Pháp
Tạng
Phật Giáo Việt Nam
Tập
85
Luận sử tông Tịnh độ
Việt dịch:
Quảng Tấn - Quảng Ân - Quảng Bình
Quảng Hiếu
- Huệ Hải - Quảng Xả
Quảng Mẫn
- Tâm Đức - Huệ Chí - Tâm Đại
Hạnh Minh
- Nhuận Độ - Nguyên Thành
Tâm Hiếu -
Như Giáo - Nguyên An
Chứng Nghĩa:
Thích Đổng Minh
Phụ chú:Thích
Tâm Nhãn
Chùa Long Sơn, Nha Trang
Phật Lịch: 2548 - 2004
--- o0o ---
14.
TƯ
TƯỞNG TỊNH ĐỘ CỦA ĐẠI SƯ LIÊN TRÌ
Nguyên tác:
Pháp sư Thánh Nghiêm
Việt dịch:
Thích Nhuận Độ
Pháp
môn Tịnh độ, tuy nói đơn giản rõ ràng dễ tu nhưng nếu muốn nghiên cứu đến
chỗ thâm sâu tận cùng của tư tưởng Tịnh độ thì đây cũng là một vấn đề hết
sức phiền phức cho người nghiên cứu. Dù vật thời gian gần đây, giới Tín đồ
Phật giáo Trung Quốc còn chưa có người chú ý đến tính phức tạp của pháp
môn Tịnh độ. Tôi là người rất thích môn lịch sử mà lịch sử Phật giáo Trung
Quốc có một khuynh hướng không ngờ, tức là phần lớn mọi người đều chú
trọng vấn đề Giới luật, nhưng đa số cũng coi trọng việc khảo sát lịch sử.
Tuy nhiên đối chiếu mục lục sử truyện ... chúng ta thấy các bậc cổ đức
ngày xưa đã cống hiến rất lớn, như ngài Tăng Hựu, Bảo Xướng, Tuệ Kiểu, Đạo
Tuyên, Nghĩa Tịnh, Trí Thăng, Viên Chiếu, Tán Ninh .... . Phần lớn các vị
này có liên quan đến nguồn gốc của việc chấn hưng Luật học. Tôi không thể
đủ tư cách bàn đến Giới luật, nhưng tôi là người trải qua nhiều năm công
phu chân chánh, thực hành trong vấn đề Giới luật, coi như đã hoàn thành
một giai đoạn. Vì thế tôi lại chú ý tập trung nghiên cứu về phần giáo sử.
Thế nhưng sau khi
tôi tiếp xúc tư liệu Giáo sử khổng lồ, càng nhận thấy việc nghiên cứu Phật
pháp rất khó khăn. Nhờ hiểu biết đôi chút về tiếng Nhật, rồi tìm hiểu
thành quả nghiên cứu và phương pháp Trị học của nước Nhật Bản thời cận
đại, tôi lại nhận thấy không đủ khả năng bàn luận đến bốn chữ: “Nghiên cứu
Phật pháp”. Nhưng giới tín đồ Phật giáo Trung Quốc hiện nay, mọi người
hiểu biết một cách sơ sài ngay cả tình hình thông thường như thế, chính
tôi cũng không thể biết nhiều. Trước hoàn cảnh như vậy, tôi không thể nào
không hết sức cố gắng, cho nên mới mời pháp sư Tịnh Hải cùng biên soạn một
bộ: “Sử cương Phật giáo thế giới”,
nhằm để truyền bá một ít quan điểm về tư tưởng Tịnh độ, hầu giúp những
người sơ cơ nhập đạo. Do danh tiếng của hai chúng tôi quá sức tầm thường
không đáng kể, nên ít được sự ủng hộ của mọi người, vì vậy việc sưu tập
tham khảo phải tìm tòi ở trong các loại thư tịch để viết một bộ: “Sử
cương Phật giáo”,
song cũng gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay, người biên tập của hội “Vô tận đăng”, muốn tôi viết một tác phẩm
có liên quan đến pháp môn Tịnh độ. Với tâm nguyện của tôi, nếu có khả năng
tốt nhất là viết một bộ: “Tịnh
độï giáo lý tư tưởng sử”.
