Pháp
Tạng
Phật Giáo Việt Nam
Tập
85
Luận sử tông Tịnh độ
Việt dịch:
Quảng Tấn - Quảng Ân - Quảng Bình
Quảng Hiếu
- Huệ Hải - Quảng Xả
Quảng Mẫn
- Tâm Đức - Huệ Chí - Tâm Đại
Hạnh Minh
- Nhuận Độ - Nguyên Thành
Tâm Hiếu -
Như Giáo - Nguyên An
Chứng Nghĩa:
Thích Đổng Minh
Phụ chú:Thích
Tâm Nhãn
Chùa Long Sơn, Nha Trang
Phật Lịch: 2548 - 2004
--- o0o ---
05
LỊCH
SỬ TỊNH ĐỘ TÔNG TRUNG QUỐC
Nguyên tác:
Lý Hiếu Bổn
Việt dịch:
Thích
Quảng Hiếu
I. LỜI NÓI ĐẦU
Có một niềm tin tuyệt đối với chư Phật và tin sự
tồn tại cảnh giới Tịnh độ của các Ngài, hy vọng sinh tiền được Phật nhiếp
hộ, sau khi chết sanh về cõi Tịnh độ, sự tín ngưỡng này là tư tưởng Phật
giáo Đại thừa, gọi là Tịnh độ giáo.
Chúng ta
thường xem trong các kinh luận Đại thừa, tuy nói rõ mười phương vô số chư
Phật nhưng nói Tịnh độ của các Ngài và sự giáo hóa chúng sanh ở quốc độ đó
thì chỉ nói về Phật A-di-đà, Phật A-súc, Phật Dược Sư v.v.. mà thôi. Nhưng
đa số kinh điển nói về đức Phật A-di-đà rất nhiều và cũng nói rõ lời phát
nguyện tu hành, sự tạo dựng “Thế giới Tây phương Cực lạc” trang nghiêm của
Ngài khi Ngài tại vị. Cho nên Tịnh độ của Phật Di-đà trở thành đại biểu
cho các Tịnh độ của các đức Phật.
Ở Ấn Độ, tín ngưỡng này rất thịnh hành mà
các kinh điển phần nhiều cũng nói rõ ý nguyện sanh về cõi Tịnh độ. Sau đó,
tín ngưỡng Tịnh độ truyền vào Trung Quốc, người Tăng kẻ tục hướng về lên
đến cả hàng vạn người. Do đó, trở thành một tín ngưỡng thực tiễn.
Tịnh độ giáo truyền vào Trung Quốc vào năm thứ hai niên hiệu Quang Hòa,
đời Hậu Hán Linh Đế, (179 TL), ngài Chi-lâu-ca-sấm dịch ra kinh “Bát-chu
tam-muội”
truyền đến đầu tiên. Sau đó đời Tây Tấn có kinh “Đại A-di-đà”,
kinh “Bình đẳng giác”
được phiên dịch truyền vào; tiếp đến đời Hậu Tần có ngài Cưu-ma-la-thập,
đến đời Lưu Tống nối tiếp sự nghiệp trên có ngài Bảo Vân cùng ngài
Cương-lương-da-xá v.v… Đồng thời người cầu sanh về Tây phương điển hình
như ông Khuyết Công Tắc, sống vào đời Tây Tấn nhưng người nổi tiếng nhất
đó là Lô Sơn Huệ Viễn vào đời Đông Tấn. Ngài ở phía nam Lô Sơn lập ra hội
“Bạch liên” cùng với hội chúng tin tấn tu “Niệm Phật tam-muội”, nương vào
kinh Bát-chu tam-muội,
mong muốn khi vãng sanh được gặp Phật. Vì lẽ đó, tự nhiên trở thành dòng
chính của trào lưu Tịnh độ ở Trung Quốc.
Từ sau đời Nam Bắc triều Lưu Tống, tín ngưỡng Tịnh độ dần dần truyền
rộng khắp nơi, có chỗ giảng dạy đọc tụng kinh
Vô lượng thọ, có vùng tạo dựng
tượng Phật Di-đà. Triều Bắc Ngụy, đời Tuyên Võ Đế có ngài Bồ-đề-lưu-chi
dịch kinh “Vô
lượng thọ Ưu-bà-đề-xá” của ngài Thế Thân. Sau đó, ngài Đàm
Loan chú giải, bao gồm trong “Thập trụ Tỳ-bà-sa luận”, nói về hai con đường khó
và dễ (nan hành, dị hành), chủ trương về tha lực bổn nguyện, để xiển minh
lập giáo bổn nghĩa Tịnh độ trước đây; lấy phía bắc Tinh Châu làm trung tâm
và đa số mọi người đều nguyện sanh về Tịnh độ. Sau nhà Chu đến đời nhà
Tùy, đối với kinh văn, sự nghiên cứu kinh
Vô lượng thọ
có các ngài
Tịnh Ảnh Huệ Viễn, Gia Tường Cát Tạng … Luận về thân Phật trong các cõi có
ngài Thiên Thai, Trí Khải, Ca Tài ... Đương thời, phái Địa luận và các học
phái khác, phần nhiều có khuynh hướng tín ngưỡng Phật A-di-đà; chỉ có các
tu sĩ ở học phái Nhiếp luận lấy sự vãng sanh của hàng phàm phu trong
Quán kinh
(Quán vô lượng thọ kinh) v.v... làm “Biệt thời ý thuyết” để thứ tự vãng
sanh là không thể được. Nhân việc này đã làm phương hại đến sự hoằng dương
rộng rãi tín ngưỡng Tịnh độ không phải ít.
Đến
đời nhà Đường, ngài Đạo Xước và Thiện Đạo v.v... kế thừa giáo chỉ của ngài
Đàm Loan, họ tận lực hoằng truyền bổn nguyện của đức Phật; lại chủ trương
tư tưởng thời mạt pháp mà nói lên những điều cốt yếu phù hợp thời giáo.
Đặc biệt, ngài Thiện Đạo dùng ý nghĩ chí hướng của mình soạn
Quán kinh sơù1,
để luận phá nghĩa lý của các học phái khác và lấy giáo nghĩa Tịnh độ làm
cơ sở độc lập. Lúc này ở Trường An và các nơi khác, các tu sĩ đều nghiên
cứu kinh
A-di-đà,
kinh
Vô lượng thọ
v.v..., kinh điển Tịnh độ đạt đến đỉnh cao của trào lưu tư tưởng.
Đầu
đời nhà Đường, ngài Huệ Nhật từ Ấn Độ trở về, thấy đồ chúng của Thiền tông
cho Tịnh độ chỉ là lời nói hư vọng dẫn đường người ngu. Phản bác đối lại
điều đó thì càng tăng thêm nỗi đau, nhưng ngài vẫn chủ xướng cốt yếu niệm
Phật vãng sanh. Các ngài Thừa Viễn, Pháp Chiếu, Phi Tích v.v… cũng theo
thuyết này, lấy niệm Phật Tam-muội là phương tiện thâm diệu của Thiền môn,
hết lời bài xích lại những người học thiền bụng rỗng tâm cao. Lúc này, đệ
tử nhà Thiền có thốt lên tiếng nói chung, như ngài Tuyên Thập đệ tử của
Ngũ Tổ, xướng ra một phái Thiền “Nam sơn niệm phật môn”. Nam Dương Huệ
Trung đệ tử ngài Lục Tổ cũng đề xướng Hành, Giải song tu. Đến đời Hậu Chu,
các ngài: Pháp Nhãn Đích Tôn, Vĩnh Minh Diên Thọ lại nói rõ lý “Chơn không
diệu hữu” và cổ súy Thiền, Tịnh song tu. Từ đó hưng khởi một dòng Thiền
tông. Đến đời Tống, Thiền Tịnh song tu được áp dụng rộng rãi cho cả Tăng
lẫn tục, đều do sự ảnh hưởng dòng Thiền trên để lại. Lúc đó, trong Thiên
Thai tông cũng có nhiều người sùng tín và hiểu nghĩa Tịnh độ. Đến đời
Tống, các đệ tử của Thiên Thai cùng nối tiếp nhau soạn thuật kinh Quán vô
lượng thọ, kinh A-di-đà và các tác phẩm khác, đều xiển minh giáo chỉ Tịnh
độ. Trong đó, có “Quán
kinh sớ diệu tông sao”
của ngài Tứ Minh Tri Lễ rất nổi tiếng, ngài nghĩ lời Phật nói là một sự
dung hợp cả Thiên Thai và Tịnh độ. Xưa nay, đệ tử trong môn phái Thiên
Thai chú trọng đến điều này. Lại có ngài Nguyên Chiếu người Dư Hàng, kết
hợp luật của phái Nam Sơn để hoằng dương Tịnh độ, sớ giải Quán kinh v.v..
, tự xây dựng một tông phong riêng. Lúc này ở phương Nam, hội niệm Phật
được thịnh hành, kết hội “Bạch liên” ở Lô Sơn, mô phỏng ngài Thiện Đạo,
theo gót ngài Pháp Chiếu. Thời kỳ đầu Nam Tống, ngài Từ Chiếu Tử Nguyên
xướng tông Bạch liên, ngài Lô Sơn phổ độ kế tục trước tác “Liên
tông bảo giám”
để nêu rõ tông chỉ ấy. Song, trong tông đồ có những tư tưởng lệch lạc về
mê tín, liên quan đến sự băng hoại và hỗn loạn của phong tục nên đã nhiều
lần đặt ra các điều ngăn cấm. Về sau, Bạch liên giáo phiến động gây loạn
đến các tầng lớp thiếu hiểu biết, qua một thời gian dài gây tác hại đến
trị an các địa phương, do đó, Bạch liên giáo được mệnh danh là tông tà.
Từ thời nhà Nguyên trở về sau, tông phong Thiền Tịnh song tu
được phát triển và lưu hành rộng rãi. Bấy giờ có ngài Trung Phong Tông
Bổn, Thiên Như Duy Tắc v.v… đều hướng tâm về Tây phương. Điều nữa, môn đồ
tông Thiên Thai đều tán dương pháp môn Tịnh độ. Đến đời Minh, các ngài Sở
Sơn Thiệu Kỳ, Không Cốc Cảnh Long, Nhất Nguyên Tông Bổn, Vân Thê Châu
Hoành, Hám Sơn Đức Thanh, Cổ Sơn Nguyên Hiển ... nối tiếp hoằng truyền
thuyết Thiền Tịnh song tu. Trong đó, ngài Châu Hoành nổi tiếng nhất. Trong
những năm niên hiệu Long Khánh, Ngài ở núi Vân Thê, Hàng Châu, chuyên ròng
tu niệm Phật tam-muội, chú giải kinh
A-di-đà;
ngoài ra còn trước tác các sách cổ súy Thiền Tịnh song tu. Sau ngài đã cảm
hóa mọi người bao trùm cả một vùng rộng lớn.
Tông Thiên Thai cũng có các ngài Cừ Am Đạo Hữu, U Khuê Truyền
Đăng, Linh Phong Trí Húc ... mỗi vị đều viết sách làm sáng tỏ tông giáo
Tịnh độ. Đặc biệt ngài Trí Húc đề xướng luận “Tam
học nhất nguyên” dùng ba tông: Thiền, Giáo, Luật; hình thành một thế chân
vạc, hỗ trợ lẫn nhau, nếu bỏ một thì không thể được. Vả lại, chủ trương
tam học này quay về pháp môn Tịnh độ. Lúc này có các cư sĩ Trang Quảng
Hoàn, Viễn Hoành Đạo ... đều soạn sách tuyên dương Tịnh độ. Đến đời nhà
Thanh, tín ngưỡng Tịnh độ phần nhiều do các cư sĩ cổ súy như Bành Thiệu
Thăng, Hy Thích Phụ Tử, họ biên chép truyện “Vãng
sanh”
và soạn sách nhằm ca ngợi Tây phương, hết sức truyền bá rộng rãi Tịnh
giáo. Trong khoảng thời gian từ vua Khang Hy đến Càn Long có các ngài: Đạo
Bái Vi Lâm, Vân Đảnh Năng Tế, Thật Hiền Tư Tề ... tinh tấn tu Tịnh độ. Đặc
biệt ngài Thật Hiền Tư Tề, kế thừa tông phong ngài Châu Hoành để lại. Ở
Hàng Châu, ngài lập hội niệm Phật, giáo hóa gần xa, được mọi người kính
trọng tôn xưng là Vĩnh Minh tái thế.
Tóm lại, Từ đời Tống về sau, Tịnh độ giáo thịnh hành phía Nam
sông Chiết (tỉnh Chiết Giang) và sông Mân (tỉnh Phúc Kiến), vì triều đình
nhà Thanh kiến đô tại Bắc Kinh nên sự hoằng truyền sớm có cơ hồ thoát khỏi
hạn hẹp ở phương Nam. Đời Minh về sau, Phật giáo hầu như tán mất sinh khí
không còn khả quan khai sáng trở lại. Từ đó, việc soạn sách Tịnh độ quá
lắm chỉ sao chép hay nói lên pháp ngữ của người xưa mà thôi. Từ năm Dân
Quốc thứ nhất đến nay, Phật giáo dần dần có chiều hướng phục hưng. Như
pháp sư Ấn Quang chủ trương pháp môn Tịnh độ, với hoài bão xuất thế, mục
đích hướng đến quả Phật, ra sức cứu tế trong xã hội; công đức hóa độ rộng
như biển cả. Do đó, người Tăng kẻ tục các nơi lập hội niệm Phật ngày càng
đông thêm. Chẳng may, cuộc chiến Trung-Nhật phát khởi, mở rộng ra thành đệ
nhị thế chiến. Sau đó, Đại Lục càng lún sâu vào vòng xoáy bạo lực và nằm
trong bàn tay của loài ma quái. Phật giáo bị phá hủy cũng do chính từ
trong thâm ý của con người gây ra cả!
II. TÍN
NGƯỠNG TỊNH ĐỘ VÀO THỜI KỲ ĐẦU
1. Sự
phiên dịch truyền bá kinh điển Tịnh độ.
Sự nghiệp phiên dịch kinh điển
ở Trung Quốc bắt đầu vào đời Hậu Hán, triều đại Hoàn Đế, ngài An Thế Cao
là người đầu tiên dịch Tam tạng kinh. Cuối đời Hoàn Đế, ngài Trúc Phật Sóc
và Chi-lâu-ca-sấm đến Lạc Dương dịch kinh điển Đại thừa như Bát-nhã v.v...
Tháng mười năm thứ hai niên hiệu Quang Hòa, Linh Đế (179 TL), ngài
Chi-lâu-ca-sấm và Trúc Phật Sóc dịch kinh “Bát-chu
tam-muội”.
Đây là lần đầu tiên Trung Quốc truyền dịch kinh điển
A-di-đà.
Kinh này tuy chưa nói rõ sự trang nghiêm của cõi Tinh độ nhưng chỉ ra rằng
nương vào pháp môn niệm Phật sẽ được thấy Phật A-di-đà ở Tây phương; tức
nói rõ việc đạt đến tam-muội làø thấy pháp Phật.
Vào đời Tam Quốc, ở nước Ngô, trong những năm từ đầu niên hiệu Hoàng Vũ
đến Kiến Hưng, ngài Chi Khiêm dịch kinh “Đại
A-di-đà”,
2 quyển. Vấn đề trọng yếu trong kinh này nói rõ ràng chi tiết về tâm phát
nguyện và cảnh trang nghiêm Cực lạc Tịnh độ của Phật A-di-đà khi tại nhân
vị2.
Đời Tây Tấn, ngài Trúc Pháp Hộ dịch kinh “Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác”,
2 quyển. Kinh này thuật kể lại gần giống với kinh “Đại A-di-đaø”
mà ngài Chi Khiêm dịch, nhưng 24 lời nguyện trong văn và nội dung thì khác
nhau, có thể do bản văn chữ Phạn không đồng.
Vào khoảng thời gian từ đời Tam Quốc đến đời nhà Tấn, Việc
dịch ghi chép nói về kinh điển Bổn Sanh ... của Phật A-di-đà cũng không
ít. Ở nước Ngô, ngài Chi Khiêm dịch kinh
Huệ ấn
tam-muội,
Vô
lượng môn vi mật trì.
Ở Tây Tấn, ngài Trúc Pháp Hộ dịch
Đức Quang thái tử kinh,
Quyết
định tổng trì kinh,
Hiền kiếp kinh,
Chánh pháp
hoa kinh,
Tế
chư phương đẳng học kinh,
Sanh kinh,
Quán Thế Âm kinh,
Đại Thế Chí
thọ quyết kinh
v.v… Lại có kệ
Phật A-di-đà, sau đó các bài kệ này được
ghi chép thành một quyển. Phải chăng được phiên dịch từ bản chữ Phạn? Hay
là được soạn thuật ở Trung Quốc? Điều này không được rõ lắm, nhưng đó là
những sách có trước đời Lưu Tống thì không thể nghi ngờ gì nữa.
Năm thứ 3, niên hiệu Hoằng
Thủy đời Diêu Tần (401 Tl), ngài Cưu-ma-la-thập từ Cô Tạng3 đến Trường An,
dịch kinh
A-di-đà,
luận
Thập trụ Tỳ-bà-sa
v.v… Kinh
A-di-đà
(1 quyển) cùng tên là kinh
Vô lượng thoï,
lược thuyết về sự trang nghiêm Cực lạc Tịnh độ, được mọi người xưa nay đọc
tụng rộng rãi. Về sau đến đời Đường, niên hiệu Vĩnh Huy năm đầu (650 TL),
ngài Huyền Trang dịch lại kinh đó. Gọi là kinh “Xưng tán Tịnh độ Phật nhiếp thọ”,
luận “Thập
trụ Tỳ-bà-sa” (17 quyển). Trong phẩm “Dị hành” có đưa ra hai con
đường khó và dễ, xưng danh hiệu mười đức Phật trong mười phương … cho đến
không thối chuyển là con đường dễ thực hành. Lại đặc trưng 32 hàng kệ tán
thán Tịnh độ Di-đà.
Đời Lưu Tống, niên hiệu Vĩnh Sơ năm thứ hai (421 TL), ngài
Bảo Vân trú chùa Đạo Tràng ở Dương Đô dịch kinh “Tân vô lượng thọ” (2 quyển). So với bản dịch xưa, kinh “Đại
A-di-đà”
và kinh “Bình
đẳng giác” khác nhau rất nhiều. Lời tựa, số lời nguyện cũng tăng lên
gấp đôi, thành 48 lời nguyện. Vả lại, không có đề cập đến vua A-xà-thế và
sự nhập diệt của Phật Di-đà, ký sự về ngài Quan Thế Âm thành đạo v.v…
Trong đó, có nhiều chỗ thêm bớt không ít. Vì vậy, gọi là kinh “Tân
vô lượng thọ”.
Đời Bắc Lương, niên hiệu Huyền Thủy, năm thứ 8
(419 TL), ngài Đàm-vô-sấm dịch kinh “Bi hoa” (10 quyển), ghi chép về vua Vô Tránh Niệm là tiền thân của Phật Di-đà
làm đối tượng trung tâm. Trong “Đại bổn sanh đàm” nói về Phật Di-đà đối với Phật Thích Ca, Tịnh độ đối với Uế
độ thành Phật. Lấy đức Phật Di-đà làm đại biểu thành Phật ở cõi Tịnh độ,
nói rõ Ngài tại nhân vị phát tâm và nêu lên 52 lời nguyệân của Ngài.
Đời Lưu Tống, niên hiệu Nguyên Gia năm đầu (424 TL), ngài
Cương-lương-da-xá dịch kinh “Quán vô lượng thọ” (1 quyển), thuyết minh Phật Di-đà, hai vị Bồ-tát Quan Âm và
Thế Chí, đồng thời trang nghiêm Cực lạc Tịnh độ v.v… Bởi do trừ diệt được
nghiệp chướng mà sanh vào đó, đời sau người ta lấy ba bộ kinh: Quán vô
lượng thọ, Vô lượng thọ và Di-đà cùng gọi là Tịnh độ. Kinh điển Tịnh độ
tiếp tục truyền dịch đến nay gần như đầy đủ.
Sau thời kỳ kinh điển Tịnh độ dịch ra, dần dần có người đọc
tụng cầu nguyệân sanh về Tây phương. Căn cứ vào sách “Pháp
uyển châu lâm”,
chương 32 “Minh
trường ký” đưa ra truyện: Vào đời Tây Tấn, có ông Khuyết Công Tắc và
các môn nhơn của ông là Vệ Sĩ Độ đều được vãng sanh Tây phương Cực lạc.
Đây là những người tín ngưỡng Di-đà từ buổi ban sơ hiện còn lưu giữ sớm
nhất trong Văn hiến. Cuối đời Tây Tấn, có ngài Trúc Tăng Hiển, người
phương Bắc, đi đến Giang Nam bị nhiễm bệnh. Ông liền niệm Phật Di-đà
nguyện sanh về Tây phương, lúc lâm chung được Phật cảm ứng tiếp dẫn. Lại
có ngài Trúc Pháp Khoáng thường tụng hai bộ kinh
Pháp hoa
và
Vô lượng thọ, ở bất cứ chỗ nào có người
đông thì ông thuyết giảng kinh đó. Năm Hưng Ninh (363 TL), ngài đến Vũ
Huyệt4 chữa trị bệnh dịch cho mọi người trong làng. Lúc này, cũng có ngài
Trúc Đạo Lân tạo tượng Phật Vô Lượng Thọ, còn ngài Pháp Khoáng khuyên tín
đồ kiến lập đại điện để kết duyên với đạo.
Đầu thời kỳ Đông Tấn, ngài Chi Đạo, người Trần
Lưu, thuê thợ tạo tượng Phật Di-đà, tự viết văn tán thán Phật. Năm đầu
niên hiệu Nguyên Hưng đời Đông Tấn (402 TL), ngài Huệ Viễn lập ra hội
“Bạch liên”, cùng đại chúng lập thề nguyện trước tôn tượng Phật Di-đà. Nên
biết rằng lúc này ở Lô Sơn đã an trí, phụng thờ tượng Phật. Căn cứ vào
kinh “Bát-chu tam-muội”5,
phẩm “Tứ sự” có nói rằng: “Muốn mau chóng đạt đến Bát-chu
tam-muội, nên làm ra hình tuợng Phật”. Vì vậy, thời kỳ đầu tín ngưỡng Tịnh
độ là tạo lập tượng Di-đà để chóng đạt được Tam-muội. Và muốn người đời
sau lấy tượng Phật Di-đà làm tượng Phật tiêu biểu hướng đến qui y, tôn
kính nhưng tự mỗi người tôn kính khác nhau.
2. Ngài
Huệ Viễn ở Lô Sơn và hội Bạch liên.
Tại Lô Sơn, Giang Tây, ngài Huệ Viễn lập ra hội
Bạch liên cùng đồ chúng của ngài chuyên ròng tu niệm Phật tam-muội. Vì hợp
với căn cơ, cho nên một thời giáo pháp Tịnh độ chan hoà hưng thịnh. Ngài
đã cảm hoá đến cả người đời sau nên được mọi người tôn xưng là tổ “Liên
tông” ở Trung Quốc. Đến nay vẫn được mọi người kính trọng.
Ngài Huệ Viễn
sanh vào đời Đông Tấn, niên hiệu Hàm Hoà, năm thứ 9 (334 TL); người Lâu
Phiền, Nhạn Môn, Sơn Tây. Năm 13 tuổi, ngài du học ở Hứa Lạc, Hà Nam,
nghiên cứu học tập thông suốt sáu kinh, rất giỏi về đạo Lão, Trang. Lên 21
tuổi, ngài vào núi Thái Hành, Hằng Sơn, Sơn Tây, nghe ngài Thích Đạo An
giảng Bát-nhã, hốt nhiên đại ngộ. Rồi cùng em là Huệ Trì xuống tóc xin làm
đệ tử. Sau đó, ngài cùng bạn đồng học hơn 400 người, theo ngài Đạo An sang
Tương Dương. Năm thứ 15 hiệu Kiến Nguyên, đời Phù Tần (379 TL), tướng Phù
Kiên đem quân vây hãm Tương Dương. ngài cùng Đạo An trở lại Trường An. Sau
ngài lại dẫn mười vị đệ tử đến Kinh Châu.
Đến đời Đông Tấn, niên hiệu Thái Nguyên năm thứ 6
(381 TL), ngài mới đến Lô Sơn, trú ở tinh xá Long Tuyền. Sau khi quan Thứ
sử Hoàn Y ở Giang Châu xây dựng Tinh xá Đông Lâm ở Sơn Đông thì Ngài đến
đó an trí một cảnh thiền lâm; đồng thời kiến trúc am thất thờ hình tượng
đức Phật. Ngày đêm, ngài khuyến khích sách tấn đại chúng tu học. Năm thứ
16 niên hiệu Thái Nguyên (391 TL), ngài thỉnh ngài Tăng-già-đề-bà đến Lô
Sơn dịch kinh. Năm sau, ngài bảo đệ tử là Chi Pháp Lãnh … sang Tây Vực cầu
kinh. Danh tiếng Huệ Viễn vang vọng bốn phương cho nên kẻ Tăng người tục
không kỳ hẹn mà đến thọ giáo ngày càng đông. Họ vứt bỏ mọi vinh hoa phú
quý ở đời, để cầu được tắm gội trong dòng nước Phật hoá.
Tháng 7 năm đầu niên hiệu Nguyên Hưng (401 TL), ngài cùng Lưu
Di Dân ... cả thảy 123 người, quỳ trước tượng Phật A-di-đà tại tinh xá
Bát-nhã Đài, lập thề nguyện tu niệm Phật tam-muội, mong muốn được sanh về
Tây phương. Lô Sơn Bạch liên xã, chính là nơi sanh ra hội niệm Phật. Khi
ấy Lưu Di Dân soạn bài văn thề nguyện, đại chúng đều làm thơ ngâm vịnh ca
ngợi Tịnh độ, Huệ Viễn viết lời tựa đầu đề cuốn sách “Niệm
Phật tam-muội thi tập”. Năm sau, Hoàn Huyền ở Giang Đông xưng vương, bắt Sa-môn
lạy các bậc vương giả. Ngài Huệ Viễn soạn luận “Sa-môn bất bái vương giả”.
Sau đó, ngài Cưu-ma-la-thập đến Trường An, viết
sách, tặng vật kết mối giao hảo và chất vấn về nghĩa mười tám khoa thâm
diệu trong Đại thừa. Ngài Cưu-ma-la-thập truyền ngài Phật-đà-bạt-đà-la đến
Lô Sơn dịch kinh “Đạt-ma-đa-la
thiền”
v.v… rồi thọ pháp thiền ở đó.
Huệ Viễn ở Lô Sơn hơn ba mươi năm, chưa từng xuống núi, tiễn
khách không quá suối Hổ Khê. Vào ngày mồng sáu tháng tám, niên hiệu Nghĩa
Hy, năm thứ 12 (416 TL), ngài thị tịch, hưởng thọ 83. Nhục thân của ngài
được mai táng ở núi Tây Lĩnh, tháp xây bằng đá vụn. Ngài Tạ Linh Vận soạn
văn bia ghi lại công lao đóng góp của ngài. Đến đời Đường Tuyên Tông, niên
hiệu Đại Trung năm thứ 2 (848 TL), vua sắc chiếu chỉ phong thụy ngài là
“Biện Giác Đại Sư”. Nam Đường, niên hiệu Thăng Nguyên năm thứ 3 (937 Tl),
phong thụy “Chánh Giác”. Năm thứ 3 niên hiệu Hưng Quốc, đời Tống Thái Bình
(978 TL), phong thuỵ “Viên Ngộ”; Nam Tống, niên hiệu Càn Đạo năm thứ 2
(1166 TL) lại phong thụy “Chánh Giác Viên Ngộ Đại Sư”. Những tác phẩm của
ngài trước tác: “Lô
Sơn tập”
(10 quyển), “Đại
trí độ luận yếu lược” (20 quyển), “Vấn
đại thừa trung thâm nghĩa thập bát khoa” (3quyển) v.v…
Hội niệm Phật của ngài Huệ Viễn là dựa vào pháp niệm Phật
tam-muội, thấy Phật mà cầu vãng sanh. Lúc bấy giờ, kinh
Quán vô
lượng thọ
chưa được truyền dịch cho nên tư tưởng của ngài là lấy kinh
Bát-chu
tam-muội
làm nền tảng. Tam-muội có nghĩa là chuyên về “tư” không khởi “tưởng” thì
khí thông suốt thần sáng tỏ, trí tự phát ra soi chiếu thấu suốt đến cảnh
giới vi diệu u tịch. Song, trong mỗi mỗi tam-muội, hành giả niệm Phật
tam-muội phải hết sức gia công, như vậy mới có sự tiến chuyển lên cao
được. Bởi vì, đức Như Lai đã đến tận cùng sự huyền diệu, tối cực nơi vắng
lặng. Thân và Thể hoà hiệp hay biến đổi tùy vào sự vật. Vì thế, khiến
chúng ta nhập vào tam-muội này. Muội có nghĩa là “biết vọng”, chính từ
cảnh giới sở duyên mà thành tựu để trí sáng tỏ. Đây nói rõ ra rằng nếu một
tâm chuyên niệm ngưng lặng các tưởng thì trí tự phát soi chiếu và thấy
cảnh giới của Phật
Lúc này, phía bắc Trường An, soán đoạt ngôi vị, chiến loạn
không dứt. Còn ở phương nam, mọi người sống trong sự thanh bình. Lạ thay!
Ở Lô Sơn không những vắng bóng chiến tranh mà còn giàu có sung túc, đồng
thời lại xuất hiện một vĩ nhân chấn chỉnh tuyên dương đạo pháp. Cho nên,
bậc ẩn sĩ có đạo đức thì bất kỳ ở đâu mọi người đều tìm đến. Học trò của
ngài lên đến ba ngàn người.
3. Truyền
bá tín ngưỡng Tịnh độ.
Sau khi ngài Huệ Viễn viên tịch, ngài Đạo Bĩnh lên kế thừa chức viện chủ
tinh xá Đông Lâm. Các ngài: Đàm Hằng, Đàm Tiên v.v… cũng đều dừng chân ở
núi này, tuyên dương giáo pháp theo di phong của ngài Huệ Viễn. Đồng thời
các đệ tử hay chúng hội niệm Phật, phần nhiều đi du hoá khắp các nơi. Từ
đó, tín ngưỡng Tịnh độ được truyền bá rộng rãi. Ở phương Nam, các ngài:
Đàm Thuận, Đàm Ung, Tăng Triệt v.v… cùng tới Giang Lăng thuộc tỉnh Hồ Bắc,
truyền đạo. Huệ Viễn, Đạo Tổ Pháp Tôn dừng chân ở chùa Hạnh, Giang Lăng6,
thường cầu nguyện về An dưỡng, mà chiêm bái lễ lạy đức Phật Di-đà. Cư sĩ
Tông Bính cũng dựng nhà sống nhàn cư ở Tam Hồ, Giang Lăng. Năm thứ 3 niên
hiệu Long An (399 TL), Huệ Trì em Huệ Viễn từ biệt anh vào đất Thục đến
Thành Đô trú tại tinh xá Long Uyên hoằng dương Phật pháp. Đạo Uông ở chùa
Kỳ Hoàn tại Thành Đô trấn hưng Phật giáo. Vào năm đầu niên hiệu Hiếu Kiến
(454 TL), ngài Đạo Ôn được nhà vua ban chiếu chỉ trú trì chùa Trung Hưng,
Kiến Khang; lại ở chùa Đạo Tràng, Dương Đô7 dịch kinh Tân vô lượng thọ8.
Hội Liên xã kết chúng truyền thừa, ngài Lôi Thứ Tông v.v… cũng kế tục đồ
chúng an cư kiến nghiệp và một số du hóa đến Chiết Giang rất nhiều. Huệ
Kiềm đến chùa Gia Tường huyện Thiệu Hưng (tỉnh Chiết Giang). Đạo Kính vào
núi Nhược Tà, Thiệu Hưng trấn hưng pháp hóa. Ngài Đàm Dực đến Hàng Châu,
núi Tần Vọng tạo lập tinh xá.
Ngoài ra, tuy chẳng phải ở
trong môn hạ hay hội chúng của ngài Huệ Viễn lập ra nhưng cũng có rất
nhiều người cầu sanh về Tây phương. Ngài Tăng Thuyên vào huyện Ngô, tại
núi Hổ Kheo tạo dựng kim tượng, tìm đến chùa Phương Hiển, Tiền Đường, cầu
nguyện sanh về Tịnh độ, chép kinh về Phật A-di-đà cả ngàn bộ. Đàm Hoằng
tuổi về chiều đến chùa Tiên Sơn ở Giao Chỉ, An Nam (nước Việt Nam ngày
nay) tụng kinh:
Vô lượng thọ
và
Quán vô lượng thọ,
thề nguyện sanh về An dưỡng. Năm thứ 2 niên hiệu Hiếu Kiến (455 TL), ngài
gom củi trong núi tự đốt thân mình. Trong truyện có ghi lại các Ngài:
Giang Lăng Đạo Hải, Bắc Châu Huệ Khám, Đông Châu Huệ Cung, Hoài Nam Đàm
Hoằng, Hoằng Nông Đạo Quang v.v… đều nguyện sanh về Tây phương, khi lâm
chung có điềm báo trước.
Đến đời Tề Lương, không chỉ mọi người nhiệt thành cầu sanh về
Tịnh độ, mà còn giảng dạy, đọc kinh
Vô lượng thọ
… rất thịnh hành. Vào lúc này, “hải triều” nghiên cứu giáo lý
Tịnh độ ngày càng dâng cao. Trong sách “Tăng truyện” phần nhiều cũng có ghi lại
sự tụng kinh, lễ sám, chép kinh, tạo tượng. Huệ Tấn trú trì chùa Cao Tòa ở
Kiến Khang, thường ngày tụng một bộ kinh
Pháp hoa, chép ra cả trăm bộ kinh.
Siêu Biện ở chùa Định Lâm Thượng, Kiến Khang, lễ sám Pháp hoa, Di-đà.
Pháp Lâm ở chùa Linh Kiến, đất Thục thường tụng kinh:
Vô lượng thọ
và
Quán vô lượng thọ. Tăng Nhu thông hiểu nhiều
kinh, mở trường giảng dạy. Sau đó, Ngài đến chùa Định Lâm Thượng ở Kiến
Khang được hai vua Văn Huệ, Văn Tuyên rất khâm phục kính trọng, tiếng vang
một đời. Hàng ngày, ngài thường thề nguyện sanh về An dưỡng. Cứ mỗi khi
hoàng hôn buông xuống, ngài chắp tay ngay ngắn cầu nguyện. Pháp Độ, người
Hoàng Long, trú chùa Thê Hà, Giang Tô, cũng được các vua Văn Huệ và Văn
Tuyên kính trọng, nhiều lần giảng kinh
Vô lượng thọ. Chùa Thê Hà này, nguyên là một am tranh của Minh Tăng
Thiệu, ẩn sĩ người Tề Châu đã sống ở đó một thời. Đạo hữu Pháp Độ, bạn của
ngài giảng kinh
Vô lượng thọ
ở đây, trong đêm, bỗng thấy xuất hiện một luồng ánh sáng. Năm
thứ bảy niên hiệu Vĩnh Minh đời nhà Tề (489 TL), (sau khi Minh Tăng Thiệu
tịch, ngài Pháp Độ) bỏ nhà xây chùa.
Sau khi Tăng Thiệu viên tịch, đệ tử của ngài là
Trọng Cảnh cùng Pháp Độ ở Thạch Bích, Tây Phong, xây nhà để thờ, điêu khắc
tượng Phật Vô Lượng Thọ ở tư thế ngồi cao ba trượng một mét năm tấc, xây
nhà cao bốn trượng để thờ hai tượng Bồ-tát cao ba trượng ba tấc. Trong các
vương gia, vương tử: Văn Huệ, Văn Hiến, Văn Tuyên, Thuỷ An đều hỗ trợ cho
việc tạo tượng. Rồi bỗng dưng có thêm Tống Thái Tể Giang Hạ Vương Chi
Hoắc, Tề Ung Châu Thứ Sử Điền Quýnh v.v… bố thí tài vật, gọt giũa chà mài
những tảng đá lớn, tạo ra ức vạn hoá thân Phật.
