, hồ quỳ, chắp tay thưa hỏi. Tu Ðạt Ða theo đúng
cách thức đó lễ Phật.
Phật giảng pháp Tứ Ðế, ông xiết bao hoan hỷ, cảm
ngộ, chứng đắc quả Tu Ðà Hoàn, bèn thỉnh Phật quang lâm Xá Vệ. Phật bảo
phải có tinh xá để chứa đựng chúng Tăng, ông bèn thỉnh Phật chỉ dạy cách
thức kiến thiết tinh xá. Phật sai Ngài Xá Lợi Phất theo ông qua Xá Vệ để
hướng dẫn việc lập tinh xá.
Xem khắp trong nước, Ngài Xá Lợi Phất thấy chỉ
mỗi hoa viên của thái tử Kỳ Ðà là nơi thích hợp hơn cả. Tu Ðạt Ða bèn đến
xin mua lại hoa viên của Thái Tử, Thái Tử nghe vậy bèn nói giỡn: “Nếu
khanh đem vàng lót kín đất, ta sẽ nhượng cho khanh”. Trưởng giả tức thời
chở vàng đến lót kín vườn. Cảm động trước tấm chân thành ấy, Thái Tử Kỳ Ðà
xin dâng cúng cây trong vườn để góp công đức. Theo kinh Hiền Ngu, Ðức Phật
bảo A Nan: “Khu rừng vườn này do ông Tu Ðạt mua, cây cối hoa cỏ trong
rừng thuộc sở hữu của thái tử Kỳ Ðà. Hai người đồng tâm cùng lập tinh xá
nên đặt tên nơi này là Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên”.
Khu tinh xá này ở phía Nam thành Xá Vệ, gồm mười
hai ngôi chùa, bảy mươi hai giảng đường, ba ngàn sáu trăm phòng ốc, năm
trăm lầu gác, được kiến lập đúng vào lúc Ðức Phật đã thành đạo được sáu
năm.
1.2.7. Tiền ngũ chủng thành tựu đích
hiển lý (thuyết minh về mặt lý năm điều thành tựu trên)
“Như thị” biểu thị tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh
Ðộ: không khiếm khuyết là Như, ai cũng sẵn có là Thị; đấy là nghĩa “tự
tánh Di Ðà”. Chẳng lìa ngay đương xứ là Như, toàn thể không gì là chẳng
sai sót là Thị, đấy là nghĩa “duy tâm Tịnh Ðộ”.
“Ngã văn” là tự tánh thấu suốt cùng tột mười
phương. “Nhất thời” là sáu căn quy nguyên, Thể và Dụng dung hợp lẫn nhau.
Phật ngự tại Kỳ Viên biểu thị tự tánh chẳng lìa đương xứ. Giảng pháp này
tại nước Xá Vệ là nước thù thắng, biểu thị pháp môn Tịnh Ðộ rộng lớn sâu
xa, là pháp tối thượng. Trong vườn ấy, cây thuộc về Thái Tử Kỳ Ðà nên cây
cối nơi ấy cũng thù thắng, biểu thị pháp môn Tịnh Ðộ lợi lạc quần sanh,
khiến họ vĩnh viễn lìa khỏi nhiệt não. Vườn ông Cấp Cô Ðộc là ngôi vườn
thù thắng trong các tịnh xá thời đó, biểu thị Tịnh Ðộ thù thắng trang
nghiêm, chúng sanh nhờ đó luôn hưởng thọ các sự an lạc.
Hơn nữa, thái tử Kỳ Ðà thuộc giòng dõi thù
thắng, biểu thị người được vãng sanh Tịnh Ðộ rốt ráo thành Phật, tiếp nối
giòng dõi Phật. Trưởng giả Tu Ðạt là hạng người thù thắng, biểu thị người
sanh trong Tịnh Ðộ đều là bậc thượng thiện nhân.
1.3. Chúng thành tựu
1.3.1. Thanh Văn chúng
(chúng Thanh Văn)
1.3.1.1. Minh hiển tiêu số (nêu rõ đức
hạnh và số lượng của chúng Thanh Văn)
Chánh kinh:
Dữ đại tỳ kheo tăng thiên nhị bách ngũ thập nhân
câu.
(Cùng với chúng đại tỳ kheo tăng một ngàn hai
trăm năm mươi vị cùng họp lại).
Giải:
Từ câu “Ðại tỳ kheo tăng” cho đến “chư thiên đại
chúng” là thuộc về Chúng Thành Tựu. Phải nêu rõ đại chúng nghe pháp gồm
những ai là vì:
- Ðể chứng tín: không phải riêng mình Ngài A Nan
được nghe pháp này mà còn có những vị như thế hiện diện, chứng thực tính
chân xác của kinh.
- Ðể minh định rõ đại chúng nghe pháp, ai là
Quyền, ai là Thật. Phật Ðịa Luận chép: “Hóa thân Phật thuyết pháp trong
uế độ thì Thanh Văn là thật, Bồ Tát là quyền. Báo thân Phật thuyết pháp
trong Tịnh Ðộ thì Bồ Tát là thật, Thanh Văn là quyền”. Cõi Sa Bà này
là uế độ, đương nhiên chúng Bồ Tát là quyền.
Thính chúng nghe pháp gồm có năm loại: một là
chúng đạo hạnh cao quý, hai là chúng bi tâm rộng lớn, ba là các chư thiên
ưa thích Phật pháp, bốn là nhân loại trong Dục giới, năm là chúng phi
thiên, a tu la v.v...
Ở đây chúng Thanh Văn là những bậc đức hạnh cao
quý nên được nêu trước hết.
Hỏi: Vì sao trong các kinh khác đều kể rõ có
thiên long bát bộ nghe pháp, kinh này chỉ nói đến ngũ chúng?
Ðáp: Pháp môn Tịnh Ðộ đây, nếu chẳng phải là bậc
thượng đức, thượng hiền thì chẳng thể nào tin nhận nổi. Vì thế chỉ nêu năm
chúng, chẳng nêu các chúng khác.
Năm chúng đây lại có thể chia thành hai loại:
nội hộ chúng và ngoại hộ chúng. Nội hộ chúng là Thanh Văn, Bồ Tát; ngoại
hộ chúng là chư thiên, nhân loại, phi thiên...
Theo Phật Ðịa Luận, chúng Thanh Văn được nêu
trước chúng Bồ Tát vì những nguyên nhân sau đây:
- Hình tướng bất đồng: Thanh Văn là bậc xuất
gia, hình tướng giống như Phật, trì xuất gia giới. Bồ Tát không giống như
vậy.
- Xét về nơi chốn có gần hay xa: Thanh Văn gần
Phật, Bồ Tát vì hóa độ chúng sanh nên không thể thường xuyên gần gũi Phật
được.
- Giới đức sai khác: Thanh Văn xuất gia trì giới
xuất gia, Bồ Tát chẳng giống vậy vì phải tùy thuận để hóa độ chúng sanh.
- Muốn cho hàng Bồ Tát chẳng sanh tâm kiêu mạn
đối với chúng Thanh Văn.
“Một ngàn hai trăm năm mươi người”
là nói về số lượng của các vị đại đức xuất gia. “Dữ” nghĩa là cùng
với.
Dùng chữ “Ðại” để phân biệt với tiểu, hàm ý
những vị hiện diện trong pháp hội này chẳng phải là hạng tiểu căn cơ, sơ
tâm tỳ kheo. Trong tiếng Phạn, Ðại là Ma Ha. Chữ Ma Ha gồm có đến ba
nghĩa: lớn, nhiều, thù thắng. Nay chỉ dùng chữ Ðại để đại diện cho cả ba
đức.
