II. HIỂN
THỂ (minh định thể
tánh của kinh này)
“Thể” là thể tánh (bản thể, bản chất). Thể tánh
của một bản kinh được gọi là Giáo Thể, đôi khi còn gọi một cách tổng quát
là Lý Thể. Theo đại sư Bân Tông: “Lìa hết thảy các tướng thì gọi là
Tánh; chỗ hết thảy các nghĩa quy về gọi là Lý. Nghĩa trọng yếu của các
pháp gọi là Thể”. Phô bày minh bạch yếu chỉ của một bản kinh, nêu rõ
chỗ quy hướng của các giáo nghĩa được dạy trong kinh ấy thì gọi là “hiển
thể”.
Nói một cách khác, hiển thể một bản kinh chính
là minh định chân lý sẽ được phô diễn bởi bản kinh ấy. Một bản kinh nếu
không có Thể thì thành ra ma thuyết, ví như một kẻ chỉ có cái tên, chẳng
có thân thể thật. Mỗi một câu, một chữ trong kinh Phật đều nhằm mục đích
vận dụng ngôn ngữ, danh tự để người nghe lãnh hội được chân lý. Bởi vậy,
muốn thể hội được huyền nghĩa của kinh, điều tiên quyết là phải nhận chân
thể tánh của kinh ấy là gì.
Nói chung, tất cả các kinh Ðại Thừa đều lấy
Thật Tướng làm Thể.
Thật Tướng chính là cái tâm hiện tiền của chúng
ta, vô hình, vô tướng, chẳng sanh, chẳng diệt, rỗng rang, bao trùm vạn
pháp, không sót một mảy gì. Muôn pháp sanh diệt chỉ là những điều hư vọng
ảnh hiện trong tâm.
Chân tâm của ta dẫu suốt ngày ở trong vọng,
nhưng luôn chân thường. Tâm ấy dẫu hằng tiếp xúc với muôn vật, muôn pháp,
vẫn thường sáng tỏ, phân biệt mọi sự, mọi pháp rõ ràng không chướng ngại.
Kinh thường diễn tả bằng câu “linh quang độc diệu, hồi thoát căn trần”
(có thể tạm hiểu là: xét về bản thể, tâm ấy thiêng liêng, sáng suốt, duy
nhất, chiếu rực, không vướng vào căn, trần. Gọi là thiêng liêng vì tác
dụng nhận biết của tâm ấy luôn hiện hữu, không bị biến cải, không sai sót.
Sáng suốt vì không bị trần cảnh làm ô nhiễm. Tâm ấy nhận thức rõ mọi pháp
không ngăn ngại nên gọi bảo là chiếu rực. Tâm Phật và tâm chúng sanh đồng
một thể nên gọi là duy nhất)
Thật Tướng có thể chia thành hai loại:
1. Vô Tướng Thật Tướng: lìa hết thảy
tướng điên đảo, hư vọng chính là Thật Tướng chân như, bình đẳng.
2. Vô Bất Tướng Thật Tướng: trong các
pháp sanh diệt, tồn tại một tánh bất sanh, bất diệt. Tướng sanh diệt hư
vọng ấy chỉ là biệt tướng (tướng riêng của mỗi pháp). Những tướng sanh
diệt hư vọng ấy dù thiên sai vạn biệt, nhưng đều không có thực thể, cho
nên gọi là “vô tướng”. Nhưng tánh bất sanh bất diệt lại chân thật chẳng hư
vọng, chúng sanh và Phật đồng một thể, thánh phàm chẳng hai. Cái Chân Như
thật tánh bình đẳng ấy lại chẳng phải là vô tướng, nên gọi là “vô bất
tướng”.
Ðể dễ hình dung xin mượn một thí dụ: sóng phát
sanh từ nước, sóng chính là nước. Sóng có to nhỏ, nhưng tánh ướt chẳng
đổi. Cũng thế, tánh Chân Như bình đẳng bất biến, nhưng tùy duyên có thể
sanh khởi những tướng trạng sai biệt cho vạn vật, tùy duyên nhưng bất
biến. Bởi thế, xét đến bản chất thì mọi tướng trạng sai biệt của vạn pháp,
không tướng nào chẳng lấy tánh Chân Như bình đẳng làm thể.
Nếu xét tỷ mỉ, mỗi kinh lại lấy một khía cạnh
của Thật Tướng làm thể. Chẳng hạn, kinh Hoa Nghiêm lấy “nhất chân pháp
giới” làm thể, kinh Lăng Nghiêm lấy Như Lai Tạng Diệu Chân Như tánh làm
thể.
Riêng về kinh Di Ðà, chư sư cùng đồng ý kinh
này lấy Thật Tướng làm tổng thể. Pháp sư Văn Châu giải thích:
“Kinh này chú trọng niệm Phật đến nhất tâm bất
loạn, đấy chính là Thật Tướng mà cũng chính là Chân Như. Vì thế, cũng
giống như các kinh điển Ðại Thừa khác, kinh này lấy Thật Tướng ấn làm giáo
thể...
Nếu xét trên phương diện sự tướng niệm Phật,
phải lấy sự trang nghiêm của y báo, chánh báo cõi Cực Lạc làm Thể.
Ðối với bậc thượng căn lợi trí, từ hữu tướng
niệm Phật, họ sẽ đạt đến vô tướng niệm Phật, hiểu thấu suốt một niệm hiện
tiền chẳng phải ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa, chẳng phải
quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, chẳng phải ngắn
dài, vuông, tròn, thậm chí vô phi, bất phi, lìa hết thảy tướng tức là hết
thảy pháp. Ngay khi đó, Pháp Thân hiển hiện, Tịch Quang hiển hiện, còn
phân biệt gì là y báo, chánh báo trang nghiêm nữa! Bởi thế giáo thể của
kinh này hoàn toàn là Thật Tướng.
...Y báo, chánh báo trang nghiêm của cõi Phật
Di Ðà đều phát xuất từ Chân Như tự tánh, cho nên kinh này lấy Chân Như
Bình Ðẳng Thật Tướng làm Thể”.
Riêng về biệt thể, pháp sư Bân Tông cho rằng
kinh này lấy bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh làm thể. Bân pháp sư giảng như
sau:
“Vô sanh, vô diệt, thường hằng bất biến là
Thường. Tịch diệt, vĩnh viễn an ổn, vĩnh viễn xa lìa các nỗi khổ là Lạc.
Tự tại giải thoát, chân như vô ngại là Ngã. Lìa hết thảy trần, tuyệt các
cấu nhiễm là Tịnh.
...Trước hết, minh định bốn đức của Y Báo:
- Cõi ấy không có thành, trụ, hoại không; ấy là
Thường.
- Có lầu gác bảy báu, lưới giăng, cây báu mọc
thành hàng, ao tắm, chim quý, thiên nhạc v.v... vô lượng trang nghiêm, mỗi
mỗi đều vừa lòng thỏa ý. Ðó là Lạc.
- Thế giới Cực Lạc trang nghiêm thù thắng, việc
gì cũng như ý, mọi thứ hóa hiện, không có cảnh trái nghịch, luôn có niềm
vui tùy thuận. Ðó là Ngã (Ngã có nghĩa là Tự Tại).
- Thế giới Cực Lạc hoàng kim làm đất, bảy báu
làm ao, tất cả mọi vật đều thanh tịnh trang nghiêm, có năm niềm vui thanh
tịnh, không có nỗi khổ ngũ trược.
Ðó chính là Lạc.
Tiếp đến minh định bốn đức của Chánh Báo:
- Thọ mạng của Ðức Phật và chúng sanh vãng sanh
cõi ấy đều vô lượng, kéo dài bao kiếp chẳng tận. Ðó là Thường.
- Hết thảy hữu tình sanh về cõi ấy liền được
thân tâm tịch chiếu, vĩnh viễn không có phiền não. Ðó chính là Lạc.
- Một phen đã vãng sanh cõi ấy, liền đoạn diệt
được ngũ trụ (2), vĩnh viễn lìa khỏi nhị tử (phần đoạn và biến dịch sanh
tử), được đại tự tại. Ðấy chính là Ngã.
- Trong thế giới Cực Lạc, chúng sanh niệm Phật
được vãng sanh về đấy đều là liên hoa hóa thân, thanh tịnh, nhiệm mầu thù
thắng, tướng hảo trang nghiêm; tấm thân ô uế do tứ đại giả hợp thành của
chúng sanh cõi Sa Bà làm sao so sánh được! Ðấy chính là Tịnh.
Lại nên biết rằng: tứ đức (Thường, Lạc, Ngã,
Tịnh) là tự tánh Di Ðà, mà cũng chính là Phật tánh sẵn có của mỗi người
chúng ta, còn gọi là Pháp Thân. Mê thì là chúng sanh, ngộ thì thành chư
Phật. Nếu ai phát tâm niệm Phật, liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc, hoa
nở gặp Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn, thân chứng Pháp Thân.