Năm thứ 10 niên hiệu Thiên
Giám nhà Lương (511 TL), Tĩnh Huệ Vương ở Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây) phát
tâm tô điểm thêm cho các tượng. Ở đây người ta gọi Nhiếp Sơn Thiên Phật
Nham (động ngàn Phật ở núi Nhiếp). Ngài Bảo Lượng lúc đầu ở chùa Trung
Hưng, Kiến Khang, sau đến chùa Linh Vị. Năm thứ 8 niên hiệïu Thiên Giám,
(509 TL), theo thánh chỉ của vua Võ Đế, ngài chú giải, biên chép kinh
Niết-bàn
(Niết-bàn
nghĩa sớ)
gồm 71 quyển, giảng kinh
Vô lượng thọ
10 lần. Đệ tử của ngài là Pháp
Vân ở chùa Quang Trạch cùng ngài Tăng Mân, Trí Tạng được người đương thời
tôn xưng là ba vị Pháp sư đời Lương. Tuy ngài Pháp Vân không truyền bá
hướng dẫn tín đồ cầu sanh về Tịnh độ. Song, ngài đã trước tác “Pháp
hoa kinh nghĩa ký”9,
trong quyển thứ 5 giải thích phẩm “Tín giải” về trưởng giả là Phật Di-đà;
trong quyển thứ 8 phẩm “Như Lai thọ lượng” giải thích câu: “Hoặc chỉ thân
mình hoặc chỉ thân người”. Nghĩa là thân mình ví như Phật Thích Ca, thân
người khác được xem như Phật Di-đà. Ở đây, lấy Phật Di-đà là bổn thân của
Phật Thích Ca, để nói lên chủ trương này có rất nhiều thâm ý. Vả lại, căn
cứ trong “Thỉnh Quan Âm kinh sớ” của ngài Trí Khải, ngài An Bẩm ở chùa Kỳ
Ám10 coi Phật Thích Ca là Ứng thân, Tích thân; Phật Di-đà là Chơn thân,
Bổn thân. Điều này cho thấy rõ sự phối hợp giữa Tích môn và Bổn môn, nên
nghĩ rằng: Đây là lời dạy của ngài Pháp Vân.
Đời Lương, niên hiệu Thiên Giám năm thứ 8, ngài Pháp Duyệt
v.v... đúc tạo kim tượng Vô Lượng Thọ cao một trượng chín, an trí ở chùa
Quang Trạch. Lúc này, chùa Quang Trạch là một trung tâm tín ngưỡng Tịnh
độ. Trong truyện có kể rằng: Ngài Đạo Trân đến nước Lương, buổi đầu đến Lô
Sơn, hàng ngày tu tịnh nghiệp (Tịnh độ), một đêm nọ nằm mộng thấy có
thuyền từ nước Phật Di-đà đến đón mình trở về. Trước đây, do không đọc
tụng kinh
A-di-đà,
mà còn lo kinh doanh xây dựng nhà cửa, nên không thấy gì. Sau này, Ngài
tụng kinh, bèn thấy rõ những điềm báo vãng sanh.
Cuối đời nhà Tấn trở về sau, tín ngưỡng Tịnh độ
được truyền bá các nơi ở phương nam; đồng thời, tượng Phật Di-đà cũng lần
lượt được tạo dựng. Phương nam chủ yếu người ta dùng vàng hợp kim để đúc.
Ngài Tăng Hồng trú chùa Ngõa Quan ở Kiến Khang, do cuối đời Tấn đồng bị
cấm rất nghiêm ngặt, ngài quyên góp mọi người đúc được một kim tượng
(tượng vàng) Phật Vô Lượng Thọ, nên bị quan địa phương bắt nhốt vào ngục.
Ngài bèn tụng kinh
Quán
Thế Âm, hết lòng nhớ nghĩ về tượng Phật, bỗng
cảm đến chư Phật, mà mộng thấy những điều linh ứng, liền thoát khỏi nạn
này. Ngài Tăng Lượng ở Giang Lăng, muốn tạo kim tượng Phật Di-đà cao một
trượng sáu, nhân vì dùng đồng không đủ, ngài chọn một trăm thanh niên khỏe
mạnh, dùng mười thuyền lớn đến Tương Châu, vào thẳng mõ đồng của triều Ngô
Tử Tư11 lấy đồng về đúc. Song, ánh sáng tượng chưa đủ nên Tống Văn Đế dát
thêm lớp vàng mỏng tăng ánh sáng cho tượng. Sau khi hoàn thành, tượng được
đưa vào thờ ở chùa Bành Thành. Trong những năm niên hiệu Thái Thủy
(465-471 TL), Vua Minh Đế di dời đến chùa Tuơng Cung.
Nhà Tề, niên hiệu Vĩnh Minh năm thứ 4 (486 TL), Trần phu nhân
và Tỳ-kheo ni Bảo Nguyện ở chùa Lạc Lâm cùng thêu dệt Tôn tượng Vô Lượng
Thọ. Ngài Giác Duyệt ở chùa Chánh Giác, Kiến Khang và ngài Trí Tĩnh ở chùa
Bạch Mã khuyến khích tín đồ quyên góp được một số tài vật đúc một tượng
Phật Vô Lượng Thọ cao một trượng tám, đầu đời Lương được Vua sắc chỉ khen
ngợi. Niên hiệu Thiên Giám, năm thứ 8 (509 TL), ở chùa Tiểu Trang Nghiêm,
mọi người mong cầu đúc tượng, nhưng thiếu đồng bèn dâng biểu tấu xin đồng
công đức. Nhờ vậy, họ đúc được một tượng cao một trượng chín thờ ở chùa
Quang Trạch. Ngoài ra, việc tạo lập tượng Phật ở các nơi rất nhiều.
Ở phương bắc, Phật giáo vốn không chủ trương như vậy, lại nạn
binh đao liên tục khởi lên bao trùm khắp nơi. Đặc biệt vào đời Bắc Ngụy,
Thái Bình Võ Đế niên hiệu Thái Bình Chơn Quân, năm thứ 7 (446 TL), nổi lên
một dòng xoáy bạo lực tàn phá Phật giáo: Đập tượng, đốt kinh, giết Tăng
lữ, hủy hoại chùa tháp. Một thời, Phật giáo hình như bị quét sạch. Từ đó,
dấu vết Tịnh độ cũng tuyệt lối. Đến khi Văn Thành Đế lên ngôi, Phật giáo
mới được xây dựng lại. Niên hiệu Hưng Quang, năm đầu (454 TL), theo lời
tấu xin của ngài Đàm Diệu. Phương bắc nước Ngụy có năm nơi để tạo ra hang
động điện: Đô Hằng, An Tây, Bắc Vũ, Châu Tắc, Sơn Cốc (năm địa danh này
đều thuộc tỉnh Sơn Tây). Tiếp đến các vùng phụ cận, người ta xây hơn mười
ngôi nhà bằng đá. Các nơi đều thờ tượng Phật. Vì thế, ở đây có tên gọi là
“Đại Đồng Thạch Quật” (toàn hang động đá). Niên hiệu Thái Hoà, năm thứ 18
(494 TL), Hiếu Văn Đế dời đô về Lạc Dương, sai người khai tạc tại núi Long
Môn, tạo ra nhiều bàn thờ Phật kề nhau được khắc chạm cẩn thận. Trong số
này, tượng Di-lặc nhiều hơn cả, tiếp đến tượng Thích ca, Quán Thế Âm.
Tượng Phật Di-đà không được nhiều lắm. Vả lại, thời đại này ít hà khắc hơn
trước. Song, kiểm tra những bài minh trên các tượng đá, thì chúng ta đủ
biết: Những quan niệm còn rất ấu trĩ đối với Tịnh độ đời này, họ đem tín
ngưỡng Di-đà Tịnh độ và tín ngưỡng Đương Lai Hạ Sanh Di-lặc hòa nhau tu
tập. Có bài minh trên tượng đá Di-lặc có ghi nguyện sanh về cõi Tây phương
Phật Vô Lượng Thọ, hoặc có bài minh ở tượng Phật Thích Ca ghi thác sanh về
Tây phương cõi nước vi diệu, an lạc và những lời cùng sanh về cõi Phật
Di-lặc. Có bài ở tượng Phật Di-đà ghi: “Nếu chết được sanh Thiên”. Người
ta ghi lại bài minh trên tượng Phật Vô Lượng Thọ rằng: “Vì cha mẹ qua đời
mà tạo tượng Phật Vô Lượng Thọ, nguyện sanh về cõi trời”. Lại có bài minh
trong bốn tượng Phật và bốn tượng Bồ-tát bằng đá, có câu tương tự là:
“Nguyện nhờ công đức ấy, khiến khi chết lên cõi trời, thác sanh về cõi Tây
phương Vô Lượng Thọ”. Người ta cũng tìm được một bài minh khắc bằng đá
trên tượng Di-đà có ghi: “Xả thân ô uế này, gặp Phật Di-lặc rồi sanh về
Tây phương”. Đời sau, Tịnh độ Di-đà được gọi là cõi “Thiên thọ”.
Chung quy lại, nên biết
ở phương bắc sớm đã truyền bá tín ngưỡng Tịnh độ Di-đà.
Đời Bắc Ngụy, Tuyên Võ Đế,
niên hiệu Vĩnh Bình năm đầu (508 TL), ngài Bồ-đề-lưu-chi, người Bắc Ấn Độ
đến Lạc Dương. Ngoài việc dịch “Thập địa kinh luận”, “Nhập
lăng-già kinh”
… còn truyền dịch kinh “Vô Lượng Thọ Ưu-bà-đế-xá nguyện sanh kệ”,
hay gọi “Vô
lượng thọ kinh luận”, “Vãng sanh luận”, “Tịnh
độ luận”,
đều nói về năm pháp môn niệm Phật vãng sanh.
Ngài Huệ Quang là tổ của phái Nam đạo địa luận. Lúc đầu, ngài
ở Lạc Dương nhậm chức “Quốc Tăng Đô”, sau triều đình triệu về Nghiệp Đô
giữ chức “Quốc Thống”. Đời Đường, Ngài muốn sanh về Tịnh độ mà không định
được Tịnh độ phương nào. Đến khi lâm chung, liền nguyện sanh về An dưỡng.
Đệ tử của Ngài là Pháp Thượng, hằng ngày sùng tín Di-lặc nên nguyệân sanh
về cõi trời Đâu-suất. Ngài Đạo Xước cho đó là một trong sáu đức lớn thể
hiện nỗi lòng quy hướng về Tịnh độ. E rằng ý nghĩa về Tịnh độ, nghĩa rộng
có thể bao quát cả cõi Đâu-suất. Ngài Đạo Bằng học trò Đạo Quang thường
cầu sanh về Tây phương, khi lâm chung thấy Phật phóng hào quang tiếp dẫn.
Đệ tử của Ngài là Linh Dụ soạn
Vô lượng thọ kinh sớ,
Quán vô lượng thọ kinh sớ
và luận
Vãng sanh. Điều cốt yếu ở đây: Hai trường phái Địa Luận ở phương Nam
và phương Bắc đều chú trọng về vãng sanh Tịnh độ.
III.
SỰ THÀNH LẬP VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU KINH ĐIỂN TỊNH ĐỘ TÔNG
1.
Tịnh độ giáo vào thời nhà Chu và Tùy.
Từ đời Bắc Chu trở về sau, mãi đến triều
đại nhà Tùy, giáo chỉ Tịnh độ Di-đà được sự chú ý của mọi người. Các danh
Tăng: Tịnh Ái, Đàm Diên, Trí khải v.v… đều cầu vãng sanh Tây phương. Lại
như Tịnh Ảnh Huệ Viễn, Huệ Ảnh, Linh Dụ, Cát Tạng, Đạo Xước v.v… cũng cầu
sanh Tây phương hoặc làm sớ giải thích Quán kinh (kinh Quán vô lượng thọ)
… hoặc nương vào chỗ thấy của mình mà trước tác, trình bày về giáo nghĩa
Tịnh độ. Ngài Ngạn Tông v.v… viết văn tán dương Tịnh độ. Vả lại, người
Tăng kẻ tục kiến tạo tượng Phật A-di-đà cũng không phải ít. Nhân đây, tín
ngưỡng Di-đà chính là con đường phía trước tiến tới sự hưng thịnh.
Huệ Ảnh, người huyện Ba Tây tỉnh Tứ Xuyên,
đến Bắc Chu theo ngài Đạo An học luận Đại trí độ và ở chùa Thiên Thiện, Đồng Châu, ngài
soạn “Trí độ luận
sớ”
24 quyển. Hiện nay chỉ còn sót một vài quyển. Cuối niên hiệu Khai Hoàng,
nhà Tùy, ngài viên tịch. Huệ Ảnh thuộc hệ phái Tứ luận ở phương Bắc. Trong Trí độ luận sớ,
quyển 24, luận tóm lược về Tịnh độ. Ngài nói: “Nghĩa của Tịnh độ là vô
lượng, nay lại luận về Chơn độ, Ứng độ, Nhị độä, ba loại Tịnh độ mà thâu
nhiếp tất cả cõi nước”. Báo thân Phật trong Thật trí pháp thân ở cõi thật
tướng Tịnh độ, có vô lượng màu sắc hình tượng, vô lượng ánh sáng, vô lượng
âm thanh, đồ chúng đều là Bồ-tát Vô sanh nhẫn. Trong kinh Hoa nghiêm nói
khi Thập địa Bồ-tát thành Phật: Chu vi cây Bồ-đề, nơi vị ngồi rộng đến
mười vạn ức vi trần số cõi Phật. Tức là cõi Tịnh độ thật báo công đức. Như
đi đến thành Già-da cách đạo thọ không xa và các Tịnh quốc Tây phương đều
là Ứng độ. Trong kinh Vô Lượng Thọ cũng có nói: “Nếu chúng sanh khi đạt
được chánh định tụ thì có thể sanh quốc độ đó, nên gọi là Tịnh độ”.
Linh Dụ người Khúc Dương, Định Châu, đệ tử
ngài Đạo Bằng, lấy Địa luận làm tông. Nhà Tùy, niên hiệu Khai Hoàng năm
thứ 11 (591 TL), ngài được mời vào Trường An trú chùa Diễn Không. Vào
tháng giêng năm đầu niên hiệu Đại nghiệp (605 TL), ngài viên tịch, hưởng
thọ 88 tuổi. Trước thuật của ngài rất nhiều, truyền lại gồm có: Vô lượng thọ kinh, Quán kinh, Vãng sanh luận v.v… Tương truyền rằng đến ngày ngài lâm chung, ngài niệm
Phật từ canh ba đến khi thấy minh tướng (mặt trời mọc).
Đạo Ngang là đệ tử
ngài Linh Dụ, cũng thường nguyện sanh về An dưỡng, khi lâm chung cảm ứng
Phật đến tiếp dẫn.
Tịnh Ái, người Huỳnh Dương, Hà Nam, chuyên
lấy Tứ luận làm tông. Tìm hiểu mới hay ở Bắc Chu, vua Võ Đế có ý đồ phá
Phật, bèn cùng môn nhơn hơn 30 người vào núi Chung Nam, từ Đông sang Tây
dựng lên được hai mươi bảy ngôi chùa, làm nơi để Tăng lữ vào đó lánh nạn.
Niên hiệu Kiến Đức, năm thứ 3 (574 TL), gặp lúc pháp nạn, Ngài ẩn vào núi
Thái Nhất, than thở lo sợ đại pháp phế diệt, soạn sách “Tam bảo tập” 20 quyển. Tháng 7 năm đầu niên hiệu Tuyên Chính, đời
Bắc Chu (578 TL), ngài ghi lại kệ trên vách đá, bèn tự vẫn ở tuổi 45.
Trong bài kệ để lại có đoạn viết:
“… Xả bỏ uế hình
Nguyện sanh Tịnh độ,
Nhất niệm hoa khai
Di-đà Phật sở.
Tốc kiến thập
phương,
Chư Phật Hiền Thánh,
Trường từ tam đồ
Chánh đạo quyết định.
Báo đắc ngũ thông,
Tự tại phi hành,
Bảo thọ xan pháp
Chứng đại vô sanh …”.
Tạm dịch :
“… Bỏ thân dơ nhớp
Nguyện sanh Tịnh độ,
Một niệm hoa nở
Ở trước Di-đà.
Sớm thấy mười phương
Phật cùng Hiền Thánh,
Dứt ba đường ác
Vững tin chánh đạo.
Đắc năm thần thông
Bay đi tự tại,
Ngồi dưới cây báu
Hưởng vị của pháp,
Chứng Vô sanh nhẫn …”.
Căn cứ vào bài kệ, có thể biết ngài có một
tấm lòng nhiệt huyết nguyện sanh về Tịnh độ.
Ngài Đàm Diên (người Tang Tuyền, Bồ Châu)
lấy kinh
Niết-bàn
làm
tông; vào đời Bắc Chu, ngài nhậm chức “Quốc Thống”, gặp lúc vua Võ Đế phá
Phật, ngài ẩn vào núi Thái Hành đến đời Tùy, vua Văn Đế mời ngài về chùa
Diên Hưng, Trường An. Vào tháng 8 năm thứ 8, niên hiệu Khai Hoàng (588
T.L), ngài viên tịch, hưởng thọ 73 tuổi. Lúc bình sanh, ngài nguyện sanh
về Tây phương, bề ngoài ít nói, ôm lòng nghĩ nhớ đến An dưỡng. Đương thời
ngài rất nổi tiếng, môn hạ cũng rất nhiều, đức cảm hóa của ngài không phải
ít.
Ngài Ngạn Tông người Bách Nhơn, Triệu Quận, Hà Bắc, sanh vào đời nhà Tề,
niên hiệu Thiên Bảo năm thứ 8 (557 TL). Sau khi nhà Tề bị diệt vong, ngài
giữ chức “Thông Đạo Quán Học Sĩ”. Sau ngài tìm đến Đàm Diên cầu xin xuất
gia v.v… . Ngài chuyên về việc thuyết giảng, tham cứu và dịch kinh. Tháng
7 năm thứ 6 niên hiệu Đại Nghiệp, đời Tùy (610 TL), ngài viên tịch lúc 54
tuổi, tại Dịch kinh quán ở Lạc Dương. Ngài trước tác rất nhiều, gồm có một
thiên “Nguyện vãng sanh Tịnh độ lễ tán kệ”.
Sau này, ngài Thiện Đạo ghi tóm lược lại phần chính ở trong “Lễ tán
vãng sanh”, kết hợp với nghi hành lễ vào mỗi buổi
sáng và tối.
Liên quan đến việc tạo tượng Phật A-di-đà,
vào niên hiệu Khai Hoàng năm thứ 7, ở núi Thiên Phật, Lịch Thành, tỉnh Sơn
Đông, người ta có tạo tượng A-di-đà Tam Tôn và tượng Phật A-di-đà. Từ năm
thứ 8 đến năm thứ 13 niên hiệu Khai Hoàng, ở núi Ngọc Hàm, tỉnh Sơn Đông
có một tượng A-di-đà Tam Tôn được tạo dựng. Vào niên hiệu Khai Hoàng năm
thứ 15, tại Long Môn, Lạc Dương, Hà Nam có xây một khám thờ Phật A-di-đà.
Năm thứ 4 và năm thứ 12 niên hiệu Khai Hoàng, đến năm thứ 7 niên hiệu Đại
Nghiệp, có tạo dựng các tượng Phật A-di-đà ở Đường Sơn, Nam Hưởng thuộc Từ
Châu tỉnh Hà Bắc. Lại vào niên hiệu Khai Hoàng năm thứ 9, ở chùa Bảo Sơn
phía tây huyện An Dương, tỉnh Hà Nam có vạn Phật được thiết kế chi tiết,
có dựng bàn thờ A-di-đà Thế Tôn; các Phật Tỳ-lô-giá-na và Di-lặc ở cùng
một chỗ. Lại nữa, vua Dương Đế (nhà Tùy) xây dựng chùa Hoàng Thiện ở Tinh
Châu, tạo ra một tượng Phật A-di-đà với thế ngồi cao 130 thước12. Các địa
phương khác tạo dựng rất nhiều, mới biết đời Tùy tín ngưỡng Tịnh độ phổ
cập đến trong hàng Tăng tục như nhau.
2. Thuyết tha lực bổn
nguyện của Đàm Loan.
Đàm Loan là một trong sáu vị đại đức được
nói trong “An lạc
tập”,
ngài chú giải luận
Vãng sanh
của
Ngài Bồ-đề-lưu-chi dịch, còn đề xướng thuyết “Tha lực bổn nguyện”, phát
huy thật nghĩa xưa nay của Tịnh độ giáo để lưu truyền cho thế hệ mai sau
về sự vĩ đại của nó.
Đàm Loan, người Nhạn Môn, tỉnh Sơn Tây.
Hơn mười tuổi lên Ngũ Đài Sơn, ngài thấy rõ vết tích vùng Thánh địa này
tâm hồn vui vẻ, nảy sinh ý định thoát tục, liền xuất gia. Ngài rộng học
nội ngoại điển, đặc biệt nghiên cứu Tứ luận và Phật tánh không chỗ nào mà
không thông suốt. Vua Ngụy tôn sùng Ngài mà sắc phong hiệu “Thần Loan”,
thỉnh trú trì chùa Đại Nghiêm ở Tinh Châu. Sau đó, Ngài chuyển đến chùa
Huyền Trung ở núi Thạch Bích, Bắc Sơn, Phần Châu, thu nhận đồ chúng niệm
Phật. Thời Đông Ngụy, niên hiệu Hưng Hòa năm thứ 4 (542 TL), ngài viên
tịch ở chùa Bình Dao Sơn, hưởng thọ 64 tuổi. Những tác phẩm của Ngài trước
thuật gồm có:
Vãng sanh luận chú
(2 quyển),
Tán A-di-đà Phật kệ
(1 quyển),
Lược luận an lạc Tịnh độ
nghĩa
(1
quyển). Trong đó,
Vãng sanh luận chú
là
giải thích rõ
Vô
lượng thọ kinh
luận của ngài Thế Thân. Quyển thượng giải thích rõ 24 hàng kệ, quyển hạ
giải thích văn trường hàng, tùy theo thời gian phụ thuộc vào trú xứ phát
triển ra mỗi chủ trương khác nhau. Trong kệ tán Phật A-di-đà có 7 bài kệ
bao gồm 195 hàng là nương vào kinh
Vô lượng thọ
tán vịnh Phật A-di-đà và công đức cõi nước Tịnh độ, có tên gọi là “Vô
lượng thọ kinh phụng tán”,
còn gọi là “Đại
kinh phụng tán”.
“Lược luận an lạc
Tịnh độ nghĩa”
là đối với cõi Tịnh độ an lạc của Phật A-di-đà, giải thích đề xuất những
vấn đề như: Tam giới nhiếp bất, trang nghiêm đa thiểu, vãng sanh cơ phẩm,
biên địa thai sanh, vô trí nghi hoặc, thập niệm tương tục v.v…
Giáo nghĩa của ngài Đàm Loan có thể xem ở
trong “Vãng sanh
luận chú”
của ngài, mới thấy được vấn đề đó. Ngài cho rằng Bồ-tát cầu bất thối
chuyển có hai con đường khó và dễ. Tại đời “Ngũ trược” khi không có Phật,
không được sự gia hộ của Phật lực, hết thảy dựa vào tự lực để tu hành rất
khó được bất thối chuyển, như đi bộ trên đường, đây gọi là khó hành đạo.
Nương theo bổn nguyện lực của Phật, vãng sanh về Tịnh độ, lại được Phật
lực gia trì thì nhập vào Đại thừa chánh định tụ mà vãng sanh, đến quả vị
bất thối chuyển; giống như chiếc thuyền đi trên đường thủy. Đây gọi là “Dị
hành đạo” (Đạo dễ hành). Hai con đường khó và dễ của ngài Long Thọ là ở
chỗ này mà có thể đạt được. Bởi vì, vấn đề bất thối đó không nhất thiết
phải vãng sanh Tịnh độ, điểm tất yếu: Quan trọng là việc xưng danh hiệu
mười phương chư Phật. Chính ở chỗ này cùng với tướng Tịnh độ đối lập nhau
mà ngài Đàm Loan luận về sự khác nhau giữa hai con đường khó và dễ. Cho
nên, địa vị “bất thối chuyển” ở “Dị hành đạo” là được lợi ích sau khi vãng
sanh Tịnh độ; với lại cho rằng chỉ nương về một vị Phật A-di-đà là pháp dễ
hành, để nhấn mạnh bổn nguyện lực của Phật kia. Hành giả được quả vị bất
thối, vãng sanh Tịnh độ hay sau khi vãng sanh đều nhờ vào sự gia trì của
bổn lực ấy. Có thể biết được thuyết hai con đường khó và dễ, đến ngài Đàm
Loan đầu tiên thì mang sắc thái của Tịnh độ giáo. Ngài tôn thờ và tin
tưởng vào Bồ-tát Long Thọ; ngay bài kệ “Tán Phật Di-đà” mà ngài cũng tôn thờ tuyệt đối những từ trong bài tán. Qua
đó chúng ta biết được nhờ Bồ-tát Long Thọ mà ngài Đàm Loan có tín ngưỡng
kiên cố Tịnh độ. Tham cứu ý vi diệu của Long Thọ, rút ra pháp tu chuyên
niệm một vị Phật, như Phật Di-đà được đặc biệt bàn luận là dễ thành. Vả
lại, nói bất thối tức là được sự lợi ích sau khi vãng sanh. Nhờ vậy, người
nương vào pháp này thì được quả vị bất thối mà chẳng vãng sanh Tịnh độ là
điều không thể có, tức vãng sanh về Tịnh độ là điều kiện tất yếu để đạt
được quả vị bất thối.
Sự cường điệu của ngài Đàm Loan về bổn
nguyện lực của Phật, tuy căn cứ vào thuyết của kinh Vô lượng thọ, nhưng
cũng được sự ám thị của ngài Long Thọ. Ở phương bắc nương vào kinh này, đề
xướng ra con đường luận về nguyện lực, lấy “Tha lực” làm đầu. Chủ trương
đó mang đến cho đời sau một sự ảnh hưởng rất lớn. Ở trong phần
Vãng sanh luận chú, quyển hạ nói lên sự lớn mạnh của
bổn nguyện lực Phật A-di-đà, tu hành năm pháp môn niệm Phật, tự lợi, lợi
tha mau chứng được Chánh đẳng chánh giác. Nghiên cứu nguồn gốc đó, lấy
Di-đà Như Lai làm tăng thượng duyên. Đặc biệt chỉ trích ba nguyện: 11, 18
và 22, luận về lý do chứng đắc vãng sanh Tịnh độ hoặc được bất thối hoặc
mau chóng thành Phật Đà. Ngài lấy ba nguyện này làm trung tâm, chủ xướng
thuyết Tha lực bổn nguyện mà phát huy giá trị Di-đà Tịnh độ giáo. Đời sau,
luận “Bổn nguyện” của ngài Thiện Đạo v.v… đều nói theo thuyết này.
Đàm Loan nhận thức được sự lớn mạnh bổn
nguyện lực Phật, nên lấy việc đắc vãng sanh cùng với địa vị bất thối và
việc sớm đạt quả vị Phật làm cương yếu cho giáo nghĩa của ngài. Quả vị bất
thối cùng với việc sớm thành Phật tuy nương vào sự gia trì của Phật lực
nhưng có thể tự chứng đắc, nếu việc vãng sanh mà không tự tu hành thì
không thể vãng sanh được. Ở đây, ngài lấy năm niệm môn làm pháp vãng sanh
Tịnh độ. Năm niệm môn ở trong luận
Vãng sanh,
ngài Thế Thân đã có giải thích, ngài lại đem chỗ tinh tế, phát biểu rất
nhiều ý kiến.
1. Lễ bái môn: Là thường khởi lên ý niệm
vãng sanh mà lễ bái Phật A-di-đà.
2. Tán thán môn: Là xưng tán tất cả danh
hiệu Vô Ngại Quang Như Lai trong mười phương, lòng tin quyết không gián
đoạn sẽ tương ứng nghĩa của danh hiệu Như Lai thì bóng đen ám ảnh của vô
minh có thể phá trừ. Thuyết tín tâm quyết định tương tục này do ngài Thiện
Đạo kế thừa thuật lại làm chánh nhân rất quan trọng cho sự vãng sanh Tịnh
độ.
3. Tác nguyện môn: Là nhất tâm chuyên niệm
phát nguyện vãng sanh, mà kỳ vọng ngay trong việc tu “chỉ”. Chỉ nghĩa là
dừng các điều ác, có ba nghĩa:
a. Danh hiệu Như Lai và danh hiệu quốc độ
kia, có khả năng dừng hết thảy điều ác.
b. Sanh vào quốc độ đó thì các nghiệp ác
của thân, miệng, ý tự nhiên không còn.
b. Nhờ lực gia trì Chánh giác của đức
Di-đà Như Lai, tự nhiên chúng sanh ở quốc độ kia sanh tâm cầu Nhị thừa.
Ba loại “Chỉ” này phát sinh nhờ đức chơn
thật của Như Lai. Cho nên, nói như thật tu hành Xa-ma-tha (Chỉ).
4. Quán sát môn: Là chánh niệm quán sát sự
trang nghiêm trong 29 câu về ba loại Tịnh độ, mà kỳ vọng như thật tu quán.
Quán có ba nghĩa:
a. Ở trong cõi này tác tưởng quán ba loại
công đức trang nghiêm ấy. Công đức này là như thật. Cho nên, người tu hành
cũng được công đức như thật, quyết định sẽ sanh vào cõi kia.
b. Sanh vào cõi kia tức là thấy được Phật
Di-đà mà chưa chứng tịnh tâm của Bồ-tát. Bồ-tát tịnh tâm đều được đồng
chứng pháp thân bình đẳng. Cho nên, nói như thật tu hành Tỳ-bà-xá-da
(Quán).
5. Hồi hướng môn: Là phát nguyện không lấy
công đức thiện căn tích tập để cầu an lạc cho tự thân, mà muốn diệt hết
thảy khổ đau cho chúng sanh, thâu nhiếp họ cùng sanh vào nước Phật an lạc.
Hồi hướng này có hai chủng loại :
a.
Vãng tướng: Phát nguyện lấy công đức mình hồi hướng cho tất cả chúng sanh
cùng sanh vào cõi Phật.
b. Hoàn tướng: Sau khi vào nước Phật
kia, nếu được thành tựu chỉ quán phương tiện lực thì trở lại thế giới Ta
bà giáo hóa tất cả chúng sanh cùng hướng về Phật đạo. Nhưng tâm hồi hướng
này là chỉ cho tâm Vô thượng Bồ-đề. Tâm Vô thượng Bồ-đề tức là nguyện tạo
tác tâm Phật. Nguyện tạo tác tâm Phật tức là tâm độ chúng sanh. Tâm độ
chúng sanh tức là nhiếp thủ chúng sanh, khiến họ sanh vào cõi Phật. Cho
nên, người nguyện vãng sanh An dưỡng Tịnh độ cần phát tâm Bồ-đề này; nếu
không phát tâm này mà chỉ vì hưởng thụ niềm vui cầu sanh về cõi kia là
việc không thể có. Tâm Bồ-đề này không phát khởi thì đừng nói về việc vãng
sanh Tịnh độ. Đây gọi là luận về chánh nhân của tâm Bồ-đề. Ngài lấy năm
niệm môn làm nhơn vãng sanh. Và lấy quán nguyện môn làm sự thực hành chủ
yếu.
Ngài lại lấy mười niệm tương tục làm nhơn
để sanh về Tịnh độ, giải thích là ý nghĩa thành tựu sự nghiệp vãng sanh.
Lấy niệm là nghĩa nhớ niệm Phật A-di-đà, mà ở trong “Lược luận an lạc Tịnh độ nghĩa”
đưa ra thí dụ “Độ hà trước thoát” (qua sông bỏ đò) để giải thích nghĩa của
mười niệm tương tục. Hành giả chỉ nhất tâm bất loạn, không duyên vào việc
khác, gom góp niệm tương tục làm nghi thức. Như vậy, mới biết Đàm Loan chú
trọng chuyên niệm tương tục là phương châm cốt yếu cho sự nghiệp vãng sanh
được thành tựu.
Vào thời ngài Đàm Loan, mọi người đều
không còn nói đến phân loại Tịnh độ. Ngài lấy Di-đà Tịnh độ làm hướng đến
để ra khỏi ba cõi. Phật vì thương xót chúng sanh bị trói buộc trong tam
giới, hư ngụy luân hồi tiếp nối không cùng, điên đảo bất định nên muốn dẫn
dắt họ đến chỗ an lạc thanh tịnh, mà phát khởi công đức trang nghiêm thanh
tịnh này.
3. Luận Tịnh độ của ngài
Tịnh Ảnh Huệ Viễn.
Tịnh Ảnh Huệ Viễn, sanh ở Đôn Hoàng, tỉnh
Cam Túc, nhằm vào đời Bắc Ngụy, niên hiệu Chánh Quang năm thứ 4 (523 TL).
Năm lên 20 tuổi, quy y cửa Phật. Năm đầu niên hiệu Thừa Quang, Bắc Tề,
(577 TL), vua Võ Đế phá Phật, ngài tranh đấu chống đối, sau đó đến ẩn trú
ở Tây Sơn huyện Cấp (Cấp Quận) tỉnh Hà Nam. Khi nhà Tùy thống nhất thiên
hạ, mời ngài về Trường An, mới xây chùa Tịnh Ảnh thỉnh Ngài tới ở. Ngài
lại lấy sự thuyết giảng làm Phật sự. Vào tháng 6 năm thứ 12, niên hiệu
Khai Hoàng (592 TL), ngài viên tịch, hưởng thọ 70 tuổi. Sách Ngài soạn
truyền lại hiện nay gồm có: “Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ” 1 quyển, “Quán
vô lượng thọ kinh nghĩa ký”
1 quyển, “Đại
Niết-bàn kinh nghĩa ký”
20 quyển, “Duy-ma
kinh nghĩa ký”
8 quyển, “Thập
địa kinh luận nghĩa ký”
10 quyển (tàn khuyết)13, “Đại
thừa khởi tín luận sớ” 2 quyển, “Địa trì luận nghĩa ký” 10 quyển (tàn khuyết) (?), “Đại
thừa nghĩa chương”
(20 quyển) v.v…
Hệ thống truyền thừa pháp trên thuộc giáo
hệ Nam đạo địa luận, lập bốn tông giáo phân chia để cổ súy Như Lai tạng
duyên khởi đương thời rất nổi tiếng. Ngài như nhận được cảm hóa của thầy
mình, sùng kính lễ bái Di-lặc. Nhưng về Tịnh độ thì chỉ có kinh
Vô lượng thọ
và
Quán kinh.
Lại trong “Đại
thừa nghĩa chương”,
thiết lập nghĩa Tịnh độ một chương, tinh tế luận thuật sự khác nhau giữa
các loại Tịnh độ.
Vô lượng thọ kinh nghĩa
sớ
và
Quán kinh
nghĩa ký
là giải thích nghĩa Tịnh độ đầu tiên ở Trung Quốc; giải thích nghĩa này
được tất cả học giả đương thời xem trọng. Các ngài: Cát Tạng, Ca Tài,
Thiện Đạo … đều tập trung vào thuyết của ngài lấy, bỏ và phê bình. Điều
nhầm lẫn là nói “Quán
vô lượng thọ Phật kinh sớ”
không phải ngài Trí Khải tác giả. Hoàn toàn được ghi lại “Quán kinh sơù” là của ngài. Như vậy, mới biết quyền
oai trước tác của ngài.
Tịnh Ảnh nghiên cứu tường tận các kinh
luận Đại thừa có liên quan đến Tịnh độ trang nghiêm và thuật nơi cư trú
của Thánh chúng. Ngài phân Tịnh độ làm ba loại, mà bàn luận rồi chia ra
cao thấp, ưu liệt. Đây cũng là luận phân loại Tịnh độ đầu tiên ở Trung
Quốc.
1. Sự Tịnh độ: Là cõi dùng các báu trang
sức do hữu lậu của phàm phu chiêu cảm. Cảnh vật (sự tướng) cõi này đẹp đẽ
trang nghiêm. Cho nên, gọi là Sự tịnh, ở cõi này có hai loại:
a. Phàm phu tâm mong cầu mà tu tịnh
nghiệp, do đó mà cảm được cảnh giới này; tức là các cõi trời Dục giới và
Sắc giới …
b. Phàm phu sanh tâm cầu xuất gia mà tu
tịnh nghiệp, do đó cảm được cảnh giới này, tức là Cực lạc Tịnh độ và thế
giới Chúng Hương14.
2. Tướng Tịnh độ: Hàng vô lậu Nhị thừa
cùng Bồ-tát tu duyên quán để đối trị mà cảm được cảnh giới, vì có tướng vi
diệu trang nghiêm thanh tịnh, xa rời cấu nhiễm cho nên gọi là Tướng tịnh.
Cảnh giới này cũng có hai loại:
a. Cảnh giới do thiện căn tự lợi của hàng
nhị thừa mà cảm được, tức cõi Vô sắc giới.
b. Cảnh giới do thiện căn hóa độ người của
Bồ-tát mà cảm được, tức là đến được nhà của Duy-ma-cật.
Vả lại, hai cảnh giới này đều có cõi tương
tục trụ giữ cùng cõi hiện tạm.
3. Chơn Tịnh độ: Là cảnh giới cư trú của
quả sơ địa lên đến quả vị Phật. Do chư Phật và Bồ-tát đã thật chứng thiện
căn mà cảm được. Cảnh giới này vi diệu, thanh tịnh, lìa cấu nhiễm, thường
trụ bất biến. Vì thế gọi là Chơn Tịnh. Nhưng ước định để bàn luận thì cảnh
giới này cũng có thể phân thành hai loại :
a. Cảnh giới ly vọng: Là nơi cư trú của
hàng sơ địa lên đến thập địa Bồ-tát. Do quả vị cao thấp mà cảnh giới có
tốt xấu khác nhau.
b. Cảnh giới thuần tịnh: Cõi cư trú chỉ
một mình Phật, hoàn toàn xa rời vọng tưởng, thuần khiết chơn chánh không
tạp nhiễm, thanh tịnh như hư không.
