Pháp
Tạng
Phật Giáo Việt Nam
Tập
85
Luận sử tông Tịnh độ
Việt dịch:
Quảng Tấn - Quảng Ân - Quảng Bình
Quảng Hiếu
- Huệ Hải - Quảng Xả
Quảng Mẫn
- Tâm Đức - Huệ Chí - Tâm Đại
Hạnh Minh
- Nhuận Độ - Nguyên Thành
Tâm Hiếu -
Như Giáo - Nguyên An
Chứng Nghĩa:
Thích Đổng Minh
Phụ chú:Thích
Tâm Nhãn
Chùa Long Sơn, Nha Trang
Phật Lịch: 2548 - 2004
--- o0o ---
12.
PHỤ
LỤC VỀ ĐẠI SƯ THIỆN ĐẠO
VÀ
NGHỆ THUẬT TỊNH ĐỘ
Nguyên tác:
Trúc Tích
Việt dịch:
Thích Hạnh Minh
I. Dẫn Nhập
Tháng 10 năm thứ 2
niên hiệu Quang Hòa đời vua Linh Đế nhà Hậu Hán (năm 179 TL), ngài
Chi-lâu-ca-sấm và ngài Trúc Phật Sóc cùng ở tại thành Lạc Dương, dịch kinh
Bát-chu tam-muội. Khoảng từ đầu niên hiệu Hoàng Vũ đến niên hiệu Kiến Hưng
nhà Ngô (222–252 TL), ngài Chi Khiêm ở Kiến Khang dịch kinh Đại A-di-đà
gồm hai quyển. Hai bộ kinh trên là sự mở đầu cho quá trình Hán dịch giáo
điển Tịnh độ, là suối nguồn của tín ngưỡng Tịnh độ lưu truyền suốt 1700
năm nay.
Từ thời Ngụy, Tấn về
sau, ngoài việc nhân tâm sĩ phu Trung Nguyên rối loạn, bên cạnh đó Chu
dịch của Lão, Trang xem ra mọi người cũng chán ngán rồi, đột nhiên trông
thấy ánh sáng từ bi của Phật giáo chói lọi ở đó, vì vậy ước vọng về cuộc
sống thăng hoa nơi thế giới cực lạc và việc tìm cầu sinh mạng mới lại theo
đó mà phát khởi! Từ đó, thế giới quan liên hoa của “sự thác sanh nơi hoa
báu, vĩnh viễn xa lìa uế chất” chính thức trở thành cảnh giới tâm linh u
tịch sâu lắng của mọi người đương thời.
Vào đầu đời vua Vũ
Đế nhà Tây Tấn (265- 274 TL), có Khuyết Công Tắc là một danh sĩ ở huyện
Cấp tỉnh Giang Nam và môn nhân của ông là Vệ Sĩ Độ, đều là những người đầu
tiên tuyên dương giáo nghĩa trong hệ thống kinh điển Di-đà, đề xướng tín
ngưỡng Tịnh độ, cổ xúy tư tuởng vãng sanh Tây phương. Tiếp đó, ngài Trúc
Pháp Khoáng và ngài Chi Đạo Lâm lần lược cùng nhau ra đời, hoằng dương
Tịnh độ ở các vùng thuộc đông nam, danh tiếng vang dội khắp nơi, rất có
năng lực cải hóa những phong tục tập quán của quần chúng nhân dân. Vào đầu
đời Đông Tấn, ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn là bậc Đại thừa thạc học được khắp
thiên hạ trọng vọng, quy tụ các bậc ẩn sĩ như: Lưu Di Dân, Lôi Thứ Tông
v.v… kết thành Liên xã tại chùa Đông Lâm, cùng nhau kỳ nguyện vãng sanh
miền Tịnh độ. Sau đó, sự giáo hóa rộng lớn dần dần thâm nhập dân gian, đến
khoảng thời Tùy, Đường thì hầu như không nơi đâu không thấm nhuần trong
bầu không khí của hình thức tín ngưỡng này! Đọc bia ký về việc tạo tượng
được phát hiện trong thời cận đại, chúng ta có thể gián tiếp thấy được
tình hình hưng thịnh của tín ngưỡng này vào lúc bấy giờ.
Trong trước
thuật của các bậc cổ đức, mặc dù về giáo lý có đôi chút bất đồng nhưng chỗ
quy hướng của tín tâm thì hoàn toàn không sai khác. Thí như đại sư Gia
Tường Cát Tạng là bậc kế thừa tư tưởng Bát-nhã của Bồ-tát Long Thọ, đại sư
Từ Ân Khuy Cơ là người thừa tiếp học phái Du-già của Bồ-tát Di-lặc; một
bên bàn luận về Chơn không, một bên tuyên bày về Diệu hữu, học phong khác
nhau rõ rệt như xứ Hồ và xứ Việt nhưng sâu thẳm bên trong tâm khảm thì đều
hướng về Tịnh độ.
Ngoài ra, như Tam
tạng Từ Mẫn Huệ Nhật v.v… còn lập nên nhiều cứ địa quan trọng cho tông
này. Đại sư Thiện Đạo sanh ra nhằm lúc cao trào tín ngưỡng này đang phát
triển rầm rộ. Bẩm tính vốn sẵn có thiên tài về văn học và nghệ thuật nhưng
ngài hoàn toàn không đứng biệt lập với xã hội hoặc tự cao tự đại, và cũng
không sống theo kiểu phong lưu tài tử hay phóng đãng thân hình; trái lại,
ngài đem hết tinh lực trọn đời cống hiến cho lý tưởng tôn giáo, cầu mong
cho thế giới trở nên thuần khiết như hoa sen, chúng sanh đều được thanh
tịnh an vui. Niềm hy vọng của ngài cùng với các đại sư Hiểu Nhiên, Hàn
Sơn, Thập Đắc, Thiền Nguyệt, Mục Khê, Thạch Đào, Thạch Khác, Tâm Việt Mộc
Am, Bát Chỉ Đầu Đà, Mạn Thù v.v… nếu chỉ dựa vào đức hạnh để suy lường thì
không những có phần thiên phú mà quả thật hoàn toàn không có cách gì có
thể luận bàn so sánh được!
