Pháp
Tạng
Phật Giáo Việt Nam
Tập
85
Luận sử tông Tịnh độ
Việt dịch:
Quảng Tấn - Quảng Ân - Quảng Bình
Quảng Hiếu
- Huệ Hải - Quảng Xả
Quảng Mẫn
- Tâm Đức - Huệ Chí - Tâm Đại
Hạnh Minh
- Nhuận Độ - Nguyên Thành
Tâm Hiếu -
Như Giáo - Nguyên An
Chứng Nghĩa:
Thích Đổng Minh
Phụ chú:Thích
Tâm Nhãn
Chùa Long Sơn, Nha Trang
Phật Lịch: 2548 - 2004
--- o0o ---
06.
DIỄN
BIẾN TỊNH ĐỘ TÔNG TRUNG QUỐC
Nguyên tác:
Đại sư
Thái Hư giảng
Việt dịch:
Thích Huệ Hải
Phật
học Trung Quốc trước đây căn cứ trên Giáo và Hạnh mà có sự phân chia trước
sau theo thứ tự: Thiên thai, Hiền Thủ, Thiền và Tịnh độ hoặc Thiền, Tịnh
độ, Thiên thai, Hiền Thủ. Có sự phân chia như vậy là ý muốn gọi Thiên Thai
và Hiền Thủ thuộc về Giáo nghĩa, Thiền và Tịnh độ thuộc về Hạnh môn.
Hiện
tại Phật học Trung Hoa căn cứ vào thời đại trước sau mà phân chia lại theo
thứ tự: Thiền, Thiên Thai, Hiền Thủ và Tịnh độ. Bởi vì ở Trung Quốc, Thiền
sớm được giảng giải, không chỉ là Thiền của Thiền tông Đạt-ma phổ biến sau
này mà là Thiền đã được chú trọng đề cao từ buổi ban sơ khi Phật giáo mới
truyền sang.
Do
Thiền sớm được chú trọng đề cao nên Phật học Trung Quốc căn cứ trên tinh
thần cơ bản của Thiền mà diễn biến ra giáo nghĩa các tông Thiên Thai và
Hiền Thủ, sau này đều quy thú về pháp hành Tịnh độ. Do vậy mà có sự hình
thành thứ tự Thiền, Thiên thai, Hiền Thủ và Tịnh độ.
Bởi vì
Thiền đã làm nền tảng cho Phật học Trung Hoa từ xưa đến nay, còn Thiên
Thai giáo quán chỉ thịnh vào đời nhà Tùy, nhà Trần, Hiền Thủ giáo quán
thịnh vào đầu đời Đường đến đời Tống. Đời Nguyên, Thiền, Thiên Thai và
Hiền Thủ đều suy yếu, sau đó tất cả chuyển hướng sang tu Tịnh độ và Tịnh
độ được phát triễn mạnh.
Thiền
niệm Phật là khởi nguồn của pháp hành Tịnh độ, bài này được chia làm bốn
phần sau đây.
I. THIỀN
TỊNH SONG TU YÀO GIÁO LUẬT.
Từ
những bài giảng trước tôi đã từng giảng qua Thiền an-ban (quán sổ tức) và
Thiền ngũ môn (Ngũ đình tâm quán), lại còn so sánh với Thiền niệm Phật
hưng thịnh buổi đầu. Thiền niệm Phật chỉ căn cứ vào kinh giáo dụng tâm tu
trì đây là nguồn gốc phát khởi ra tông Tịnh độ, điều này không còn nghi
ngờ gì nữa. Hiện tại đây xin giảng về Thiền Tịnh song tu căn cứ theo Giáo
và Luật. Phần này được chia ra các tiết sau.
1.
Cõi Phật Vô Lượng.
Vào
thời Tam Quốc, ngài Chi-lâu-ca-sấm đã dich ra bộ kinh Bát-chu tam-muội.
Bát-chu nghĩa là “Tất cả chư Phật có mặt tại tiền”. Tất cả chư Phật ở đây
cũng chính là Phật A-di-đà. Bởi vì chữ A-di-đà Trung Hoa dịch là “Vô
Lượng”, “Vô Lượng” cùng với “tất cả” tương thông nhau mà không trái nghịch
nhau. Cho nên nói “Tất cả chư Phật có mặt tại tiền”, tức là “Phật A-di-đà
có mặt tại tiền”. Trong Thiền ngũ môn dạy rằng: Chúng sanh có tâm tham
nhiều thì tu pháp quán bất tịnh, chúng sanh có tâm sân nhiều thì tu pháp
quán từ bi, chúng sanh có tâm si nhiều thì tu pháp quán duyên khởi, chúng
sanh có tâm thường tán loạn thì tu pháp quán sổ tức, sau cùng chúng sanh
có tâm thường kiêu mạn thì tu pháp quán vô ngã. Lại còn nói nếu chúng sanh
có nhiều nghiệp chướng thì tu pháp quán niệm Phật. Bình thường khi nói đến
Tam bảo nói đến lục niệm cũng đều là chỉ cho Phật có mặt tại tiền. Bởi vì
chúng sanh bị trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử nghiệp chướng sâu dày,
còn chư Phật đã đạt đến công đức thanh tịnh viên mãn, lấy công đức thanh
tịnh viên mãn này để đối trị nghiệp chướng của chúng sanh. Chúng ta nương
vào sức gia trì của công đức thanh tịnh Phật Đà thì tâm ta dễ dàng sanh
khởi hướng về thế giới thanh tịnh của chư Phật. Mật tông cũng từ pháp môn
quán niệm Phật mà phát sinh. Bởi vì mật chú cũng chính là hồng danh chư
Phật, đều tổng nhiếp hết công đức Phật quả. Lấy công đức Y báo, Chánh báo
của Phật quả làm chỗ để nguyện sanh về thì đó là tinh thần tu tập của Tịnh
độ tông, tự mình hàm nhiếp được công đức Y báo, Chánh báo của Phật quả thì
đó là tinh thần tu tập của Mật tông.
Thuyết
niệm Phật trong kinh Bát-chu tam-muội là niệm đến tất cả Phật, niệm vô
lượng Phật, niệm công đức, tướng hảo, pháp tánh của Phật, niệm cho đến
công năng thành thục thì có thể cảm ứng đạo giao với chư Phật ngay hiện
tiền. Lấy công đức Y báo, Chánh báo của Phật quả làm pháp niệm, không chỉ
kinh Bát-chu tam-muội nói đến mà ở các kinh luận khác cũng có nói như vậy.
Như trong kinh Pháp hoa có dạy: “Khi thân hoại mạng chung có nghìn đức
Phật đưa tay tiếp dẫn mười phương cõi Tịnh độ, tuỳ theo sở nguyện mà được
vãng sanh”.
Ý ở
đây là chỉ cần niệm công đức thâm sâu của chư Phật được nói trong kinh thì
sẽ cảm ứng với chư Phật và được chư Phật phóng quang đến tiếp dẫn. Nói
mười phương chư Phật tức là nói chư Phật ở cõi Phật Vô Lượng. Chúng sanh
tu pháp niệm Phật thì trong vô lượng vô biên cõi này đều có thể vãng sanh
tuỳ nguyện.
2. Nội
viện của Phật Di-lặc.
Nhìn
vào lịch sử Phật giáo Trung Hoa, trước thời ngài Huệ Viễn, đã xuất hiện
khuynh hướng tu tập nguyện sanh về Tịnh độ của Phật Di-lặc. Tịnh độ của
Phật Di-lặc chính là nội viện của cung trời Đâu-suất. Tuy Tịnh độ của chư
Phật ở mười phương đều có thể vãng sanh nhưng Tịnh độ của Phật Di-lặc là
gần nhất. Bởi vì Tịnh độ ấy ở ngay tại thế giới Ta bà và nằm trong cõi Dục
giới. Cho nên khi kinh Di-lặc thượng sinh được phiên dịch, về sau pháp sư
Đạo An đã chuyên tu theo tinh thần kinh này, để cầu sanh về nội viện
Đâu-suất. Chư vị cao Tăng từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền giáo cũng có vị
tu theo pháp môn này. Đời Đường ngài HuyềnTrang và ngài Khuy Cơ cũng lấy
Tịnh độ Di-lặc làm chỗ quy hướng mà hành trì. Đến đời sau chư vị cao Tăng
đại đức của chúng ta chủ trương Di-đà Tịnh độ, phần nhiều nói rằng: Tịnh
độ Di-lặc không dễ tu và cũng không dễ vãng sanh, hoặc lại nói Tịnh độ
Di-lặc không thù thắng trang nghiêm bằng Tịnh độ của Phật A-di-đà. Trong
“Thập nghi luận” của đại sư Trí Giả, “An lập tập” của ngài Đạo Xước, “Tịnh
độ luận” của ngài Ca Tài v.v…, đều có nói như vậy.
So với
các kinh luận trên thì các kinh sách giảng giải biên chép về Tịnh độ
Di-lặc còn quá ít ỏi, người hành trì theo cũng không có nhiều, cho nên đến
sau đời ngài Huyền Trang và Khuy cơ khuynh hướng tu tập về Tịnh độ của
Phật Di-lặc không còn thịnh hành nữa mà ngược lại khuynh hướng tu về Tịnh
độ Di-đà rất được phù hợp. Tôi (Thái Hư) thấy sự biện luận của chư vị cao
Tăng nói đến cung trời Đâu-suất mà không chuyên tâm giảng giải đến nội
viện của Phật Di-lặc, nếu có nói đến nội viện thì như kinh Di-lặc thượng
sanh ở trên đã thuyết: Hành giả được sanh về Đâu-suất nội viện đều phát
tâm Đại thừa không thối chuyển, vả lại kinh ấy cũng thuyết đến Tam phẩm tu
hành: Như có người phạm giới, sau khi sám hối tội lỗi đến lúc thân hoại
mạng chung được đức Phật Di-lặc hóa thân đến tiếp dẫn. Trong kinh Hoa
nghiêm, Bồ-tát Phổ Hiền có hạnh nguyện chỉ dẫn chúng sanh hướng về Cực
lạc. Trong kinh Pháp hoa, Bồ-tát Phổ Hiền khuyên chúng sanh hướng về
Đâu-suất nội viện.
Như
vậy pháp môn tu tập nguyện về Tịnh độ Phật Di-lặc không được thịnh hành,
không phải tại vì cõi ấy thù thắng hay hạ liệt, pháp môn khó tu hay dễ tu
mà vì nguyên nhân chủ yếu là kể từ đời Đường trở về sau rất ít người tu
tập theo và rất ít người hoằng dương vậy.
3. Tịnh
độ Phật Di-đà.
