Pháp
Tạng
Phật Giáo Việt Nam
Tập
85
Luận sử tông Tịnh độ
Việt dịch:
Quảng Tấn - Quảng Ân - Quảng Bình
Quảng Hiếu
- Huệ Hải - Quảng Xả
Quảng Mẫn
- Tâm Đức - Huệ Chí - Tâm Đại
Hạnh Minh
- Nhuận Độ - Nguyên Thành
Tâm Hiếu -
Như Giáo - Nguyên An
Chứng Nghĩa:
Thích Đổng Minh
Phụ chú:Thích
Tâm Nhãn
Chùa Long Sơn, Nha Trang
Phật Lịch: 2548 - 2004
--- o0o ---
13.
LUẬN
THIỀN TỊNH SONG TU
CỦA
NGÀI VĨNH MINH DIÊN THỌ
Nguyên tác:
Ấn Hải
Việt dịch:
Thích Huệ Chí
I. SỰ TÍCH NGÀI DIÊN THỌ
Đời nhà Đường, niên hiệu Hội Xương năm thứ năm (845 TL), vua Võ Tôn hủy
diệt Phật pháp, khiến Phật pháp phải chịu nhiều trù dập, thế lực Phật giáo
không kham nổi nên suy tàn. Sau đó, đến cuối đời Đường, qua thời Ngũ Đại,
chiến loạn liên tiếp nên vận mệnh Phật giáo cũng suy vi không trấn hưng
nổi. Đặc biệt là thời Hậu Chu, niên hiệu Hiển Đức thứ 2 (955 TL), vua Thế
Tông nhiều lần phá hoại Phật giáo, chùa tháp, tượng Phật bị thiêu hủy,
chuông khánh đem nấu để đúc làm tiền tệ, trừ Ngô Việt ở phương nam, Phật
giáo có sự bảo tồn. Mãi đến đời Tống, năm đầu niên hiệu Kiến Long (960
TL), Tống Thái Tổ thống nhất thiên hạ đề xướng Phật giáo, đến Thái Tông,
Chẩn Tông, Nhân Tông … đều chủ trương làm hưng thịnh Phật giáo. Đây là nét
canh tân phục hưng rực rỡ của tinh thần văn hóa phương Đông. Thời kỳ này,
sự nghiệp dịch kinh và giáo lý phát triển nhưng chỉ thu thập những gì còn
lại, tất cả đem so sánh với đời thịnh Đường thì không bằng. Cho nên, nói
thời đại mà nghiên cứu và lý luận trở thành quá khứ. Còn có thể nói đây là
Phật giáo đời Tống tiến xa vào một thời đại thực tiễn. Vào thời Tống,
Thiền tông hưng thịnh, tiếp đến Thiên Thai, Tịnh độ cũng dần dần trấn
hưng. Phật giáo thời kỳ nào nếu chủ yếu chú trọng tu trì, thì vận mệnh
Phật giáo sẽ hưng thịnh. Quả thật tinh hoa Phật giáo sau đời Đường rất
thịnh hành, tựu trung từ sơ Đường đến nay, Thiền và Tịnh bác bỏ lẫn nhau.
Huệ Nhật, Pháp Chiếu v.v… đều cho người học Thiền là bụng rỗng tâm ngạo
viết ra. Lại có những sách như “Thập nghi luận” và “Niệm Phật kính” chỉ
trích Thiền tông là thiên kiến, nhưng đối với tác dụng của Thiền tông chỉ
phản tĩnh, tự mình thanh tịnh. Ngài Huệ Trung ở Nam Dương chủ trương hành
giải kiêm cả tu trì. Ngài Bách Trượng Hoài Hải chế định thanh quy cho
Thiền Lâm quy định pháp chế, khi lễ trà-tỳ phải xưng dương danh hiệu
Di-đà. Tất cả mọi việc ở đây tuy trình bày chưa tường tận, nhưng chủ
trương rất rõ ràng. Đến những năm cuối của thời Ngũ Đại, ngài Vĩnh Minh
Diên Thọ ra đời, nhất quyết đề xướng Thiền, Tịnh song tu, lý sự vô ngại
thành tựu trọn vẹn cả Không lẫn Hữu, là yếu chỉ của Phật giáo, đồng thời
cũng từ việc quảng diễn “Vạn thiện hạnh môn” (pháp niệm Phật là muôn hạnh
thù thắng). Đương thời nó đã dành cho Thiền tông một tác động rất lớn. Về
sau các thiền sư như Thiên Y Nghĩa Hoài, Huệ Lâm Tông Bổn cũng đồng nhiệt
liệt hưởng ứng. Từ đời Nguyên, Minh về sau đã trở thành một giáo phong
thông lệ bất hủ, tạo thành một nét đặc sắc lớn cho Thiền, Tịnh song tu của
Phật giáo Trung Quốc.