- Các tỳ kheo được trời người kính ngưỡng, đức
cao trọng vọng nên gọi là Ðại, hàm nghĩa chẳng phải là Tiểu đức. Chẳng hạn
như Ngài Mục Liên là thầy của Ðế Thích, Ngài Ca Diếp là thầy của Phạm
Vương.
- Trí huệ sâu thẳm, thông đạt thấu suốt nội
điển, ngoại tịch, nên bảo là Ða, tức chẳng phải là kẻ học thức kém cỏi.
- Hơn hẳn chín mươi sáu thứ ngoại đạo nên bảo là
Thắng, chẳng phải là căn cơ hèn kém vậy.
Bồ Tát Long Thọ lại bảo chữ Ðại được dùng ở đây
để ngầm nêu năm nghĩa:
- Số đại: vì có đến một ngàn hai trăm năm mươi
vị tỳ kheo dự pháp hội.
- Ly đại: vì đã đoạn được đại chướng (phiền
não).
- Vị đại: vì họ đều là bậc đại A La Hán.
- Danh đại: tên tuổi lẫy lừng khắp nơi.
- Thức đại: được bậc đại nhân và đại chúng cùng
biết đến.
Các vị tỳ kheo dự hội đây đều là hạng mật hạnh
Bồ Tát, thị hiện hình tướng Thanh Văn để hóa độ chúng sanh. Các Ngài là
bậc thường du hóa cõi Phật, trang nghiêm tịnh độ, trên thì vận dụng trí để
cầu thượng quả, dưới thì vận lòng bi để tiếp độ chúng sanh.
Chữ “tỳ kheo” (còn phiên âm là Bật Sô hay Bí Xu)
có năm nghĩa:
a.Khất sĩ:
Khất là cầu xin. Ðức Phật chế định tỳ kheo phải
hành hạnh khất thực (tiếng Phạn là Phần Vệ), vì có năm điều lợi ích: trừ
tâm kiêu mạn; giúp thế nhân gieo trồng phước điền; chẳng bị việc kinh
doanh làm phiền lụy; chẳng sanh khởi ý niệm cất chứa, tham cầu; rảnh rang
để nhất tâm chuyên tu.
“Khất” còn có nội nghĩa và ngoại nghĩa. Nội
nghĩa là khất pháp nơi Ðức Phật để nuôi dưỡng huệ mạng, ngoại nghĩa là
khất cầu nơi đàn việt (thí chủ) để duy trì sắc thân.
b. Phá ác:
Phá là trừ diệt, Ác là kiến hoặc, tư hoặc phiền
não. Như vậy, “phá ác” là diệt ác pháp phiền não, diệt ác nhân sanh tử
trong tam giới.
c. Bố ma:
Hễ có người phát tâm xuất gia, Ma vương nghe
biết rất sợ hãi, chỉ sợ người ấy thành đạo xuất thế khiến ma chúng bị giảm
bớt. Vì thế, gọi là Bố Ma (làm cho ma sợ hãi).
d. Trì tịnh giới.
e. Tịnh mạng:
Ðã thọ giới nên những hành vi, ngôn ngữ, ý niệm
chẳng còn phát khởi từ tham tâm nữa cũng như chẳng dùng những phương cách
dâm tà để nuôi sống thân mình.
“Tăng” gọi đủ là Tăng Già, dịch là Hòa Hợp
Chúng. Hòa Hợp có hai nghĩa Lý Hòa và Sự Hòa:
- Ðồng chứng vô vi giải thoát là Lý Hòa.
- Sự Hòa gồm sáu điều: Thân hòa đồng trụ (thân
hòa hợp cùng trụ một chỗ), khẩu hòa vô tranh (miệng hòa hợp không tranh
cãi), ý hòa đồng duyệt (ý hòa hợp vui vẻ cùng nhau), kiến hòa đồng giải
(cùng hòa hợp chia sẻ kiến giải với nhau), giới hòa đồng tu (cùng hòa hợp
giữ giới với nhau), lợi hòa đồng quân (hòa hợp chia xẻ lợi dưỡng đồng đều
cho nhau). Ðủ sáu điều hòa hợp như thế mới đáng gọi là Tăng.
“Một ngàn hai trăm năm mươi người”:
Khi Ðức Phật mới thành đạo, độ năm anh em Kiều Trần Như ở vườn Lộc Uyển
(năm vị này có quan hệ huyết thống với Phật. Mã Thắng, Tiểu Hiền, Ma Ha
Nam là anh em họ bên nội; Thập Lực Ca Diếp, Kiều Trần Như là anh em họ bên
ngoại). Tiếp đó, độ con trai của trưởng giả Da Xá và bạn bè (Da Xá đây là
con trai của một vị trưởng giả họ Câu Lê ở thành Tỳ Xá Ly thuộc nước Ba La
Nại, nên gọi là Da Xá trưởng giả tử), tổng cộng là năm mươi lăm người.
Tiếp đó, ở rừng Mộc Qua, độ thầy trò Ưu Lâu Tần
Loa Ca Diếp, tất cả là năm trăm người. Ðộ thầy trò Già Da Ca Diếp ở núi
Tượng Ðầu và thầy trò Na Ðề Ca Diếp bên sông Ni Liên Thiền, tổng cộng là
500 người (Ca Diếp là họ, Ưu Lâu Tần Loa là rừng Mộc Qua, Già Da là núi
Ðầu Voi, Na Ðề tức là tên gọi khác của sông Ni Liên Thiền. Ba anh em nhà
này cùng theo ngoại đạo thờ lửa, tên đặt theo chỗ ở. Ðức Thế Tôn độ họ sau
khi Ngài đã thành đạo được ba năm).
Kế tiếp hóa độ thầy trò của các ông Xá Lợi Phất,
Mục Kiền Liên gồm hai trăm người.
Tính chung lại tất cả gồm một ngàn hai trăm năm
mươi lăm người. Ở đây chỉ kể “một ngàn hai trăm năm mươi người” là tính
tròn.
Hỏi: Phật độ vô lượng chúng sanh, sao lại chỉ
nêu tên một chúng này?
Vì nhiều lý do: họ là những người quy hướng Phật
giáo trước tiên, được chứng đắc thánh quả trước tiên, vì họ thường theo
hầu Phật.
“Câu” là cùng lúc họp lại.
1.3.1.2. Biểu vị thán đức
(nêu địa vị, khen ngợi đức)
Chánh kinh:
Giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức.
(Ðều là đại A La Hán, [đức hạnh, nhân phẩm, đạo
học của họ đều] được mọi người hay biết (công nhận)).
Giải:
Câu “Ðại A La Hán” là nêu địa vị, câu
“chúng sở tri thức” nhằm tán thán đức của các vị ấy.
Chữ “giai thị” ngụ ý: một ngàn hai trăm
năm mươi vị tỳ kheo trên đây, không vị nào chẳng phải là Ðại A La Hán.
Quả vị của chúng Thanh Văn gồm có bốn bậc:
- Sơ Quả Tu Ðà Hoàn (Hán dịch là Dự Lưu), vừa
mới dự vào dòng thánh.
- Nhị Quả Tư Ðà Hàm (Hán dịch là Nhất Vãng Lai
hay Nhất Sanh): trong chín phẩm Tư Hoặc của Dục Giới, mới chỉ đoạn được
sáu hoặc nên còn phải thọ sanh trong nhân gian hay cõi trời một lần nữa.
- Tam Quả A Na Hàm (Hán dịch Bất Lai): đã đoạn
sạch chín phẩm Tư Hoặc trong Dục Giới, chẳng cần phải tái sanh trong Dục
Giới nữa.
- Tứ Quả A La Hán (Hán dịch là Vô Sanh): không
còn bị thọ sanh trong tam giới nữa.