Bởi vì Phật giáo Trung Quốc từ trước đến nay, phần lớn số người chuyên tu
pháp môn Tịnh độ rất nhiều, nhưng lại rất ít người hiểu biết để phát triển
tư tưởng Tịnh độ. Mặc dù đây là vấn đề sâu xa, thiết nghĩ lại lưu truyền
lâu dài, và căn cứ theo tình hình Phật giáo Trung Quốc hiện nay mà nói,
trải qua từng thời kỳ của các vị Tổ sư thì tư tưởng Tịnh độ ở mỗi ngài đều
có quan điểm sở trường riêng biệt.
Đại khái như đã nói
ở trên, tư tưởng Tịnh độ của Phật giáo Trung Quốc thời cận đại, tiếp nhận
ảnh hưởng hai vị đại sư Liên Trì và Ngẫu Ích rất lớn. Hiện nay tôi đang
tham khảo tư tưởng Tịnh độ của đại sư Liên Trì và bộ “Trung
Quốc Tịnh độ giáo lý sử”
của ngài Vọng Nguyệt Tín Đình người Nhật Bản. Vậy tôi xin lược qua và
trích dẫn một ít, để giới thiệu đến độc giả .
I. SỰ TÍCH VỀ ĐẠI SƯ
LIÊN TRÌ.
Đại sư Liên Trì, còn
gọi là Châu Hoằng, tự Phật Huệ, hiệu là Liên Trì. Ngài là người huyện Nhân
Hòa tỉnh Chiết Giang, nay thuộc huyện Hàng Châu. Năm mười bảy tuổi, ngài
thi đỗ tú tài, nổi tiếng về học hành. Ngài thường nghe bà lão láng giềng
hằng ngày niệm Phật, lấy làm la. Nhân lúc rổi rảnh ngài sang chơi, mới hỏi
Bà lão: “Niệm Phật để làm gì?” Bà lão trả lời: “Ông nhà của tôi lúc sinh
tiền chuyên lo niệm Phật, đến khi lâm chung không bệnh tình gì mà ra đi,
nên tôi biết công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn”. Do có túc căn sâu
dày, nên sau khi nghe xong câu chuyện này, đại sư Liên Trì liền thâm tín
hiểu rõ, không còn nghi ngờ, từ đó hướng tâm về pháp môn Tịnh độ. Ngài lại
tự tay viết bốn chữ: “Sống chết việc lớn” (Sanh tử sự đại) đặt ở đầu bàn
viết, để tự cảnh tỉnh mình.
Năm 27 tuổi cha mất,
năm 32 tuổi mẹ mất, (nhằm vào năm 45 niên hiệu Gia Tỉnh triều nhà Minh -
1566 T.L) cũng vào năm đó ngài phát tâm xuất gia. Trước tiên ngài tìm đến
đại sư Tánh Thiên ở núi Tây Sơn xin xuống tóc xuất gia. Sau đó, theo ngài
Chiêu Khánh Vô Trần thọ Cụ túc giới, rồi đến phương bắc yết kiến đảnh lễ
đại sư Biến Dung. Đại sư dạy rằng: “Chớ vì tham lam danh lợi, chỉ lấy nhất
tâm mà hạnh đạo, luôn luôn trì giới niệm Phật”. Nghe xong đại sư Liên Trì
hết sức cảm động, vâng theo và ghi nhớ không quên.
Thời gian thấm thoát
trôi qua, ngài lại đến Liễu Hạng cầu học với ngài Tiếu Nham Đức Bảo là
pháp tôn của ngài Thiên Kỳ Bản Thụy. Ở đây, ngài được truyền dạy rất
nhiều. Trên đường đi đến Đông Xương, ngài chợt nghe tiếng trống trên gác
lầu canh, hốt nhiên đại ngộ, nhân tiện ngài làm một bài kệ:
Ba mươi năm trước
việc đáng ghi,
Ngoài ba ngàn dặm
gặp sau kỳ,
Đốt hương, liệng
kích dường như mộng,
Ma, Phật tranh suông
thị lẫn phi1.
Vào năm thứ năm,
niên hiệu Long Khánh (1571 TL), đại sư Liên Trì đi đến núi Vân Thê, tỉnh
Hàng Châu, thấy cảnh sơn thủy hữu tình u tịch, thâm tâm ngài rất thích ở
chỗ này và quyết chí cất am ở lại trong núi, bắt đầu chuyên tu niệm Phật
Tam-muội, đồng thời ngài vân tập Tăng chúng và Phật tử xa gần đến để
giảng dạy cho họ. Chẳng bao lâu nơi này thành một đại Tùng Lâm.