Ngài Diên Thọ họ Vương, người Dư Hàng, phủ Lâm An (nay là huyện Dư Hàng,
tỉnh Chiết Giang). Khi ngài 20 tuổi một lòng quy y Phật, ngày ăn một bữa,
thường tụng kinh Pháp hoa, năm lên 28 tuổi, làm tuớng trấn thủ ở Hoa Đình
(tỉnh Giang Tô). Năm 30 tuổi, ngài xin Ngô Việt Vương nghỉ làm quan, thế
phát xuất gia với thiền sư Thuý Nham ở chùa Long San và sống hạnh đầu-đà.
Sau đó, đến núi Thiên Thai tham thiền nhập định chín tuần dưới đỉnh Thiên
Trụ, rồi lại tham kiến thiền sư Pháp Nhãn Đích Tự Đức Thiều. Thiền sư Đức
Thiều biết ngài là một pháp khí bèn truyền trao mật chỉ, ngài liền tỏ ngộ.
Sau đó ngài đến chùa Quốc Thanh tu “Sám pháp hoa” và tại thiền viện Trí
Giả từng bốc hai quẻ bói, một là “nhất tâm tu thiền”, hai là “tụng kinh
Vạn thiện”, tức “Trang nghiêm Tịnh độ”. Bảy lần chiếm quẻ đều trúng quẻ
chọn kinh “Vạn thiện”, nên ngài không chỉ quyết tâm tu thiền mà thệ nguyện
dốc sức tụng kinh Vạn thiện. Vào thời Hậu Chu, niên hiệu Quảng Thuận năm
thứ 2 (952 TL), ngài ở núi Tuyết Đậu cho đến đời Tống, niên hiệu Kiến Long
năm thứ nhất (960 TL), rồi ngài nhận lời mời của Ngô Việt Trung Ý Vương,
đến phục hưng chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu. Năm sau, ngài đến ở chùa Vĩnh Minh
(hay gọi chùa Tịnh Từ, Hàng Châu), học trò theo học với ngài hơn hai ngàn
người, họ từng làm kệ rằng:
Dục thức Vĩnh Minh chỉ
Môn tiền nhất hồ thuỷ
Nhật chiếu quang minh sanh
Phong lai ba lãng khởi
Tạm dịch:
Muốn biết ý Vĩnh Minh
Hồ nước ở trước cửa
Trời lên nắng chiếu soi
Gió thổi nước gợn sóng.
Ngài Diên Thọ ở chùa Vĩnh Minh 15 năm và truyền giới Bồ-tát cho 7 chúng đệ
tử, lúc ấy mọi người tôn ngài là Di-lặc hạ sanh. Trong sinh hoạt thường
nhật của ngài có lễ cúng thí thực cho quỷ thần vào mỗi tối và phóng sanh
vô số.