Lại nữa, cảnh giới chơn tịnh của Phật này
có thể phân thành hai loại:
- Chơn độ: Cõi tự thân của Phật ở, tức
cảnh giới pháp môn bình đẳng.
- Ứng độ: Cõi tùy vào căn cơ của mỗi loại
khác nhau mà hiện ra, tức là cảnh giới của pháp môn sai biệt.
Lại nữa, trong Chơn Tịnh độ có thể phân
thành ba cảnh giới:
1. Pháp Tịnh độ: Là cảnh giới xưa nay là
hiển hiện của thực tánh.
2. Thật báo độ: Là Bồ-tát ở nhân vị rộng
tu tịnh nghiệp. Do sự huân tập đó nên khi phát lực của cảnh giới pháp tánh
hiển hiện. Có vô biên pháp giới thanh tịnh, hiện ra vô lượng sự tướng
trang nghiêm.
3. Viên ứng độ: Là do hai cõi Thật báo và
Pháp tánh luyện thành, tùy theo căn cơ của chúng sanh có thể ứng hiện mỗi
mỗi quốc độ.
Tóm lại, luận Tịnh độ của ngài Tịnh Ảnh là
do sự bất đồng của nghiệp duyên mà chiêu cảm cảnh giới có tốt xấu khác
nhau. Lại đem cảnh giới Chơn tịnh của Phật phân thành Chơn, Ứng hai cõi và
Pháp tánh, Thật báo và Viên ứng ba cõi. Đây là nền móng giáo chỉ tâm Tịnh
độ tịnh của kinh
Duy-ma,
bao quát các thuyết luận
Thập địa kinh
và
luận Đại thừa, có thể nói là rất rõ ràng vậy. Phê bình tư tưởng của ngài
La-thập: “Chúng sanh không có Tịnh độ, chỉ Phật mới có”. Và ngài Đạo Sanh
cho rằng: “Phật không có Tịnh độ, chỉ chúng sanh mới có”. Hai lý đó đều
nghiêng về một bên. Ngài Tịnh Ảnh lại cho rằng Tịnh độ của Phật Di-đà về
phần quốc độ thì thô còn về sự vật thì thanh tịnh, lấy Phật Di-đà làm Ứng
thân, cảnh giới này làm Ứng độ. Ý nói đức Di-đà thành Phật từ lâu xa, cũng
đã đắc được Chơn độ, lại vì chúng sanh đem nhân của Ứng độ để trang nghiêm
Tây phương Tịnh độ. Thuyết này có thể thông suốt cả nghĩa Bổn môn và Tích
môn.
Lại nữa, Ngài lại phân nhân sanh Tịnh độ
làm hai loại, tu quán vãng sanh gọi là Định thiện; tu nghiệp, tu tâm và
qui hướng gọi là Tán thiện. Ngài lại dựa vào căn cơ của người vãng sanh
trong chín phẩm phân ra: Căn cơ của người Đại thừa thuộc ba phẩm thượng;
căn cơ của người Tiểu thừa thuộc ba phẩm trung; căn cơ của người bắt đầu
học Đại thừa thuộc ba phẩm hạ. Mỗi mỗi phân chia phẩm vị của các bậc này.
4. Luận Tịnh độ của ngài
Thiên Thai Trí Khải.
Ngài Thiên Thai Trí Khải người Hoa Dung,
Kinh Châu, sanh vào năm thứ 4 niên hiệu Đại Đồng, đời nhà Lương (538 TL);
ngài xuất gia năm 18 tuổi. Năm thứ 7 niên hiệu Thái Kiến (574 TL) vào núi
Thiên Thai kiến lập chùa tu thiền và ở đó. Vào tháng 11 năm thứ 17 niên
hiệu Khai Hoàng (đời Tuỳ - 597 TL) Ngài viên tịch, ở tuổi 60. Trí Khải là
tổ khai sáng tông Thiên Thai, được mọi người tôn xưng là “Trí Giả đại sư”
hoặc “Thiên Thai đại sư”. Học phong của ngài lấy Pháp hoa làm tông và lập
giáo tướng của năm thời tám giáo, thịnh xướng theo tôn chỉ khai quyền hiển
thật. Vả lại, nương vào Trung luận đề xướng thuyết “Nhất tâm quán”. Lại
tin sâu đức Di-đà, tu
Bát-chu thường hành
tam-muội.
Đệ tử của ngài cầu sanh Tây phương cũng không ít.
Trí Khải cũng phân loại Tịnh độ, đem mười cảnh giới phàm thánh đồng
cư, phân thành 4 loại:
1. Phàm Thánh đồng cư độ: Còn gọi là
“Nhiễm tịnh quốc”, tức là cõi thuộc Nội giới, là chỗ ở của hàng phàm phu
và Thánh nhân ba thừa. Nơi này có hai loại :
a.
Phàm cư: Cõi phàm phu cư trú, bốn nẻo ác là chỗ ở của chúng
sanh. Thiện nhơn là nơi ở của trời người.
b. Cảnh giới Thánh nhân cư trú có:
-
Quyền thánh: Địa thượng Bồ-tát và Như Lai vì hóa độ thánh hữu duyên nên
ứng sanh vào trong cõi này.
- Thật
thánh: Ứng sanh vào cõi thuộc Nội giới của hàng Nhị thừa và Bồ-tát Địa
tiền (Sơ địa).
2. Phương tiện hữu dư độ: Là cảnh giới
ngoài, tức cảnh giới cư trú của hàng Nhị thừa tu chứng và các bậc Bồ-tát
phương tiện.
3. Thật báo vô chướng ngại độ: Hay gọi là
Quả báo độ, tức là thế giới Liên hoa tạng, chỗ cư trú của Bồ-tát Pháp
Thân.
4. Thường tịch quang độ: Còn gọi là Pháp
tánh độ, tức là cực trí của bậc Diệu Giác chiếu soi lý Như như15 của pháp
giới, gọi là cõi nước.
Luận Tịnh độ của ngài đại thể tương đồng
với thuyết của Tịnh Ảnh. Trí Khải lại rút ra trong “Ma-ha
chỉ quán”
làm phương pháp chỉ quán tiến tu, thuyết bốn pháp tam-muội. Trong đó, dựa
vào kinh
Bát-chu
tam-muội,
đề xướng niệm Di-đà, gọi là Thường hành tam-muội. Hành tam-muội yêu cầu
trước tiên là trang nghiêm đạo tràng, đầy đủ sự cúng dường, tắm gội sạch
sẽ, ra vào phải thay trang phục, lấy chín mươi ngày làm một kỳ, chuyên chú
vào việc hành đạo.
5. Luận Tịnh độ của ngài
Gia Tường Cát Tạng.
Ngài Cát Tạng, gốc người nước An Tức. Do tránh kẻ cựu thù ở thế hệ
trước, nên sang Nam Hải. Ngài sanh ở Kim Lăng, 12 tuổi xuất gia. Sau đó,
ngài Đông du sang núi Tần Vọng tỉnh Chiết Giang, ở chùa Gia Tường giảng
kinh luận. Đệ tử của ngài hơn cả ngàn người. Được người đời xưng là “Gia
Tường đại sư”. Năm thứ 2 niên hiệu Đại Nghiệp (606 TL), ngài được thỉnh về
đạo tràng Huệ Nhật, ở Dương Châu, rồi sang chùa Nhật Nghiêm, Trường An.
Đời Đường, đầu niên hiệu Vũ Đức, ngài được chọn một trong mười vị đại đức
giám sát hai chùa Thật Tế và Định Thủy. Vào tháng 5 năm thứ 6 niên hiệu Vũ
Đức (623 TL), ngài nhiễm bệnh, bèn viết luận “Tử Bất Bố” (Chết không sợ), rồi qua đời ở tuổi 75. Những trước
thuật của ngài: “Vô
lượng thọ kinh nghĩa sớ” 1 quyển, “Quán vô lượng thọ kinh” 1 quyển, “Pháp hoa kinh huyền luận” 10 quyển, “Pháp
hoa kinh nghĩa sớ”
12 quyển, “Tịnh
danh huyền luận”
8 quyển, “Thắng
Man bảo khốt”
6 quyển, “Đại
thừa huyền luận”
5 quyển, “Tam
luận huyền nghĩa”
1 quyển, “Đồng
nghĩa sớ”
16 quyển v.v…
Cát Tạng căn cứ vào những giáo chỉ của Bát-nhã, cổ súy “Chánh quán vô
đắc”, được tôn xưng là Tổ tái hưng Tam luận (Trung
luận,
Bách luận,
Thập nhị môn luận).
Ngài đối với giáo môn Tịnh độ cũng rất quan tâm, nên giải thích văn nghĩa
kinh
Vô lượng thọ
và
Quán kinh.
Vả lại, ở trong phần tựa, ngài ân cần nói rõ những điểm trọng yếu về vãng
sanh Tịnh độ. Căn cứ vào “Tăng
truyện”,
ngài tạo ra 25 tôn tượng, sớm chiều dốc hết tâm thành lễ sám. Đến khi lâm
chung, thị giả đốt hương niệm Phật. Lại trong nghĩa sớ của ngài nhiều lần
nêu ra mười niệm vãng sanh. Ngài hoặc những người tín ngưỡng Di-đà, nếu
không giải nghĩa mười niệm vãng sanh thì cũng chưa hiểu được.
Cát Tạng tùy theo các phương tiện phân loại Tịnh độ, rộng nói cõi nước
có tịnh và bất tịnh, gồm năm loại:
-
Tịnh
độ: Là cảnh giới hoàn toàn thanh tịnh của chúng sanh được sự giáo hóa
của Bồ-tát mà tự chiêu cảm đến.
-
Bất
Tịnh độ: Là cảnh giới nhơ uế của chúng sanh tạo duyên ác mà tự chiêu
cảm.
-
Bất tịnh Tịnh độ: Ban đầu chúng sanh duyên theo bất tịnh nên
chiêu cảm cảnh giới bất tịnh, duyên này chấm dứt trở lại sanh tịnh, do đó
cảnh giới này biến thành tịnh.
-
Tịnh
bất Tịnh độ: Ban đầu là Tịnh độ, chúng sanh chấm dứt ác duyên nên chiêu
cảm cảnh giới Tịnh độ này. Sau đó, chúng sanh trở lại sanh ác. Nhơn đây,
cảnh giới này biến thành bất tịnh.
-
Tạp
độ: Do chúng sanh tạo ra nghiệp thiện và ác lẫn lộn mà cảm ra cảnh giới
tịnh uế xen nhau.
Bởi năm loại cảnh giới trên đều do chúng
sanh tạo nghiệp chiêu cảm. Cho nên, gọi là Báo độ của chúng sanh. Nhưng
cõi nước nào có vua, Phật thường nhập vào trong cõi Báo độ này giáo hóa,
cũng gọi là Ứng độ của Phật. Cho nên, chúng sanh chiêu cảm năm chủng loại
Báo độ, Phật cũng ứng hiện năm loại Ứng độ, hợp thành mười cảnh giới khác
nhau.
Ngài lại đem Tịnh độ trong năm cảnh giới
Tịnh độ này phân làm bốn ngôi:
-
Cảnh
giới phàm thánh cùng ở.
-
Cảnh
giới lớn nhỏ đồng ở.
-
Cảnh
giới chỉ Bồ-tát ở.
-
Cảnh
giới chỉ Phật ở.
Lại nữa, ngài cho rằng Tam thân của Phật
đều có quốc độ.
1. Pháp thân độ: Tức Thật tướng độ.
2. Báo thân độ: Tức là Ứng thân; có hai
loại: Nội ứng thân và Ngoại ứng thân:
a. Nội ứng thân: Thân tương ứng với Pháp
thân, cảnh giới cư trú đồng với Pháp thân.
b. Ngoại ứng thân: Vì giáo hóa Đại Bồ-tát
nên hiện Báo thân thành Phật ở cõi Tịnh. Thân này được trang nghiêm bằng
bảy ngọc trân bảo; lấy Tịnh độ làm nơi cư trú. Cõi này về sau bị tận diệt,
nên không cùng Pháp thân độ chơn thật đồng hiện.
3. Hóa thân độ: Như cảnh giới các Hóa thân
của đức Phật Thích Ca cư trú, cõi này có sự khác nhau giữa bảy trân báu
cùng với đất cát, tức thông cả Tịnh, Uế và sẽ hoại diệt.
IV. TỊNH ĐỘ GIÁO VÀO THỜI KỲ ĐẦU CỦA
NHÀ ĐƯỜNG
I. Giáo thế của Tịnh độ giáo.
Vào đời Đường, Tịnh độ giáo phổ biến hưng
thịnh, các ngài: Đạo Xước, Thiện Đạo, Huệ Nhật, Thừa Viễn … nối nhau tuyên
dương giáo pháp. Các ngài cũng thi nhau trước tác, chú thuật xiển minh
giáo chỉ Tịnh độ. Lại còn tạo lập tượng Phật Di-đà. Biến tướng Cực lạc
được chế tác thành nhiều phong cảnh, khiến tín ngưỡng Tịnh độ rộng truyền
các nơi trong mọi tầng lớp Tăng, tục. Đặc sắc nhất, vào thời kỳ đầu nhà
Đường ảnh hưởng một thời giáo học phát triển rầm rộ. Tịnh độ giáo cũng
thịnh hành làm cho mọi người đi sâu vào nghiên cứu.
Vào thời kỳ đầu của nhà Đường, tín ngưỡng
Tịnh độ chọn Tinh Châu tỉnh Sơn Tây, và Trường An làm trung tâm, truyền bá
các vùng phía nam và phía bắc. Giáo thế của pháp môn này thịnh hành. Ở
huyện Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây, từ ngài Đàm Loan trở về sau, tín ngưỡng
Di-đà phát triển hưng thịnh; đệ tử của ngài Đàm Loan, kẻ Tăng người tục
hơn 300 người. Kế đó, ngài Đạo Xước vào ở chùa Huyền Trung, núi Thạch
Bích, Phần Châu (nơi ngài Đàm Loan đã từng ở) trấn hưng đạo pháp. Ba
huyện: Tấn Dương, Thái Nguyên và Vấn Thủy, hàng tại gia và xuất gia đều
tắm gội trong dòng nước giáo hóa của ngài, trẻ con từ bảy tuổi trở lên đều
biết niệm Phật A-di-đà. Căn cứ vào các luận để lại có thể mở ra cho thấy
sự hoằng pháp lúc bấy giờ rất thịnh, có một ông lão hơn 90 tuổi nghe ngài
Đạo Xước giảng Quán kinh, mới hồi tâm đêm ngày lễ niệm Di-đà cảm đến Thánh chúng,
được các ngài tiếp dẫn lúc lâm chung. Lại có nhiều Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di
niệm Phật A-di-đà mà được vãng sanh. Ngoài ra, tại Tinh Châu có rất nhiều
sự tích ghi lại số người nguyện sanh về Tây phương.
Ở kinh đô Trường An, tín ngưỡng Tịnh độ
sớm đã được lưu hành. Ngài Huyền Hội ở chùa Hoằng Phước, vào năm thứ 8
niên hiệu Trinh Quán trở về sau, chuyên tu Tịnh nghiệp, trong mộng ngài
thấy mình nằm ở trong tay của Phật, bèn xây dựng một tòa tháp để thờ
Di-đà.
Ngài Bảo Tướng ở chùa La-hán, hơn 40 năm,
sáu thời chuyên tâm lễ bái. Về đêm thường đặt ra khóa tu tự tụng bảy biến
kinh A-di-đà, được người đời xưng danh “Sáu vạn biến”; còn vào ban ngày
chuyên tụng kinh
Niết-bàn.
Tại Kinh Đô, ngài Thiện Đạo có năng lực cảm hóa rất lớn. Ký sự chép rằng:
Từng có người thọ pháp niệm Phật của ngài, trước chùa Quang Minh trên cây
liễu buông mình bỏ thân mà được vãng sanh.
Ở các địa phương khác như Giang Tô, có
ngài Pháp Thường ở chùa Đại Hưng Quốc, khai hóa người hữu duyên dạy về
pháp vãng sanh An dưỡng. Năm Võ Đức thứ 7, tự cảm được ánh sáng nhiệm mầu
mà vãng sanh. Trí Diễm ở núi Vũ Kheo noi theo di phong Lô Sơn, cùng hơn
500 người đàn-việt ở Châu Nội, mỗi tháng tập trung về một lần “kiến trai”
(trai giới), giảng Quán kinh có đến một trăm mười lần. Ngài Pháp Hưởng ở
chùa Chánh Giác, hàng ngày thường quán tưởng Tây phương, miệng luôn xướng
“Nam mô Phật”, nhưng ít thuyết pháp.
Khảo cứu về việc tạo tượng Phật Di-đà, từ
đời nhà Tùy về sau dần dần được thực hiện. Đến đầu nhà Đường phát triển
nhanh chóng. Trong những năm từ niên hiệu Trinh Quán đến niên hiệu Khai
Nguyên, tại động Tân Dương (Long Môn, Lạc Dương), chùa Kính Thiện, chùa
Phụng Tiên và phía ngoài các động có khắc hơn một trăm bài minh trên một
trăm tượng Phật Di-đà. Ở An Dương, Hà Nam có đến cả vạn tượng Phật được
tạo ra trong các lối đi của các động. Tại Hà Nam có Bảo Sơn huyện Củng; Hà
Bắc có Đường Sơn ở Nam Hưởng, Từ Châu; Sơn Đông có Thiên Phật Sơn tại Lịch
Thành v.v… cũng còn sót lại tượng đá Phật A-di-đà vào đầu nhà Đường. Lại
mỗi nhà cũng đều xây dựng “Phật đường” có thờ tượng Phật nhỏ.
Từ thời Bắc Tề trở về sau, sự biến tướng
của Cực lạc Tịnh độ được thể hiện như ở hình tượng Phật A-di-đà và 50 vị
Bồ-tát, tức ngũ thông Mạn-đà-la16 được các nơi vẽ ra truyền bá rộng rãi.
Đến đời Đường, căn cứ vào các thuyết nói về Quán kinh, không chỉ họa hình tượng Di-đà và các Bồ-tát mà còn
lưu hành các cảnh trí trang nghiêm đẹp đẽ của cõi Tịnh độ như: Ao báu, đất
báu, cây báu, lầu báu v.v… . Tương truyền ngài Thiện Đạo có vẽ 300 bức
diễn tả cảnh trí Tây phương. Nhân đó, Ngài soạn “Ngũ
chủng tăng thượng duyên nghĩa”
cũng khuyên mọi người vẽ tạo cảnh trí này.
2. Nhận định về Nhị môn
Thánh và Tịnh của ngài Đạo Xước.
Đạo Xước sinh ở Tấn Dương, Tinh Châu. Vào
đời Bắc Chu, năm Bảo Định thứ hai (562 TL), ngài xuất gia lúc mười bốn
tuổi. Đặc biệt, tinh thông kinh Niết-bàn. Thường ở chùa Huyền Trung, Vấn Thủy, chỉ một lần thấy văn
bia của ngài Đàm Loan mà sanh sự cảm ngộ. Đời Tùy, năm Đại Nghiệp thứ 5
(609 TL), lúc này 48 tuổi, ngài bèn gác lại sự nghiệp nghiên cứu kinh Niết-bàn bấy
lâu nay mà quay về Tịnh độ. Về sau, ngài chuyên niệm Phật A-di-đà, qui
định mỗi ngày 7 vạn biến, thường tu hạnh lễ bái và cúng dường. Niên hiệu
Trinh Quán trở về sau, Ngài giảng Quán kinh được
200 lần, khuyến khích rộng rãi mọi người hữu duyên niệm Phật, dạy người
dùng hạt đậu để làm số đếm. Sau đó, họ lấy gỗ đẽo gọt ra những hạt đếm,
bốc ra để đếm khi niệm. Đây là sự khởi nguồn của hạt chuỗi. Ngoài ra, ngài
dạy mọi người không nên quay về hướng Tây mà nhổ khạc, đại tiểu tiện; khi
ngồi và nằm nên quay mặt về hướng Tây. Một vùng Tinh Châu đều được tắm gội
trong dòng nước giáo hóa của ngài, những đứa trẻ từ bảy tuổi trở lên đều
biết niệm Phật A-di-đà. Mỗi khi khai giảng trường niệm Phật, mọi người
niệm Phật âm thanh vừa hùng tráng vừa linh thiêng vang vọng, làm rung
chuyển cả núi rừng hang động. Vào tháng tư năm thứ 19 niên hiệu Trinh
Quán (645 TL), ngài viên tịch hưởng thọ 84 tuổi. Trong đời sống thường
ngày, ngài có gặp nhiều sự linh nghiệm. Đệ tử của ngài là Thiện Đạo, Đạo
Vũ, Đạo Sanh v.v… . Sách ngài Đạo Xước trước thuật có “An lạc tập” (2
quyển) v.v…
Đạo Xước dựa vào tư tưởng đời mạt pháp mà
chủ trương thời giáo (giáo lý) cần yếu phải ứng hợp với hoàn cảnh, và ngài
phân chia giáo lý của Phật thành hai môn: Thánh đạo (tự tu chứng Thánh) và
Tịnh độ (nhờ sức Phật A-da-đà); đề xướng chỉ dẫn cho mọi người thời nay
nên bỏ Thánh đạo, chuyên hướng về Tịnh độ. Luận về giáo pháp hợp thời cơ
thì dễ tu, dễ ngộ, nếu không hợp thời cơ thì khó tu khó ngộ. Cho nên,
người muốn tu đạo điều quan trọng đầu tiên phải quán sát thời cơ. Ở đây,
ngài dẫn trong kinh “Đại
tập nguyệt tạng”: Sau khi Phật diệt độ có năm thời kỳ “năm trăm năm”, mà các pháp tu
khác nhau được thịnh hành.
1. Thời kỳ năm trăm năm đầu: Học tuệ kiên
cố.
2. Thời kỳ năm trăm năm thứ hai: Học định
kiên cố.
3. Thời kỳ năm trăm năm thứ ba: Đa văn đọc
tụng kiên cố.
4. Thời kỳ năm trăm năm thứ tư: Tạo lập
chùa tháp, tu phước sám hối kiên cố.
5. Thời kỳ năm trăm
năm thứ năm: Những pháp cao siêu ẩn chìm, chỉ thực hành một ít thiện pháp.
Ngày nay, chính là thời kỳ năm trăm năm
thứ 4, ngài chỉ ra rằng người muốn hành Phật đạo thông qua tu phước sám
hối để diệt tội, nhưng các pháp thực hành sám hối không bằng niệm Phật.
Kinh Quán vô lượng thọ có dạy: “Nếu xưng danh hiệu Di-đà trong một niệm,
thì diệt được tội sanh tử trong 80 ức kiếp”. Một niệm còn như vậy, huống
chi người niệm nhiều. Như vậy, người chuyên tu niệm Phật tức là thường sám
hối. Vì vậy, chúng ta có thể biết được đây chính là hành nghiệp thích ứng
với căn cơ trong đời mạt pháp hiện nay.
Từ quan điểm trên, ngài dựa vào giáo pháp
của Phật phân ra hai môn: Thánh đạo và Tịnh độ.
1.
Thánh đạo môn: Là pháp đoạn trừ hoặc nghiệp để chứng lý, nhập
Thánh đắc quả.
2.
Tịnh
độ môn: Là xưng danh hiệu Phật, pháp này nương vào bổn nguyện của Phật mà
được vãng sanh Tịnh độ.
Trong đó, pháp môn Thánh đạo thì cách Phật
đã xa. Vả lại, lý đó rất sâu xa dẫn đến người độn căn trong đời mạt pháp
này không thể giải ngộ. Thánh đạo môn có phân biệt hai thừa: Tiểu và Đại.
Đại thừa nói về chơn như thật tướng “lý không đệ nhất nghĩa”. Lý sâu xa
này thì chúng ta chưa từng để tâm đến. Tiểu thừa cho rằng chẳng vào kiến
đạo, tu đạo để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử và năm thượng phẩm kiết sử thì
không chứng đắc được quả A-na-hàm và A-la-hán. Ngày nay ở đời mạt pháp,
không thấy ai có khả năng đoạn và chứng như vậy. Trong Tịnh độ môn, giả sử
có người suốt đời tạo ác nghiệp, nhưng đến khi lâm chung người ấy niệm
danh hiệu Phật mười lần liên tục thì tất cả tội chướng đều tự nhiên tiêu
diệt, quyết định sẽ được vãng sanh. Cho nên, có thể biết Tịnh độ môn là
pháp môn thích ứng với những người có căn tánh mê mờ hay tạo ác nghiệp vào
thời nay. Ngài Đạo Xước phân biệt hai môn: Thánh và Tịnh là nương vào
thuyết hai con đường khó và dễ của ngài Đàm Loan mà nói. Song, ngài lại đề
xuất vấn đề thời cơ mà luận cái dụng của hai môn hợp hay không hợp để thúc
đẩy thêm chủ trương giáo hóa của mình.
Đạo Xước chấp nhận Phật có ba thân: Pháp
thân, Báo thân và Hóa thân; còn Tịnh độ có hai: Báo độ và Hóa độ mà không
thừa nhận Tịnh độ của Pháp thân. Lấy Phật Di-đà làm Báo thân, Cực lạc Tịnh
độ làm Báo độ mà trở lại luận phá các thuyết của các vị trước cho rằng
Di-đà là Hóa thân, Cực lạc là Hóa độ. Nhưng Báo thân chẳng thường trú nên
không được công nhận. Ngài dựa vào lời văn trong kinh “Quan
Âm thọ ký”
có nói về Phật Di-đà cũng nhập Niết-bàn, hiểu rõ chính là nói: Mỗi khi thể
Báo thân không còn thì tướng theo đó cũng ẩn mất.
Đối với niệm Phật tam-muội, ngài rộng dẫn
trong các kinh để nói lên lợi ích và công đức của tam-muội ấy. Nghĩa là,
tu tam-muội này thì chắc chắn thấy Phật, sau khi trút hơi thở cuối cùng
được sanh về cõi Phật. Niệm Phật tam-muội không những trừ tam độc (tham,
sân, si), mà còn diệt được tất cả nghiệp chướng trong đời quá khứ và vị
lai. Tuy ngài công nhận các hạnh vãng sanh khác, nhưng chỉ chọn một hạnh
niệm Phật là con đường trọng yếu của Tịnh độ, mà chuyên cần tu một hạnh
này. Lại nữa, ngài cho rằng niệm Phật tam-muội là miệng niệm đồng thời tâm
theo dõi. Hơn nữa, với sự giải thích ở mười niệm, ngài cho rằng phải ghi
nhớ liên tục thì mới đúng lý.
3. Tịnh độ luận của
các học giả Nhiếp luận.
Đạo Cơ, Pháp Thường v.v… lấy Nhiếp luận làm tông, do Nhiếp
đại thừa luận giảng giải các tướng Tịnh độ.
Ngài Đạo Cơ, người Đông Bình tỉnh Sơn
Đông, hành cước đến Bành Thành, Giang Tô. Ngài đến Tĩnh Tung học Nhiếp
luận, rồi trở về Thành Đô ở chùa Phước Thành. Vào tháng 2 năm thứ 11 niên
hiệu Trinh Quán (637 TL), ngài viên tịch, hưởng thọ 60 tuổi. Sách Ngài
soạn có: “Nhiếp
đại thừa nghĩa chương” 14 quyển, “Tạp
tâm luận huyền chương tinh sao”
8 quyển. Trong “Nhiếp
đại thừa nghĩa chương” quyển 14 có lập về nghĩa Tịnh độ. Nghĩa của pháp môn Tịnh
độ nói chung được phân thành hai loại:
1. Báo Tịnh độ:
Tướng của Báo độ là cõi thật tu, thật chứng, tức là Tự thọ dụng. Trong
này, bao gồm cả Tha thọ dụng Tịnh độ.
2. Hóa Tịnh độ: Là cõi Tịnh độ trong sự
hiểu biết của hàng Nhị thừa, phàm phu.
Ngài không lập Pháp thân Tịnh độ, Pháp
tánh là tịch nhiên, không tướng, bình đẳng; chân lý trạm nhiên. Từ đó,
chứng được Như Như, không còn có xứ sở nào chứng nữa cả.
Ngài Pháp Thường (người Nam Dương thuộc
tỉnh Hà Nam) là môn nhơn ngài Đàm Diên, ở chùa Phổ Quang, Trường An, tuyên
dương rộng rãi Nhiếp luận. Vào tháng 6 năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán
(645 TL), ngài viên tịch, hưởng thọ 79 tuổi. Ngài lấy Nhiếp luận để giải
thích thuyết Tịnh độ, lập thuyết Tứ độ (bốn cõi). Trí Nghiễm đệ tử của
ngài cũng lập tương tự như vậy. Cõi Tịnh độ trong “Hoa
nghiêm khổng mục chương”17,
của ngài Trí Nghiễm trước tác, được nêu ra:
1. Hóa Tịnh độ: Là cõi Tịnh độ hóa hiện ở
các phương.
2. Sự Tịnh độ: Là cõi Tịnh độ do các chất
báu tạo thành ở các phương.
3. Thật báo Tịnh độ: Là sự thành tựu của
các Lý và Hạnh ... Do đó, gọi “Tam không” là Môn (cửa), là những con đường
ra vào Tịnh độ.
4. Pháp tánh Tịnh độ: Tức là Chơn như,
nương vào căn bản của vô trụ mà lập tất cả các pháp.
Trong đó, ngài công nhận Pháp tánh Tịnh độ, e rằng ở đây chịu
sự ảnh hưởng của phái Địa luận học.
Ngài Đạo Nghi18 ở núi Chung Nam, thịnh
xướng Tứ phần
luật.
Xưa nay, mọi người tôn xưng ngài là Tổ Nam sơn tông. Ngài soạn các sách: Hành sự sao, Giới sớ v.v…
làm sáng tỏ Luật tạng. Ngài lại tham gia vào “Trường dịch” của ngài Huyền
Trang. Ngài viên tịch vào tháng 10 năm thứ 2 niên hiệu Càn Phong, thọ 72
tuổi. Ngài lấy hai môn: Khai, Hiệp giải thích thuyết tướng Tịnh độ và Uế
độ. Khai môn lập ra bốn loại Tịnh độ:
-
Pháp
tánh Tịnh độ: Là nơi cư trú của Pháp thân.
-
Thật
Báo độ: Là nơi cư trú của thân Tự thọ dụng.
-
Sự
Tịnh độ: Là nơi cư trú của thân Tha thọ dụng.
-
Hóa
Tịnh độ: Là nơi cư trú của Hóa thân.
Hiệp môn lập ra hai độ:
-
Báo
độ: Là nơi cư trú của Pháp thân Tự thọ dụng và Tha thọ dụng.
-
Hóa
độ: Là nơi cư trú của Hóa thân Phật.
Sự kiến lập Hóa độ không phân biệt phương hướng và xứ sở, tại
cõi Báo độ hiện lên tướng của Trần. Gọi là Hóa độ. Tâm tịnh chiêu cảm tức
là Tịnh độ hóa hiện, tâm Uế chiêu cảm tức Uế độ hiện ra. Những cõi này đều
có thời gian mà thành.
Ca Tài, sự tích về ngài không được rõ lắm
nhưng được biết ngài ở chùa Hoằng Pháp, Trường An giảng Nhiếp luận; sau
qui hướng về Tịnh độ. E rằng so với Thiện Đạo, ngài là thế hệ đi trước một
khoảng thời gian ngắn. Sách ngài trước tác có “Tịnh
độ luận”
(3 quyển). Sách này nói rõ cõi và thân Phật Di-đà với Nhân và Hạnh vãng
sanh. Đồng thời, ngài cổ súy thời giáo cần phải phù hợp với hoàn cảnh.
Ca Tài phân ra Phật có ba thân, cảnh giới
cũng có ba cõi:
1. Pháp thân Tịnh độ: Là chỗ ở của Pháp
thân; Ngài đã phối hợp ba đại: Thể, Tướng và Dụng.
2. Báo thân Tịnh độ: Là chỗ ở của Báo
thân; có hai cõi:
a. Thật Báo độ: Người và cõi này đồng thể;
chỉ có Phật và Phật mới nhìn thấy nhau.
b. Sự dụng độ: Người và cõi này là hai thể
khác nhau, từ Sơ địa trở xuống tùy theo kiến giải của mình mà cảm nhận.
3. Hóa thân Tịnh độ: Là chỗ ở của Hóa thân; cũng có hai nơi:
a. Thường tùy hóa: Cõi Tịnh độ hóa hiện từ
hạnh lợi tha.
b. Bỗng nhiên hóa hiện: Từ Thường tùy hóa
lại hiện ra Hóa thân làm người trong cõi đó; như ấn ngón chân xuống đất
Tịnh độ hình thành cõi đó. Là cõi mà bậc “Hiện tiền địa” Bồ-tát và hàng
Nhị thừa phàm phu thấy được. Ngài cho rằng Tịnh độ Di-đà có đầy đủ cả ba:
Pháp, Báo và Hóa thân, mà đề xướng con đường thông suốt Báo và Hóa.
Đối với vấn đề tạo nhân sanh về Tịnh độ, Ca Tài phân thành
hai nhơn: Thông và Biệt.
1. Thông nhơn: Nhơn Tịnh độ cảm thông ba
đời mười phương.
2.
Biệt nhơn: Nhân biệt cảm về Tây phương Tịnh độ. Biệt có hai:
a. Sở cầu và Năng cầu. Sở cầu lại có hai:
- Lấy một phương làm mục đích để cầu vãng
sanh Tây Phương.
- Riêng niệm một vị Phật để làm bậc thầy
mô phạm; cầu làm đệ tử của Ngài, thân cận cúng dường.
b. Năng cầu: Là nhơn hành của Tịnh độ; có
6 loại:
- Niệm danh hiệu Phật A-di-đà: có Tâm niệm
và Khẩu niệm. Tâm niệm có hai: Quán tưởng sắc tướng Phật, nhớ nghĩ đến trí
tuệ Phật.
- Lễ bái: Quay mặt về phía Tây, nghĩ nhớ
đến Phật A-di-đà mà xưng danh hiệu Ngài, năm vóc sát đất, tụng “Thập
nhị lễ văn”19
của ngài Long Thọ.
- Tán thán: Một lòng tán thán đức Phật
A-di-đà, nguyện sanh Tịnh độ; tụng kệ Dị hành phẩm và văn tán thán của
Vãng sanh luận.
- Phát nguyện: Phát nguyện cầu sanh Cực
lạc; hoặc nguyện vãng sanh cho chính mình, hoặc nguyện vãng sanh cho chúng
sanh; hoặc nguyện lâm chung cầu tiếp dẫn.
- Quán sát: Dựa vào Quán kinh và Vãng sanh
luận, quán tưởng Chánh báo cùng Y báo ở Tây phương.
- Hồi hướng: Hồi hướng công đức của mình
cho chúng sanh cùng sanh về Tịnh độ.
Ngài nương vào năm pháp môn niệm, gia thêm một hạnh niệm
Phật, thành sáu để vãng sanh Tịnh độ.
Ở trên, Ca Tài đã thuật hai nhơn Thông và
Biệt làm hành pháp cho người thượng căn tu tập. Nói về Hành pháp của người
trung và hạ căn, có chia ra năm loại:
-
Sám
hối những chướng đạo ác nghiệp từ vô thỉ đến nay.
-
Phát
tâm Bồ-đề.
-
Thường niệm danh hiệu Phật A-di-đà.
-
Đối
với tổng tướng, quán sát thế giới Cực lạc.
-
Hồi
hướng công đức tu tập mà nguyện sanh về quốc độ kia.
Ngài giải thích tâm Bồ-đề có ba nghĩa: Đoạn trừ hết thảy ác
nghiệp, tu tất cả thiện nghiệp và hóa độ tất cả chúng sanh. Ngài lại giải
thích rằng: Thường niệm danh hiệu Phật A-di-đà, còn hình thức khác là
trang nghiêm đạo tràng bằng cách thắp hương, xông trầm, rãi hoa, đốt đèn
đầy đủ; an trí tượng Phật Di-đà quay mặt về phía Đông (mục đích để người
lễ Phật hướng về phía Tây), bảy ngày hoặc mười ngày xét tư tưởng của mình
trong khi ngủ nghỉ để diệt trừ sự tán loạn; ngoại trừ khi đại tiểu tiện và
trong lúc ăn. Một lòng chuyên niệm, nếu thấy đứng lâu mỏi mệt, nên quay
mặt đi nhiễu, chỉ chuyên tâm niệm Phật. Đúng thời gian qui định, hành giả
ra khỏi đạo tràng. Sau đó, mỗi khi đi đứng nằm ngồi, đều niệm danh hiệu
Phật.
Các học giả Nhiếp luận lấy hàng phàm phu
vãng sanh vào Tịnh độ Di-đà làm thuyết “Biệt thời ý”, chẳng qua chính là
pháp môn hướng dẫn mọi người phát sanh tín tâm. Thuyết này được lưu hành
từ đời nhà Tùy trở về sau, làm chướng ngại đến sự hoằng dương rộng rãi
pháp môn Tịnh độ rất lớn.
