Pháp
Tạng
Phật Giáo Việt Nam
Tập
85
Luận sử tông Tịnh độ
Việt dịch:
Quảng Tấn - Quảng Ân - Quảng Bình
Quảng Hiếu
- Huệ Hải - Quảng Xả
Quảng Mẫn
- Tâm Đức - Huệ Chí - Tâm Đại
Hạnh Minh
- Nhuận Độ - Nguyên Thành
Tâm Hiếu -
Như Giáo - Nguyên An
Chứng Nghĩa:
Thích Đổng Minh
Phụ chú:Thích
Tâm Nhãn
Chùa Long Sơn, Nha Trang
Phật Lịch: 2548 - 2004
--- o0o ---
07
SỰ
PHÁT TRIỂN TỊNH ĐỘ TÔNG CỦA
PHẬT
GIÁO TRUNG QUỐC
Nguyên tác:
Lương Vĩnh Khang
Việt dịch:
Thích Quảng Xả
I.
LỜI NÓI ĐẦU
Tám tông phái Phật
giáo Đại thừa ở Trung Quốc chỉ có Tịnh độ tông là được lưu truyền rộng rãi
hơn hết. Từ thời Đông Tấn có đại sư Tuệ Viễn, trở về sau còn có các ngài
như ngài Đàm Loan đời Lương, ngài Đạo Xước đời Tùy, ngài Thiện Tôn đời
Đường, đều hoằng dương giáo pháp Tịnh độ. Cho nên Tịnh độ tông trở nên
phong phú được và xem là tạm đủ về luận thuật, cũng như về nghi thức. Từ
đó về sau được các bậc đại đức truyền bá rộng rãi … Gần đây, đại sư Ấn
Quang làm thêm rực rỡ, có những thành tựu to lớn, đưa Tịnh độ tông phổ cập
xã hội, đi sâu vào dân gian. Nghĩa lý Tịnh độ tông vốn không sâu xa nhưng
cũng chẳng dễ hiểu. Nếu suy xét nguồn gốc của Tịnh độ tông thì tự nó có
nguyên do. Tóm lại, Tịnh độ tông có những đặc điểm như sau:
-
Trong các kinh, là pháp môn đặc biệt.
-
Luận
cứ chân thật đủ để giải đáp các nghi ngờ.
-
Nội
dung uyên bác, vừa cạn vừa sâu.
-
Phương pháp tu trì có phần phiền toái, có phần giản đơn.
-
Pháp
môn rất nhiều để phù hợp căn cơ chúng sanh.
-
Nghi
thức giản đơn hợp với thời đại.
Xét về các khổ ở Ta bà, vốn không thể nói cho cùng, chỉ nhờ
niệm Phật trì danh để mau được vãng sanh Cực lạc; chỉ cần đủ Tín, Nguyện,
Hạnh thì có thể thẳng đến thành Phật, vĩnh viễn không còn thối chuyển
(không còn chịu khổ). Thí dụ như hóa sanh trong hoa sen nên không có cái
khổ về sanh. Lạnh nóng không đổi dời nên không có cái khổ của già. Báo
thân thanh tịnh nên không có khổ của bệnh. Đã hiểu rõ sanh tử nên không có
khổ của chết. Thần thông vô ngại, một niệm liền đến, không bị cái khổ biệt
ly. Các bậc Thượng thiện nhân đều hội tụ một chỗ, nên không có khổ về việc
không thích mà phải gặp. Thọ dụng đồ ăn, thức uống, y phục, trân bảo tự
hiện, thì làm gì có cái khổ về sự cầu không được. Quán chiếu pháp không,
vắng lặng, vượt qua khổ ách nên không có cái khổ về ngũ ấm xí thạnh. Cho
nên, người được vãng sanh vĩnh viễn không còn bị khổ, chỉ hưởng niềm vui,
cảnh thánh Tây phương chiếu hiện trước mắt, nghe pháp âm vi diệu, liền đắc
vô sanh nhẫn, hoa nở thấy Phật, được lợi ích không cùng. Ở đây tôi xin
chép một đoạn trong bài vịnh của các vị cổ đức nói về sự thù thắng của cõi
Tịnh độ :
Dục sanh An dưỡng quốc
Thừa sự Cổ Âm Vương.
Hiệp chưởng tu Tây hướng
Đê đầu lễ bỉ phương.
Anh nhi tư nhũ mẫu
Viễn khách vọng gia hương.
Thận trọng nghinh tân nguyệt,
Ân cần tống tịch dương.