Pháp Thân ấy bất sanh, bất diệt, chẳng đến,
chẳng đi, chính là Thường đức. Pháp Thân rốt ráo tịch diệt, vĩnh viễn lìa
khỏi sanh tử, tức là Lạc đức. Pháp Thân tự tại vô ngại, rốt ráo giải
thoát, tức là Ngã đức. Pháp Thân tuyệt các cấu nhiễm, vốn sẵn thanh tịnh,
tức là Tịnh đức...
Hơn nữa, kinh chép: ‘Ðều được bất thoái chuyển
nơi A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề’ là nghĩa Thường. Lại chép: ‘Không có
các điều khổ, chỉ hưởng các điều vui’ là nghĩa Lạc. Lại chép: ‘Tự nhiên
đều sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Người ấy lúc mất tâm không
điên đảo’ là nghĩa Ngã. Lại chép: ‘Nhất tâm bất loạn’ là nghĩa Tịnh”.
III.
HIỂN MINH TÔNG THÚ
(minh định tông thú của kinh này)
Tông nghĩa là sùng phụng, là điều được kinh đề
cao. Tông chính là đường lối trọng yếu để tu hành. Mục đích của tu hành là
khế hội bản thể; do đó, Tông chính là mấu chốt để thực hiện mục đích ấy.
Thú là chỗ Tông quy kết về.
Trong phần trước đã biện minh về Thể, ấy là
Tánh đức. Phần này luận về Tông Thú, đấy chính là Tu đức. Từ tánh khởi tu,
toàn tu tại tánh. Tánh đức là điều ai cũng sẵn có, nhưng Tu đức là điều
mỗi cá nhân phải nỗ lực tu tập để thành tựu.
Kinh này lấy “Tín, Nguyện, Trì Danh” làm Tông;
lấy việc “vãng sanh, viên chứng ba thứ Bất Thoái” làm Thú.
Ba thứ Tín, Nguyện, Trì Danh (hay còn gọi là
Tín, Nguyện, Hạnh) thường được gọi chung là Tư Lương. Ði xa cần phải dắt
theo tiền bạc hòng chi dụng, đó gọi là Tư. Mang theo thức ăn, nước nôi, đó
là Lương. Như vậy, Tư Lương chính là những phương tiện, vật dụng cần thiết
cho bất cứ cuộc hành trình nào.
Trong ba thứ Tư Lương nói trên, Tín là mấu
chốt. Nếu niệm Phật tinh tấn nhưng vẫn chưa thể tin chắc mình sẽ được vãng
sanh, chưa tin chắc vào bi nguyện của Phật Di Ðà lẫn cõi Tịnh Ðộ thì chẳng
thể phát nguyện chân thành, thiết tha. Nếu tín, nguyện không có thì chẳng
thể duy trì hạnh Trì Danh lâu dài được! Nếu thật sự tin sâu, nguyện thiết
thì tự nhiên sanh khởi diệu dụng Trì Danh.
1. Tín:
Tín là đoạn trừ hết thảy ngờ vực, nhưng lòng
tin ấy do sự hiểu biết phát xuất từ trí, chứ không phải là tin tưởng một
cách mù quáng.
Tín gồm có bảy điều sau:
a. Tin vào lời Phật dạy:
Tin rằng pháp môn Niệm Phật đây chẳng phải do
tà ma, ngoại đạo, quỷ thần vọng thuyết, mà do chính kim khẩu của đức Thích
Tôn đích thân giảng ra. Ðức Phật là đại đạo sư của tam giới, là cha lành
của bốn loài, là bậc quyết định không dối trá. Cổ đức đã nói: “Phật
ngôn bất tín, thùy ngôn khả tín?” (chẳng tin lời Phật thì còn tin lời
ai được nữa?) Do vậy, phải tin vào lời Phật, đừng nhận lầm kinh này chỉ là
do Ðức Phật giả lập phương tiện, Cực Lạc là cảnh giới tưởng tượng, để đến
nỗi tạo tội báng pháp như “tăng” Nhật Liên (khai tổ Tân Pháp Hoa Tông của
Nhật Bản) dám phỉ báng kinh A Di Ðà này là ngụy tạo.
Hơn nữa, pháp môn Niệm Phật được đề cập đến rất
nhiều trong các kinh khác. Các pháp môn Tiểu Thừa, Quyền giáo đến thời
Pháp Hoa - Niết Bàn đều bị bài xích, nhưng chưa hề thấy trong kinh điển
nào Ðức Phật lại chỉ trích pháp môn này là quyền tạm, là phương tiện cả!
Ngoài ra, khi Ðức Phật thuyết kinh này, sáu
phương chư Phật đều dị khẩu đồng âm xưng dương, tán thán. Ngay cả bản kinh
được xưng tụng là “chúng kinh chi vương” (vua của mọi kinh) là kinh Pháp
Hoa cũng chép: “Người tụng kinh này (kinh Pháp Hoa) khi mạng chung sẽ
sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Ðà”. Vua trong Tam Tạng, được
thế gian xưng tụng là mẹ của các kinh, tức là kinh Hoa Nghiêm, ngay trong
phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện cũng quy hướng vãng sanh Tịnh Ðộ. Kinh báu của
nhà Thiền là kinh Lăng Nghiêm, trong chương Thế Chí Niệm Phật Viên Thông
cũng dạy: “Nhớ Phật, niệm Phật, tương lai nhất định thấy Phật”.
Kinh Ban Châu Tam Muội chép: “Bồ Tát nhập
tam muội này liền thấy A Di Ðà Phật”. Kinh Mục Liên Sở Vấn chép:
“Ta bảo cõi nước Vô Lượng Thọ dễ về, dễ sanh, mà không ai chịu tu hành
vãng sanh, ngược lại còn thờ phụng 96 phái ngoại đạo. Ta bảo kẻ ấy [là
hạng] không mắt, không tai!” Các kinh Bi Hoa, Ðại Vân, Ðại Tập, Quán
Phật Tam Muội, Thập Trụ Ðoạn Kết, Văn Thù Bát Nhã, Bảo Tích, Tọa Thiền Tam
Muội... đều đề xướng pháp môn Niệm Phật.
Các bộ luận Ðại Thừa cũng đề xướng pháp môn
Niệm Phật, chẳng hạn như Ðại Trí Ðộ Luận chép: “Niệm Phật diệt trừ được
các thứ phiền não và các tội nghiệp từ đời trước... [cho đến] niệm Phật có
đại phước đức, độ được chúng sanh.... phước đức của các tam muội khác
chẳng bằng được phước đức của Niệm Phật Tam Muội”. Tỳ Bà Sa Luận gọi
Niệm Phật là đạo dễ hành, mau thoát sanh tử. Luận chép: “Phật có vô
lượng pháp môn, như đường đi trên thế gian có dễ, có khó. Ði bộ thì khó,
ngồi thuyền thì dễ. Muốn dễ được sanh hãy nên mau niệm A Di Ðà Phật”.
Các bộ luận khác như Ðại Thừa Khởi Tín Luận của Bồ Tát Mã Minh, Vãng Sanh
Tịnh Ðộ Luận của Ngài Thế Thân, Thập Nghi Luận của tổ Trí Khải, Nhiếp Ðại
Thừa Luận, Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận... đều cực lực đề xướng pháp
môn Niệm Phật.
Ngoài ra, trên thì như các vị thượng thủ Bồ Tát
như Văn Thù, Phổ Hiền, Long Thọ, Mã Minh đều phát nguyện vãng sanh. Chư tổ
sư như Ngài Lô Sơn Huệ Viễn, Bách Trượng thiền sư, Thanh Lương Quốc Sư
(Ngài Trừng Quán), Linh Chi Nguyên Chiếu luật sư, Tử Bách Lão Nhân, U Khê
đại sư, Trí Húc Linh Phong đại sư, Vân Thê Liên Trì đại sư, Hám Sơn đại
sư... đều nhiệt thành hoằng truyền, tán dương Tịnh Ðộ.
Cận đại, bậc cao tăng nhà Thiền là Hư Vân Hòa
Thượng, ngôi Thái Sơn Bắc Ðẩu của Thiên Thai tông là Ðế Nhàn pháp sư (xem
tập Khai Thị Niệm Phật Khẩn Yếu), đại sư Thái Hư thuộc tông Duy Thức (xem
Tịnh Ðộ Pháp Môn Tập), Hoằng Nhất đại sư bên Luật Tông (xem tác phẩm Nhân
Sanh Tối Hậu) ngoài việc hoằng dương tông mình, đều cực lực xiển dương
pháp môn Tịnh Ðộ.
Hãy thử nghĩ: Ðại Tạng Kinh đầy dẫy kinh luận,
ngữ lục tán dương Tịnh Ðộ, lịch đại hiền triết đích thân tu tập, thành tựu
vãng sanh; vậy thì Cực Lạc có phải là cõi tưởng tượng hay không? Kinh Di
Ðà có phải là lời ngụ ngôn của đức Phật Thích Ca hay không?
b. Tin vào Phật nguyện:
Chữ Phật ở đây chỉ đức A Di Ðà Phật, nguyện là
nguyện lực, tức biển thệ nguyện lực vô biên của đức A Di Ðà Như Lai chân
thật, không dối. Chúng ta phải tin rằng: Y báo, chánh báo trang nghiêm của
cõi Cực Lạc chính là do lực dụng vĩ đại của Phật đại nguyện lực tạo thành.