II. Sự Tích Về Đại Sư
Đại sư pháp danh là
Thiện Đạo, người huyện Tứ Châu tỉnh An Huy (một thuyết khác cho là huyện
Lâm Truy tỉnh Sơn Đông). Ngài sinh vào năm thứ 9 niên hiệu Đại Nghiệp nhà
Tùy, xuất gia từ nhỏ, nhân vô tình thấy được cảnh biến tướng Tây phương,
lòng vô cùng cảm động, bèn phát nguyện vãng sanh Tịnh độ. Năm 20 tuổi, sau
khi thọ giới cụ túc, ngài và luật sư Diệu Khai cùng nhau đọc kinh Quán vô
lượng thọ, tự nhận thấy chỉ có pháp môn Quán niệm này mới có thể giải
quyết được vấn đề sanh tử. Vào niên hiệu Trinh Quán nhà Đường, ngài đến
Tịnh Châu (thuộc huyện Dương Khúc tỉnh Sơn Tây) yết kiến ngài Đạo Xước,
cầu học tất cả các pháp môn niệm Phật vãng sanh. Không lâu sau, ngài đến
Trường An giáo hóa dân chúng, chép kinh A-di-đà số đến vài muôn quyển, vẽ
300 bức biến tướng Cực lạc. Ban đầu ngài chấn tích trú tại chùa Ngộ Chân
núi Chung Nam, chùa này do Sa-môn Tịnh Nghiệp xây dựng vào niên hiệu Khai
Hoàng nhà Tùy. Đồng thời ngài cũng đến chùa Quang Minh thuyết pháp, chùa
này tọa lạc tại phường Hoài Viễn trong thành Trường An. Từ năm thứ 3 niên
hiệu Hàm Hanh đến năm thứ 2 niên hiệu Thượng Nguyên đời vua Cao Tông nhà
Đường (672-675 TL), ngài xây dựng điện thờ tượng đức Đại Lô-xá-na ở chùa
Phụng Tiên tại Long Môn và ngài là người trực tiếp giám sát quá trình thi
công công trình đó. Đến cuối đời, ngài trở về Trường An trú tại chùa Thật
Tế và chỉ đạo xây dựng công trình hệ thống hang động ở chùa Phụng Tiên tại
Long Môn.
Trên đây là những sự
kiện liên quan đến sự nghiệp hoằng hóa của đại sư tại Đông Kinh và Tây
Kinh. Sau đó, đệ tử của ngài là ngài Trinh Cố, trước khi sang Ấn Độ lưu
học, từng đến Tương Dương cầu học thắng hạnh của đức Phật A-di-đà, là
nguồn mạch của chân giáo tại tỉnh Hồ Bắc suốt từ xưa đến nay.
Đại sư giữ gìn cấm
giới thanh tịnh, tâm không màng đến công danh lợi lộc, kỷ luật tự thân
nghiêm ngặt, khoan thứ bao dung với mọi người. Trong bài tựa văn bia do
đại pháp sư Long Xiển chép: “Cây Từ trang nghiêm, hoa Bi rực rỡ”. Từ đó có
thể hình dung được tác phong đạo hạnh của ngài, hơn nữa lòng tin của ngài
vô cùng chân thành tha thiết nên rất đông nam nữ, đạo tục tiếp nhận sự cảm
hóa của ngài mà quy hướng về Tịnh độ. Trong số đó, vì không kiềm chế được
niềm hân hoan vui sướng nên thậm chí có người đã xả thân để cầu vãng sanh!
Lại cũng có người đến chùa Quang Minh gặp ngài, sau khi thọ giáo, được
lòng tin kiên cố bèn leo lên cây liễu trước chùa rồi nhảy xuống tự vẫn vì
đạo! Đây là những điều do chính luật sư Đạo Tuyên – một chứng nhân đương
thời nghe được mà chép lại trong Tục cao tăng truyện.
Theo Tân tu vãng
sanh truyện chép: “Tăng ni, nam nữ tại gia ở Châu Hoa và Châu Kinh, người
thì leo lên đỉnh núi cao tự gieo mình xuống, người thì trầm mình nơi suối
thẳm, người thì nhảy xuống từ cây cao, người thì thiêu thân cúng dường
v.v… cả thảy trên trăm người”. Ký sự này tuy có phần khuếch đại song có
thể giúp ta thấy được năng lực cảm hóa vĩ đại của ngài.
Đại sư thị tịch
nhằm ngày 14 tháng 3 năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Long đời vua Cao Tông nhà
Đường (682 TL), hưởng thọ 69 tuổi. Các đệ tử Hoài Uẩn v.v… an trí kim thân
của ngài tại Thần Hòa Nguyên thuộc nội thành Trường An, rồi cất một ngôi
Già-lam bên cạnh tháp của ngài, trồng các kỳ hoa dị thảo, suốt bốn mùa
cúng dường không ngớt. Những trước thuật của ngài hiện còn được 6 bộ gồm
10 quyển lưu hành ở đời.
III. Biến Tướng Tịnh độ
1.Thuyết khởi nguyên
từ Tây vực.
Biến tướng Tây
phương Tịnh độ mà lúc nhỏ đại sư vô tình trông thấy rồi dẫn đến hình thành
tâm lý nguyện vãng sanh là một loại biến tướng Tịnh độ được lưu truyền ở
đất Hán (Trung Quốc) trước khi Ngài ra đời. Trong quyển 6 thuộc tập đầu
của Cao tăng truyện, ngài Thích Huệ Viễn nói: “Tần chủ Diêu Hưng khâm phục
uy đức cao thượng của ngài, ban tặng cho Ngài biến tượng bằng lụa mịn của
nước Quy Tư (nay giữa Trung Á) để bày tỏ tấm lòng thành.” Tượng và Tướng
cũng đều là nghệ thuật biến tướng, như vậy ít ra vào thời Đông Tấn, ở các
nước Tây Vực (đặc biệt là Quy Tư) đã rất thịnh hành. Mặc dù vào thời nào,
do ai truyền sang Trung Hoa vẫn chưa thể khảo chứng được, song căn cứ theo
quyển hạ của bản Giới châu truyện trong chùa Chân Phước ở Đông Vực thì có
đoạn chép: Thị nữ Long Thị của hoàng hậu vua Tùy Văn Đế, noi theo gương
hoàng hậu phát nguyện vãng sanh Tịnh độ, tụng kinh A-di-đà và tự tay thêu
biến tướng Tịnh độ. Biến tướng mà lúc nhỏ đại sư trông thấy có lẽ là thuộc
loại này. Lại xem xét trong số rất nhiều biến tướng Cực lạc Tịnh độ được
khai quật gần đây ở Đôn Hoàng thì hình dáng của chư Phật và Bồ-tát rất
giống với những nhân vật bích họa được phát hiện tại vùng Quy Tư. Ba sự
kiện chứng thực cho nhau được nêu ra ở trên đủ để chứng minh về xuất xứ
chung của chúng.