Bộ Pháp hoa, ngài tụng một vạn ba ngàn lần, tiếng tăm ngài vang dội khắp
nơi. Nên sau đó, vua Quang Tông Đại Thành nước Cao Ly nghe tiếng, sai sứ
thỉnh ngài đến để thọ giáo pháp. Nhà vua trai giới chấp thuận tác lễ làm
đệ tử, lại dâng cúng ngài đại y dệt bằng kim tuyến, một xâu chuỗi kết bằng
thủy tinh màu tím, một hộp kim thang (thuốc bổ), rồi phái 36 vị Tăng đến
học, ngài Diên Thọ truyền trao yếu chỉ cho. Sau khi từ Cao Ly trở về, ngài
lại hoằng dương đạo pháp. Do đó, tông Pháp Nhãn được lan truyền khắp Đông
Hải. Thường khóa của ngài Diên Thọ là hằng ngày làm trăm công việc Phật
sự. Công việc trong yếu của ngài là thọ trì thần chú (chú Đại bi, chú Tôn
Thắng Đà-la-ni), niệm Phật, lễ Phật, sám hối, tụng kinh (kinh Pháp hoa,
Bát-nhã tâm kinh, Hoa nghiêm phẩm Tịnh hạnh), tọa thiền, thuyết pháp và
mỗi ngày ngài đảnh lễ mười phương Phật: Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền,
Di-lặc, Quán Âm, Thế Chí … . Mỗi đêm Ngài ở nơi hoang dã cúng thí thực cho
quỷ thần. Ngài Diên Thọ phát nguyện cầu sanh Tây phương, mỗi ngày ngài
niệm mười vạn danh hiệu đức Phật Di-đà. Khi trời tối, ngài thường đi đến
núi xa để niệm Phật, mọi người theo ngài cả trăm người. Vào những đêm
thanh trăng sáng, ngài thường nghe tiếng kèn ốc loại nhạc khí của trời.
Vua Ngô Việt Trung Ý rất quý trọng thâm đức của ngài. Nghe sự việc ngài
làm, vua cảm động, thành tâm, thành chí xây cho ngài một điện “Hương
Nghiêm Tây Phương” và ban tặng ngài hiệu “Trí Giác thiền sư” (vào tháng 12
năm thứ 8 niên hiệu Khai Bảo, đời nhà Tống). Ngài viên tịch tại chùa Vĩnh
Minh, thọ 72 tuổi. Trước tác của ngài rất nhiều như: “Tông cảnh lục” 100
quyển, “Vạn thiện đồng quy tập” 6 quyển, “Thần thê an dưỡng phú”, “Duy tâm
quyết”, “Thọ Bồ-tát giới”, mỗi loại một quyển. Tất cả hơn 60 bộ, có thể
nói đó là một đời Thạc học. Nền học vấn và sự hành trì của ngài sánh ngang
ngài Trí Giả đại sư.
II. GIÁO CHỈ CỦA SỰ LÝ SONG TU.
Ngài Diên Thọ là người đại biểu cho thời đại hưng thịnh của Thiền Tông.
Ngài chủ trương “Phật tổ bất nhị”, “Thiền Giáo nhất thể”, chiết trung về
Pháp tướng, Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai, rồi dùng Thiền dung hòa tất
cả, giữ luật thanh tịnh trang nghiêm, trì chú, niệm Phật vui cầu vãng
sanh, nhóm tất cả Phật pháp ở trong một thân. Nhưng lấy nhất thừa của Hoa
nghiêm làm cứu cánh viên diệu, lấy linh minh diệu tâm của chúng ta làm bổn
nguyện vạn pháp, đó là lý luận cao viễn hùng dũng. Đây là nét đặc sắc
riêng biệt của ngài Diên Thọ, về vấn đề tự học bằng phương pháp tổng hợp
so sánh tất cả. Về sau các tông có xu hướng dung hợp cũng theo tư tưởng,
đường hướng ngài Diên Thọ.
Sự trì chú của Thiền tông từ ngài Đạt-ma cho đến nay chưa từng nghe nói.
Sau năm niên hiệu Khai Nguyên thời Lý Đường1 thì mật giáo hưng thịnh ảnh
hưởng cả Thiền tông. Mật chú của ngài Diên Thọ không biết kế thừa ở người
nào? Như Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm Đà-la-ni, Phật Đảnh Tôn Thắng
Đà-la-ni, về sau Thiền tông đều thường trì tụng. Phổ thí cho ngạ quỷ thì
vào triều đại nhà Đường có Thiền sư Khuê Phong, thuộc Mật tông thường tu
trì, ngài Diên Thọ cũng thực hành theo pháp này.