Trong quá khứ, Ngài đã phát thậm thâm hoằng nguyện, bao đời tu hành khổ
hạnh, chẳng thoái thất tâm ban đầu, nguyện nguyện trang nghiêm Tịnh Ðộ,
tạo thành thế giới Cực Lạc thù thắng khôn sánh. Phật là bậc đại thánh
nhân, tuyệt đối không thệ nguyện hư huyễn. Bốn mươi tám nguyện của Từ Phụ
Di Ðà siêu tuyệt thệ nguyện của chư Phật, nên cổ đức tán thán: “Thập
phương tam thế Phật, A Di Ðà bậc nhất”.
c. Tin vào cõi Phật:
Tin cõi Cực Lạc thù thắng trang nghiêm, vượt
trỗi hết thảy các cõi Tịnh Ðộ trong mười phương. Mỗi mỗi sự tướng trong
cõi ấy đều thù thắng khôn sánh, đều phát xuất từ lực dụng A Di Ðà Như Lai
đại thệ nguyện hải.
d. Tin vào pháp môn:
Tin pháp môn Niệm Phật độ khắp ba căn, thượng
căn là bậc Ðẳng Giác như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù v.v..., trung căn như
chư tổ Tây Thiên, Ðông Ðộ: Long Thọ, Mã Minh, Huệ Viễn, Ngẫu Ích, Liên Trì
v.v... ; hạ căn như kẻ ngu phu, ngu phụ, ngũ nghịch, thập ác, chim vẹt,
chim sáo v.v... Hễ ai chịu phát tâm niệm Phật cầu được vãng sanh thì đều
được đới nghiệp vãng sanh, được Phật từ bi rủ lòng tiếp dẫn. Dẫu là hàng
Ðẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng thoát khỏi phạm vi tiếp độ của pháp môn này.
Bởi thế, pháp môn Niệm Phật chính là tu trọn muôn hạnh, một câu hồng danh
trọn đủ vạn đức. Hành nhân Tịnh Ðộ phải tin pháp môn này là tối thắng, tối
diệu, bất tất phải tu kèm các pháp môn khác. Pháp môn này chắc chắn độ
chúng sanh vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử, rốt ráo thành Phật. Dù hành nhân
còn đầy dẫy phiền não vẫn có thể đới nghiệp vãng sanh, đắc bất thoái
chuyển.
e. Tin vào tự tâm:
Bổn tánh của chúng ta linh giác bất muội, chân
tâm ta thường trụ bất biến, chẳng hề khác biệt gì với chân tâm của đức Di
Ðà. Nhưng từ vô thỉ đến nay, tâm ta bị phiền não che lấp, nên phải luân
hồi sanh tử chẳng ngơi. Nhất tâm niệm Phật, dùng vạn đức hồng danh của
Phật Di Ðà huân tập tâm ta, sẽ tiêu diệt được nghiệp chướng trong ức kiếp
sanh tử. Khi hoặc chướng đã tiêu trừ hết thì sẽ tự nhiên chứng đắc Chánh
Giác.
Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Hết thảy chúng sanh
vốn sẵn đủ tướng đức, trí huệ của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước
nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên
Trí, Vô Ngại Trí đều sẽ hiện tiền”. Bởi đó, duy tâm Tịnh Ðộ ai cũng có
phần, đừng tự khinh mình là phàm phu, nghiệp nặng cấu dày, chẳng có duyên
phận chi với cõi Cực Lạc. Tuy ta là phàm phu điên đảo mê hoặc, nhưng chân
tâm này chẳng mất. Nếu một niệm hồi quang phản chiếu, giữ chắc Phật hiệu,
quyết sẽ được vãng sanh. Tâm tánh chúng ta vốn chẳng thể nghĩ bàn, A Di Ðà
Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, sáu chữ hồng danh cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Dùng tâm chẳng thể nghĩ bàn trì niệm danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn để vãng
sanh về cõi nước thù thắng do nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn tạo thành là
chuyện thập phần xác đáng, còn ngờ chi nữa!
f. Tin vào sự lý:
Tin vào sự lý viên dung.
* Tin Sự là tin ở phía Tây thế giới Sa Bà này,
cách đây mười vạn ức cõi Phật, quả thật có cõi Cực Lạc, chúng sanh cõi ấy
không có các nỗi khổ, y báo, chánh báo trang nghiêm. Nếu chúng ta trong
một đời này tin sâu, nguyện thiết, chắc thật trì danh, sẽ chắc chắn được
liên hoa hóa sanh, vĩnh viễn thoát khỏi khổ nạn, đắc đại giải thoát.
Nếu có kẻ cật vấn:
- Ðại Thừa Bát Nhã dạy hết thảy pháp là không.
Nếu hết thảy đã là không, sao còn có thuyết “thật có cõi Tây Phương Cực
Lạc?” Kinh luận còn dạy: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” thì
làm sao ở ngoài tâm thức, lại có thể có tịnh độ của chư Phật được?
Ðáp:
- Ôi chao! Lời nạn ấy thật là vì chưa hiểu rõ
đạo lý “viên dung nhất thật” của nhà Phật vậy! Phải biết rằng nhà Phật nói
“không” đó là để phá chấp, tức là đối với Có mà nói Không. Nhưng Có mà
chẳng phải Có mới là Diệu Hữu, Không chẳng phải là Không mới là Chân
Không. Nên biết rằng hết thảy pháp đều do nhân duyên sanh, vốn chẳng có tự
tánh. Duyên sanh bèn có, duyên diệt thành không. Do vô tự tánh nên bảo hết
thảy pháp là không. Do vì duyên sanh nên bảo hết thảy pháp là có. Bởi vậy
mới bảo là Chân Không chẳng lìa Diệu Hữu, Diệu Hữu chẳng ngại Chân Không.
Thế nên duy tâm chẳng ngại Tịnh Ðộ, Tịnh Ðộ cũng chẳng phương ngại gì đến
cái Không của duy tâm. Nếu bảo: “Duy tâm tịnh độ, tịnh độ duy tâm”
thì còn đúng; chứ khăng khăng chỉ có chân không, chẳng hề có Tịnh Ðộ, thì
sẽ thành ra mâu thuẫn.
Hơn nữa, một niệm hiện tiền của chúng ta chẳng
thể cùng tận, mười phương thế giới do tâm ta biến hiện cũng chẳng thể cùng
tận. Kinh dạy: “Hư không vô tận, thế giới vô tận”. Thế nên chẳng
những chỉ cõi Tây Phương Cực Lạc tồn tại, mà cõi thế giới Lưu Ly ở phương
Ðông, vô lượng các thế giới cũng mỗi mỗi đều chắc chắn tồn tại.
* Tin Lý là:
Một niệm tâm hiện tiền của chúng ta đây xét
theo chiều dọc thì trùm khắp ba đời, xét theo chiều ngang thì chứa trọn
mười phương. Bởi thế mới nói: “Vô biên cõi nước, tự - tha chẳng cách
mảy lông”. Mười vạn ức cõi nước khác gì ở ngay trước mắt! Phật tâm bao
gồm khắp tất cả, tâm ta cũng bao gồm khắp tất cả, cõi nước cũng bao trùm
khắp tất cả, như ánh sáng của ngàn ngọn đèn đặt trong một căn nhà, trùng
trùng giao thoa, soi sáng lẫn nhau chẳng hề trở ngại. Y báo, chánh báo,
chủ - bạn cõi Tây phương đều hiện bóng trong một niệm tâm hiện tiền của
chúng ta. Toàn thể sự chính là lý, toàn bộ vọng chính là chân, toàn thể
Tha chính là Tự, nào nhọc phải tìm cầu tự tánh đâu xa, chính nội tâm là
Phật Di Ðà.
Nhưng chẳng nên chấp lý bỏ sự, cũng chẳng thể
chấp sự mê lý. Chấp lý phế sự thì lý chẳng thể viên dung. Chấp sự mê lý
thì công hạnh chẳng cao. Nhưng thà cứ chấp sự mà siêng năng tu tập ắt sẽ
chẳng uổng công, quyết được vãng sanh! Nếu chấp lý, hoàn toàn không dụng
công thực hành, chỉ e mắc phải họa Thiên Không. Bởi vậy, nếu có thể viên
dung giải ngộ lý sự một cách sâu xa thì mới là tận thiện, tận mỹ vậy!
g. Tin vào nhân - quả:
Cái có khả năng sanh trưởng là Nhân, giống như
hạt giống; cái do nhân ấy được thành tựu gọi là Quả. Lại nữa, việc làm ban
đầu là Nhân, cảm thọ hậu báo là Quả. Nhân nào, quả nấy là lẽ tự nhiên. Mọi
việc trên thế gian này không việc gì chẳng do Nhân mà kết thành Quả cả.