4. Cõi phàm phu trong
luận Báo độ của ngài Thiện Đạo.
Thiện Đạo người Tứ Châu tỉnh An Huy, sanh vào năm thứ 9 niên hiệu Đại
Nghiệp (613 TL). Xuất gia từ nhỏ, thấy cảnh biến tướng Tây phương (phong
cảnh Tây phương), ngài vô cùng cảm động, từ đó mong cầu vãng sanh Tịnh độ.
Trong những năm niên hiệu Trinh Quán, ngài đến Tinh Châu, Sơn Tây, yết
kiến ngài Đạo Xước, nhơn đó rõ được pháp niệm Phật vãng sanh. Sau đó, ngài
quay về Trường An hóa độ dân chúng và chép kinh A-di-đà có đến
vạn quyển, vẽ 300 bức họa về phong cảnh Tây phương. Ban đầu, ngài ở chùa
Ngộ Chơn tại Chung Nam, thường giảng pháp ở chùa Quang Minh tại Trường An.
Tuổi xế chiều, ngài ở chùa Thực Tế, Trường An, đốc thúc học trò kiến tạo
động ở chùa Phụng Tiên, cũng từng du hóa khắp Tương Châu tỉnh Hồ Bắc.
Trong đời sống hàng ngày, ngài chẳng màng đến danh lợi, thường đi khất
thực, y bát luôn mang theo bên mình, trì giới rất nghiêm khắc. Đối với mọi
người, ngài đem đến cho họ một tình thương bao la, được mọi người tin yêu
hâm mộ.
Lấy Trường An làm trung tâm, mọi tầng lớp trong xã hội đều được ngài
cảm hóa. Họ cũng nhàm chán sự vui đùa, có ý xả thân để cầu vãng sanh. Vào
ngày 14 tháng 3 năm thứ 2, niên hiệu Vĩnh Long (682 TL), ngài viên tịch,
hưởng thọ 69.
Sách của Ngài hiện nay còn lưu lại sáu bộ, 10 quyển: “Quán
kinh sớ” 4 quyển, “Vãng
sanh lễ tán”
1 quyển, “Pháp
sự tán” 2 quyển, “Bát-nhã
tán” 1 quyển, “Quán
niệm pháp môn” 1 quyển, “Y
kinh minh ngũ chủng tăng thượng duyên nghĩa”
1 quyển.
Đời Tùy về sau, thuyết Di-đà Tịnh độ có thể tóm lược làm ba phần:
1. Lấy cõi Tịnh độ kia làm cõi nước thô
tịnh, thừa nhận sự vãng sanh của phàm phu. Tức là các ngài: Tịnh Ảnh, Trí
Khải và Cát Tạng đã chủ xướng.
2. Lấy cõi kia làm Báo độ, không chấp nhận
phàm phu vãng sanh. Tức chủ trương của các ngài thuộc Nhiếp luận.
3. Lấy cõi Tịnh độ kia thông cả hai cõi
Báo độ và Hoá độ: Địa Thượng Thánh nhơn thì sanh vào Báo độ; hàng phàm phu
Nhị thừa thì sanh vào Hóa độ. Tức là theo thuyết của các ngài: Ca Tài,
Nguyên Hiểu v.v…
Ba thuyết trên đều không thừa nhận phàm
phu vãng sanh Báo độ. Đến đời Thiện Đạo, ngài cảm nhận được điều đó nên
chủ xướng luận “Phàm phu vào Báo độ”. Luồng sinh khí đó làm lay động đến
tận gốc chuẩn mực đã định xưa nay mà phát huy tôn chỉ lập giáo của Tịnh
độ. Thiện Đạo lấy Di-đà Tịnh độ làm Báo độ, hàng phàm phu tội lỗi cũng
được sanh vào Báo độ kia. Chỗ luận cứ của ngài là nhận thấy được sự lớn
mạnh của bổn nguyện lực Như Lai ở chỗ Tăng thượng duyên. Thuyết này các
ngài: Đàm Loan, Đạo Xước tuy đã đề xướng dẫn đường, nhưng ảnh hưởng ở ba
thuyết trên. Xưa nay, sứ mệnh Tịnh độ giáo tạm thời mai một. Cho nên, lớn
tiếng tận sức chủ xướng trợ duyên mạnh mẽ bổn nguyện của Phật, để khai mở
sự mê mờ của các học giả, đồng thời cũng khiến cho mọi người lóe ra tia
sáng hy vọng. Ngài (Thiện Đạo) lại dựa vào tư tưởng mạt pháp của trào lưu
thời đại, lấy Quán kinh v.v… làm pháp vãng sanh Tịnh độ. Đặc biệt, thiết bày
pháp môn của hàng phàm phu trong đời ác ngũ trược để chúng sanh hiện đời
mạt pháp thực sự tin rằng: Nếu chẳng nương vào pháp này thì không được
giải thoát. Đối với đại chúng, ngài cũng tuyên bố như vậy. Ở trong quyển
đầu của “Quán
kinh sớ”,
luận chứng là chúng sanh trong đời vị lai bị giặc phiền não làm hại, nên
mới nói Quán kinh này.
Tịnh độ giáo không vì Thánh nhơn mà thiết lập, bởi hàng Địa thượng Bồ-tát
đã lên địa vị bất thối, tuy ở trong sanh tử cũng không bị sanh tử làm ô
nhiễm mê hoặc. Với lòng đại bi, đức Như Lai ứng hiện ở đời đặc biệt gia hộ
những chúng sanh đau khổ; người còn trên bờ không cần phải lưu tâm đến sự
cứu giúp, còn người đang chìm dưới nước thì không thể không cứu vớt. Chúng
ta là hàng phàm phu thường bị lưu chuyển, lặn hụp trong biển sanh tử, vì
thế đức Như Lai phát nguyện đại bi mà mở bày pháp vãng sanh Tịnh độ. Tất
cả chín phẩm trong Quán kinh đều nói về sự vãng sanh của hàng phàm phu.
Bổn nguyện của đức Di-đà là vì mục đích cứu vớt hàng phàm phu chúng ta. Ở
đó, Phật kiến lập Báo độ, chúng ta được sanh về là lẽ đương nhiên. Người
muốn phủ định điều đó là người không hiểu rõ tôn chỉ lập giáo Tịnh độ. Do
đó mà đánh thật đau vào sự thấy sai lầm của họ.
Phàm phu sanh về Báo độ, tuy nhờ sức bổn
nguyện lực của Như Lai mới có thể vãng sanh, nhưng trường hợp không được
vãng sanh là do không nương vào bổn nguyện ấy. Ở đây, ngài nói về an tâm,
khởi hạnh và tác nghiệp là pháp vãng sanh Tịnh độ.
-
Khởi hạnh: Là mỗi mỗi ở thân, khẩu, ý khởi hạnh.
a. Thân nghiệp: Lễ bái Phật A-di-đà.
b. Khẩu nghiệp: Khen ngợi thân tướng của
đức Phật, hết thảy Thánh chúng thân tướng sáng chói, cùng với sự trang
nghiêm rực rỡ của cõi Tịnh độ.
c. Ý nghiệp: Nhớ nghĩ, quán sát thân tướng
quang minh của đức Phật và Thánh chúng, cùng với sự trang nghiêm sáng chói
của cõi Tịnh độ.
-
An
tâm:
a. Tâm chí thành: Tức ở trong tâm chơn
thật mà khởi ra ba hành nghiệp.
b. Thâm tâm: Tâm tin tưởng sâu xa:
- Tín cơ: Tin biết thân mình là ở trong
tội ác sanh tử, lưu chuyển trong ba cõi mà không có duyên ra được.
- Tín pháp: 1- Dựa vào người để lập lòng
tin. Đối với Phật Di-đà, Thích Ca và chư Phật mà lập lòng tin quyết định
sâu xa. 2- Dựa vào hạnh để lập lòng tin. Đối với hạnh vãng sanh mà lập
lòng tin quyết định sâu xa.
c. Tâm phát nguyện hồi hướng: Là hồi hướng tất cả thiện căn
mà mình tu tập với tâm nguyện vãng sanh:
- Vãng sanh hồi hướng: Lấy chỗ tu thiện
căn của mình và người, thảy đều hồi hướng trong tín tâm chân thật, mà
nguyện sanh về quốc độ kia.
- Hoàn tướng hồi hướng: Đã sanh vào nước
kia lại khởi lòng đại bi trở vào sanh tử giáo hóa chúng sanh.
3.
Tác nghiệp: Nương vào bốn pháp tu, cần phải thực hành sách
tấn hàng ngày.
a. Tu cung kính: Lễ Phật nên biểu lộ thái
độ cung kính, ân cần, tôn trọng.
b. Tu vô dư: Thường xưng danh hiệu Phật A-di-đà; theo dõi,
nhớ nghĩ, lễ bái tán thán. Cũng chuyên cần lễ niệm đức Phật và Thánh chúng
trong cõi Tịnh độ đó … không để xen lẫn các nghiệp khác.
c.
Tu vô gián: Tu hành ba nghiệp. Cho đến phải hồi hướng phát
nguyện đều không gián đoạn, phải liên tục.
d.
Tu trường thời: Trong tất cả mọi lúc tâm phải thực hành liên
tục, thề không dừng nghỉ.
Nói khái quát, ngài Thiện Đạo là vì hàng phàm phu trong đời
mạt thế ô trược, tức vì toàn thể chúng ta mà đặc biệt mở bày pháp môn Tịnh
độ giáo. Đức Như Lai thấy tất cả chúng ta đầy dẫy phiền não, hàng ngày tạo
tội ác, hiện đang chìm đắm trong bể khổ sanh tử, không thể làm ngơ, Ngài
phát đại thệ nguyện đối với bờ bên kia kiến lập cõi Tịnh độ trang nghiêm
bằng thất bảo, dùng con thuyền thệ nguyện rộng lớn để tiếp dẫn chúng sanh.
Nếu không nương vào pháp này, sự xuất ly giải thoát của chúng ta vĩnh viễn
không có kỳ vọng. Ngài Thiện Đạo tự mình tin sâu xa vào điều đó. Nên đối
với mọi người, ngài cũng đem hết sức mình để tuyên truyền. Hàng phàm phu
mà vào cõi Báo độ phải nói là đều xuất phát từ nơi này, do quán niệm ở đây
mà xuyên suốt được. Ngài không như những nhà chú thích về văn nghĩa của
kinh điển Tịnh độ, mà là đem vấn đề xuất ly giải thoát chơn thật của chính
mình thành khẩn kiểm thảo. Cho nên, trong các sách mà ngài soạn, ta thấy
tràn đầy niềm tin nhiệt thành với những thể nghiệm chân thật.
5. Các
Học giả Pháp tướng đối với Tịnh độ luận.
Năm thứ 19 niên hiệu
Trinh Quán, ngài Huyền Trang từ Ấn Độ trở về, bước đầu khai mở sự nghiệp,
gọi là “Tân dịch”. Chuyên tuyên dương học phong Du-già Duy thức. Nhơn đây,
giáo nghĩa Tịnh độ chịu sự ảnh hưởng không ít. Ngài lấy Tịnh độ Di-đà làm
Tha thọ dụng độ, Bồ-tát Tam địa20 bắt đầu thấy xuất hiện, phàm phu hạ phẩm
không được vãng sanh. Vả lại, ngài khuyên mọi người nên cầu sanh lên cõi
trời Đâu-suất. Đâu-suất đồng là Dục giới. Ở đó, thực hành dễ thành. Như
đây, lấy vãng sanh Tây phương làm “biệt thời ý”, kỳ vọng vãng sanh về
Đâu-suất. Cho nên, đệ tử của ngài cũng đều hướng về cầu sanh cõi Đâu-suất;
sự sùng bái Di-lặc bèn trở thành một kiểu mẫu quy phạm của các nhà Pháp
tướng.
Ngài Khuy Cơ, người
Trường An, năm lên 17, nhập môn ngài Huyền Trang. Đến 25 tuổi, tham gia
vào lĩnh vực dịch thuật. Năm 51 tuổi, ngài viên tịch được người đương thời
tôn xưng là “Huyền Ân đại sư”. Ngài soạn thuật rất nhiều gồm có: “Tịnh
độ khuyết hệ hiện truyền hữu A-di-đà kinh sớ” 1 quyển, “A-di-đà
kinh thông tán sớ” 3 quyển, “Tây phương yếu quyết thích nghi thông quy”
1 quyển.
Khuy Cơ cho rằng cõi
thân Phật có 4 độ:
1. Pháp tánh độ: Cùng
nương vào thân tự tánh, lấy chơn lý làm Thể, mà nghĩa có sự sai khác với
Tánh và Tướng. Lấy rõ nghĩa Tướng làm thân tự Tánh. Dựa vào nghĩa của Pháp
tánh, gọi là Pháp tánh độ.
2. Tự thọ dụng độ: Cùng
vô lậu tịnh thức của Đại viên cảnh trí tương ứng. Do tu tập tự lực trong
quá khứ, nhân duyên đã chín muồi đạt đến cõi Phật vô lậu thuần tịnh.
3. Tha thọ dụng độ: Sự
Bình đẳng tánh trí, lực Đại từ bi của Phật, do sự tu tập lợi tha trong quá
khứ, nhơn duyên đã chín muồi đạt đến cõi Phật Vô lậu thuần tịnh, tuỳ thuộc
vào Thập địa Bồ-tát, nên cõi Phật có sự biến đổi.
4. Biến hoá độ: Thành
tựu được là nhờ gia vào trí lực Đại từ bi của Phật. Do sự tu tập lợi tha
trong quá khứ nhơn duyên thành thục đạt đến cõi Phật Vô lậu tịnh uế; tuỳ
vào nơi chưa lên được địa hữu tình mà hóa ra cảnh giới Phật. Vả lại, ngài
cho rằng Tịnh độ Di-đà là Duy báo, cõi Tha thọ dụng, mười niệm vãng sanh
là “Biệt thời ý”. Ngài lại lấy thiện căn cùng đại nguyện, tức tâm vô
thượng Bồ-đề làm “Nhân’’ đểõ đến bốn cõi. Bởi đương thời đệ tử của ngài
Huyền Trang và các nhà học giả khác, số người này luận về cảnh giới thân
của Phật A-di-đà rất nhiều. Hoặc “Hữu vi duy báo”, hoặc thuyết “ Hữu vi
thông báo hóa”.
Sa-môn Hoài Cảm ở chùa
Thiên Phước, Trường An. Khi còn nhỏ, Ngài không tin niêïm Phật chơn chánh
sẽ được vãng sanh An dưỡng, bèn tìm gặp ngài Thiện Đạo để chất vấn sự nghi
ngờ. Do đó, nương lời dạy mà nhập vào đạo tràng tu học, ngài niệm Phật
trải qua 37 ngày không thấy có chứng nghiệm, tự hối hận tội lỗi của mình
quá sâu dày, liền nghĩ đến cái chết bằng cách tuyệt thực. Ngài Thiện Đạo
thấy vậy can gián rồi khuyên tinh tấn tu tập. Sau 3 năm niệm Phật, ngài
cảm được những luồng hào quang vi diệu của Phật chiếu đến, bèn chứng được
tam-muội. Lúc lâm chung, ngài được chư Phật đến tiếp dẫn, liền chắp tay
hướng về phía Tây an nhiên thị tịch.
Căn cứ vào sách của
ngài trước thuật, chúng ta hiểu được ngài thuộc môn đồ học phái “Pháp
tướng”; năm xuất gia, thị tịch và hưởng thọ bao nhiêu tuổi đều không rõ.
Sách Ngài soạn có “Thích Tịnh độ quần nghi luận”
7 quyển.
Hoài Cảm phân chia cõi
Phật thành bốn, gồm
Pháp tánh, Tự thọ dụng,
Tha thọ dụng và Biến hoá. Đối với Di-đà được ngài xếp vào Tịnh độ. Ngài
đưa ra 3 nghĩa: Duy báo, Duy hóa và Thông báo hóa. Rồi uyển chuyển luận
thuật tiêu chỉ chủ yếu của mình. Thừa nhận bổn nguyện lực Phật, cho rằng
hàng phàm phu có thể sanh vào Báo độ. Ở điểm này, đại thể cùng tương đồng
với ngài Thiện Đạo. Riêng ngài Thiện Đạo cho rằng ngay chính hàng phàm phu
cũng đắc được chơn; tức sanh vào Như Lai Tịnh độ. Ngài dựa vào lý sở biến
Duy thức, phân biệt sở biến Như Lai với sở biến phàm phu. Sở biến phàm phu
cho rằng hàng phàm phu tuy sanh vào cõi kia (Như Lai Tịnh độ), nhưng cũng
không thấy được cõi Vô lậu thanh tịnh. Đó chính là điểm khác nhau lớn. Xưa
nay, người ta nhận định thuyết của ngài Thiện Đạo nói tóm lược là “pháp
môn khuyến hóa”; thuyết của Hoài Cảm là tóm gọn ở “Giải nghĩa môn” (pháp
môn giải nghĩa) .
V. TỊNH ĐỘ GIÁO TỪ GIỮA ĐỜI ĐƯỜNG TRỞ VỀ SAU
1. Truyền bá rộng rãi tín ngưỡng Tịnh độ.
Vào giữa đời nhà Đường,
mọi người hầu như không nghiên cứu hay luận thuyết về kinh điển Tịnh độ,
mà chỉ chuyên định hướng vào thực tiễn oai nghi, phép tắc tu hành. Các
ngài: Huệ Nhật, Thừa Viễn, Pháp Chiếu v.v… dạy dỗ hướng dẫn pháp môn
Bát-chu tam-muội; ngài Đại Hạnh, Đạo Cảnh v.v… chuyên khuyến khích xưng
niệm Phật; ngài Phi Tích chủ trương thuyết “niệm thông suốt ba đời chư
Phật”. Một thời pháp xưng niệm Phật được thịnh hành khắp nơi, cũng không
ít người hành trì pháp môn quán tưởng hình ảnh đức Phật và tụng kinh. Xem
trong bản đồ phân bố địa lý, số người ở Tinh Châu tỉnh Sơn Tây nguyện sanh
về Tây phương rất nhiều; kế đến là Trường An, Giang Chiết21.
Tại Chiết Giang, ngài Hoài Ngọc người Đan Khưu, trì giới tinh nghiêm, ngày
ăn một bữa và thường ngồi tụng xưng danh hiệu Phật 5 vạn biến. Trong đời,
ngài tụng kinh Di-đà đạt đến 30 vạn lần. Trong khi niệm Phật, cảm nhận được các vị
Thánh chúng ở phương Tây đến tiếp đón, hào quang của đức Phật chiếu sáng
rực khắp nhà, ngài liền nói kệ rồi vãng sanh.
Ngài Tề Hàn người Ngô
Hưng, chủ giới đàn chùa Hổ Khâu, ngài đã hòa vào “dòng nước” đạo tràng
niệm Phật thấy cảnh Tịnh độ mà viên tịch.
Ngài Biện Tú ở chùa
Khai Nguyên quận Ngô, thường nhớ nghĩ về Tịnh độ, mở rộng thuyết thực hành
“Tây phương hành vi đại thừa hữu tướng” làm chỗ tôn ngưỡng cho mọi người.
Ngài Thần Hạo ở chùa
Khai Nguyên, lúc về già tu ở pháp hội Tây phương.
Ngài Đạo Tuân ở núi Chi
Hình, Tô Châu, tạo tượng đức Phật Di-đà; chuyên tu về pháp môn Tịnh độ.
Ngài Huyền Thông ở
trong đạo tràng Huệ Nhật. Một hôm, ngài nghe bài kệ nói về bổn nguyện lực
Phật của một vị Tăng du phương, cảm được sự linh ứng mà vãng sanh.
Ngài Thiểu Khang người
Tấn Vân. Đầu niên hiệu Trinh Nguyên, ngài đến chùa Bạch Mã đọc được cuốn
sách “Hành
tây phương hoá đạo văn” của Thiện Đạo. Mừng quá, liền đến Ảnh đường22 thờ
ngài Thiện Đạo ở Trường An. Từ đó, nhận ra con đường chơn chính mà mình
phải đi; sau Ngài đến quận Mục tại thành nội, ngài khất thực được bao
nhiêu tiền đều tìm cách phủ dụ bọn trẻ và khuyên dạy chúng, nếu đứa nào
niệm Phật thì được ngài cho tiền. Thời gian sau, ngài đã kiến lập đạo
tràng Tịnh độ ở núi Ô Long, xây đàn tam cấp, quy tụ mọi người ngày đêm
hành đạo, xưng tán. Cứ đến ngày trai giới có hơn ba ngàn người về đây tu
học. Ngài ngồi trên toà cao để nam nữ đệ tử thấy diện mạo của mình, rồi
cao tiếng xướng niệm danh hiệu A Di-đà. Cứ một tiếng niệm thì một đức Phật
từ miệng ngài bước ra; tụng mười tiếng liên tục xuất hiện mười đức Phật
như một chuỗi ngọc châu. Niên hiệu Trinh Quán, năm thứ 21, từ thân ngài
phóng ra hào quang biến hoá sáng chói. Người đời sau tôn xưng ngài là “Hậu
Thiện Đạo”. Trong sách “Phật tổ thống ký”
liệt ngài là Tổ thứ 5 của Liên xã. Sách Ngài truyền lại có “Vãng
sanh tây phương Tịnh độ thụy ứng san truyện” 1 quyển, tác phẩm này
có sự cộng tác ghi chép của ngài Văn Thẩm; nội dung ghi những sự tích vãng
sanh từ ngài Huệ Viễn, Đàm Loan trở xuống gồm có 48 vị nam nữ xuất gia và
tại gia, riêng đời Đường chỉ có một truyện vãng sanh.
Ở Trường An, đặc biệt có Ngũ
hội niệm Phật đã một thời thịnh hành do ngài Pháp Chiếu lập ra. Trong Ngũ
hội niệm Phật mọi người suy tôn ngài là hậu thân Thiện Đạo, là bậc thầy mô
phạm.
Tiềm Chơn người Sóc Phương, Hạ Châu đến khi trút hơi thở cuối cùng bê tay
gối lên đầu, miệng niệm Phật Di-đà.
Hoằng Mãnh, người Lâm Hải, Chiết Giang. Từ nhỏ, Ngài niệm đức Bồ-tát Quán
Tự Tại được cảm ứng; sau đó nhập định vào cửa “Bất không”, nghe được âm
thanh Quán Thế Âm từ cảnh giới Ta bà và Phật Vô Lượng Thọ cảnh giới Cực
lạc. Lúc đó, toàn thân ông rợn chân lông rồi liền đảnh lễ thầy xin về chùa
Hải An, ngày đêm lễ sám trong mộng cảm ứng sự linh nghiệm rồi viên tịch.
Tri Huyền, người My Châu; vào năm thứ 5 niên hiệu Hội Xương (Đường Vũ
Tông), dựa vào sắc chiếu cùng các đạo sĩ đối đáp luận ở điện Lân Đức. Gặp
thời vua Vũ Tông phá hoại Phật giáo, ngài trở về nước Thục. Đến khi vua
Tuyên Tông khôi phục giáo pháp, ngài được cử lên làm chủ tọa Tam giáo. Sau
ngài tâu lên triều đình xin tu sửa các chùa hư hỏng. Ngài lại về trú ở núi
Đan Cảnh, Bành Châu tỉnh Tứ Xuyên, thường kỳ vọng được sanh về Tây phương
Tịnh độ. Vào thượng tuần tháng 2 năm thứ 2, niên hiệu Quảng Minh, ngài
linh tính biết mình sắp vãng sanh, đến tháng 7 năm đó, ngài viên tịch.
Lúc bấy giờ các tỉnh
Sơn Tây, Tinh Châu cũng là trung tâm tín ngưỡng Tịnh độ rất thịnh hành từ
đầu đời nhà Đường trở lại. Ngài Tăng Cảm chuyên tụng Quán kinh (kinh Quán vô lượng thọ)
và kinh A-di-đà.
Một hôm, ngài nằm mộng thấy thân mình mọc ra hai cánh, bên trái là Quán
kinh,
bên phải là kinh A-di-đà. Từ đó trong một ngàn ngày, cứ mỗi
ngày tụng 48 quyển, sau khi viên tịch sanh lên Thượng phẩm.
Ngài Huyền Vận ở chùa
An Lạc, Tinh Châu, được tượng A-di-đà hoá ra bảo ngài mang tượng vào núi
Thái Bạch; ngài bèn cảm ứng từ thân phóng ánh sáng báo hiệu điềm tốt vãng
sanh.
Ngài Thiện Kham đầu tiên ngài tin Tam giai giáo23, sau nhân xem Quán
kinh
mà quay về pháp môn Tịnh độ. Ngài tự tụng 3 vạn biến, vì chúng giảng 100
lần.
Ngài Quán Tháo bước
đầu tiên ngài tu thiền, nhưng sau bỏ thiền quay về pháp môn niệm Phật;
ngày đêm quán tưởng 3 chữ A-di-đà, tự soạn và thuật bộ sách “Tự
thích”
(2 quyển), làm cho Quán môn24 của mình ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Ngoài ra, ở Tứ Xuyên
mảnh đất đã sanh ra các ngài: Thừa Viễn, Pháp Chiếu, Tuyên Thập, Vô Tướng
v.v… Tại đây, các ngài đã đề xướng và hướng dẫn phương pháp “Niệm Phật
Thiền”. Các địa phương ở tỉnh Hà Nam và Sơn Đông v.v… Cũng có rất nhiều sự
tích về niệm Phật. Lại có các cư sĩ như Liễu Tử Hậu, Bạch Cư Dị v.v.. cũng
cầu sanh về Tây phương, làm bia văn tán thán Phật … . Vào thời này, số
người hướng về Tịnh độ rất nhiều.
Lại nói về tượng đức
Phật A-di-đà và cảnh biến tướng thế giới Cực lạc. Vào đầu đời nhà Đường
nhiều lần được thay đổi phong cảnh (biến tướng Cực lạc). Đến giữa đời
Đường trở về sau bị khép lại, nên trong văn hiến không thấy đề cập đến
nhiều; còn không giới hạn về việc đúc tượng Di-đà. Nói chung tất cả tượng
Phật cũng đồng như vậy. Từ lý do trên, chúng ta nhận thấy: dựa vào các vị
Thiền Tăng và ba tầng lớp giáo đồ Tam giai tông không lễ bái tượng Phật.
Họ lại dốc hết tâm chú trọng Đà-la-ni và tạo lập lưu hành việc chép kinh
vào tràng phan. Lại sự kiện hủy hoại Phật giáo của vua Võ Tông vào năm thứ
năm niên hiệu Ngũ Hội; phá chùa đập tượng Phật, như một cơn bão tố tràn
qua khiến cho các Tăng, Ni hoàn tục. Do vậy, Phật giáo đời Đường dần dần
đi đến chỗ suy yếu.
2. Pháp Bát-chu tam-muội của các ngài Huệ
Nhật, Thừa Viễn, Pháp Chiếu …
Ngài Huệ Nhật người Lai Châu tỉnh Sơn Đông. Lúc nhỏ, biết được ngài Nghĩa
Tịnh từ Ấn Độ trở về, trong lòng hâm mộ, kỳ hẹn sẽ noi theo. Niên hiệu Tự
Thánh năm thứ 19 (702 TL), ngài quyết định đi theo con đường này. Trải qua
3 năm lênh đênh trên biển mới đến được Ấn Độ, ngài đi chiêm bái thánh
tích, tìm kiếm bản gốc tiếng Phạn, học hỏi các thiện tri thức. Cứ như thế
trải qua 30 năm. Sau đó, ngài theo đường bộ vượt qua giữa Tuyết Lãnh, Hồ
Hương trở về cố quốc. Ngài đã nếm đủ mọi chua cay, sự thăng trầm của cuộc
đời và ngán ngẩm cõi Diêm-phù; ngài đi hỏi khắp các học giả rằng: Phương
nào có xứ sở hạnh phúc mà không có sự đau khổ? Mọi người đều khuyên cầu
vãng sanh Tịnh độ.
Đến nước Kiều-đà-la25,
ngài leo lên một ngọn núi lớn phía Đông bắc Vương Thành (có tượng Quán Âm)
nhịn ăn một lòng thỉnh cầu Quán Âm, mong sao được vãng sanh Tây phương,
đồng thời tạo cho cơ thể khoẻ mạnh tráng kiện để vượt qua dãy Lĩnh Đông.
Niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 7 (719 TL), ngài đến Trường An, vua Huyền
Tông ban cho hiệu “Từ Mẫn Tam Tạng”. Sau đó, ngài trở về chùa Võng Cực ở
Lạc Dương; rồi du hóa đến Quảng Châu. Niên hiệu Thiên Bảo năm thứ 7 (748
TL), ngài viên tịch, hưởng thọ 69 tuổi. Trước thuật của ngài gồm có:
“Vãng sanh Tịnh độ tập”
3 quyển, “Bát-chu tam-muội tán”, “Nguyện sanh Tịnh độ tán”, “Tây phương tán”.
Huệ Nhật và Thiện Đạo
đồng chọn một pháp môn Tây phương Tịnh độ làm con đường tắt cho sự xuất ly
giải thoát, cổ suý pháp môn xưng niệm danh hiệu Phật. Lấy tận trên cùng
một pháp môn xuống đến mười niệm. Người niệm Phật nhất định sanh về Tịnh
độ; đặc biệt chú trọng thực hành Bát-chu tam-muội, khuyến khích kỳ vọng
thấy Phật. Có thể nói trong đạo Bồ-đề có tám vạn bốn ngàn pháp môn; chỉ có
pháp môn Tịnh độ đơn giản, công phu dễ thành.
Quyển đầu “Vãng sanh Tịnh độ tập”,
trước tiên trình bày sự nhận thức dị kiện của đồ chúng Thiền tông. Lấy
Giáo và Lý bình luận điều đó khiến chúng ta biết được sự sai khác ấy.
Quyển hai dẫn chứng rộng rãi về lời dạy của các bậc Thánh, thành lập chánh
tông niệm Phật Tịnh độ. Quyển ba lý giải sự nghi ngờ còn ứ đọng xưa nay
trong giáo pháp; đo lường mức độ để chữa trị bệnh trì trệ cho sự thực hành
xuất ly. Song thời gian gần đây, người ta phát hiện chỉ còn sót lại một
quyển thứ nhất. Đối với ngài không những chủ xướng Thiền, Tịnh song tu, mà
còn nỗ lực kêu gọi mọi người cầu sanh Tịnh độ, với điều kiện thiết yếu cần
phải trì giới, đoạn tửu nhục và không ăn ngũ tân (hành, hẹ, nén, tỏi, hưng
cừ), tu cả Giới, Thiền, Tịnh.
Ngài Thừa Viễn người
Miên Trúc tỉnh Tứ Xuyên. Năm 24 tuổi, đến núi Ngọc Tuyền, Kinh Châu gặp
ngài Huệ Chơn xin xuống tóc xuất gia; nghe theo lời dạy của thầy, ngài vào
Hành Sơn, Nam Nhạc. Tại đây, quan hệ với các nơi để học kinh luật. Nghe
tin Huệ Nhật đang ở Quảng Châu, ngài đến đó để cầu xin giáo pháp. Được
ngài Huệ Nhật dạy rằng: “Siêu nhiên chỉ hành thiện là không thể được, nên
dựa vào kinh Vô lượng thọ để tu Niệm Phật tam-muội, lấy đó để cứu giúp mọi
người. Từ đây chấm dứt các duyên, chuyên tu Tịnh độ”. Niên hiệu Thiên Bảo
năm đầu (742 TL), ngài trở lại Hành Sơn, chọn phía tây nam của núi để
thành lập tinh xá lấy tên “Đài Di-đà”; ở đây, chỉ an trí kinh tượng. Về
phần ngài thì ăn mặc giản dị, tinh tấn khổ hạnh tu đạo. Do vậy bèn phát ra
Tam-muội thấy được cảnh giới của các bậc Thánh. Một hôm ở Lô Sơn, ngài
Pháp Chiếu nhập định đến thế giới Cực lạc, thấy một vị Tăng mang y thô sơ
đứng hầu đức Phật. Ngài hỏi là người nào thì nghe đức Phật dạy đó là Nam
Nhạc Thừa Viễn. Xuất định, ngài nhắm hướng Hành Sơn đi đến nơi ở Thừa
Viễn; gặp nhau vừa mừng, vừa cảm động vơi nước mắt. Rồi ngài thọ giáo Thừa
Viễn. Xa gần đạo, tục cũng nghe tin này. Sau đó, ngài xây dựng chánh điện
oai hùng, tạc kinh tượng và được sắc tứ tấm biển “Di-đà tự”. Vào tháng 7
năm thứ 18 niên hiệu Trinh Nguyên (802 TL), sau khi cáo biệt các đệ tử,
ngài viên tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Nơi ngài ở được mọi người gọi là đạo
tràng “Bát-chu”, là nơi để giáo hoá dẫn dắt tứ chúng; học trò trước sau
thọ pháp với ngài lên đến cả ngàn người. Trong quyển “Phật
tổ thống ký”
liệt ngài là Tổ thứ 3 tông Liên xã.
Ngài Pháp Chiếu, sự
tích về ngài thì nhiều, nhưng không được rõ lắm; có nơi cho rằng ngài là
Sa-môn Lương Hán, chỗ khác nói ngài là người Nam Lương. Ban đầu từ Đông
Ngô sang Lô Sơn, hâm mộ những kỳ tích của ngài Huệ Viễn để lại, ngài lập
hội “Đạo Tràng Tây Phương” chuyên tu Thiền quán. Một hôm, nhập định thấy
Thừa Viễn hầu bên đức Phật, Ngài liền giật mình tỉnh giấc. Trong những năm
nhằm niên hiệu Vĩnh Thái (765–766 TL), Ngài đến Hành Sơn tôn Thừa Viễn làm
thầy, rồi thọ pháp môn Tịnh độ. Căn cứ vào sách của ngài soạn trong quyển
“Tịnh độ ngũ hội niệm Phật tụng kinh quán hành nghi”
có ghi rằng: Vào ngày rằm tháng 4 năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Thái (766 TL),
tại “Đài A-di-đà” ở Nam Nhạc, ngài phát nguyện rộng lớn, thề xả thân vì
đạo, suốt 9 tuần trong mùa Hạ (mỗi tuần là 10 ngày) chuyên tu ở đạo tràng
Bát-chu niệm Phật. Đến ngày thứ 27, ngài thấy được đức Phật. Được Phật
A-di-đà dạy cho pháp Ngũ Hội Niệm Phật.
Niên hiệu Đại Lịch, năm
thứ 2 (767 TL), tại Vân Phong, Nam Nhạc, bỗng nhiên trong bát của Ngài
thấy có hình ảnh Ngũ Đài Sơn. Trải qua 4 năm nhập Hạ ở chùa Hồ Đông, Hành
Châu; nhập một Hạ ở đạo tràng Bát-chu, Ngài cũng thấy như vậy. Vào tháng 8
năm đó, ngài cùng một số người cùng chung chí hướng từ biệt Nam Nhạc, đến
tháng 4 năm sau, mọi người lên đến Ngũ Đài Sơn ở tỉnh Sơn Đông. Tại đây,
họ được sự linh cảm của hai vị Bồ-tát Văn Thù và Phổ Hiền truyền trao pháp
môn niệm Phật vãng sanh. Tháng 12 năm đó, ngài vào đạo tràng niệm Phật ở
viện Hoa nghiêm, tuyệt thực thề nguyện cầu sanh Tịnh độ. Cứ vào đêm được
sự khuyến khích của một vị Phạm Tăng (Tăng người Ấn), ngài nhận rõ những
linh ứng khác thường. Và nhờ chỗ linh ứng ấy, ngài kiến lập ngôi chùa Đại
Thánh Trúc Lâm để làm đạo tràng niệm Phật Tam-muội. Sau đó, ngài đến Thái
Nguyên truyền bá rộng rãi Ngũ Hội Niệm Phật; Được vua mời vào cấm cung. Ở
đây, Ngài dạy mọi người đều tu theo pháp môn này, được vua sắc phong làm
“Quốc Sư”. Năm ngài viên tịch và tuổi thọ không rõ bao nhiêu. Trước tác
của ngài gồm có: “Tịnh
độ ngũ hội niệm Phật tụng kinh quán hành nghi” 3 quyển, “Tịnh
độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán” 1 quyển.
Pháp Chiếu lấy niệm Phật tam-muội làm Thiền môn vô thượng sâu xa vi diệu,
hết sức phê phán đồ chúng Thiền môn không lạy Phật, không lập văn tự, cho
việc dùng âm thanh ngôn ngữ là chấp tướng, tự loại bỏ các hạnh về muôn
điều thiện, tin vào sự nhận thức trống không. Do đó mà ngài đề xướng Ngũ
hội niệm Phật. Ngài cho rằng pháp tu này mau chứng “Ngũ phần pháp thân”.
