Hòa Thượng
Thích Hồng Đạo
---o0o---
Lời giới thiệu
^
Về nhà chỉ có
một lối, nhưng phương tiện thì có nhiều ngả. Phật dạy có nhiều pháp môn
tu, nhưng chuyên tu một pháp môn nào cũng đều được liễu ngộ cả.
Tập “Pháp môn
niệm Phật” này, chuyên nói về sự niệm Phật. Hành giả nào muốn mau thành
Phật không gì qua niệm Phật. Nên biết sáu chữ Hồng danh chẳng luận già
trẻ, trai gái, sang hèn, nghèo giàu, kẻ mua gánh bán bưng, kẻ đi bộ,
người chèo thuyền, đều niệm Phật được. Nhưng phải phát nguyện sau khi
lâm chung thần thức được vãng sanh về Cực lạc, liên hoa hóa sanh.
Lại nữa, ai là
người muốn giải thoát sanh tử luân hồi, muốn viên mãn phước huệ, những
ai phát Bồ-đề tâm cầu thành Phật, nguyện độ chúng sanh, đều phải chuyên
tu niệm Phật.
Soạn giả tập
Pháp môn niệm Phật này, rất có công
phu lựa chọn các chỗ tinh yếu của lối tu niệm Phật, để cống hiến
cho độc giả.
Thừa nhàn, tôi
có xem qua tập Pháp môn niệm Phật này, rất lấy làm hoan hỷ, xin gởi lên
trang đầu vài dòng, để tán dương vận động đó. Ðồng thời giới thiệu với
các Phật tử bốn phương xa gần tập Pháp môn niệm Phật này.
Mong sao mọi
người may mắn được đọc và thực hành
mới thấm nhuần bổ ích, như ăn bánh thật, chớ không như bánh vẽ
trên giấy.
THÍCH THIỆN HÒA
Lời đầu quyển
^
·
Trong thế gian này, khổ nào cho
bằng khổ luân hồi sanh tử. Bởi vậy, bổn hoài duy nhất của chư Phật ra
đời là để cứu độ chúng sanh thoát
khỏi biển sanh tử. Mục đích
chính của người thật tâm tu hành theo đạo Phật
cũng chỉ là mong cầu thoát ly sanh tử
luân hồi. Vì còn sanh tử luân hồi là còn trải qua bốn
điều khổ căn bản hiển nhiên mà ai
cũng phải công nhận là: sanh,
già, bệnh, chết. Bốn điều khổ
đó, chúng sanh trong sáu đường: Trời, người, a-tu-la, địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, không ai thoát khỏi được. Bỏ thân này lại
mang thân khác, chết nơi đây lại sanh
nơi kia, cứ trôi lăn trong sáu đường như thế mãi, trừ những người
tu hành đặng giải thoát.
·
Chư
Phật là bậc Vô thượng Y vương hay cứu bệnh sanh tử của chúng sanh. Nếu
chúng sanh nào chịu áp dụng môn thuốc Phật chỉ dạy sẽ dứt trừ được bệnh
sanh tử, tự nhiên muôn bệnh vạn khổ chi cũng đều do đó mà dứt hết. Trái
lại, có thuốc hay của Phật đưa cho mà không chịu uống thì làm sao hết
bệnh, giải khổ được.
·
Chư
Phật trong mười phương mẫn niệm chúng sanh cũng như mẹ nhớ con, nếu con
cứ lẩn tránh, dầu mẹ có nhớ cũng không biết làm sao! Trái lại, nếu con
nhớ mẹ cũng như lòng mẹ nhớ con thì mẹ con đời đời chẳng cách xa nhau.
Cũng như thế, nếu tâm chúng sanh hằng nhớ Phật, niệm Phật, thì đời này,
đời sau, quyết định sẽ thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng cần dùng
phương tiện chi khác, tâm mình được khai ngộ.
·
Pháp
môn Tịnh độ, tức là môn niệm Phật, là phương thuốc thần diệu quý báu để
trừ bệnh khổ sanh tử của chúng sanh, do Phật Thích-ca, Di-đà kiến lập,
Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền chỉ quy, đức Mã Minh, Long Thọ hoằng dương và
chư Tổ: Huệ Viễn, Thiên Thai, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích
xướng đạo để khuyến khắp Thánh, phàm, ngu, trí đồng tu hành vậy.
·
Nội
dung của tập sách này là gồm những lời dạy bảo hy hữu quý báu của chư Tổ
thuở xưa về môn niệm Phật, được tuyển chọn chép ra trong những sách mà
chúng tôi được hân hạnh xem qua. Ước nguyện những lời vàng vô giá trong
đây sẽ đem lại muôn phần lợi lạc cho những ai hâm mộ tu hành tịnh nghiệp
giải thoát.
·
Tu, chúng ta không nên lựa môn
khó, cao mới hay. Miễn là môn nào ta
làm được và có sự lợi ích
thiết thật là hay. Tu chỉ lo “một”
và “chuyên” là tốt. Muốn đến một địa
điểm nào, không ai bắt buộc ta
phải đi nhiều đường, hãy chọn
nẻo nào thẳng tắt là hơn. Từ sự loạn động đến sự yên tĩnh, chỉ có
pháp môn niệm Phật là giúp ta đắc
lực. Từ đây đến kia, từ Ta-bà đến Cực lạc cũng chỉ có con đường
“niệm Phật” là ngay thẳng nhất. Con đường ấy là nơi các vị tiền bối đã
đi, đã thật hành, là lối đi thẳng tắt đến đạo quả cứu cánh vậy.
PL. 2515, ngày 17-11 năm Tân
Hợi, 1971
THÍCH HỒNG ÐẠO
Chùa Quy Sơn Vũng Tàu
Kính ghi
LỜI BẠT
Quyển “Pháp môn niệm Phật” này được lưu
hành là do công trình của chúng tôi tuyển chọn, sưu tập những lời lẽ
hay quý ở các sách:
1) Pháp môn
Tịnh độ (HT. Thích Trí Thủ)
2) Hương quê
Cực lạc (Liên Du)
3) Ðường về Cực
lạc (TT. Thích Trí Tịnh)
4) Tịnh độ Thập
nghi luận (Liên Du)
5) Hồi chuông
cảnh tỉnh (TT. Thích Trí Tịnh)
6) Niệm Phật
thập yếu (TT. Thích Thiền Tâm)
Và việc
làm này cũng chỉ
nhằm mục đích tự lợi lợi tha, và đó cũng là bổn phận của người con Phật
vậy.