Trong
kinh Bát-chu tam-muội có nói đến tất cả Phật cũng chính là Phật Vô Lượng
(Phật A-di-đà), huống chi kinh Vô lượng thọ đã được phiên dịch vào đời Hán
Ngụy. Trước ngài Huệ Viễn có thiền sư Tăng Hiển do tu tập thiền định thấy
được đức Phật Di-đà mà vãng sanh Cực lạc. Tông phong chỉ chuyên niệm Phật
Di-đà cầu sanh Tịnh độ được ngài Huệ Viễn sáng lập đầu tiên ở núi Lô Sơn
có tên là “Bạch Liên Xã”.
Đức
nghiệp của pháp sư Huệ Viễn thật cao cả vô cùng! Ngài đã phiên dịch ra các
kinh luật, hoằng dương giáo nghĩa Đại thừa, tu trì giới định tuệ hết lòng
bảo tồn khuôn phép Tăng già v.v…, nhưng điểm đặc biệt cần nói đến là ngài
sáng lập hội Liên xã ở Lô Sơn. Ngài được suy tôn là Sơ tổ của Tịnh độ tông
ở Trung Quốc, ngoài ngài ra địa vị này không thuộc ai cả. Đương thời mọi
người trong hội Liên xã ngày đêm sáu thời niệm Phật, một lòng hướng đến
Tây phương. Trong đó có cư sĩ Lưu Di Dân soạn bộ “Tịnh độ phát nguyện
văn”, Vương Kiều v.v… soạn bộ “Niệm Phật tam-muội thi”. Trong lời tựa ngài
Viễn Công (Huệ Viễn) ghi: “Niệm Phật tam-muội là gì? Có nghĩa là tư chuyên
tưởng tịch. Tư chuyên tức ý chí không phân tán, tưởng tịch tức thần khí
sáng suốt thư thái như hư không. Lại có rất nhiều loại tam-muội nhưng công
cao dễ tiến chỉ có niệm Phật tam-muội là đứng đầu. Cái gì là cùng huyền
cực tịnh? Đó là tôn hiệu của Như Lai, vì thần và thể của đức Như Lai thanh
tịnh vắng lặng nên ứng hóa được khắp mười phương không cùng tận”. pháp sư
Huệ Viễn vô cùng tán thán pháp môn niệm Phật tam-muội, vì pháp môn niệm
Phật tam-muội không giống với thiền chuyên biệt hành sau này. Xưng danh
niệm Phật cũng như quán tướng hảo công đức Y báo, Chánh báo của Phật, như
ngài Viễn Công ở trong định ba lần thấy cảnh Tây phương Tịnh độ. Đó là do
niệm Phật mà đắc được cảnh giới tam-muội. Nên trước ngài Huệ Viễn, tuy đã
có pháp “Niệm Phật quán” trong Thiền ngũ môn nhưng ngài lại dùng pháp niệm
Phật làm phương tiện để tu thiền, căn cứ vào đó ngài Viễn Công đã chuyển
biến thành pháp tu Tịnh độ đặc thù ở Lô Sơn Liên Xã.
Pháp
môn “Thiền Tịnh song tu y theo Giáo, luật”, ngài Viễn Công gọi “Công cao
dễ tiến niệm Phật là đứng đầu”. Bởi vì người đương thời coi pháp quán niệm
Phật là tối cao trong các thiền quán, cho nên gọi niệm Phật chính là thiền
quán tối thượng. Hành giả tu theo pháp môn này cần y theo tinh thần giáo
nghĩa nghiêm trì giới luật, như Tổsư Huệ Viễn trọn đời không bao giờ dùng
đến mật tương v.v… Không như tinh thần thoát ly ra ngoài giáo nghĩa giới
luật của thiền Tổ sư Đạt-ma sau này. Do vậy mà được gọi là “y theo giáo
luật”. Lại ở đây dùng pháp niệm Phật làm thiền quán tối cao nên không
giống như đời sau chỉ riêng tu thiền, từ đó mà việc hoằng đạo khó khăn.
Pháp tu Tịnh độ nặng về thực hành trì danh niệm Phật gọi là pháp môn Thiền
Tịnh song tu.
Pháp
môn này do ngài Huệ Viễn khởi xướng ở Liên xã Lô Sơn và thịnh hành ở
phương Nam, sau này được ngài Đàm Loan đem truyền qua vùng tây bắc, chỉ
ngài Đàm Loan khởi xướng khuynh hướng ly Thiền tu Tịnh, do vậy mà pháp
Thiền Tịnh song tu của ngài Viễn Công vẫn là đại biểu.
Sau
pháp sư Huệ Viễn, vào đời sơ Đường có ngài Thiện Đạo nỗ lực hoằng dương
pháp niệm Phật nên pháp niệm Phật được phổ hóa rộng rãi từ triều nội cho
đến lê thứ. Không chỉ trong phạm vi Trung Quốc mà còn truyền sang Triều
Tiên, Nhật Bản, Việt Nam v.v… và người Trung Quốc xem bốn chữ “A-di-đà
Phật” là đại biểu của Phật pháp. Tuy phạm vi ảnh hưởng rộng rãi nhưng tín
ngưỡng văn tự Phật giáo Trung Hoa so với các nước khác phần lớn có sự bất
đồng. Như trong bổn văn Tây Tạng cho rằng đại biểu của Phật pháp là
“Án-ma-ni-bát-mê-hồng” chứ không phải là A-di-đà Phật. Trong văn Ba-li
(Pali) của Phật giáo Tích Lan, Miến Điện v.v… không chỉ không có pháp môn
Tịnh độ mà cả bốn chữ A-di-đà Phật cũng không biết đến. Do thế mà biết
được pháp môn Tịnh độ từ Trung Quốc khởi nguồn là dấu ấn đặc thù của Phật
giáo Trung Hoa. Giảng đến Phật học Trung Quốc không thể không giảng đến
pháp hành Tịnh độ và người sáng lập đầu tiên không thể không nói đến pháp
sư Huệ Viễn.
II. TÔN GIÁO, LUẬT LY THIỀN
TU TỊNH.
Từ khi
yếu chỉ “Bất lập văn tự, bất câu lục nghi”, lấy vô tướng, vô danh để tâm
ngộ của Thiền tông Đạt-ma truyền vào Trung Quốc thì Thiền giả không đặt
nặng vào giáo nghĩa cũng như luật nghi. Còn hành giả Tịnh độ đều tôn trọng
vào giáo luật, do đó mới có sự hình thành pháp tu Tịnh độ tôn giáo luật,
biệt dị với pháp tu thiền. Song Tịnh độ hành vào thời này có khác với
đương thời pháp sư Huệ Viễn. Tổ Huệ Viễn lấy pháp niệm Phật làm thiền quán
tối cao, niệm Phật tức tu thiền. Còn thời kỳ này tu Tịnh độ tách biệt với
thiền. Không chỉ pháp môn Tịnh độ niệm Phật ngược với thiền của Thiền tông
Đạt-ma mà đối với các thiền định quán chiếu khác y theo giáo luật cũng có
sự khác biệt. Bởi vì thiền đứng trên tinh thần tự lực rất khó thực hành
(nan hành đạo), còn riêng pháp môn Tịnh độ dựa vào tinh thần tha lực nên
dễ thực hành (dị hành đạo).
Tóm
lại, ở đây Tịnh độ tôn giáo luật, hành đạo khác xa với pháp tu thiền.
Không những ngược với thiền Tổ sư Đạt-ma, mà còn khác với các môn thiền
định khác.
Các
bổn văn được trước tác liên quan đến pháp môn Tịnh độ này, lưu truyền gồm
có: “Lược Luận an lạc Tịnh độ nghĩa” của pháp sư Đàm Loan là bổn văn ra
đời sớm nhất. Trong đó nội dung nói rõ Tây phương Tịnh độ không có ba cõi,
đầy đủ hai mươi bảy món trang nghiêm cùng cửu phẩm vãng sanh, giải thích
nghi ngờ về thai sanh (Liên hoa sanh) và chỉ niệm mười niệm được vãng sanh
v.v…, nội dung bản sách tác giả y theo tinh thần tam kinh nhất luận của
Tịnh độ mà lập nghĩa.
Tiếp
theo là bộ “An lạc tập” của pháp sư Đạo Xước, Đạo Xước xuất hiện sau ngài
Thiên Thai Trí Giả không lâu, sau ngài Đàm Loan vài chục năm. Ngài vốn là
một pháp sư giảng kinh, sau vì mến uy phong của ngài Đàm Loan mà chuyển tu
theo Tịnh độ. Ngài chú trọng vào pháp tu trì danh niệm Phật, hằng khuyên
mọi người dùng hạt đậu để ghi số niệm Phật. Trong bộ “An lạc tập” ngài
phân ra thập nhị môn (mười hai môn), ở đệ tam môn (môn thứ ba) ngài căn cứ
vào bộ luật Thập trụ Tỳ-bà-xa của Bồ-tát Long Thọ mà lập ra nghĩa Nan hành
đạo (khó hành đạo) và Dị hành đạo (dễ hành đạo), đã xác lập được tông bổn
giáo nghĩa Tịnh độ. Có người từng nghi rằng cõi Tây phương Tịnh độ cách
thế giới Ta bà mười vạn ức cõi, lại là thế giới cực thanh tịnh của Phật,
con người ở thế giới Ta bà này muốn sanh về cõi Tây phương chẳng phải là
điều khó khăn lắm sao? Nhưng trong An lạc tập, pháp sư Đạo Xước khéo léo
gọi thế giới Ta bà là uế độ cuối cùng, thế giới Cực lạc là Tịnh độ đầu
tiên, cuối cùng và đầu tiên có sự tương nhiếp nhau cho nên việc vãng sanh
không khó vậy. Quan điểm này ngoài pháp sư Đạo Xước ra không thấy ai nói
đến. Tôi (tác giả) trước đây ở Bắc Kinh đã từng giảng phẩm “Phổ Hiền hạnh
nguyện” của kinh Hoa nghiêm, khi giảng qua mới thấy kinh nói rằng một kiếp
ở thế giới Ta bà bằng một ngày đêm ở thế giới Cực lạc, cõi Cực lạc Tây
phương là Tịnh độ ban đầu. Khi xem qua cuốn An lạc tập của ngài Đạo Xước
mới thấy có phần giống nhau. Trong An lạc tập, pháp sư Đạo Xước đã dẫn rất
nhiều bài kệ trong kinh Đại A-di-đà (không có trong kinh Vô lượng thọ ngày
nay). Lại ở thập nhị môn, ngài đã trích dẫn ra mười kinh nói về sự vãng
sanh rất tường tận nhưng rất tiếc những kinh này hiện bị thất truyền. Ta
có thể biết được rằng nội dung bộ An lạc tập của ngài Đạo Xước rất sâu xa
và tinh tế. Bổn sớ giải kinh Quán vô lượng thọ của ngài Trí Giả và bổn sớ
giải kinh Vô lượng thọ của ngài Tịnh Ảnh Huệ Viễn cũng xuất hiện vào thời
kỳ này.