Hình hài đồng thổ mộc,
Giới kiểm nhược thuỷ sương.
Tưởng niệm ly chư vọng,
Già phu tại nhất sàng.
Sát na đăng Tịnh vực,
Phương thốn phát u quang.
Cốt nhục đô dung hóa,
Càn khôn cực liễu mang.
Thái hư hàm biểu lý,
Phật sát cứ trung ương.
Liên thổ uy nhuy ngạc,
Ba phiên liễm liễm đường.
Lâu tuỳ tứ bảo hiệp,
Đài bị thất chân trang.
Kính diện phô giai thế,
Hà tâm kết đổng phòng.
Dao trì vô trú dạ,
Châu thuỷ tự cung thương.
Cự oánh kim sa để,
Phong khinh bảo ngạn bàng.
Thiên chi phân xích bạch,
Vạn đóa gian thanh hoàng.
Tạm ấp thân căn sảng,
Vi thông dị quán lương.
Thánh hiền vân ái đãi,
Thiên nhạc nhật khanh thương.
Tuấn vĩ thuần đồng tử,
Y ưu tuyệt nữ lang.
Quải kiên như ý phục,
Kình bát tự nhiên tưởng,
Thoát thể thù thanh tịnh,
Hàm huy cánh hỗn hoàng.
Ca sa lung thuỵ ái,
Anh lạc sấn tiên thường.
Biến chủ vi trần quốc,
Châu du chánh giác tràng.
Vĩnh hoài ân nhập tuỷ,
Thả miễn độc xâm sang,
Hồi ức Ta bà khổ,
Tranh cấm thế lệ bàng.
Tạm dịch:
Muốn sanh nước An dưỡng
Thờ đức Cổ Âm Vương.
Chắp tay hướng phía Tây
Đầu đảnh lễ phương ấy,
Như trẻ nhớ sữa mẹ,
Viễn khách nhớ quê nhà.
Thận trọng lúc trăng lên,
Chuyên cần bóng chiều xuống.
Hình hài đồng đất cây
Giới hạnh như băng tuyết.
An tọa thế liên hoa,
Tưởng niệm lìa các vọng.
Sát na lên cõi tịnh,
Tâm u tối bừng vỡ.
Xương thịt đều tan mất,
Trời đất rộng thênh thang,
Trong ngoài đều rỗng suốt.
Trung ương cõi Phật ngự,
Đài cánh sen nở rộ.
Hồ long lanh gợn sóng,
Lầu các bằng bốn báu.
Thất bảo làm đài hoa,
Thềm lan can bóng loáng.
Phòng nhụy sen kết tu,ï
Ao sen bằng ngọc Dao,
Không có ngày và đêm1.
Thủy châu vang tiếng nhạc,
Ao cát vàng lóng lánh.
Ven bờ gió hiu hiu.
Ngàn cây cành đỏ trắng,
Hoa xanh vàng đan xen.
Thân tâm bỗng nhẹ nhàng,
Niềm vui thật khó tả.
Thánh hiền như mây nhóm,
Thiên nhạc vang khắp nơi.
Đồng nam thì tuấn tú,
Đồng nữ cũng đẹp xinh,
Vai mang y như ý,
Tay cầm bát tự nhiên
(Trong có sẵn thức ăn).
Dáng thanh tịnh giải thoát,
Hào quang tỏa quanh thân.
Cà sa màu hoại sắc,
Lưới châu viền thân áo.
Biến khắp cõi vi trần,
Dạo quanh tràng Chánh giác.
Ân (Phật thật cao vời),
khắc sâu trong tâm khảm,
Vượt ra khỏi tam độc.
Nhớ lại khổ ta bà,
Lệ thương đau dừng chảy.
Nếu ai đọc kỹ bài thơ trên thì dễ rung động, tinh thần vui vẻ, tự lãnh hội
sâu sắc. Do đó mà Tịnh độ tông ở Trung Quốc ngày càng phát triển, cố nhiên
có nguyên nhân đặc biệt độc đáo của nó. Điều này xin được bàn luận và phân
tích rõ ở phần sau.
II.