Nay ta phát một niệm chân tâm, niệm Phật là
Nhân, quyết định vãng sanh thế giới Cực Lạc, rốt ráo thành Phật là Quả.
Dẫu tán tâm xưng danh vẫn kết thành hạt giống Như Lai, vãng sanh Tịnh Ðộ;
huống hồ là niệm được nhất tâm bất loạn, lẽ nào chẳng được vãng sanh ư?
2. Nguyện:
Nguyện là phát nguyện vãng sanh. Dẫu có lòng
tin sâu đậm, nhưng nếu chẳng phát nguyện vẫn khó lòng thành tựu, chẳng đạt
được lợi ích thực sự. Cũng như bệnh nhân nghe bác sĩ bảo có thứ thuốc nọ
rất hay, cũng tin tưởng là thứ thuốc ấy rất tuyệt, nhưng chẳng chịu uống
thuốc. Ðã không chịu uống thuốc, còn mong lành bệnh sao được!
Ðã biết Sa Bà là khổ, là nhơ uế, thì cần phải
buông bỏ, phải chán lìa. Ðã biết Tây Phương là vui, là thanh tịnh, thì
phải nên cầu, nên ưa thích. Ðấy mới chính là mục đích của hành nhân Tịnh
nghiệp.
Nguyện gồm có sáu điều:
a. Nguyện bỏ hết thảy các phiền não tham, sân,
si... nhất tâm cầu sanh Cực Lạc.
b. Nguyện từ nay trở đi vĩnh viễn chẳng khởi
các ác nghiệp để khỏi đọa vào tam ác đạo, cầu sanh Cực Lạc.
c. Nguyện bao nhiêu thiện nghiệp đã tạo chẳng
vì cầu sanh trong cõi trời người thọ hưởng phú quý, chuyên tâm nhất ý hồi
hướng, nguyện cầu vãng sanh Cực Lạc.
d. Nguyện dù gặp phải tai nạn, nghịch cảnh,
bệnh khổ đến thế nào đi nữa, trọn chẳng thay đổi tấm lòng niệm Phật.
e. Nguyện bao nhiêu công đức do trì giới, bố
thí, tụng kinh, lễ Phật... đều hồi hướng về Tịnh Ðộ, để làm trợ duyên cho
việc vãng sanh.
f. Nguyện pháp giới hết thảy chúng sanh cùng
phát tâm niệm Phật, cùng sanh Cực Lạc.
Nói tóm lại, nguyện tâm tha thiết, vãng sanh
chẳng khó gì! Nếu chẳng phát nguyện, hoặc nguyện tâm chẳng tha thiết sẽ
trọn chẳng được sanh về thế giới Cực Lạc. Dẫu có lòng tin thì lòng tin ấy
cũng chỉ là hư dối, chẳng thọ hưởng lợi ích thật sự nào; bởi thế phải nên
phát nguyện chân thành, tha thiết.
3. Trì
Danh:
Trì là chấp trì (nắm giữ), Danh là danh hiệu.
Vì sao cần phải trì danh? Trì niệm một câu hồng danh A Di Ðà Phật thì sẽ
được đầy đủ mọi đức, thâu tóm trăm hạnh (đấy là vì danh hiệu A Di Ðà bao
gồm vạn đức, trong phần giải thích danh hiệu A Di Ðà sẽ luận rõ hơn). Ðấy
là do công đức chẳng thể nghĩ bàn của A Di Ðà Như Lai vậy. Nếu chỉ đủ tín
nguyện mà chẳng chân thật tu trì vẫn chẳng được vãng sanh; khác nào bánh
vẽ chẳng thể đỡ đói, khác nào suốt đời đếm của báu cho người, tự mình
chẳng được lợi lạc gì!
Trong bốn pháp niệm Phật (Thật Tướng, Quán
Tưởng, Quán Tượng, Trì Danh), Trì Danh là pháp tu rộng rãi nhất (vì mọi
căn cơ đều tập được), hạ thủ dễ dàng, nhanh chóng, là pháp tu phương tiện
bậc nhất trong các pháp phương tiện, là pháp viên đốn tối cực, là pháp vô
thượng liễu nghĩa. Kinh này chuyên dạy pháp Trì Danh, nên chúng ta phải
tận lực trì danh chẳng phân biệt ngày đêm, chẳng luận bận, rảnh, chỉ khăng
khăng chấp trì sáu chữ Di Ðà hồng danh chẳng quên, thì sẽ tự nhiên đạt
được nhất tâm bất loạn, lâm chung quyết định được Phật tiếp dẫn vãng sanh.
Nếu tâm niệm Phật lơ là, hời hợt, quyết chẳng được vãng sanh. Dù chẳng
được vãng sanh, vẫn gieo trồng thiện căn thành Phật trong đời tương lai.
Bởi thế cổ đức bảo: “Tán xưng vi Phật chủng, chấp trì đậu bất thoái”
(tán tâm xưng danh là chủng tử Phật, chấp trì [danh hiệu] sẽ đạt được bất
thoái).
Hành nhân niệm Phật phải có tín tâm kiên cố,
chẳng bị hết thảy tà ma, ngoại đạo, tà sư khuấy động, đến nỗi hủy báng
đánh mất đạo tâm. Ðại nguyện phải kiên cố, chẳng bị lay động bởi nghịch
cảnh, danh lợi, quyền thế, đến nỗi thoái thất đạo tâm. Trì danh phải
chuyên tâm thiết tha, đừng nên tạp tu, lơ là, chớ có hễ gặp chuyện bất như
ý liền buông xuôi chẳng niệm.
IV. PHƯƠNG TIỆN LỰC DỤNG
Lực dụng còn gọi là công dụng hay gọi tắt là
Dụng của một bộ kinh. Hiệu quả thành tựu do việc tu hành gọi là Công,
những ứng dụng phong phú từ việc thành tựu ấy gọi là Dụng. Hết thảy kinh
điển nếu không có công dụng mầu nhiệm (diệu dụng) thì còn có ai chịu nhọc
nhằn tu hành nữa ư?
Mỗi một bản kinh có một lực dụng riêng biệt. Chẳng
hạn như Lăng Nghiêm lấy “ly ái đắc độ” (lìa ái nhiễm được độ thoát) làm dụng,
kinh Bát Nhã lấy “thoát khổ phá vọng” làm dụng. Kinh này lấy “vãng sanh Cực
Lạc, đắc bất thoái chuyển” làm dụng.
1. Luận về
vãng sanh:
Do hành nhân niệm Phật có siêng - lười, định - tán,
sự - lý, mê - ngộ, đới nghiệp - bất đới nghiệp sai khác, nên vãng sanh về bốn
cõi Tịnh Ðộ sai khác, phẩm vị đại lược chia thành chín phẩm vãng sanh.
- Nếu chấp trì danh hiệu, nhưng chưa đoạn được Kiến
hoặc và Tư hoặc, đới nghiệp vãng sanh, thì chỉ có thể sanh vào Ðồng Cư Tịnh
Ðộ, thấy hóa thân của Phật A Di Ðà, nghe giảng ba mươi bảy đạo phẩm sanh diệt,
ngộ được Phật tánh thiên không. Ðây là căn tánh được hóa độ bởi Tạng Giáo. Lại
tùy theo tín tâm sâu hay cạn, nguyện lực lớn hay nhỏ, công hạnh siêng hay lười
mà phân thành ba bậc chín phẩm.
- Nếu trì niệm danh hiệu đến mức sự nhất tâm bất
loạn, tùy phần đoạn được một trong hai thứ Kiến Hoặc và Tư Hoặc, sẽ sanh về
cõi Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Ðộ, thấy được Liệt Ứng Thân của Phật A Di Ðà, nghe
giảng ba mươi bảy đạo phẩm vô sanh, ngộ được chân không Phật tánh. Ðây là căn
tánh được hóa độ bởi Thông Giáo.
- Nếu niệm đến mức lý nhất tâm bất loạn, phá rỗng
toang từ một phẩm cho đến bốn mươi mốt phẩm vô minh thì sẽ sanh về cõi Thật
Báo Trang Nghiêm Tịnh Ðộ, cũng chứng được một phần Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ,
thấy Thắng Ứng Thân của Phật A Di Ðà, nghe giảng vô lượng ba mươi bảy đạo
phẩm, ngộ trung đạo Phật tánh. Ðây là căn tánh được hóa độ bởi Biệt Giáo.
- Nếu đã đoạn sạch hết vô minh, thì sẽ rốt ráo sanh
về cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ, thấy Pháp Thân Phật, nghe giảng vô tác ba
mươi đạo phẩm, giác ngộ Trung Ðạo Phật tánh viên mãn. Ðây là căn tánh được hóa
độ bởi Viên giáo.
Ðiều cần lưu ý là Tịnh Ðộ tuy phân bốn cõi như thế,
nhưng chẳng phải thật sự có bốn cõi Tịnh Ðộ riêng biệt. Cùng một cõi Tịnh Ðộ,
do mức độ chứng đắc khác nhau mà thấy thành bốn cõi Tịnh Ðộ.