Muốn chứng Tứ Quả thì phải đoạn bốn địa vị trong
Sắc Giới, bốn địa vị trong Vô Sắc Giới. Mỗi địa vị có 9 phẩm Tư Hoặc, tổng
cộng là phải đoạn 72 phẩm Tư Hoặc, và phải đoạn cả 88 Sử (Kiến Hoặc) ở Dục
Giới mới chứng đắc Tứ Quả. Kiến Hoặc và Tư Hoặc chính là căn bản để thọ
sanh trong tam giới nên phải đoạn sạch Kiến Hoặc và Tư Hoặc thì mới khỏi
phải sanh trong tam giới nữa.
Từ Sơ Quả cho đến Tứ Quả đều gọi là Thanh Văn.
Thanh Văn là những vị nghe giáo pháp Tứ Ðế mà nhập đạo. Những thánh chúng
Thanh Văn hiện diện trong pháp hội này đều là bậc Tứ Quả, tức là đạt địa
vị tối cực trong chúng Thanh Văn nên gọi là Ðại.
A La Hán có hai loại:
- Ðịnh tánh A La Hán: khăng khăng bảo thủ
Chân Không, chìm đắm trong tịch diệt, đắc quả chút ít đã cho là đủ thì gọi
là Ðịnh Tánh, là tiểu căn.
- Hồi tâm A La Hán: nếu hồi tiểu hướng
đại, phát Bồ Ðề tâm, chẳng cầu tự lợi thì gọi là hồi tâm A La Hán.
Chúng A La Hán trong pháp hội này toàn là bậc
hồi tâm A La Hán nên gọi là Ðại.
Thêm nữa, lại có ba loại A La Hán:
- Huệ giải thoát: tu Tánh Niệm Xứ, chỉ duyên
theo chân lý, chỉ chứng địa vị vô học, đắc Diệt Tận Ðịnh.
- Câu giải thoát: tu Cộng Niệm Xứ, kiêm tu sự
tướng, đắc Diệt Tận Ðịnh, đầy đủ tam minh, bát giải thoát).
- Vô ngại giải thoát: Tu Duyên Niệm Xứ, duyên
theo Phật pháp trong Tam Tạng, thông đạt kinh điển thế gian, xuất thế gian
một cách vô ngại.
Bậc A La Hán trong pháp hội đây đều là bậc Vô
Ngại Giải Thoát nên gọi là Ðại.
“A La Hán”
là tiếng Phạn, gồm có ba nghĩa:
a. Ứng Cúng:
Ứng có nghĩa là tương ứng, hoặc xứng đáng nhận
lãnh. Cúng là cúng dường. A La Hán là bậc phạm hạnh đã lập, siêu xuất tam
giới, đáng thọ lãnh sự cúng dường, tôn kính của trời người, nên gọi là Ứng
Cúng. Vì sao trong mười danh hiệu của Phật cũng có danh xưng Ứng Cúng? Ðó
là vì Phật là bậc đáng được hết thảy thế gian: trời, người, Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát cúng dường. Phật là bậc Ðại Ứng Cúng, A La Hán chỉ là
Tiểu Ứng Cúng.
b. Sát Tặc:
Sát là giết chết, đoạn diệt. Tặc là trộm cướp.
Dùng trộm cướp để ví cho Kiến Hoặc, Tư Hoặc thường cướp đoạt pháp tài công
đức của chúng sanh, khiến họ vĩnh viễn trầm luân trong sanh tử luân hồi.
Bậc A La Hán đã đoạn sạch phiền não Kiến Hoặc, Tư Hoặc, nên gọi là Sát
Tặc.
c. Vô Sanh:
Việc làm (tức sự nghiệp đoạn trừ phiền não) đã
xong, đã thoát khỏi nỗi khổ sanh tử, nên gọi là Vô Sanh.
Tỳ kheo là nhân, A La Hán là quả. Do nhân khất
sĩ, tịnh mạng, tịnh giới nên được Ứng Cúng. Chống cự lại phiền não (Phá
Ác), đạo đã thành, ác đã phá, là nhân của Sát Tặc. Xuất gia thọ giới có
nhân Bố Ma nên nay đạo thành, chứng đắc địa vị La Hán, nên được quả Vô
Sanh.
“Chúng sở tri thức”:
Chúng tức là đại chúng trời, người. Hai chữ “tri thức” có nhiều cách giải
thích:
- Nghe danh ngưỡng mộ đức là Tri; gặp tận mặt,
nghe dạy dỗ là Thức.
- Nghe danh gặp mặt là Tri, hiểu tâm rõ tánh là
Thức.
- Biết mặt là Tri, biết đức là Thức.
- Nếu chỉ nghe danh mà chưa gặp mặt thì mới là
Tri, chưa phải là Thức. Tuy gặp mặt mà chẳng nghe danh thì mới là Thức,
chứ chưa phải là Tri. Nếu do nghe danh mà ngưỡng đức, đã gặp mặt lại nghe
dạy dỗ, lại còn biết rõ tâm tánh của người ấy thì gọi là Tri Thức.
Ðây là những cách giải thích dựa trên phương
diện đại chúng mà luận. Lại còn có cách giải thích chữ “tri thức” ở một
mức độ cao hơn như sau:
“Hiểu sâu chân lý là Tri, thông đạt pháp tướng
một cách sâu rộng là Thức”.
Như vậy, những bậc A La Hán được nêu ở đây đều
là những vị đức cao trọng vọng, kham làm tròng mắt cho trời - người, hỗ
trợ Ðức Phật giáo hóa chúng sanh, tiếng tăm lẫy lừng khắp nơi, là bậc được
khắp đại chúng hay biết, nên gọi là “chúng sở tri thức”.
Nếu luận về Lý của câu kinh này thì:
Ðại tỳ kheo Tăng là lý trí nhất như (tức là ý
nghĩa “hòa hợp”). Một ngàn hai trăm năm mươi người cùng nhóm là các công
đức đều tụ tập lại. Ðại A La Hán biểu thị: tự tánh tùy duyên (tức là ý
nghĩa Ứng Cúng), tâm nguyên vốn vắng lặng (tức là ý nghĩa Sát Tặc), tự
tánh bất biến (tức là ý nghĩa Vô Sanh). Tri thức biểu thị tự tánh chẳng
mê, tâm nguyên vốn sáng ngời.
1.3.1.3. Lệ danh thượng thủ (nêu tên các
vị thượng thủ)
Chánh kinh:
Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma
Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Ða, Châu Lợi Bàn
Ðà Già, Nan Ðà, A Nan Ðà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Ðề, Tân Ðầu Lô Phả La
Ðọa, Ca Lưu Ðà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Ðà.
Giải:
“Trưởng lão”:
Ðức cao, học rộng là Trưởng, tuổi tác cao là Lão. như vậy, Trưởng Lão là
tiếng để tôn xưng bậc đức hạnh lẫn tuổi tác đều cao. Có bốn loại trưởng
lão:
a. Pháp lạp trưởng lão là hạng xuất gia lâu năm
(pháp lạp là tuổi xuất gia. Cứ mỗi một năm xuất gia tính là một lạp. Hạ
lạp là tuổi tính theo mỗi lần an cư kiết hạ. Nay thường đồng nhất hai tuổi
này)
b. Học đức trưởng lão là bậc học vấn sâu xa,
rộng rãi.
c. Pháp tánh trưởng lão là bậc đạo quả cao siêu.
d. Niên kỷ trưởng lão là bậc xuất gia tuổi đời
đã cao.
Trong kinh này, dù là bậc đức trọng tuổi cao
hoặc bậc đức trọng nhưng tuổi đời còn trẻ đều dùng hai tiếng “trưởng lão”
để tôn xưng.
Mười sáu vị tôn giả được nêu tên trên đây đều
xứng đáng gọi là “trưởng lão”, chứ chẳng phải mình Ngài Xá Lợi Phất đáng
được gọi như vậy.