HỒI HƯỚNG CÔNG ÐỨC
^
Con nguyện đem công đức
này
Tạo thành quyển sách này
Nhan đề phép niệm Phật;
Ấn tặng trong tứ chúng
Y theo lời giáo huấn
Chư Phật cùng chư Tổ
Ðồng tu đồng chung
Vãng sanh Cực lạc quốc;
Cầu bốn ân ba cõi
Con cùng với chúng sanh
Tăng trưởng các căn lành
Ðều sanh về Cực lạc.
THÍCH HỒNG
ÐẠO
I.
NHỮNG LỜI VÀNG VỀ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
^
* Niệm Phật không khó, khó
ở bền lâu
* Niệm bền lâu không khó,
mà khó ở nơi nhất tâm.
1.
Pháp môn niệm Phật cao cả không cùng, rộng lớn như trời che đất chở. Ðây
là pháp môn tổng trì của chư Phật ba đời, là đạo mầu đặc biệt trong một
đời giáo hóa của Ðức Thích-ca. Trên như bậc Ðẳng Giác Bồ-tát, không thể
vượt ra ngoài phạm vi của môn này, dưới dù kẻ phạm tội nghịch ác cũng
được phần tế độ.
Tuy nhiên, bởi pháp môn cao siêu như
thế mà phần nhiếp cơ lại quá phổ cập, dùng ít sức mà thu thập kết
quả rất mau lẹ lớn lao, nên những vị
thông hiểu đôi chút về tông,
giáo đều cho là môn tu trì của kẻ ngu phu, ngu
phụ. Truy nguyên, cũng do các vị ấy
chưa hiểu rõ chỗ lớn, nhỏ, khó, dễ của Phật lực và tự lực.
Hai phương diện này, sự hơn kém thật
không thể dùng lời nói, văn tự hình
dung cho hết được. Vì sao? Bởi
tất cả pháp môn khác đều nương
theo sức giới, định, huệ tu cho đến
nghiệp sạch, tình không, mới có thể
thoát luân hồi sanh tử. Nhưng
địa vị nghiệp sạch tình không,
đâu phải là dễ được! Trong hai
phần hoặc nghiệp, dứt được kiến hoặc khó
cũng như ngăn chặn dòng nước đổ bốn
mươi dặm, huống nữa là tư hoặc
ư! Dù cho bậc tỏ ngộ cao siêu, nếu chưa dứt sạch phiền não,
vẫn còn bị luân hồi. Và một khi đã
thọ sanh thì kẻ thối thất trong một muôn có đến mười ngàn, kẻ tiến bộ trong
ức người khó được ba bốn. Thế thì tự lực không đủ ỷ lại, không chi vững
vàng. Những kẻ khoe mình là trí, không thuận theo lòng từ thệ nhiếp thọ
của Như-lai, thử nghĩ có nên tự phụ chăng?
Riêng về môn Tịnh độ, nếu người có đủ tín nguyện chân thiết, dùng
lòng chí thành niệm Phật như
con thơ nhớ mẹ và hằng ngày sự
hành vi không trái với đạo đức, thì đến khi lâm chung sẽ được nhờ
Phật tiếp dẫn sanh về Tây phương. Dù
người ấy hoặc nghiệp hãy còn,
nhưng khi đã vãng sanh thì chỗ sở đắc
cũng cao hơn bậc A-la-hán tình không
nghiệp sạch, vì lẽ chủng tánh không đồng. Kẻ chưa dứt nghiệp hoặc còn
như thế, người đã hết nghiệp không đợi phải luận nhiều! Ấy bởi do Phật
lực, pháp lực và tâm lực của chúng
sanh đều không thể nghĩ bàn; mà tâm lực lại
nhờ năng lực của Phật và Pháp, được
hiển hiện một cách toàn vẹn.
Cho nên, chỉ ỷ lại vào tự lực,
sánh với nương nhờ Phật lực, thật kém xa nhau hằng hà sa số sự
cách biệt của đất trời! Lại nên biết, đạo lý của môn Tịnh độ này không
thể đem luận chung với các pháp môn phổ thông khác vì đây là pháp môn
đặc biệt! Tôi thường có đôi liễn:
“Pháp môn cao cả, lợi khắp ba căn, nhân đây chín cõi đồng về, mười phương khen ngợi”
“Phật nguyện rộng sâu, không từ
một vật, nên được ngàn Kinh đều chỉ, muôn Luận tuyên bày”
(Trên đây là
lời của Ðại sư Ấn Quang, vị Tổ thứ 13 trong Liên tông
Phật giáo Trung Hoa)
2. Sáu chữ “Nam mô A-di-đà Phật” là từ tiếng Phạn phiên âm ra. Nếu
cắt nghĩa từng chữ một theo Phạn ngữ thì chỉ có bốn chữ mà thôi. Trước
hết, chữ “Nam mô” có 6 nghĩa: Kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ
ngã, quy mạng. Chữ “A”“ nghĩa là không,
là vô, chữ “Di-đà” nghĩa là lượng.
Chữ Phật nghĩa là Giác giả.
Hợp cả bốn chữ lại có nghĩa là: Quy y kính lễ đấng giác ngộ vô
lượng.
Ðức Phật A-di-đà là Giáo chủ thế giới Cực Lạc. Ngài đã từng phát nguyện
rằng ai niệm danh hiệu Ngài, lúc lâm chung sẽ được Ngài tiếp dẫn sanh về
nước Cực lạc. Vì thế, về sau chúng sanh căn cứ vào đó mà xưng niệm danh
hiệu Ngài.
3.
Pháp môn Tịnh độ, tức là môn niệm Phật, do Phật Thích-ca, Di-đà kiến lập, Bồ-tát
Văn Thù, Phổ Hiền chỉ quy, đức Mã Minh, Long Thọ hoằng dương và
chư Tổ Huệ Viễn, Thiên Thai, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích
xướng đạo để khuyến khắp Thánh, phàm, ngu, trí đồng tu hành vậy.
4. Ðức Phật A-di-đà ngày xưa phát
48 lời nguyện làm duyên khởi tạo thành thế giới
Cực lạc. Từ đó về sau, chúng sanh trong mười
phương đều lấy sự phát nguyện vãng
sanh làm căn cứ tu hành của
tông Tịnh độ. Một đằng, Phật
nguyện tiếp dẫn, một đằng chúng
sanh nguyện vãng sanh, hai nguyện gặp
nhau,
hai lực lượng tự, tha hỗ trợ nhau mới
đủ sức kết thành quả vãng sanh. Vì
thế, người tu tịnh nghiệp
quyết phải phát nguyện dõng
mãnh.