Thời Đường, ngài Diên Thọ thấy các môn sinh đồ chúng Thiền tông chỉ chấp
Lý mà mê Sự, tất cả những người giảng dạy đều chấp Sự mê Lý, hai điều này
đều rơi vào thiên kiến. Ngài Diên Thọ lại nói rõ Lý, Sự vô ngại, “Hữu”
“Không” đồng nghĩa, ngài cực lực đề xướng Lý Sự hợp nhất, Thiền Tịnh song
tu là thiết yếu. Ngài còn trước tác bộ “Vạn thiện đồng quy tập”, trong đó
có 10 nghĩa tu viên mãn:
1. Lý, Sự vô ngại
2. Quyền, Thật song hành
3. Rõ bày Nhị đế
4. Tánh, Tướng dung nhiếp
5. Thể, Dụng tự tại
6. Không, Hữu hợp thành
7. Chánh, Hành song tu
8. Đồng Dị không hai
9. Tánh, Tu đồng nhất
10. Nhân, Quả chẳng khác
Thứ nhất, pháp môn Sự, Lý vô ngại là căn bản cho niềm tin.
Nay trình bày đại yếu:
Vũ trụ, không gian, lý thể nhất biên, nghĩa là bản thể các pháp thuộc pháp
Vô vi bất sanh bất diệt, đây là thật tướng các pháp. Phàm sự tướng nhất
biên, nghĩa là tất cả hiện tượng thế gian có ngàn sai muôn khác, đều thuộc
về pháp Hữu vi sanh diệt, là hư huyễn giả có.
Ở đây tuy hai mà một, tuyệt đối tánh chẳng phải hai, do đó “trọn ngày độ
sanh mà không có một chúng sanh để độ”, “trọn ngày giảng pháp mà không có
một pháp để nói”, nhờ Sự mà Lý hiểu, lìa Lý thì vô Sự, nhờ Sự mà Lý lập,
nhờ Lý mà Sự sáng rõ. Nếu lìa Sự thì không sao hiểu Lý, giống như sóng do
nước mà thành, lìa Lý thì Sự không thành, như nước trở thành sóng.
Phàm phu lìa Lý mà hành Sự, Thanh Văn bỏ Sự chấp Lý, Bồ-tát ngược lại lấy
Vô sở đắc làm phương tiện, Hữu chẳng trái với Không, Tục không chướng ngại
Chơn, trụ lý thể là Vô vi, làm Phật sự là Hữu vi. Các hạnh Vạn thiện đều
là tư lương nhập đạo của Bồ-tát, lấy trí tuệ Bát-nhã làm trợ duyện, dùng
Vạn thiện làm túc hạnh, Bát-nhã là con mắt trí tuệ. Hành trang để Bồ-tát
đến bờ thanh lương là Vạn thiện túc hạnh.
Cho nên kinh Hoa nghiêm quyển 7 nói, Bồ-tát Viễn Hành Địa Tu tập mười pháp
phương tiện trí tuệ thù thắng:
1. Khéo tu Không, Vô tướng, Vô nguyện Tam-muội, khởi lòng từ bi không bỏ
chúng sanh.
2. Được pháp bình đẳng chư Phật mà thường vui cúng dường chư Phật.
3. Quán cửa Không trí mà siêng năng tu tập phước đức.
4. Xa lìa tam giới mà trang nghiêm tam giới.
5. Đoạn trừ tất cả phiền não mà vì tất cả chúng sanh diệt trừ các Hoặc
(phiền não): tham, sân, si.
6. Quán các pháp như huyễn, như mộng, như bóng chớp, như âm vang, như ráng
nắng, như ánh trăng dưới nước, như bóng trong gương, biết tự tánh không
hai, theo tâm mà hiện khởi vô lượng sai khác để tạo tác các nghiệp.
7. Biết các quốc độ giống như hư không mà dùng diệu thanh tịnh để trang
nghiêm Tịnh độ.
8. Pháp thân chư Phật bổn tánh vô thân mà lấy thân tướng trang nghiêm chư
Phật tô điểm.
9. Biết được âm thanh thuyết pháp của chư Phật là Không tánh tịch diệt mà
khéo tùy chúng sanh để diễn thuyết mỗi mỗi âm thanh tịnh sai biệt.