1) Xá Lợi Phất
(đọc đủ là Xá Lợi Phất Ðát La):
Ngài là người Nam Thiên Trúc, con của bà la môn
Ðề Xá. Tên thật là Ưu Ba Ðề Xá, gọi theo họ mẹ là Xá Lợi Phất. Xá Lợi là
tên một loài chim, Tàu dịch là Thu Lộ, Phất là con. Xá Lợi Phất nghĩa là
con bà Xá Lợi (Tàu thường dịch nghĩa chữ Xá Lợi Phất thành Thu Tử hoặc
Thân Tử. Gọi là Thân vì bà mẹ Ngài hình dung yểu điệu, xinh đẹp phi
thường. Gọi là Thu vì mắt bà đẹp và trong suốt, long lanh như mắt chim Thu
Lộ). Ấn Ðộ thường gọi tên con theo tên mẹ để biểu thị lòng tôn kính cùng
cực, không gọi thẳng tên thật ra.
Tôn giả trí huệ phi thường, khi còn trong thai
mẹ đã khiến mẹ tranh biện giỏi hơn người. Ông anh Câu Hy La mỗi khi tranh
luận với bà luôn bị thua cuộc. Cha Ngài Xá Lợi Phất là hạng giàu có, học
rộng, không kinh sách nào không tham cứu. Khi cấn thai Ngài, bà Xá Lợi
mộng thấy có một dị nhân, thân mặc giáp trụ, tay cầm kim cang xử, đập nát
các ngọn núi, rồi đứng dưới một ngọn núi khác. Cha Ngài Xá Lợi Phất giải
mộng: “Bà sẽ sanh ra một đứa con trai, trí huệ học vấn đứng đầu thế gian,
ngôn ngữ không úng tắc”.
Năm lên tám tuổi Ngài đã thông suốt tất cả sách
vở thuộc hệ thống Tứ Vi Ðà, từng chiết phục các luận sư khắp mười sáu
nước. Vừa xuất gia bảy ngày đã thông đạt hết các Phật pháp.
Thuở trẻ, tôn giả là đệ tử của học giả San Xà
Na, là bạn đồng học thân thiết nhất của Ngài Mục Liên. Sau khi thầy mất,
Ngài cùng tu với Mục Liên trong vùng rừng núi phụ cận thành Vương Xá. Nghe
danh đức Thế Tôn đã lâu, Ngài từng muốn đến thân cận, nhưng chưa được ai
tiến dẫn. Một ngày nọ Ngài gặp tỳ kheo Mã Thắng dung nghi siêu tục, liền
hỏi: “Thầy Ngài là ai?” Mã Thắng đáp: “Thích Ca Thế Tôn”.
Xá Lợi Phất nghe vậy rất vui, liền bảo: “Thường
nghe nói đến Thế Tôn đức hạnh cao dày, khéo nói diệu pháp, Ngài có thể vì
tôi nhắc lại vài câu diệu pháp chăng?” Ðáp: “Tôi tuổi còn trẻ, theo học
Phật chưa lâu, làm sao dám thuật lại những nghĩa uyên áo của Ðức Phật đã
nói được”. Xá Lợi Phất kèo nài: “Xin hãy từ bi lược nói pháp yếu”. Mã
Thắng liền đọc bài kệ:
Các pháp từ duyên sanh,
Các pháp theo duyên diệt,
Ðức Phật đại sa môn,
Thường nói như thế đấy.
Nghe xong, Xá Lợi Phất cảm ngộ sâu xa, tâm sanh
hoan hỷ, khen ngợi không ngớt, về thuật cùng Mục Liên, bèn cùng các đệ tử
đến chỗ Phật xuất gia.
Trong các đệ tử Phật, Ngài là bậc trí huệ đệ
nhất. Kinh A Hàm chép: “Trong Phật pháp của ta, người trí huệ vô cùng,
dứt sạch các mối nghi thì ông Xá Lợi Phất là bậc nhất”. Trong kinh này
chỉ nêu một đức, chứ không phải Ngài Xá Lợi Phất không đủ các đức khác.
Cũng không phải các vị khác không có trí huệ, kinh chỉ nêu lên những điểm
sở trường, sở hảo của các vị mà thôi. Nay Phật thuyết giảng pháp môn Tịnh
Ðộ khó tin bậc nhất, nếu chẳng phải là hạng đại trí huệ thì làm sao có thể
tin tưởng sâu xa vô ngại được. Kinh nêu tên Ngài Xá Lợi Phật đầu tiên để
biểu thị lấy trí huệ làm đầu vậy.
2) Ma Ha Mục Kiền Liên:
Ngài Mục Liên là người nước Xá Vệ, con của phụ
tướng đại thần. Ma Ha dịch là Ðại. Mục Kiền Liên dịch là Thái Thúc Thị, đó
là họ của Ngài. Tổ tiên Ngài ẩn trong núi tu đạo, lấy bắp (Ngài Khuy Cơ
bảo là đậu xanh) làm thức ăn nên thành họ. Tên thật của Ngài là Câu Luật
Ðà (tên một loài cây, dịch là Vô Tiết Thọ: cây không có lóng; cha mẹ Ngài
cầu con nơi thần cây ấy mà được nên đặt tên ấy). Dòng họ này có rất nhiều
người xuất gia nên thêm chữ Ðại trước họ để phân biệt.
Ngài là người thần thông bậc nhất trong các đệ
tử Phật, từng hàng phục rồng độc, đem năm trăm người họ Thích giấu lên
cung trời khi vua Tỳ Lưu Ly sát hại dòng họ Thích v.v... Kinh A Hàm chép:
“[Trong những] bậc thần thông lẹ làng nhất trong Phật pháp của ta, bay
đến mười phương thì Mục Kiền Liên bậc nhất”. Ngài là bậc hiếu thuận vô
song, từng vào U Minh cứu mẹ, tiến độ mẹ sanh thiên, phát khởi Vu Lan
thắng hội. Luận Trí Ðộ ví Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai vị đại tướng
quân chầu chực bên Phật. Xá Lợi Phất là mẹ đẻ của chúng sanh, Mục Kiền
Liên là mẹ nuôi.
3) Ma Ha Ca Diếp:
Tàu dịch là Ðại Quy Thị, tức là họ Ðại Quy. Chữ
Ca Diếp còn được dịch là Ẩm Quang vì thân Ngài thường phóng quang minh
sáng rực, lấp mất các ánh sáng khác. Thuở xưa kia, cách đây 91 kiếp, trong
đời Phật Tỳ Bà Thi; sau khi Ðức Phật nhập diệt, tứ chúng đệ tử lập tháp
thất bảo. Lúc ấy, Ngài Ca Diếp làm thợ bạc. Lâu ngày, vàng thếp pho tượng
Phật ấy bị tróc lở. Có một nữ nhân bần cùng đến nỗi cơm không đủ ăn,
thường lui tới chiêm lễ tượng Phật. Trong khi lễ bái, cô thấy vàng trên
mặt tượng đã bị tróc hết; cô thầm nguyện: “Nếu tôi có tiền, nhất định tôi
sẽ thếp vàng lại tượng”.
Một ngày nọ, cô nhặt được một đồng vàng trên
đường. Cô vội đem đồng tiền ấy đến nhờ anh thợ bạc thếp tượng. Người thợ
bạc ngạc nhiên hỏi: “Sao cô không dùng tiền vàng này mua y phục, thức ăn
sẽ được rất nhiều, mua cả nhà cửa cũng được mà”. Cô gái đáp: “Tôi từng
phát nguyện sẽ thếp vàng tượng Phật. Tiền này tôi chẳng dám dùng đâu, chỉ
cần ông giúp tôi thếp vàng tượng Phật là tôi đã mãn nguyện rồi!”