2. Vật chứng.
Gần đây, ngoài
hàng loạt những bích họa được phát hiện ở Đôn Hoàng bởi Tư-thản-nhân
(A.stein) và Bá-hy-hòa (P. pelliot), còn căn cứ theo học giả Đại Cốc Quang
Thụy – người Nhật Bản, trưởng đoàn thám hiểm Trung Á thì trong số những
tác phẩm khai quật được tại vùng Tân Cương có bản kinh A-di-đà do ngài
Thiện Đạo phát nguyện chép, và một phần tựa đề của Quán kinh Mạn-đà-la có
ghi niên hiệu của nhà Đại Tấn. Như vậy, càng đủ cơ sở để chứng minh nguồn
gốc nghệ thuật Tịnh độ phát nguyên từ Trung Á, đại sư Thiện Đạo chẳng qua
là thừa tiếp theo làn sóng đó mà thôi.
3. Thể loại và hình
dáng.
Biến tướng Tịnh
độ có rất nhiều loại khác nhau, dựa vào hình thức sai khác của chúng,
thông thường có thể phân làm năm loại:
a. Biến tướng Linh
Sơn Tịnh độ.
Vẽ theo sự trần
thuật trong kinh Pháp hoa, miêu tả khung cảnh đức Thích Tôn thuyết pháp
tại Linh Sơn. Loại này có thể phân thành hai kiểu:
- Dựa theo phẩm Hiện
bảo tháp họa nên quan cảnh hội Pháp hoa và trạng thái xuất hiện của bảo
tháp. Điển hình của loại này thường gặp ở nghệ thuật điêu khắc Long Môn,
những di phẩm khai quật được tại Đôn Hoàng và tượng Phật Thích Ca ngàn thể
trên bản đồng tại chùa Trường Cốc ở Đông Vực.
- Dựa theo phẩm Thọ
lượng trong kinh Pháp hoa vẽ nên cảnh đức Thích Tôn thường ở tại Linh Sơn
thuyết pháp và chư thiên cung kính vây quanh cúng dường. Như bức tranh
thêu miêu tả cảnh đức Thích Tôn chuyển pháp luân được lưu giữ tại chùa
Khuyến Tu ở Đông Vực và biến tướng Linh Sơn Tịnh độ được cất giữ tại
Ba-sĩ-đốn (Boston) (nguyên được an trí tại Pháp Hoa đường của chùa Đông
Đại), là những tác phẩm tiêu biểu còn lại thuộc loại này.
b. Biến tướng Di-đà
Tịnh độ.
Chủ yếu là dựa theo
kinh Quán vô lượng thọ để phác họa đồ tướng ấy, được gọi là Tịnh độ
Mạn-đà-la hoặc A-di-đà Mạn-đà-la đồ, miêu tả bối cảnh quyến thuộc trang
nghiêm của thế giới Cực lạc.
c. Biến tướng Dược
Sư Tịnh độ.
Việc chế tạo loại
biến tướng Tịnh độ này ngày xưa có được ghi chép, và hiện còn lưu lại một
bức bích họa tại chùa Pháp Long ở Đông Vực (Nhật Bản) nhưng hình thức rất
đơn giản, ngoài ra đều bị thất truyền. Trong những di phẩm khai quật được
tại Đôn Hoàng gần đây có hơn 20 loại, trong những kinh điển biên chép ngày
xưa được lưu giữ tại Điền Trung Phong Tạng ở kinh đô Nhật Bản, có phác họa
biến tướng Tịnh độ như sau: Chính giữa bày trí một hình Phật và hai hình
Bồ-tát, phía sau là một tầng riêng và bốn ghi chú để chế tạo, chính diện
vẽ hai ngôi nhà có hai cây cột lớn phía trước, còn ngay phía trước tượng
Tam Tôn thì vẽ hình một vị Bồ-tát đang nắm chéo áo nhảy múa, hai bên vẽ
hình các Bồ-tát dưới hình thức tam thể đang tấu nhạc, xung quanh Tam Tôn
và các vị Bồ-tát nhảy múa và tấu nhạc thì để vách trơn, ở chính diện của
trung ương dựng bốn trụ tròn làm cổng.
d. Biến tướng Di-lặc
Tịnh độ.
Ở đất Hán (Trung
Quốc) không trông thấy loại biến tướng này, tác phẩm còn lại đại biểu cho
loại này chỉ có quần thể tượng nặn bằng đất hiện được lưu giữ trong ngôi
tháp năm tầng tại chùa Pháp Long ở Đông Vực, tương truyền chúng được chế
tác tại chùa Hưng Phước vào năm thứ năm niên hiệu Nguyên Chánh Dưỡng Lão
(năm thứ 7 niên hiệu Khai Nguyên, Huyền Tông). Ngoài ra còn có loại biến
tướng Di-lặc Tịnh độ giống với biến tướng Dược Sư Tịnh độ, Di-đà Tịnh độ
và Thích Ca Tịnh độ được kiến tạo vào năm thứ hai niên hiệu Thiên Bình, ở
phía bắc ngôi tháp năm tầng của chùa Cai.
e. Biến tướng Quan
Âm Tịnh độ.
Biến tướng này dựa
theo sự trình bày về việc cứu giúp chúng sanh thoát các ách nạn của Bồ-tát
Quan Thế Âm trong kinh Pháp thạch và phẩm Phổ môn mà vẽ nên. Chùa
Ca-lăng-quật tại Ấn Độ từng lưu giữ loại điêu khắc này và gần đây người ta
còn vẽ hình tướng 33 ứng hóa thân để cứu độ chúng sanh của đức Quan Thế Âm
lưu bố khắp nơi.