10. Liễu tri ba đời trong một tâm niệm mà tùy ý chúng sanh để giải bày
phân biệt các tướng, trong mọi lúc để tu muôn hạnh cho các kiếp.
Kinh Duy-ma lại nói rằng:
Tuy hành “Không” mà trồng các hạt giống đức chính là Bồ-tát hạnh. Tuy hành
“Vô tướng” mà hằng độ chúng sanh là Bồ-tát hạnh. Tuy hành “Vô tác” mà hiện
thọ thân là Bồ-tát hạnh. Tuy “Vô khởi” mà khởi tất cả thiện hạnh là Bồ-tát
hạnh.
Trên đây đều là giáo chỉ Lý, Sự vô ngại, nếu tu hành Phật đạo thì phải tùy
thuận vào yếu chỉ các pháp này. Không thể vào định mà bỏ Hữu, chứng thân
bỏ Tục nên bi trí song hành, “mắt nhìn chân bước” mới có thể tương thành
thông đạt được nghĩa lý của Hữu và Không.
Ngài Diên Thọ phân biệt giáo pháp một đời Như Lai mà phân làm Tướng tông,
Không tông, Tánh tông. Tướng tông chuyên nói về có, Không tông chủ trương
về không, Tánh tông dung hợp cả hai để hiển rõ trực chỉ. Lại nói tánh y
vào tướng, không nói tướng phá tánh.
Đương thời giáo giới nặng nói về lý huyền, phủ định tất cả, chuyên nói phi
tâm phi Phật, phi sự phi lý. Không biết rằng đây là phương tiện trình bày
để đối trị sự vọng chấp ngăn che, là giáo chỉ chánh tín để khử trừ những
người vô minh “nhận Hạc là Phượng”.
Môn đồ của Thiền tông chỉ rơi vào thấy Không, cho nên dẫn chứng lời ngài
Tam Tạng Từ Mẫn: “Thánh giáo dạy hành giả chánh tu thiền định là chế tâm
một chỗ, niệm niệm trôi chảy, xa lìa hôn trầm, tâm luôn bình đẳng, nếu bị
ngủ nghỉ ngăn che thì phải siêng năng niệm Phật, và tụng kinh, lễ bái,
hành đạo giảng kinh, thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh không bỏ vạn hạnh,
lấy sự nghiệp tu hành hồi hướng để vãng sanh Tây phương Tịnh độ”.
Lại dẫn chứng luận Khởi tín: “Nếu tu chỉ thì tâm dễ chìm đắm, biếng lười
dấy khởi nên không lìa đại bi, vui tu muôn thiện. Cho đến mọi lúc mọi nơi,
mình cũng tùy thuận khéo đảm đang, tu học các điều thiện, ngồi thiền cũng
chẳng bỏ làm các điều thiện”.
Trong “Vạn thiện đồng qui tập” dạy:
“Luận rằng Vạn thiện là tư lương của Bồ-tát nhập Thánh, các hạnh làm trợ
đạo để dần dần bước lên thềm thang của chư Phật … Pháp hoa tạm hội quy
nhất, Vạn thiện hướng về Bồ-đề, tất cả đại phẩm không hai, các hạnh bao
hàm về chủng trí”.
Lại ở trong Vạn thiện đồng quy tập, quyển thứ ba, cổ đức giải thích rằng:
“Hành giả Thiền tông thất ý mê sự, bổn tánh đầy đủ chớ cầu việc giả, chỉ
cần vong tình thì chân Phật tự hiển. Thiền giả học pháp chấp sự mê lý,
chuyên giảng nói dạng tướng cũng như “vào muôn trùng biển cát mà chẳng
biết dừng”, không biết siêng tu Lý, Sự, nếu kết hợp cả hai thì song mỹ,
lìa thì hại. Cho nên Lý Sự song tu, Tổ Phật đồng quy, Thiền Giáo nhất trí,
chính là chủ trương của ngài Diên Thọ.