Năm thứ 12 niên hiệu
Vạn Lịch (1584 TL), ngài sưu tập những chuyện “Niệm
Phật vãng sanh”
từ xưa đến nay mà
viết thành bộ “Vãng sanh tập”.
Năm thứ 20 niên hiệu
Vạn Lịch, ngài đến chùa Tịnh Từ ở Hàng Châu, làm chủ tọa khai đàn thuyết
pháp. Trong thời gian ở đây, ngài đề xướng quy chế Giới Đàn, khuyến khích
mọi người thực hành phương pháp tự thệ thọ giới. Đồng thời ngài đích thân
soạn văn giới sát phóng sanh, khuyên bảo mọi người không nên sát sanh hại
vật, hơn nữa ngài dốc hết sức mình phát động đào ao phóng sanh ở trong
núi, kể cả nội thành và ngoại thành. Đại sư Liên Trì là hành giả Tịnh độ
và cũng là hành giả Thiền tông, cho nên đại sư Liên Trì là người chủ
trương Thiền Tịnh đồng quy. Ngài rất đau lòng cho tín đồ Thiền tông đương
thời, hạng người hiểu biết cạn cợt, tâm kiêu ngạo, lấy lý lẽ của Thiền
tông để giải thích pháp môn Tịnh độ. Đương nhiên, người chủ trương Thiền
Tịnh song tu, bắt đầu từ thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ ở cuối đời nhà Đường
và trải qua đời nhà Tống thì có thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu, cho đến
đại sư Liên Trì Châu Hoằng là tập đại thành. Ngài sao chép những điều
trọng yếu của hai ngài, Vĩnh Minh Diên Thọ và Cao Phong Nguyên Diệu để
khai thị cho hàng học giả.
Vào tháng 7 năm thứ
43 niên hiệu Vạn Lịch, nhân lúc bệnh nặng ngài liền soạn ra “Ba điều đáng
tiếc và mười điều đáng than”, để cảnh sách đại chúng và dặn đi dặn lại
phải “luôn luôn niệm Phật”. Khuyên bảo các đệ tử xong, ngài an nhiên thị
tịch, thọ 81 tuổi. Hậu thế suy tôn ngài làm tổ thứ tám của hội “Liên xã”.
Ngài trước tác rất
nhiều tác phẩm như: A-di-đà kinh
sớ sao (4
quyển), Vãng sanh tập
(3
quyển),
Tịnh độ nghi biện
(1quyển),
Thiền quan sách tấn
(2 quyển),
Phạm võng kinh giới sớ phát ẩn
(5 quyển), Lăng-già
kinh mô tượng ký
(1 quyển), Truy
môn sùng hạnh lục
(1 quyển),
Sơn phùng tạp lục
(3 quyển),
Trúc song tùy bút
(2 quyển) ... Toàn
tập của ngài gọi là “Vân thê pháp
vị”, tính
tổng cộng là 32 quyển.
II. TƯ TƯỞNG THIỀN TỊNH
ĐỒNG QUY.
Đứng về giáo lý Tịnh
độ, lập trường của đại sư Liên Trì là đem kinh điển Tịnh độ chia làm ba
loại:
1. Kinh
Vô lượng thọ
và kinh
A-di-đà
gọi là “Đồng bộ”.
2. Kinh Quán
vô lượng thọ
và kinh Cổ âm vương
cùng với bài kệ kinh
A-di-đà
gọi là “Đồng loại”
3. Kinh
Hoa nghiêm
và kinh
Pháp hoa
cho đến tất cả kinh
điển Tịnh độ đã nói rõ, gọi là “Phi loại phi bộ”. Ở trong ba loại kinh
này, đại sư Liên Trì đặc biệt chú trong kinh
A-di-đà,
vì để “Trì danh niệm Phật”. Hơn nữa, pháp môn này phù hợp với trình độ căn
cơ và hoàn cảnh mọi người. Kinh này cũng hoàn toàn do đức Phật nói ra
nguyên do có mười việc lớn, cho nên đại sư Liên Trì đối với kinh
A-di-đà
hết sức tinh tấn
hành trì. Ngài nói rằng: “giáo lý bao quát một đời của đức Phật, mục đích
không ngoài việc: Khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”.