Ngoài năm loại biến
tướng Tịnh độ đã trình bày ở trên, còn có loại “Mật giáo hóa biến tướng
Tịnh độ”. Loại này có hai hình thức:
- Quyển thứ 15 của
kinh Bất-không-sách-la thần biến chơn ngôn1 do ngài Bồ-đề-lưu-chi người xứ
Nam Thiên Trúc dịch vào năm thứ ba, niên hiệu Cảnh Vân triều nhà Đường
(712 TL), có đoạn chép: “Viên Đàn (đàn tròn) ở cửa phía tây Đương Đàn (đàn
chính) rộng tám khuỷu tay, đế cao hai khuỷu tay, theo đúng như pháp đồ mà
vẽ, chỉ chừa một mình cửa phía đông, chính giữa bày biện đủ các loại cờ,
hoa thật trang nghiêm và tôn trí biến tướng Tịnh độ Phật A-di-đà. Còn
Phương Đàn (đàn vuông) ở cửa phía bắc Đương Đàn cũng rộng tám khuỷu tay,
đế cao hai khuỷu tay, theo đúng như pháp đồ mà vẽ, chỉ chừa cửa phía nam,
trang hoàng đủ các thứ cờ, hoa thật trang nghiêm và tôn trí biến tướng đức
Tỳ-lô-giá-na, đức Địa Tạng Bồ-tát, đức Di-lặc Bồ-tát, đức Bất Không Phấn
Nộ Vương”. Vào thời bấy giờ, các loại biến tướng Tịnh độ đều được sát nhập
vào trong Mật giáo, chẳng qua là không còn dấu tích lưu lại mà thôi. Đồ
tượng sao của ngài Huệ Thập, một Tăng sĩ người Nhật, dựa theo nghi quỷ
(nghi thức) mà trình bày: chính giữa là đức Phật A-di-đà, tám cánh xung
quanh tôn trí tám vị đại Bồ-tát. Tám vị đại Bồ-tát đó là Quán Tự Tại, Đại
Thế Chí, Hư Không Tạng, Phổ Hiền, Kim Cang Thủ, Văn Thù, Trừ Cái Chướng và
Địa Tạng.
- Chín phẩm
Mạn-trà-la do ngài Huệ Vận Tăng Đô người Nhật Bản thỉnh về, đài giữa có
tám cánh phô bày theo kiểu hoa sen, trên đài hoa tôn trí hình đức Phật
A-di-đà thượng phẩm thượng sanh, tám cánh xung quanh tôn trí hình đức Phật
A-di-đà của tám phẩm còn lại. Bốn gốc nội viện có những bài pháp ngữ
khuyến hóa chúng sanh tu hành để đạt đến giải thoát an vui. Viện thứ hai
trang trí hình 12 Quang Phật, bốn nhiếp, bốn ngoại cúng dường; viện thứ ba
có hình 24 vị Bồ-tát, tức mỗi phương gồm 6 vị, tổng cộng thành 24 tôn
tượng, lại thêm một vị Bồ-tát ở nội viện nữa thành ra 25 tôn tượng.
4. Sự diễn tiến của
cấu trúc biến tướng Tịnh độ.
Theo sự nghiên cứu
của Tướng Vĩ Tường Vân Thị – một học giả người Nhật - thì đại khái phân
thành 6 cấp bậc, ở đây xin giới thiệu khái lược như sau:
a. Trong Tây phương
yếu quyết thích nghi thông quy do đại sư Từ Ân trước tác cho rằng: “Không
cần tạo biến tướng Tây phương A-di-đà quá rộng, chỉ cần bố trí một tượng
Phật và hai tượng Bồ-tát thôi cũng được”. Hình thức Tam Tôn là tư tưởng
chủ đạo. Hình thức này có nguồn gốc rất xa xưa, trong hệ thống tượng Phật
ở Ấn độ có rất nhiều những điêu khắc nhỏ hình hai người cầm phất tử (chổi
tua vải) đứng hai bên đức Phật. Có lẽ hình thức ấy là để biểu thị cho sự
xuất thân từ giai cấp quý tộc của đức Phật, những nhân vật đứng hai bên đó
chẳng qua là người hầu của Ngài mà thôi; mặc khác thứ tự đó còn biểu thị
đức Phật là bậc có công đức vô lượng, siêu thắng tất cả nên khắc hình các
Bồ-tát làm thị giả đứng hai bên. Đây là quá trình thành lập của hình thức
Tam Tôn.
b. Nền của hình thức
Tam Tôn này: Thêm vào đó tượng các vị Thanh văn và Bồ-tát khác, như ở động
Thiên Phật (ngàn Phật) tại Đôn Hoàng; hoặc lại thêm vào đó hình bốn vị
Thiên Vương v.v… hông phía bắc của Kim Đường chùa Pháp Long ở Đại Hòa có
loại biến tướng Tịnh độ này.
c. Sự thay đổi nền
của hình thức Tam Tôn này: Lại thêm vào đó cảnh liên hoa hóa sanh và tư
tưởng vãng sanh Tịnh độ. Ông Bá-hy-hòa cho rằng biến tướng Tịnh độ A-di-đà
ở vách bên trái của động thứ 146 tại động Thiên Phật ở Đôn Hoàng thuộc
loại này.
d. Xung quanh tượng
Tam Tôn ở chính giữa: Xung quanh là những bức họa nhỏ miêu tả cảnh 51 vị
tân vãng sanh hóa sanh trong hoa sen. Biến tướng Tịnh độ Phật A-di-đà ở
vách phía tây của Kim Đường chùa Pháp Long ở Đại Hòa đồng một hình thức
với loại này, tuy đã bị hư hoại nhiều nhưng vẫn còn có thể trông thấy phía
trên và phía dưới của tượng Tam Tôn ở chính giữa có 25 vị Bồ-tát dưới hình
dáng các đồng tử hóa sanh trong hoa sen. Về sau, trên hình thức Tam Tôn
này lại thêm vào các hàng Bồ-tát và bốn vị Thiên Vương v.v… để hiển bày
Tịnh độ ấy là một cảnh giới cực lạc; ở mặt diện chính giữa của đạo tràng
họa hình tượng các vị Bồ-tát đang tấu nhạc và nhảy múa, như biến tướng
Tịnh độ Thiên Thủ Quan Âm và biến tướng Tịnh độ Dược Sư ở động Thiên Phật
tại Đôn Hoàng là thuộc loại này (tham khảo A. Stenis the Phansand
Buddhas).