Người thợ bạc quá cảm động trước tấm lòng thành
của cô nên tình nguyện thếp vàng tượng Phật chẳng lấy công; lại nguyện đời
đời thường làm vợ chồng, thân sáng như vàng ròng, luôn hưởng thọ sự vui
thù thắng, đồng tu phạm hạnh. Do nhân lành ấy, họ đời đời được thân ánh
sáng vàng ròng, lại còn có quang minh sáng hơn cả ánh sáng mặt trời. Ðến
khi Ðức Phật giáng thế, cả hai cùng được xuất gia trong Phật pháp. Người
nam là Ngài Ðại Ca Diếp, người nữ chính là Ca Diếp tỳ kheo ni.
Trong các chùa Trung Hoa thường tạc hình hai vị
thị giả đứng hầu bên Phật Thích Ca. Vị trẻ tuổi là Ngài A Nan. Vị già cả,
mặt nhân, râu tóc bạc phơ là Ngài Ca Diếp. Tượng Ngài thường tạc ôm tay
thành quyền, chứ không chắp tay, vì tương truyền, thân Ngài có quang minh
chói rực, đặc biệt là mười đầu ngón tay càng chói sáng hơn hết. Nếu Ngài
chắp tay, ánh sáng từ mười đầu ngón tay túa ra sẽ làm lóa mắt người đến lễ
Phật khiến họ không mở mắt ra được. Vì thế, Phật khai phương tiện, cho
phép Ngài ôm quyền chứ không cần phải chắp tay khi đứng hầu.
Ngài là người nước Ma Kiệt Ðà, con của trưởng
giả Ni Luật Ðà, gia tư giàu có không ai hơn. Vợ chồng ông Ni Luật Ðà, giàu
có nhưng không con. Nghe đồn, thần cây Tất Ða La rất thiêng nên đến cầu
nguyện nơi cây ấy bao năm vẫn không thấy linh ứng gì. Bực tức, họ giận dữ
bảo: “Nay chúng ta sẽ tận lực thờ cúng trong vòng bảy ngày, nếu không có
linh nghiệm gì sẽ đốt tiêu cây này”. Thần cây hoảng sợ cầu cứu lên Phạm
Vương. Phạm vương xem khắp thế giới này không thấy ai đáng làm con ông ta
cả. Nhân thấy có một Phạm thiên (là thân đời thứ 91 của Ngài Ca Diếp) sắp
mạng chung, liền khuyên nên đầu thai vào nhà ông Ni Luật Ðà. Do vậy, khi
sinh Ngài cha mẹ đặt tên là Tất Ða La vì từng cầu con nơi thần cây ấy.
Trong đệ tử Phật, Ngài là bậc Ðầu Ðà đệ nhất.
Ðến tuổi già vẫn tinh tấn, Phật thương Ngài già cả, bảo hãy xả hạnh Ðầu
Ðà, Ngài chỉ cười rồi vẫn thực hành như cũ. Ðức Phật khen ngợi: “Vẫn
còn người hành hạnh Ðầu Ðà thì pháp của ta sẽ tồn tại lâu dài”.
Chữ Ðầu Ðà dịch nghĩa là Ðẩu Thấu, tức là dùng
mười hai khổ hạnh để đãi sạch, gột sạch trần lao:
a. Ở a-lan-nhã (nơi tịch tịnh, không ồn náo).
b. Thường hành khất thực.
c. Khất thực theo thứ tự (không phân biệt chọn
lựa nhà để khất thực).
d. Ngày chỉ ăn một bữa.
e. Ăn có chừng mực, ăn ít.
f. Sau giờ ngọ không uống các thứ tương (nước
trái cây ép).
g. Mặc y phấn tảo.
h. Chỉ có ba y.
i. Ngồi nơi mồ mả.
j. Ngủ dưới gốc cây.
k. Ngồi nơi đất trống.
l. Chỉ ngồi không nằm.
Tam Tạng kinh điển còn tồn tại đến ngày nay là
nhờ Ngài: Sau khi Phật nhập Niết Bàn, Ngài Ca Diếp bèn triệu tập thánh
chúng, kết tập kinh điển. Hiện Ngài còn đang nhập định trong núi Kê Túc,
chờ khi Ðức Phật Di Lặc đản sanh trong nhân gian sẽ dâng y tử kim của Ðức
Phật Thích Ca lên Phật Di Lặc, rồi mới dùng Hỏa Quang tam muội thiêu thân,
nhập Vô Dư Niết Bàn.
Theo kinh Ðại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết
Nghi, Ðại Phạm thiên vương đến Linh Sơn, dâng hoa Ưu Bát La sắc vàng lên
Phật, thỉnh Phật vì chúng sanh thuyết pháp. Ðức Thế Tôn lên tòa, giơ cành
hoa cho đại chúng xem, trăm vạn nhân thiên đều ngơ ngác, chỉ mình Kim Sắc
Ðầu Ðà (Ngài Ca Diếp) mỉm cười. Thế Tôn bảo: “Ta có chánh pháp nhãn
tàng, Niết Bàn diệu mạng, Thật Tướng Vô Tướng nay giao phó cho Ma Ha Ca
Diếp”. Vì thế, Ngài là Sơ Tổ lãnh thọ tâm ấn của Phật.
d) Ma Ha Ca Chiên Diên
Còn phiên là Ma Ha Ca Ða Diễn Na, Hán dịch là
Văn Sức, ý nói lời lẽ bóng bảy. Vị tôn giả này dung mạo đoan chánh hơn
người, giỏi biện luận, sở trường về luận nghị. Mở miệng thốt ra câu nào
cũng bóng bảy văn nhã, óng chuốt phi thường khiến cho thính giả ưa thích,
khâm phục. Ðức Thế Tôn từng khen ngợi: “Trong những người thuyết pháp,
ông Ca Diên đúng là bậc nhất”. Trong các đệ tử Phật, Ngài được tôn
xưng là bậc Luận Nghị đệ nhất.
Ngài từng bị kẻ ngoại đạo theo thuyết Vô Thần
Luận cật vấn: “Kẻ ác chết đi thọ khổ theo lẽ phải trở về báo lại. Nay chết
đi không thấy trở về, cứ suy theo đó thì không có cái lý thọ sanh đời sau
vậy”. Tôn giả bảo: “Như người mắc tội trong đời, bị giam trong ngục tối,
gông xiềng, trói xích, có trốn về được không?”
Ngoại đạo lại hỏi: “Nếu vậy thì người thiện chết
đi thì được sanh lên trời, sao cũng chẳng thấy trở về?” Tôn giả đáp: “Như
người rớt xuống hầm xí, có chịu trở xuống nữa hay không? Ông phải biết là
thế gian ác trược, muốn thoát ra đã chẳng phải là dễ dàng gì, đã lên trời
rồi còn ai muốn trở xuống nữa chứ?” Qua đó, có thể thấy tài biện luận của
tôn giả như thế, vì vậy, kinh Tăng Nhất A Hàm tán dương: “Người khéo
phân biệt nghĩa, phu diễn đạo giáo chính là ông Ca Chiên Diên vậy!”
e) Ma Ha Câu Hy La:
Còn phiên là Ma Ha Câu Sắt Sỉ La, Hán dịch là
Ðại Tất (đầu gối to), vì đầu gối Ngài rất lớn. Tôn giả chính là cậu ruột
Ngài Xá Lợi Phất, thường ngày tranh luận với em gái thường thắng, nhưng
khi bà này có mang Ngài Xá Lợi Phất, ông nhiều phen thua cuộc ê chề. Do
vậy, phát phẫn tự nghĩ: “Cháu mình còn trong thai đã khiến mẹ nó giỏi đến
thế thì khi ra đời, mình làm sao cãi thắng được, chẳng thẹn thùng lắm ư?”