5. Trong 48 lời đại nguyện của
Ðức A-di-đà,
lời đại nguyện thứ 19 nói một cách rõ
ràng rằng nếu có người chí tâm phát nguyện
muốn sanh về nước Ngài, lúc lâm chung nhất
định Ngài sẽ đến tiếp dẫn. Cho nên, hễ có
phát nguyện là quyết định phải được vãng sanh.
6. Không sanh về Tịnh độ tất phải đọa ác đạo.
Trong mười phương, số thế giới tuy nhiều vô tận, nhưng xét về phương
diện tịnh uế, thì chỉ có thể chia làm hai loại mà thôi: Một là Tịnh độ
của chư Phật, hai là tam giới (uế độ) của chúng sanh. Không sanh về bên
nọ, tất phải sanh bên kia. Sanh về Tịnh độ tức là thoát ly sanh tử, sanh
trong tam giới tức là còn sống chết luân hồi.
Ở cõi Trời, phước báu tuy nhiều
nhưng
vẫn có giới hạn và sai khác nhau, nên cuối cùng sẽ có ngày phước hết,
báo cùng, thọ mạng tất phải chấm dứt, để rồi tùy nghiệp mới mà
thác sanh qua kiếp khác, quanh quẩn trong tam giới.
Tất cả chúng sanh, nếu không được sanh về cõi Phật, tất nhiên sẽ phải
đọa vào ác đạo, không trước thời sau. Nếu muốn sanh về cõi Phật, đương
nhiên phải là niệm Phật. Ðó là một sự thật đương nhiên không thể phủ
nhận.
7. Do vì Ðức Phật A-di-đà có bổn thệ nguyện lực nhiếp thủ chúng sanh
niệm Phật, nên người dùng tín nguyện mà niệm Phật (tự lực) thời cảm
thông với nguyện lực của Phật, nương nguyện lực của Phật nhiếp thủ (tha
lực) liền đặng siêu thoát sanh tử luân hồi mà sanh về Cực lạc Tịnh độ.
Ðã được vãng sanh tức là vào bậc Thánh lưu bất thối, nên gọi là rất viên
đốn, rất huyền diệu và thành công cao.
8. Pháp môn niệm Phật là con đường phương tiện duy nhất hướng dẫn ta
và tất cả chúng sanh từ xứ ác trược Ta-bà về đến thế giới thanh tịnh Cực
lạc.
9. Nương pháp môn niệm Phật, ắt là
ta sẽ được toại bổn nguyện: Giải thoát, thành Phật, độ sanh.
Người cực ác tu còn thành tựu thay, huống ta chưa phải là kẻ ác!
10.
Ðức Phật Như-lai có dạy một phương tiện siêu thắng để bảo đảm sự giải
thoát, mà cũng để bảo đảm vững chắc bước đường thành Phật cho tất cả
chúng sanh: Pháp môn Tịnh độ, tức môn niệm Phật cầu sanh Cực lạc thế
giới. Theo lời Phật, dầu là hạng cực ác mà chịu hồi tâm tu theo pháp môn
này trong một thời gian rất ngắn (10 niệm) cũng được vãng sanh; đã được
vãng sanh thời là siêu phàm nhập Thánh, thoát hẳn sanh tử, bất thối Vô
thượng Bồ-đề.
11.
Với pháp môn niệm Phật này, không luận là kẻ trí ngu, không luận
là Tăng tục, không luận sang giàu, nghèo hèn, già trẻ, nam nữ, không
luận là sĩ, nông, công, thương... tất cả các giới trong xã hội đều có
thể tu tập và đều có thể thành tựu đặng cả.
12.
Văn Thù Bồ-tát nói: Các môn tu hành không môn nào qua môn niệm Phật.
Niệm Phật là “vua” trong các pháp môn.
13.
Ðức Quán Thế Âm bảo: Tịnh độ pháp môn là hơn tất cả hạnh khác.
14.
Mã Minh Ðại sĩ cho rằng: Chuyên tâm niệm Phật là phương tiện siêu thắng
của Ðức Như-lai.
15.
Giác Minh Diệu Hạnh Bồ-tát nói:
Pháp môn niệm
Phật là tâm tông của chư
Phật, là con
đường giải thoát tắt nhất của mọi loài.
16. Pháp môn
Tịnh độ nhiếp cả Thánh
phàm, nhiếp cả
thiện ác, nhiếp cả chúng sanh, như biển lớn gồm thâu muôn dòng
vậy.
17. Ấn Quang Ðại sư cũng từng nói: Vì nương Phật lực nên tất cả mọi
người, không kể là nghiệp hoặc nhiều hay ít, cũng không kể là công phu
hành đạo cạn cùng sâu, miễn tin cho chắc, nguyện cho thiết, thời quyết
muôn người tu muôn người vãng sanh không sót một. Còn nếu là bậc đã đoạn
hoặc chứng chân mà cầu vãng sanh thời đốn siêu Thập địa. Bậc Thập địa mà
cầu sanh thời mau viên Phật quả. Vì thế nên cả các ngài Văn Thù, Phổ
Hiền, Mã Minh, Long Thọ... các đại Bồ-tát đều nguyện vãng sanh. Ðến như
những kẻ tạo ác cả đời, sắp đọa địa ngục, hồi tâm niệm Phật cũng được
giải thoát, như các ông: Trương Thiện Hòa, Trương Chung Húc, Hùng Tuấn,
Duy Cung... Hạng người phạm tội ác ấy mà còn được thành tựu thay, huống
là những người chưa quá ác, huống là những người lành.
18. Trong Kinh Ðại Tập, Ðức Phật có lời huyền ký: “Thời mạt pháp muôn
ức người tu hành, khó có một người được giải thoát, chỉ nương nơi pháp
môn niệm Phật mà được thoát khỏi luân hồi sanh tử”.
19. Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật đã dạy: “Trong đời vị lai, khi
Kinh đạo diệt hết, Ta dùng lòng từ bi đặc biệt lưu lại kinh này tồn tại
trong một trăm năm, chúng sanh nào gặp được kinh này, đều có thể được độ
thoát như ý sở nguyện”.