Cuối cùng, người ta
còn đem yếu chỉ kinh Quán vô lượng thọ minh họa vào trong hình thức Tam
Tôn này, kết hợp cả cây báu, lầu gác báu, ao sen báu và chín phẩm vãng
sanh v.v… . Ông Bá-hy-hòa cho rằng biến tướng Tịnh độ ở vách bên trái của
động thứ 139 tại động Thiên Phật, Đôn Hoàng còn có thể nhìn thấy được bản
gốc của Trí Quang Mạn-đồ-la2, Đương Ma Mạn-đồ-la3 và Hải Thanh Mạn-đồ-la
(?), thậm chỉ là những Mạn-đồ-la được thành lập theo tinh thần kinh Quán
vô lượng thọ mà đại sư Thiện Đạo đời Đường đã đích thân họa nên để lưu
truyền ở đời.
IV. Sự Phát Triển Của
Nghệ Thuật Tịnh độ
Vào đời Đường, nghệ
thuật Tịnh độ ở nước ta (Trung Quốc) tợ rừng xuân rực rỡ, muôn hoa khoe
sắc, thật là một cảnh quan vô tiền khoáng hậu! Ở đây chỉ dựa theo kết quả
nghiên cứu trên hiện vật và tư liệu lịch sử tạm phân ra để trình bày như
sau:
1. Họa đàn trung
ương.
Nhà Đường kế thừa dư
ba của thời Lục Triều, bích họa rất được thịnh hành, nội dung miêu tả về
biến tướng Tịnh độ. Trong đó, tiêu biểu như biến tướng Tây phương Tịnh độ
do Phạm Trường Khang vẽ ở hành lang phía tây của Tam Giai Viện tại chùa
Cảnh Công, miêu tả cảnh ao báu cực kỳ tinh xảo, nước trong ao lung linh
huyền ảo tợ hồ như thật (Dậu dương tạp trở tục tập quyển 5). Các nhà danh
họa nổi tiếng vẽ về biến tướng Tịnh độ vào đời Đường ở hai vùng Trường An
và Lạc Dương, thứ tự như sau: 1. Doãn Lâm (chùa Quang Trạch ); 2. Ngô Đạo
Huyền (chùa Hưng Đường và chùa An Quốc); 3. Triệu Vũ Đoan (chùa Vân Hoa);
4. Chủ Vận Ứng (chùa Kính Ái); 5. Úy Trì (chùa Đại Vân); 6. Trình Tốn
(chùa Chiêu Thành); 7. Lưu A Tổ (chùa Kính Ái) v.v… đều dựa theo mô hình
cơ bản của đại sư.
Đoàn thám hiểm Đại
Cốc (tỉnh Hà Nam) phát hiện được một phần của bức tranh lụa vẽ hình đức
Phật tại Thổ Dục Câu còn có lời minh rằng: “Tây Phương có đức Phật hiệu
A-di-đà, chúng sanh làm lành mau thoát cõi Ta bà, rừng thiêng hoa lá báu,
cung điện thuần hoàng kim”, và còn ghi rõ niên hiệu “ngày 18 tháng 4 năm
thứ 6 niên hiệu Đại Lịch”. Khảo xét năm thứ 6 niên hiệu Đại Lịch (771 TL)
là niên hiệu của đời vua Đường Đại Tông, thừa tiếp sự thịnh hành từ đời
Đường Khai Nguyên trở về sau, theo lời bài minh mà suy đoán thì tượng Phật
này hiển nhiên là miêu tả về cảnh Tịnh độ A-di-đà. Xem xét phần còn lại
của bức họa ấy thì thủ pháp hoàn toàn dựa theo phong cách họa đàn trung
ương của thời Đường. Nhà Đường và Cao Xương có mối quan hệ với nhau rất
mật thiết, điều đó đủ cho thấy tình hình hưng thịnh của tín ngưỡng Tịnh độ
ở Trung Quốc lúc bấy giờ.
2. Điêu khắc.
Di vật điêu khắc
hiện còn gồm năm loại:
a. Tượng đức Phật
A-di-đà 52 thân. Tượng này được phát hiện tại hai nơi. Một là ở vách phía
sau của động Vạn Phước thuộc hang thứ chín tại Long Môn. Tượng được kiến
tạo vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Long nhà Đường (680 TL), cùng an trí một
chỗ với tượng 54 thân, xem xét thật kỷ càng thì đó là tượng Bồ-tát 52 thể,
ngồi trên hoa sen chỉ một cành mà có nhiều hoa, và hình chư thiên hai thể
đang bay rất rõ ràng. Còn một nữa là ở vách phía sau tầng thứ nhất của
hang thứ chín thuộc thạch động núi Thiên Long, thuộc thể loại tượng phù
điêu. Tượng này được tạo vào khoảng thời Sơ Đường, chính giữa là Tam Tôn
Phật, xung quanh đó là tượng chư Phật và chư Bồ-tát nhỏ hơn ngồi trên hoa
sen, cành đan xen nhau thành như một tấm lưới, tôn trí khoảng 52 tôn tượng
hoặc còn thêm nhiều hơn nữa.
b. Tượng Phật
A-di-đà. Ban đầu được kiến tạo tại các động Tân Dương, chùa Kính Thiện,
chùa Phụng Tiên v.v… thuộc hệ thống hang động Long Môn ở Lạc Dương và các
động khác; từ khoảng niên hiệu Trinh Quán đến niên hiệu Khai Nguyên, mỗi
khi tôn trí tượng Phật A-di-đà đều có lập văn bia tạo tượng, khoảng chừng
100 tượng, muốn rõ xin hãy xem phần 3 và phần 4 trong Kim thạch mục, cũng
như thiên Điêu Tố (điêu khắc, đắp tượng) trong Chi Na Mỹ Thuật Sử của Đại
Thôn Tây Nhai Thị v.v…
c. Tượng Phật
A-di-đà tư duy về năm kiếp.
Tượng này do đại sư
Thiện Đạo tạo, dài 3 thước 6 tất; vào đời Tống, ngài Trọng Nguyên người
Nhật Bản sang Trung Hoa thỉnh về. Tượng ngồi trên đài hoa sen, mặc thông
y, hai tay chấp trước ngực, mắt lim dim. Đặc điểm nổi bậc của tượng này
là đầu tóc kéo dài như chiếc lồng tròn, hiện nay được lưu giữ tại chùa
Đông Đại và viện Ngũ Kiếp ở Nhật Bản, mỗi nơi phụng thờ một tượng.
d.Văn bia tạo tượng
A-di-đà nhỏ.
- Theo sự trần thuật
trong bản Giới châu truyện ở chùa Chân Phước thì ngài Huyền Minh y theo sự
chỉ dạy của ngài Hoài Cảm tạo tượng Phật A-di-đà cao 3 tất bằng gỗ
Chiên-đàn.