Ông bèn bỏ về Nam Thiên Trúc, suốt mười tám năm học tụng kinh điển Vệ Ðà,
không rảnh để cắt tóc, cắt móng tay, nên còn được gọi là Trường Trảo Phạm
Chí (đạo sĩ móng tay dài).
Mãi đến khi thành tài, về lại quê hương thì cháu
đã xuất gia. Ông bảo: “Cù Ðàm có đức hạnh gì mà dám làm thầy của cháu ta?”
Ông bèn đầu đội chậu lửa, mình khoác lá sắt, tóc rũ chấm đất, móng tay dài
cả thước dư, xông vào Phật hội, kiếm Phật tranh luận đòi cháu. Lòng hiu
hiu tự đắc không coi ai ra gì. Chợt thấy Thế Tôn, ông liền hoạnh họe: “Thu
phục được cháu ta, ngươi dùng pháp gì để dạy dỗ vậy, hãy lôi ra tranh biện
xem sao?”
Phật hỏi: “Ông lấy gì làm tông?” Câu Hy La đáp:
“Ta lấy việc chẳng thọ hết thảy pháp làm tông”. Ðức Phật bảo: “Ông lấy
‘chẳng thọ hết thảy pháp làm tông’ thì là đã thọ rồi”. Ông bị thua nhưng
vẫn kiêu mạn, Ðức Phật liền hiện thần lực khiến lá sắt bó chặt lấy ông,
chậu lửa thiêu đảnh. Ông ngất đi tỉnh lại mới phục, dốc lòng sám tạ, xin
xuất gia với Phật. Phật bảo: “Thiện lai tỳ kheo!” liền thành Tăng tướng.
Tôn giả do ngộ lý Không mà đắc đạo quả, nên còn hiệu là Ngộ Không.
Sau khi xuất gia, chỉ trong vòng ba năm, tôn giả
thông đạt pháp tạng. Vì tôn giả học rộng mọi thứ, xem khắp các sách vở,
biện tài thao thao như sóng cuộn, vấn đáp lanh lợi nên được tôn là bậc Vấn
Ðáp đệ nhất.
f) Ly Bà Ða:
Hán dịch là Tinh Tú, hoặc Thất Tinh (sao Thất),
hoặc Tuệ Tinh. Cha mẹ Ngài cầu con nơi sao ấy nên đặt tên như vậy. Ngài
còn có tên là Giả Hòa Hợp. Nguyên nhân là do một đêm kia, Ngài trú tại một
ngôi đình vắng, có một con quỷ vác một cái tử thi đi đến. Chốc sau lại có
một con quỷ lớn khác đi đến, toan cưỡng đoạt cái xác ấy, giành giật rầm rĩ
mãi. Tiểu quỷ bất đắc dĩ nhờ Ngài Ly Bà Ða phán xử. Ngài cứ tình thật phán
xử. Ðại quỷ cáu quá, xé toạc tay chân Ngài nuốt ăn, tiểu quỷ bèn lấy tay
chân của tử thi thế vào.
Ðến sáng, Ngài Ly Bà Ða sanh phiền não sâu nặng,
tự nghĩ thân này nào phải là thân ta. Giả sử thân này thực là của ta thì
chính mắt ta thấy đại quỷ xé tay chân mình ăn mất rồi. Lại nghĩ: nếu thật
là thân của người khác, thì sao tay chân này vẫn hành động theo ý mình. Vì
thế bèn hỏi người qua lại: “Ông có thấy tay tôi, chân tôi chăng?” Có một
vị tỳ kheo nghĩ người này dễ độ, bèn đọc bài kệ:
Vốn thân người khác thế,
Tạm giả hòa hợp dùng.
Ngài Ly Bà Ða liền giải ngộ nghĩa lý tứ đại giả
hợp, nhận thức hết thảy sự lý một cách rõ ràng, liền theo tỳ kheo đó về
chỗ Phật cầu xuất gia. Trong các đệ tử, Ngài được xưng tụng là bậc Vô Ðảo
Loạn bậc nhất vì những Phật pháp mà Ngài nói ra, quyết định là chính xác,
không lầm loạn. Ngài cũng là bậc Tri Huyễn đệ nhất.
g) Châu Lợi Bàn Ðà Dà:
Còn phiên là Châu Lỵ Bàn Ðặc, Hán dịch là Kế Ðạo
hoặc Lộ Biên Sanh (đẻ bên đường). Anh Ngài tên Bàn Ðà Già (dịch là Ðại Lộ
Biên), em tên là Châu Lợi Bàn Ðà Già. Phong tục ở Tây Vực là khi sắp sanh,
sản phụ thường về nhà bố mẹ ruột. Khi đang trở về, giữa đường bà mẹ Ngài
chuyển dạ sanh ra hai Ngài nên đặt tên như thế.
Theo kinh Tăng Nhất, anh Ngài đã theo Phật xuất
gia từ trước, đắc thánh quả. Khi cha mẹ mất, Kế Ðạo bèn cũng theo đi xuất
gia, nhưng tánh Ngài cực kỳ ngu độn. Xuất gia đã nửa năm, cả năm trăm vị
La Hán xúm vào dạy dỗ, Ngài vẫn không thể trì tụng nổi nửa bài kệ sau:
Thủ khẩu nhiếp ý thân mạc phạm,
Như thị hành giả đắc độ thế.
Chánh niệm quán thời dục cảnh không,
Vô ích chi khổ đương viễn ly.
(Giữ miệng, thâu ý, thân đừng phạm,
Người hành như thế, độ được đời.
Lúc chánh niệm quán, dục cảnh rỗng,
Sẽ xa lìa được khổ vô ích)
Học suốt cả ba năm vẫn chưa thuộc nổi, nhớ câu
trước quên câu sau, nhớ được câu sau liền quên ngay câu trước. Người anh
bực quá, quở trách, buộc em hoàn tục. Do thiện căn thâm hậu, lúc đương
khóc lóc ngoài cửa, bịn rịn chẳng đi, gặp đức Thế Tôn lân mẫn dạy niệm hai
chữ “tảo chửu” (quét dọn). Thế mà vẫn cứ nhớ chữ này quên chữ kia. Nhưng
nhờ Ngài vẫn cứ siêng gắng, chẳng lười, nên lâu ngày hốt nhiên chứng ngộ:
“Tảo Chửu nghĩa là trừ dơ khiến cho sạch. Như vậy là đức Thế Tôn muốn ta
đoạn trừ những dơ bẩn phiền não trong thân”. Nhờ thế, đắc quả A La Hán.
Theo kinh Ngũ Bách Ðệ Tử Bản Khởi, tôn giả trong
đời trước do xua lợn qua sông, dùng dây buộc chặt miệng nó khiến hơi thở
không thông, con lợn bị chết ngộp giữa giòng. Vì thế, Ngài bị quả báo ám
muội. Thêm nữa, trong thời Phật Ca Diếp, Ngài là một vị Tam Tạng Pháp Sư,
do tiếc pháp chẳng hóa độ chúng nên cảm ác báo ấy. Ác nghiệp đời trước mãi
đến đời này mới hết, do chứng ngộ được công dụng của việc quét dọn tịnh
thất, giải ngộ nguyên nhân của thân nên đoạn ngu, phát huệ.
Trong kinh Lăng Nghiêm, tôn giả tự bạch: “Con
thiếu tụng trì, không có tánh Ða Văn, nghe pháp xuất gia, nhớ giữ một câu
kệ của Như Lai. Trong một trăm ngày, nhớ được câu trước quên câu sau. Phật
thương con ngu si, dạy con ở yên, điều hòa hơi thở ra vào. Khi ấy, con
quán sát hơi thở một cách vi tế, hiểu cùng tận, sanh trụ, dị diệt, các
hành, sát na. Tâm con đột nhiên được được đại vô nghi, cho đến lậu tận,
thành A La Hán”. Như thế, tu hành đừng sợ độn căn, chỉ e chẳng
thể phát tâm kiên trì tu tập.