Tông kính lục, quyển thứ nhất hỏi:
“Nếu muốn minh tông mà chỉ hợp để thuần ý Tổ thì làm sao dẫn cả lời dạy
chư Phật, Bồ-tát và lấy gì làm chỉ nam?”.
Đáp:
“Vốn dĩ từ trước đến nay cứ thị phi phải trái, không chịu xem kinh giáo,
sợ không rõ lời dạy của của đức Thích Tôn, lại tùy văn mà hiểu nên sai ý
Phật … Nếu hiểu được chân tâm của Phật thì làm sao có lỗi?”.
Như Hòa thượng Dược Sơn một đời xem kinh Niết-bàn, tay không rời sách,
không những ở Ấn Độ có 28 vị tổ mà ở Trung Quốc cũng có 6 vị, cho đến Hồng
Châu Mã Tổ đại sư, Nam Dương Huệ Trung quốc sư, Nga Hồ Đại Nghĩa thiền sư,
Tư Không Sơn Bổn Tịnh thiền sư, tất cả đều bác thông kinh luận, viên ngộ
tự tâm.
III. DUY TÂM TỊNH ĐỘ VÀ CHÁNH NHÂN VÃNG SANH.
Tất cả Lý Sự của ngài Diên Thọ vốn đều trong một tâm, tức bắt nguồn từ tâm
chân thật của Chân như quán. Lại tâm như người thợ vẽ, vẽ tất cả muôn vật,
đây chính là quán tâm thức, bắt nguồn từ Tâm duyên lự. Trong đó thể tâm
chân thật chính là cửa chân như, Tâm duyên lự tức cửa sanh diệt, song thể
chính là dụng, dụng chẳng lìa thể. Tức dụng là thể, thể không lìa dụng,
tức chỉ một tâm, tâm này bình đẳng thì pháp giới thản nhiên. Tâm này biến
dịch thì ngàn sai tranh khởi. Tâm này có thể thành Phật, hay thành chúng
sanh. Tâm này cũng làm nên thiên đường cũng tạo địa ngục, ngoài tâm không
có một pháp. Cho nên Tịnh độ là do tâm.
Đối với pháp yếu Tịnh độ là duy tâm, mà môn sinh Thiền tông ngộ nhận không
có Tây phương; kỳ thật Di-đà Tịnh độ cầu nguyện vãng sanh chẳng cần xả bỏ
thế giới này mà cầu Tây phương, là còn có ý niệm bỏ, lấy, cho rằng ngoài
tâm có pháp thật, thì trái với nguyên lý duy tâm. Cho nên “Thập nghi luận”
của Thiên thai nói rằng: “Người trí sanh Tịnh độ, mà đạt được thật thể
‘sanh’ không thể đắc, đây mới chính là chân thật của ‘vô sanh’. Người vô
minh do ‘sanh’ trói buộc, nghe ‘sanh’ hiểu là ‘sanh’, nghe ‘vô sanh’ hiểu
là ‘vô sanh’, cần phải biết ‘sanh’ tức ‘vô sanh’, ‘vô sanh’ tức ‘sanh’”.
Lại ở trong luận Quần nghi nói rằng: “Tuy biết trong kinh nói, quốc độ của
chư Phật và chúng sanh đều không, mà thường tu Tịnh độ để giáo hóa chúng
sanh. Viên thành thật chỉ nói vô tướng giáo, lấy cứu cánh ‘không’ để phá
Biến kế sở chấp, tin tất cả pháp đều là Y tha khởi của nhân duyên sanh.
Như người thâm tín nhân quả mới rõ được nghĩa duyên sanh vô sanh. Nếu tín
lực chưa đủ, tâm tán loạn, dao động, quán hành còn yếu, thì phải tu Tịnh
độ, cầu nguyện vãng sanh”. Luận Khởi tín khuyên tu chỉ quán nói rằng: “Nếu
tâm tánh khiếp nhược, sợ tín tâm khó thành tựu thì nên chuyên niệm Di-đà,
cầu sanh thế giới Tây phương Cực lạc”. Luận Vãng sanh cũng dạy rằng: “Sanh
đến quốc độ đó rồi, nên phát thệ nguyên trở lại sanh tử để cứu giúp nỗi
khổ chúng sanh. Chỉ cần vãng sanh Tịnh độ là thuộc tư lợi, nên biết lợi
tha mới là tông yếu của Tịnh độ”.