- Theo sự ghi chép
của bia đồng, thuật lại việc thiếp vàng tạo tượng vào tháng giêng năm thứ
21 niên hiệu Trinh Quán trong chương hai sách Sơn hữu kim thạch chí có
đoạn chép: “Bia bên phải cao 3 tất 5 phân, rộng 1 tất 2 phân, hai con rồng
trang trí trên đầu bia vẫn còn nguyên vẹn, trên đầu có khắc 4 chữ “A-di-đà
bi …”. Thời nhà Đường kế tục thời Lục Triều, Phật sự rất được quan tâm,
ngoài những bảo sát (chùa) danh lam còn có nhiều nhà được dâng cúng để làm
Phật đường, vì thế nên có tấm bia đồng cỡ nhỏ này”. Như thế có thể biết
vào đời Đường, những ngôi nhà lập thành Phật đường đều tôn trí tượng Phật
nhỏ.
e. In hình Phật.
Quyển trung của bản
Giới châu truyện ở chùa Chân Phước chép: Ngài Đạo Cảnh ở chùa Nhật Quang
tại Tương Châu khắc ấn bản, thắp hương khấn nguyện rồi in 10 vạn ức bức
tượng Phật A-di-đà, ban tặng khắp nơi.
Trong thời cận đại,
khảo cổ học phát triển rực rỡ, các nhà học giả của cả Đông phương lẫn Tây
phương lần lược đua nhau sang vùng Tây Vực thám hiểm các di tích, thành
quả ấy đủ để khai thác về lãnh vực nghiên cứu văn hóa Đông phương và
phương diện lịch sử mỹ thuật càng hiển lộ ngời sáng vô hạn! Trong đó, Đôn
Hoàng là nhà bảo tàng mỹ thuật cổ đại ngay sở tại, lưu giữ rất nhiều tác
phẩm quý hiếm mà thế gian thật sự hiếm thấy! Trên phương diện nghệ thuật
Tịnh độ, bích họa chiếm con số rất lớn, theo sự thống kê của học giả
Bá-hy-hòa người Pháp – các thạch động thứ 30, 34, 40, 51, 53, 19, 114, 120
và động G v.v… trên vách đều có vẽ biến tướng về Quán kinh (kinh Quán vô
lượng thọ). Còn tác phẩm biên soạn về Thiên Phật Động của học giả người
Anh là Tư-thản-nhân ghi chép càng tường tận và xác thực hơn nữa. Ở đây xin
trích thuật những điểm chính yếu như sau:
- Biến tướng về Quán
kinh. Trong động thứ 31 tại động Thiên Phật, Đôn Hoàng, chính giữa vách
bên trái phía trong động vẽ cảnh Tịnh độ rất trang nghiêm, hai bên và phía
dưới chép phần tựa và 16 cách quán tưởng trong Quán kinh, viền phía dưới
là chín phẩm hoa sen nối liền nhau nghênh đón sẵn; trong “Đôn hoàng đồ
phổ” của Bá-hy-hòa chỉ thâu thập được sáu hình trong số chín phẩm mà thôi.
Bên phải phía trong hang động là cảnh vua Tần-bà-sa-la bị giam trong ngục
tối được trình bày trong phần tựa của Quán kinh, ở dưới là bốn hàng tám
đoạn tổng cộng thành 32 đồ hình. Biến tướng ở vách phía bên phải của hang
động cùng với vách phía bên trái giống nhau.
- Cực lạc Tịnh độ.
Có niên đại tương đối mới, hình vẽ rất tinh xảo, nửa bên phải đã bị hư
hoại. Trong khoảng chính giữa vẽ cảnh đức A-di-đà Như Lai thuyết pháp tại
thế giới Cực lạc, những cảnh được vẽ trong đó là hình vua A-xà-thế và phu
nhân Vi-đề-hy v.v…, phía dưới của bức tranh là hình chín phẩm vãng sanh.
Hình đức A-di-đà Như Lai ở chính giữa, ngồi kiết già trên đài sen, tay
trái cầm chéo áo Ca-sa, tay phải biểu thị tư thế thuyết pháp. Hai vị đại
sĩ Quan Âm và Thế Chí ngồi trên đài sen hầu hai bên. Bên vũ đài ở phía
trước đức Phật, chư thiên diễn tấu kỹ nhạc cúng dường, trên hoa sen trong
hồ có người vãng sanh, cây báu, điện báu, lầu các báu đứng sừng sững xung
quanh, trang hoàng cực kỳ trang nghiêm. Khoảng ngoài, bên phải vẽ cảnh
nguyên nhân vua A-xà-thế giam cầm cha mẹ v.v… được trình bày trong phần
tựa của Quán kinh; bên trái phác họa phần chánh tông của Quán kinh, từ
Nhật tưởng quán4 đến Tạp tưởng quán5 xuyên suốt 13 định thiện. Hai đầu
phía trên và phía dưới đã bị hư hoại, dựa trên tác phong và kỹ xảo để xem
xét thì có thể phong cách này đã kế thừa làn sóng kỹ nghệ thời Vãn Đường.
(tranh dẫn A.stein Ruins of Desert Cothap, II. P.226, Fip, 202).
-Thể tranh nhỏ, cảnh
thánh chúng đến tiếp dẫn. Đồ hình thứ 30 về động Thiên Phật của Tải Tại Tư
Thị chỉ còn sót lại ba bức, nay xin lần lược trình bày như sau:
* Bức bên trái có
hàng chữ viết theo chiều dọc: “Người làm mười điều ác, khi chết bị đọa vào
địa ngục”, nửa phần trên vẽ cảnh người làm mười điều ác lúc lâm chung nằm
ngang, có hai con quỷ đến dẫn họ đi. Nửa phần dưới là hình quỷ lớn đầu
trâu và chiếc vạc lớn nơi địa ngục, con quỷ từ địa ngục cỡi mây bay đến,
tay phải cầm kích chĩa ba, giơ tay trái tóm bắt vong hồn, trong chiếc vạc
lớn nước sôi sùng sục, có vẻ muốn bỏ vong hồn vào trong vạc. Đồ hình này
thuộc loại mô tả hai cảnh trên cùng một bức tranh, hai con quỷ nhỏ đứng
hầu bên quỷ lớn chính là mô phỏng theo hình thức Tam Tôn mà ra.