Ngài dùng kinh này,
để giải thích có mười nghĩa, hiện ghi chép ở trong
“Di-đà kinh sớ sao”,
quyển 1:
1. Vì lòng đại bi
thương xót chúng sanh, nên đức Phật nói kinh này làm cầu bến cho đời mạt
pháp nương tựa.
2. Vì trong vô lượng
pháp môn, thì pháp môn này là tối thắng.
3. Vì sanh tử của
chúng sanh mà giúp họ lìa khổ được vui.
4. Vì giáo hóa dẫn
dắt hàng nhị thừa “chấp không” chẳng lo tu Tịnh độ.
5. Vì khuyên những
người mới phát tâm hành Bồ-tát đạo, nên cố gắng niệm Phật để được gần gũi
đức Như Lai.
6. Vì muốn độ thoát
tất cả các hàng độn căn, lợi căn.
7. Vì muốn hộ trì
những người tu hành gặp nhiều chướng nạn khỏi bị đọa lạc.
8. Vì khai ngộ cho
người, tự tâm hữu niệm mà nhập vô niệm.
9. Vì khai ngộ, nhân
vãng sanh mà thật ngộ quả vô sanh .
10. Vì chỉ rõ trong
các con đường tu hành thì đây là con đường ngắn nhất.
Nên biết, đức Phật
thuyết kinh A-di-đa,
sự thật do hoài bão và lòng thương xót rộng lớn của Ngài. Vì trong thời kỳ
mạt pháp, chúng sanh bị phiền não đau khổ quấy nhiễu, nên Ngài nói ra kinh
này để chỉ bày một con đường tắt duy nhất nhằm giúp chúng sanh thoát ly
sanh tử. Đồng thời đại sư Liên Trì lại căn cứ Phán giáo của Ngũ giáo Hoa
nghiêm tông, dựa vào kinh A-di-đà
mà thâu nhiếp
Đốn giáo, kiêm thông cả Chung giáo và Viên giáo. Chính vì chỗ thâu nhiếp
Đốn giáo, cho nên kinh này nói địa vị phàm phu tuy bạc mỏng, nhưng nếu trì
danh niệm Phật thì sau khi lâm chung liền được vãng sanh Tịnh độ, dự vào
ngôi “Bất thoái chuyển”, thành tựu đại sự thoát ly sanh tử, khác hẳn với
Tiệm giáo cần phải trải qua nhiều kiếp tu hành mới có thể nhập vào địa vị
“Bất thối”. Nhờ kiêm thông cả Chung giáo nên niệm Phật vãng sanh Tịnh độ,
sau này mới có thể dần dần thành Phật. Còn kiêm thông Viên giáo là chỉ cho
chúng ta thấy cảnh giới Tịnh độ, như ở trong kinh
A-di-đà
nói: Nước, chim,
cây, rừng, khắp nơi, hết thảy đều là diễn bày diệu pháp của đức Như Lai
hóa hiện ra. Lại ở trong kinh Vô
lượng thọ,
đức Phật nói: có thể ở trong “Cây báu” đó cũng đủ thấy hết mười phương cõi
Phật. Tuy đức Phật A-di-đà thường trụ Tây phương Tịnh độ nhưng cũng biến
khắp mười phương cõi Phật. Lại cũng từ trong mỗi mỗi đóa hoa phóng ra ba
mươi sáu ức Na-do-tha2, trăm ngàn ánh sáng quang minh, trong mỗi mỗi ánh
sáng lại hiện ra 36 ức Na-do-tha trăm ngàn thân Phật, khắp vì tất cả mười
phương chúng sanh nói pháp. Những cảnh giới này, đều do “Sự sự vô ngại”
của Nhất thừa Biệt giáo trong Hoa nghiêm. Cho nên kinh
A-di-đà
và kinh
Vô lượng thoï
đều thâu nhiếp vào phạm vi Đốn giáo. Chúng ta nên biết, ngài Thanh Lương
Trừng Quán đem Thiền tông thâu nhiếp vào Đốn giáo, đại sư Liên Trì chủ
trương Thiền Tịnh “Đồng quy”, vì thế cũng đem kinh
A-di-đà
và kinh
Vô lượng thọ
của Tịnh độ tông
nhiếp vào trong Đốn giáo. Bởi vì, theo quan điểm của hai ngài là Tịnh độ
tông phải đặt trên nền tảng “Tâm, Phật và chúng sanh tam vô sai biệt”. Tâm
tức là Phật thì Phật cũng là chúng sanh, như vậy chúng ta niệm Phật, thành
chúng sanh trong tâm của chư Phật và lúc niệm chư Phật trong tâm chúng
sanh. Đây là Đốn giáo.