Nhân sanh Tịnh độ, ngài Diên Thọ lấy trì giới, tọa thiền làm nhân của
thượng phẩm hành đạo và niệm Phật là nhân hạ phẩm, trung phẩm. “Vạn thiện
đồng quy tập”, quyển 2, nói rằng: “Phẩm thứ 9 hành theo định tâm, chuyên
tâm là trung sanh, còn như định tâm tu chỉ quán, thì được thượng phẩm vãng
sanh. Chỉ chuyên tâm niệm danh hiệu đức Phật, nhờ các duyên thiện trợ
giúp, phát nguyện hồi hướng vãng sanh, đấy là hạ phẩm vãng sanh. Lại thọ
Bồ-tát giới, trong chín phẩm, người thượng căn thọ giới tu thiền còn trung
và hạ căn thì hành đạo niệm Phật”.
Về việc trì giới, trong “Vạn thiện đồng quy tập”, quyển 2, nói: “Thiền
tông rất coi nhẹ giới luật, không biết rằng thọ giới Bồ-tát, phát Bồ-đề
tâm tín thọ Đại thừa, dù bị phá giới, niệm Phật sám hối cũng được vãng
sanh. Nếu thọ giới mà tạo nghiệp ác, nhờ sức trì giới ở quá khứ, tìm hiểu
Đại thừa, thiện căn đầy đủ, lúc lâm chúng niệm Phật, gặp thiện hữu khai
thị, dù nghiệp thiện nhẹ, nghiệp ác nặng, nhưng nhờ lấy giới Bồ-tát làm
điều kiện tất yếu nên vãng sanh. Cho nên phát Bồ-đề tâm là chánh nhân để
vãng sanh Tịnh độ”.
Lại từng khuyên mọi người lớn tiếng niệm Phật và dạy 10 niệm được vãng
sanh, một tiếng niệm Phật, tội diệt hà sa. Kinh Pháp hoa nói: “Nếu người
nào tâm tán loạn, mà thường đến chùa tháp một lần xưng ‘Nam mô Phật’, đều
được thành Phật đạo”. Kinh A-di-đà nói rằng: “Nếu người nào từng niệm danh
hiệu đức Phật, thì được tất cả chư Phật thường hộ niệm”. Kinh Bảo tích dạy
rằng: “Lớn tiếng niệm Phật thì ma quân tiêu tan”. Kinh Nghiệp báo sai biệt
nói: “Lớn tiếng niệm Phật, được mười thứ công đức. Lại niệm Phật có ngồi
niệm, đi niệm. Ngồi niệm như thuyền đi ngược dòng nước, đi niệm như thuyền
đi xuôi chiều gió, ngồi niệm có thể diệt trừ tội trong 80 ức kiếp”.
Nếu những ai đảnh lễ 5 vốc sát đất, cung kính niệm Phật mười tiếng (thập
niệm), dù một đời ác nghiệp nặng khi lâm chung niệm mười niệm, tội diệt
được sanh Tịnh độ. Dẫn kinh Na-tiên Tỳ-kheo chứng minh: “Như đá ném xuống
nước thì chìm, nhưng đá được đặt ở trên thuyền tuy cả trăm viên cũng không
làm sao chìm được”. Cho nên người tạo tội nhưng do công đức niệm Phật khỏi
rơi vào địa ngục. Trí độ luận nói rằng: “Khi lâm chung, nếu tâm lực mạnh
hơn nghiệp lực cả đời mình làm, dù là chút thời gian ít ỏi mà tâm lực mạnh
thì thắng nghiệp lực, như đốm lửa tuy nhỏ cũng có thể lan tỏa rộng lớn”.
Do đó khi lâm chung tâm quyết định mạnh mẽ thì hơn cả nghiệp lực làm cả
trăm năm. Đây là luận chứng của pháp môn mười niệm khi lâm chung.