Đời
Đường, có ngài Hoài Uẩn và pháp sư Hoài Cảm đều là đồng học ngài Thiện
Đạo, họ trước tác cuốn “Thích Tịnh độ quần nghi luận” gồm bảy quyển, lập
thuyết rộng sâu tinh tế, khế hợp với giáo nghĩa Tướng tông. Cùng thời với
ngài Hoài Cảm có ngài Ca Tài cũng soạn bộ “Tịnh độ luận”, phần nhiều cũng
căn cứ vào Tướng tông mà lập nghĩa. Hai bộ sách trên đã giải giảng giáo
nghĩa Tịnh độ rất thâm sâu vi diệu. Duy có pháp sư Hoài Cảm đi theo tinh
thần tông bổn của ngài Đạo Xước và Thiện Đạo, như thuyết Tây phương Tịnh
độ không có ba cõi v.v… còn ngài Ca Tài pháp sư phát huy quan điểm riêng
như nói rằng Tây phương Tịnh độ cũng có ba cõi. Nếu đứng trên Phật quả mà
nói thì đây là quả vị vô lậu không còn nằm trong ba cõi, còn đứng trên
phương diện chúng sanh mà nói thì có thể còn nằm trong dục giới. Sở dĩ nhị
vị pháp sư trên tuy đều dùng giáo nghĩa tướng tông mà chủ trương quan điểm
có sự khác nhau lắm vậy.
Trên
đây đã thuận theo thứ tự giảng nói giáo nghĩa. Trước là nói đến ngài Hoài
Cảm sau là nói đến ngài Ca Tài. Nhưng nếu nói trong thời gian này thì ngài
Thiện Đạo là sớm hơn hết (tại Nhật Bản người ta suy tôn Đàm Loan, Đạo
Xước, Thiện Đạo, Hoài Cảm, Thiếu Khang là năm vị Tổ Tịnh độ của Trung
Hoa), đến đời Đường Cao Tôn (Trung Quốc) lập ngài Thiện Đạo là đệ Nhị tổ,
Thừa Viễn là đệ Tam tổ, Pháp chiếu là đệ Tứ tổ, Thiếu Khang là đệ Ngũ tổ,
đều là những vị có những cảm ứng thần dị ở đời.
Ngài
Thiện Đạo là bậc long tượng của Tịnh độ tông, không chỉ tại Trung Quốc suy
tôn làm Tổsư mà ở Nhật Bản xem ngài là nhân vật tối ư quan trọng của Tịnh
độ ở đây.
Trong
Tăng truyện có chép: Khi ngài Thiện Đạo gặp được bài văn “Tịnh độ cửu phẩm
đạo tràng” của ngài Đạo Xước, ngài nói rằng: “Nếu tu các hạnh nghiệp khác
thì quanh quẩn khó thành tựu, duy chỉ có pháp môn Tịnh độ này là mau chóng
thoát ly sanh tử”. Ngài liền tinh tấn chuyên cần tu tập lễ tụng ngày đêm.
Sau ngài đến Kinh Sư (tức Tây An) khuyến hóa tứ chúng, ngài thường quỳ
tụng niệm Phật danh chưa đến kiệt sức thì chưa ngơi nghỉ. Ngoài lúc niệm
Phật, ngài thường tuyên dương pháp nghĩa Tịnh độ cho mọi người tinh hiểu,
nỗ lực tinh cần không biết mỏi mệt. Hơn ba mươi năm mà ngài không ngủ nên
kẻ đạo người tục được ngài hóa độ đông không thể kể xiết. Ngài duy chỉ
trải qua thực hành niệm câu kệ A-di-đà Phật được cổ kim truyền tụng, vả
lại ngài cũng dạy mọi người chuyên trì niệm danh hiệu Phật không cần phải
quán tưởng: Ngài nói “Chúng sanh nghiệp chướng nặng nề, tâm tình thô tháo,
thần thức tán động nếu quán tưởng thì khó thành tựu. Chính vì thế mà đấng
Đại thánh (Phật) đã lân mẫn thương xót dạy chúng sanh chỉ niệm thẳng vào
danh hiệu. Chính vì xưng danh hiệu là hạnh dễ làm cần giữ cho niệm sanh
khởi liên tục, nếu người giữ được niệm niệm tương tục đến lúc lâm chung
thì mười người niệm mười người vãng sanh, trăm người tu trăm người về Tịnh
độ”. Đây là lời dạy cực kỳ thiết yếu, đến đời sau pháp môn niệm Phật
chuyên trì danh cũng bắt nguồn từ nền tảng này vậy. Ngài còn thiết tha dạy
bảo với mọi người khi gặp lúc lâm chung lấy pháp niệm Phật để trợ lực vãng
sanh.
Pháp
sư Thiện Đạo thật sự được xem là khuôn mẫu của Tịnh độ tông Trung Quốc.
Ngài có soạn bộ “Niệm Phật cảnh” được mọi người như ngài Dương Kiệt đời
Tống, Liên Trì đời Minh v.v… đánh giá rất cao, vì bộ sách phát huy được
những điểm tinh yếu của giáo nghĩa Tịnh độ.
Ngoài
bộ “Niệm Phật cảnh”, ngài còn soạn bộ “Quán niệm A-di-đà Phật tướng hảo
công đức pháp môn”, trong đó nói rõ pháp tu quán tưởng niệm Phật. Do thế
mà biết được ngoài pháp tu trì danh niệm Phật, ngài còn kiêm luôn pháp tu
quán tưởng, chẳng qua khi đề xướng ngài chỉ thiên trọng về pháp trì danh
mà thôi.
Từ
ngài Đàm Loan về sau, đã có các bộ “Tịnh độ tam kinh nhất luận sớ”, ngài
Đạo Xước, Thiện Đạo v.v… đã tiếp nhận và những bộ sách ấy được xem là giáo
điển căn bổn của Tịnh độ tông. Mà ở Nhật Bản việc học tập nghiên cứu của
hành giả Tịnh độ tông, Chơn tông không thể không nghiên cứu sở học của
Tịnh độ tông Trung Hoa. Đặc biệt là pháp sư Thiện Đạo đã bốn lần cho khắc
bản các bộ sớ nghĩa, trước thuật v.v… liên quan đến Tịnh độ do ngài Thiên
Thai Trí Giả soạn thảo.
Cùng
thời với Thiện Đạo có pháp sư Khuy Cơ soạn bộ “Tây phương yếu quyết” và bộ
“Di-đà thông tán”. Cuốn “Tây phương yếu quyết” và bộ “Di-lặc thượng sanh
kinh sớ nghĩa” không giống nhau, cho nên có người hoài nghi rằng bổn sách
này không phải do ngài Khuy Cơ trước tác.
Cũng
trong thời gian này có pháp sư Nguyên Hiểu từ Cao Ly sang Trung Hoa học
đạo. Tuy chỉ chuyên học giáo nghĩa của Hiền Thủ tông nhưng đối với pháp
môn Tịnh độ ngài cũng có soạn bộ “Du tâm an lạc đạo” để tán dương.
Tịnh
độ tông được truyền sang Nhật Bản, chư vị Tổ sư của Trung Hoa được Nhật
Bản suy tôn: Ngài Đàm Loan làm Sơ tổ, Đạo Xước làm Nhị Tổ, Thiện Đạo làm
Tam tổ, Hoài Cảm làm Tứ tổ và Thiếu Khang làm Ngũ Tổ. Chỉ có ngài Thiếu
Khang là Ngũ tổ của Tịnh độ tông Nhật Bản, đồng thời cũng là Ngũ tổ của
Tịnh độ tông Trung Hoa, còn bốn vị trước không đồng với thứ tự truyền thừa
của Tịnh độ tông Trung Hoa.
Pháp
sư Thiếu Khang là người xuất hiện sau ngài Thiện Đạo khoảng hơn trăm năm.
Nhân vì có một lần ở chùa Bạch Mã, ngài thấy hộp đựng kinh phát ra ánh
sáng, đến mở ra xem thì thấy trong đó có bộ sách “Tịnh độ phát nguyện văn”
của ngài Thiện Đạo. Ngài vui mừng liền đến Tây An đảnh lễ pháp sư Thiện
Đạo ở Tổ đường, và được sự cảm ứng: Pháp sư Thiện Đạo hiện thân trên không
trung khuyên dạy ngài phải hết lòng chuyên tu pháp môn Tịnh độ. Ngài chí
thành y giáo phụng hành, sau ngài đến cư trú ở Tân Định, Chiết Giang,
trước tiên ngài dùng tiền bạc khuyên dụ trẻ em niệm Phật, sau ngài cùng
bọn chúng đồng thanh niệm Phật và thấy được sự cảm ứng nhiệm mầu của Phật
hiện ra, những người có nhân duyên được ngài hóa độ rất đông đảo.
Khi
đến lúc lâm chung ngài niệm Phật trong miệng phát ra ánh sáng, chỉ có hàng
đệ tử chơn chánh chân tu của ngài mới thấy được ánh sáng đó, ngài đã được
vãng sanh Tịnh độ. Người đời sau phần nhiều gọi ngài là hậu thân tái thế
của ngài Thiện Đạo pháp sư. Ngài Thiếu Khang đích thực là người kế thừa tư
tưởng của Tổ sư Thiện Đạo. Nhưng chỉ tại Phật giáo Trung Hoa đời sau suy
tôn ngài làm Tổ sư mà không kế tiếp nhị Tổ Thiện Đạo, kế tiếp Thiện Đạo là
tam TổThừa Viễn, tứ TổPháp Chiếu.
Riêng
nhị vị Tổ sư Thừa Viễn và Pháp Chiếu, thì ngài Pháp Chiếu có truyện ký ghi
lại nên khảo cứu nguồn gốc dễ dàng; còn ngài Thừa Viễn pháp sư được pháp
sư Thạch Chi Tông Hiểu đời Tống soạn bộ “Lạc bang văn loại”, trong đó chỉ
ghi ngài là Tổsư thứ ba của Tịnh độ tông mà thôi.