Ba bậc chín phẩm vãng sanh như Quán kinh và kinh Vô
Lượng Thọ đã rộng giảng.
Theo Ngài Quán Nguyệt Tử Hưng Từ Pháp Sư phán định
trong Nhị Khóa Hiệp Giải, chín phẩm vãng sanh có thể phán định theo biểu đồ
sau:
|
Phẩm vị vãng sanh |
Công hạnh |
Ðoạn hoặc |
Ðịa vị |
|
Viên giáo |
Biệt giáo |
|
Thượng thượng |
Ðại Thừa hạnh |
Phá Kiến, Tư hoặc |
Thập Tín |
Ðạo Chủng Tánh Thập Hướng |
|
Thượng trung |
Bát Tín, Cửu Tín |
Tánh Chủng Tánh Thập Hạnh |
|
Thượng hạ |
Từ Thất Tín trở xuống |
Tu tập tánh Thập Trụ |
|
Trung thượng |
Nhị thừa hạnh |
Ðã chế phục hoặc |
Quán Hạnh ngũ phẩm |
Thập Tín |
|
Trung trung |
|
Trung hạ |
Thiện hạnh thế gian |
|
Hạ thượng |
Chỉ làm ác |
Chưa đoạn hoặc |
Danh tự |
|
|
Hạ trung |
|
Hạ hạ |
2. Luận về bất thoái chuyển:
Thoái chuyển nghĩa là lui sụt công hạnh, đánh mất
đạo tâm ban đầu. Người vãng sanh cõi Cực Lạc sẽ chứng được ba loại bất thoái
chuyển:
1. Vị bất thoái: Người đới nghiệp vãng sanh
về cõi Phàm Thánh Ðồng Cư Tịnh Ðộ, gởi thân nơi hoa sen, vĩnh viễn chẳng còn
bị đọa trở lại vào nhân gian nữa, nên địa vị sẽ không bị lui sụt.
2. Hạnh bất thoái: Ðã đoạn được Kiến hoặc,
Tư hoặc, cũng phá được cả Trần Sa hoặc thì mới sanh lên cõi Phương Tiện Hữu Dư
Tịnh Ðộ, hướng thẳng đến cực quả, vĩnh viễn chẳng lui sụt xuống cõi Ðồng Cư.
3. Niệm bất thoái: Phá vô minh, hiển Pháp
Thân, sanh lên cõi Thật Báo Trang Nghiêm, chứng đắc một phần cõi Tịnh Quang
của Như Lai, tâm tâm lưu nhập vào biển Nhất Thiết Trí.
Lại còn có một loại gọi là Cứu Cánh Bất Thoái,
nghĩa là chẳng cần biết là tán tâm, định tâm, tin hay không tin v.v... chỉ cần
niệm một câu A Di Ðà hoặc nghe danh hiệu Ngài thoảng qua tai, dẫu trong đời
này chưa được vãng sanh thì trong trăm ngàn vạn kiếp sau, rốt ráo cũng nhờ
công đức ấy sẽ được độ thoát, sẽ được vãng sanh. Khác nào kẻ nuốt chất kim
cang vào bụng chẳng thể tiêu trừ nổi, công đức niệm Phật cũng giống như thế!
Tóm lại, do căn cơ là lợi hay độn, do nghiệp là
nặng hay nhẹ, do hạnh có sâu hay cạn sai khác mà đạt quả báo địa vị có hơn
kém, cao thấp như thế. Nhưng cứ hễ đã được vãng sanh thì sẽ vĩnh viễn chẳng bị
thoái chuyển, sẽ thành tựu quả Bồ Ðề rốt ráo viên mãn. Kẻ đới nghiệp vãng sanh
sanh vào cõi Ðồng Cư liền chứng Vị Bất Thoái, thọ mạng dài lâu vô tận nên có
thể trong một đời chứng được Nhất Sanh Bổ Xứ. Hễ đã được sanh về cõi Ðồng Cư,
chắc chắn sẽ tiến lên ba cõi kia. Nói cách khác, một phen đã chứng được Vị Bất
Thoái, sẽ lần lượt chứng được hai thứ Bất Thoái kia.
Như vậy, được vãng sanh cõi Cực Lạc thì không hạnh
nào chẳng thành tựu, không việc gì chẳng hoàn thành. Lực dụng như thế, thiên
kinh vạn quyển chưa hề thấy có. Nếu chẳng phải là do đại nguyện lực của Phật A
Di Ðà, làm sao có được công đức chẳng thể nghĩ bàn như vậy? Xin hãy siêng gắng
tu tập để khỏi cô phụ tấm lòng bi mẫn vô lượng của đấng Từ Phụ!
V. TẠNG
GIÁO SỞ NHIẾP
(phân định
kinh này thuộc về tạng nào, thời giáo nào)
Tạng có nghĩa là tích chứa, tàng trữ. Giáo pháp
một đời đức Phật đã thuyết được kết tập thành tạng. Tạng có hai loại: Nhị
Tạng và Tam Tạng.
- Nhị Tạng là Bồ Tát tạng và Thanh Văn tạng.
- Tam Tạng là Kinh Tạng, Luận Tạng và Luật
Tạng.
1. Phán định về Tạng:
Kinh này từ đầu đến cuối không đề cập đến việc
trì giới, cũng chẳng luận nghị, chỉ chuyên dạy niệm Phật, phát nguyện cầu
sanh Tây Phương Tịnh Ðộ nên phải thuộc về Kinh Tạng.
Kinh này lại hoằng dương Ðại Thừa, tuyên dương
đấng Giáo Chủ cõi Cực Lạc, dù dạy chúng sanh chán khổ ưa vui, cầu sanh Cực
Lạc, nhưng cốt yếu là để gặp Phật nghe pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn rồi sẽ trở
lại Sa Bà, giáo hóa chúng sanh. Ðấy đều là hạnh Bồ Tát, cho nên kinh này
phải thuộc về Bồ Tát Tạng.
2. Phán định giáo tướng:
Những lời chư Phật, chư thánh giảng dạy được
gọi là Giáo. Việc phân định, xếp loại thứ tự thánh giáo của đức Như Lai
thường được gọi là “phán định giáo tướng” hay gọi tắt là “phán giáo”.
* Theo đại sư Khuy Cơ, tính cho đến thời Ðại
Sư, đã có những thuyết phán giáo sau đây:
a. Thuyết Nhất Thời Giáo:
do Ngài Tam Tạng Bồ Ðề Lưu Chi (Tàu dịch là Giác Thọ) đời Bắc Ngụy đề
xướng. Nghĩa là tuy giáo pháp của đức Phật chỉ có một thời, nhưng vì có
hai ý nghĩa bất đồng nên tựa hồ có nhiều giáo pháp:
a.1. Giáo đồng căn dị: Như nước mưa chỉ
có một vị, nhưng ba loại dược thảo, hai loại cây cối được thấm nhuần sai
khác. Tức là giáo pháp vốn chỉ là một, nhưng chúng sanh ngộ giải bất đồng,
do căn cơ chúng sanh khác nhau nên tựa hồ có nhiều giáo pháp khác nhau.
a.2. Lý đồng chứng dị: Lý tuy chỉ một
nhưng sự chứng đắc của tam thừa có sai khác, như cùng một dòng sông, ba
loài thú cùng lội qua, chân đạp xuống nước sâu cạn sai khác.
b.
Thuyết Tiệm Ðốn Giáo: do Ngài Ðàm Vô Sấm đời Tống lập ra.
b.1. Ðốn giáo là những thuyết như nhị không,
tam tánh, tam vô tánh, bát thức, nhị vô ngã v.v...
b.2 Tiệm giáo là những giáo pháp như Tứ Ðế,
Duyên Sanh, Ngũ Giới, Bát Giới v.v...
c.
Thuyết Tam Thời Giáo (còn gọi là Tam Giáo): do Ngài Chân Ðế Tam Tạng
Pháp Sư thời Lương đề xướng. Tam thời giáo là:
c.1. Hữu giáo: trong vòng 7 năm đầu kể
từ khi thành Phật, đức Thế Tôn nói ra Hữu giáo, dùng pháp Thanh Văn để độ
các vị như năm anh em Kiều Trần Như, Xá Lợi Phất, Ca Diếp v.v...
c.2. Không giáo: Từ năm thứ tám đến năm
thứ ba mươi tám, Ðức Phật chuyên giảng về học thuyết Bát Nhã. Ðó là Không
Giáo.
c.3. Phi hữu phi không giáo: Từ năm thứ
39 cho đến khi Phật nhập Niết Bàn, Ngài chuyên giảng về giáo pháp phi hữu
phi không như các kinh Pháp Hoa, Lăng Già, Tư Ích...
d.