* Bức chính giữa có
hàng chữ: “Khi người làm 10 điều ác lâm bệnh”. Trong nhà vẽ cảnh người làm
10 điều ác bị bệnh tật hành hạ, trước sân nhà phác họa cảnh một mỹ nữ đang
gảy đàn Tỳ bà và một người khác đem tiền của báu vật bày ra trên tấm vải,
để biểu thị khi người làm 10 điều ác bị nhiễm bệnh, ngoài việc bị sự bức
khổ của bệnh tật còn phải chịu nỗi khổ bị sự dâm dục và tham dục dẫn dụ
bức bách.
* Bức bên phải, phía
bên phải đã bị hư hoại, không thể thấy được hàng chữ viết gì, nhưng còn
hình hai người làm ác. Một người cầm gậy đập phá tháp Phật (loại giống như
tháp Bảo Khiếp Ấn), và một người khác đang hành hung, mạ nhục chư Tăng
(hình người mờ nhạt, thân mặc pháp y).
* Hình bà Vi-đề-hy
quy y Phật. Hình này đã bị hư hoại, trên có 2 vị đại thần Nguyệt Quang và
Kỳ-bà cầm kiếm can gián Thái tử A-xà-thế, ở dưới mô tả cảnh A-xà-thế hạ
ngục vua cha, và ghi câu “A-xà-thế vương nội môn thủ ấp chi quan x x”. (Bị
mất hai chữ – nd)
- Tượng A-di-đà 52
thân. Thuộc động thứ 146 (theo số hiệu của ông Bá-hy-hòa), được tạo vào
khoảng thời Sơ Đường. Chính giữa ao báu tôn trí tượng A-di-đà Tam tôn ngồi
xếp bằng trên đài sen, kết ấn thuyết pháp, hai bên có hai vị Bồ-tát hầu.
Xung quanh chính giữa hồ vẽ cảnh từ một hoa sen hóa thành nhiều hoa sen,
trên mỗi hoa đều có một vị Bồ-tát, mỗi hai bên tượng đều có 25 thân, tổng
cộng là 50 thân. Phía trên đỉnh đầu của Phật treo một chiếc bảo cái lớn,
quang cảnh cực kỳ mỹ lệ, những nét nghệ thuật đặc sắc của thời Sơ Đường
đều được biểu hiện không sót một điểm nào.
Ngoài thạch động Đôn
Hoàng vừa trình bày ở trên, ông Kha-sách-la-phu (Kozloff) người Nga đã
phát hiện ba bức tranh A-di-đà Tam tôn đến tiếp dẫn ở Hắc thành thuộc địa
phận Cam Túc (Khara- Khoto).
- Bức tranh lụa có
màu. Tượng A-di-đà ở chính giữa, hai vị Bồ-tát Quan Âm và Thế Chí hầu hai
bên; chính giữa chiếc mũ báu của hai vị Bồ-tát, một cái tôn trí đức Hóa
Phật, còn một cái tôn trí chiếc bình báu. Tam Tôn cỡi trên mây, đứng trên
hoa sen, chân mây dần dần tản ra phía sau. Đức A-di-đà tay phải duỗi xuống
phía trước, tay trái kết ấn an ủy; hai vị Bồ-tát cầm hoa sen đứng hầu hai
bên, biểu thị cùng với bích họa Đôn Hoàng đã trình bày ở trên có chung một
nguồn gốc. Còn phần phía dưới của bức tranh có một cội cây khô, dưới cội
cây có một hành giả đứng chấp tay, trong tay bốc lên một làn khói mây lờ
mờ, bay đến trước hoa sen mà hai vị Bồ-tát đang cầm thì dừng lại, kết
thành đám mây, trên đám mây ấy có một người bạch y vãng sanh chấp tay
chuẩn bị bước lên đài sen, chòm lông trắng giữa chặng mày của đức Phật
phóng ra một luồng hào quang rực rỡ uyển chuyển xung quanh đầu người vãng
sanh; hành giả đứng dưới gốc cây biểu thị ý tiếp nhận ánh hào quang đến
tiếp dẫn của đức Phật A-di-đà. Lại nữa, trong đám mây năm sắc trên đỉnh
đầu của đức Phật hiển hiện hình một đóa hoa báu xinh tươi, cội cây khô
biểu thị cho cảnh Uế độ vô thường, trái lại là biểu thị ý nghĩa Tịnh độ an
vui vĩnh cửu.
- Bức tranh họa có
màu. Hình thức chế tạo giống như bức tranh trước, đồ hình chính có hai vị
Bồ-tát thị giả cầm một đài sen đến trước hành giả, người được vãnh sanh
chấp tay đứng bên gốc cây cỡi mây bay lên; tượng Trung tôn, ngoài vòng hào
quang trên đầu ra, đặc biệt còn có hào quang lấp lánh khắp toàn thân.
- Bức tranh khắc bản
in trên giấy. Ý tưởng cấu tạo đơn giản giống như bức tranh trước, có một
hành giả già yếu mặc y phục thế gian ngồi trên mặt đất, mây lành uyển
chuyển trên đầu, bay đến trước đài hoa sen lớn mà hai vị Bồ-tát đang cầm,
một đồng tử khỏa thân chấp tay trước ngực đang bước dần đến đài sen.
Ngoài Hắc Thành ra,
còn có Xa Duệ, ở đây xin phân ra để trình bày như sau:
* Sự lưu truyền biến
tướng Tịnh độ sang Phương đông (Nhật Bản). Theo sự ghi chép của Viên trân
truyện (do Tam Thiện Thanh Hành soạn) thì vào năm thứ 9 niên hiệu Thanh
Hòa Trinh Quán (867 TL), trong đạo tràng ở Ôn Châu nước Đại Đường, tọa chủ
Đức Viên nhờ Chiêm Cảnh Toàn ở Vụ Châu đem một biến tướng Cực lạc Tịnh độ
(một bản trong 400 bản) do hoàng hậu Tắc Thiên thêu, dài 2 trượng 4 thước,
rộng 1 trượng 5 thước và một bức tranh thêu biến tướng Linh Sơn Tịnh độ
dài 1 trượng 5 thước, rộng 1 trượng, tặng cho Viên Trân. Từ đó nghệ thuật
Tịnh độ của đại sư Thiện Đạo mới nhân đó mà được truyền sang Phương đông
(Nhật Bản). Việc này cũng được chép trong Việt châu thần trí, truyện thứ
25 trong Tống cao tăng truyện, chỉ là ghi chép có phần hơi khác một tí mà
thôi. Theo truyện thì Thần Trí là người xứ Vụ Châu (nay là huyện Kim Hoa
tỉnh Chiết Giang), khoảng quá trung niên đến Trường An, nhờ tướng quốc Bùi
Hưu tâu xin mà được ban cho bức tranh thêu của Thiên Hậu và Tạng kinh 5000
quyển v.v… (Đương Ma Mạn-đồ-la được lưu truyền ở chùa Đương Ma nước Đại
Hòa thuộc Đông Vực, tương truyền chính là vật này).