Pháp
sư Thừa Viễn không rõ gốc tích thế nào mà được suy tôn là Tổ thứ ba, ấy
cũng vì ngài là người chuyên tu khổ hạnh niệm Phật, có lòng tinh thành cảm
thông, tín đồ Tăng, tục được ngài hóa độ vô kể. Đối với tông chỉ giáo
nghĩa của ngài không biết khảo cứu vào đâu, chỉ biết rằng ngài có khai sơn
chùa Chúc Thánh ở núi Nam Nhạc, ngài vốn là người từng tu thiền định. Nhân
có một ngày ở trong định, pháp sư Pháp Chiếu đã thấy Phật Di-đà ngồi trên
bảo tòa ở cõi Tây phương, phía bên có một vị Tăng lam lũ đứng hầu hỏi ra
mới biết đó là pháp sư Thừa Viễn ở núi Nam Nhạc. Sau khi xuất định pháp sư
Pháp Chiếu đến núi Nam Nhạc để lễ bái vị sư Tăng ấy và từ đó ngài chuyên
tu Tịnh độ. Về sau hoàng đế Đại Tông phong Pháp Chiếu làm Quốc Sư, ngài kể
lại đạo hạnh của Thừa Viễn và được vua phong chùa Chúc Thánh ở Nam Nhạc là
Bát-chu Đạo Tràng. Cho nên, người sau mỗi khi đảnh lễ chư vị Tổ sư đều
xưng tán pháp sư Bát-chu Thừa Viễn là Đệ tam Tổ của Tịnh độ tông.
Sau
ngài Thiện Đạo một chút lại có pháp sư Từ Mẫn. Trong sách Cao tăng truyện
có ghi: “Thích Huệ Nhật sinh vào năm thứ hai niên hiệu Vĩnh Long, đời vua
Đường Cao Tông. Sau khi ngài xuất gia một thời gian, nhân thấy Tam Tạng
Thiện Tịnh (Nghĩa Tịnh) đi thỉnh kinh ở Ấn Độ trở về mà ngài cảm động,
liền xin sang Ấn Độ để du học. Đến năm thứ bảy niên hiệu Khai Nguyên, ngài
trở lại Trường An vì vua Đường Huyền Tông thuyết pháp và được vua ban sắc
hiệu là Từ Mẫn. Tuy ngài sống không cùng thời với ngài Thiện Đạo và ngài
Thiếu Khang nhưng đồng chung pháp môn hóa độ”. Từ đó biết được ngài Từ Mẫn
là một nhân vật trọng yếu của Tịnh độ tông vào đời Đường, những tài liệu
do ngài trước tác đã bị thất lạc nên người đời sau không rõ về ngài lắm
vậy.
Có vị
Tăng người Nhật Bản tên là Tiểu-dã-huyền-diệu viết cuốn sách tựa đề: “Từ
Mẫn Tam Tạng chi Tịnh độ giáo” (Tịnh độ giáo của Tam Tạng Từ Mẫn) trong đó
có ghi: “Ngài Tam Tạng Từ Mẫn của chúng ta là một vị Tổ sư vĩ đại của Tịnh
độ nhưng có một số bộ phận giáo đồ Tịnh độ sau này suy tôn ngài Đàm Loan,
Đạo Xước, Thiện Đạo, Hoài Cảm, Thiếu Khang là năm vị Tổ Tịnh độ Trung Hoa
mà không nói gì đến Tam Tạng Từ Mẫn. Ấy cũng bởi vì tuy cùng là Tịnh độ
tông nhưng quan điểm của ngài Từ Mẫn cùng với hệ Thiện Đạo có phần bất
đồng”.
Ở trên
suy cử năm vị Tổ sư Tịnh độ của Nhật Bản nhưng không lấy ngài Hụê Viễn làm
Sơ Tổ và cũng không có ngài Thừa Viễn và ngài Pháp Chiếu. Còn ở Trung Quốc
thì không chọn ngài Đàm Loan, ngài Đạo Xước, ngài Hoài Cảm. Bởi vì thứ tự
chư vị Tổ sư Tịnh độ Trung Quốc căn cứ vào sự suy tôn của ngài Tông Hiểu
đời Tống. Ngài Tông Hiểu lập ngài Huệ Viễn làm Sơ tổ và năm vị Tổ kế tiếp
là ngài Thiện Đạo, Pháp Chiếu, Thiếu Khang, Tĩnh Thường và ngài Tông
Trách. Trong Chỉ Quy Tập thì ghi ngài Thiện Đạo, Thừa Viễn, Pháp Chiếu,
Thiếu Khang, Vĩnh Minh, Tĩnh Thường, và ngài Tông Trách, thành bảy vị Tổ
kế tiếp Sơ tổ Huệ Viễn. Song đến đời Minh có ngài Ngẫu Ích v.v… cho rằng
sự suy lập chư vị Tổ sư như trên là chưa trọn vẹn. Vì điều trọng yếu cho
sự suy lập ấy là dựa vào công đức hoằng hóa độ sanh cao dày của chư Tổ mà
làm tiêu chuẩn, chứ hoàn toàn không dựa vào mối quan hệ truyền thừa giữa
Tổ trước Tổ sau. Nhưng căn cứ theo pháp sư Đại Hữu đời Nguyên, cho rằng
ngài Tông Hiểu là thuộc hệ truyền thừa của ngài Tông Trách và thay ngài
Tông Trách bằng ngài Liên Trì đại sư làm Tổ thứ tám. Cho đến cuối đời Minh
quan điểm này mới được hoàn toàn chấp nhận. Xem qua bộ luận của ngài
Tiểu-dã phần phụ thuật về sự truyền thừa chư Tổ Tịnh độ cũng có khác như
vậy.
Pháp
sư Từ Mẫn lúc còn du học ở Ấn Độ đã từng được Bồ-tát Quan Âm cảm ứng hiện
thân thuyết pháp: “Ông muốn hoằng hóa Phật pháp tự lợi lợi tha thì chớ
quên cầu sanh qua thế giới Tịnh độ Tây phương Cực lạc của Phật A-di-đà. Ta
khuyên ông cần siêng năng niệm Phật tụng kinh phát nguyện vãng sanh Tịnh
độ. Khi vãng sanh về đó sẽ gặp đức Phật A-di-đà cùng Ta, ông sẽ được nhiều
lợi ích lớn. Ông nên biết rằng pháp môn Tịnh độ là thù thắng nhất trong
muôn hạnh”. Nhân đó mà ngài quyết định chuyên tu Tịnh độ. Sau khi trở về
Trung Hoa ngài chỉ lấy pháp môn niệm Phật để tự tu trì và hóa độ. Ngài
không chỉ là người chuyên trì danh hiệu Phật mà còn kiêm thông Giáo, Luật
và hành thiền nữa, dẫu biết rằng trong các tam-muội, pháp tu niệm Phật
tam-muội là dễ tu nhất. Trong kinh Kim cang có bài kệ :
“Nhược
dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm
thanh cầu ngã
Thị
nhơn hành tà đạo
Bất
năng kiến Như Lai”.
Hoặc
câu: “Phàm sỡ hữu tướng giai thị hư vọng” v.v… Nghĩa lý những câu như vậy
ngài đều có sự giảng giải thấu suốt sâu xa cùng tận. Vả lại, sự giảng giải
của ngài phần nhiều y theo giáo nghĩa Duy thức. Ngài nói, đứng trên Lý mà
luận thị gọi là vô tướng, đứng trên Sự mà luận thì có nhân có quả. Trên
quả thì vô tướng, trong nhân thì hữu tướng. Sự chứng ngộ của bậc thánh thì
gọi là vô tướng, tâm thức phàm phu gọi là hữu tướng, nên kinh Kim cang nói
do vọng tình mê chấp vậy.
Qua
những ý này ta biết được pháp sư Từ Mẫn đã thông hiểu uyên thâm giáo nghĩa
Duy thức nên sự kiến giải của ngài cùng pháp sư Thiện Đạo có đôi chỗ bất
đồng. Trong cuốn “Từ bi tập” ngài chỉ trích kịch liệt pháp tu thiền xa lìa
giới luật, mà lại tán dương pháp tu thiền căn cứ vào Giáo, Luật. Ngài nói
tu Thiền y vào Giáo, Luật cùng với tu Tịnh độ phải hợp nhất nhau. Cho nên
pháp sư Từ Mẫn là người chủ trương Thiền Giáo nhất chí, Thiền Tịnh hợp
hành, Tịnh Luật song tu. Pháp môn Tịnh độ vì nương vào tha lực nên dễ hành
trì, người niệm Phật không thể bỏ qua các hạnh nghiệp khác. Trong “Từ bi
tập” ngài dạy: “Giáo pháp huyền vi đã thuyết, tu thiền định phát sinh
chánh trí, điều tâm vào một chỗ, niệm niệm tương tục, giữ tâm bình đẳng xa
lìa được trạo hối, hôn trầm, nếu bị thuỳ miên làm chướng ngại thì cần phải
sách tấn bằng pháp tụng kinh niệm Phật, lễ sám và làm các Phật sự như
giảng kinh, thuyết pháp, giáo hóa chúng sanh, vạn hạnh không bỏ sót. Công
đức các hạnh nghiệp này đều hồi hướng vãng sanh Tây phương Tịnh độ. Nếu ai
tu tập thiền định như vậy thì đó là thiền định của Phật giáo cùng với
Thánh giáo khế hợp, làm con mắt cho chúng sanh, người ấy được chư Phật thọ
ký. Tất cả các pháp môn không có sự sai biệt, đều đưa đến chỗ nhất như,
thành tối Chánh giác”. Nghĩa lý này so với tinh thần chuyên trì danh hiệu
của ngài Thiện Đạo có khác, nhưng lại giống với quan điểm của ngài Vĩnh
Minh đời sau.
Tuy
nhiên vào thời điểm này chỉ có khuynh hướng tu tập tôn Giáo, luật lìa
Thiền tu Tịnh độ chứ chưa đạt đến chỗ thấu suốt Thiền tu Tịnh của ngài
Vĩnh Minh, bởi vì pháp sư Từ Mẫn đương thời là người cực lực bài xích
Thiền tông vậy.
Sau
ngài Từ Mẫn có pháp sư Pháp Chiếu, cũng là một Tổ sư Tịnh độ, có nhiều
điềm linh dị trong việc giáo hóa chúng sanh. Lúc trước ngài không chuyên
tu Tịnh độ, đối với giáo nghĩa thiền định ngài thâm hiểu tận cội nguồn.
Sau ngài lập khổ hạnh tu theo tinh thần kinh Bát-chu Tam-muội. Ngài đến
Ngũ Đài Sơn được nhị vị Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền hiện thân thuyết pháp:
“Ông nay nên tu hạnh niệm Phật chính là đúng lúc, tu tất cả các hạnh môn
không qua hạnh niệm Phật, niệm Phật kèm theo cúng dường Tam bảo được phước
huệ song tu, là hạnh tối thắng, nên biết pháp môn niệm Phật là vua trong
các pháp môn. Phía tây cõi Ta bà này có thế giới Cực lạc của đức Phật
A-di-đà, ông cần niệm Phật, niệm niệm tương tục không gián đoạn, đến khi
mạng chung quyết định sẽ được vãng sanh về đó”. Trong sự cảm ứng này có
dạy đến phước huệ song tu, niệm Phật cầu sanh Tịnh độ rất giống với sở
hành của ngài Từ Mẫn.