LUẬN CỨ RẤT CHÂN THẬT
Lúc Thế Tôn còn tại thế, thuyết pháp 49
năm, giảng kinh hơn 300 hội. Ngộ được chân lý vũ trụ, giữa 96 ban ngoại
đạo, Ngài xây dựng hệ thống lý luận tư tưởng khác, độ vô lượng chúng sanh,
nên giáo pháp Ngài thuyết rất nhiều, văn sức như hoa mùa xuân, rực rỡ tựa
gấm hoa. Ví dụ, thời giáo thứ nhất Ngài lấy hoa Vạn Đức để trang nghiêm
Phật quả, đây là thời Hoa nghiêm. Thời giáo thứ hai, Ngài dạy 5 vị đệ tử,
biết khổ và dứt trừ nguyên nhân khổ, ưa thích tu đạo Niết-bàn, hợp lại
thành 4 tập A-hàm nên gọi là thời A-hàm. Thời thứ ba, Ngài thuyết pháp
Phương đẳng, làm cho hàng tiểu căn liền mở được đại trí, nên gọi là thời
Phương đẳng, (có các kinh như:
Duy-ma, Lăng-già, Tịnh độ). Thời giáo thứ tư, Ngài khai triển Đại
thừa để chúng sanh thấy rõ vạn pháp do duyên sanh, gọi là thời Bát-nhã.
Thời giáo thứ năm, Ngài chỉ rõ hướng của ba thừa là pháp quyền xảo, để
hiển bày pháp chân thật nhất thừa, đây gọi là thời Pháp hoa. Lại nữa, Ngài
chỉ rõ cho tất cả hữu tình thấy rằng ai cũng có đầy đủ bốn đức Niết-bàn:
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh một cách đầy đủ nên gọi là thời Niết-bàn. Pháp môn
tu hành đều có đủ: Đại, tiểu, đốn, tiệm, thiên, viên, hiển, mật. Nhưng
thông suốt con đường tự lực mà chưa đoạn hết hoặc nghiệp (kiến hoặc, tư
hoặc) thì rất khó chứng chân lý. Mặc dù tu hành nhiều đời, nhưng chúng ta
cũng không thể ra khỏi bến sanh tử thiết yếu này để đến được bờ Niết-bàn
bên kia. Chỉ có Tịnh độ, một tông phái bao gồm đầy đủ tự lực và tha lực
mới dễ dàng tu hành và thành công cao, dùng sức ít mà lại chóng hiệu quả.
Căn cứ của lý luận này, được nói rõ ràng trong ba kinh
Tịnh độ.
Ở đời, nếu ai có nghi ngờ, thì hãy nghiên cứu sâu thêm nữa, nhất định có
thể tháo gỡ được sự hồ nghi. (Ba kinh Tịnh độ là: Kinh
Quán vô lượng thọ, được đức Phật thuyết tại thành Vương-xá.
Kinh A-di-đà,
Ngài thuyết tại vườn Cấp-cô-độc. Kinh
Vô lượng thọ
được thuyết tại núi Kỳ-xà-quật, những di tích này đều có thể khảo cứu),
nhà xuất bản Nhật Bản Cận Đại (Đông Doanh ) xuất bản tác phẩm kinh
Di-đà, dẫn chứng kinh luận cùng với hơn
200 kinh khác có thể nói rất rõ ràng và đầy đủ.
III.
NỘI DUNG UYÊN BÁC
Pháp môn Tịnh độ,
chính đức Phật Thích Ca, Phật A-di-đà xây dựng. Văn Thù, Phổ Hiền chỉ
hướng quay về. Mã Minh (Đại thừa khởi tính luận), Long Thọ (Dị
hành phẩm) hoằng dương pháp môn Tịnh độ. Sau khi truyền vào Trung Thổ, để khôi
phục kinh Tịnh độ, các Bậc thạc đức như: Khuông Lô, Thanh Lương, Vĩnh
Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích, Tài Lưu, Tỉnh Am, Triệt Ngô, Ấn Quang v.v… đã
phát huy đề xướng ra các phương pháp đặc thù, viên đốn, diệu lý huyền
nhiệm, vừa cạn, vừa sâu. Ai y lời dạy hành trì thì tự có thể sanh về Tây
phương Cực lạc. Cho nên nói: “Không cần 3 kỳ kiếp tu phước huệ, chỉ nương
sáu chữ ra khỏi càn khôn”. Người đời thường hay cho rằng chỉ niệm sáu chữ
“Nam Mô A-di-đà Phật”, liền có thể vãng sanh Tây phương Cực lạc thế giới.