Pháp này là dựa vào pháp tâm niệm miệng đọc mà đạt được Tam-muội, chủ
trương đường hướng xưng niệm Tam-muội của ngài cùng với các ngài Thiện
Đạo, Hoài Cảm … tương đồng. Song ngài lấy sử sách để làm tín tâm cho mình
và người. Vả lại, thành tựu phương pháp tam-muội mà đặt ra quy luật, phép
tắc Ngũ hội niệm Phật, dạy cho mọi người biết kết hợp 5 âm điệu trầm bổng
để xướng danh hiệu Phật, có thể gọi đây là phương pháp mới của ngài. Trong
Ngũ hội niệm Phật được niệm như sau:
Hội thứ nhất: Niệm âm thanh đều nhau giữa nhanh và chậm.
Hội thứ hai: Niệm âm thanh lớn dần bình bình giữa nhanh và chậm.
Hội thứ ba: Niệm chẳng nhanh, chẳng chậm.
Hội thứ tư: Nhanh lên dần rồi bốn hội cùng xướng sáu chữ “Nam Mô A-di-đà
Phật”.
Hội thứ năm: Niệm rất nhanh mà chỉ xướng bốn chữ “A-di-đà Phật”.
3. Đệ tử tông Thiên Thai tán dương
Tịnh độ.
Ngài Trí Khải tổ của
tông Thiên thai, tu pháp “Bát-chu thường hành tam-muội”, lúc lâm chung tự
xướng lời văn khen ngợi kinh
Vô lượng thọ
mà cầu sanh
Tây phương Tịnh độ. Cho nên người trong môn nhơn của Ngài cũng phát lòng
tin phụng trì Tịnh độ.
Ngài Trạm Nhiên
người Kinh Khê, là pháp tôn 6 đời ngài Trí Khải trở xuống, gọi là tổ
“Thiên Thai Trung Hưng”. Ngài giải thích rõ thuyết Bát-chu thường hành
tam-muội, cho rằng tam-muội này chuyên xưng một vị Phật Di-đà. Bởi do các
kinh phần nhiều tán thán về đức Phật Di-đà, Phật và chúng sanh trong thế
giới này đầy đủ duyên lành sâu dày. Ngài Đạo Tuân và Trạm Nhiên cùng đồng
môn, hai người cũng có tạo tượng Di-đà và tu về Tịnh nghiệp. Ngài Sở Kim
và Phi Tích cùng học Thiên Thai giáo quán, tụng kinh Pháp hoa hơn sáu ngàn
biến, nhiều lần linh cảm được điềm tốt, luôn mong cầu sanh An dưỡng. Môn
nhơn Bảo Minh và Phổ Minh ở chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai luôn tôn kính
pháp tu “Bát-chu thường hành tam-muội”. Trong chín mươi ngày thường thực
hành đạo, từng bước từng luôn xưng niệm đức Phật Di-đà, nguyện sanh về Cực
lạc. Trong mộng, Ngài biết được đến sáu mươi tuổi mình sẽ từ giã cõi đời.
Ngoài ra, có rất nhiều người tụng kinh
Pháp hoa,
nguyện cầu vãng sanh Tây phương.
Lại có
ngài Phi Tích ban đầu học luật, tiếp đến cùng ngài Sở Kim học pháp “Nhất
tâm tam quán” của phái Thiên thai. Niên hiệu Thiên Bảo, Ngài mới đến
Trường An, ở chùa Thảo Đường, Chung Nam. Niên hiệu Thiên Bảo năm thứ 3
(744 TL) trở về sau, cứ mỗi năm tại đạo tràng Pháp Hoa ở chùa Thiên Phước,
ngài tu Pháp hoa Tam-muội. Năm viên tịch và hưởng thọ của ngài đều không
rõ. Sách trước tác của ngài gồm có: “Luận
niệm Phật Tam-muội bảo vương”
3 quyển, “Vô thượng thâm diệu
thiền môn truyền tập pháp bảo”
1 quyển, “Thệ vãng sanh Tịnh độ
văn”, “Niệm
Phật ngũ canh tán”
v.v… Nhưng hiện nay chỉ còn bộ luận “Niệm
Phật tam-muội bảo vương”.
Trong luận này, ngài hướng dẫn cách niệm thông ba đời chư Phật. Ngài cho
rằng không những niệm Phật quá khứ và hiện tại đã thành, mà đối với Phật
vị lai sẽ thành, tất cả chúng sanh đều có ý nghĩa như thế, lấy sự khế hợp
khuynh hướng không hai. Chủ trương thực hành như thế mới có thể gọi là
Thiền môn vô thượng thâm diệu.
Thứ nhất: Là niệm Phật vị lai, giống như Bồ-tát Bất Khinh trong kinh Pháp hoa, đối với bốn chúng không sanh tâm khinh mạn
mà lúc nào cũng cung kính lễ bái các đức Phật sẽ thành trong tương lai.
Chúng ta cũng khởi ý tưởng tôn trọng tất cả chúng sanh như tôn trọng cung
kính Phật. Đối với các người ác, Phật cũng thọ ký cho họ. Nói về tâm phàm
phu còn có hai sự phân biệt, đối với bậc Chí tôn thì kính trọng còn đối
với người hèn hạ thì khinh bỉ. Từ đó không những tạo ra các tội ác, mà
ngay cả Tam-muội cũng chẳng thành tựu.
Thứ hai: Là niệm Phật hiện tại là niệm một đức Phật Di-đà hiện tại ở
Tây phương. Lấy cái mà trong luận Thập trụ Tỳ-bà-sa gọi là
niệm Phật hiện tại dễ hành đạo. Dựa vào pháp này thì một niệm, mười niệm
đều được vãng sanh. Ngài cho rằng âm thanh niệm Phật không lớn thì tâm dễ
phóng đãng không định, niệm Phật âm thanh lớn thì tâm không rơi vào trạng
thái tán loạn, mau chóng đạt tam-muội. Lại nói đến niệm một đức Phật
Di-đà, tức là thông niệm ba đời chư Phật. Nhơn vì đức Phật A-di-đà là Phật
Vô Lượng Thọ. Bởi thế, khi chúng ta niệm Phật Di-đà trong hiện tại là niệm
Phật Di-đà ba đời, cũng đồng được sanh Tây phương Cực lạc.
Thứ ba: Niệm Phật quá khứ là niệm về nhân quả tương đồng giữa chúng ta
(năng niệm) với chư Phật đã thành thời quá khứ (sở niệm). Phàm, Thánh nhân
quả tuy có khác, nhưng nói rộng ra tất cả đều thành Phật. Đức Phật đã ra
khỏi thai “Sư tử chúa”, loài người còn ở trong thai “sư tử chúa. Nhân quả
có khác nhưng oai thần vẫn kế tiếp nhau. Điều cốt yếu ở đây, thuyết niệm
thông suốt ba đời chư Phật là sự kết hợp giữa Bát-chu tam-muội và Bất
khinh trong kinh Pháp hoa, tức là ý định dung hợp Pháp hoa và niệm Phật. Trong
luận Bảo vương,
quyển thượng có nói: “Pháp không có Phật thì chẳng nhận ra, cho nên niệm
Phật sanh tam-muội. Phật không có pháp thì chẳng rõ, nên Pháp hoa khởi ra
tâm tam-muội. Niệm Phật và Pháp hoa đồng gọi là Huệ Phật. Huệ Phật đã
đồng, tức Bất khinh, Bát-chu chính là Thiền môn thậm thâm vi diệu vô
thượng được thành lập từ đó”.
4. Gương niệm Phật của
các ngài Đại Hạnh, Đạo Cảnh.
Đại Hạnh người Tề Châu, Sơn Đông, sớm vào
núi Thái Sơn kết cỏ thành áo, hái cây làm thức ăn; chuyên hành trì sám
pháp Phổ Hiền, Pháp Hoa. Trải qua ba năm thấy được chơn thân Phổ Hiền. Sau
đó, ngài nhận ra được thân này vô thường, liền suy nghĩ đến thọ sanh đời
sau; nguyện dốc lòng nghiên cứu kinh tạng, tay không rời kinh. Bỗng nhiên
được kinh A-di-đà,
từ đó ngài ngày đêm đọc tụng, đến nửa đêm ngày thứ 21, phát ra tam-muội
thấy đại địa toàn ngọc lưu ly; lại thấy đức Phật A-di-đà cùng vô số hoá
Phật. Sau đó, ngài truyền bá rộng rãi phương pháp niệm Phật để giáo hoá cả
đạo lẫn tục.
Hoa nghiêm tuỳ sớ diễn nghĩa sao của ngài Trừng Quán, truyền đến ngài Đại Hạnh trước
thuật thành một quyển sách “Tôn sùng niệm Phật”, lấy bốn chữ: Tín, Ức, Xưng, Kính làm tiêu ngữ để
giáo hoá đạo tục. Cho rằng hai chữ “Tín, Ức” không bao giờ lìa khỏi tâm;
hai chữ “Xưng, Kính” không rời thân và miệng. Trong gương niệm Phật cũng
có dẫn chứng lời nói của ngài Đại Hạnh, ngài cho rằng pháp môn niệm Phật
không nên hỏi ra là đạo tục, giàu nghèo; chỉ cốt yếu đầy đủ lòng tin,
khuyên mọi người nên dựa vào kinh A-di-đà mà
niệm Phật; không cần tướng mạo, tâm luôn tin Phật; miệng thường niệm danh
hiệu Phật, thân thì kính Phật không làm hỗn tạp giữa thiện và ác, chuyên
tâm liên tục cho đến khi qua đời. Vả lại, nói rằng không thực hành niệm
Phật và đọc kinh điển cũng như đọc phương thuốc mà không uống thuốc. Rồi
ghi lại ba hạnh người để răn dạy; đó là người trong tông, người sùng bái
Di-đà, người ngồi thiền, khiến họ phần nhiều quay về niệm Phật.
Gương niệm Phật, một quyển viết rõ với tựa đề “Cầu sanh tây phương Tịnh độ niệm Phật cảnh”,
gương của ngài Đạo Cảnh được ngài Thiện Đạo tập hợp lại. Sách này cổ suý
công đức niệm Phật, niệm 11 cách, giáo chỉ đó chủ yếu như sau:
Thứ nhất: Khuyên tinh tấn trong pháp môn niệm Phật, tất yếu chuyên
luận về tín ngưỡng. Niệm Phật cần khởi lòng tin, mỗi mỗi đưa ra những tín
điều; lại khuyên tin sâu sắc liên quan đến hành nghiệp vãng sanh. Đưa ra
pháp môn năm niệm và bốn pháp tu lễ tán vãng sanh, số lần niệm Phật cùng
số công đức tỷ lệ với nhau, nương vào vãng sanh mà phẩm vị có khác. Phẩm
vị tuy khác nhưng sanh Tịnh độ thì đều đồng ở vị không thối chuyển, thẳng
đến vô thượng Bồ-đề.
Thứ hai: Pháp môn Tự lực, Tha lực. Phật nói giáo pháp có hai môn: Tự
lực, Tha lực. Chỉ một môn niệm Phật tức là pháp Tha lực. Pháp Tự lực kể từ
lúc mới phát tâm tu đạo trải qua một đại A-tăng-kỳ kiếp mới đến Sơ địa.
Lại phải trải qua một đại A-tăng-kỳ kiếp nữa mới đến địa vị Bát địa. Pháp
Tha lực nếu người nào nhanh thì tu trong vòng một ngày, người nào chậm thì
bảy ngày. Niệm Phật A-di-đà vãng sanh Tịnh độ, tức nương vào bổn nguyện
của đức Phật, cho nên được xếp ngang bằng với Bồ-tát Bát địa.
Thứ ba: Môn niệm
Phật được lợi ích. Nói rộng ra là lợi ích của niệm Phật, đưa ra tập niệm
Phật của ngài A-xà-lê26 Thiện Đạo để nói thì có hai mươi ba lợi ích. Thứ
đến nêu mười trường hợp đem đến lợi ích của Hoà thượng Đại Hạnh, sau đó tự
thuật ba mươi việc lợi ích.
Thứ mười27: Giải thích những mối nghi ngờ, khai mở niệm
Phật đối với ba bậc, niệm Phật đối với Di-lặc, niệm Phật đối với ngồi
thiền, niệm Phật đối với giảng thuyết, niệm Phật đối với giới luật, niệm
Phật đối với lục độ lục môn; hết sức khen ngợi công đức niệm Phật.
5. Luận về Tịnh độ và
thuyết niệm Phật của các học giả Hoa nghiêm.
Pháp Tạng môn nhơn
của ngài Trí Nghiễm. Ngài là người thành đạt cao của tông Hoa nghiêm. Ngài
phân chia cõi Phật ra thành hai:
1. Tự trú xứ: Tức cõi Phật tự nội chứng;
gồm có cõi Pháp thân, cõi Tự thọï dụng, cõi Thật đức.
2. Cõi nhiếp hoá: Tức cõi nhiếp hóa chúng
sanh, gồm có cõi Tha thọ dụng, cõi Biến nhiễm tức cõi Tạm biến, cõi Hoá
thân tức cõi thời gian dài chuyển hóa về Tây phương An dưỡng. Trong đó,
cõi Tự thọ dụng mở ra hai cõi: Tự thọ dụng và Thật đức. cõi Biến hoá mở ra
hai cõi: Biến nhiễm và Hoá thân. Đây là bốn cảnh Tịnh độ mà các nhà Tân
dịch đã gặt hái được.
Ngài Lý Thông
Huyền còn gọi là “Tảo Bách Đại Sĩ”. Niên hiệu khai nguyên năm thứ 7 (779
TL), ngài mang kinh
Hoa nghiêm
vừa mới dịch
đến Thái Nguyên, Sơn Tây; soạn luận sớ 40 quyển. Ngài trước tác “Tân
hoa nghiêm kinh luận”.
Dựa vào nhiều chỗ đã nói trong kinh luận, phân ra làm mười loại Tịnh độ và
chia chẻ sự quyền thật của nó.
1. Tịnh độ của A Di-đà tịnh:
Đó là một bộ phận mà kẻ phàm phu chấp tướng, chưa tin cái lý chơn thật
của pháp Không; chỉ bày phương pháp chuyên thành tâm nhớ nghĩ làm cho tâm
thanh tịnh một phần, từ đó được sanh Tịnh độ. Cõi ấy là quyền mà không
thực.
2. Tịnh độ của Quán kinh:
Đó là một bộ phận mà người chưa tin cái lý chơn thật của pháp
Không, đưa đến quán tưởng đối tượng hình sắc khiến tâm sanh thanh tịnh.
Đây cũng là quyền mà không thật.
3. Tịnh độ Túc chỉ ấn địa (ấn ngón chân xuống đất) ở trong
kinh Duy-ma: Là dùng thần lực tạm hiện ra, tuy là cõi Thật báo
nhưng cảnh này không rộng lớn.
4. Tịnh độ trong kinh Phạm võng: Đó chỉ là ba thừa, các vị Bồ-tát đã chỉ bày một phần cõi
Báo độ. Ở đây đưa đến cảnh giới viên mãn.
5. Tịnh độ Ma-ê-thủ-la thiên28:
Đây là đứng trên lập trường Bồ-tát quyền giáo mà có nói về
tịnh nhiễm chưa mất chứ không phải là thật thuyết.
6. Tịnh độ không thù thắng trong kinh Niết-bàn: Chỉ là cõi
Thật báo của đức Thích Tôn. Đây là đứng trên lập trường quyền giáo ba thừa
mà nói thì đây là một bộ phận vẫn còn nhiễm tịnh.
7. Tịnh độ Tam biến trong kinh Pháp hoa:
Là đứng trên lập trường quyền giáo mà nói thì đây vẫn còn tịnh nhiễm chứ
không phải thật thuyết.
8. Tịnh độ Linh Sơn: Là đứng trên lập trường Bồ-tát quyền
giáo để dẫn chứng thì đây vẫn còn nhiễm tịnh, khiến biết rằng nhơ uế
thường thanh tịnh. Đây là thật chứ không phải quyền.
9. Tịnh độ Duy Tâm: Là chỉ trong kinh Duy-ma đã
nói, tâm này tịnh tức cõi Phật tịnh. Đây là sự chứng tứ tâm, đó là cõi
thật tịnh
10. Tịnh độ của Phật Tỳ-lô-giá-na: Tức
là cõi nước Phật Liên Hoa Tạng của 10 cõi Phật vi trần số, bao gồm: Tịnh
uế, không uế không tịnh, trên dưới, đó đây, không tướng mình và người. Tất
cả cõi Phật đều bao trùm khắp pháp giới không chướng ngại. Cho nên, cõi
này là Báo độ của Phật thật thuyết (tuyệt đối).
Ngài Trừng Quán bắt đầu lên Ngũ Đài Sơn nhằm vào niên hiệu
Đại Lịch năm thứ 11 (776 TL), tìm đến chùa Hoa Nghiêm, giảng kinh Hoa nghiêm.
Đầu niên hiệu Trinh Nguyên, trước tác Hoa nghiêm kinh sớ 20 quyển, sau tuỳ
thuộc vào sớ soạn Diễn nghĩa sao 40 quyển, lại giải thích sớ đó. Ngài được
vua ban cho hiệu là “Thanh Lương Quốc Sư”. Vào tháng 3 năm thứ 3 niên hiệu
Khai Thành (838 TL), ngài viên tịch, hưởng thọ 102 tuổi. Người đương thời
tôn xưng Ngài là tổ thứ 4 tông Hoa nghiêm. Lời sớ kinh Hoa nghiêm đó có luận về 5 pháp môn niệm Phật như sau:
1. Pháp môn duyên vào cảnh niệm Phật:
Duyên vào cảnh khách quan mà niệm Phật, niệm Chơn thân, Ứng
thân, Chánh báo, Y báo, hoặc chỉ xưng danh hiệu Phật. Đều là duyên vào
cảnh để niệm Phật
2. Pháp môn nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật:
Nghĩa là nhiếp Y báo và Chánh báo để quán tâm này là Phật,
tâm này thành Phật.
3. Pháp môn tâm cảnh đều mất:
Nghĩa là tâm năng quán và cảnh sở quán đều mất hẳn, các tướng
đều diệt sạch không thể thấy.
4. Pháp môn tâm cảnh không ngăn
ngại:
Tâm cảnh dung thông không bị chướng
ngại, tức Sự Lý song chiếu, còn và mất cả hai đều thâu nhiếp.
5. Pháp môn trùng trùng vô tận:
Nghĩa là quán một là tất cả, tất cả
tức là một tướng, tức là tướng nhập. Đó là trùng trùng vô tận.
Ngài cho rằng hai pháp môn đầu chỉ
là Thỉ giáo, pháp môn thứ ba là Đốn giáo, thứ tư là Chung giáo và pháp môn
thứ năm là Hoa nghiêm Viên giáo.
Ngài Tông mật người Tây Sung, Tứ
Xuyên, lúc đầu xem kinh Viên giác mà khế
ngộ. Sau đến thờ ngài Trừng Quán làm thầy để học hỏi nghiên cứu những ý
nghĩa sâu xa của kinh Hoa nghiêm.
Vào tháng giêng năm đầu niên hiệu Hội Xương (841 TL) Ngài viên tịch ở tuổi
62, tên thụy của ngài là “Định Huệ thiền sư” và tôn xưng là vị tổ thứ năm
tông Hoa nghiêm. Sách ngài soạn có: Viên giác kinh đại sớ, Đồng lược sớ,
Hoa nghiêm kinh Phổ Hiền hạnh nguyện phẩm sớ sao, Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự v.v…
Ngài dạy: “Người muốn đi ngược dòng sanh
tử ác duyên để thuận bước trên con đường Bồ-đề cần phải niệm Phật”, rồi
ngài đưa ra bốn cách niệm Phật:
1. Xưng danh niệm: Nghĩa là chuyên
xướng danh hiệu Phật theo như “Tam-muội nhất hạnh”, có đề cập đến trong
kinh Văn Thù
Bát-nhã rằng:
Ở nơi yên tĩnh loại bỏ ác ý mông lung, không chấp tướng mạo, tâm buộc chặt
vào một vị Phật, chuyên xưng danh hiệu Ngài. Tuỳ theo đức Phật ở phương
nào thì chúng ta ngồi ngay ngắn xoay mặt về hướng đó. Có thể đối với một
vị Phật, chúng ta niệm niệm nối tiếp nhau, tức ở trong niệm này có thể
thấy các đức Phật trong ba đời.
2. Quán tượng niệm: Nghĩa là quán
các tượng Phật bằng đất hay tượng vẽ. Như kinh Đại bảo tích có nói: Quán tượng vẽ không khác đức Như
Lai thì thành tựu Ngũ thông, được phổ quang Tam-muội thấy Phật mười
phương.
3. Quán tướng niệm: Nghĩa là quán
tướng hảo của đức Phật:
a) Quán nhất tướng: Theo như trong
kinh Quán Phật
tam-muội đã dạy: “Quán tướng bạch hào (lông trắng). Quán tướng này thì không
bắt buộc quán thành hay không thành đều diệt 40 ức trọng tội sanh tử,
thường mong được nhiếp thọ”.
b) Quán toàn thân: Theo như kinh Tọa thiền
tam-muội có
dạy: “Nếu muốn cầu Phật đạo, thì lúc mình nhập thiền nên trước tiên buộc
tâm vào sanh thân (nhục thân) để niệm Phật, chớ niệm các pháp như: Đất,
nước, gió, lửa … Thường niệm thân Phật thì thấy được ba đời chư Phật trong
mười phương, tất cả đều hiện ra trước mắt, diệt được tội vô lượng kiếp”.
4. Thật tướng niệm: Hay gọi là Pháp
thân quán, nghĩa là quán tự thân và tự tánh chơn thật của tất cả pháp. Như
kinh Văn Thù
Bát-nhã dạy
rằng: “Không sanh, không diệt, không đến, không đi, chẳng danh, chẳng
tướng mới gọi là Phật”; “Như quán thật tướng tự tâm, quán Phật cũng như
vậy”; “Buộc duyên vào một tướng trong pháp giới gọi là Nhất hạnh
tam-muội”. Luận Trí độ có dạy rằng: “Không lấy sắc thân và tướng hảo để
niệm, nên thân Phật không sở hữu”. Kinh Hoa nghiêm có dạy: “Hết thảy các
thân Phật chỉ là một Pháp thân, khi niệm một vị Phật tức là niệm hết thảy
chư Phật”. Những điều nói ở trên đều là thực tướng niệm Phật. Bốn phương
pháp niệm Phật này từ cạn đến sâu. Một, hai: Thực hành đơn giản; ba: Thực
hành sâu hơn; cuối cùng nhập vào thật tướng niệm Phật rất vi diệu.
Ngài lại phân Tịnh độ thành ba
cõi:
1) Cõi Thường tịch quang: Cũng gọi
là cõi Pháp tánh, là chỗ nương của thân Phật.
2) Cõi Thường dụng: Khiến cho
Bồ-tát Địa Thượng cảm nhận được niềm vui chánh pháp, có hai loại:
a. Cõi Tự thọ dụng: Là Đại viên
cảnh trí do thức tịnh mà hiện ra, là nương tựa của thân Tự Thọ Dụng.
b. Cõi Tha thọ dụng: Là sở biến của
Bình đẳng tánh trí, làm chỗ nương tựa Tha thọ dụng.
3) Cõi Biến hoá: Đây là cõi (đức
Phật) lấy lực Đại từ bi của Thành sự trí, vì Bồ-tát chưa đăng địa, Nhị
thừa và dị sanh29 biến hiện, nên thị hiện có cả Tịnh độ lẫn Uế độ làm chỗ
nương tựa cho ba loại Hoá thân, mà Tịnh độ biến hoá là chỉ nước Phật
A-di-đà. Uế độ là chỉ cho thế giới Ta bà của Phật Thích Ca Mâu Ni.
VI. TỊNH ĐỘ GIÁO VÀO ĐỜI NGŨ ĐẠI VÀ ĐỜI TỐNG
1. Hoằng dương Tịnh độ giáo.
Phật giáo từ cuối đời nhà Đường đến
thời Ngũ Đại dần dần suy yếu. Theo đó, tín ngưỡng Tịnh độ cũng sa sút
không còn phấn chấn. Nền văn hiến cũng không được truyền bá rộng rãi cho
lắm. Cuối đời Ngũ Đại, ở các địa phương phía nam tỉnh Giang Triết. Tiềm
Thúc kế vị ngôi vua nước Ngô Việt, tin thờ Phật giáo, sửa sang các ngôi
chùa, ưu đãi các vị Cao Tăng như: Thiên Thai Đức Thiều, Loa Khê Nghĩa
Tịch, Vĩnh Minh Diên Thọ v.v… lại sai sứ giả qua Nhật Bản và Cao Ly cầu
thỉnh kinh sách Phật giáo. Rồi kiến tạo xây dựng tám vạn bốn ngàn ngôi
tháp, ban phát cho các nước. Đây là sự thật rất nổi tiếng. Đương thời, lấy
nước Ngô Việt làm trung tâm, Ngài Diên Thọ trú chùa Vĩnh Minh, Hàng Châu
chủ xướng Thiền, Tịnh song tu. Căn cứ vào sách “Cao
tăng truyện”
đời Tống và truyện “Giới
châu vãng sanh”,
trong đó có Thiệu Nham người Ung Châu, ngài ở chùa Hồ Tâm, Tiền Đường,
tụng kinh Pháp hoa đến cả vạn bộ, thề nguyện sanh An dưỡng. Sau đó, ngài
nguyện đốt thân cúng dường Phật A-di-đà, được vua Tiền Thúc giữ lại và
kiến lập viện Tịnh độ ở chùa Bảo Tháp, Hàng Châu cho ngài ở đó.
Ngài Chí Thông người Phù Phong, lúc
đầu thọ học môn Du-già. Một hôm, vào núi Thiên Thai thấy nghi thức Tịnh độ
của ngài Trí Khải, vui mừng phấn khởi hâm mộ Tây phương, tức thời vảy tay
gieo mình xuống núi nhưng lại không chết. Sau đó vượt qua núi Pháp Hoa
tỉnh Chiết Giang, ngài thấy linh tướng biến đổi. Lại căn cứ vào sách “Sơn
tả kim thạch chí”
và “Kim thạch
uyển”
có ghi chép sự tạo lập các tượng A Di-đà, Quán Âm … Trong “Tuyên hoá họa phổ kyù” có ghi rằng đến đời Ngũ đại có các cửa
hiệu vẽ tượng Phật Vô Lượng Thọ, Phật Di-lặc”. Tịnh độ giáo phát triển
hưng thịnh trên 300 năm dưới đời nhà Tống, tín ngưỡng đó đã thấm nhuần vào
trong lòng dân chúng. Song, Tịnh độ giáo nhiều phần phụ thuộc vào các
tông: Thiên Thai, Thiền … mà thực hành. Từ đó, giáo chỉ tông này cũng được
hình thành như sự dung hợp giữa Thiên Thai và Tịnh độ, một thời tư trào
Thiền, Tịnh song tu. Thực ra, tất cả chỉ hình thành từ tông phái mà thôi.
Quay về Tịnh độ, môn Thiên Thai chiếm phần nhiều. Người thuộc môn này hầu
như đều cầu sanh về Tịnh độ; thứ đến là các Thiền Tăng tu Thiền, Tịnh song
tu. Vân môn tông30 là một phái mà đa phần đều phát nguyện sanh về Tịnh độ.
Luật pháp đời Tống không cho phát triển nhưng các phái Hoa nghiêm cũng có
truyền tụng ca ngợi về sự thật của tín ngưỡng Tịnh độ.
Đời Tống, tín ngưỡng Tịnh độ đã thấm
nhuần vào trong dân chúng. Từ đó, nhiều hội niệm Phật được các công khanh,
quý thân tham gia. Nhưng đặc biệt phía nam tỉnh Giang Triết, người đầu
tiên khai mở ra hội niệm Phật là ngài Tỉnh Thường.
Ngài Tỉnh Thường người Tiền Đường.
Trong những năm niên hiệu Thuần Hoá (990-994 TL), Ngài ở viện Chiêu Khánh,
Tây Hồ, dùng gỗ chiên đàn khắc chạm tượng Phật A-di-đà, chích thân lấy máu
để viết phẩm “Tịnh
hạnh”
trong Hoa nghiêm,
đặt vua quan vào hàng đầu, kết hợp quan lại, dân thường được 123 người
chuyên tu Tịnh nghiệp. Gọi là hội Tịnh Hạnh. Từ đó về sau hơn 30 năm, ngài
giáo hoá cả Tăng lẫn tục. Vào tháng Giêng năm thứ 4, niên hiệu Thiên Hy
(1020 TL), ngài viên tịch ở tuổi 62. Ngài Cô Sơn Trí Viên làm bài ký về sự
nghiệp hành đạo của ngài, soạn văn bia nói: Ngài là chủ hội Bạch liên ở
Tiền Đường. Sau tôn xưng ngài là tổ thứ 7 của Liên tông. Niên hiệu Chí Đạo
năm thứ hai (996 TL), ngài Tuân Thức ở chùa Bảo Vân, Tứ Minh thâu nhận đệ
tử tại gia và xuất gia tu niệm Phật. Niên hiệu Đại Trung Tường Phù, năm
thứ 6 (1015 TL), ngài Tri Lễ tại chùa Diên Khánh, Tứ Minh mở hội thí giới
niệm Phật, lấy đó quy định thường lệ cho mỗi năm. Năm thứ 8, ngài Bổn Như
kế thừa pháp của Tuân Thức, cất một ngôi nhà tại núi Đông Dịch, gốc tây
nam phía sau chùa Thừa Thiên, cùng thừa tướng Chương Tuân, công quan và
các hiền sĩ lập hội Bạch liên (Hội niệm Phật). Sau 6 đến 7 năm phát triển
thành ngôi chùa lớn, vua Nhân Tông xuống chiếu ban cho tấm biển mang tên
là chùa “Bạch liên”.
Ngài Linh Chiếu trú chùa Siêu Quả, Hoa
Đình. Từ niên hiệu Nguyên Phong về sau, ngài mở hội tu Tịnh nghiệp. Mỗi
năm vào đầu mùa Xuân, quy định bảy ngày niệm Phật, số người tham hội
thường đến hai vạn.
Ngài Duy Giám ở chùa Bát Thánh, Hồ Châu,
lấy gỗ chiên đàn khắc chạm tượng Tây Phương Tam Thánh, khuyến hoá hơn một
vạn người thành lập hội. Ngài truyền văn tìm người có tài đức khắp vùng
Phần Châu. Lúc này tại kinh sư, từ quan đến Thái Sư (Tể tướng) vua Nhân
Tông và thiền sư Tịnh Nghiêm cùng nhau kiến lập hội Tịnh độ, tính cả Tăng
lẫn tục đến mười vạn người niệm Phật.
Ngài Tông Di người Lạc Thuỷ, Hà Bắc. Vào
tháng 10 năm thứ 4 niên hiệu Nguyên Hữu (1089 TL), ngài mở ra thắng hội
Liên Hoa khuyến khích đạo tục xưng niệm danh hiệu Phật, khiến họ ghi nhớ
số lần niệm Phật, hồi hướng phát nguyện. Lại chế tác “Liên
hoa thắng hội lục”.
Sách này có nhiều tên gọi. Ngài tự viết lời tựa nhằm khuyên bảo chủ yếu về
tu niệm Phật tam-muội. Ngoài ra, ngài còn làm văn phát nguyện niệm Phật
hồi hướng, văn dùng phương tiện niệm Phật để ngăn ngừa thối tâm và soạn
bài tụng khuyên niệm Phật, tụng Tây Phương Tịnh độ … nhằm để khích lệ đạo
tục.
2. Luận Thiền Tịnh song tu của ngài Vĩnh Minh Diên Thọ.
Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ người Dư Hàng, Lâm An, tỉnh Chiết
Giang. Đến năm 30 tuổi xuống tóc xuất gia, tìm lên núi Thiên Thai tham vấn
ngài Đức Thiều, rồi trở về chùa Quốc Thanh hành sám Pháp hoa, bỗng nhiên
môïng được cảm ứng. Từ đó, quyết tâm không những đam mê Thiền định mà thề
lấy việc tụng kinh Vạn Thiện làm sự
nghiệp. Niên hiệu Kiến Long năm đầu (960 TL), tại núi Tuyết Đậu, ngài phục
hưng chùa Linh Ẩn, Hàng Châu. Năm sau đó, ngài đến ở đại đạo tràng Vĩnh
Minh, tiếp dẫn hoá độ đồ chúng, đặt ra 108 sự cho thời khoá chính mình.
Lại thiết tha cầu vãng sanh Tây phương, ban ngày ngài xưng trên 10 vạn
danh hiệu Phật Di-đà; đêm trở về thất riêng một mình niệm tịnh. Số người
âm thầm theo ngài đến hàng trăm người. Vào những đêm trăng sáng bầu trời
thanh vắng, nhiều lần ngài nghe tiếng nhạc ốc tù của thiên giới trổi lên.
Vua nước Ngô Việt là Trung Ý nghe chuyện này, vì thế đặc ân kiến lập điện
Tây Phương Hương Nghiêm, rồi sắc chiếu ban hiệu cho ngài là “Trí Giác
Thiền Sư”. Ngài ở Vĩnh Minh ngót 15 năm, người đương thời tôn xưng Ngài là
“Di-lặc hạ sanh”. Vào tháng 12 năm thứ 8, niên hiệu Khai Bảo (975 TL),
ngài viên tịch, hưởng thọ 72 tuổi. Sách ngài soạn gồm có: Tông cảnh lục (100
quyển), Vạn thiện đồng quy tập (6 quyển), Thần thê an dưỡng phú (1
quyển), Duy tâm
quyết (1
quyển), Thọ Bồ-tát giới pháp (1 quyển) …
Ngài Diên Thọ nhận thấy đồ chúng Thiền tông đương thời chỉ
chấp vào Lý mà mê Sự, cả hai đều rơi và biên kiến, tức nghiêng về nghĩa Sự
Lý vô ngại, Không Hữu tướng thành. Cốt yếu nỗ lực nói về Thiền, Tịnh song
tu, Ngài trước tác sách “Vạn
thiện đồng quy tập” lập ra mười môn, đó là: Sự Lý vô ngại, Quyền Thật song tu,
Nhị đế đều rõ, Tánh Tướng dung tức, Thể Dụng tự tại, Không Hữu tướng hành,
Chánh Trợ kiêm tu, Đồng Dị nhất hướng, Tu Tánh bất nhị, Nhân Quả vô sai.
Trong đó môn thứ nhất là Sự Lý vô ngại là niềm tin căn bản của ngài. Điều
trọng yếu như sau: Lý và Tánh mà thật cho nên gọi là Vô vi, Sự và Tướng là
hư cho nên gọi là Hữu vi. Nhưng cả hai đều chẳng phải một chẳng phải khác,
không tách rời nhau. Cho nên trọn ngày làm mà chưa từng có làm, trọn ngày
không làm mà chưa từng không làm. Sự từ Lý mà lập, nếu xa rời Lý thì không
thành Sự. Lý cũng từ Sự mà rõ ràng, nếu xa rời Sự thì cũng không hiển bày
Lý. Xa rời Lý thì không có Sự, giống như nước tạo thành sóng, tách rời Sự
thì không có Lý, giống như có sóng là do nước. Kẻ phàm phu lìa Lý mà hành
Sự, hàng Thanh văn lìa Sự mà thấy Lý. Còn Bồ-tát lấy vô sở đắc làm phương
tiện cho nên hành Hữu mà chẳng trái Không, nhập Chơn mà không ngại Tục,
tức là trụ ở lý Vô vi mà làm được Phật sự Hữu vi. Thường thực hành muôn
điều thiện là tư tưởng của Bồ-tát nhập đạo, đều là trợ duyên vì thành tựu
Bát-nhã. Bát-nhã như con mắt, muôn thiện như đôi chân. Nếu mắt trí Bát-nhã
và chân hành muôn Thiện không đều thì làm sao đến được ao Thanh lương. Vì
vậy, bài thứ bảy “Viễn hành địa” trong kinh Hoa nghiêm nói rõ
nên tu mười loại phương tiện Huệ cùng với đạo thù thắng. Trong kinh Duy-ma có dạy
rằng: “Tuy hành Không mà trồng các Đức là hạnh Bồ-tát, tuy hành Vô tướng
mà độ chúng sanh là hạnh Bồ-tát, tuy hành Vô tác mà hiện thân biến hoá là
hành Bồ-tát, tuy làm mà không thấy mình làm nhưng tất cả việc thiện đều
làm đó là hạnh Bồ-tát”. Các điều đó đều nói rõ giáo chỉ Sự Lý vô ngại. Do
vậy, người nào muốn thực hành Phật đạo một cách chơn chánh thì nên thuận
theo giáo chỉ này, nhập Không mà xả Hữu, chứng Chơn không phế bỏ Tục, Bi
Trí song vận, đủ cả hai mắt và chân mà Không và Hữu tướng thành. Ngài lại
lấy một thời giáo của Như Lai chia thành ba tông: Tướng tông, Không tông
và Tánh tông. Tướng tông phần nhiều thuyết về thị (phải), Không tông ba
phần thuyết về phi (trái), riêng Tánh tông hiển bày rõ trực chỉ (chỉ
thẳng) mà không thuyết thị phi (phải, trái), cho rằng tất cả Sự, Lý đều
xuất phát từ tâm.