Ngài
Từ Mẫn ở tại Ấn Độ, ngài Pháp Chiếu ở tại Ngũ Đài Sơn (Trung Quốc), được
các vị Bồ-tát Quan Âm, Văn Thù và Phổ Hiền hiện thân thuyết pháp. Người
đời sau gọi ba vị Bồ-tát này là Tam thánh khai thị pháp ngữ Tịnh độ.
Đến
đây lại có điều cần nói là trong khoảng thời gian này có rất nhiều vị Tổ
sư như Đạo Xước, Thiện Đạo, Hoài Cảm, Từ Mẫn v.v… đối với tinh thần thoát
ly Giáo, Luật mà áp dụng “giáo ngoại biệt truyền” của Thiền tông, các ngài
đều cực lực phản đối vì cho rằng nó rất ư tai hại.
Vào
đầu đời Đường lại thịnh hành tư tưởng “Tam giai giáo”1, lý luận chủ yếu
của tư tưởng này nói rằng tất cả các pháp môn Phật thuyết đều không thích
hợp đối với căn cơ chúng sanh đương thời, duy chỉ có thể học theo pháp khổ
hạnh v.v… của Bồ-tát Thường Bất Khinh, được mô tả trong kinh Pháp hoa mới
có thể thành Phật. Kiểu lý luận này được ngài Thiện Đạo và ngài Hoài Cảm
bác bỏ, ngài Hoài Cảm đã lập luận chỉ trích một cách rất tường tận. Trong
các Tăng viện đời Đường thỉnh thoảng cũng có nhưng Thiền môn thực hành
theo Tam giai giáo này, nó đã tồn tại và ảnh hưởng thấy rõ, nhưng không
bao lâu thì tư tưởng này bị diệt hẳn. Đến đời Tống ít có người biết đến tư
tưởng này. Sau đời Tống, Minh lưu truyền thịnh hành bộ luận “Niệm Phật bảo
vương tam-muội” gồm ba quyển, thuộc hệ tư tưởng pháp sư Phi Tích đời Đường
trước tác. Quyển thượng là nói niệm chư Phật vị lai, quyển trung thì nói
niệm chư Phật hiện tại, quyển hạ là nói niệm chư Phật quá khứ. Lý luận của
quyển thượng tương ưng với quan điểm của Tam giai giáo, quyển trung là nói
về cõi Tịnh độ. Có thể thấy bộ luận này tác giả đã dung hòa tư tưởng Tịnh
độ và tư tưởng Tam giai giáo mà soạn ra. Sau đời Tống, Minh mọi người
không biết đến Tam giai giáo nên cũng tôn bộ luận này là yếu điển của Tịnh
độ tông và được đưa vào trong “Tịnh độ thập yếu”.
Lại có
hai vị cư sĩ cần nói đến ở đây, trước là Liễu Tử Hậu (Liễu Tông Nguyên),
ông sống cùng thời với Hàn Dũ. Trong “Bát đại”2, văn chương ông là hơi
kém. Ông có soạn bộ “Đông hải nhược nhất văn” trong thời gian rất lâu và
nó được xem là bộ văn hiến trọng yếu của Tịnh độ. Kế đến là Bạch Lạc Thiên
(Bạch Cư Dị), ông là một đại thi hào thời Vãn Đường, về già lập nguyện tu
theo Tịnh độ, đối với pháp môn niệm Phật ông có làm bài thơ như sau:
Dư
niên thất thập nhất
Bất
phụ sự ngâm nga
Khán
kinh phí nhãn lực
Tác
phước uý bôn ba
Hà dĩ
độ tâm nhãn
Nhất
cú A-di-đà
Hành
dã A-di-đà
Tọa dã
A-di-đà
Túng
nhiêu mang tợ tiễn
Bất
phế A-di-đà
Nhật
mộ nhi đồ viễn
Ngô
sanh dĩ tha đà
Đán
tịch thanh tịnh tâm
Đản
niệm A-di-đà
Đạt
nhân ưng tiếu ngã
Đa
chước A-di-đà
Đạt
hựu tác ma sanh
Bất
đạt hựu như hà?
Phổ
khuyến pháp giới chúng
Đản
niệm A-di-đà
Tạm
dịch :
Tuổi
ta bảy mươi mốt
Chẳng
thơ phú ngâm nga
Xem
kinh mau mỏi mắt
Làm
phước sợ bôn ba
Lấy
gì độ tâm ta?
Một
tiếng A-di-đà
Đi
niệm A-di-đà
Ngồi
niệm A-di-đà
Dù gấp
như tên bắn
Cũng
không rời Di-đà
Tháng
ngày trước trôi qua
Ta đã
phí thời gian
Giờ
sớm chiều thanh tịnh
Chỉ
niệm A-di-đà
Người
giỏi lại cười ta
Sao
lắm A-di-đà?
Giỏi
thì làm gì ta?
Không
giỏi thì sao ha?
Xin
khuyên khắp pháp giới
Cùng
niệm A-di-đà.
Qua
bài thơ trên ta biết được Bạch Lạc Thiên đã có lòng thuần tín pháp môn
Tịnh độ và dốc tu niệm Phật. Ông cũng từng tham thiền và có sở ngộ, nhưng
chỉ vì ông sống ở trong thời đại chưa có người khai mở tư tưởng thấu Thiền
tu Tịnh.
Tư
tưởng thấu Thiền tu Tịnh dung thông Giáo, Luật sẽ được nói ở đoạn sau đây.
III. THẤU
THIỀN DUNG HÒA GIÁO, LUẬT, TU TỊNH.
Thấu
thiền cùng với biệt thiền ở trước có sự phân biệt khác nhau như thế nào?
1. Từ
thời Ngũ Đại trở về sau, hành giả tu thiền dựa vào Giáo, Luật rất ít, chỉ
có Thiền môn hành theo thiền Đạt-ma là phát triển.
2.
Tịnh độ trong thời gian này phải cần thấu qua Thiền mà dung hòa Giáo,
Luật. Nếu không thấu qua Thiền thì không thể tu bất cứ hạnh nghiệp gì
được. Quan điểm này cùng với tư tưởng biệt Thiền tu Tịnh trước đây không
đồng. Thiền giả thời kỳ này không những thấu Thiền mà còn dung nhiếp tất
cả Giáo, Luật. Từ đó mới chính thức hình thành dòng tư tưởng Tịnh độ tông
của Phật giáo Trung Hoa đương thời.
Ngược
thời gian ta thấy Phật giáo Trung Hoa thời kỳ đầu chuyên y theo Giáo, Luật
tu Thiền, thời kỳ thứ hai lìa Thiền tu Tịnh độ. Trong hai thời kỳ này Phật
giáo Trung Quốc đã hình thành tư tưởng các tông phái Thiền, Thiên Thai và
Hiền Thủ. Duy đến thời kỳ thứ ba mới có thể gọi là thời kỳ Tịnh độ tông
làm đại biểu cho Phật giáo Trung Hoa. Thời kỳ này chư Tổ Tịnh độ đều là
những bậc thấu Thiền dung hòa Giáo, Luật.
Nói về
thấu Thiền tu Tịnh và không thấu Thiền tu Tịnh có sự phân biệt thế nào?
Sau đây dẫn ra một đoạn văn sẽ thấy rõ.
Trong
tập “Trúc song tuỳ bút”, đại sư Liên Trì nói: “Đạo Cảnh và Thiện Đạo là
hai vị Tổsư làm tấm gương tiêu biểu cho pháp tu niệm Phật, đã chọn pháp
môn niệm Phật, đối với các loại pháp môn khác đều khước từ và nói trăm
ngàn vạn ức không bằng. Có thể gọi đây là lấy lòng tin thuần nhất làm chỗ
biện minh. Riêng đối với Thiền tông, hành giả tu quán tâm hay quán vô sanh
thì trăm ngàn vạn pháp khác cũng không bằng. Những điều này làm cho người
học Phật phát sinh nghi ngờ. Tôi theo văn “Tứ liệu giản” để minh chứng:
“Sở dĩ
người chấp tu Thiền không tu Tịnh độ là do họ chỉ chấp vào pháp quán tâm
mà không tin rằng có cõi Tịnh độ Cực lạc, chỉ chấp vô sanh mà không biết
rằng có Tịnh độ vãng sanh. Nghĩa là chưa đạt đến chỗ tức tâm tức độ, không
biết rằng sanh tức là vô sanh, do bị cái thấy thiên chấp về không, tức
Thiền này chưa phải là Thiền viên đốn. Ngược lại không như lý tánh, tuy
chưa đạt đến chỗ đại minh mà người niệm Phật đã đạt đến tam-muội, sao lại
không kỳ lạ? Nếu quán tâm mà chứng đắc diệu thể tự tâm, quán vô sanh mà
đắc được vô sanh nhẫn thì đây là đồng với người niệm Phật thượng phẩm
thượng sanh. Như vậy thì có pháp gì là cao là thấp?”
Từ
đoạn văn trên cho ta thấy ngài Thiện Đạo tu Tịnh độ như chưa thấu Thiền.
Còn ngài Liên Trì đã thấu Thiền mà tu Tịnh độ, ý này dễ dàng thấy rõ. Bởi
vì ngài Liên Trì thuyết minh cảnh giới tối cao của Thiền tức đồng với niệm
Phật thượng phẩm thượng sanh. Ngài đã dung nhiếp Thiền và Tịnh đồng hành
nên không cần phải lìa bỏ Thiền khi tu Tịnh. Thời kỳ thứ ba này được phân
ra ba đoạn như sau.
1. Từ
Thiền tông chuyển tu Tịnh độ.
Xưa,
Tịnh độ tông đã suy tôn pháp sư Huệ Viễn làm sơ Tổ , còn thời kỳ thấu
Thiền tu Tịnh thì tôn thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ là người khai sáng đầu
tiên. Vĩnh Minh là người miên mật chuyên trì niệm Phật, đối với Tịnh độ
ngài có soạn thuật các sách như: Thần thê an dưỡng phú, Vạn thiện đông quy
tập, Lục trùng vấn đáp v.v… đặc biệt có tác phẩm làm chuẩn mực cho Tịnh độ
tông là Tứ liệu giản keä:
Hữu
thiền vô Tịnh độ,
Thập
nhân cửu tha lộ,
Ấm
cảnh hốt hiện tiền,
Miết
nhĩ tuỳ tha đọa.
Vô
thiền hữu Tịnh độ
Vạn tu
vạn nhân thỏa
Đản đắc kiến Di-đà,
Hà sầu bất khai ngộ?
Hữu thiền hữu Tịnh độ
Do như đới giác hổ
Hiện thế vi nhơn sư,
Tương lai tác Phật, Tổ .
Vô thiền vô Tịnh độ,
Thiết sàng Tịnh đồng trụ,
Vạn kiếp dữ thiên sinh,
Một cá nhân y hỗ.