Do phương pháp quá dễ mà ôm những lý luận nghi ngờ sanh tâm bất tín. Nhưng
pháp Phật nói, tuyệt đối không hư dối, càng nghiên cứu các kinh luận Đại
thừa sự trình bày về pháp môn Tịnh độ, lược nói về Tịnh độ có các kinh
như: Kinh
Hoa nghiêm, kinh
Pháp hoa, kinh
Lăng nghiêm, còn chuyên thuyết Tịnh độ như kinh
A-di-đà, kinh
Vô lượng thọ, kinh
Quán vô lượng thọ, diệu nghĩa đã nói ở trong đó quá đầy đủ, rõ ràng. Nên đại
sư Ngẫu Ích dạy rằng: “Niệm A-di-đà Phật thuần thục thì ba tạng 12 bộ
loại, hết thảy giáo lý của bậc thượng căn cùng với một ngàn bảy trăm công
án đều ở trong ấy; ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, ba tụ tịnh giới cũng
ở trong ấy; sự vi diệu của pháp môn này không có gì hơn, nội dung uyên bát
trùm khắp ba căn. Nếu thấy việc tu trì dễ dàng mà cho là nông cạn, thì
người ấy là kẻ quê mùa vậy! ”.
IV.
PHÁP MÔN HƯNG THẠNH NHẤT
Phật thuyết tám vạn
bốn ngàn pháp môn chủ yếu để chúng ta có thể hiểu rõ sanh tử. Nhưng thực
tế, lợi ích của pháp môn là có thể phù hợp đúng với từng căn cơ. Pháp
không cao không thấp, nếu hợp căn cơ thì gọi là diệu. Phật giáo truyền vào
Trung Thổ trải qua gần 2 ngàn năm, dưới triều đại nhà Đường, Phật giáo rất
hưng thạnh. Tám tông phái Đại thừa2 lần lượt hưng khởi, phương pháp tu
hành tuy có khác nhau đôi chút, nhưng quy về nguồn gốc thì không phải
khác. Cho đến hôm nay, Phật giáo có thể phổ cập xã hội, thâm nhập vào lòng
người, trong đó Tịnh độ tông thật sự nổi bật. Nhưng vì mọi người đều thấy
điều ấy rõ ràng như vậy. Pháp sư Đạo Nguyên nói rằng: “Phật giáo không
phải là lý luận suông, mà quí nhất ở chỗ thực tiễn. Cuối đời Đường, trên
danh nghĩa tuy có tám tông, nhưng chỉ có hai tông Thiền và Tịnh, còn lại
các tông phái kia từ từ lặng mất. Cho đến ngày nay, Thiền tông cũng chỉ
còn trên danh nghĩa, sự kế tục cũng bị mai một. Thật tế chỉ còn một tông
phái Tịnh độ, điều này là vì sao? Phải chăng chính là do những tông phái
kia về lý luận quá cao thâm, pháp tu lại quá phiền phức, căn cơ bình
thường không dễ lãnh hội được cội nguồn”. Trong “Luận niệm Phật”, đại sư Trạm Sơn Đàm Hư cũng nói: “Phật
giáo Trung Quốc ở trong xu thế tự nhiên nhưng đến người sau phân thành một
số tông phái như Thiên thai tông, Hiền thủ tông, Pháp tướng tông (cũng gọi
Từ ân tông hay Duy thức tông), Tịnh độ tông, Chân ngôn tông, Thiền tông,
Luật tông v.v… Điều này đều do liên quan đến sự truyền thừa và học tập
chuyên môn của người đời sau nên mới lập ra các tông phái đó. Tất cả những
tông phái đều bình thường, duy chỉ Tịnh độ tông và Luật tông, sự hành trì
và giáo nghĩa ảnh hưởng qua tông phái khác, vì phần giáo của Tịnh độ tông
và Luật tông có trong các tông phái, lại được đại chúng đệ tử Phật cùng
học. Ví dụ: Thiên thai tông, Hiền thủ tông, Tam luận tông, Pháp tướng
tông, phán giáo của mọi tông phái không giống nhau, tu pháp quán cũng khác
nhau. Nói tóm lại, chúng ta để có thể lấy pháp tu Tịnh độ làm phương tiện
tốt nhất, đều có thể niệm Phật thành Phật. Chính Thiền tông cũng tham cứu
câu ‘niệm Phật là ai?’ Không luận xuất gia hay tại gia, cũng không luận
động cơ học Phật của hành giả như thế nào, chỉ cần mục tiêu học Phật của
người đó là không ngoài niệm Phật để thành Phật, đồng thời ở trong quá
trình học Phật để trở thành Phật, chỉ cần cùng tuân thủ giới luật thanh
tịnh của Phật. Như mỗi chùa ở nam, bắc Trung Quốc, không luận hành giả
thuộc tông phái nào, một ngày hai lần lên chánh điện nhiễu Phật thì đều
niệm ‘Nam Mô A-di-đà Phật’. Mở miệng lời ứng đáp cũng niệm ‘Nam Mô A-di-đà
Phật’. Đương nhiên mục đích cuối cùng của Tịnh độ tông không ngoài việc
được vãng sanh thế giới Tây phương Cực lạc, để thấy Phật thành Phật. Từ
đây có thể thấy được pháp môn niệm Phật là rất nhiều phương tiện và lại
phổ biến”.