20. Chân nghĩa của pháp môn Tịnh độ chỉ có Phật mới biết hết.
Trong các Kinh nói về Tịnh độ, sở dĩ Phật không dùng lý để lập luận một
cách chặt chẽ
mà chỉ khuyến phát tín tâm và thực
hành, không
phải pháp môn Tịnh độ không có lý nghĩa vững chãi, chẳng qua vì
nghĩa lý ấy quá
thâm diệu và “bất khả tư nghị”, nên không thể nào nói hết. Cảnh
giới Tịnh độ đã “bất
khả tư nghị”,
lại thêm ngữ ngôn chỉ hữu hạn,
không thể nào
nói đầy đủ được, dù cho có
nói nhiều đến
đâu, cũng chỉ diễn tả được một khía
cạnh nào đó
thôi, không sao tránh được thiếu sót, không sót bên nọ cũng sót
bên kia, hoặc nói được một thì sót đến mười. Ðó là các lý do khiến Phật
không lý luận mà chỉ khuyên tu trì, thực hành phép niệm Phật.
Chúng ta thử nghĩ, nếu phương pháp
trì danh niệm
Phật không phải thật có ý nghĩa cao siêu và công đức bất khả tư
nghị thì tại sao trong Kinh “Phật thuyết A-di-đà”, Phật dạy rằng khi
Phật nói kinh đó thì hết thảy chư Phật trong sáu phương đều tán thán và
hộ niệm? Như vậy, thì biết rằng pháp môn ấy đặc biệt và nhiệm mầu như
thế nào!
Vả lại, trong
kinh có nói: “Không thể nhờ một ít nhân duyên phước đức thiện căn
mà có thể vãng
sanh được”. Tiếp đó Ngài lại dạy: “Bảy ngày chấp trì danh hiệu,
đạt được nhất
tâm bất loạn thì liền được vãng sanh”. Như thế thì thiện căn
phước đức nhân duyên của sự chấp trì danh hiệu quả không phải nhỏ vậy.
21.
Trong 48 lời nguyện của Ðức Phật A-di-đà đều có câu “Thề quyết không thủ
ngôi Chánh giác”. Xin lưu ý rằng đó là một điều quan trọng. Không thủ
ngôi Chánh giác tức là từ chối quả vị Phật, không chịu làm Phật để riêng
an hưởng thường, lạc, ngã, tịnh một mình, trong khi chúng sanh trong
quốc độ còn đau khổ. Lời nguyện vừa hợp tình, vừa xứng lý, vừa quảng đại
bao la, thể hiện hoàn toàn được cả một trời đại từ đại bi thăm thẳm, khó
thể nghĩ bàn.
Trong Kinh “Phật thuyết A-di-đà” Ðức Thích-ca dạy rằng: Ðức Phật A-di-đà
thành Phật đã từ mười kiếp rồi và 48 lời nguyện của Ngài đều đã được
thực hiện hoàn toàn viên mãn. Nếu không như thế Ngài quyết không chịu
thành Phật.
22. Sở dĩ hành giả bình thời xưng niệm danh hiệu Phật, chính là ứng
hợp với đại nguyện thứ 18 của Ðức A-di-đà: “Mỗi ngày mười niệm quyết
được vãng sanh”; bình thời phát nguyện cầu vãng sanh tức là ứng hợp với
đại nguyện thứ 19 của Ðức A-di-đà: “Kẻ nào phát nguyện vãng sanh Cực
lạc, lúc lâm chung sẽ có Phật đến rước”; và bình thời làm các công đức,
hồi hướng công đức về quả Cực lạc tức là ứng hợp với đại nguyện thứ 20
của Ðức A-di-đà: “Kẻ nào hồi hướng công đức, nhất định được vãng sanh”.
Hằng ngày, tu phép thập niệm phát nguyện vãng sanh và hồi hướng công
đức, cũng như người có đóng bảo hiểm nhân thọ. Một bên là đóng bảo hiểm
vật chất. Một bên là đóng bảo hiểm tinh thần; cả hai đều nhất định toại
nguyện như nhau.
Như trên, ta
thấy quả vãng sanh là một quả có bảo đảm chắc chắn. Mà nhân vãng sanh
lại là một nhân dễ tu tập. Ðiều cốt yếu là phải thật hiểu chân tinh thần
của pháp môn niệm Phật mới sanh được chánh niệm và có được ba tư lương:
Tín, Nguyện, Hạnh.
23. Pháp môn
Tịnh độ dễ tu nhưng khó
tin. Trong Kinh
Phật thuyết A-di-đà, Ðức Thế-tôn
cũng thừa nhận như thế (nan tín chi pháp)
Ðã thế rồi, pháp môn này lại còn nương tựa hoàn toàn vào lòng tin để
thành lập, nương tựa vào lòng tin để duy trì; có lòng tin rồi mới sanh
khởi hành động và có hành động rồi mới đạt nguyện vọng nhân viên quả
mãn. Nếu không có lòng tin vững chắc thì tuy cửa Phật rộng mở, cũng
không thể gì vào được. Vì vậy nên Tín, Nguyện, Hạnh gọi là ba món tư
lương về Tịnh độ.
Nói tư lương cũng ví như nói người muốn đi xa cần phải có tiền của (tư)
và lương thực (lương). Nếu thiếu một trong hai thứ đó thì khó mà đạt mục
đích mình muốn đến. Cũng thế, ba món tư lương cần có để lên đường về
Tịnh độ cũng không thể thiếu một. Hơn nữa, ba món này liên hệ mật thiết
với nhau theo thứ tự trước sau tiếp nối sanh khởi. Trước hết phải do có
lòng tin thâm thiết mới có phát sanh nguyện cầu; do nguyện cầu thành
khẩn mới hăng hái hành động. Nếu lòng tin không có thì quyết nhiên
nguyện và hạnh không thể thành lập được.
24.
Tín là căn bản của người tu hành pháp môn Tịnh độ.
Thứ nhất, phải tin rằng ba bộ kinh nói về Tịnh độ là do Ðức Thế-tôn vì
lòng từ bi chân thật mà dạy cho chúng ta, quyết không phải như sách ngụ
ngôn giả thiết để khuyến tu.
Thứ hai, phải tin rằng ngoài thế giới ô uế mà chúng ta hiện sống, chắc
thật có thế giới Tịnh độ trang nghiêm.
Thứ ba, phải tin rằng 48 lời đại nguyện của Ðức Phật A-di-đà, cùng là
những công hạnh kiến lập cõi Tịnh độ của Ngài là chân thật, cũng như
việc Ngài hiện đang ứng hóa độ sanh tại cảnh giới Tịnh độ ấy là chân
thật.
Thứ tư, phải tin rằng sanh Tịnh độ hay uế độ hoàn toàn do tự tâm ứng
hiện, hễ trồng nhân tịnh thì được quả tịnh, trồng nhân uế thì được quả
uế, tuyệt nhiên không liên quan gì đến vấn đề thưởng phạt.