Trong các đệ tử, Ngài là bậc Nghĩa Trì bậc nhất.
h) Nan Ðà:
Còn gọi là Tôn Ðà La Nan Ðà, Hán dịch là Hoan
Hỷ. Thật ra, Tôn Ðà La (Hán dịch là Diễm: đẹp đẽ) chỉ là tên vợ. Gọi Ngài
như vậy để phân biệt với ông Phóng Ngưu Nan Ðà. Nan Ðà là em ruột Ðức
Phật, con của bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề (Kiều Ðàm Di). Ngài có ba mươi tướng
hảo, hình mạo gần tương tự như Ðức Phật, nhưng thấp hơn Ðức Phật chừng bốn
ngón tay, thân cũng sắc vàng.
Trong lễ cưới của Ngài, Ðức Phật biết thời cơ
Nan Ðà được hóa độ đã đến, bèn đến vương cung khất thực. Khi thọ trai
xong, Ngài trao bát cho Nan Ðà cầm. Vì kính mộ Phật, Ngài Nan Ðà bưng bát
hầu Phật về đến tinh xá. Ðức Phật dạy Ngài xuất gia, Nan Ðà cũng đành tuân
theo.
Tuy đã xuất gia, nhưng tâm ông vẫn tưởng nhớ đến
người vợ xinh đẹp khôn nguôi, chẳng thể chuyên tâm nhập định được. Ðức
Phật liền thị hiện thần thông đưa ông lên cung trời xem các thiên nữ để
trừ dẹp tâm niệm tham luyến sắc đẹp phàm phu của Tôn Ðà La, cũng như đưa
xuống địa ngục, chỉ cho ông thấy những gông cùm đang chờ sẵn đó. Vì thế,
Ngài Nan Ðà giác ngộ tham dục là nguồn gốc chiêu cảm khổ báo.
Tuy thế, tập khí tham dục vẫn chưa thể trừ bỏ
ngay được. Ðức Phật dạy Ngài pháp quán chú mục nhìn vào chót mũi có vết
trắng để nhiếp tâm. Kinh Lăng Nghiêm chép lời Ngài tự nói: “Lúc đầu,
tôi quán sát kỹ trong hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở trong mũi ra vào như
làn khói, thân tâm sáng suốt bên trong, thấu suốt trọn vẹn khắp cả thế
giới đều rỗng rang, thanh tịnh hệt như lưu ly. Tướng khói dần tiêu, hơi
thở thành màu trắng, tâm khai lậu tận, các hơi thở ra vào biến thành quang
minh, chiếu mười phương cõi, đắc A La Hán”.
Ðương thời, có một ngoại đạo lõa thể trứ danh
trong xứ Ma Kiệt Ðà, thường tranh luận đạo pháp với Ngài Xá Lợi Phất, kính
mộ sự huyền diệu của Phật pháp, đã sẵn mang ý niệm xuất gia. Một ngày nọ,
gặp phải Ngài Nan Ðà, bèn thốt lên: “Vị tỳ kheo loắt choắt mà còn thâm trí
bác học đến thế, huống hồ là người tướng mạo đường đường đến thế này”
(Ngài Xá Lợi Phất thân hình thấp bé). Do đó, kẻ ngoại đạo bèn theo đi xuất
gia.
Trong các đệ tử Phật, Ngài là bậc Nghi Dung đệ
nhất.
i) A Nan Ðà:
Còn phiên âm là A Nan, Át Nan, Hán dịch là Khánh
Hỷ. Ngài là em con chú của Phật, nghĩa là: Ngài A Nan là con thứ hai của
Bạch Phạn Vương (còn phiên âm là Hộc Phạn Vương). Lúc vua Tịnh Phạn được
tin Ðức Phật đã thành đạo, đồng thời nghe tin em mình là vua Bạch Phạn
cũng sanh được một hoàng tử, cho sứ sang nhờ anh đặt tên. Vua Tịnh Phạn
vui mừng nên đặt tên cho hoàng tử mới sinh là A Nan.
Năm 20 tuổi, Ngài theo Phật xuất gia. Khi được
chọn làm thị giả, Ngài bèn cầu thỉnh Phật đem hết những pháp môn đã giảng
trong 20 năm vì mình trùng tuyên lại một lượt. Nghe xong, Ngài A Nan ghi
nhớ trọn vẹn. Vì thế tôn giả Ca Diếp nói: “Nước trong biển cả Phật pháp
rót hết vào trong tâm A Nan”. Lúc Phật nhập diệt rồi, Ngài bèn chủ trì
công cuộc kết tập Kinh Tạng. Vì thế, trong hàng đệ tử Phật, Ngài được xưng
tụng là bậc Ða Văn đệ nhất.
Trong đời quá khứ, Ngài từng làm một vị trưởng
giả giàu có lớn. Nhân thấy một sa di vì hóa duyên nên không thể tụng đọc
nhiều bài kệ được, Ngài bèn phát tâm ủng hộ cúng thí thực phẩm, thức ăn để
vị sa di ấy rảnh rỗi chuyên tâm học tập kinh điển. Trưởng giả còn phát
nguyện: “Nguyện khi chú tiểu này thành Phật, tôi sẽ làm vị đệ tử đa văn
của Ngài, tất cả giáo pháp Ngài đã thuyết ra tôi đều có thể nhớ kỹ”. Do
vậy, trong kiếp này, Ngài được thỏa nguyện.
Tên Ngài đôi khi còn được dịch là Vô Nhiễm, vì
những khi theo hầu Phật vào thiên cung, long cung v.v... thuyết pháp, tâm
Ngài không hề nhiễm trước nơi sắc cảnh. Nữ giới được Ðức Phật chấp thuận
cho xuất gia làm ni cũng nhờ Ngài đặc biệt thỉnh cầu. Ðức Phật chế ra Bát
Kính Pháp, khi bà Kiều Ðàm Di và đồ chúng chấp thọ pháp ấy, Phật mới hứa
khả cho họ được làm tỳ kheo ni. Trong các ni viện Trung Hoa, thường thờ
Ngài A Nan và Ngài Kiều Ðàm Di tại Tổ Ðường để tưởng niệm ân đức là vì lẽ
đó.
Ngài A Nan được coi là tổ truyền tâm ấn thứ hai
của Thiền Tông. Vua A Xà Thế rất sùng bái Ngài, từng ước định khi nào Ngài
nhập diệt, phải cho người đến báo với vua. Khi Ngài A Nan sắp nhập diệt,
cho người đến báo tin, nhằm lúc vua đang ngủ trưa, kẻ hầu chẳng dám đánh
thức. A Nan chờ mãi không được, bèn vọt thân lên hư không, hiện nhiều
tướng thần thông biến hóa, rồi dùng lửa tam muội thiêu thân. Xá lợi rơi
xuống lất phất như mưa, rải khắp hai bờ sông Hằng. Nguyên thời ấy mọi
người rất tín phụng xá lợi, thường tranh giành nhau, thậm chí dấy động can
qua. Vì thế, Ngài nhập diệt, lưu xá lợi trên không cho rơi đều xuống hai
bên sông Hằng để ai cũng có cơ hội nhặt được xá lợi. A Xà Thế ngủ dậy,
nghe báo tin, vội vã chạy đến sông Hằng, thấy Ngài đã nhập diệt, nghẹn
ngào kêu khóc, cơ hồ muốn ngất xỉu, rồi đành lễ bái, thu thập xá lợi, trở
về nước dựng tháp cúng dường.
j) La Hầu La
Còn phiên âm là La Vân, La Hỗ La, Hán dịch là
Chấp Nhật hoặc Phú Chướng (ngăn che), hàm nghĩa:
- Chướng tự: đời quá khứ, La Hầu La làm một vị
lão tăng tu hành, gần chỗ Ngài tu luyện có một cái hang chuột. Mỗi lúc vị
lão tăng tịnh tọa, con chuột thường chạy ra, chạy vào lăng xăng khiến vị
lão tăng không thể yên tâm tịnh tọa được. Bực quá, nhưng không thể phạm
sát giới, Ngài bèn dùng tấm da dày bịt kín hang chuột, khiến chuột bị kẹt
trong đó suốt sáu ngày. Ðến ngày thứ bảy, sợ chuột chết đói, Ngài lại dở
tấm da ra cho chuột được ra ngoài như cũ nên đời này phải ở trong thai sáu
năm mới sanh.