Ngài Diên Thọ lại khuyên khi lễ trà-tỳ thì nên cố gắng dõng mãnh hành trì
niệm Phật. Vì có sanh nên có diệt, sau khi tâm chí thành quy y Tam bảo,
lúc xả thân là xả thể vô thường đắc thể Kim cang, bỏ thân dễ hủy hoại được
thân kiên cố. Rộng dẫn ở kinh luận, nêu lên sự tích các bậc Đại đức xưa
nay, ra đi để lại nhục thân làm chứng tích cho đời.
Nếu ai tiếc thân mạng, sau khi lâm chung lại làm thế tục dập dìu trong
sanh tử.
Vả lại Phật pháp trọng hành trì, không trọng biện ngôn, nói nhiều không
bằng làm ít, nghĩa là chú trọng thực tiễn hành trì.
Tóm lại ngài Diên Thọ chú trọng thực tiễn dốc sức hành trì, đương thời
Thiền tông chỉ có ngồi thiền, học trò thiền tông thường chấp trước danh và
tướng pháp hữu vi, điều này tăng thêm hư danh. Cho nên mục tiêu, tiêu
chuẩn Lý Sự song tu được ca ngợi, trọn đời chẳng trễ nãi, tự tu 108 việc
(niệm Phật 108 biến), đặc biệt thâm tín vãng sanh Tịnh độ, một ngày niệm
10 vạn danh hiệu Đức Phật, thực tiễn đã khích lệ tinh thần.
Dựa vào giáo chỉ chủ trương Sự Lý song tu của Thiên thai, Hoa nghiêm, Khởi
tín, phối hợp cả 2 tông Giáo và Thiền đương thời để cứu vãn tệ đoan của 2
tông (Thiền và Giáo). Do ảnh hưởng sự kết hợp thiền học và niệm Phật của
đại sư Tuệ Nhật, Lý Sự song tu, tức bao hàm có cả ý nghĩa tung kinh Vạn
thiện. Muốn hồi hướng nguyện sanh Tịnh độ, đặc biệt phải chú trọng niệm
Phật là chánh nhân, để cho tất cả trung và hạ căn đều vãng sanh Tây
phương.
Ngài Diên Thọ dã từng tham thiền, niệm Phật “Tứ liệu giản kệ”, làm tiêu
chuẩn cho Thiền, Tịnh song tu. Tứ liệu giản kệ nói rằng: “Có Thiền không
Tịnh mười người hết chín người sai đường, nếu âm cảnh hiện ra, thoáng chốc
họ sẽ rơi vào đó. Không Thiền có Tịnh, vạn người tu vạn người vãng sanh,
được thấy Phật Di-đà, sao không chịu khai ngộ? Có Thiền mà thêm Tịnh giống
như hổ mọc thêm sừng, đời hiện tại làm thầy mọi người, tương lai làm Phật,
làm Tổ. Không Thiền không Tịnh độ, như kẻ không nhà, muôn đời vạn kiếp
không có người để nương tựa”. Câu thứ ba nói: Có Thiền có Tịnh độ, tức
Thiền Tịnh song tu, giống như hổ mọc thêm sừng là lý tưởng hóa để chính
mình tu pháp môn này. Câu thứ nhất nói có Thiền không Tịnh độ, đương thời
chỉ cho tất cả môn đồ của Thiền tông, mười người tu thiền thì chín người
rơi vào đường ma. Câu thứ 2 nói không Thiền có Tịnh độ, chỉ cho tất cả
những ai có căn cơ trung và hạ, tất cả vạn người tu không một ai lầm đường
lạc bước, được thân cận Phật Di-đà, tự mình thoát ly sanh tử.
Có thể khẳng định rằng ngài Diên Thọ là bậc lợi căn thượng trí, cho nên
mới kết hợp Thiền, Tịnh song tu. Người hạ trí độn căn chuyên tâm niệm Phật
mong sanh được Tịnh độ, lo gì không khai ngộ!? Đây là giáo hóa đồng điệu
với chủ trương của đại sư Thiện Đạo.
(Soạn giả dựa theo
Giáo lý sử Tịnh độ Trung Quốc
và
Thiền học tư tưởng sử)
--- o0o ---
[
Mục
Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09]
[10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-01-2005