Thứ năm, phải tin rằng chánh niệm của ta cùng tâm niệm của Ðức Phật
A-di-đà chắc chắn cảm ứng với nhau, lâm chung thế nào cũng được Ngài
tiếp dẫn vãng sanh.
Thứ sáu, phải tin rằng tuy ác nghiệp của chúng ta có nhiều, nhưng một
khi đã sanh về Tịnh độ, nhờ có hoàn cảnh tốt đẹp thuận tiện, nhờ ơn giáo
huấn thường xuyên của Phật và Bồ-tát, ác niệm không thể sanh khởi lại và
ác báo do đó sẽ lần lần tiêu trừ.
Thứ bảy, phải tin rằng sức mình và sức Phật, cả hai đều bất khả tư
nghị. Trong hai sức cùng bất khả tư nghị ấy, sức Phật lại bất khả tư
nghị gấp trăm ngàn muôn ức lần hơn, cho nên một khi được tiếp dẫn, dù
sức mình còn kém cỏi thì với sức Phật cũng đủ giúp ta vãng sanh.
Thứ tám, phải tin rằng khi mình niệm một câu Phật là tức thời Ðức
Phật liền nghe và liền thâu nhiếp.
Thứ chín, phải tin rằng hễ mình niệm Phật thì chắc chắn lúc lâm
chung được Phật và Thánh chúng đến tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực
lạc, quyết không còn đọa lạc luân hồi trong sáu đường nữa.
Tóm lại, phải tin chắc rằng những lời Phật dạy trong kinh đều chân
thật, cần phải thâm tín, tuyệt đối không nên sanh tâm ngờ vực. Lòng ngờ
vực là chướng ngại vật không thể vượt qua trên con đường dẫn
đến đạo quả. Có
lòng ngờ vực rồi thì tất nhiên
nguyện và hạnh
sẽ không có cứ điểm để sanh khởi. Nếu lòng tin kiên cố, tự nhiên
phát nguyện cầu sanh Cực lạc và đã phát tâm nguyện cầu tự nhiên chuyên
tâm tinh tấn, y
pháp hành trì, không đợi ngoại duyên thúc đẩy.
Hễ Tín
đã vững chắc thì Nguyện và Hạnh tự nhiên thành tựu, khỏi cần phải nhắc
nhủ, khuyến hóa.
25.
Ðã tin sâu, nguyện thiết, phải tu chánh hạnh niệm Phật. Sự tu trì đây
đều tùy theo thân phận của mình mà lập, không nên chấp định một pháp
thức nào. Như người không việc chi hệ lụy, nên từ mai đến chiều, chiều
lại mai, lúc đi đứng nằm ngồi, nói nín động tịnh, khi ăn cơm mặc áo cùng
đại tiểu tiện, tất cả thời, tất cả chỗ đều giữ một câu hồng danh không
rời nơi tâm niệm. Nếu khi thân hình sạch sẽ, y phục chỉnh tề, chỗ nơi
thanh khiết, thì niệm thầm hay ra tiếng đều được. Như lúc ngủ nghỉ, tắm
gội, đại tiểu tiện hoặc ở chỗ không sạch chỉ được niệm thầm, không nên
ra tiếng, niệm thầm công đức vẫn đồng, nếu ra tiếng thì có lỗi không
cung kính. Chớ cho rằng những lúc ấy không nên niệm, chỉ e niệm không
được mà thôi. Lại khi nằm nếu niệm ra tiếng, chẳng những không cung
kính, mà còn bị tổn hơi, phải biết điều này.
26.
Muốn được vãng sanh về cõi Tịnh độ Tây phương, hành giả phải chuẩn bị ba
yếu tố: Tín, Hạnh, Nguyện, nếu thiếu một món nào cũng không thể tu hành
có kết quả. Hành giả phải suốt đời chuyên tâm niệm Phật với một lòng
thành kính, tin tưởng và nhất quyết cầu khi lâm chung được vãng sanh cõi
Tịnh độ. Niệm cho đến “nhất tâm bất loạn” thì chắc chắn sẽ được mãn
nguyện.
27.
Pháp môn niệm Phật cần có đủ 16 chữ:
Vì
thoát sanh tử, phát tâm Bồ-đề
Lấy tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật
Bởi vì
hết thảy những sự thống khổ cực nặng trong thế gian, không chi bằng cái
khổ sanh tử, mà nếu sanh tử chẳng dứt được thì sanh rồi tử, tử rồi sanh,
ra khỏi bào thai này, chun vào bào thai khác, cởi bỏ đãy da nọ, mang lấy
đãy da kia, khổ nào xiết nói!
28.
Một chữ nguyện bao gồm cả tín và hạnh. Tín là tin tự, tha, nhân, quả,
sự, lý không hư dối. Tín tự: Tin tất cả do tâm tạo, mình niệm
Phật sẽ được Phật tiếp dẫn. Tín tha: Tin Phật Thích-ca không nói
dối, Phật A-di-đà không nguyện suông. Tín nhân: Tin niệm Phật là
nhân vãng sanh, giải thoát. Tín quả: Tin sự vãng sanh thành Phật
là kết quả. Tín sự: Tin cảnh giới Tây phương, tất cả sự tướng đều
có thật. Tín lý: Tin lý tánh duy tâm bao trùm Phật độ. Mỗi điều
trên đây đều xác thật nên gọi là không hư dối. Hạnh là chuyên trì danh
hiệu không xen tạp, không tán loạn. Nguyện là mỗi tâm ưa thích, mỗi niệm
mong cầu. Trong ba điều này, người tu tịnh nghiệp cần phải đủ không thể
thiếu một, mà Nguyện là điểm cần yếu. Có thể có Tín, Hạnh, mà không
Nguyện, chưa từng có Nguyện mà không Tín, Hạnh.
29.
Ðược vãng sanh
hay không là do Tín Nguyện có hay không, còn phẩm vị vãng sanh
cao hay thấp là
tùy việc trì danh sâu hay cạn.
30.
Tín, Nguyện, Hạnh là ba tư lương sanh về Tịnh độ. Nếu tư lương
không đủ, quyết không được vãng sanh. Sở dĩ vì thế mà sự phát nguyện
chiếm một địa vị tối quan trọng trong pháp môn tu Tịnh độ.
31.
Thập thiện là mười điều thiện, là căn bản tu hành, thuộc ba
nghiệp thân, khẩu, ý gọi là tu tịnh nghiệp.