- Chướng Phật: Lúc Phật còn là Thái Tử, phụ
vương chẳng chấp thuận cho Ngài đi xuất gia, Thái Tử bảo: “Nếu đạt được ba
điều chẳng già, chẳng bệnh, chẳng chết, con sẽ không đi xuất gia”. Tịnh
Phạn Vương không biết làm sao, bảo: “Nếu ngươi có con, ta sẽ cho ngươi đi
xuất gia”. Tương truyền, Thái Tử từng lấy tay xoa bụng bà Da Du Ðà La, ước
nguyện: “Hãy chóng có con!” Bà Da Du liền cấn thai. Nhờ vậy, Thái Tử mới
được xuất gia. Nhân vì Phật bị chướng ngại như thế chẳng sớm được xuất gia
nên mới gọi là “chướng Phật”.
- Chướng mẫu: Sau khi Ðức Phật xuất gia đã sáu
năm rồi, Ngài La Hầu La mới được sanh ra, Tịnh Phạn Vương nghi ngờ bà Da
Du đã lén làm điều bất chánh nên phẫn nộ toan giết chết. Da Du tự tin mình
trong trắng, nhưng oan uổng khó phân, bèn xin được nhảy vào hầm lửa tự
sát. Khi ấy, bà bồng con, ngửa mặt lên trời phát đại thệ: “Nếu tôi làm
điều sai quấy, mẹ con tôi cùng bị lửa thiêu, chết chẳng hối. Nếu đúng là
con Thái Tử, xin trời làm chứng”. Nói rồi, bồng con nhảy xuống hầm lửa.
Thật là chẳng thể nghĩ bàn, lửa đỏ hóa thành sen hồng, lại có thiên nhân
đỡ lấy thân bà Da Du, hai mẹ con không bị tổn hại gì. Khi ấy, Tịnh Phạn
Vương và toàn dòng họ Thích chính mắt trông thấy việc ấy, nên mới tin là
thực. Người trong nước cũng thôi xì xào. Vì thế, gọi là “chướng mẫu”.
Trong quá khứ, có hai vương tử, anh tên Nhật, em
tên Nguyệt. Sau khi phụ vương băng hà, anh lên nối ngôi, sau nhàm chán
vinh hoa, phú quý, nhường ngôi lại cho vương tử Nguyệt, theo Phật xuất
gia, tinh trì cấm giới, không chút thiếu sót. Một ngày nọ, do đêm tối,
dùng lộn tịnh bình của người khác, bèn đánh chuông nhóm Tăng sám hối.
Chúng Tăng thấy lỗi ấy quá nhẹ nên chẳng chịu cho ông tác pháp sám tạ. Ông
càng ưu sầu hơn nữa, bèn vào cung bẩm với Nguyệt vương, xin sám hối tội
trộm cắp. Nguyệt vương chẳng muốn trái ý anh nên sai tả hữu giam anh vào
một căn phòng. Khổ nỗi vua ham mê dục lạc, quên bẵng chuyện ấy, cả sáu
tháng không xử đến. Kiếp này, Nguyệt vương thành Ngài La Hầu La, do tội
báo trên, cảm quả phải ở trong thai sáu năm.
Theo Ngài Khuy Cơ, Thái Tử Tất Ðạt Ða chỉ vào
bụng vợ, vợ liền có mang, biểu thị đứa con sanh ra sẽ khác phàm chúng, là
tướng linh dị đặc biệt. Sáu năm trong thai biểu thị sanh ra thể chất khác
lạ. Quốc vương nghi báng, quần thần gièm pha, mẹ con gieo mình vào lửa
không cháy, lửa đó hóa ao sen, vua tôi mới biết đức Thích Ca đã lìa nhiễm
dục từ lâu, hiển thị La Hầu La ngầm tu mật hạnh.
Năm lên 9 tuổi, Phật sai Ngài Mục Liên về đón La
Hầu La cho thí phát xuất gia làm sa di. Ngoài mặt, La Hầu La làm ra vẻ như
một vị vương tử quen thói nuông chiều, bướng bỉnh, nhưng trong thì dụng
công tinh tấn tu hạnh Bồ Tát không ai bằng, chứng đắc Tứ Quả rất sớm. Bởi
thế, Ngài được ca ngợi là vị thánh tăng Mật Hạnh bậc nhất. Ðức Phật từng
tán thán: “Mật hạnh của La Hầu La chỉ mình đức Phật biết nổi, người
khác chẳng biết được”.
k) Kiều Phạm Ba Ðề:
Còn phiên là Cấp Phòng Bát Ðể, Hán dịch là Ngưu
Ty (trâu nhơi) hoặc Ngưu Tướng. Do trong đời quá khứ, Ngài làm một tiểu sa
di, nhân thấy một vị lão tăng không răng niệm Phật, tụng kinh, liền cười
ghẹo là trông giống như trâu đang nhai cỏ. Lão tăng ấy đã chứng quả A La
Hán, liền bảo sa-di phải chí tâm sám hối. Tuy lúc ấy, sa-di đã chí tâm sám
hối, nhưng vẫn bị mắc quả báo làm trâu năm trăm đời. Dù phải làm thân
trâu, nhưng nhờ sức trì giới, tu phước nên luôn làm trâu chúa. Nay tuy
xuất gia chứng quả, dư báo vẫn chưa hết, miệng luôn nhai nhóp nhép như
trâu nhơi nên mang tên ấy.
Ðức Phật sợ đại chúng chỉ thấy tướng xấu ấy,
không biết đến đức của Ngài mà khinh bỡn, cười ghẹo, phải mang lấy tội
khiên, nên bảo tôn giả ngự trên cõi trời Ðao Lợi, ở trong vườn Thi Lợi Sa
tu tập Thiền Ðịnh, thọ sự kính phụng của chư Thiên. Vì vậy, trong các đại
đệ tử của Phật, tôn giả Kiều Phạm Ba Ðề là bậc Thọ Thiên Cúng bậc nhất.
Khi tôn giả Ca Diếp triệu tập thánh tăng kiết
tập kinh điển lần thứ nhất, Ngài sai một A La Hán trẻ tuổi lên cung trời,
thỉnh Ngài Kiều Phạm Ba Ðề trở xuống nhân gian tham gia hội nghị kiết tập.
Tôn giả nghe Ðức Phật và Ngài Xá Lợi Phất đều đã nhập diệt, bèn hóa một
dòng nước tuôn từ cõi trời chảy xuống hạ giới. Trong nước, vang ra tiếng
nói:
Kiều Phạm Ba Ðề xin kính lễ,
Thập phương thánh chúng đại đức Tăng
Voi chúa đi rồi, voi con theo,
Thế Tôn nhập diệt, tôi cũng tịch.
Nói xong, liền bay lên hư không hiện thần thông,
nhập Hỏa Quang tam muội mà tịch diệt. Xá lợi từ trên không rơi xuống, chư
thiên nhặt lấy dựng tháp cúng dường.