Thuyết Tứ Thời Giáo: do Khuất Ða Cấp Ða Tam Tạng đề xướng; chia một
đời giáo hóa của đức Như Lai thành bốn thời:
d.1. Sanh không giáo: tức là thời gian
trong 12 năm đầu sau khi thành Phật, đức Thế Tôn giảng thuyết các bộ kinh
giảng về nhân không như A Hàm...
d.2. Pháp không giáo: Từ năm thứ 13 đến
năm thứ 38, Phật giảng các bộ kinh dạy về pháp không như tám bộ Bát Nhã
v.v...
d.3. Pháp tướng giáo: Từ năm thứ 39 đến
năm thứ 49, Phật giảng các kinh như Lăng Già, Tư Ích, Pháp Hoa v.v... chỉ
bày các pháp như bách pháp, tam tánh, tam vô tánh, bát thức, nhị vô ngã
v.v... Do chú trọng đến phân chia danh mục, số loại của các pháp nên gọi
là Pháp Tướng.
d.4. Quán hạnh giáo: tức là thời gian
giảng về pháp môn Pháp Giới Quán của kinh Hoa Nghiêm...
e. Thuyết Ngũ Thời Giáo:
do Lưu Cư Sĩ đời Tấn đề xướng, chia giáo pháp thành năm thời:
e.1. Nhân thiên giáo: là những giáo pháp
được giảng trong 21 ngày sau khi Ðức Phật thành đạo; gồm các giáo pháp như
Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện v.v... vì thính chúng chưa có thiện căn xuất
thế. Thuyết này bị Ngài Giác Thọ (Bồ Ðề Lưu Chi) bắt bẻ: “Kinh Ðề Vị
nói nhóm năm trăm người lái buôn như Ðề Vị v.v... thọ Ngũ Giới, Phật dạy
họ trước hết phải sám hối các tội Ngũ Nghịch, Thập Ác. Thế Tôn dạy: ‘Tứ
đại vốn tịnh, cái Ta vốn tịnh’, Ðề Vị liền đắc Vô Sanh Nhẫn; năm trăm
người lái buôn đắc Nhu Thuận Nhẫn. Lẽ nào đấy chỉ là giáo pháp thuộc nhân
thiên ư?”
e.2. Sanh không giáo: tức là giáo pháp
Nhị Thừa được giảng trong mười hai năm đầu tiên.
e.3 Pháp không giáo: là những giáo pháp
được giảng trong mười tám năm kế đó.
e.4. Câu không giáo: tức là thời gian
giảng tám bộ Bát Nhã.
e.4. Phi hữu phi không giáo: tức là thời
gian từ năm thứ 49 sau khi Ðức Phật thành đạo trở đi. Thời gian này Ngài
giảng các kinh như Lăng Già, Pháp Hoa v.v...
Ðại Sư Khuy Cơ chỉ nêu ra các giáo như thế
nhưng không khẳng định kinh này thuộc về giáo nào trong những thuyết trên.
Tuy thế, những thuyết phán giáo trên đây không được phổ biến và vận dụng
rộng rãi bằng hai thuyết Ngũ Thời Bát Giáo của tông Thiên Thai và Ngũ Giáo
của tông Hoa Nghiêm.
a. Ngũ thời Bát giáo:
a.1. Bát giáo:
Bát giáo gồm “hóa nghi tứ giáo” (bốn phương
pháp hóa độ thuận theo căn cơ) và “hóa pháp tứ giáo” (bốn phương pháp giáo
hóa dựa theo mức độ giải ngộ).
Hóa nghi tứ giáo gồm: Ðốn, Tiệm, Bất Ðịnh, Bí
Mật. Hóa pháp tứ giáo gồm Tạng (Tiểu Thừa), Thông (bao gồm cả Tiểu Thừa
lẫn Ðại Thừa, nhưng mới chỉ là những giáo pháp sơ khởi của Ðại Thừa), Biệt
(giáo pháp Ðại Thừa dành riêng cho hàng Bồ Tát), và Viên (những giáo pháp
viên dung vô ngại, hàm nhiếp trọn vẹn tất cả các giáo pháp, là giáo pháp
cao tột nhất trong các giáo pháp Ðại Thừa).
a.2. Ngũ thời:
- Thời Hoa Nghiêm: Phật hiện thân
to lớn, giảng kinh Hoa Nghiêm cho những bậc căn cơ Ðại Thừa viên đốn,
chuyên giảng về Viên Giáo, nhưng đôi chỗ có kèm Biệt giáo.
- Thời A Hàm: Phật hiện thân trượng sáu,
giảng pháp cho thính chúng căn cơ Tiểu Thừa, chỉ dạy về Tạng Giáo và Nhị
Thừa Tiểu Quả.
- Thời Phương Ðẳng: đối với căn cơ Tiểu
Thừa, Phật giảng Tạng Giáo; đối với căn cơ Ðại Thừa, Phật dạy Viên, Thông,
Biệt Giáo.
- Thời Bát Nhã: dù kiêm thuyết lý tánh
quyền hiện, nhưng chủ yếu là Thật Lý viên mãn của Viên Giáo.
- Thời Pháp Hoa - Niết Bàn: quy nhiếp
Tam Thừa về Nhất Thừa, khai thị tri kiến Phật.
b. Ngũ Giáo
Tức là:
- Tiểu (Tiểu Thừa): chỉ giảng pháp không, chưa
giảng Ngã Không.
- Thỉ (Ðại Thừa Thỉ Giáo): căn cứ trên sự sanh
diệt của tám thức, kiến lập những giáo nghĩa sanh tử, Niết Bàn, bàn rộng
pháp tướng, nhưng chỉ mới luận đôi phần về pháp tánh. Tuy đã giảng về Tam
Thừa, nhưng chưa hứa khả hàng định tánh Thanh Văn và Nhất Xiển Ðề có khả
năng thành Phật. Vì chưa bàn cùng tột giáo lý Ðại Thừa nên gọi là Thỉ (bắt
đầu).
- Chung (Ðại Thừa chung giáo): bàn cùng tận
giáo nghĩa Ðại Thừa, căn cứ vào bát thức của Như Lai Tạng tùy duyên bất
biến để lập giáo nghĩa, chú trọng đến pháp tánh, nhưng chỉ luận đôi chút
về pháp tánh, chưa giảng chi tiết. Dù có giảng pháp tướng đi nữa, cũng đều
quy về pháp tánh. Chung Giáo công nhận Xiển Ðề có khả năng thành Phật.
- Ðốn: Chỉ luận về Thật Tướng. Một niệm bất
sanh thì gọi là thành Phật. Không cần bận tâm đến thứ tự tu tập từng bước
nên gọi là Ðốn (nhanh chóng).
- Viên: Viên Giáo bao trùm cả bốn giáo trên,
viên dung đầy đủ muôn pháp, duyên khởi vô ngại, pháp giới vô tận, không
còn phân biệt giữa sự và lý nữa nên gọi là Viên (trọn vẹn).
3. Phán định giáo tướng của kinh này:
Nếu xét theo cách phán giáo của tông Hoa
Nghiêm, kinh này thuộc về Viên Giáo lẫn Ðốn Giáo. Xét theo cách phán giáo
của tông Thiên Thai, kinh này tuy nằm trong thời Phương Ðẳng, nhưng lại
thuộc về Viên Giáo.
Bởi Tạng giáo và Thông Giáo chẳng đề cập đến
danh hiệu chư Phật ở phương khác, nên kinh A Di Ðà chẳng thể thuộc về Tạng
và Thông giáo.
Người niệm Phật lại có thể vượt ngang ra khỏi
ba cõi, vãng sanh Cực Lạc, đồng chứng ba thứ bất thoái nên kinh này phải
thuộc về Ðốn Giáo.
Trong năm thời, thời Hoa Nghiêm nhằm lúc Phật
mới thành đạo, Ngài vì hàng pháp thân đại sĩ giảng giải cảnh giới Như Lai,
chúng Thanh Văn ngồi dự pháp hội như đui, như điếc, chẳng lãnh hội được
gì. Kinh này lại chuyên dạy chúng sanh đời mạt, ác thế ngũ trược, niệm
Phật cầu sanh Tịnh Ðộ, nghĩa là: đối tượng được hóa độ của kinh này là hết
thảy hữu tình, nên kinh này không thể nào thuộc về thời Hoa Nghiêm được.
Trong thời A Hàm, Phật chuyên dạy pháp Tiểu
Thừa. Thế nhưng kinh này luận về công đức trang nghiêm y báo, chánh báo
cõi Cực Lạc, cũng như ý chỉ huyền nhiệm rốt ráo thành Phật, nên cũng không
thể nào thuộc về thời A Hàm được.
Trong thời Bát Nhã, Ðức Phật chuyên luận về
những pháp mà Bồ Tát phải học. Kinh này chẳng phân biệt căn cơ chúng sanh,
bất cứ ai nếu chí thành niệm Phật đều có thể được vãng sanh. Bởi đó, kinh
này chẳng thể thuộc về thời Bát Nhã.
Thời Pháp Hoa khai quyền hiển thật (vạch rõ
những pháp phương tiện, trực chỉ thật lý Nhất Thừa), khai thị tri kiến
Phật; thế nhưng kinh này chỉ chuyên dạy Trì Danh, nên chẳng thuộc về thời
Pháp Hoa được.