Theo cách luận của hai
vị Cao Tăng ở trên, ta thấy Tịnh độ tông sẽ tồn tại ở đời lâu dài, nhất
định là như vậy.
V.
PHƯƠNG PHÁP RẤT DỄ DÀNG
Xưa Bồ-tát Long Thọ trước tác luận “Thập
trụ Tỳ-bà-sa”,
trong đó ngài đem tất cả pháp môn phân thành hai loại: Hành đạo dễ và hành
đạo khó. Phàm nương vào kinh giáo, ngay cõi Ta bà tích lũy công lao, đoạn
hoặc chứng chơn, tu nhơn đắc quả, tất cả đều thuộc hành đạo khó. Nhưng
nương vào pháp môn niệm Phật, vãng sanh Tịnh độ, ở trong nước Cực lạc, dựa
vào Phật lực để thành Chánh giác thì thuộc hành đạo dễ. Ngày nay, gặp thời
mạt pháp, thế giới biến động bất an, chúng sanh không có ngày an ổn. Nếu
như giáo nghĩa quá ư sâu xa, khiến mình cảm thấy khó tu học thì xem trong
ý kinh Đại tập chép rằng: “Một ức người tu hành thời mạt pháp, hình như
chỉ một người đắc đạo, chỉ nên nương vào câu niệm Phật để vượt thoát sanh
tử”. Bởi vậy các tông phái khác hoàn toàn nhờ vào tự lực, nên sự tu chứng
rất khó; còn Tịnh độ tông nương Phật lực gia bị, vạn người tu vạn người
vãng sanh. Pháp sư Ấn Quang nói: “Pháp môn niệm Phật, cả hai Phật lực, tự
lực đều đầy đủ cả, cho nên người đã đoạn Hoặc nghiệp rồi thì mau chóng
chứng Pháp thân. Người còn đầy Hoặc nghiệp thì cũng mang theo nghiệp mà
vãng sanh. Phương pháp niệm Phật rất bình thường, tuy người quê hèn, không
hiểu biết, cũng có thể được lợi ích từ phép niệm Phật”.
Lại nữa, niệm Phật rất huyền diệu, dẫu Bồ-tát Đẳng giác vẫn còn tu pháp
môn niệm Phật, nên không một người nào không tu được, cũng không có một
người nào không thích tu. Hạ thủ dễ mà thành công cao, dùng lực ít nhưng
hiệu quả nhanh. Đúng là pháp môn đặc biệt trong thời giáo một đời đức Như
Lai nói, cố nhiên không thể lấy cốt tủy giáo lý mà luận phán. Chúng sanh
thời mạt pháp, phước mỏng tuệ cạn, nghiệp chướng sâu dày, không tu pháp
này, muốn nương tự lực đoạn hoặc chứng chơn để hiểu rõ sanh tử thì thật là
rất khó. Lời dạy của cổ đức hẳn nhiên cũng đủ rõ ràng để lưu truyền cho
vạn đời. Nhưng xét về thực tiễn của pháp môn Tịnh độ cũng chỉ lấy ba pháp
Tín, Hạnh, Nguyện làm tông. Phật pháp như biển lớn, chỉ có lòng tin mới có
thể vào. Tổ sư Vân Thê dạy: “Muốn vãng sanh Tịnh độ, điều thiết yếu cần
phải có lòng tin vững chắc, ngàn người tin thì ngàn người vãng sanh, vạn
người tin liền vạn người vãng sanh”. Đây là lời dặn dò bằng tất cả tấm
lòng vậy! Tín tâm đã đủ thì nguyện mới thiết, Tịnh độ tuy xa nhưng có
nguyện thì liền được vãng sanh. Tổ sư Mộng Đông dạy: “Tu tập tịnh nghiệp
quí ở chỗ tín sâu, nguyện thiết, nhờ việc tín sâu nguyện thiết này mà tất
cả tà thuyết đều không thể làm dao động mê hoặc”, thì nguyện tha thiết ấy
cũng có ngày được thỏa. Tín, Nguyện đã thiết tha thì Hạnh cũng phải cần có
lực. Các Hiền Thánh ngày xưa đã dạy: Được vãng sanh hay không hoàn toàn do
Tín và Nguyện có hay không? Phẩm vị cao hay thấp hoàn toàn do trì danh sâu
hay cạn? Nên Tín, Nguyện, Hạnh, ba pháp này, thế như ba chân của chiếc
đảnh, thiếu một không thể đứng được. Nếu tuân thủ điều này để mà tu trì
một cách chân thật thì tự có thể được lợi ích thiết thực của sự vãng sanh
vậy.