Tóm lại, ngài đã chủ trương quan hệ đối
với Thiền lâm đương thời thổi vào đó thành một vằn sóng lớn. Các cao Tăng:
Thiên Y Nghĩa Hoài, Huệ Lâm Tông Bổn tiếp nối cùng phát động hưởng ứng chủ
trương của ngài. Đời nhà Nguyên, Minh trở về sau, lan theo ngọn gió đó mọi
người đều giáo hoá trong địa giới của mình, bèn trở thành nét đặc sắc nhất
trong Phật giáo Trung Quốc.
3. Sự nghiên cứu Tịnh độ và luận Tịnh độ của đệ tử tông Thiên
thai.
Từ ngài Kinh Khê Trạm Nhiên về sau năm
đời có Cao Luận Thanh Tủûng, đồng môn có ngài: Loa Khê Nghĩa Tịch, Từ
Quang Chí Nhơn. Từ đệ tử của ngài Nghĩa Tịch có ngài Bảo Vân Nghĩa Thông.
Đệ tử của ngài Chí Nhơn có ngài Từ Quang Ngộ Ân. Trong các đệ tử này, nếu
chọn ra thì có nhiều người nguyện sanh Tây phương. Lại nghiên cứu kỹ lưỡng
về “Thiên Thai
quán kinh sớ” để làm bài tiêu biểu. Từ đầu đời Tống, Tịnh độ giáo được
trấn hưng mạnh mẽ ở các địa phương phía nam.
Vào đời Hậu Tấn trong những năm niên
hiệu Thiên Phước, ngài Nghĩa Thông người Cao Ly vân du đến yết bái ngài
Đức Hiền thọ yếu chỉ Thiền, rồi đến ngài Nghĩa Tịch học Nhất tâm tam quán.
Sau đó, ở lại viện Tứ Minh Truyền Giáo. Vào niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc
thứ 7 (982 TL), vua Thái Tông sắc chiếu ban cho một tấm biển chùa là “Bảo
Vân”. Ngài được xưng là “Bảo Vân Tôn Giả”. Mỗi khi gặp mọi người ngài nói:
“Tôi lấy Tịnh độ làm cố hương, mọi người đều phải vãng sanh”. Ngài viên
tịch vào tháng mười năm đầu, niên hiệu Đoan Củng (988 TL), hưởng thọ 62
tuổi.
Ngài Tuân Thức đệ tử của ngài Nghĩa
Thông. Ngài người Ninh Hải, Thai Châu tỉnh Chiết Giang. Sau khi ngài Nghĩa
Thông qua đời, ngài vào Thiên Thai chịu khổ nhọc tinh tấn học tập. Niên
hiệu Thuần Hoá năm thứ 2 (991 TL), lúc này ở tuổi 28, ngài trú chùa Bảo
Vân. Năm thứ 2 niên hiệu Chí Đạo (996 TL), ngài tập hợp cả đạo lẫn tục
chuyên tu Tịnh độ nghiệp và trước tác Thệ sanh Tây phương ký. Năm thứ 5
niên hiệu Hàm Bình (1002 TL), ngài quay về núi Đông Dịch góc phía Tây xây
dựng tịnh xá, tạo ra tượng Phật Vô Lượng Thọ rất lớn, cùng với mọi người
niệm Phật tam-muội. Sau đó, Ngài đi du hoá Hàng Châu, rồi dần đến chùa
Thiên Trúc. Năm đầu niên hiệu Thiên Hỷ (1017 TL), vì quan Thị lang Mã
Lượng, Ngài soạn “Vãng
sanh Tịnh độ quyết nghi hành nguyện nhị môn” và “Vãng
sanh tây phương lược truyện”. Ngài xây dựng am Nhật Quán ở một đồi núi phía đông
sau chùa, lấy tưởng niệm về Tây phương làm sự ngiệp. Vào tháng mười, năm
đầu niên hiệu Minh Đạo (1032 TL), ngài viên tịch trụ thế 69 năm. Danh
tiếng ngài vang khắp đến những vùng thôn dã, đức hóa độ bao trùm cả người
và súc vật. Bởi vậy, người đời tôn xưng ngài là “Thiên Trúc Sám Chủ” hoặc
“Từ Vân Tôn Giả”. Sách trước tác của ngài gồm có: “Đại thừa chỉ quán thích yếu” 4 quyển, “Vãng
sanh Tịnh độ sám nguyện nghi”,
“Kim quan minh
tam-muội nghi”,
“Thỉnh Quán Âm
tiêu phục độc hại”,
“Tam-muội nghi
các”
1 quyển, “Kim
viên tập”
và “Thiên trúc
biệt tập”,
mỗi tập 3 quyển …
Tuân Thức tuy đưa ra thuyết “Bổn tánh
Di-đà” “Duy tâm Tịnh độ” nhưng phần nhiều không trải qua luận nghị, lại
không chủ trương quán pháp, chuyên lập chánh tín vãng sanh. Lấy lễ sám
niệm Phật làm sự, lập ra Quyết nghi hành nguyện vãng sanh Tịnh độ gồm hai
môn:
A. Môn giải quyết nghi ngờ
1.
Nghi ngờ thầy
2.
Thầy tà giáo
3.
Thầy chánh pháp
Có phân biệt phàm Thánh, nhân quả mà giáo môn Tịnh độ lấy quả
Phật Thích Ca và mười phương chư Phật làm thầy, ứng hợp với sự ngay thẳng,
tức tin thuận phục tùng đón nhận thật ngữ của thầy, không còn nghi ngờ
thầy mình.
2. Nghi pháp:
a.
Tiểu thừa là không liễu nghĩa
b.
Đại thừa là liễu nghĩa:
Chỉ Đại thừa cũng thấu rõ, không thấu rõ. Nay Tịnh độ tức
giáo liễu nghĩa trong Đại thừa liễu nghĩa. Duy chỉ Phật thừa Viên giáo một
niệm đầy đủ ba ngàn tánh tướng, trong một sát-na đã thâu tóm mười phương
Tịnh, Uế thành tựu tất cả nhân quả một cách nhanh chóng viên mãn. Cho nên,
chúng ta quay về định thần nơi chính mình, trong tâm lúc nào cũng mang
chất “Cửu liên” (Cửu phẩm liên hoa) không ngoài vòng sát-na. Đức Phật
Di-đà thành quả vị cũng nhân quán ở lý này mà phát tâm thệ nguyện rộng lớn
như vậy. Đức Phật Thích Ca thành quả cũng do xưng lý này mà có nhiều lời
tán thán.
3. Nghi chính mình.
B. Môn hành nguyện
Là chỉ bày phương pháp, quy định thực
tiễn thường ngày.
1. Lễ Sám: Hàng ngày lễ Phật sám
hối nghiệp chướng. Đây là nguyên nhân chủ yếu sanh về Tịnh độ.
2. Mười Niệm: Sớm thức dậy áp dụng
phương pháp mười niệm. Phương pháp này không thể phế bỏ.
3. Buộc duyên: Hàng ngày chúng ta
tuy trải qua những việc ở đời nhưng thường không quên đức Phật, như thế là
khuyến khích nhớ nghĩ Tịnh độ.
4. Các việc phước: Tu hành ba phước31 và làm các việc thiện.
Buộc vào duyên này thì các việc phước có thể để ý vào để thực
hành.
Ngài lại nói niệm Phật có mười trường
hợp lợi ích trong hiện tại. Ở trong kệ Chánh tín vãng sanh kịch liệt lên
án sự thấy sai lầm của đồ chúng nhà Thiền.
Ngài Tri Lễ, người Tứ Minh xuất gia từ
thuở nhỏ, thường nghiên cứu luật. Năm thứ 4 niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc
(979 TL), theo ngài Nghĩa Không học Thiên Thai giáo quán. Ở viện Bảo Ân,
Tứ Minh, ngài cùng Phạm Thiên Khánh Chiêu tranh luận quán cảnh chơn vọng,
tiếp tục phân tranh trước sau 7 năm. Chuyện này gọi là tranh luận giữa Sơn
gia phái và Sơn ngoại phái. Đó là một sự kiện lớn hé mở một chân trời mới.
Tháng 2 năm thứ 6, niên hiệu Đại Trung Tường Phù (1009 TL), tại chùa Diên
Khánh, ngài bắt đầu lập hội niệm Phật thí giới. Về sau như thường lệ, mọi
người tu tập như vậy. Hội này có đến cả vạn người. Lúc ban đầu dự định là
210 người, về sau mỗi người rủ thêm 48 người. Mỗi người trong mỗi ngày
xưng danh hiệu Phật một ngàn lần, số này được ghi trên lịch. Mỗi năm, vào
ngày rằm tháng 2 đem lịch tập trung về chùa, rồi góp 48 đồng tiền. Nếu có
người chết thì bảo người nhà ghi họ tên người chết vào tờ lịch mang đến
chùa, người trong hội đều phải niệm Phật một ngàn biến cầu cho người đó
diệt tội mà được vãng sanh. Niên hiệu Thiên Hỷ năm đầu (1017 TL), ngài
cùng mười người nổi tiếng khác hành sám Pháp hoa trong thời gian ba năm.
Sau khi mãn hạn, Ngài sẽ đốt thân cúng dường kinh Pháp Hoa. Nhờ Bí Thư
Giám Dương Ức và ngài Tuân Thức v.v… ra sức can gián, nên ngài đổi chí
hướng của mình. Sau vua ban cho Ngài hiệu là Pháp Trí đại sư, ngài viên
tịch vào tháng Giêng năm thứ 6, niên hiệu Thiên Thánh (1028 TL), trụ thế
69 năm. Người đời gọi Ngài là Tôn giả Tứ Minh, tôn làm tổ Thiên Thai Trung
Hưng (tổ phục hưng tông Thiên thai). Sách ngài soạn gồm có: “Kim
quang minh kinh văn cú ký”
6 quyển, “Quán Âm
huyền sớ kyù”
4 quyển, “Thập
bất nhị môn chỉ yếu sao”
2 quyển. Ngoài ra, còn có những tác phẩm quan hệ đến Tịnh độ như: “Quán
kinh sớ diệu tông sao”
6 quyển, “Quán
kinh dung tâm giải”
1 quyển.
Diệu tông sao là tác phẩm mà ngài đem cả sức lực để
viết lúc tuổi xế chiều. Trong đó, giải thích rõ Thiên Thai quán kinh sớ. Song bài sớ này không phải chính ngài Trí Khải soạn mà nó
được gá vào lúc đời Đường đang hưng thịnh, nhưng được các ngài Nghĩa Thông
v.v… làm và giải thích. Ngài Tri Lễ cũng giải thích rõ điều đó, nhưng giáo
chỉ cơ bản lại nằm trong bài văn. Ngài xướng ra thuyết mới “Ước tâm quán
Phật”, nhưng giải thích luận này là chuyên dùng thuyết Thiên thai, đại
khái hiển bày điều mà ngài Trí Khải muốn nói mà chưa nói được.
Căn cứ vào Diệu tông sao,
chúng sanh có đức tánh thành Phật, chẳng tự chẳng tha, chẳng nhơn chẳng
quả, tức là thể Đại giác thường tròn đầy. Cho nên luận Khởi tín nói là Bổn giác. Đã nói nghĩa Giác tức là tâm thể lìa
niệm, lìa các tướng của niệm đối với hư không giới bao trùm hết tất cả.
Pháp giới nhất tướng tức là Pháp thân Như Lai thường trụ, nương vào Pháp
thân này mà nói thì đó là Bổn giác. Bởi thế, có thể nói thể của quả Phật
tròn đầy sáng suốt. Đức tánh đó hàng phàm phu chúng ta vốn đầy đủ. Điều
thiết yếu cần biết là mỗi mỗi hành pháp mà tất cả Thánh giáo đã nói cũng
đều là chỉ rõ bản thể giác ngộ này.
Trong bộ Ma-ha chỉ quán đề cập
đến 4 loại tam-muội, pháp quán này tuy khác nhưng có điểm chung là lấy
niệm Phật để hiển bày cái bản thể giác ngộ đó. Nay pháp quán của Quán kinh và Bát-chu tam-muội, trong 4 loại
tam-muội là chuyên quán Y báo và Chánh báo của đức Phật Di-đà. Tuy phương
pháp có khác nhưng cùng thực hành một tam-muội. Song ở đây cùng chung một
điểm đồng nhất là muốn hiển bày bản thể giác ngộ vốn có đầy đủ của chúng
sanh. Nhơn vì, tâm tánh chúng ta bao trùm khắp pháp giới, pháp đều tạo ra,
pháp đều đầy đủ, cho nên Y báo của Cực lạc là quốc độ có cây báu đất báu;
Chánh báo của đức Phật Di-đà 32 tướng đều vốn đầy đủ trong tâm ta. Tất cả
do tâm ta tạo ra chứ không phải ở ngoài tâm. Vì vậy quán Y báo, Chánh báo
của Cực lạc, tức là dựa vào cảnh ấy để quán tâm tánh ta. Cho nên từ cái
quán Y báo, Chánh báo của Cực lạc mà hiện ra cảnh giới đó, cũng không
ngoài tâm tánh ta được huân tập bởi thường quán cảnh ấy mà phát ra. Từ đó
hiển hiện đầy đủ Phật và quốc độ này. Ngài cho rằng do quán Di-đà mà tâm
tưởng ta hiện cảm ứng với đức Phật, đó là nghĩa cảm ứng đạo giao. Do sự
ứng hiện cảm ứng với đức Phật này, nên thấu rõ được tâm tánh của ta, biết
được thân đức Phật ấy hoàn toàn vốn đầy đủ trong tâm tánh ta, Phật là
nghĩa tương ứng giải nhập, do nghĩa cảm ứng gá vào nghĩa Phật ấy mà lập
nên. Do nghĩa giải nhập thành lập bởi quán duy tâm, đây tức là chủ trương
mà ngài gọi là Ước tâm quán Phật.
Ngài Nguyên Chiếu người Tiền Đường,
Chiết Giang. Đầu tiên ngài chuyên học về giới luật, sau theo ngài Thần Ngộ
Xử Khiêm học Thiên Thai giáo quán, rộng nghiên cứu đốn tiệm luật nghi tông
Nam sơn. Ngài thường mặc áo vải bố khất thực. Niên hiệu Nguyên Hữu, Ngài ở
chùa Sùng Phước, Linh Chi, Tây Hồ. Ở đó trải qua ba mươi năm, ngài giáo
hoá đạo tục tu tập hướng về Tây phương, đệ tử có đến trăm người. Tháng 9
năm thứ 6, niên hiệu Chính Hoà (1116 TL), ngài viên tịch hưởng thọ 69
tuổi, tên thuỵ của ngài là Đại Trí luật sư; được tôn xưng là tổ thứ 16 của
Nam sơn luật tông. Sách ngài soạn liên quan đến Tịnh độ gồm: “Quán
vô lượng thọ kinh nghĩa sớ”
3 quyển, “A-di-đà
kinh sớ”
1 quyển, “Vô
lượng thọ Phật tán”,
“Trực sanh Tịnh
độ lễ sám hành pháp”,
“Thập nghi luận
khoa các”
1 quyển, “Chi
viên tập”
2 quyển …
Nguyên Chiếu lấy giáo pháp trong
một đời đức Phật Thích Ca chia thành 2 loại:
1. Giáo quán nhập đạo từ cõi Ta bà:
Là kỳ vọng nhập Thánh đắc quả, nói pháp ngay ở cõi Ta bà này.
2. Giáo quán vãng sanh Tịnh độ: Là
kỳ vọng mong cầu vãng sanh Tịnh độ để nói pháp.
Ta bà là thế giới ngũ trược có đủ
loại căn cơ, nên giáo pháp được nói ra cũng không thuần nhất mà có sự khác
nhau giữa: Đại, Tiểu, Thiên, Viên. Cực lạc Tịnh độ là thế giới thuần nhất
Đại thừa, căn cơ tuy có 9 phẩm mà đều là người phát tâm Vô thượng Bồ-đề.
Cho nên nếu sanh vào quốc độ kia thì dứt khoát được bất thối. Căn cơ này
thuần nhất không sanh tạp, tuỳ vào đó giáo quán này cũng thuần nhất Đại
thừa mà không có sự phân biệt Đại, Tiểu, Thiên, Viên. Ý chính mà đức Như
Lai thuyết giáo là khiến cho chúng sanh nhận ra chính tâm mình. Tâm mình
cùng mười phương Như Lai và tất cả pháp giới hàm linh trong thể tánh bình
đẳng không sai khác. Vì vậy, khởi hành ngay tại Ta bà này, hoặc sanh về
Tịnh độ nghe pháp; cuối cùng không ngoài điều là khiến nhận ra tâm mình mà
rõ giáo chỉ Duy tâm Tịnh độ.
Nhưng, Nguyên Chiếu cho rằng quán Phật
quán tâm là Biệt quán, mà đả phá thuyết Ước tâm quán Phật của ngài Tri Lễ;
tức là Thánh giáo đã thuyết, pháp quán có 5:
- Quán
chung các pháp
- Quán
riêng tự tâm
- Hoặc
chỉ quán sắc
- Quán
cả sắc, tâm
- Quán
đối thắng cảnh.
Người kỳ vọng nhập đạo ở cõi Ta bà
đều tất yếu phải quán tâm, người nào muốn cầu sanh Tịnh độ nên thường quán
Phật. Hai hạng người này có 6 điểm khác nhau không thể đồng:
1. Quán tâm nhiếp tưởng qui tâm là
quán Phật ở trong Quán kinh, đưa tâm vào cảnh giới khác.
2. Quán tâm không chọn lựa bốn oai nghi: Đi, đứng, nằm, ngồi
theo pháp quán trong Quán kinh,
chủ yếu là ngồi ngay thẳng, nhưng đều thông với nghĩa của các oai nghi
khác.
3. Quán tâm không hạn chế nơi chốn, quán Phật nên hướng về
phía Tây.
4. Quán tâm không chọn các thời điểm, quán Phật nhất định trừ
những lúc đi vệ sinh và ăn uống.
5. Quán tâm đoạn trừ mê hoặc để chứng Lý, quán Phật đến khi
nghiệp thuần thục thì liền cảm được.
6. Quán tâm xuất hiện nghiệp ma, quán đức Phật là mong sự hộ
trì của Thánh chúng không lo lắng bọc phát ma chướng. Ở đây Ngài cũng dựa
vào kinh A-di-đà chú
trọng thực hành chấp trì danh hiệu, khuyến cáo người không kham nhẫn quán
Phật, nhờ pháp xưng danh hiệu cũng có thể vãng sanh. Cho rằng dựa vào xưng
danh hiệu là được nhiều thiện căn, còn các việc khác là ít thiện căn. Vì
thế nên xưng danh hiệu là diệt tội chướng và được vãng sanh.
4. Tăng, tục của Thiền tông kiêm tu Tịnh độ.
Từ đời nhà Đường trở về sau, Thiền
được chia ra 5 tông phái: Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, Pháp
Nhãn. Đến đời Tống, về sau tông Lâm Tế còn xuất hiện hai tông: Huỳnh Long,
Dương Kỳ. Như vậy có tất cả 7 tông. Trong đó, Vĩnh Minh Diên Thọ là pháp
tôn của tổ Thanh Lương Văn Ích thuộc tông Pháp Nhãn, đứng ra đề xướng
thuyết Thiền Tịnh song tu như trước đã nói. Tông Vân Môn là ở vào thời
Ngũ Đại, ngài Văn Yển của tông Vân Môn đề xướng một phái. Đặc biệt, đệ tử
phái này nhiều người nguyện sanh về Tịnh độ. Thiên Y Nghĩa Hoài là pháp
tôn năm đời của ngài Vân Môn, đệ tử của Ngài là: Pháp Vân Pháp Tú, Huệ Lâm
Tông Bổn, Trường Lô Ứng Phu … đều soạn ra thuyết Duy tâm Tịnh độ.
Ngài Nghĩa Hoài người Lạc Thanh,
Chiết Giang, thừa lệnh ngài Tuyết Đậu Trọng Hiển soạn “Khuyến
tu Tịnh độ thuyết”
một thiên. Từng ở giữa chúng Ngài đặt ra câu hỏi: “Nếu nói bỏ Thiền, nắm
giữ pháp môn Tịnh độ để tu, chán cõi này, thích coi kia, như thức tình còn
sự thủ và xả, đó là vọng tưởng của chúng sanh. Nhưng nếu nói không Tịnh
độ để cầu tức trái với lời Phật dạy. Vậy người tu Tịnh độ nên thực hành
như thế nào?”. Không có người đáp lại, Ngài tự trả lời: “Sanh tức quyết
định sanh, mà đi thật không phải đi, giống như con chim nhạn bay trên
không tuy bóng in mặt nước mà không để lại dấu tích, nước giống như tâm
không lưu ảnh làm gì. Đây là Duy tâm Tịnh độ. Vì vậy, cầu sanh quyết định
được sanh, nhưng thực ra không có đến và đi. Vậy là rõ lý sanh tức không
sanh”.
Ngài Tông Bổn người Vô Tích, Giang Tô,
thuộc vào đời thứ nhất chùa Huệ Lâm, Biện Kinh, tổ chức các thời khóa tu
về Thiền. Ngài nói tâm thường ở thế giới Cực lạc không có hai tướng. Đệ tử
của Ngài là Pháp Vân Thiện Bổn, Cô Tô Thủ Nột, Thủ Nhất Pháp Chơn đều tiếp
thu được sự cảm hoá của thầy, kiêm tu pháp môn Tịnh độ. Ngài Thủ Nột ở
chùa Quảng Giáo, Tuyên Thành, tỉnh An Huy soạn văn “Duy
tâm Tịnh độ”,
noi theo thuyết của ngài Nghĩa Hoài.
Ngài Thủ Nhất ở chùa Tịnh Từ, Hàng
Châu tạo dựng tượng đức Phật Di-đà bằng bảy báu.
Ngài Từ Giác Tông Di, học trò của ngài
Trường Lô Ứng Phu, niên hiệu Nguyên Hữu năm thứ 4 (1089 TL) trú chùa
Trường Lô, Chơn Châu, Giang Tô, vận động mọi người lập hội niệm Phật, gọi
là Liên Hoa Thắng Hội.
Ngài Từ Thọ Hoài Thâm người Thọ Xuân,
tỉnh An Huy, pháp tôn của ngài Tông Bổn. Mỗi khi gặp mọi người ngài chỉ
nói phương pháp tu hành bằng đường tắt, không giống như cầu sanh Tịnh độ,
nhưng tự lập ra đạo trang Tây phương tập hợp mọi người niệm Phật.
Môn hạ tông Tào Động có ngài Trường Lô
Thanh Liễu, người Tả Miên, Tây Thục đã soạn một phần thuyết Tịnh độ. Lại
có ngài Huỳnh Long Ngộ Tân pháp tôn của tổ Huệ Nam, tông Huỳnh Long, soạn
ra bài văn khuyên mọi người tu pháp môn Tịnh độ. Lời văn nói rằng: “Người
tham Thiền niệm Phật là tốt nhất, căn cơ có thể thuần thục sợ đời này chưa
đủ khả năng đại ngộ, nên vì thế nhờ nguyện lực của đức Phật Di-đà để tiếp
dẫn vãng sanh. Danh hiệu đức Di-đà rất dễ niệm, Tịnh độ rất dễ sanh; nếu
niệm Phật mà không sanh Tịnh độ lão Tăng tôi sẽ bị đọa vào địa ngục cắt
lưỡi”.
Đệ tử của tông Dương Kỳ có ngài Đại Huệ
Tông Cảo từng viết lời bạt “Long
thư Tịnh độ văn”.
Học trò của ngài có Vân Thủy Tử Quang ở chùa Phước Thanh, Phủ Điền tỉnh
Phúc Kiến, soạn “Y
thác minh sư thắng địa luận”
3 quyển. Quyển đầu chủ yếu thuật lại sự mong cầu và nương tựa minh sư để
đạt được ba chỗ thù thắng: Chỗ của Thánh Hiền thuộc trung tâm của đất
nước; cõi trời Đâu-suất-đà, Ngài Di-lặc thuyết pháp; Tây phương Tịnh độ
ngài Di-đà xiển dương giáo hóa. Hai quyển trung và hạ chỉ nói rõ pháp môn
Tây phương.
Trong thời gian từ khi bắt đầu kéo dài
đến đời nhà Tống, Phật giáo được truyền bá rộng rãi đến mọi tầng lớp trong
xã hội, cả Tăng lẫn tục, mà giới trí thức đặc biệt yêu thích Thiền. Ngọn
gió Thiền Tịnh song tu cũng thổi đến trong các hàng cư sĩ; lại lưu hành
hội niệm Phật Liên xã, công hầu quan lại có nhiều người tham gia. Nhơn
đây, Tịnh độ giáo được mọi tầng lớp trong xã hội tin tưởng ngưỡng mộ hướng
về.
Dương Kiệt, người huyện Vô Vi tỉnh An
Huy, giữ chức Lưỡng chiết đề điểm hình ngục, nhờ tham vấn học hỏi ngài
Nghĩa Hoài mà được ngộ đạo. Ông soạn
Thiên thai thập nghi
luận tựa, Trực chỉ Tịnh độ
quyết nghi tập tựa … nhằm
mục đích tuyên dương giáo lý quán niệm Phật Di-đà, chủ yếu đề xướng chỉ
chuyên niệm Phật. Lúc tuổi xế chiều, ông vẽ tranh Phật Di-đà cao một
trượng sáu, thường chiêm ngưỡng.
Vương Cổ, người Đông Đô giữ chức Lễ bộ
thị lang, cùng giao du với các ngài Huỳnh Long, Dương Kỳ. Niên hiệu Nguyên
Phong năm thứ 7 (1084 Tl), ông viết “Tân
biên cổ kim vãng sanh Tịnh độ bảo châu tập” 4 quyển và soạn “Trực chỉ Tịnh độ quyết nghi tập” 3 quyển, yếu chỉ nội dung là thuật lại
Thiền, Tịnh hợp nhất.
Tô Thức, tham học ngài Đông Lâm Thường
Tổng mà được khế ngộ. Căn cứ vào di ngôn (di chúc) của bà Vương Thị (vợ
ông), cho chúng ta biết ông đã vẽ tượng Phật Di-đà đem thờ ở chùa Thanh
Lương, Kim Lăng. Tự mình làm văn khen Phật Di-đà; sau đó ông theo giáo
phái Linh Chi Nguyên Chiếu, bỏ lại người mẹ (Trình thị) đã khuất, di vật …
Ông nhờ thợ Hồ Tích vẽ tượng Phật Di-đà để truy tiến phụ mẫu và tự mình
viết kệ nói về việc này. Niên hiệu Thiệu Thánh năm thứ 2 (1095 TL), ông bị
giáng chức đưa đi Huệ Châu, trong tay cầm một cuốn giấy có ảnh Phật Di-đà
nhắm hướng Nam mà đi. Nếu có ai hỏi, ông trả lời: “Thức này là công cứ
vãng sanh Tây phương”.
Giang Công Vọng người Nghiêm Châu, Chiết
Giang, giữ chức quan Tư Gián, hâm mộ Thiền, thường đi tham học với các bậc
có kinh nghiệm về Thiền. Ông có soạn “Niệm
Phật phương tiện môn”
một thiên, cho khắc vào đá để lưu truyền đời sau.
Trần Quán người Nam Bình, Phúc Kiến, làm
quan ngay thẳng liêm khiết, tuổi già luôn chuyên tâm hướng về Tịnh độ. Ông
trước tác “Diên Khánh tự Tịnh độ viện ký” (ghi lại lịch sử viện Tịnh độ và
chùa Diên Khánh); lại soạn bài tựa “Thiên thai thập nghi luận”, “Bảo thành dị ký lục tự” …
Vương Điền người Từ Khê, Chiết Giang,
soạn “Tịnh độ tự tín lục”.
Vương Nhật Hưu người Long Thư, An Huy,
có hiệu là “Long Thư cư sĩ”. Ông đổ tiến sĩ quốc học, bỏ Nho học quay sang
tu Tịnh độ. Niên hiệu Thiệu Hưng năm thứ 30 (1160 TL), ông cầu thỉnh
Bồ-tát Quan Âm gia hộ cho mình về việc chỉnh nghĩa tập kinh Vô lượng thọ
(đã trải qua 4 lần dịch) mà mới làm được hai quyển 56 phần; soạn “Long
thư Tịnh độ văn”
10 quyển, ghi lại cốt lõi pháp Tịnh độ và sự tích của người vãng sanh xưa
nay.
VII. TỊNH ĐỘ GIÁO VÀO
THỜI KỲ NAM TỐNG VÀ NHÀ KIM
1. Sự truyền bá và phổ
biến tín ngưỡng Tịnh độ.
Từ đời Ngũ Đại, nước Liêu ở phương bắc dần dần phát triển thế
lực của mình. Nhưng chỉ đến đời vua Huy Tông, niên hiệu Chánh Hòa, năm thứ
4 (1114 TL), tướng của bộ tộc Nữ Chân cử binh vây hãm chiếm Giang Châu,
Liêu Ninh, rồi đổi quốc hiệu là Kim, tiếp tục tấn công vào những nơi trọng
yếu: Thượng Kinh, Đông Kinh. Sau đó, gấp rút tiến quân về Biện Kinh (tỉnh
Hà Nam ngày nay). Vua Cao Tông di chuyển về phía nam, đóng đô ở Hàng Châu,
gọi là phủ Lâm An, tức là nước Nam Tống. Ở các địa phương thuộc tỉnh Chiết
Giang, từ xưa tới nay Phật giáo phát triển hưng thịnh. Đặc biệt từ đời Nam
Tống trở về sau, địa phương này được chọn làm trung tâm, giáo lý mầu nhiệm
truyền rộng khắp nơi, đây là thời vàng son của Phật giáo. Thiền và Thiên
Thai giáo có mối liên hệ khăng khít giữa đời và đạo, pháp vãng sanh Tịnh
độ cũng thịnh hành.
Đặc biệt riêng về pháp môn của Thiên thai, ở trong môn nhơn
của ngài Nam Bình Phạm Trân và Quảng Trí Thượng Hiền, lúc này phần nhiều
đều nguyện sanh về Tịnh độ. Từ ngài Nam Bình trở về sau bốn đời, kế thừa
có ngài Trúc Am Khả Quán. Ngài người Hoa Đình, Giang Tô, đã từng soạn ra “Khuyến
tu Tây phương thuyết”
một thiên, để khích lệ cho những người hướng về Tây phương.
Ngài Giả Danh Như Trạm, người Vĩnh Gia, Chiết Giang, đặt ra
thời khóa mỗi ngày tụng một bộ
Pháp hoa và niệm danh hiệu Phật hai vạn tiếng. Ngài soạn “Tịnh
nghiệp ký”
4 quyển, giải thích “Thiên
Thai quán kinh sớ”,
và viết Thuyết
tri lễ.
ngài bị người đương thời bình phán là “Sơn Ngoại”.
Ngài Tuyết Khê Hi Ngạn32, người Tứ Minh, Chiết Giang, khi
tuổi xế chiều về sống ở am Lệ Thị, Đào Nguyên. Trải qua hơn mười năm, ông
chuyên tâm niệm Phật. Tấm biển của am được đặt tên là “Ức niệm am” (am nhớ
niệm).
Ngài Nam Hồ Liễu Tuyên người Tây Minh, tu Pháp hoa sám pháp
trong thời gian 27 năm. Mỗi khi thuyết pháp, ông thành khẩn khuyên mọi
người cầu sanh về An dưỡng.
Ngài Viên Thông Tư Phạm, người Lâm Bình, Hàng Châu, vãn niên
ngài về am Qui Vân, soạn “Hội tông tập” để bàn bạc thảo luận về hai tông Thiền và Giáo.
Ngài Bắc Quan Tư Tịnh, người Tiền Đường, tự là “Tịnh độ Tử ”
(người con Tịnh độ). Thời khóa mỗi ngày, ngài thường tụng
Quán kinh và
niệm Phật A-di-đà. Đầu niên hiệu Đại Quan, ngài Bắc Quan xây dựng tinh xá
Diệu Hạnh ở Đô Thành, chiêu đãi ba trăm vạn Tăng Vân Thủy33 dùng bữa. Đặc
biệt, ngài khéo vẽ hình tượng Phật, trước khi cầm bút ông thường vào thất
niệm Phật, quán tưởng hình ảnh đức Phật. Một hôm, ngài vẽ một tượng cao
một trượng sáu, bỗng nhiên chợt thấy ánh hào quang của Phật phát ra. Mọi
người thấy vậy đều chiêm ngưỡng, lễ bái. Từ đó, ngài nhận ra được sự vi
diệu của bút pháp.
Từ ngài Quảng Trí Thượng Hiền trở về sau, có ngài Viên Biện
Đạo Thâm, người Lạc Thanh, Ôn Châu. Ngài đã soạn “Duy
tâm Tịnh độ thuyết”
một thiên; tại chùa Diên Khánh, ngài quy định cứ ngày thứ hai mươi ba mỗi
tháng, tín đồ tập hợp lại để tu Tịnh độ trong hội Hệ Niệm (buộc niệm), cả
đạo lẫn đời tập trung đến cả vạn người. Môn nhơn của ngài có Nguyệt Đường
Huệ Tuân, ở chùa Diên Khánh, trấn hưng Liên xã Tây qui (về Tây phương),
chiêu mộ được mười tám người, tinh tấn niệm Phật tam-muội. Người kế thừa
ngài là Thạch Chi Tông Hiểu, người Tứ Minh, soạn “Lạc
bang văn loại”, “Pháp
hoa hiển ứng lục”, “Tứ
minh giáo hành lục” v.v… Trong đó, “Lạc bang văn loại” được ấn hành vào năm thứ 6 niên hiệu
Khánh Nguyên (1200 TL). Ngài lại tập đại thành toàn bộ những tác phẩm có
liên quan đến văn hiến Tây phương Tịnh độ xưa nay, phân thành mười bốn
môn, tóm thâu: Lục, Tự, Bạt, Ký, Truyện, Kệ, Tán v.v… có hơn hai trăm hai
mươi thiên.
Lại có ngài Thảo Am Đạo Nhân, người Tứ Minh, ở chùa Diên
Khánh, đã từng thấy ngài Nguyên Chiếu phê bình “Ước tâm quán Phật”, ông
viết ra một quyển “Phụ
chánh giải”
(1 quyển) phản bác điều đó. Ông soạn thuyết khác về Tịnh độ như: Niệm Phật tâm yếu tụng v.v…
để khen ngợi, ngưỡng mộ Tây phương.
Huệ Quang Nhã Nột, người Hỷ Hưng34, ở chùa Thượng Thiên Trúc.
Vua Cao Tông, niên hiệu Càn Đạo năm thứ 2, có cảm tình với chùa, nên ban
cho hai vạn tiền, kiến lập nhà (đường) Thập lục quán, sắc phong ngài “Hàn
lâm học sĩ lâu thược tác ký”, trong Cấm cung cũng kiến lập Quán đường. Bốn
tháng sau, ngài thỉnh năm mươi vị Tăng hành pháp Kim quang minh tam-muội
để cầu cho đất nước bình an.
Ngài Nam Hồ Vinh Thiện khắc chạm tượng Di-đà niêm thí cho mọi
người trong hội, rồi vẽ hình tượng Quán Âm Đại Sĩ phân phát cho mọi người.
Đệ tử của ngài là Mặc Dung Hải Ấn soạn ra truyện “Tịnh
độ vãng sanh”
12 quyển.
Ngài Đại Thạch Chí Bàn, vào tháng tám năm thứ 5 niên hiệu Hàm
Thuần 1269 TL), ngài soạn “Phật tổ thống ký” 54 quyển, “Tịnh độ lập giáo chí” 3 quyển.
Đầu đời Nam Tống, thiền Tăng tu Tịnh độ có ngài Từ Thọ Hoài
Thâm, Chơn Yết Thanh Liễu. Lại có ngài Mục Am Pháp Trung, người Tứ Minh.
Vào niên hiệu Thiệu Minh, năm thứ 3 (1133 TL), Trịnh Tử Long ở Nam Nhạc,
kiến lập tháp Di-đà để thờ những binh sĩ đã chết bất đắc kỳ tử trong thời
loạn lạc. Nhân đó, ông soạn bài ký về sự việc này.
Ngài Tịch Đường Sư Nguyên, người Hoa Đình, sáng lập chùa Bạch
liên ở Hồ (Châu), Biền Sơn (tỉnh Chiết Giang). Ngài khuyên mọi người cầu
sanh về Tây phương, sự hóa độ của ngài trải khắp mười châu.
Ngài Hoá Đạo Trí Liêm, tuổi về chiều, tinh thần luôn hướng về
Tây phương. Vào tháng tám năm đầu niên hiệu Khánh Nguyên (1195 TL), ngài
quán thấy đức Phật A-di-đà, liền viết kệ để lại rồi nhập tịch.
Thời gian này, cư sĩ lập ra hội niệm Phật cầu sanh về Tịnh độ
cũng rất nhiều như: Ông Vương Trung, người Gia Hòa, Chiết Giang. Trong
những năm niên hiệu Chính Hòa, thời gian ở ẩn, ông nguyên cứu học tập,
thời khóa ông đặt ra mỗi ngày để tu là tụng bảy biến Di-đà, niệm Phật một
vạn câu. Về sau, Ông đứng ra lập hội niệm Phật, mọi thành viên trong hội
không phân biệt giai cấp đạo đời, giàu nghèo… Ngoài ra, ông còn viết “Khuyến tu Tây phương văn”
một thiên.