Bởi những lẽ trên, kinh này phải thuộc về thời
Phương Ðẳng.
Hơn nữa, kinh Di Ðà bao hàm diệu lý viên đốn,
trước thì thông tiếp kinh Hoa Nghiêm, sau thì thông tiếp kinh Pháp Hoa;
cho nên phán định kinh này thuộc về thời Phương Ðẳng rất hợp lý.
VI. CĂN TÁNH
SỞ BỊ (những căn
tánh được tiếp độ bởi kinh này)
Những nghĩa lý được diễn giảng trong kinh này tuy là chí viên, chí đốn, là
pháp để giáo hóa Bồ Tát, nhưng cũng là pháp kiêm dạy Nhị Thừa. Bất luận
căn cơ là thượng, trung hay hạ đều có thể niệm Phật, đều được vãng sanh.
Chỉ trừ kẻ chẳng tin, chẳng nguyện, chẳng hạnh là đành chịu vô phần. Nếu
có tín, hạnh, nguyện thì dù đang ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vẫn
là căn cơ sẽ được hóa độ bởi kinh này.
Kinh chép: “Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều phải nên tin nhận lời ta
và lời chư Phật nói” là khuyến tín. Lại chép: “Nếu có kẻ tin hãy nên
phát nguyện sinh sang cõi ấy” là khuyên phát nguyện. Lại chép: “Nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói A Di Ðà Phật, chấp trì danh hiệu hoặc
một ngày... hoặc bảy ngày nhất tâm bất loạn” là khuyên nên hành trì.
VII. BỘ LOẠI SAI BIỆT
Thuộc cùng một Bộ là những kinh cùng phô diễn
một tông thú, nhưng diễn giảng rộng lược khác nhau. Thuộc cùng một Loại là
những kinh có tông thú liên quan mật thiết với nhau.
Xét về Bộ, hai kinh cùng Bộ là kinh này và kinh
Vô Lượng Thọ (không đề cập đến kinh Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật Nhiếp Thọ vì nó
chỉ là bản dịch khác của kinh này).
Cùng Loại với kinh A Di Ðà đây có kinh Quán Vô
Lượng Thọ, kinh Cổ Âm Thanh Vương, A Di Ðà Kệ Kinh.
Ðược xếp vào Phi Bộ Phi Loại là những kinh có
nói kèm đến pháp môn Tịnh Ðộ như kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng
Nghiêm, Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhã, Bi Hoa, Quán Âm Bồ Tát Thọ Ký, Phật
Thuyết Như Huyễn Tam Ma Ðịa Vô Lượng Ấn Pháp Môn ...
Nếu kể cả những kinh Mật Giáo dạy thần chú, cách
lập đàn, vẽ mạn đà la, quán tưởng Phật A Di Ðà thì phải kể thêm:
1. Vô Lượng Thọ Như Lai Tu Quán Hạnh Cúng Dường
Nghi Quỹ do Ngài Bất Không dịch vào đời Ðường, chủ yếu dạy cách quán tưởng
và các nghi thức cúng dường.
2. Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Ðắc Sanh
Tịnh Ðộ Thần Chú do Ngài Cầu Na Bạt Ðà La dịch vào đời Lưu Tống (bản này
chỉ ghi bài thần chú)
3. Cửu Phẩm
Vãng Sanh A Di Ðà Tam Ma Ðịa Tập Ðà Ra Ni kinh do Ngài Bất Không dịch vào
đời Ðường.
4.. Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh do Ngài Pháp
Thành dịch vào đời Ðường.
5. Vô Lượng Thọ Ðại Trí Ðà Ra Ni, do Ngài Pháp
Hiền dịch vào đời Triệu Tống. Kinh này chỉ có bài chú. Bản dịch khác của
kinh này đầy đủ hơn là kinh Ðại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Ðịnh Quang
Minh Vương Như Lai Ðà Ra Ni.
VIII. DỊCH TRUYỀN CẢM THÔNG
(các bản dịch, bản được lưu truyền, những sự cảm ứng do tụng trì kinh này)
A. Các
bản dịch:
Từ Phạn ngữ, dịch sang Hán văn có hai bản dịch:
1. Bản thứ nhất mang tên Phật Thuyết A Di Ðà
Kinh, do Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch vào thời Dao Tần
(394-415).
2. Bản thứ hai mang tên Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật
Nhiếp Thọ Kinh do Ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch vào đời
Ðường.
Hai bản dịch này đại đồng tiểu dị, bản dịch của
Ngài Huyền Trang chi tiết hơn, nhưng kém phần bóng bẩy hơn so với bản dịch
của Ngài La Thập. Hiện tại, bản được lưu truyền rộng rãi hơn cả là bản
dịch của Ngài La Thập (thường gọi là bản Tần dịch).
Ngoài hai bản dịch này, hiện còn một bản hội tập
hai bản kinh trên do cư sĩ Hạ Liên Cư soạn. Ngoài Tịnh Ðộ Cư Sĩ Lâm Trung
Hoa, bản hội tập này không được sử dụng phổ biến cho lắm. Theo Chúng Kinh
Mục Lục, vào đời Lưu Tống, kinh này cũng được Ngài Cầu Na Bạt Ðà La dịch
với tựa đề Tiểu Vô Lượng Thọ Kinh nhưng đã thất truyền.
Khi chú giải các kinh này, từ xưa đến nay, các
nhà sớ giải kinh đều dùng bản của Ngài La Thập. Ngay cả đại đệ tử của pháp
sư Huyền Trang là Ngài Khuy Cơ khi sớ giải kinh cũng dùng bản của Ngài La
Thập, có lẽ vì bản này phổ biến hơn cả.
B. Các bản chú giải:
Từ xưa đến nay, kinh này được chú sớ rất nhiều,
nhưng bị thất truyền rất nhiều. Hiện tại, chỉ còn giữ lại được một số bản
chú giải như sau:
1. A Di Ðà Kinh Nghĩa Ký, 1 quyển, do Ngài Trí
Khải soạn thuật vào đời Tùy.
2. A Di Ðà Kinh Nghĩa Thuật, 1 quyển, do Ngài
Huệ Tịnh soạn vào đời Ðường.
3. A Di Ðà Kinh Thông Tán Sớ, 3 quyển, do Ngài
Khuy Cơ soạn vào đời Ðường.
4. A Di Ðà Kinh Sớ, 1 quyển, do Ngài Khuy Cơ đời
Ðường soạn.
5. A Di Ðà Kinh Sớ, 1 quyển, do Ngài Hải Ðông
Nguyên Hiểu người xứ Tân La soạn.
6. A Di Ðà Kinh Sớ, do Ngài Trí Viên soạn vào
đời Tống.
7. A Di Ðà Kinh Nghĩa Sớ do Ngài Linh Chi Nguyên
Chiếu đời Tống soạn.
8. A Di Ðà Kinh Cú Giải do Ngài Tánh Trừng soạn
vào đời Nguyên.
9. A Di Ðà Kinh Lược Giải của Ngài Ðại Hựu thời
Nguyên.
10. A Di Ðà Kinh Sớ Sao do Ngài Vân Thê Liên Trì
soạn vào thời Minh.
11. A Di Ðà Kinh Lược Giải Viên Trung Sao, 2
quyển, do Ngài U Khê Truyền Ðăng soạn.
12. A Di Ðà Kinh Yếu Giải do Ngài Linh Phong
Ngẫu Ích Trí Húc soạn vào cuối đời Minh.
13. A Di Ðà Kinh Yếu Giải Giảng Nghĩa của Viên
Anh Pháp Sư đời Thanh.
14. A Di Ðà Kinh Thiệt Tướng của Ngài Tịnh Ðĩnh
soạn.
15. A Di Ðà Kinh Trực Giải Chánh Hạnh của Liễu
Căn Toản soạn.
16. A Di Ðà Kinh Lược Chú của Ngài Tục Pháp
soạn.
17. A Di Ðà Kinh Trích Yếu Dị Giải do Ngài Chân
Tung soạn.
18. A Di Ðà Kinh Ước Luận của cư sĩ Bành Tế
Thanh soạn vào đời Thanh.
19. A Di Ðà Kinh Thích và A Di Ðà Kinh Chú của
Trịnh Trừng Ðức và Ðặng Trừng Nguyên hợp soạn.
20. A Di Ðà Kinh Tiên Chú của cư sĩ Ðinh Phước
Bảo (ông này cũng là tác giả của bộ Phật Học Ðại Từ Ðiển).
Từ bản A Di Ðà Kinh Sớ Sao, Ngài Trí Nguyện tổng
kết những lời giảng của chư cổ đức đời Minh soạn ra ba tác phẩm: A Di Ðà
Kinh Sớ Sao Sự Nghĩa, A Di Ðà Kinh Sớ Sao Vấn Biện, A Di Ðà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa.