VI.
NGHI THỨC RẤT GIẢN TIỆN
Phật pháp là pháp môn mà mọi người đều có thể học và cần nên học. Vậy
thì bắt đầu từ đâu để học Phật pháp, để tu trì và lãnh thọ Phật pháp?
Chẳng lẻ phải có vườn rừng đình viện, chim hót, hoa thơm, bảo điện trang
nghiêm, tô son thếp vàng rực rỡ, cá hồng, khánh xanh, lụa đẹp đắp thân,
rồi mới học đạo hay sao? Chẳng lẻ phải sống nơi phồn hoa đua hội, lầu gác
nguy nga, rèm buông cửa thếp, trời mây quang đãng, trông xa núi biếc …
trong nhà thì có tượng Phật vàng sáng rỡ, vẽ mặt mĩm cười, nhìn đâu cũng
thấy vui vẻ, sinh tâm hoan hỷ thì mới học đạo hay sao? Điều này chỉ mới là
phạm vi hẹp, đối tượng không nhiều, không thể phổ biến vì đi ngược lại với
ý định phổ độ chúng sanh ban đầu của đức Phật. Chẳng lẻ muốn danh thành
lợi được, tài bảo đầy đủ, khuôn mặt phúc hậu, cháu hiền con thảo, với dung
nhan tuấn tú một thời, đầy đủ tiếng tốt ở trần thế rồi thì mới học Phật
pháp hay sao? Đây chỉ là phước báu nhân gian không nhiều, cảnh ngộ cũng
thường theo đời biến đổi mà tiêu mất. Theo sự đòi hỏi mà nói ra các điều
này, cố nhiên không dễ dàng đầy đủ. Thứ đến là theo nghi thức mà luận có
kẻ cũng thường sinh ra phiền toái, chẳng hạn như nhà cửa ở đô thị, cuộc
sống nhộn nhịp, khẩn trương được mô tả trong kinh
Dược Sư
và
Pháp hoa tam-muội
sám nghi
… :
“Tục trần bon chen, sống trong lao nhọc, tu hành không dễ, may lại gặp bậc
Cao đức của Liên tông, trấn hưng tông phong, xiễn dương các pháp môn giản
dị nhưng đầy đủ vô lượng công đức, tuy tay chân chai sạn, cũng có thể
thành tựu, dẫu hoàn cảnh cơ hàn cũng có thể tu hành. Con đường mà lịch đại
tôn sư đã chỉ bày vừa dễ giữ, vừa dễ thực hành, như pháp ngữ của đại sư
Minh Triều Liên Trì có dạy: “Luận về người học Phật, không bàn hình thức
bên ngoài đẹp đẽ, chỉ quí ở sự tu hành chân thật. Tại gia cư sĩ, không
nhất thiết phải buộc lụa, đội khăn, buộc tóc, không cần phải gõ chuông
đánh trống, tự mình có thể thường xuyên niệm Phật. Người ưa thích thanh
vắng, có thể ở nơi thanh vắng niệm Phật, không nhất thiết phải đến các hội
niệm Phật. Người sợ giao tiếp, tự mình có thể nhập thất niệm Phật, không
nhất thiết phải vào chùa nghe kinh. Người biết chữ, tự mình có thể nương
lời dạy mà niệm Phật. Ngàn dặm hành hương, không bằng ngồi yên ở nhà niệm
Phật. Cung phụng thầy mình, không bằng hiếu thuận cha mẹ mà niệm Phật.
Giao thiệp rộng rãi bạn xấu, không bằng độc thân thanh khiết niệm Phật.
Tạo phước kiếp sau sung sướng không bằng hiện tiền tác phước niệm Phật.