Thân nghiệp có ba: Không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục
(nếu tại gia thì không tà dâm).
Khẩu nghiệp có bốn: Không nói láo, không nói lời thêu dệt, không
nói hai lưỡi, không nói lời thô bạo.
Ý nghiệp có ba: Không tham lam, không sân nhuế, không ngu si.
Mười điều thiện này là căn bản phát sinh tất cả các điều thiện
khác. Ðó cũng là nền tảng xây dựng mọi cảnh giới an vui. Người tu hành
mà không tu mười điều thiện này, thì không khác kẻ xây lâu đài cao ngàn
thước trên vũng bùn xập xậy, quyết không hy vọng thành công.
32.
Ðã tu tịnh nghiệp phải giữ luân thường, làm hết bổn phận, dứt niệm tà,
gìn lòng thành kính, trừ bỏ các điều ác, vâng làm
những việc lành, đừng giết hại, gắng
ăn chay, thương tiếc hộ trì
mạng sống loài vật, tín nguyện
niệm Phật cầu sanh Tây phương. Bên
trong phải vì ông bà, cha mẹ, anh em,
chị em, bên ngoài vì thân
thích, bạn bè, xóm giềng, làng
nước, đem pháp môn Tịnh độ này mà phụng khuyến, chẳng luận người
có tin làm cùng không, chỉ hết sức
mình khiến cho mọi người đều
biết pháp nhiệm mầu này mà thôi.
33.
Người tu tịnh nghiệp, nếu có mảy may công đức lành đều đem hồi hướng
vãng sanh. Như thế thì tất cả hành môn đều là trợ hạnh của Tịnh độ. Lại
phải phát lòng Bồ-đề, thề độ muôn loài, đem công đức mình tu hồi hướng
cho bốn ân ba cõi cùng chúng sanh trong pháp giới. Làm như thế như đèn
thêm dầu, như mạ được mưa, đã kết pháp duyên sâu cùng tất cả chúng sanh,
lại mau thành tựu thắng hạnh Ðại thừa của mình. Nếu chẳng hiểu nghĩa
này, tất thành ra chỗ thấy cạn hẹp tự lợi của hàng phàm phu và nhị thừa,
tuy hạnh mầu, cảm quả rất kém (xem bài phát nguyện, chương VII).
34.
Người tu tịnh nghiệp nên biết rằng sự tu hành hôm nay, chính là
đối địch với nghiệp sanh tử ngày mai,
không phải chuyện tầm thường, hằng nghĩ đến vô thường mau chóng,
ngày tháng chẳng chờ người nhận chân, thiết thật mà niệm Phật. Nếu nửa
lui nửa tới, lúc tin lúc ngờ, kết cuộc tịnh nghiệp không thành tựu, làm
sao ra khỏi luân hồi?
35.
Tu tịnh nghiệp, cảnh cô tịch chừng nào hay chừng nấy. Tiếng niệm Phật
cao thấp, mau chậm tùy nghi, làm sao cho hợp thành một phiến. Nên biết,
khi ấy thân tuy đơn chiếc mà tâm chẳng lẻ loi, vì tâm của chư Phật cùng
Ðức A-di-đà chưa từng tạm rời ta, ta khởi niệm thì Phật biết, mở miệng
Phật liền nghe, lo gì sợ cô tịch!
36.
Có tám điều cốt yếu, người tu tịnh nghiệp nên ghi nhớ:
1/ “Vì sự sanh tử, phát lòng
Bồ-đề”, đây là đường lối chung của người học đạo.
2/ “Dùng tín, nguyện sâu trì
danh hiệu Phật, đây là chánh tông của môn Tịnh độ.
3/ Lấy sự nhiếp tâm chuyên
chú mà niệm, làm phương tiện dụng công.
4/ Lấy sự chiết phục phiền
não hiện hành làm việc yếu tu tâm.
5/ Lấy sự giữ chắc bốn trọng
giới làm căn bản vào đạo.
6/ Dùng các thứ khổ hạnh làm
trợ duyên tu hành.
7/ Lấy nhất tâm bất loạn làm
chỗ quy túc của môn Tịnh độ.
8/ Lấy các điềm lành làm
chứng nghiệm cho sự vãng sanh.
37.
Chí tâm niệm Phật tức là ý nghiệp làm lành, xưng danh hiệu Phật là khẩu
nghiệp làm lành, chắp tay lễ bái là thân nghiệp làm lành. Do ba nghiệp
này làm lành, nên có thể diệt tội nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp,
nhờ hạnh nguyện nương nhau, quyết định được vãng sanh.
38.
Người tu tịnh nghiệp khi ngồi nằm không được xoay lưng về hướng Tây,
cũng không được hướng về Tây khạc nhổ
cùng đại tiểu tiện. Bởi đã quy y về Liên bang nên tôn sùng miền kim địa,
nếu lòng không trân trọng, đâu phải là chí nguyện cầu sanh.
39.
Miệng đừng ngớt tụng, ý chớ nghĩ khác. Phàm phu tạp loạn, khẩu ý khó
kiềm. Trong Kinh Phạm Võng, Phật dạy: “Mỗi
ngày khởi ba nghiệp tội, mà tội của miệng
thì vô lượng”. Muốn cho khẩu nghiệp khỏi gây
tội, chỉ có cách là đừng nói. Song
miệng không nói càng làm cho ý
suy nghĩ nhiều, mà nếu ý suy nghĩ những điều quấy, còn không bằng
nói mà nói những chuyện có ích, không hại. Bởi thế cho nên các vị Tổ sư
lấy phương pháp tụng kinh làm một phương tiện kiềm chế khẩu nghiệp và ý
nghiệp đắc lực nhất.
Từ xưa đến nay, các vị chuyên tu về môn niệm Phật, thường phải
đóng cửa (kiết thất) để kiềm chế ba
nghiệp, cho tâm chuyên nhất cảnh. Như bà Vô Sanh cư sĩ đóng cửa
thất 49 ngày, dứt tất cả duyên sự,
chuyên một câu niệm Phật, nhờ
vậy mà bà được “Niệm Phật tam muội”. Sở dĩ kiết thất là phương
tiện cần yếu của pháp môn Tịnh độ, vì
chúng ta hiện là phàm phu mê tối, chướng dầy mà huệ mỏng, nghiệp nặng
phước nhẹ, nên tâm nhiễm dễ khởi, tịnh nghiệp khó thành.
40.