Ngài Ðạt Mặc (không rõ thời đại) soạn lời Sao
cho cuốn Yếu Giải của Tổ Trí Húc, đặt tên là A Di Ðà Kinh Yếu Giải Tiện
Mông Sao,
Trong các bản chú giải kinh trên đây, bản Yếu
Giải của Ngài Ngẫu Ích được Tổ Ấn Quang tán dương như sau: “Lý sự đều
đạt đến chỗ tuyệt diệu, kể từ khi Phật thuyết kinh này đến nay, Yếu Giải
là bản chú giải bậc nhất, khéo léo nhất, xác thực nhất. Ví dù cổ Phật xuất
thế chú giải lại kinh này cũng chẳng thể hay hơn được nữa”. Vì thế,
trong các bản chú giải kinh A Di Ðà, tác phẩm A Di Ðà Kinh Yếu Giải được
lưu truyền mạnh mẽ nhất.
Cho đến hiện tại, chư tôn cổ đức vẫn tiếp tục
diễn giảng kinh A Di Ðà và trước tác rất nhiều tác phẩm mới để phu dương
mật nghĩa của kinh này nhưng kiến giải đa phần vẫn dựa theo hai tác phẩm
Yếu Giải và Sớ Sao là chính.
C. Sự cảm ứng của việc trì kinh
Từ xưa đến nay, người trì tụng kinh này được cảm
ứng rất nhiều, xin lược thuật một vài chuyện:
Theo Trí Ðộ Luận, có một vị tỳ kheo trì tụng
kinh A Di Ðà, lúc sắp mạng chung, bảo đệ tử rằng: “A Di Ðà Phật cùng các
thánh chúng đều đến đón ta”. Mất rồi, đệ tử làm lễ trà tỳ, thấy cuống lưỡi
của vị tỳ kheo ấy chẳng cháy, hình dáng, màu sắc vẫn tươi nguyên như khi
còn sống.
Ông Ðường Thế Lương đời Tống tụng kinh Di Ðà đến
mười vạn biến. Một ngày nọ bảo người nhà: “Phật đến đón ta”. Nói xong, làm
lễ mà tịch. Ðêm ấy có kẻ đi buôn, ngụ bên núi Ðạo Vị, mộng thấy ánh sáng
lạ lùng ở Tây Phương, phan, hoa vần vũ, âm nhạc réo rắt, trên không rền
vang tiếng nói: “Ông Ðường Thế Lương đã sanh về Tịnh Ðộ”.
Ðời Tống, kẻ thảo dân Bằng Mân, thuở trẻ thích
săn bắn. Một ngày nọ, đi săn gặp một con rắn to liền cầm giáo xông đến
đâm. Khi ấy, rắn đang núp một gộp đá lớn, toan mổ một con bò vàng. Bằng
Mân xô đá đè chết rắn. Khi được tái sanh, rắn nhiều phen tính trả thù,
nhưng họ Bằng đã tu sám, niệm Phật đã lâu nên rắn chẳng làm gì được. Ðến
một ngày nọ, ông thỉnh các bạn đồng tu Tịnh nghiệp tụng kinh Di Dà, ngồi
chắp tay qua đời.
Ðời Tống, pháp sư Trí Tiên, hiệu Chân Giáo, trụ
trì chùa Bạch Liên, suốt mười ba năm hướng về Tây niệm Phật, trong 12 thời
chưa từng thiếu sót công phu. Một chiều nọ, Sư mỉm cười, sai quán đường
hành nhân tụng kinh A Di Ðà. Tụng chưa xong, Sư đã an nhiên tọa hóa.
Ngài Thích Xử Khiêm đời Tống chuyên tu Tịnh Ðộ.
Một tối nọ, tụng kinh A Di Ðà xong, Ngài khen ngợi Tịnh Ðộ rồi bảo với đại
chúng rằng: “Tôi đã đạt vô sanh mà sanh Tịnh Ðộ”. Liền như nhập thiền
định, lặng lẽ mà hóa.
Ðời Tống, bà lão họ Chung ở quận Gia Hòa, mỗi
ngày tụng kinh Di Ðà mười biến, niệm Phật chẳng bỏ sót ngày nào. Một ngày
nọ bà bảo con: “Ta thấy hoa sen trắng vô số, thánh chúng đến đón ta”. Rồi
ngồi ngay ngắn, lặng lẽ qua đời.
Hoài Ngọc thiền sư người Ðài Châu, chuyên mặc áo
vải, ngày ăn một bữa, thường ngồi chẳng nằm, tinh tấn niệm Phật, tụng kinh
Di Ðà đến ba mươi vạn biến. Một ngày kia thấy Tây Phương thánh chúng nhiều
như cát sông Hằng. Một vị tay cầm đài bạc, theo cửa sổ mà vào. Sư hỏi:
“Tôi một đời tinh tấn, thề lấy được đài vàng, sao lại như thế này?” Ðài
bạc liền ẩn mất. Sư càng cảm khích, tinh tấn gấp bội. Hăm mốt ngày sau,
thấy Phật hiện chật cả không trung, bèn bảo đệ tử: “Kim đài đã đến đón, ta
sanh về Tịnh Ðộ đây!” Rồi đọc kệ, mỉm cười mà tịch.
Năm Ðại Lịch thứ chín đời Nguyên, Tử Hoa thiền
sư trụ tại chùa Quán Âm ở Nhuận Châu, tụng kinh Di Ðà suốt sáu tháng, chợt
mắc bệnh. Ðêm ngửi thấy mùi hương, nghe tiếng âm nhạc, trên không có tiếng
bảo: “Sự vui thô thiển đã qua, sự vui tinh tế sẽ tiếp nối. Ngài sẽ vãng
sanh”. Chẳng lâu sau, sư niệm Phật viên tịch, mùi hương ngào ngạt suốt mấy
ngày chẳng tan.
Ngay cả cầm thú cũng được lợi lạc do việc trì
kinh này. Quán công ở chùa Chánh Ðẳng tại Hoàng Nham, có nuôi một con
nhồng (tên một loài chim), thường dạy nó niệm Phật chẳng ngớt. Về sau, con
nhồng chết đứng trong lồng. Quán công đem chôn, ít lâu sau, trên mộ chim
mọc lên một đóa hoa sen tím. Bới đất để tìm gốc sen, thấy hoa sen ấy mọc
ra từ lưỡi con nhồng.
Sự cảm ứng của kinh Di Ðà rất nhiều, chẳng thể
thuật trọn. Chúng ta là hạng phàm phu khổ não chúng sanh, muốn thoát ly
biển khổ, mong vượt khỏi tam giới, thật phải nên buông bỏ vạn duyên, nhất
tâm niệm Phật thì đương nhiên sẽ hữu cầu tất ứng, vô cảm bất thông vậy!
IX. TỔNG THÍCH KINH ÐỀ
(giải thích chung về danh hiệu của bản kinh)
A. Kinh danh sai biệt
(những tên gọi khác nhau của kinh)
Kinh này mang tên là Phật Thuyết A Di Ðà Kinh,
nhưng trong kinh văn ghi rõ kinh này tên là “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị
Công Ðức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (kinh khen ngợi công
đức chẳng thể nghĩ bàn, được hết thảy chư Phật hộ niệm). Vì thế, Ngài
Huyền Trang dịch là Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật Nhiếp Thọ Kinh.
B. Lập danh phương thức
(cách thức đặt tên kinh)
Phàm tên kinh được đặt không ngoài vận dụng ba
yếu tố: nhân, pháp, dụ. Ba yếu tố ấy dùng riêng lẻ hay ghép với nhau, tạo
thành bảy loại như sau:
1. Ðơn nhân lập danh (chỉ dùng người để
đặt tên): như Phật thuyết A Di Ðà Kinh, Ương Quật Ma La Kinh v.v...
2. Ðơn pháp lập danh: như Ma Ha
Bát Nhã Ba La Mật Kinh, Thật Tướng Bát Nhã kinh, Ðại Thừa Lý Thú Lục Ba La
Mật Kinh...
3. Ðơn dụ lập danh (chỉ dùng thí dụ để
đặt tên): như Phạm Võng Kinh, Bửu Tích kinh, Bửu Vân kinh... thuần dùng
thí dụ để đặt tên kinh.
4. Nhân pháp lập danh: như Ðịa Tạng Bồ
Tát Bản Nguyện kinh, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Ðức
Kinh, Văn Thù Sở Vấn Bát Nhã kinh,Thắng Thiên Vương Bát Nhã Kinh v.v...
5. Pháp dụ lập danh: như Kim Cang Bát Nhã
Ba La Mật Kinh (Kim Cang là dụ, Bát Nhã Ba La Mật là pháp), Diệu Pháp Liên
Hoa Kinh...
6. Nhân dụ lập danh: như Như Lai Sư Tử
Hống Kinh. Như Lai là nhân, Sư Tử Hống là dụ.
7. Nhân pháp dụ lập danh: như Ðại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Ðại Phương Quảng là pháp, Phật là nhân, Hoa
Nghiêm là dụ. Một ví dụ là Như Lai Ðại Phương Tiện Nhất Thừa Thắng Man Sư
Tử Hống Kinh cũng dùng cả ba nhân, pháp, dụ để đặt tên kinh.