Tạm
dịch :
Tu thiền không Tịnh độ,
Mười người chín người lầm,
Khi ấm cảnh hiện ra,
Chớp mắt là theo nó.
Không thiền tu Tịnh độ,
Vạn người vạn người an,
Sớm được thấy Di-đà,
Lo gì chẳng khai ngộ?
Tu thiền tu Tịnh độ,
Như thêm sừng cho hổ,
Hiện thế thầy trời người,
Vị lai làm Phật, Tổ .
Không thiền không Tịnh độ,
Địa ngục ngày đêm khổ,
Vạn kiếp cùng ngàn đời,
Mất thân ai tế độ?
Bốn
bài kệ trên, có người nghi rằng do hậu thế ngụy tạo. Ở đây bất luận có
phải bài kệ xuất phát từ ngài Vĩnh Minh hay không và thời gian ra đời của
nó vào lúc nào, không phải là vấn đề quan trọng cần đề cập đến. Trước ngài
Vĩnh Minh, Thiền tông của Phật giáo Trung Quốc đã phát triển ra thành năm
phái3 và hưng thịnh đến tột đỉnh. Pháp nhãn tông là phái được hình thành
sau cùng, thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ thuộc đời truyền thừa thứ ba của
tông Pháp Nhãn và cũng là Tổ sư sau cùng của tông này. Vì ngài là bậc thấu
Thiền dung hòa Giáo, Luật tu Tịnh độ nên môn đồ của ngài cũng đều quy thú
sang Tịnh độ. Đến đây tông Pháp nhãn đã bị thất truyền, tông chỉ của ngài
được truyền qua Cao Ly. Ngày nay còn lưu giữ lại là pháp môn “Nhất tâm
niệm phật viên đốn”.
Tiếp
đến có thiền sư Trường Lô Từ Giác Tông Trách, ngài đã từng được suy tôn
làm Tổthứ tám của Tịnh độ tông. Ngài trước tác rất nhiều bổn văn liên quan
đến Tịnh độ, trong bài tựa cuốn Liên hoa thắng hội, ngài ghi: “Người mà
cho rằng niệm là thật có niệm, sanh là thật có sanh thì người ấy bị lạc
vào thường kiến sai lầm. Người mà cho rằng vô niệm là không có niệm, vô
sanh là không có sanh đây là người bị tà kiến mê hoặc. Người thấy niệm mà
vô niệm, sanh mà vô sanh đây mới là người đạt đến Đệ nhất nghĩa đế, là
“Thật tế lý địa bất thọ nhất trần”, tức là trên không có chư Phật có thể
niệm dưới không có Tịnh độ có thể sanh, “Phật sự môn trung bất xả nhất
pháp”, tức là thâu tóm hết tất cả căn cơ, bởi vì có niệm Phật Tam-muội thì
được trở về bổn tánh uyên nguyên vi diệu, thấy cửa vãng sanh mở rộng. Cho
nên nói rằng trọn ngày niệm Phật mà không trái với vô niệm, cần cầu vãng
sanh mà không trái với vô sanh, ấy mới có thể sanh vào các Tịnh độ của
Phật, có sự cảm ứng đạo giao, đồng thời các cõi Tịnh độ phương Đông,
phương Tây chưa từng đến đó mà tịnh thần đã an trú ở đó rồi. Do đây có thể
thấy được thiền sư Tông Trách là bậc thấu Thiền tu Tịnh dung hòa Giáo,
Luật.
Lại có
thiền sư Chân Hiết Thanh Liễu là vị Tổkhai sơn chùa Phổ Đà Hậu4, một bậc
đại lão của tông Tào Động và cũng là người nổi danh của tông Tịnh độ.
Trong “Tịnh độ tông yếu” ngài nói: “Phật A-di-đà không lìa chúng sanh và
tâm, cả ba không có sự sai biệt. Cực lạc ở khắp mọi nơi, đức Phật thiện
xảo nêu ra một cõi tức là bao gồm tất cả cõi …dạy chúng sanh chuyên niệm
Phật A-di-đà … thấy nhất Phật tức là thấy được tất cả chư Phật ở mười
phương cùng chúng sanh trong chín cõi của thế giới nhiều như vi trần. Đó
là dấu ấn của công hạnh viên mãn …”. Yếu nghĩa này không chỉ thể hiện sự
thấu tỏ Thiền tông của ngài mà còn dung thông cả giáo nghĩa Hiền Thủ nữa.
Vào
cuối đời Tống đầu đời Nguyên, có thiền sư Trung Phong Minh Bổn là một bậc
tông tượng cự phách của tông Lâm Tế, ngài đã dung thông được Giáo, Luật
của Thiền, Tịnh, Mật và cuối đời chuyên tu Tịnh độ. Hiện tại đang lưu hành
cuốn “Tịnh độ sám” do ngài soạn thảo để lại. Ngài đối với pháp môn Tịnh độ
không chỉ tự mình thuần tín thực hành mà còn đem hoằng hóa độ sanh rộng
rãi. Bộ “Tam thời Tịnh độ hệ niệm văn truyện” cũng do ngài trước tác. Ngài
lại còn soạn thảo rất nhiều thi kệ liên quan đến Tịnh độ, trong đó có bài
Hoài Tịnh độ thi:
Ngẫu trì vô nhật bất hoa khai,
Tứ sắc quang minh ánh bảo đài,
Kim tý dao thân thuỳ niệm thiết,
Chúng sanh hà cố bất tư lai?
Tạm
dịch:
Ao sen bảy báu hoa thường nở,
Chói lọi quang minh ánh bảo đài,
Thương sót, tay vàng thuỳ tiếp dẫn,
Chúng sanh sao chẳng chịu nương về?
Hoặc
có bài:
Thanh nhật hoàng hôn lễ sám ma,
Đê đầu khấp cáo lão Di-đà,
Luân hồi lục thú tri đa thiểu,
Thệ nguyện kim phiên xuất võng la.
Tạm
dịch :
Sớm chiều tinh tấn lạy sám ma,
Đê đầu đảnh lễ Phật Di-đà,
Sáu cõi luân hồi từng qua lại,
Thệ nguyện từ đây thoát Ta bà.
Qua
vài bài thơ trên ta có thể thấy được tư tưởng chủ đạo của ngài là chuyên
tu Tịnh độ.
Lại có
thiền sư Thiên Như Duy Tắc là một bậc thiền triết đầu đời Minh. Ngài có
soạn bộ “Thiên các hoặc vấn” được tuyển vào “Tịnh độ thập yếu”, trong đó
có lời rằng: “Do Tịnh độ giáo môn rất là rộng lớn, pháp tu rất là giản dị
nên người nghe không thể không nghi ngờ. Rộng lớn vì nó thâu nhiếp được
tất cả các căn cơ, trên từ hàng Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ ở ngôi Đẳng giác
cũng cầu sanh Tịnh độ, dưới cho đến hàng ngu phu ngu phụ, ngũ nghịch thập
ác, vô tri vô trí, khi đến lâm chung phát tâm sám hối tội lỗi đã qua, niệm
Phật cầu sanh Tịnh độ đều được vãng sanh. Giản dị là vì bước đầu thực hành
không gian nan khổ nhọc, lại pháp môn này không có các duyên làm ngộ nhận
sai biệt, duy chỉ trì danh hiệu bốn chữ A-di-đà Phật, từ bốn chữ này mà
thoát ly Ta bà đắc sanh Cực lạc, được bước lên địa vị Bất thối chuyển,
quyết định đi thẳng đến Phật quả”. Đây tuy chỉ là một đoạn văn ngắn song
đối với yếu nghĩa pháp môn Tịnh độ thì bao quát không thiếu sót.
Tiếp
theo là có thiền sư Sở Thạch Phạm Kỳ cũng là một tôn tượng của tông Lâm Tế
đầu đời Minh. Thuở thiếu thời hàng ngày vào buổi sớm mai thức dậy, ngài
đều tu pháp thập niệm Phật để cầu sanh Tịnh độ. Ngài chủ trì chùa Thiên
Ninh, khi ấy kiến trúc Bảo Tây5 một bên chùa, chuyên tu Tịnh nghiệp,
thường trầm tư quán tưởng Y báo, Chánh báo trang nghiêm cõi Cực lạc. Ngài
có soạn bộ “Tây trai độ thi”6 được hậu thế truyền tụng và được tuyển vào
trong tập “Tịnh độ thập yếu”, trước lúc lâm chung đối với Ngạc sư huynh
ngài nói :
-Ta đi
vậy!
Ngạc
hỏi:
-Đi
đến đâu?
Ngài
đáp:
-Đến
Tây phương.
Ngạc
hỏi:
-Tây
phương có Phật, Đông phương không có Phật sao?
Ngài
không trả lời, chỉ quát lại một tiếng rồi thu thần thị tịch.
Lại có
thiền sư Hám Sơn Đức Thanh là bậc cao Tăng thạc đức có nhiều công trình
trước thuật. Trong “Mộng du tập”, ngài khai thị rất nhiều về pháp hành
Tịnh độ. Trong bộ “Niệm Phật thiết yếu” có đoạn: “Pháp môn niệm Phật cầu
sanh Tịnh độ chính là cửa ngõ thiết yếu để liễu sanh thoát tử. Nếu không
biết được cội gốc của sanh tử từ đâu thì biết hướng vào chỗ nào mà niệm?
Nếu tâm niệm Phật mà đoạn không được gốc rễ sanh tử thì làm sao giải thoát
sanh tử? Nên cổ đức dạy: Nghiệp không nặng không sanh Ta bà, ái chưa đoạn
chưa sanh Cực lạc, nên biết ái chính là gốc rễ sanh tử, chúng sanh thọ
nhận sanh tử luân hồi mãi mãi đều là do sai lầm tội lỗi của ái này vậy”.
Đây là lời khai thị cho người tu pháp môn niệm Phật muốn ra khỏi sanh tử
cần phải đoạn dục khử ái. Những năm cuối đời, ngài vân du đến núi Vân Thê,
tán dương công đức đại sư Liên Trì và ngài tạo lập một thảo am để chuyên
tu Tịnh độ.
Thiền
sư Triệt Ngộ, ngài được suy tôn có khi là Tổ thứ mười một hoặc là thứ mười
hai của Tịnh độ tông, ngài sống giữa đời Càn Long, Gia Khánh nhà Thanh.