Ông Vương Dĩ Ninh làm quan đến chức “Đãi chế ”. Ông viết ra
một thiên sách “Quảng
bình phù nhơn vãng sanh kyù”,
gởi gấm ý chí của mình.
Bằng Tập, người Toại Ninh đất Thục (tỉnh Tứ Xuyên ngày nay),
giữ chức quan “Cấp sự” soạn “Tây phương lễ văn” 3 quyển, “Di-đà sám nghi” 1 quyển. Ở Hương Đô, ông dẫn dắt đạo tục, bằng cách chỉ ra
cho họ lập hội “Tịnh độ hệ niệm” để tu tập.
Ông Lý Tế, người Võ Lâm, Chiết Giang, hiệu là “Tây Quy Tư û”
(người con hướng về Tây phương), theo bạn là thầy Chứng Thông lập hội “Tây
Tư” (giúp đỡ về vật chất cho những người có chí hướng về Tây phương). Ông
còn làm thơ ca ngợi các bậc Thượng thiện nhơn Tịnh độ, tất cả hơn năm trăm
bài.
Trương Luân giữ chức quan “Chiết tây phó đô tổng quản”. Niên
hiệu Càn Đạo năm đầu (1165 TL), tại tư gia của mình, ông sáng lập hội niệm
Phật, đào ao thả sen. Hằng ngày, thúc giục vợ con tham gia thời khóa tu
tập, niệm danh hiệu Phật đến một vạn lần. Vào hai mùa xuân và hạ mỗi năm,
những người trong hội có niềm tin đối với đạo đều tinh tấn tu Tịnh nghiệp.
Năm sau, vua Cao Tông viết chữ hai chữ lớn “Liên xã” ban tặng.
Ngô Khắc Kỷ và Bảo Tích Thật Sư đứng ra lập hội niệm Phật
(Liên xã), sai thợ vẽ họa cảnh Thập giới cửu phẩm (mười giới chín phẩm)
hai dãy nhà hai bên. Ông Chung Ly Tùng liên minh với hội Liên xã của Bảo
Tích, soạn “Bảo
tích viện Liên xã họa bích ký”,
ghi lại việc vẽ tranh này.
Lý Bỉnh, cuối niên hiệu Thiệu Hưng, mới ra làm quan chức “Nội
diên”, khắc bài văn “Long thư Tịnh độ”, khuyên người đời trì tụng. Con của ông là Nguyên Trường ở
chùa Truyền Pháp, đứng ra lập hội tu Tịnh nghiệp.
Tiền Tượng Tổ, người Thai Châu, Chiết
Giang, niên hiệu Gia Định năm thứ 2, từ chức Tả Thừa Tướng. Sau đó, ông về
trấn thủ Kim Lăng ở Hương Châu, Ông xây dựng được mười ngôi chùa, đều lấy
cùng tên “Tịnh độ Cực lạc”. Niên hiệu Gia Định, năm thứ 4, ông thấy rõ
điềm tốt báo trước, bèn thị tịch.
Tản Định Quốc, người Minh Châu, Chiết
Giang, giữ chức Châu Học Dụ, lập hội Tây Quy. Đầu niên hiệu Gia Thái, ở
chùa Huệ Quang, ông kiến lập viện Tịnh độ. Cứ mỗi tháng vào ngày 28, Tăng,
tục tập trung về chùa tụng kinh
Quán vô lượng thọ và niệm danh hiệu Phật, ông còn viết ra “Phách
khoa đồ”
(hình ấn lỗ ngón tay) khuyên mọi người niệm Phật nhớ số.
Tôn Như Khuê, người Phú Dương, Chiết
Giang, cha con nhà ông đứng ra lập hội niệm Phật. Hội này, người như ông
có hơn 30 người theo tu Tịnh nghiệp.
Trịnh Thanh Chi là tướng dưới đời vua Lý Tông, được phong
“Ngụy quốc công”. Ông đã viết ra một thiên sách khuyên tu Tịnh độ (Khuyến
tu Tịnh độ văn).
Khi nhà Kim tiêu diệt kinh đô Liêu ở Thượng Kinh; đến đời Thế
Tông kinh đô được dời đến Yên Kinh, còn vua đi đến phương Bắc. Phật giáo
không còn thịnh hành và Văn hiến Tịnh độ truyền thừa suy kém dần. Bộ “Tân
tục cao tăng truyện”,
“Ngũ đăng nghiêm
thống”35,
“Giác hổ tập”36
nêu việc ấy (Tịnh độ lúc đó) như một vảy trên thân con cá mà thôi.
2. Tông Bạch liên của Tử Nguyên cùng tà thuyết trong đồ
chúng của ngài.
Tử Nguyên, người Côn Sơn, Bình Giang, Tô Châu, Ngài họ Nha,
hiệu “Vạn Sự Hưu”, mười chín tuổi xuất gia, học chỉ quán, theo ngài Cô Tô
Tịnh Phạm thọ học giáo nghĩa của Thiên thai. Một hôm, nghe tiếng con quạ
kêu mà đắc ngộ, từ đó khởi tâm lợi tha để nhiếp hóa mọi người. Noi theo di
phong hội Bạch liên ở Lô Sơn, ngài soạn Liên tông thần chiêu sám nghi,
rộng khuyên mọi người niệm Phật và hành trì năm giới, quán thân mình thay
cho chúng sanh trong pháp giới để lễ sám; tạo điều kiện khuyên mọi người
vãng sanh Tây phương. Về sau, ở tại Điến Sơn Hồ, Bình Giang, Giang Tô,
ngài lập ra “Bạch liên sám đường” cùng đại chúng tu Tịnh nghiệp. Lúc này,
có người cho rằng thuyết của ngài nghiêng về dị đoan tà thuyết, họ báo với
quan về điều đó. Đầu niên hiệu Thiệu Hưng, năm 46 tuổi, ngài bị đày tới
vùng Giang Tây, Cửu Giang. Song thật không uổng phí lòng tin và sự giáo
hóa mọi người, còn soạn “Tây phương tập”. Nên vào Niên hiệu Thiệu Hưng năm thứ 3 (1133 TL), ngài
được tha bổng, theo chiếu chỉ của vua Cao Tông vào điện Đức Thọ vì vua Cao
Tông giảng thuyết về pháp yếu Tịnh độ, khuyến khích mọi người tu theo Tịnh
nghiệp, được vua ban Liên tông Đạo Sư Từ Chiếu Tông Chủ, hiệu “Tinh Kim
Lan Y”. Sau đó, ngài đến chùa Chiêu Khánh, Tây Hồ làm lễ khánh tạ ơn Phật,
rồi quay về Bình Giang giáo hóa. Lấy bốn chữ “Phổ Giác Diệu Đạo” để định
tên cho tông; lại soạn “Viên dung tứ độ tam quán tuyển Phật đồ”,
“Tịnh độ Phật môn
cáo giới”,
“Phật niệm ngũ
thanh”,
“Di-đà tiết yếu”,
“Pháp hoa bách
tâm”,
“Chứng đạo ca”
v.v… nhằm để tuyên dương sự lớn mạnh của tông phong mình. Vào ngày 23
tháng 3 năm thứ 2, niên hiệu Càn Đạo (1166 TL), ở Kiến Trạch, Nghê Phổ,
Đạc Thành, ngài từ biệt mọi người, an nhiên thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi.
Về sau, môn đồ của ngài có các cư sĩ phát triển lưu truyền lời dạy của
ngài. Mặc dù có được những hoài bão lớn như vậy, nhưng nó giống như một
dòng nước bị ngăn lại, vì người đời vẫn bắn vào những “loạt đạn” phê phán.
Đầu thời vua Thành Tông, ngài Ưu Đàm Phổ Độ mới làm rõ thuyết của Tử
Nguyên.
Sách của ngài Tử Nguyên không được lưu
truyền, chỉ có bộ “Lô
sơn liên tông bảo giám” của ngài Phổ Độ là được truyền dựa vào những trước tác của
ngài Tử Nguyên, nhờ đó mà chúng ta mới có thể nhận thấy chủ trương tổ chức
theo giáo chỉ tông Bạch liên của ngài Tử Nguyên. Liên tông bảo giám toàn
bộ có mười phần:
1.
Niệm Phật chánh nhân
2.
Niệm Phật chánh giáo
3.
Niệm Phật chánh tông
4.
Niệm Phật chánh phái
5.
Niệm Phật chánh tín
6.
Niệm Phật chánh hạnh
7.
Niệm Phật chánh nguyện
8.
Niệm Phật vãng sanh chánh quyết
9.
Niệm Phật chánh báo
10.
Niệm Phật chánh luận
Cuối phần thứ tư niệm Phật chánh phái có nói rằng: “Tổ sư Tử
Nguyên của chúng tôi, vì muốn cho chúng sanh trong đại địa thấy được bổn
tánh Di-đà, đạt Duy tâm Tịnh độ, đạo Bồ-đề vi diệu được giác ngộ khắp cả
chúng sanh, nên mới lập bốn chữ ‘Phổ Giác Diệu Đạo’ để định tên cho tông”.
Giải thích ý nghĩa này là: Đối với chúng sanh trong thế giới bình đẳng gọi
là “Phổ”; trí đạt đến lý này gọi là “Giác”; dụng đức vô biên gọi là
“Diệu”; lối đi của ngàn Thánh gọi là “Đạo”. Ngài lại lược nói qua về tâm
tánh của mình, Phổ tức là thể của tự thân biến khắp mười phương, Giác là
dụng trí của tự tâm chiếu soi không mê mờ, Diệu là hạnh của tự tâm lợi vật
ứng cơ, Đạo là lý của tự tâm thông đạt sự trung chánh. Dùng bốn chỗ này
giống như một thân người có dụng là: Đầu, mắt, tay, chân; tức là một không
thể phân ra. Lại nói rằng hằng sa chư Phật đã chứng, lịch đại tổ sư đã đắc
quả đều không ngoài nghĩa này. Đạo này là chỗ đã học của người vãng sanh
mười phương, cũng là chỗ người tu hành ở đời vị lai sẽ học, nên yếu chỉ
này được nhấn mạnh.
Tử Nguyên soạn “Viên dung tứ độ tuyển Phật đoà”, nói rõ sự tạo tác tịnh, uế, mê,
ngộ chỉ do tâm. Vả lại, ngài chỉ ra sự sâu cạn cũng do tâm, mới thấy trong
quốc độ có cao thấp.
Đầu tiên đưa ra Viên dung tứ độ tổng tướng đồ (hình tổng
tướng), thứ đến biệt tướng đồ, phương đông Phật Thích Ca, phương tây Phật
Di-đà, tâm quán tứ độ đồ. Rồi phân riêng mười loại Tứ độ đồ, mỗi mỗi họa
đồ đều chỉ bày tướng viên dung. Vả lại, mỗi bản đồ đầu đề đều có kệ tụng,
giải thích thuyết minh ý của chúng, vì căn cơ có cao thấp nên chỗ thấy về
Tịnh độ có khác nhau. Từ đó, chỗ thực hành tu tập cũng không đồng.
Tóm lại bộ “Lô Sơn Liên tông bảo giám” đã ghi lại ý nghĩa của Bạch liên tông,
đại thể trong đó nương vào giáo thuyết của các học giả tông Thiên thai,
nên phân biệt rất khó khăn, bởi lẽ có xen tà thuyết. Nhưng vì sanh tiền,
ngài đã có cái nhìn của người “dị đoan” nên bị chi phối nhiều mặt; sau khi
ngài mất, bộ “Thích
môn chánh thống”
được ngài Tông Giám mới sắp xếp lại và gạt bỏ những hư dối; còn sách “Phật
tổ thống ký”
của ngài Chí Bàn nói về bè phái ma tà, nên sau đó không lâu (tà thuyết của
đệ tử Bạch liên tông) đã bị lụn bại. Lúc đó, tông đồ của ngài biểu hiện
những tệ hại về sự xuống cấp đạo đức như hành dâm và những việc làm ô uế …
Ở trong phần thứ mười niệm Phật chánh luận, sách Liên tông bảo giám của
ngài Phổ Độ cũng có nêu ra những hành vi sai trái đi cùng với tà thuyết
của tông Bạch liên, mỗi mỗi được ngài nêu ra dùng để phá những tà thuyết
ấy.
Trong đồ chúng tông Bạch liên có kinh “Chơn
tông diệu nghĩa”
là ngụy tạo, lấy cái tinh khí thần của Đạo giáo phối hợp cùng với Tam bảo
là Phật, Pháp, Tăng; đường hướng của kinh chỉ dẫn về sự vận tinh khí thần.
Như vậy, họ quay lưng lại không cung kính sự chân thật của Tam bảo. Lại
còn đề xướng thuyết “Lục môn kiến tánh” cho nhục thân là Phật thể để đắc
được sự tiên tri tốt xấu, tội phước. Lại lấy tướng hợp nhất của kinh Kim cang, theo đó hợp làm tướng hợp nhất của vợ chồng; hiểu
điên cuồng cho rằng việc hành dâm của nam nữ là phước huệ song tu. Lấy cái
không sinh không diệt của kinh Bát-nhã, với ý giải thích rằng không sinh sản, thì sau không đoạn ý
dục. Các lậu đã tận trong kinh Pháp hoa, chỉ ra thân người có bảy báu
không thể vứt bỏ được; lại còn cho sự bí tinh là vô lậu, mà phổ biến sự ô
uế của pháp hành dâm.
Nói chung, ban đầu tông Bạch liên lưu hành
rộng rãi khắp nơi, mọi người đều trì giữ năm giới, niệm Phật, xem trọng
giới không sát sanh, không uống rượu ăn thịt, chuyên về trường trai. Do
đó, đồ chúng của ngài được gọi là “Bạch liên thái” (hội Bạch liên ăn rau).
Nhân vì hội vốn là người tại gia, họ thường tập trung về đêm, lẽ tất nhiên
nảy sinh những mối quan hệ phức tạp bất chính, tệ nạn v.v… giữa nam và nữ.
Thêm vào đó, lúc này đạo giáo có sự mê tín, xấu xa lan tràn khắp nơi; núp
dưới tên gọi là thuật “dưỡng khí đan điền” chuyên dạy pháp tạp uế. Tự
nhiên theo sự ảnh hưởng đó mà bỏ quên lời dạy của Phật, bọn họ dắt díu
nhau làm những việc sai trái; để rồi sau này chúng hình thành một lũ giặc
phá hoại giáo pháp, tạo ra nguy hoại cho trật tự quốc gia xã hội. Điều này
thật hiếm thấy trong lịch sử Phật giáo.
VIII. GIÁO THẾ TỊNH ĐỘ GIÁO TRONG ĐỜI NGUYÊN
Lúc này Nguyên Thái Tổ Thành-cát-tư-hãn lập nước Mông Cổ định
đô ở Hòa Lâm nhằm năm thứ 2 niên hiệu Khai Hỷ, Nam Tống (1206 TL). Đến đời
Thế Tổ Hốt-tất-liệt mới thôn tính hết nhà Tống, đặt quốc hiệu là Nguyên,
dời đô về Yến Kinh. Tuy hoàng tộc tôn trọng vào Lạt-ma giáo, nhưng đối với
Phật giáo cũng có sự bảo vệ, giúp đỡ, như các giáo phái Thiền, Thiên Thai
và Tịnh độ. Những địa phương ở phía nam tỉnh Chiết Giang, Phật giáo vẫn
tiếp tục đâm chồi nảy lộc và giữ được tầm vốc lớn mạnh như xưa.
Nối thừa tư trào nhà Tống trở về sau, ở phương nam, trong
Thiền Tăng nhiều người kiêm tu Tịnh độ, sớm nổi tiếng như các ngài: Trung
Phong Minh Bổn, Thiên Như Duy Tắc, Sở Thạch Phạm Kỳ v.v…
Ngài Minh Bổn người Tiền Đường, Chiết
Giang, niên hiệu Chí Nguyên năm thứ 23 (1286 TL), vào viện Sư Tử, núi
Thiên Mục, Chiết Giang được ngài Cao Phong Diệu Nguyên truyền tâm ấn. Niên
hiệu Đại Đức năm thứ 10 (1306 TL), ngài đảm nhận chức trù trì viện Sư Tử.
Vua Nhân Tông ban cho hiệu “Phật Từ Viên Chiếu Quảng Huệ Thiền Sư”. Niên
hiệu Chí Trị năm thứ 3 (1323 TL), ngài viên tịch vào tuổi 61. Sách ngài
viết gồm có: “Thiên mục trung phong hoà thượng quảng lục”
30 quyển, “Đồng
tạp lục”
3 quyển. Ngài thường chủ trương đề xướng “Thiền chính là Tịnh độ thiền,
Tịnh chính là Thiền Tịnh độ”. Với tấm lòng luôn ôm ấp hoài bão về Tịnh độ
được thể hiện qua mấy câu thơ :
Thiền ngoại bất tằng đàm Tịnh độ
Tu tri Tịnh độ ngoại vô Thiền
Lưỡng trùng công án đô niêm khước
Hùng nhĩ phong khai ngũ diệp liên.
Tạm dịch:
Ngoài Thiền chưa
từng bàn Tịnh độ
Cần biết Tịnh độ chẳng ngoài Thiền
Cả hai công án đều thoả đáng
Sen nở năm cánh trên núi Hùng37.
Lại khuyên mọi nguời niệm Phật A-di-đà qua
bài kệ :
Tiệp kinh pháp môn
Duy hữu niệm Phật
Nhất đại tông sư
Cá cá niệm Phật
Cổ kim danh hiền
Nhơn nhơn niệm Phật
Ngã kim hữu duyên
Đắc ngộ niệm Phật
Niệm Phật niệm Tâm
Niệm Tâm niệm Phật
Khẩu thường niệm Phật
Tâm thường kính Phật
Tạm
dịch:
Pháp môn ngắn nhất
Chỉ có niệm Phật
Bậc thầy một đời
Ai cũng niệm Phật
Xưa nay gọi Hiền
Là người niệm Phật
Ta nay có duyên
Gặp được pháp này
Niệm Phật niệm tâm
Niệm tâm niệm Phật
Miệng thường niệm Phật
Tâm luôn kính Phật.
Ngài Thiên Như Duy Tắc người Vĩnh Tân,
Giang Tây, nhờ ngài Minh Bổn mà khế ngộ đựơc yếu chỉ Thiền. Vào niên hiệu
Chí Chánh, năm đầu (1341 TL), ngài cư trú ở rừng Sư Tử, trấn hưng đạo
pháp. Ngài soạn sách “Lăng
nghiêm hội giải”…, lại viết một quyển “Tịnh độ hoặc vấn” (1 quyển) đề xướng lên con đường Thiền
Tịnh song tu, làm sáng tỏ yếu chỉ Duy tâm Tịnh độ. Vào năm 69 tuổi, ngài
viên tịch. Sách để lại có “Thiên
Như Duy Tắc thiền sư ngữ lục” 9 quyển. Trong sách Tịnh độ hoặc vấn, ngài chỉ trích những sai sót của các Thiền gia. Ngày xưa, Thiền gia
lấy việc thấy rõ đại sự làm việc cốt yếu, đại sự một khi đã rõ thì không
tránh sanh tử, mà ngược lại rộng độ chúng sanh; chán khổ hướng về an lạc,
hạnh phúc chẳng phải vốn là chí nguyện của các ngài, nên cũng không mong
về Tịnh độ.
Song, tuy đã khai ngộ nhưng phiền não chưa
dứt trừ hẳn; lại tuy có sự ngộ sâu, thấy xa hành và giải tương ưng, nhưng
nếu chưa lên quả vị bất thối, thì không thể đủ sức giáo hóa chúng sanh can
cường trong cõi đời uế trược. Trái lại, nếu vãng sanh Tịnh độ thì sức nhẫn
dễ thành tựu, lại gần gũi nhờ Phật thọ ký, đến đi được vô ngại. Trở lại Ta
bà có thể giáo hóa chúng sanh được như ý. Do đó, bậc thượng căn xưa nay
đều gấp nguyện vãng sanh. Ngài cũng viết thuyết “Duy tâm Tịnh độ” và “Bổn
tánh Di-đà”, cho rằng một tâm này tự nó có đầy đủ bốn cõi:
1. Đồng cư độ.
2. Phương tiện độ: Hai cõi này đều là Ứng
độ, nơi cư trú Ứng thân Phật.
3. Thật báo độ: Cõi này cũng vừa Ứng độ
vừa Báo độ, nơi cư trú của Báo thân Phật.
4. Tịch quang độ: Cõi chẳng ứng, chẳng
báo; nơi cư trú của Pháp thân Phật.
Bốn cõi, ba thân này đều tuỳ thuộc vào
nghiệp cảm căn cơ; mười phương vi trần cõi nước chỉ là cõi ở trong tâm ta.
Ba đời hằng sa chư Phật chỉ là Phật ở trong tâm ta, tức nương vào trong
tâm của ta thì không có quốc độ nào mà không được kiến lập, do tánh của ta
mà Phật được phát hiện.
Ngài Sở Thạch Phạm Kỳ người Tượng Sơn,
Chiết Giang, sau khi yết kiến ngài Nguyên Tẩu Hạnh Đoan mà đắc ngộ. Ngài
trú trì chùa Vĩnh Tộ ở Tây Hồ, phía Tây chùa xây một nhà “Tây Trai” để
chuyên tu về Tịnh nghiệp. Niên hiệu Hồng Vũ năm thứ 3 (1370 TL), ngài
viên tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sách ngài trước tác có: “Tây
trai Tịnh độ thi”
3 quyển, “Ngữ lục”
20 quyển. Tâp thơ Tịnh độ, nội dung đều nhằm khuyến khích hướng về Tịnh
độ. Trong đó, phần bài tựa nói về tướng hảo của Phật và sự trang nghiêm
của cõi Tịnh độ. Những việc ấy đều xuất phát từ trong tâm ta, tâm không tự
thấy tâm thì không có tướng khả đắc.
Pháp tôn của Ngài Nguyên Tẩu có Ngài Vô
Chỉ Khả Thọ, người Lâm Hải, Chiết Giang sống ở am Cấu Hưu, hằng ngày niệm
Phật tam-muội. Lại có ông Hối Đường Chương Công sống ở am Thiên Mục Tây
sáng lập hội “Tây Tư”, cứ mỗi tháng các người bạn thiền của ông tập hợp
theo quy định “Đồ-tỳ”38 của ngài Bách Trượng, họ tu tất cả ba thời, buộc
chặt tâm vào việc niệm Phật.
Ngài Vân Phong Diệu Cao người Tây Thục,
nối dòng pháp ngài Đoạn Vân Trí Triệt. Ngài trước tác “Thiền
tông quyết nghi tập”
1 quyển, lại soạn “Tịnh
độ cứ yếu”
đề xướng con đường tham cứu pháp niệm Phật: “Niệm Phật một tiếng hoặc 37
tiếng”, im lặng hỏi lại: “Đây là một âm thanh, vậy Phật đâu”? Lại hỏi:
“Niệm Phật này là ai” thì “Hoa tâm bừng nở, mắt mộng mở ra, phía trước là
quê nhà”. Đó đều là những yếu ngữ của ngài.
Các thầy ở tông Thiên Thai phần nhiều cũng
có người quy hướng về Tịnh độ, như ngài Trạm Đường Tánh Trừng, người Hội
Kê, Chiết Giang, nối phápï của ngài Vân Mộng Sung Trạch. Sách ngài soạn “A-di-đà
kinh cú giải”
1 quyển, “Kim
cang kinh tập chú”
v.v… “A-di-đà
kinh cú giải”
là dựa vào giáo chỉ Thiên Thai để giải thích văn nghĩa của kinh, cho rằng:
Chấp trì danh hiệu Phật, nhất tâm bất loạn làm Chánh hạnh; làm các việc
phước thiện như tam phước là Trợ hạnh. Trong đó, nhất tâm được phân chia
ra: Sự nhất tâm và Lý nhất tâm; rút ra từ trong bốn giáo: Ba giáo đầu xưng
tên người, chỉ được sự nhất tâm, nên thuộc về “Tán thiện”. Còn Viên giáo
xưng tên người không những chỉ ra Sự Lý đều được, mà cũng hiển bày sự lý
không hai, cho nên thuộc về “Định thiện”. Môn đệ của ngài cũng đều tu theo
Tịnh nghiệp.
Ngài Ưu Đàm Phổ Độ, người Đan Dương, Giang
Tô, vào chùa Đông Lâm ở Lô Sơn xin xuất gia rất sớm. Sau đến yết kiến và
thọ lãnh yếu chỉ thiền của thiền sư Bảo Sơn Tuệ. Ngài lại trải qua một
thời gian đi tham cứu các nơi, rồi trở về chùa Đông Lâm tu niệm Phật
tam-muội, nhưng tâm trạng ngài không được vui khi biết được một nhóm đồ
chúng tông Bạch niên của ngài Từ Chiếu Tử Nguyên có khuynh hướng theo tà
thuyết, tà hạnh. Vào niên hiệu Đại Đức, năm thứ 9 (1305 TL), ngài soạn “Lô Sơn Liên tông bảo giám”
10 quyển, nhằm phát huy ý nghĩa tông bổn của mình, chỉ ra phương hướng
đường lối bài trừ tà thuyết. Niên hiệu Chí Đại năm đầu (1308 TL), gặp lúc
Bạch liên tông xuống dốc; vào tháng 10 năm đó ngài khắc in ấn sách này để
trình vua. Đến triều vua Nhân Tông, ngài tấu biểu xin phục hưng Phật giáo.
Niên hiệu Hoàng Khánh năm đầu (1312 TL), nhà vua xuống chiếu cho sách này
được lưu hành khắp các tỉnh, lại để phục hưng cho tông Bạch liên. Khi ấy,
ngài giữ sứ mệnh làm giáo chủ Bạch liên, được vua sắc hiệu Hổ Khê Tôn Giả.
Vào niên hiệu Chí Thuận năm đầu (1330 TL), ngài viên tịch, người đương
thời tôn xưng vgài là Ưu Đàm Tông Chủ. Sách Liên tông bảo giám đã nói
ở trước, chính là noi theo thuyết của Tử Nguyên.
IX. TỊNH ĐỘ GIÁO VÀO ĐỜI
NHÀ MINH
1. Các học giả Thiên Thai
và Thiền tuyên dương Tịnh độ.
Triều
Minh thống trị thiên hạ trong khoảng thời gian 300 năm, lập ra qui chế cho
hai tôn giáo: Phật giáo, Đạo giáo và bảo hộ hai tôn giáo ấy. Nho giáo cũng
đang chuyển mình mở đầu cho thời kỳ phục hưng, văn hiến, văn hóa cũng rất
thịnh vượng. Phật giáo thừa kế dư phong của của đời Tống và Nguyên để lại,
Thiền tông rất thịnh. Thứ đến, Thiên Thai ra đời trổi dậy hưng thịnh. Tịnh
độ phụ thuộc vào sự dìu dắt của hai tông này. Đó là thực tế tính ngưỡng
rộng lưu hành trong nhân gian kể cả Tăng lẫn tục, từ đó lộ rõ trạng thái
đang phát triển cường thịnh của Phật giáo.
Đầu
đời Minh, trong môn phái Thiên Thai có các ngài: Cừ Am Đại Hữu, Ngân Giang
Diệu Hiệp … Thiền tông cũng có các ngài: Đoạn Vân Trí Triệt, Không Cốc
Cảnh Long … đều tuyên dương Tịnh độ.
Song,
hơn 100 năm về sau, hầu như không có sử viết về sự thật, đến niên hiệu Gia
Tĩnh và Vạn Lịch về sau, tính ngưỡng Tịnh độ bỗng nhiên hưng thịnh. Thiết
nghĩ đây cũng do sự cảm hóa của ngài Vân Thê Châu Hoằng mà có như vậy.
Thời gian này, việc biên soạn phát triển sách vốn không phải là ít, đại đa
số dựa vào tôn chỉ giáo phái Thiên thai, noi theo thuyết “Duy tâm Tịnh độ”
hoặc kế thừa thuyết “Thiền Tịnh song tu” của ngài Vĩnh Minh Diên Thọ mà
nói phức tạp hơn, hoặc gom góp lại những ngữ yếu của các thiền sư đời
Đường, Tống; hoặc từ thi phú thuật lại hoài bão nguyện sanh Tịnh độ, có
thể chấp nhận một phần do sáng kiến. Chỉ vì thời kỳ này, các tông phái bàn
về vấn đề dung hợp được phát khởi. Ngài Châu Hoằng đề xướng “Thiền Tịnh
đồng qui” (Thiền Tịnh quay về một điểm). Ngài Trí Húc chủ trương “Tam học
nhất nguyên”, có ý muốn Thiền, Thiên Thai và Tịnh độ cùng dung hợp. Bèn
hình thành một trào lưu tư tưởng trong Phật giáo. Đây là Phật giáo mang
một sắc thái đặc biệt.
Ở
Thiên thai tông, đầu đời Minh có ngài Cừ Am Đại Hữu, người huyện Ngô thành
Cô Tô. Ngài ở chùa Bắc Thiền giữ chức vụ “Tăng lục ty thiện thế”, đặc biệt
tinh thông giáo nghĩa của ngài Hiền Thủ trong tông Thiên thai. Ngài soạn:
“Di-đà kinh lược
giải”
1 quyển, “Tịnh độ
chỉ qui tập”
2 quyển, đứng ra cổ súy pháp môn Tịnh độ. Vào tháng Giêng năm thứ 5, niên
hiệu Vĩnh Minh (1407 TL), ngài viên tịch, thọ 74 tuổi. Trong “Tịnh
độ qui tập”
lập thành 10 môn, rộng dẫn các nhà luận thuyết, lại chủ trương Ước tâm
quán Phật pháp.
Ngài
Ngân Giang Diệu Hiệp, sự tích về ngài không được rõ lắm, nhưng sách của
ngài để lại có: “Bảo
vương tam-muội niệm Phật trực chỉ”
2 quyển, gồm có 22 thiên nói rõ giáo chỉ Duy tâm Tịnh độ, Bổn tánh Di-đà;
cực lực phản đối sự thấy biết sai lầm của các Thiền gia.
Nhất
Nguyên Tông Bổn, người Tứ Minh, sống ở chùa Diên Khánh. Niên hiệu Long
Khánh, năm thứ 4 (1570 TL), ngài soạn “Qui
nguyên trực chỉ tập”
(2 quyển), “Lực
thuyết Tịnh độ chỉ yếu”.
Lại soạn 100 bài thơ nói về Tây phương, khuyên mọi người vãng sanh. Ngài
viên tịch năm nào và hưởng thọ bao nhiêu không rõ.
Quy nguyên trực chỉ tập
chuyên
nói nên cầu sanh về Tịnh độ; lại khuyên giữ giới sát và phóng sanh. Lại
nói rằng: “Tham thiền ngộ đạo khó, trong một trăm người thì không quá hai
hay ba người liễu sanh thoát tử. Niệm Phật vãng sanh dễ, vạn người không
mất một”. Lại nói: “Công lý để trị thiên hạ, không có ai vượt qua đạo Nho,
tận tánh siêu sanh tử không ai sánh bằng đạo Phật, phục mệnh cai quản Tam
tài (Trời, đất và người) không ai lớn hơn đạo Lão. Ba tôn giáo này là ba
luồng ánh sáng của vũ trụ, như cái đỉnh ba chân thiếu một không thể được”.
Lý Chí
tự là “Trác Ngộ”, người Tấn Giang, Tuyền Châu, đầu tiên làm chủ sự Hình
Bộ, sau giữ chức tri phủ Diệu An. Ở tại huyện Ma Thành, Long Đàm Hồ, thế
phát xuất gia. Sách của ngài trước tác: “Tịnh
độ quyết”
1 quyển. Trải qua một thời gian tu học, sau đó ngài hoàn tục, bị người ta
vạch tội hạ ngục, nên quyết định kết liễu đời mình ở tuổi 76.
Tịnh
độ quyết là tuyển tập lại từ
Quy nguyên trực chỉ tập
của
ngài Tông Bổn. Trong sách đề cập đến cảnh giới Tịnh độ, đồng thời khuyến
khích mọi người tu tập.
Đến đời nhà Minh, luồng gió Thiền Tịnh song tu
mới có cơ hội lưu hành. Đặc biệt ngài Vân Thê Châu Hoằng đưa ra một pháp
môn Thiền, trong đó có trì giới niệm Phật. Nhờ vậy mà nhiều Thiền Tăng lẫn
cư sĩ được tắm gội trong sự giáo hóa của ngài. Nhân đây, một tư trào lớn
được hinh thành. Đương thời, trong các phái Thiền có hai phái Dương kỳ và
Tào Động phát triển rất hưng thịnh. Theo đó có không ít người vừa tu Thiền
và tu Tịnh độ. Trong giới Cư sĩ có các ông: Diêu Quảng Hiếu, Lý Trác Ngô,
Viên Hoành Đạo, Trang Quảng Hoàn … đều viết sách xiển dương pháp môn Tịnh
độ. Nhờ vậy, từ niên hiệu Vạn Lịch trở về sau, tín ngưỡng Di-đà được lan
truyền rộng rãi khắp nhơn gian trong đạo lẫn ngoài đời.
Đệ tử tông Dương kỳ có ngài
Không Cốc Cảnh Long, người Động Đình, Tô Châu. Ngài sống ở viện Chánh
Thuyền, Hàng Châu. Niên hiệu Chánh Thống, năm thứ 9 (1444 TL), lúc đó 52
tuổi, ngài tự sáng tác bài minh ghi vào tháp Tây Hồ ở Kiết Sơn, rồi nhập
tịch. Suốt đời, ngài lấy việc tu tập Tịnh độ để khuyên mọi người; sáng tác
108 bài thơ khuyên tu Tịnh độ.
Ngài Cổ Âm Tịnh Cầm, người
tỉnh Phúc Kiến, dựng một “Phạm sát” (ngôi chùa) ở Đẩu Phong, Kiến Ninh để
phát triển đạo pháp. Ngài sáng tác “Đề hồ tập” 3 quyển, “Niệm
Phật cảnh sách kệ”
nhằm khuyên đệ tử, tín đồ trong khi: đi, đứng, nằm, ngồi đều nên niệm
Phật.
Sở Sơn Thiệu Kỳ, người Đường An, Tứ Xuyên, ở chùa Thiên Thành, Thành Đô
tuyên dương giáo pháp, giáo hóa mọi người.
Ngài Hám Sơn Đức Thanh, người Toàn Tiêu. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 23 (1595
TL), nhân việc khai sáng chùa viện, bị chỉ trích đày đi Lôi Châu. Năm 28
tuổi nhận lời mời của dân chúng, ngài vào Tào Khê khai mở ngôi tổ đình,
triều đình hay tin tầm nã bắt giam rồi xá tội. Sau đó, ngài dừng chân ở
đỉnh Ngũ Nhũ, Lô Sơn tu Tịnh độ, đặt ra thời khóa trong một ngày đêm niệm
danh hiệu Phật sáu vạn tiếng. Niên hiệu Thiên Khải năm thứ 3 (1623), ngài
viên Tịch ở tuổi 78. Sách ngài trước tác có “Hám
Sơn lão nhơn mộng du tập”
(55 quyển); có không ít bài liên quan mang tựa đề nhằm hướng đến Tịnh độ.
Học trò (môn hạ) tông Tào Động có ngài Đại Phương
Như Thiên, người Kỳ Sơn, tỉnh Thiểm Tây. Niên hiệu Vạn Lịch, năm thứ 18
(1590 TL), phụng mệnh ý chỉ của Hoàng Thái Hậu, tại chùa Đại Từ Thọ, ngài
mở hội “Tịnh độ bất nhị pháp môn” tuyên dương pháp môn Tịnh độ. Dân chúng
xa gần đều được ngài giáo hóa.
Ngài Đại Phương Tổ Thông, người Nội Khưu, tỉnh Hà Bắc, ở chùa Thuận Đức
Sùng Ân, thường chỉ bày cho mọi người pháp niệm Phật vãng sanh.
Ngài Bác Sơn Nguyên Lai, người Thư Thành, Lô Châu, ở chùa Năng Nhơn vừa
trú trì chùa Thiên Giới. Niên hiệu Sùng Trinh, năm thứ 3, ngài viên tịch ở
tuổi 56. Dựa vào thuyết của ngài Vân Thê, Ngài cổ súy cho yếu chỉ “Thiền
Tịnh bất nhị” lấy nhất tâm bất loạn, chuyên trì danh hiệu là cốt yếu của
Tịnh độ.