Người mà thực vì thoát ly sanh tử, phát Bồ-đề tâm là con đường phổ thông
học đạo. Lấy lòng tín nguyện thật sâu để niệm
danh hiệu Phật, là chính tông tu pháp Tịnh độ. Thân tâm chuyên chú
niệm Phật là pháp phương tiện tu Tịnh
độ. Cốt yếu phải bền chắc giữ
bốn giới cấm trọng để làm căn bản nhập
đạo. Phải bẻ dẹp phiền não hiện hành,
là việc cần yếu để tu tâm. Dùng mỗi mỗi khổ hạnh chính đáng để
làm trợ duyên tu hành. Phải niệm Phật cho được nhất tâm bất loạn làm chỗ
quy túc cho tịnh hạnh. Lấy mỗi mỗi điều lành để làm chứng nghiệm được
vãng sanh.
41.
Niệm Phật mà không phát lòng
Bồ-đề, thì không tương ưng với bổn nguyện của
Ðức Di-đà, tất khó vãng sanh (lòng
Bồ-đề là tâm lợi mình, lợi người, trên cầu thành quả
Phật, dưới nguyện độ chúng sanh). Tuy
phát lòng Bồ-đề mà không chuyên niệm Phật cũng không được vãng
sanh. Nên phải lấy sự phát lòng Bồ-đề
làm chánh nhân, niệm Phật làm
trợ duyên, rồi sau mới cầu sanh Tịnh độ.
Người tu tịnh nghiệp cần phải hiểu
biết điều này.
42.
Môn niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, nương nguyện lực rộng lớn của Ðức Phật
A-di-đà, tất cả lục đạo chúng sanh không luận căn lành thành thục hay
chưa thành thục, không luận ác nghiệp nặng hay nhẹ, nếu ai bằng lòng tin
chắc, phát nguyện trì niệm hồng danh A-di-đà Phật, thời quyết định được
Ðức Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc Tịnh độ, là hạng thiện căn thành
thục, tất chóng viên mãn Phật quả, nhẫn đến kẻ ác nghiệp nặng cũng đặng
dự hàng Thánh.
Nên biết, pháp môn niệm Phật là
yếu đạo độ sanh của chư Phật và là diệu pháp
mà trên thì Thánh nhân đại Bồ-tát, dưới đến phàm phu đều đồng tu.
Vì thế nên trong các kinh liễu nghĩa Ðại thừa luôn nhắc đến, mà lịch đại
Tổ sư không ai chẳng tuân hành.
Xét về Ðức Thích-ca Mâu-ni và Phật
A-di-đà, từ nơi kiếp xưa từng phát đại nguyện độ thoát chúng sanh.
Ðức Thích-ca thực hiện ở uế độ dùng khổ để chiết phục và thúc đẩy
chúng sanh tiến tu. Còn Ðức A-di-đà
an tọa nơi Tịnh độ, dùng tịnh,
dùng vui để nhiếp thọ và đào luyện cho mọi người nên Thánh quả.
43.
Ðức Bổn sư Thích-ca hết lời khuyên đại chúng hiện thời cũng như mạt
pháp, chúng sanh phải cầu sanh Cực lạc, để được thấy Phật, nghe pháp,
mau chứng Vô sanh nhẫn, rồi sau sẽ tùy nguyện vào Ta-bà để cứu độ chúng
sanh. Như thế thời có tiến mà không thối, có lợi mà không tổn.
44.
Hiện tại phương pháp Trì danh niệm Phật thâm nhập nhân gian, phổ cập
khắp quần chúng và không ai là không biết niệm sáu tiếng “Nam mô A-di-đà
Phật”. Lý do thâm nhập và phổ biến của phương pháp này là hễ có tu là có
thành, rất thích hợp với mọi căn cơ, bất cứ kẻ trí người ngu đều thâu
nhiếp được một cách dễ dàng. Số người nhờ nương pháp này mà được độ
thoát, so với các tông phái khác, chiếm đến trên bảy tám mươi phần trăm.
Cứ xác thật mà nói, thì đạo lý của pháp môn này hàm chứa tinh ba
của hết thảy các pháp môn khác một cách sâu xa rộng rãi. Không những so
với các pháp môn khác, nó đã không kém thua, mà trái lại tinh ba của các
pháp môn khác đều thu trọn vào trong một pháp môn này. Nó có đủ khí độ
rộng rãi tập hợp sự đại thành của các tông phái khác. Vì vậy nếu bàn đến
hiệu quả, bàn đến học lý, bàn đến khó dễ, không một tông phái nào so
sánh kịp!
45.
Muốn chống đỡ với những khó khăn
chướng ngại của thời mạt pháp, không
còn có pháp môn nào hơn pháp
môn niệm Phật. Pháp môn này tự
nó đã đơn giản dễ theo, ngoài
ra nó lại dồn được cả hai sức: tự, tha để hỗ trợ cho nhau nên dễ
thành tựu. Kinh Ðại Tập dạy: “Ðời mạt pháp, trong số ức triệu
người tu hành, chưa có một người đắc
đạo, duy chỉ có nương vào pháp
môn niệm Phật mới được độ
thoát sanh tử”. Vì thế nên biết, sau
khi các tông phái khác suy tàn, duy
có mỗi một tông Tịnh độ là còn
tồn tại để nối dài pháp vận,
cứu độ chúng sanh mà thôi; các
tông phái khác như Thiền, Giáo, Luật tông,
v.v... đều phụ thuộc làm trợ duyên
cho tông Tịnh độ, chớ không có thể đơn độc tồn tại riêng được.
Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật đã dạy: “Trong đời vị lai, khi
kinh đạo diệt hết, ta dùng lòng từ bi, đặc biệt lưu lại kinh này tồn tại
trong một trăm năm, chúng sanh nào gặp được kinh này đều có thể được độ
thoát như ý sở nguyện”.
46.
Muốn cho tâm không luyến việc ngoài, chuyên niệm Phật được quy nhất,
cũng không có phương pháp chi kỳ lạ, chỉ đừng quên cái chết rình rập bên
mình, không biết xảy ra lúc nào.