Ban đầu ngài tu Thiền, kiêm thông Giáo quán Thiên Thai và Hiền Thủ, trụ
trì Quản Thông Thiền Tự, trấn hưng Thiền tông. Sau vì bịnh duyên nên ngài
chuyển sang tu Tịnh độ, những người tu Thiền theo ngài phần nhiều cũng
chuyển sang tu Tịnh độ. Trong “Triệt Ngộ ngữ lục” của ngài, giáo nghĩa
được dung nhiếp vào một trăm bài kệ mà mỗi bài kệ được mở đầu bằng bốn chữ
“Nhất cú Di-đà”. Đơn cử ra đây một vài bài để thấy rõ:
“Nhất cú Di-đà
Ngã Phật tâm yếu
Thụ triệt ngũ thời
Hoành cai bát giáo”
(Một câu Di-đà
là Phật tâm ta
Dọc suốt năm thời
Ngang thâu tám giáo)
“Nhất cú Di-đà
Bạch ngưu giá kính
Kỳ tật như phong
Hành bộ bình chánh”
(Một câu Di-đà
Như xe bạch ngưu
Nhanh như gió thổi
Đến đi an toàn)
“Nhất cú Di-đà
Đệ nhất nghĩa đế
Thượng siêu bách phi
Khởi lạc tứ cú”
(Một câu Di-đà
Đệ nhất nghĩa đế
Vượt qua bách phi
Há vào tứ cú? 7)
“Nhất cú Di-đà
Thị vô thượng thiền
Nhất sanh sự biện
Bách kiếp công viên”
(Một câu Di-đà
Là vô thượng thiền
Thấu rõ sanh tử
Công đức tròn đầy)
Có thể
nói ngài là người cực kỳ thấu suốt Thiền tông dung thông Giáo, Luật tu
Tịnh độ. Thiền sư Tông Trách là người được nói sau cùng của khuynh hướng
tu Tịnh độ từ Thiền tông.
Trên
đây là nêu lên một số nhân vật làm đại biểu cho một khoảng thời gian của
khuynh hướng tu Tịnh độ từ Thiền tông, và sau đây là những bộ sách được
biên soạn đương thời.
1. Bộ
“Liên tông bảo giám”, thiền sư Đông Lâm Ưu Đàm biên soạn vào đời Tống.
Ngài là người tiếp thừa tư tưởng Tổ Huệ Viễn, chuyên hoằng dương pháp môn
Tịnh độ. Nội dung cuốn Liên tông bảo giám phân làm tám chương: Chánh nhân,
chánh giáo, chánh tông, chánh phái, chánh tín, chánh hạnh, chánh nguyện và
chánh quyết, là bộ điển tịch trọng yếu của Tịnh độ tông.
2. Bộ
“Tịnh độ giản yếu lục”, do Đạo Diễn Hoặc tức Diêu Quang Hiếu trước tác vào
đầu đời Minh, nội dung của nó là giảng yếu hai chữ Bất Quý.
3. Bộ
“Bảo vương Tam-muội niệm Phật trực chỉ”, ngài Diệu Hiệp soạn đời Minh, đã
được tuyển vào bộ Tịnh độ thập yếu.
4.
“Quy nguyên trực chỉ tập”, gồm hai quyển do thiền sư Tông Bổn biên tập.
Tông Bổn hiệu là Nhất Nguyên Tử. Bộ sách là một bản văn hiến chứa đựng rất
nhiều trọng yếu và nó cũng là yếu điển của Tịnh độ tông.
5. Bộ
“Tịnh từ yếu ngữ”, do thiền sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền ở chùa Cổ Sơn dựa vào
Tịnh hạnh niệm Phật và Từ hạnh giới sát mà soạn ra, văn gồm hai quyển.
Ngài là ngươi thừa truyền tư tưởng thiền sư Vô Minh Thọ Xương, là một
thiền trượng của tông Tào Động ở cuối đời Minh.
6. Bộ
“Tịnh độ chỉ quyết”, do Hòa thượng Đạo Chiêm kế thừa ngài Vĩnh Giác mà
soạn ra vào đầu đời Thanh
7. Bộ
“Giác hổ tập”, căn cứ vào nghĩa của câu “Du như hổ đới giác” trong bài Tứ
liệu giản của thiền sư Vĩnh Minh, bộ sách này là yếu ngữ Tịnh độ của thiền
sư Lục Các Tông.
8. Bộ
“Tịnh độ cám châu”, do Hư Chu Tế Năng biên tập vào năm đầu niên hiệu Quang
Tự, là bộ sách cần dùng cho việc nghiên cứu, được soạn theo cấp tiến của
pháp số, như từ một tâm tăng lần đến bốn mươi tám nguyện, giống như cách
trình bày của Tăng nhất A-hàm.
Ở đây
lại có điều cần được nói đến là có rất nhiều vị cư sĩ như: Đời Tống có Văn
Lộ Công hiệu là Ngạn Bác đã ngộ Thiền tu Tịnh, chuyên niệm Phật A-di-đà,
từng phát nguyện rằng: “Con nguyện thường tinh tấn siêng năng tu tất cả
thiện pháp, con nguyện sẽ liễu ngộ được tâm tông để rộng độ khắp loài hữu
tình”. Tại kinh đô ông cùng với Tịnh Nghiêm v.v… vận động khoảng mười vạn
người thành lập ra hội niệm Phật rất thịnh hành. Có vị cư sĩ tên Như Như
làm thơ tặng ông như sau:
Tri công đảm khí đại như thiên,
Nguyện kết Tây phương thập vạn duyên.
Bất vị nhất sanh tác hoạt kế,
Đại gia tề thượng độ nhân thuyền.
Tạm
dịch :
Lộ Công chí khí tợ trời cao,
Kết vạn duyên về cõi Tây phương.
Chẳng vì cuộc sống lo toan tính,
Nguyện độ nhân gian thoát biển mê.
Như
thế, ta thấy được ông là con người rất năng động trong công tác Phật sự.
Lại có
quan Cấp sự Phùng Tập hiệu là Tế Xuyên, cũng là người ngộ Thiền tu Tịnh.
Những sáng tác của ông bắt nguồn từ cảm hứng câu “Tây phương an dưỡng hề
hồ bất quy” trong bài Quy khứ lai từ8.
Đời
Tống lại có quan Đề hình Dương Kiệt hiệu Vô Vi Tử tự Thứ Công, ông đắc ngộ
từ thiền sư Y Hoài, cuối đời tu Tịnh độ, đến lúc lâm chung an nhiên ngồi
tịch, ông có bài kệ :
Sanh vô khả luyến,
Tử vô khả xả.
Thái hư không trung,
Chi hồ giả dã.
(Sống không tham luyến gì,
Chết lấy chi vứt bỏ,
Như không trung thái hư,
Giải thoát là như vậy)
Khi có
người hỏi: Ngài đi về đâu?
Ông
đáp: Về Tây phương.
Hỏi:
Nếu sanh về Tây phương coi chừng bị nhầm vậy!
Đáp:
Nhầm thì cứ nhầm, hễ đến Tây phương Cực lạc là được.
Đương
thời cũng có cư sĩ Vương Cổ soạn ra bộ “Tịnh độ chỉ quy quyết nghi tập”.
Cư sĩ Thứ Công ghi lời tựa cho sách ấy, còn Vương Cổ thì ghi lời tựa bộ
“Tịnh độ bảo châu tập” của thiền sư Viên Chứng. Hai bổn sách này nay đã
thất truyền.
Đời
Tống còn có tiến sĩ Vương Hư Trung hiệu Long Thơ, là một cư sĩ lỗi lạc có
ảnh hưởng rất lớn đối với Tịnh độ tông. Ông soạn bộ “Long thơ Tịnh độ văn”
được lưu truyền rộng rãi. Ông chuyên cần tu tập và hóa độ mọi người không
biết mỏi mệt. Ông là vị cư sĩ đầu tiên soạn thảo các tài liệu nhằm mục
đích hoằng dương Tịnh độ cho đời sau. Tóm lại ông là một vị đại gia cư sĩ
uyên thâm Phật học, không cần phải nói nhiều cũng biết được.
Vào
cuối đời Minh, có Viên Hoằng Đạo cũng là người thông Thiền tu Tịnh, là một
vị cư sĩ nổi danh đương thời. Ông có thảy ba anh em được tương truyền là
hậu thân tái thế của ba cha con Tô Đông Pha đời Tống. Cả ba anh em ông đều
giỏi văn chương, đương thời đã lập ra một dòng văn phái riêng biệt. Những
năm cuối đời chuyên tu Tịnh độ và cả ba đều vãng sanh Cực lạc. Trung lang
(tự của Viên Hoằng Đạo) có soạn bộ “Tịnh độ hiệp luận”, nội dung thể hiện
sự thông hiểu Thiền tông dung nhiếp Giáo, Luật, quán triệt được tư tưởng
của ngài Vĩnh Minh Diên Thọ, bộ sách đã được tuyển vào “Tịnh độ thập yếu”.
Tuy giáo nghĩa thấy giống tư tưởng tông Hoa nghiêm nhưng thật vốn là sự
ngộ Thiền vậy. Trong đó nói rõ Tây phương Tịnh độ là cảnh giới tối thắng
bất khả tư nghì, dung nhiếp được tất cả chúng sanh trong mười phương thế
giới. Trước kia cũng có pháp sư Hoài Cảm đã từng phát khởi ra nghĩa này.
Lại có
bộ “Tịnh độ toàn thư” do Du Hành Mẫn đời Thanh biên soạn, vốn là một bộ
Long thơ Tịnh độ văn nghĩa rất thâm sâu. Lại có bộ “Kính trung kính hựu
kính” do Tô Vũ Triết Nhân Trương Sư Thành biên soạn giữa đời Đạo Quang,
Hàm Phong nhà Thanh. Nội dung bổn văn cũng thuộc loại Long thơ Tịnh độ, vì
thế nên đều liệt ra đây.
2. Từ
Thiên thai giáo chuyển tu Tịnh độ.
Muốn
nói đến khuynh hướng tu tập từ Thiên thai giáo chuyển sang Tịnh độ thì
phải nghiên cứu đến bộ “Tịnh độ thập nghi luận” và bộ “Quản kinh sớ”, do
đại sư Cao Tổ Trí Giả trước tác. Bởi vì không những bổn sách này là căn cứ
tối ư quan trọng, mà còn chỉ cho thấy được tinh thần tu tập của khuynh
hướng từ Thiên Thai chuyển sang Tịnh độ, xuất hiện sau khuynh hướng Thiền
chuyển tu Tịnh độ.