Lại nói niệm Phật,
niệm cho đến “Nhất tâm bất loạn”, nghĩa là niệm đến chỗ tận cùng để trở về
“không niệm” cũng chính là niệm mà không niệm, thì mới gọi là chân niệm.
Do đó, trọn ngày niệm Phật chủ yếu là đạt đến chỗ vô niệm, tức là đạt đến
cái lý vô niệm. Cầu sanh Tịnh độ là liễu ngộ cái “bất khả đắc”, nghĩa là
không sanh mà sanh, sanh mà thật chẳng sanh, chính là ý nghĩa “Tự tánh
Di-đà duy tâm Tịnh độ”. Tư tưởng này căn cứ nơi lý luận Thiền, Tịnh đều
quy về một chỗ nhất tâm.
III. THỰC TIỄN TỊNH ĐỘ
TÍN NGUYỆN HẠNH
Đại sư Liên Trì căn
cứ theo thuyết của ngài Tử Nguyên (đời nhà Tống) và ngài Phổ Độ (đời nhà
Nguyên), là xác nhận rằng, hành giả muốn thực hành pháp môn Tịnh độ, cần
phải chuẩn bị đầy đủ ba điều kiện Tín, Nguyện, Hạnh.
1. Tín: Là tin rằng
chúng sanh với Phật chẳng phải hai, chúng sanh niệm Phật nhất định sẽ được
vãng sanh và cũng nhất định thành Phật. Cho nên, ở trong kinh
A-di-đà
đức Thích Tôn đã
nói: “Các ngươi đều phải tin theo lời Ta dạy”.
2. Nguyện: Nếu quả
thật chỉ tin thôi mà không phát nguyện hành trì, thì làm sao đến được cảnh
giới Tây phương Cực lạc, cần phải cầu vãng sanh mới được vãng sanh. Vì thế
trong kinh A-di-đà
nói: “Cần phải phát
nguyện, nguyện sanh về cảnh giới Tây phương Cực lạc”.
3. Hạnh: Nếu phát
nguyện mà không hành trì, thì chỉ là phát nguyện suông, bởi thế cần phải
tiến thêm một bước nữa, thường tinh tấn thực hành mỗi niệm mỗi niệm nối
tiếp nhau không để gián đoạn. Ví như trong kinh
A-di-đà
nói: “Phải nắm giữ
danh hiệu Phật, niệm cho đến nhất tâm bất loạn”.
Điều kiện Tín,
Nguyện, Hạnh chính là ba loại tư lương cần thiết cho việc vãng sanh Tịnh
độ, nếu thiếu một trong ba loại thì không thể được. Bởi vì ba loại tư
lương này như một vòng tròn không đầu mối, ba loại này là yếu tố quan
trọng liên kết với nhau để hành trì, dẫn dắt đến con đường giải thoát.
Nhưng trong ba loại tư lương này thì loại thứ ba “Chấp trì danh hiệu”
(Phải nắm giữ danh hiệu Phật, niệm cho đến nhất tâm bất loạn) cũng hàm
chứa nội dung ba món tuệ: Văn, Tư, Tu.
a. Văn tuệ: Là sau
khi đọc kinh biết được bổn nguyện đức Phật A-di-đà, liền nghĩ nhớ danh
hiệu của Ngài nên gọi là Văn Tuệ.
b. Tư tuệ: Sau khi
nghe được danh hiệu biết được bổn nguyện của đức Phật A-di-đà, lúc ấy liền
tác ý tiếp thọ, nhưng phải tiếp thọ như thế nào? Đương nhiên là dùng tâm
tiếp thọ, nên gọi là Tư tuệ.
c. Tu tuệ: Sau khi
tiếp thọ danh hiệu, phải giữ gìn không quên, cho nên tu tuệ chính là niệm
niệm nối tiếp nhau không dứt. Phương pháp tu tập của pháp môn niệm Phật
phân ra làm ba loại:
1. Niệm danh hiệu
đức Phật A-di-đà thành tiếng gọi là “Minh trì”.
2. Niệm mà tâm
niệm, gọi là “Mặc trì”.