Ngài Cổ Sơn Nguyên Hiền, người Kiến Dương, niên hiệu Sùng Trinh năm thứ
7, ở chùa Dũng Tuyền, Cổ Sơn. Sau đó ngài chuyển sang chùa Khai Nguyên,
Tuyền Châu, rồi đến viện Chơn Tịch, Hàng Châu; tiếp đến Ngài trở về Cổ Sơn
tu Tịnh nghiệp (Tịnh độ). Đời nhà Thanh, niên hiệu Thuận Trị thứ 14 (1657
TL), Ngài viên tịch, ở tuổi 80. Ngài trước tác “Tịnh
từ yếu ngữ”
2 quyển, Yếu ngữ quyển thượng nói về niệm Phật Tịnh độ,
quyển hạ nói về từ bi và phóng sanh. Trong lời tựa có nói “Tịnh từ” là
niệm Phật và phóng sanh.
Đời Minh, cư sĩ hướng về Tịnh độ rất nhiều. Đặc
biệt là hội của ngài Vân Thê Châu Hoằng ra đời; vì thế số người tham gia
vào hội này rất đông, tất cả đều phụng hành giữ giới niệm Phật. Như vậy,
đã có cơ sở khẳng định cư sĩ có quan tâm về pháp môn Tịnh độ. nay căn cứ
vào “Cư sĩ truyện” có thể nêu ra hai hay ba trương hợp.
Trước tiên có cư sĩ Diệu Quảng Hiếu sống vào đầu đời nhà Minh, sanh ở
Trường Châu, Tô Châu. Ông là một nhà Nho hành nghề y dược, thế phát xuất
gia làm Tăng. Về sau, làm Thiếu sư (chức giáo thọ) cho thái tử Thái Tông.
Niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 16, ông viên tịch. Ông soạn “Chư thượng thiện nhơn vịnh”. Vịnh về sự tích Tây phương của 122 người Tăng,
tục, nam nữ cư sĩ; trong mỗi mẫu chuyện có phần phụ lược. Còn sách “Tịnh
độ giản yếu lục”
được ghi chép từ các sách yếu văn, mục đích để khuyên mọi người trừ nghi
ngờ để sanh chánh tín, cầu sanh Tây phương.
Nghiêm Mẫn Khanh tên là “Nột”, người Thường Thục,
giữ chức “Vũ anh đại học sĩ”. Sau đó thôi làm quan, ông đặt ra các loại
văn tựa nói về cảnh giới Cực lạc, xiển minh thuyết “Bổn tánh Di-đà”. Lại
ngoại hộ cho thuyết của ngài Châu Hoằng. Con trai trưởng của ông cũng tin
thờ ngưỡng mộ sự giáo hóa của ngài Vân Thê; con trai thứ khắc bài văn “Long
thư Tịnh độ”,
cả nhà đều tinh tấn tu niệm Phật Tịnh độ.
Cố Thanh Phủ, người phủ Ứng Thiên. Niên hiệu Gia
Tĩnh ông là nho sinh, có tài về thi họa. Đến 40 tuổi, ông bỏ thói hư tật
xấu cũ, không uống rượu ăn thịt, chuyên tu Thiền quán, lập hội Tây phương
niệm Phật. Do công phu tu tập nên ông thấy được điềm báo lành, lâm chung
được vãng sanh.
Ông Trang Quảng Hoàn, người Đồng Hương, Chiết
Giang, đến yết kiến ngài Châu Hoằng xin thọ giới. Cứ mỗi ngày, ông niệm
danh hiệu Phật năm vạn lần, sớm đạt được tâm địa tịch nhiên. Sách của ông
biên soạn “Tịnh độ tư
tưởng toàn tập”
6 quyển, tường trình phương pháp thực hành vãng sanh Tịnh độ.
Viên Hoằng Đạo hiệu Thạch Đầu cư sĩ, người Công
An, Hồ Bắc. Ông có người anh tên là Tông Đạo, tức là Hương Quang cư sĩ,
người em là Trung Đạo là Thượng Sanh Cư sĩ. Ba anh em trước sau đều đỗ
tiến sĩ. Hoằng Đạo soạn “Tây
phương hợp biên”,
Trung Đạo thẩm định lại, còn Tông Đạo viết lời tựa.
2. Luận Thiền
Tịnh đồng qui của ngài Châu Hoằng.
Vân Thê Châu Hoằng tự là Phật Huệ, hiệu Liên Trì,
người xứ Nhơn Hòa, Hàng Châu. Năm 17 tuổi, ngài còn là một nho sinh, nhân
một hôm hỏi một bà lão hàng xóm:
-Vì lý do gì mà Bà cụ hàng ngày niệm danh hiệu
Phật vậy?
Bà cụ vui vẻ trả lời:
- Nhơn vì trước đây chồng tôi chuyên trì danh
hiệu Phật, không có bệnh gì mà vẫn an nhiên ra đi về cõi bên kia. Do đó,
mới biết rằng niệm Phật được công đức không thể nghĩ bàn.
Nghe lời bà lão nói, ngài rất
cảm khích, bèn gửi tâm về Tịnh độ. trở về nhà, ngài ghi 4 chữ “sanh tử sự
đại” để trên án nhằm nhắc nhở mình. Năm 27 tuổi, ngài mồ côi cha; năm 32
tuổi chịu tang mẹ. Niên hiệu Gia Tĩnh thứ 45 (566 TL), ngài quyết định
xuất gia, đi vào Tánh Thiên, Tây Sơn xuống tóc. Đến thọ Cụ túc với ngài
Chiêu Khánh Vô Trần. Sau đó, đến yết kiến ngài Biến Dung ở Lô Sơn. Và được
ngài Biến Dung dạy: “Không nên tham danh lợi, chỉ một lòng phân biệt rõ về
đạo, đến tuổi già phải thực lực trì giới niệm Phật”.
Sau khi bái biệt ngài
Biến Dung, ngài đến tham vấn ngài Tiếu Nham Đức Bảo ở am Liễu. Từ giả am
Liễu, ngài nhắm về hướng Đông; trên đường đi bỗng nghe tiếng trống từ một
điểm gác, ngài hốt nhiên đại ngộ, liền làm kệ rằng:
Tam thập niên tiền sự khả nghi
Tam thiên lý ngoại ngộ hà ky
Phần hương trịch kích hỗn
nhàn sự
Ma Phật không tranh thị dữ phi.
Tạm dịch:
Ba mươi năm trước những điều nghi39
Ngoài ba ngàn dặm gặp sao
kỳ40
Đốt hương ném kích việc nhàn cả41
Ma Phật không tranh đúng với sai42.
Niên hiệu Long Khánh năm thứ 5 (1571), ngài vào
núi Vân Thê, Hàng châu chọn một nơi dựng am, bắt đầu tu niệm Phật
Tam-muội, giáo hóa gần xa, người Đạo, kẻ Tục qui tụ về rất đông. Do đó,
trở thành một đại Tòng Lâm. Niên hiệu Vạn Lịch năm thứ 12, ngài soạn “Vãng
sanh tập”,
ghi lại sự tích những người đã vãng sanh từ trước đến nay. Trải qua 20 năm
từ khi mở pháp hội tại chùa Tịnh Từ, Hàng Châu, ngài soạn qui chế giới
đàn, pháp tự thề thọ giới. Tại trên núi hay ở trong ngoài thành đều tạo ra
các ao phóng sanh, chế định giới cấm sát sanh và làm văn nói về sự phóng
sanh, răn dạy mọi người không nên hại đến sanh mạng của sinh vật; thường
chủ trương tu tập Tịnh độ. Trước tác của ngài gồm có: “A-di-đà
kinh sớ”
… lại thống trách môn đồ Thiền tông bụng rỗng mà tâm cao. Lại còn sao chép
sách của các ngài: Vĩnh Minh Diên Thọ, Cao Phong Nguyên Diệu … Mục đích
cho căn duyên kết hợp chặt chẽ qua ngôn ngữ, chỉ bày yếu quyết cho việc
tham cứu.
Vào tháng 7 năm thứ 43 niên hiệu Vạn Lịch (1615 TL), ngài lâm bệnh trầm
trọng liền đặt ra ba điều khá tiếc và mười điều đáng than vãn trong cuộc
đời con người nhằm để cảnh sách chúng. Ngài dạy các đệ tử phải nỗ lực gia
tâm niệm Phật. Ngài viên tịch ở tuổi 81. Người đời tôn xưng là “Vân Thê
thiền sư” hay “Liên Trì đại sư”. Ngài được tôn là tổ thứ 8 của Liên xã.
Sách ngài trước tác gồm có: “A-di-đà
kinh sớ sao”
4 quyển, “Vãng sanh tập”
3 quyển, “Tịnh độ nghi
biện”
1 quyển, “Thiền quan
sách tấn”
2 quyển, “Phạm võng kinh
giới sớ pháp ẩn”
5 quyển, “Lăng nghiêm
kinh mô tượng ký”
1 quyển, “Truy môn sùng
hành lục”
1 quyển, “Sơn phòng tạp
lục” 3
quyển, “Trúc song tam
bút” 2
quyển v.v…
Về sau, Vương Vũ Thái tìm tòi sách vở còn lại, sưu tập ghi chép thành 32
quyển với tựa đề là “Vân
Thê pháp hội”.
Ngài Châu Hoằng chia kinh điển Tịnh độ ra bộ và
loại. Hai kinh:
Vô lượng
thọ và A-di-đà cùng một bộ; ba kinh: Quán kinh, Cổ âm vương kinh và Hậu xuất
A-di-đà kệ kinh, ba kinh này làm thành cùng loại. Kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa kèm theo các kinh nói về Tịnh độ xếp vào chẳng phải bộ, chẳng
phải loại. Ngài chọn kinh Di-đà để trì danh hiệu Phật, vừa đơn giản, vừa dễ dàng tóm lược nắm bắt những
cốt yếu. Ngài đưa ra những căn duyên Phật thuyết kinh này tất cả có mười
loại và nói rõ lý do vì sao ngài thường dùng kinh này. Bởi lẽ, kinh này
chính là đặc thù ân sủng cội nguồn đối với đại bi Như Lai mà nói ra. Là
con đường tắt để chúng sanh trong đời mạt pháp được mau chóng giải thoát
khỏi sanh tử. Ngài lại nói: Kinh này thâu nhiếp vào Đốn giáo, bao gồm cả
Thông giáo, Chung giáo và Viên giáo. Bản khác nói: Tâm, Phật và chúng sanh
cả ba không sai biệt. Chúng ta niệm Phật chỉ là niệm chúng sanh ở trong
tâm chư Phật; có nghĩa chư Phật ở trong tâm chúng sanh. Niệm Phật đến nhất
tâm bất loạn, niệm đến cùng cực qui về không. Tức niệm đến vô niệm gọi là
Chơn niệm. Do đó, suốt ngày niệm Phật cũng không trái với Vô niệm. Vả lại,
niệm Phật tức là niệm tâm. Lại đạt đến cái thể quán “sanh không” có thể
được; tức là sanh mà không sanh, không sanh mà sanh. Bởi lẽ đó nên trong
tâm của ngài bùng cháy ngọn lửa cầu vãng sanh, thực ra không xa rời ở chỗ
đã nói trên. Ở đây, chính là nghĩa: “Tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh độ”; tự
tâm tức Phật. Cho nên, Thiền tông và Tịnh độ tông tuy đi hai con đường
khác nhau mà thực ra qui về một; tuy nối thừa tư trào của ngài Vĩnh Minh
để lại, nhưng lấy Tịnh độ và Thiền cùng tóm thâu về Đốn giáo. Vả lại,
thuyết nhất tâm bất loạn trong kinh A-di-đà phân chia ra
Sự và Lý; thì Lý nhất tâm là Thiền trực chỉ của Đạt-ma phân định rõ ràng.
Chủ xướng sự qui tụ về một điểm của hai tông Thiền Tịnh, đó là sáng ý của
ngài.
Ngài Châu Hoằng cho rằng Tín, Hạnh và Nguyện là
điều kiện tất yếu cho việc tu Tịnh độ. Đó là nhân, là tư lương để đạt đến
Tịnh độ; nếu không đầy đủ những yếu tố này thì không thể bước lên bậc cấp
cao hơn trong quá trình tu tập.
1. Tín: Là tin rằng chúng sanh và Phật không hai.
Chúng sanh niệm Phật nhất định được vãng sanh, rốt ráo thành Phật. Kinh
A-di-đà nói: “Các người đều nên tin nhận lời nói
của Ta (Phật)”. Đây chính là cái mốc của sự tin.
2. Nguyện: Không chỉ tin suông, cần phải tiến tới
một bước nữa là nương vào lời dạy của chư Phật mà cầu sanh về Tịnh độ.
Trong kinh
A-di-đà,
đức Phật có dạy rằng: “Nên phải phát nguyện sanh về thế giới kia (Cực
lạc)”.
3. Hạnh: Không lẽ nguyện suông, ắt phải thường
thực hành chuyên cần tinh tấn, niệm niệm tương tục mà không gián đoạn.
Trong kinh
A-di-đà có
dạy: “Chấp trì danh hiệu một lòng không gián đoạn”.
Ngài Châu Hoằng có ý định muốn hai tông Thiền
Tịnh hòa vào thành một; song luận về khuynh hướng của ngài không tránh
khỏi chỗ bị gò ép; tham cứu luận niệm Phật của ngài Trí Húc, chúng ta
thấy có chỉ trích về vấn đề này.
Lúc này, đức giáo hóa của ngài Châu Hoằng như một luồng sinh khí lan
khắp xa gần, người đạo kẻ đời thay nhau đến thọ giáo, hoặc số người đến
xin thọ giới rất nhiều.
3. Luận niệm
Phật tam-muội của ngài Trí Húc.
Ngẫu Ích Trí Húc, người huyện Ngô tỉnh Giang Tô.
Lúc nhỏ học Nho, thề sau này sẽ xóa sạch đạo Phật và đạo Lão. Trí Húc viết
luận hơn 10 thiên đều nhằm vào công kích Phật và Lão.
Đến năm 17 tuổi, một hôm chợt xem “Châu
Hoằng tự tri lục”
và “Trúc song tùy bút”,
Tri Húc phản tỉnh, liền đem đốt tất cả sách đã viết trước. Từ đó viết
luận, bình giải sâu xa về Phật giáo. Niên hiệu Thiên Khải năm đầu (1621
TL), lúc này 23 tuổi, ngài phát 48 lời nguyện, tự đặt danh hiệu là
Ưu-bà-tắc Đại Lãng.
Tháng Giêng năm sau, ngài ba lần mộng thấy ngài Hám Sơn Đức Thanh. Lúc
này, ngài Đức Thanh đang ở Tào Khê. Vì đường sá xa xôi, địa hình không thể
đến được, Ngài bèn tìm đến môn nhơn của ngài Đức Thanh ở Tuyết Lãnh để xin
xuống tóc xuất gia. Tiếp đó, đến Vân Thê nghe pháp sư Cổ Đức giảng luận
Duy thức. Sau đó lên núi tỉnh tọa thiền rồi thọ giới Bồ-tát. Ngài đã tham
cứu tất cả tạng luật.
Năm 28 tuổi, ngài nhuốm bệnh, tâm ý nhất quyết
cầu sanh về Tịnh độ, chọn tông Thiên Thai làm nơi nương tựa tu tập, ra sức
nghiên cứu học tập chương số của tông này. Niên hiệu Sùng Trinh năm thứ 4
(1631 TL), ngài bắt đầu vào Linh Phong. Năm Sùng Trinh thứ 6, kiến lập
chùa Tây Hồ. Sau tiếp tục nay đây mai đó hóa độ các nơi. Niên hiệu Vĩnh
Lịch thứ 8 (1654 TL), vào mùa hạ tại Linh Phong, ngài mắc bệnh nằm liệt
giường. Tháng 12 năm đó, Ngài làm văn bia “Tịnh xã tác nguyện”, rồi viết
kệ cầu sanh Tịnh độ.
Chín năm sau (1663 TL), vào tháng Giêng, ngài thị
tịch ở tuổi 57. Người đời tôn xưng là “Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư”. Bình
sanh, Ngài chán ghét danh lợi, chọn việc nghiên cứu các Tạng kinh, trước
thuật sách làm sự nghiệp; suốt cả đời không rời bút nghiên. Sách Ngài
trước thuật rất nhiều như: “A-di-đà
kinh yếu giải”
1 quyển, “Phạm võng kinh
huyền nghĩa”
1 quyển, “Bồ-tát giới bổn tiên yếu” 1 quyển, “Pháp hoa kinh huyền nghĩa tiết yếu” 2 quyển, “Pháp
hoa kinh hội nghĩa”
16 quyển, “Lăng nghiêm
kinh huyền nghĩa”
2 quyển, “Đồng văn cú” 10 quyển, “Duyệt
tạng tri tân”
44 quyển, “Pháp hải quán
lan” 5
quyển, “Chu dịch thiền
giải”
10 quyển. Tất cả hơn 40 bộ; ngoài ra còn có “Linh
Phong Ngẫu Ích đại sư tông luận” 10 quyển.
Ngài Trí Húc chủ xướng thuyết ba sự học: Thiền,
Giáo, Luật xuất phát từ một cội nguồn. Thiền là tâm của Phật, Giáo là lời
của Phật, Luật là hành của Phật. Chưa từng có tâm mà không ngữ, không
hành; chưa từng có ngữ mà không hành, không tâm. Tức chỗ này là ba mà thực
ra là một. Người nào không hiểu rõ đường hướng này đều có sự phân biệt lẫn
nhau, đưa đến làm cho nội bộ lục đục. Do đó không thể tự độ mình và cứu
giúp người khác được. Nếu biết Phật giáo chỉ lấy một chủ nhất là quán
xuyên suốt tất cả, có thể biết tức Thiền, tức Giáo, tức Luật. Cho đến hiểu
rằng tức Luật, tức Thiền, tức Giáo. Bởi lẽ, ngài Trí Húc thừa kế tư tưởng
của các ngài: Diên Thọ, Nguyên Chiếu. Vì muốn cứu vãn sự mờ tối không nhận
ra ba sự học vững chắc như thế chân vạc, nên ngài xướng ra thuyết này.
Ngài vốn học Nho, biết rằng Nho giáo không phải là đạo trọng yếu để xuất
ly, bèn tìm đến cửa Thiền xin xuất gia, kỳ vọng nương vào pháp môn Thiền
để giải thoát sanh tử. Trong thời gian nghiên cứu, ngài mới rõ biết sự mê
mờ của Thiền giả không phát lời nguyện mà chẳng chuyên cần trong thời gian
dài. Rồi tiếp đến nghiên cứu Luật, với ý chí muốn hưng thịnh giáo pháp,
ngài cũng thấy được căn bệnh tai hại của các Luật gia, không muốn lưu lại
thời gian dài ở trong cửa Luật. Thứ đến nghiên cứu Thiên Thai, tuy đối với
giáo thừa có chỗ thâm đắc, không những dừng lại ở sự nhìn nhận về tính
cách chủ trương mà Ngài còn mở rộng tầm nhìn cho hàng hậu học của tông
Thiên thai. Như vậy đối với Nho, Thiền, Luật, Giáo vào thời gian trước đó
tự nó không chấp nhận điều ấy; đối với ngày nay cũng vậy. Ngài đặt cho
mình hiệu là “Bát Bất Đạo Nhơn”; “Tiêu Bảng Cô Lập”. Do những vấn đề trên,
nên Ngài xướng thuyết “Tam học nhất nguyên”. Đồng thời thuyết này cũng đâu
xa lạ gì, đó chính là “Nhất môn niệm Phật”. Ngài lấy sự niệm Phật làm nơi
qui tụ của Phật giáo.
Ngài Trí Húc đã đưa ra nhiều nghĩa giải thích về
sự niệm Phật. Thuyết niệm Phật của ngài có ba phương pháp: Niệm Tha Phật,
niệm Tự Phật và niệm Tự tha Phật. Lấy Tịnh độ niệm Phật của hệ phái Lô
Sơn, gọi là niệm Tha Phật. Lấy Thiền ngài Đạt-ma và lấy quán tâm của Nam
nhạc Thiên Thai đã truyền, gọi là niệm Tự Phật. Sự Lý song tu của hệ phái
ngài Vĩnh Minh gọi là niệm Tự Tha Phật. Lại dùng tứ giáo: Tạng, Thông,
Biệt, Viên đều là pháp môn niệm Phật. Nếu tứ giáo này mỗi giáo đều có 3
phương pháp niệm Phật, thì thành ra 12 phương pháp niệm Phật. Rồi 4 phương
pháp Tam-muội của
Ma-ha chỉ
quán
cũng có thể gọi là niệm Phật. Nếu bốn tam-muội này tất cả đầy đủ 12 phương
pháp niệm Phật, thì tổng cộng có 48 phương pháp. Lại trong Tha niệm Phật
có ba loại niệm: Niệm Pháp môn, niệm Thật tướng và niệm Tướng hảo Phật,
tổng cộng lên đến 144 pháp niệm Phật Tam-muội. Ngoài ra còn có chỗ nói về
pháp, chấp trì danh hiệu, như trong kinh A-di-đà nói rằng hai
tông: Giáo, Thiền đều là pháp môn niệm Phật. Người nhất tâm niệm Phật nhất
định đề phòng được sự sai trái, dừng làm việc ác mà tinh tấn học Luật.
Người tinh tấn học Luật cũng hết lòng mong muốn quyết định được vãng sanh;
nên lấy nhất tâm niệm Phật làm Sự, trì giới làm Nhơn, Tịnh độ làm Quả. Trì
giới và niệm Phật vốn chỉ một pháp môn.
Như vậy, niệm Phật bao gồm cả ba sự học: Thiền, Giáo và Luật. Đồng
thời cũng là sự quy kết của ba sự học mà chủ xướng rộng nghĩa luận niệm
Phật tam-muội.
Ngài Trí Húc tuy xướng ra nghĩa rộng của luận
niệm Phật tam-muội, nhưng trong đó chấp trì danh hiệu như đã nói ở trong
kinh
A-di-đà đạt đến chỗ giản dị kỳ lạ của pháp. Làm rõ
pháp này chính là sự mở rộng trong trang bị cho ba hạng căn cơ: thượng,
trung và hạ; rồi thâu tóm phương tiện khéo léo không thể nghĩ bàn của cả
Sự và Lý. Cho nên, khuyên mọi người nên dựa vào đầy đủ cả ba: Tín, Hạnh và
Nguyện ở trong thuyết của ngài Châu Hoằng. Từ đó kỳ vọng sự vãng sanh.
Thuyết của ngài Trí Húc, vốn đại thể xuất phát
theo ý ngài Châu Hoằng, nhưng mà ngài Châu Hoằng cho rằng sự nhớ nghĩ
không gián đoạn là “Sự trì”, cứu xét thể trạng không gián đoạn là “Lý
trì”. Nghĩa là tham cứu niệm Phật đạt đến cùng cực, đó gọi là“Lý trì”.
Ngài Trí Húc cho rằng: Sự trì hay Lý trì đều là nghĩa ghi nhớ không quên.
Chỉ do ở chỗ biết tâm mình đã sẵn có đầy đủ hay không biết có đầy đủ mà
phân biệt thành lập sự lý đó thôi. Hai điều này có sự tương đồng lớn nhưng
khác nhau về đặc điểm.
Luận của ngài Trí Húc tham cứu về sự niệm Phật, cho rằng khi trí thấu
triệt, thiền sư cũng khai mở một con đường để tham cứu về niệm Phật. Đại
sư Vân Thê tuy cực lực chủ trương Tịnh độ mà cũng không phế bỏ thiền định.
Tuy cùng lấy Tịnh đôï làm nơi quy hướng, nhưng các thuyết tham cứu và
Thiền tông có sự xen lẫn nhau. Có ý kiến cho rằng đây là sự nhầm lẫn. Ở
đây, ngài Châu Hoằng chính ở giữa nhất tâm của lý, xướng ra con đường
Thiền Tịnh đồng quy. Ngài Trí Húc cho rằng: Tịnh độ có Thiền của Tịnh độ,
Thiền có Tịnh độ của Thiền. Do đó mà xiển minh Thiền và Tịnh độ không thể
hỗn độn.
X. TỊNH ĐỘ
GIÁO VÀO ĐỜI NHÀ THANH
Nhà Thanh, đến đời Thánh Tổ
mới diệt được nhà Minh, thống nhất thiên hạ. Các vua tuy trọng Lạt-ma giáo
nhưng cũng trấn hưng Nho giáo, bảo vệ Phật giáo. Đến đời Cao Tông Càn
Long, vua cho ấn khắc Đại tạng kinh, lại phiên dịch thành tiếng Mãn. Đó là
dấu hiệu cho biết thời kỳ phát triển của Phật giáo dưới triều đại nhà
Thanh. Từ niên hiệu Gia Khánh về sau, Phật giáo dần dần bước vào thời vận
suy yếu. Song, tín ngưỡng Di-đà vẫn được mọi người thực hành khắp nơi. Có
người soạn sách tuyên dương Tịnh độ, hoặc có nhiều người lập hội tinh tấn
tụ Tịnh nghiệp. Đầu niên hiệu Hàm Phong, Hồng Tú Toàn đi theo Cơ-đốc giáo.
Tại Nam Kinh, ông ta lập ra “Thái Bính Thiên Quốc”, tự xưng là “Thiên
Vương”, phá hoại chùa chiền, đền miếu ở các tỉnh miền nam như: Quảng Đông,
Quảng Tây, Giang Tô, Chiết Giang … đốt phá tượng ở những địa phương có
Phật giáo mà họ chiếm được. Bọn chúng phá hoại hình như chẳng còn gì. Sau
này, mới bắt đầu hồi phục chút ít dạng cũ.
Phật giáo đời Thanh là sự thừa kế tư trào
hỗn tạp dung chứa ba tông: Thiền, Giáo và Luật của đời nhà Minh. Phong
thái Thiền Tịnh song tu rất ích lợi và thịnh hành. Đồng thời, học đồ của
Thiên Thai tông, Thiền tông cũng có chiều hướng tham thiền qui về Tịnh độ.
Mỗi phái đối lập nhau, khí thế đối lập của các phái hoàn toàn đi vào quên
lãng, mà pháp môn niệm Phật là nơi gửi gắm đối với các tông. Thực hành
rộng rãi trong mọi giới, kể cả Tăng và tục.
Các nhà Thiền học phần nhiều
tôn thờ chủ trương phái Vân Thê, cho rằng tham Thiền và niệm Phật đều
hướng về cùng một chỗ; tin thuyết “Tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh độ”, cần
phải Thiền Tịnh hợp lại thực hành để phát minh tự tánh. Đầu đời Thanh,
trong Thiền tông có nhiều người kiêm tu Tịnh độ. Điển hình có ngài Đạo Bái
người Kiên An, Phúc Kiến. Một hôm, đang hầu ngài Cổ Sơn Nguyên Hiền bỗng
nhiên đại ngộ, về sau kế thừa ngài Nguyên Hiền.
Vào niên hiệu Thuận Trị năm
thứ 15 (1658 TL), ngài vào chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn xây dựng một tịnh thất
lớn. Ở đó 14 năm, sau ngài xuất gia du hóa các nơi. Niên hiệu Khang Hy năm
thứ 22 (1683 TL), ngài khắc bản in “Hoa nghiêm kinh sớ luận toản yếu”
120 quyển. Niên hiệu Khang Hy năm thứ 41 (1702 TL), ngài thị tịch hưởng
thọ 88 tuổi. Ngài trước tác khá nhiều sách gồm có: “Tịnh độ chỉ quyết” 1 quyển, “San
hương lục”
2 quyển. Sau đó ở Cổ Sơn, ngài lập Liên xã tu Tịnh nghiệp riêng mỗi viện.
Ngài thưòng nói: “Chí ở tông môn, hành ở Tịnh độ; cầu vãng sanh Tây phương
chuyên tu Tịnh nghiệp”. Ngài chính là người kế thừa thuật lại thuyết ngài
Thiên Như Duy Tắc. Lấy Tín, Hạnh, Nguyện làm hành trang cho sự vãng sanh
Tịnh độ. Tịnh độ là phương tiện tột bậc để vượt qua ba cõi. Chỉ nhất tâm
niệm danh hiệu Phật, do năng lực Tín, Hạnh, Nguyện của mình mà chiêu cảm
đến lực từ bi của Phật A-di-đà, Quan Âm, Thế Chí nên được thẳng đến bờ bên
kia.
Ngài Tế Năng người Sơn Âm,
được áo nghĩa của Lâm Tế. Niên hiệu Càn Long năm thứ 35 (1770 TL), ngài
soạn “Giác
hổ tập”
2 quyển, xiển dương yếu chỉ của Thiền Tịnh song tu. Tập này chủ yếu ghi
chép về các Thiền gia có quan hệ đến thuyết Tịnh độ. Ngài cho rằng pháp
môn Tịnh độ mới xem qua thì tợ như dễ tu, nhưng chuyên trì tu tập thật khó
khăn. Yếu chỉ thâm sâu của đức Phật ở chỗ mượn Tây phương Di-đà để chứng
Bổn tánh Tịnh độ, mà diệu dụng ấy bao gồm ở nơi một câu niệm Phật. Pháp
môn này ý chỉ sâu xa, nếu không phải nguời học rộng tu sâu thì không sao
thông suốt. Ngài lại khuyên mọi người nên lớn tiếng khi niệm Phật và người
sơ tâm nên ghi nhớ số lần niệm Phật.
Ngài Tỉnh Tế người Phong
Nhuận, Hà Bắc, tiếp nhận đồ chúng Thiền, đồng tu Tịnh độ, chủ trương Liên
tông. Sau đó, trở về sống ở chùa Tư Phúc, núi Hồng Lễ, thường mở bày ơn
Như Lai, cứu nhiếp Cực lạc. Số người theo ngài ngày càng đông, nơi ngài
ngụ trở thành một Tòng Lâm.
Tông Thiên Thai cũng thừa
hưởng từ đời nhà Minh đến nay, những người nhiệt thành cầu vãng sanh rất
nhiều. Hoa nghiêm tông, Luật tông cũng có người nguyện sanh về Tịnh độ.
Ngài Tịch Quang người Qua Chư,
Quảng Lăng, ban đầu học “Hiền Thủ giáo quán”, sau chuyên nghiên cứu về
Luật tông. Ngài phục hưng chùa Đông Lâm ở Lô Sơn, lập ra giới quy tu Tịnh
độ, Tăng tục qui tụ về rất đông. Hội niệm Phật Liên xã có một thời rất
thịnh. Ngài lại trùng hưng Hoa Bảo Sơn ở Kim Lăng làm đạo tràng Luật tông.
Tiếp đó, xây dưng hơn 20 Phạm Vũ (chùa). Niên hiệu thuận Trị năm thứ 2
(1645 TL), ngài viên tịch, hưởng thọ 66 tuổi.
Ngài Thật Hiền người Thường
Thục, ở chùa Chơn Tịch. Ban ngày nghiên cứu Tam tạng, đêm hành thời khóa
niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Ngài soạn “Khuyến
phát Bồ-đề tâm văn” nhằm khích lệ bốn chúng. Niên hiệu Ung Chính năm thứ 7
(1729 TL), ngài kiến tạo chùa Phạm Thiên tại Phụng Sơn, và lập ra hội
niệm Phật, lập qui ước để sách tấn lẫn nhau, bặt dứt các duyên, chuyên vào
việc tu Tịnh độ. Người đương thời tôn ngài là “Vĩnh Minh tại thế”. Niên
hiệu Ung Chính năm thứ 11, biết tứ đại của mình sắp tan rã, ngài bèn đống
cửa ngày đêm niệm danh hiệu Phật 10 vạn lần. Tháng tư năm sau, ngài viên
tịch, ở tuổi 49. Được người đời tôn xưng là tổ thứ 9 của “Liên tông”. Nội
quy tu Tịnh độ ngài quy định chương trình thời khóa mỗi ngày gồm: Mười
thời niệm Phật, chín thời tác quán, một thời lễ sám. Cứ nữa tháng có
trăng và không trăng nên tụng “Bồ-tát giới bổn”; tức là thực hành
theo kinh Phạm võng, ý chí hướng về Tây phương là tuân thủ pháp trì giới
niệm Phật của ngài Vân Thê.
Đời nhà Thanh, cư sĩ hướng về
Tịnh độ rất nhiều, họ viết sách cũng không ít.
Ông Bành Thiệu Thăng người
Trường Châu, Tô Châu, hiệu là “Nhị Lâm cư sĩ”. Năm 16 tuổi, ông còn là nho
sinh. Sau khi bố mẹ nối tiếp nhau qua đời, ông thành lập đạo tràng niệm
Phật, từ đó bắt đầu qui hướng về Phật giáo. Lúc 29 tuổi, dứt ăn thịt,
không thân cận nữ giới. Sau đó, ông về sống an nhiên ở Văn Tinh Các (lầu
Văn Tinh) tu Nhất hạnh tam-muội, thuê thợ vẽ bức tranh cõi Tây phương Cực
lạc, viết tựa đề ca tụng việc làm đó. Sách của Ông soạn gồm có: “Nhất
thừa quyết nghi luận”, “Thông nho thích chi ngại”, “Xuất
hoa nghiêm tam-muội luận”, “Giải thiền tịnh chi tranh”, lại tuyển soạn:
Cư sĩ
truyện,
Thiện
nữ nhơn truyện
v.v… Ông soạn những
sách trên nhằm tuyên dương Tịnh độ. Lại trùng đính “Tây
phương công cưù”.
Ngoài ra, ở chùa Sáng Phật, ông sao chép kinh sách, giáo điểm nhằm đưa đến
cho những vùng phụ cận không có điều kiện đến chùa. Đó là sự nhớ tưởng đến
những người thiếu điều kiện, ngèo khổ. Và ông còn chỉ bày phương pháp kỷ
thuật nghề nông cứu giúp người nghèo, thành lập các hội từ thiện: Cứu trợ
kinh tế, sửa sang nhà cửa, giúp đỡ các bà quả phụ … . Rồi còn lập hội
phóng sanh bảo toàn sinh mạng loài vật.
Tháng Giêng năm đầu niên hiệu
Gia Khánh (1796 TL), ông qua đời, thọ 57 tuổi. Có thể minh chứng đây là
một người cư sĩ mô phạm đời nhà Thanh. Con của ông là Hy Tốc, 26 tuổi là
nho sinh. Thiệu Thăng trùng bổ “Vân
Thê vãng sanh tập”,
Ông cùng vợ chuyên việc biên chép san định lại và viết xong “Tịnh
độ hiền khánh lục”
9 quyển. Ông mất lúc 33 tuổi, vào niên hiệu Càn Long năm thứ 58.
Những năm gần đây có ngài Ấn
Quang, pháp danh Thanh Lương, hiệu Thường Tàm, người Cáp Dương, Lăng Tây.
Lúc nhỏ học Nho, 21 tuổi xuất gia ở chùa Viên Thông, du hóa khắp các
phương. Niên hiệu Quang Tự năm thứ 32 (1906 TL), tại chùa Từ Khoát Bảo,
ngài đống cửa niệm Phật. Thường dốc hết sức lực đối vơí sự nghiệp cứu tế:
Lũ lụt, hạn hán, thiên tai, tìm cách cứu giúp. Thiết lập viện Từ Ấu, giảng
đạo “giám ngục”. Lại gần đây chiến tranh tai họa liên miên, sát hại nhiều
sinh linh. Vào Dân Quốc năm thứ 8, ngài khắc in “An sĩ toàn thư” ban bố 10 vạn bộ, đức hóa độ
của ngài lan rộng khắp trong nước. Tháng 12 năm Dân Quốc thứ 29 (1940 TL),
ngài viên tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Sách ngài trước tác gồm có: Luận, Tự,
Ký, Bạt … rất nhiều. Năm Dân Quốc thứ 13, có ấn hành bộ “Ấn
Quang pháp sư văn sao”.
Chủ trương của ngài là lấy
pháp môn Tịnh độ làm bổn hoài xuất thế của Phật. Pháp này vượt lên tất cả
Thiền, Giáo và Luật; thâu tóm hết thảy Thiền, Giáo, Luật, không lìa sự tu
tập mà tâm tánh sáng tỏ. Bậc thiện căn cũng không vượt quá ngưỡng cửa này,
hạng hạ căn cũng đến được chỗ này. Đặc biệt thời mạt pháp, muốn tức khắc
ra khỏi cõi ngũ truợc, ngoại trừ Tịnh độ ra không thể dựa vào pháp môn nào
khác cả. Mặt khác điểm trọng yếu là cực lực cổ súy Tịnh độ. Trong ba bộ
kinh Tịnh độ thì kinh
Di-đà
là chủ yếu, pháp trì danh hiệu Phật dễ hạ thủ mà thành công cao. Tại trì
danh, quán tượng, quán tưởng thật tướng trong bốn phương pháp niệm Phật.
Thật tướng niệm Phật là khó trong cái khó. Rốt cuộc, chẳng có người hạ căn
ngày nay mong theo kịp mà chỉ trích thuyết của ngài Vân Thê ... Lại liên
quan đối với ghi nhớ số lần niệm, những bậc thầy tiền bối có dạy: Từ một
câu đến mười câu tâm phải ghi nhớ, đến mười câu trở lại một câu. Nếu số
hạt không thể đếm đến 20 hoặc 30, thì bỏ qua ghi nhớ trở lại số lần niệm
Phật.
Ngài tuy sanh vào đời nhà
Thanh, nhưng thực có thể nói là người đứng đầu pháp môn Tịnh độ thời Dân
Quốc.
--- o0o ---
[
Mục
Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09]
[10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-01-2005