Nhân
vật đại biểu ở đây đứng đầu là đại sư Chiêu Khánh Tỉnh Thường, được suy
tôn là Tổthứ 7 của Liên tông. Do bởi ban đầu ngài theo học bên Thiên thai
giáo quán, sau đó mới chuyển sang chuyên tu Tịnh độ. Niên hiệu Thuần hóa
đời Tống, ngài ở chùa Chiêu Khánh tại Hàng Châu, vì rất thích hội Liên xã
ở Lô Sơn của Huệ Viễn ngày xưa, nên ngài sáng lập ra “Tịnh hạnh xã”. Đương
thời, trên ngàn Tỳ-kheo gia nhập vào Tịnh hạnh xã của ngài, hàng Công
khanh, trí thức, đại phu được 120 người; họ đều là những người từng vang
bóng một thời. Đứng đầu có Vương Văn Chánh Công Đán, ông đã trải qua một
thời làm Tể tướng. Lại có Hàn lâm học sĩ Tô Dị Giản, là một vị văn chương
xuất chúng, ông có ghi lời tựa giới thiệu Tịnh hạnh xã, trong đó có câu:
“Thật xứng đáng cho chúng ta trải tóc nâng đỡ gót chân ngài, dù có tan
xương nát thịt cũng cầu thỉnh nghe được pháp âm của ngài”. Có thể thấy
những người đương thời đến với đại sư Tỉnh Thường, đã có niềm tin mãnh
liệt vào ngài biết chừng nào. Đại sư đã dẫn đầu hội chúng niệm Phật tinh
cần không hề có chút giải đãi, liên tục trong suốt mấy mươi năm mà xem như
một ngày. Đến tuổi 62, vào một ngày bình thường, ngài đang ngồi niệm Phật
bỗng gọi lớn: “Phật đã đến”, rồi lặng yên an tọa mà thác hóa. Tháp của
ngài được kiến lập nằm bên tháp của thiền sư Điểu Khoa, ngài được suy
phong là Viên Tịch Pháp Sư.
Kế đến
là nói ngài Tứ Minh Tri Lễ, thường gọi là đại sư Tứ Minh Tôn Giả Pháp Trí.
Ngài sống vào đời Bắc Tống, là người trấn hưng Thiên thai giáo quán, ngài
cũng hoằng dương pháp môn Tịnh độ. Đối với Tịnh độ, ngài căn cứ vào bổn
“Quán kinh sớ” của đại Sư Trí Giả mà soạn ra bộ “Diệu tông sao”, là bộ yếu
điển của Tịnh độ tông. Hiện tại ở đời đang lưu hành cuốn “Đại bi sám pháp”
cũng do ngài soạn, nhằm dạy bảo đại chúng tu tập. Ngài đã từng niệm Phật
định kỳ mạng chung vãng sanh Tây phương. Đương thời có nhà đại văn học
Dương Ức thư thỉnh ngài lưu lại ở đời và đã hỏi đáp những yếu nghĩa Tịnh
độ. Sau đó khoảng 10 năm có quan Đãi chế Trần Quán, hiệu là Oánh Trung tự
xưng là Tư thục đệ tử9, nhận ngài làm thầy. Ông đã thâm nhập giáo nghĩa
Thiên Thai và soạn ra cuốn “Tam thiên hữu môn tụng”, là bộ sách có nội
dung tán dương pháp môn Tịnh độ. Vào cuối cuộc đời, ngài về trú trì chùa
Diên Khánh. Trong “Tịnh độ viện ký” có ghi rằng: “Tỳ-kheo trụ trì chùa
Diên Khánh ở Minh Châu, người đời tôn xưng ngài là Pháp sư (Giảng tịch
). Ngài lấy Thiên thai giáo quán làm tông, tự là Pháp Trí đại sư
hoặc Tri Lễ đại sư, có đạo hạnh và học vấn cao vời. Ngài là chỗ hướng tâm
của tín đồ, người đời sau kế thừa ngài đều là bậc xuất chúng dung thông vô
ngại. Song đến sau này đối với các pháp Không quán, Giả quán và Trung quán
có sự phân biệt không thông, khó tránh khỏi sự tranh cãi lẫn nhau giữa đâu
là quyền đâu là thật?”. Đó cũng là nhịp cầu giữa Thiên Thai và Tịnh độ.
Sau
ngài Tứ Minh Tri Lễ, Thiên thai giáo quán phân ra làm ba phái: Nam Bình,
Quảng Trí, Thần Chiếu. Đối với Tịnh độ, hệ phái Thần Chiếu đặc biệt có
ngài Tông Hiểu là bậc nổi danh.
Người
cùng thời cũng là đồng sư với Pháp Trí có đại sư Từ Vân Sám Chủ Thức Tôn10
ở chùa Thiên Trúc, đất Hàng Châu. Ngài cùng học Thiên thai giáo quán với
đại sư Pháp Trí. Ngài có trước tác sách Tịnh độ, Kim quang minh, Quán Âm
đẳng chư sám nghi, vì thế mà ngài có tên Từ Vân Sám Chủ. Ngài tinh cần
niệm Phật phát nguyện vãng sanh, kẻ Tăng người tục được ngài hóa độ đông
vô lượng. Có thể nói ngài là người có năng lực và ảnh hưởng lớn trong việc
đem tinh thần Thiên Thai, Tịnh độ đi vào lòng dân chúng. Đại sự có soạn bộ
“Vãng sanh Tịnh độ quyết nghi hạnh nguyện nhị môn” cùng “Tịnh độ sám
pháp”, cả hai đều được tuyển vào bộ “Tịnh độ thập yếu”. Ngài còn soạn bộ
“Thần triêu thập niệm pháp”, nổ lực đề xướng pháp môn thập niệm.
Tiếp
theo là nói luật sư Linh Chi Nguyên Chiếu, sống vào đời Tống, là vị Tổ sư
trùng hưng Luật tông. Nhưng Luật tông theo quan điểm của ngài vẫn khác với
quan điểm của luật sư Đạo Tuyên ở Nam Sơn chút ít. Ngài là người thông
nhập giáo nghĩa Thiên Thai nhưng lại lấy pháp môn Tịnh độ làm quy hướng.
Cho nên từ đây Luật tông cùng với Thiên Thai, Tịnh độ tương thông dung hợp
nhau, vì vậy Ngài được mọi người coi là nhân vật cự phách của tư tưởng
Thiên Thai, Tịnh độ. Đến đời Dân quốc về sau, pháp âm của ngài được pháp
sư Hoằng Nhất tiếp nối lưu truyền.
Luật
sư Nguyên Chiếu ban đầu rất tâm đắc câu nói của ngài Huệ Bố: “Tây phương
Tịnh độ tuy là nơi thanh tịnh, nhưng không phải là sở nguyện của tôi về.
Nếu ở trong hoa sen hưởng lạc 12 kiếp, sao bằng đi vào chốn cực khổ tam đồ
để cứu độ chúng sanh”. Sau ngài gặp cơn trọng bệnh, đọc qua cuốn Thập nghi
luận của Thiên Thai Trí Giả, từ đó mới chuyển sang sùng tín pháp tu Tịnh
độ. Lại cũng từ khi xem qua quan điểm về chuyên tu, tạp tu của ngài Thiện
Đạo mà ngài vững lòng tin chuyên trì danh hiệu Phật. Ngài thường sám hối
tội lỗi ngày trước đã từng chê bai Tịnh độ và phát nguyện hoằng dương Tịnh
độ phổ hóa quần sanh.
Trên
đây là nói đời Tống, đến đời Minh niên hiệu Vạn Lịch, có pháp sư U Khuê
Truyền Đăng là người trấn hưng Thiên thai giáo quán, nổi bậc nhất đời
Minh. Ngài có những sáng tác rất phong phú và ảnh hưởng lớn trong việc
hoằng dương Tịnh độ. Có thể thấy yếu chỉ của ngài trong bộ “Sanh vô sanh
luận”, được ngài Ngẫu Ích tuyển vào trong Tịnh độ thập yếu, nhằm phụng trì
truyền thừa tông Thiên Thai mà luận lập ra 10 môn: 1. Chơn pháp giới; 2.
Thân độ duyên khởi; 3. Tâm độ tương ấn; 4. Sanh Phật bất nhị; 5. Pháp giới
vi niệm; 6. Cảnh quán tương thông; 7. Tam quán pháp nhĩ; 8. Cảm ứng nhậm
vận; 9. Bỉ thử hoằng nhất; 10. Hiện vị hổ tại. Ngài đem cánh quán viên
dung của Thiên Thai dung nhiếp vào một câu A-di-đà Phật. Ngài có soạn bộ
“Tịnh độ pháp ngữ” thật quí giá cho hành giả Tịnh độ. Có thể gọi pháp sư
là ngọn đuốc sáng của tư tưởng Thiên thai giáo quán tu Tịnh độ.
Đại sư
Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc cùng với Liên Trì, Tử Bách, Hám Sơn là 4 vị
đại sư lừng danh sáng chói cuối đời Minh. Lý giải Phật học của ngài rất
uyên thâm sâu sắc, học vấn phong phú bác học, nhưng chỉ chuyên hạnh nguyện
niệm Phật vãng sanh. Lúc đầu ngài không học chuyên nhất tông nào, sau này
là người đích truyền của tông Thiên Thai, đồng thời cũng được suy tôn là
Tổ thứ 9 của Tịnh độ tông. Với việc hoằng dương Tịnh độ, ngài có soạn bộ
“Di-đà yếu giải” là một tuyệt tác. Ngài đã tuyển kinh “Di-đà yếu giải” này
và “Tịnh độ hiệp luận” của cư sĩ Viên Trung Lang vào trong bộ “Tịnh độ
thập yếu”. Lại được đệ tử của ngài là pháp sư Thành Thời Kiên Mật, phụ
thêm lời bình rất tinh tế và khắc bản lưu hành ở đời, là bảo điển (bộ sách
quý) tinh túy của Tịnh độ tông.
Tiếp
đến có ngài Triệt Lưu Hành Sách pháp sư ở chùa Phổ Nhân, Cô Sơn. Ngài sống
vào giữa thời Thuận Trị và Khang Hy nhà Thanh. Ban đầu ngài cũng từng học
qua Thiên thai Giáo quán, sau đó chuyên tu Tịnh độ, tinh cần miên mật
không kể ốm đau, làm chỗ tín tâm cho đại chúng. Ngài có lưu lại ở đời bộ
“Tịnh độ cảnh ngữ” và “Thất kỳ quy thức”, mỗi bộ một quyển, tuy văn phong
không bóng bảy nhưng đó là những lời giảng tinh túy để cảnh tỉnh mọi
người. Theo ngài, trong hai pháp môn Thiền hoặc Tịnh chỉ chuyên nhất mà
hành trì, không cần phải kiêm tu cả hai. Từ đời Thanh, Phật giáo Trung
Quốc lấy bảy pháp niệm Phật trong “Thất kỳ quy thức” của ngài để làm nền
tảng tu tập. Đến thời cận đại gần đây, ngài Ấn Quang pháp sư đã suy tôn
ngài là Tổ thứ 10 của Tịnh độ tông, ý tưởng này đáng trọng vọng.
Ở Hàng
Châu, chùa Phạm Thiên có pháp sư Tỉnh Am Tư Đề, sống giữa đời Ung Chính và
Càn