3. Niệm khẽ nhắp môi
giống như pháp môn trì chú Kim
cang gọi là
“Nửa minh trì, nửa mặc trì”.
Ở trong pháp môn
niệm Phật cũng chia ra hai cách:
- Niệm Phật có tính
số và niệm Phật không tính số. Tuy nhiên có người dùng đến hạt đậu nhỏ để
tính và có người niệm Phật chú tâm vào số lần họ niệm. Ở đây đại sư Liên
Trì không quy định cứng rắn, miễn là người trì danh niệm Phật, việc tính
số hay không tính số đều tùy theo chỗ thuận của mỗi người mà thực hành. Vì
công năng niệm Phật cốt quan trọng ở chỗ nhất tâm bất loạn, nên số lượng
ít hay nhiều không liên quan đến ý chính.
IV. ĐẠO LÝ NHẤT TÂM BẤT
LOẠN
Nhất tâm bất loạn là
đem tâm của chúng ta chuyên chú vào một đối tượng, không bị một loại trạng
thái nào làm khởi lên vọng tưởng tán loạn. Nhưng ở đây nói đến hai phương
diện: nhất tâm về sự và nhất tâm về lý .
1. Nhất tâm về sự:
Khi niệm danh hiệu Phật, miệng đọc tai nghe, tâm phải ghi nhận từng chữ
từng chữ rõ ràng không bị gián đoạn, ngay cả việc đi, đứng, nằm, ngồi nhất
nhất chỉ một niệm không có niệm thứ hai. Nhân đó mà ngăn chặng phiền não
tạp niệm tham sân si ..., hết thảy những tâm cảnh bên trong cũng như ngoại
cảnh bên ngoài đều loại bỏ. Nếu đạt đến giai đoạn này, thì dần dần sẽ
thành tựu được Tín lực, vì chỉ có lòng tin vững chắc và hiểu biết như vậy,
mới có thể điều phục được phiền não .
2. Nhất tâm về lý:
Khi nghe danh hiệu Phật không những nhớ nghĩ thường niệm, mà còn quán xét
trở lại căn nguyên để đạt đến cực điểm, tức là có thể quay về bổn tánh
chơn như, khế hợp với căn nguyên mà thành tựu được nhất tâm. Từ đây cũng
có hai giai đoạn:
Thứ nhất: “Năng niệm
và sở niệm” biến đổi không ngoài hoàn cảnh xung quanh, tức là bên trong
tâm mình “năng niệm” không có khác đức Phật bên ngoài “sở niệm”. Nếu bỏ đi
đức Phật bên ngoài “sở niệm” thì đức Phật trong tâm mình cũng không có
“năng niệm”, chỉ là nhất tâm mà thôi.
Thứ hai: “Năng niệm
và sở niệm” là chẳng phải có, chẳng phải không, lìa nghĩa tứ cú (có,
không, cũng có, cũng không, chẳng phải có chẳng phải không), dứt đường suy
luận, không có tướng trạng. Tức là ở trong sự nhất tâm thì năng niệm và sở
niệm liền tiêu dứt, không còn ngoài sự thấy biết, đích xác là như vậy. Vì
“lý thể” khế hợp với bản tánh thanh tịnh.