* Sự lưu hành của
tranh Đường Trắng Giữa Hai Sông (Nhị Hà Bạch Đạo). Kế tiếp sau bức tranh
trước thì bức “Đường Trắng Giữa Hai Sông” là nổi tiếng nhất. Muốn biết rõ
sự chế tạo của nó xin xem phần sau của Tam Tôn Thích Trung Châu Hồi Hướng
Phát Nguyện Tâm Thích trong Thiện Kiến Nghĩa. Bức tranh này đã được chỉ
định làm quốc bảo, trong đó chùa Túc Sanh Quang Minh, chùa Tha Nga Thanh
Lương và viện Tri Ân ở Kinh Đô mỗi nơi cất giữ một trong bảy bức vẽ được
truyền sang, bức bình phong được lưu giữ ở Tân Hắc Cốc Thị tại Kinh Đô và
bức được cất giữ tại Đại Bản Cố Thôn Sơn Long Bình Thị là ưu tú hơn cả.
Bức mà chùa Túc Sanh Quang Minh lưu giữ tương truyền là thủ bút của Huệ
Tâm Tăng Đô, là tác phẩm thuộc thời đại Liêm Thương; phong cách, cách miêu
tả, màu sắc và cấu trúc bức vẽ đều cực kỳ siêu việt, đem cảnh Tịnh độ
trang nghiêm và đời sống ở Ta bà đối chiếu nhau mà miêu tả, đó là đặc
trưng của bức tranh này. Ở đây xin phân ra để trình bày như sau:
- Bức do chùa Thắng
Man ở nước Tam Hà lưu giữ được phân thành ba phần để miêu tả: Phần trên là
cảnh thánh chúng đến tiếp dẫn, phần giữa là hình hai con sông, người được
tế độ sang bờ sông trắng là một vị Tăng, trong sông lửa là những con người
ồn ào náo nhiệt, trong sông nước miêu tả cảnh nam nữ chìm đắm trong ái
dục, phần dưới thì phối trí cảnh Ta bà.
- Bức do chùa Băng
Kiến Đinh Quang Chiếu ở nước Việt Trung lưu giữ. Đặc trưng của bức tranh
này là bờ phía đông vẽ cảnh trên Tạng kinh phóng ra hào quang rực rỡ,
chiếu sáng trên vệt trắng; ở đây muốn biểu thị cho di giáo của đức Phật
Thích Ca, tức ý muốn nói “dù cho đức Phật Thích Ca đã diệt độ, người đời
sau không thể trông thấy, nhưng còn giáo pháp có thể cầu học, tức ví đó
như lời dạy của Ngài lúc tại thế”. Khoảng giữa bờ sông, hai người bạch y
cãi vã nhau ầm ĩ, phía bờ sông nước vẽ hình một người con gái đang khóc
nức nở.
- Bức được lưu giữ
tại chùa Kim Sâm Thiện Lập ở Cận Giang. Tương truyền bức tranh này thuộc
thời kỳ đầu của phái Đại Cốc do giảng sư Huệ Không tạo, có bia của Tịnh độ
tông nghĩa sơn, người được vẽ trên mặt tranh là Tăng lữ.
V. KẾT LUẬN
Những điều được
trình bày ở trên có thể cho ta thấy nguồn gốc nghệ thuật Tịnh độ bắt nguồn
từ Tây Vực, phát triển rực rỡ tại đất Hán (Trung Quốc) và hội tụ lại ở
Đông Doanh (Nhật Bản); mặt khác, tín ngưỡng Tịnh độ là tín ngưỡng chung
của cộng đồng các dân tộc Phương đông, nên nghệ thuật Tịnh độ cũng chính
là loại hình nghệ thuật độc đáo của người Phương đông, và đại sư Thiện Đạo
là người đem loại hình tín ngưỡng và nghệ thuật này hoằng dương ở Phương
đông.
Thời kỳ nhà Tùy và
nhà Đường là thời đại hoàng kim của văn hóa Trung Quốc, cũng là thời kỳ
cực thịnh trong lịch sử nghệ thuật Trung Quốc mà thành phần Phật giáo là
cơ sở chính. Từ khi vua Đường Võ Tông hủy diệt Phật giáo về sau, Phật giáo
đã trải qua một khoảng thời gian dài suy vi trầm trọng, nghệ thuật cũng
theo đó mà suy đồi theo. Như vậy có thể thấy nghệ thuật và tôn giáo có mối
quan hệ nhân quả hỗ tương nhau rất mật thiết. Một vài năm trước, từng có
người đề nghị lấy nghệ thuật để thay thế cho tôn giáo, dẫn tới có rất
nhiều ý kiến và cách nhìn khác nhau nhưng cuối cùng vì đề nghị ấy chỉ là
kiến giải cá nhân nên không được sự ủng hộ của quần chúng tín đồ, đành
phải để rơi vào im lặng quên lãng.
Tóm lại, có sự giáo
hóa rộng rãi, không để cuốn trôi trong vòng mê tín; có tài năng siêu việt,
không mắc vào sai lầm phóng túng thiếu thận trọng, hun đúc tôn giáo và
nghệ thuật vào chung một lò, ẩn hàm diệu lý, tự rõ đường ngay, nhỏ để tu
thân giữ mình, lớn thì cải hóa nhân tâm, thay đổi phong tục, điều này có
lẽ chỉ có nghệ thuật Tịnh độ mới có thể đảm đương mà không phải hổ thẹn?
Và đại sư Thiện Đạo hoằng dương nghệ thuật Tịnh độ khiến cho Phật giáo
Trung Quốc không chỉ có một sắc thái riêng trong nước mà còn truyền bá ra
khắp thế giới, có thể nói là công đức vô lượng vô biên vậy!
--- o0o ---
[
Mục
Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09]
[10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-01-2005