Cúng tế cầu nguyện không bằng sám hối tội lỗi rồi niệm Phật. Học tập văn
thơ ngoại đạo không bằng người không biết chữ niệm Phật. Không biết lý
thiền mà đàm luận lung tung không bằng tha thiết trì giới niệm Phật. Mong
cầu cảm thông quỷ thần không bằng tin đúng nhân quả niệm Phật. Nói tóm
lại, trực tâm diệt ác, niệm Phật như vậy gọi là Thiện nhân. Nhiếp tâm trừ
sự tán loạn, niệm như vậy gọi là Hiền nhân. Ngộ tâm đoạn Hoặc (phiền não),
niệm như vậy gọi là Thánh nhân”.
Phần khai thị trên quả thật mở mang chánh
đạo tu trì. Như việc đời nhiều ràng buộc thì đại sư Ấn Quang đề xướng pháp
môn thập niệm (phương pháp sớm tối mười hơi niệm Phật). Ở đây cung kính
chép như sau: Nếu công việc nhiều thì niệm tu theo nghi thức đơn giản: Sớm
tối, sau khi súc miệng rửa mặt xong, có Phật thì lễ Phật ba lạy, đứng ngay
ngắn chắp tay niệm “Nam Mô A-di-đà Phật” hết một hơi là một niệm, niệm đến
10 hơi thì đọc bài sám ngắn về Tịnh độ hay đọc “Nguyện sanh Tịnh độ cảnh
phương Tây, Chín phẩm liên hoa là cha
mẹ, hoa nở thấy Phật ngộ Vô sanh, Bồ-tát bất thối là bạn hữu” (Nguyện sanh
Tây phương Tịnh độ trung, Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu, hoa khai kiến Phật
ngộ Vô sanh). Đọc xong lễ Phật ba lạy là hoàn tất nghi thức. Nếu không có
thờ Phật thì hướng phía Tây lễ lạy. Niệm theo phương pháp trên gọi là pháp
môn Thập niệm. Ngài Tống Từ Vân Sám Chủ vì vương thần bận rộn nhiều chính
sự3 không lúc nào rảnh để tu trì mà lập ra pháp niệm này. Vì sao phải
dùng hơi niệm Phật, vì tâm chúng sanh tán loạn, lại không rảnh rỗi để
chuyên niệm, nên lúc niệm thì mượn khí để nhiếp tâm thì tâm tự nhiên không
tán loạn. Song, nên tùy theo hơi dài hay ngắn mà niệm, không nên cưỡng ép
niệm một lần nhiều câu, cưỡng ép thì dễ bệnh và lại chỉ 10 lần niệm, không
nên niệm 20 hay 30 lần; niệm nhiều sẽ tổn khí dẫn đến tâm niệm sẽ tán
loạn, khó được vãng sanh. Pháp này có thể hướng tâm qui về một chỗ, nhất
tâm niệm Phật quyết định sẽ vãng sanh. Số lần niệm Phật tuy ít nhưng công
đức rất nhiều, trình bày ở văn trên rất rõ và cũng được coi là Pháp hoàn
bị.
VII.
RẤT THÍCH HỢP VỚI THỜI CẬN ĐẠI
Học thuyết tôn giáo sở dĩ có thể được lưu truyền rộng rãi đến vạn đời là
do nó có đầy đủ những điểm đặc sắc siêu nhiên. Hơn nữa, lại thích ứng được
với trào lưu, đồng thời quí ở chỗ là có cùng xu hướng với dòng chảy của
thời đại, nên mới trải qua muôn đời mà vẫn luôn mới mẻ. Cuộc sống đô thị
ngày nay dần dần có xu hướng bị công nghiệp hóa thì thời gian hẳn nhiên
rất là quí trọng, công việc cũng nhiều phiền bận. Giả sử thường xuyên
tranh thủ trong lúc rãnh một ít thời giờ để nghiên cứu đôi chút Phật pháp
thì vô cùng quí giá. Dẫu núi non hữu tình, cung vàng điện ngọc, mà đường
dài hiểm trở thì chưa chắc họ đã đến. Nếu như có nhiều cơ sở lớn để lập
đạo tràng thuyết pháp thì cũng vì xuôi ngược để kiếm miếng cơm manh áo nên
không thể thấm nhuần mưa pháp. May mắn lại có pháp môn Tịnh độ như mưa
ngọt mây lành, như sức sống mùa xuân.