Đây là lý quán sự
tướng thuần túy không hai. Khi năng lực quán sát này đã thành tựu, là ở
vào địa vị kiến đạo, thì có thể phá trừ hết phiền não tạp niệm. Hơn nữa lý
nhất tâm này, bao quát vô cùng sâu rộng, ví như: “Nhất hạnh tam-muội”
trong kinh Văn Thù Bát-nhã,
“Nhất hạnh
niệm Phật” và “Nhất thời niệm Phật” trong kinh
Hoa nghiêm,
“Quán Phật chơn như
pháp thân” trong luận Khởi tín
cũng đồng
nghĩa với nhất tâm. Lại như trong kinh Quán
vô lượng thọ,
đã nói ba tâm: Chí thành tâm ... . Ba tâm trong luận
Khởi tín:
Chân tâm ... . Ba tâm trong luận
Vãng sanh:
Thanh tịnh tâm ... cho đến mười tâm trong kinh
Hoa nghiêm
và mười tâm trong
kinh Bảo tích
cũng đều quy về nhất
tâm này. Lại trong kinh Tịnh danh
nói tám pháp,
Tỳ-kheo Đức Vân nói rõ hai mươi mốt loại niệm Phật, cũng không ngoài lý
nhất tâm này. Ở đây hàng Bồ-tát gọi là niệm Phật “Tam-muội” trong thiền
của Tổ sư Đạt-ma dạy chính là “Trực chỉ chơn tâm”. Cho nên một tiếng niệm
Phật có thể diệt trừ tám mươi ức kiếp tội nặng trong sanh tử, đạo lý chỉ ở
tại pháp môn niệm Phật này cho đến cảnh giới lý nhất tâm mà thôi. Chúng ta
biết, niệm Phật tuy dễ dàng nhưng đạo lý thật không đơn giản, nếu chẳng
niệm đến nhất tâm bất loạn, thì sự liễu ngộ của ta hết sức là nông cạn. Vì
theo sở kiến của đại sư Liên Trì thì pháp môn niệm Phật là giản dị, nhưng
là cực kỳ tinh thâm, trong khi thực hành thì rất đơn giản, hàm chứa “Triết
lý tư biện” (triết lý tư duy phân biệt) rất sâu xa. Cho nên người đời gọi
ngài là “Đại Sư”, vì nếu một hành giả Tịnh độ bình thường thì không đủ tư
cách làm một vị “Đại Sư”. Thời nay có người cho rằng pháp môn Tịnh độ là
giáo lý cạn cợt chỉ để tiếp dẫn những người sơ cơ nhập đạo mà thôi, nhưng
nếu chỉ luận bàn chỗ nông cạn đó thì quả là người thiếu hiểu biết, chưa có
đi sâu vào giáo lý Tịnh độ. Đại sư Liên Trì lại căn cứ trong “Phổ
Hiền hạnh nguyện phẩm sớ”
của đại sư Tông Mật, đem pháp môn niệm Phật phân ra làm bốn loại:
1. Xưng danh niệm
Phật: Là dựa vào trì danh niệm Phật mà trong kinh
A-di-đà
đã nói rõ.
2. Quán tượng Niệm
Phật: Tức là tập trung tư tưởng tâm thức, quán tưởng chiêm ngưỡng hình
tượng Phật được tạo lập từ đất, gỗ, vàng, đồng, giấy ... để giúp tâm an
trụ vào chánh niệm.
3. Quán tưởng niệm
Phật: Là căn cứ theo phương pháp ở trong kinh “Quán
Phật tam-muội”
và kinh “Thập lục quán”
(16 phép quán) đã nói rõ, nên dùng nhãn tâm quán tưởng đến thân tướng tốt
đẹp của Như Lai.
4. Thật tướng niệm
Phật: Là lìa bỏ sự đối đãi giữa sanh và diệt, không và có, năng và sở ...
cũng hoàn toàn dứt hẳn ngôn ngữ và danh tự, lìa hẳn tâm duyên, chuyên niệm
tự tánh “Thiên chân Phật”, nghĩa là Pháp thân Phật, bản lai thanh tịnh vốn
sẵn có nơi mỗi chúng sanh. Ví như kinh
Hoa nghiêm
nói: “Nếu muốn thấy
thế giới Cực lạc của đức Phật A-di-đà, thì tùy ý liền thấy”. Đây chính là
“Thật tướng niệm Phật”. Trong bốn cách niệm Phật thì cách thứ tư hơn cách
thứ nhất, vì cách thứ nhất “Xưng danh niệm Phật” rất thiển cận, còn “Thật
tướng niệm Phật” thì toàn diện hơn. “Thật tướng niệm Phật” chính là lý
nhất tâm, nên có thể vận dụng cả đầu và cuối, đó là phương tiện thù thắng
nhất.
V. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠI SƯ
LIÊN TRÌ
Đứng về phương diện
giải thích thì “Nhất tâm bất loạn” phân làm hai loại: Nhất tâm về sự và
nhất tâm về lý. Chủ trương đề xướng thuyết này, bắt đầu từ thiền sư Tịnh
Giác Nhân Nhạc, sau đó có thêm ngài Thiên Như Duy Tắc và Trạm Đường Tánh
Trừng mà đại sư Liên Trì là người kế thừa, noi theo ý nguyện của các bậc
Cổ đức đi trước, nhưng ở phương diện giải thích lại có phần khác đôi chút
so với tôn chỉ của các ngài. Ngài Tịnh Giác Nhân Nhạc và các vị khác đều
đứng trên lập trường giáo nghĩa Thiên thai tông mà giải thích lý nhất tâm,
nhằm để thích hợp với nghĩa “Nhất tâm tam quán”. Họ là những người đề
xướng Thiên thai tông và Tịnh độ tông dung hợp, tức là căn cứ nơi giáo
nghĩa và sự hành trì của họ mà lập luận. Nhưng đại sư Liên Trì không phải
là học giả của Thiên thai tông, cho nên ngài nhận định rằng: nếu muốn thể
nghiệm lý nhất tâm thì phải quay về thẩm xét lĩnh hội chỗ tận cùng của bổn
tâm mình. Đây cũng là “Trực chỉ thiền” của Tổ sư Đạt-ma. Dựa theo lý luận
này, ngài Liên Trì lấy đó làm cơ sở để hợp nhất Thiền tông và Tịnh độ.
Đại sư Liên trì nối
gót theo ngài Vĩnh Minh Diên Thọ mà tập đại thành, Thiền Tịnh viên dung.
Vì ngài Vĩnh Minh Diên Thọ và các vị tổ sư khác kết hợp cả Thiền tông và
Tịnh độ, chẳng qua muốn giúp cho những hành giả Thiền tông bụng rỗng tâm
ngạo, chỉ hiểu biết phiến diện mà cố chấp chẳng thực sự tu hành, khuyên họ
nên kiêm tu niệm Phật. Trước đây bản chất của hai tông Thiền, Tịnh phủ
định là hai, trong Thiền có Tịnh, trong Tịnh có Thiền. Sau này nhờ tham
cứu trong luận Niệm Phật
của đại sư Ngẫu Ích
cũng có nói Thiền tông và Tịnh độ vốn không hai. Đồng thời đại sư Ngẫu Ích
đề xướng chỉnh đốn thống nhất Giáo, Luật, Thiền tông quy về nhất nguyên,
đây là một lập luận mới, hơn nữa đại sư Ngẫu Ích cũng có thêm kiến giải
mới đối với tư tưởng Tịnh độ. Vấn đề này, đến phần đại sư Ngẫu Ích sẽ nói
rõ hơn.
Tóm lại, tư tưởng
của Tịnh độ tông không phải là không thay đổi, mà vẫn luôn luôn thay đổi.
Đến thời cận đại, đại sư Ấn Quang là tổ thứ mười ba của “Liên xã” vẫn có
chỗ bất đồng trong quan điểm tư tưởng giữa mười ba vị tổ. Bởi vì, cứ trải
qua từng thời kỳ thì trình độ căn cơ của mọi người có chỗ sai biệt, nên tư
tưởng Tịnh độ của mỗi ngài có sự khác nhau. Nhưng trên nguyên tắc thì nên
tuân theo một điều, dù có thay đổi đến vạn lần hay dưới hình thức nào đi
nữa cũng không rời căn bản Tam vô lậu học. Chính là giới, định, tuệ. Người
tu theo pháp môn niệm Phật cần phải chú trọng hành trì, Ngũ giới, Thập
thiện, cho đến Lục độ và Tứ nhiếp pháp, chứ không thể chỉ nương một câu
niệm Phật A-di-đà, vì ở trong kinh
A-di-đà
đã nói rõ: “Bất đắc
dĩ thiểu thiện căn phước đức nhơn duyên, đắc sanh bĩ quốc” (Nghĩa là không
thể dùng chút ít nhân duyên thiện căn phước đức mà được sanh về cõi Tây
phương Cực lạc).
Cho nên hành giả
niệm Phật đến nhất tâm bất loạn hoặc được Tam-muội, thì công phu ấy chính
là thiền định, bởi do trì giới niệm Phật thực hành Văn, Tư, Tu, thì nhất
định có thể phát sanh trí tuệ vô lậu, đoạn trừ vọng tưởng của căn bản
phiền não, giải thoát sanh tử luân hồi. Tư lương của hành giả cầu sanh
Tịnh độ là Tín, Nguyện, Hạnh, nhưng khi hành trì thì chắc chắn lấy niệm
Phật làm căn bản. Vì thế phải lấy bố thí, trì giới để trợ giúp lẫn nhau.
Đây là cách nhìn nhận của tôi (ngài Thánh Nghiêm) đối với hành giả Tịnh độ
tông.
--- o0o ---
[
Mục
Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09]
[10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-01-2005