Kinh A-di-đà
có
chép: “Nếu có thiện nam thiện nữ nào nghe đức Phật A-di-đà thuyết pháp,
giữ trì danh hiệu, từ 1 ngày đến 7 ngày, đạt được nhất tâm bất loạn, lúc
sắp lâm chung người ấy được Phật A-di-đà và các Thánh chúng hiện ra trước
mặt, và khi chết tâm không điên đảo, ngay khi đó được vãng sanh về nước
Cực lạc của Phật A-di-đà”. Nên có thể biết rằng trì danh niệm Phật hạ thủ
rất dễ, thích hợp với nhiều căn cơ, không luận nam nữ già trẻ, người trí
kẻ ngu, giàu sang bần cùng, thiện ác bệnh khổ, sống bằng nhiều nghề, mọi
hạng người đều có thể tùy thời tùy chỗ niệm Phật mà không mất vàng bạc,
không hao tổn khí lực. Không chỉ có lợi ở đời sau, lìa khổ được vui mà còn
được sống lâu, không gặp khó khăn và được lợi ích trong sanh tiền. Cho
nên, phương pháp giản lược không phiền toái này rất thích hợp với sinh
hoạt thường ngày của mọi người. Đây chính là đường tắt trong đường tắt.
Nếu muốn cầu tinh tấn hơn thì các lịch đại tôn sư chế định những giới luật
nghiêm tịnh điển hình cụ thể là những phép tắc đang tồn tại, tự bản thân
chúng ta có thể lấy những phép tắc này để thực hành và xem như là bậc
thầy. Đây chính là dùng hương thơm tỏa ra để cúng dường.
VIII. LỜI KẾT
Tôn sư các thời đại của Tịnh độ tông đều lấy pháp môn này để tự tu và
dạy người. Trải qua khoảng một ngàn năm mãi cho đến nay pháp môn này vẫn
còn thịnh mà ngày càng được phát dương. Các Tổ sư của nhiều tông phái khác
nhau như: Thiên thai tông có đại sư Trí Giả, tôn giả Trí Minh, Hoa nghiêm
tông có quốc sư Thanh Lương, Luật tông có luật sư Nguyên Chiếu và thời cận
đại có đại sư Hoàng Nhất; Thiền tông có Trường Lô, Trung Phong, Sở Thạch.
Thời gian gần đây có ngài Hư Vân và các thiền sư khác, tuy mỗi vị mở rộng
tông phái riêng nhưng đều nghiêng về tán thán Tịnh độ, có lẽ là vì mọi
người đều tu trì pháp môn này. Pháp môn Tịnh độ có bốn phương pháp tu tập:
-
Thật
tướng niệm Phật
-
Quán
tượng niệm Phật
-
Quán
tưởng niệm Phật
-
Trì
danh niệm Phật
Tuy nhiên phương pháp trì danh thông dụng
nhất, bởi vì hạ thủ dễ mà thành công cao. Từ sau khi Phật pháp lưu truyền
vào Trung Quốc, các bộ luận như
Thành thật luận,
Câu-xá luận,
người tu tập thì ít còn Tam luận tông, Duy thức tông thì nghĩa lý uyên áo
rắc rối rất khó nghiên cứu. Người trí kém không thể hiểu rõ, còn người
thích đơn giản thì chẳng thích nghiên cứu. Chỉ Thiền và Thiên thai tông
được hàng nho sĩ để tâm, nhưng chỉ giới hạn ở thành phần trí thức. Riêng
Tịnh độ tông dùng phương pháp giản dị, thâm nhập vào dân gian, ai có lòng
tin vững chãi thì mọi lúc đều được an ủi. Từ xưa đến nay, người như vậy
thâu hoạch rất nhiều lợi ích. Pháp sư Bảo Tịnh dạy: “Hồ sen trước mặt, vạc
nấu sau lưng, không sanh An dưỡng thì sanh ở đâu bây giờ? Bậc trí thì khéo
suy nghĩ việc này, đừng trở lại tham luyến trần lao, sống quanh quẩn mà để
đời trôi qua một cách vô ích, hãy lấy một câu Di-đà ôm chặt trong lòng,
tín chân thật, nguyện tha thiết vãng sanh, thành thật trì danh niệm Phật,
dũng mãnh hướng thẳng về phía trước, đừng để biếng nhác phát sinh”. Hãy
đem lời này chỉ dạy cho kẻ mê và khắc lên gần bên chỗ ngồi!
--- o0o ---
[
Mục
Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09]
[10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-01-2005