Phải
nghĩ rằng ta từ trước đến nay tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp, như
trong kinh nói: “Giả sử nghiệp ác kia có hình tướng thì khắp mười phương
hư không cũng chẳng dung chứa hết”. Duyên đâu may mắn, nay được thân
người lại nghe Phật pháp, nếu không một lòng chuyên niệm Phật cầu sanh
Tây phương, khi cái chết đến thình lình, chắc chắn phải bị đọa vào ác
đạo. Chừng ấy nếu vào địa ngục thì bị non đao, rừng kiếm, lò lửa, vạc
dầu, một ngày đêm sống chết đến vạn lần, sự khổ cùng cực không thể diễn
tả. Nếu đọa vào ngạ quỷ thì thân hình xấu xa, hôi hám, bụng lớn như cái
trống, cổ họng như cây kim, thấy cơm nước
thì những vật ấy đều hóa thành than
lửa, chịu đói khát lăn lộn khóc la trong vô lượng kiếp. Nếu đọa
vào súc sanh, thì hoặc bị kéo chở
nặng nề, hoặc bị người giết ăn thịt, hoặc
bị nạn loài mạnh ăn nuốt loài yếu,
kinh khủng chẳng lúc nào yên.
Chịu khổ như thế có khi vô
lượng chư Phật ra đời mà vẫn còn xoay
vần trong ác đạo không được thoát ly.
Nghĩ thân người mong manh, cái
chết bất kỳ, nghĩ mình đời trước, đời này đã tạo ra vô lượng
nghiệp ác, nghĩ đến sự khổ tam đồ mà
tỉnh ngộ sợ hãi, tất không còn
tham luyến cảnh huyễn bên
ngoài, niệm Phật được chuyên nhất.
47.
Người niệm Phật nếu dụng công
siêng năng tinh tấn, thì sẽ thuần thục quy
nhất, được cảm thông với Phật, tự có
thể thấy cảnh lành, dù không thấy cũng không ngại.
Nếu bỏ sự chuyên dụng công mà vội gấp muốn
được nhất tâm, được tương ưng, được
thấy cảnh
lành, thì vọng tưởng rối ren, tâm
niệm cầu
mong cố kết nơi lòng, đây là chứng
bệnh lớn lao nguy hiểm của
người tu hành. Như thế lâu
ngày, những oan gia đời trước
nương theo vọng tưởng của hành
nhân, hóa làm thân Phật, hoa sen, hoặc các cảnh tốt lạ, để mong
báo oán. Lúc ấy tự mình không có
chánh kiến, toàn thể là khí
phần của ma, một khi thấy cảnh
ấy tất sanh lòng hoan hỷ, ma vương
theo đây mà vào tâm phủ làm cho hành
nhân điên cuồng, dù có Phật sống cũng
không cứu được.
48.
Người niệm Phật không phải chỉ tu theo sự tướng bên ngoài, mà cần phải
để ý trừ phiền não cùng tập nghiệp lầm lỗi xấu xa. Nếu phiền não bớt một
phần thì công phu niệm Phật tăng một phần. Trái lại, để phiền não tăng
tất công hạnh phải lui kém. Cho nên có người càng tu hành lại càng đổ
nghiệp là bởi lý do trên đây.
49.
Giữ một câu A-di-đà Phật nhặt nhiệm nối nhau, thường nhớ thường niệm.
Khi những tâm tham lam bỏn sẻn, hờn giận, dâm dục, háo thắng, kiêu mạn,
thoạt nổi lên, phải nghĩ: “Ta là người niệm Phật cầu giải thoát, không
nên có tâm niệm như vậy”, nghĩ rồi liền trừ diệt đi. Như thế, lâu lâu
những niệm lao thần tổn thân đều không do đâu mà khởi, sẽ được công đức
không nghĩ bàn của Phật gia trì nơi thân tâm mình, dám bảo đảm trong
mười ngày sẽ thấy đại hiệu. Nếu tu hành lôi thôi gián đoạn liền muốn
được công hiệu, đó là khi mình khi người, tuy cũng có công đức, nhưng
muốn do đó mà lành bệnh thì quyết không thể được.
50.
Phàm việc chi cũng lấy lòng thành làm gốc, tu hành nếu không dùng
tâm chí thành làm sao
được sự lợi ích lành bệnh dứt khổ!
51.
Trong lúc dụng công tu muốn vọng tưởng dứt lặng đi, mà nó lại loạn động
lên mãi, thì mặc kệ cho vọng tưởng sanh khởi, không kể, chỉ cốt là ta
liền nhớ thâu tĩnh tâm lại, chăm chú đừng cho tâm niệm lững
dời đi là được. Tỷ như chú ý của con
mèo chăm bắt con chuột, hẳn
không có cử chỉ gì để buông rời. Lúc ta đương dụng công để tu,
dẫu như tâm tu có lững tán đi, thì phải thâu kéo nó lại, cứ thế thâu tâm
về mãi không thôi. Cái công thâu tâm ấy càng nhiều, càng nhặt, càng dầy
thì tự nhiên nó kết tinh lại thành một thể vô tướng. Kinh Thủ Lăng
Nghiêm nói: “Với cái động và tịnh của cảnh, tánh nó chẳng dời, lúc
nhớ lúc quên, tánh vẫn như một, phát từ chỗ đó để lần lượt đi sâu vào
mãi cho đến giai đoạn quên cảnh quên tâm, và với cái “quên” cũng quên
luôn đi, đến tận cảnh tịch diệt là chứng được pháp tánh”.
52.
Người chân thật niệm Phật: Trong thì quên thân, ngoài quên cảnh,
đó là ÐẠI BỐ THÍ; không sanh lòng
tham, sân, si là ÐẠI TRÌ GIỚI;
chẳng chấp thị phi nhân ngã, là ÐẠI NHẪN NHỤC; niệm Phật không ngừng hở
là ÐẠI TINH TẤN; vọng tưởng không móng khởi là ÐẠI THIỀN ÐỊNH; tâm không
bị các duyên cảnh ràng buộc là ÐẠI
TRÍ HUỆ.
53.
Muốn tu theo pháp môn niệm Phật,
thì phải ăn chay giữ giới, phải đổi dữ làm
lành, phải nương thầy giỏi bạn hay,
phải chánh nguyện giải thoát,
phải biết rõ nhân quả, phải có đủ phương tiện, phải chứa nhiều
công đức, phải làm sự phước duyên lẫn nhau.
54.
Lên nẻo nhân thiên, làm phước là trước. Ra biển sanh tử, niệm Phật là
đầu. Phải dùng câu niệm Phật làm chánh nhân, sự tu phước làm trợ đạo,
phước huệ gồm tu ắt chung bậc Chánh giác. Trì giới, niệm Phật là nhân ra
khỏi đời.
55.
Nếu không niệm Phật thì sanh tử không thế gì trốn được.
56.
Ðức Phật A-di-đà có lời nguyện rằng: “Nếu chúng sanh nào xưng danh hiệu
ta thì chắc sanh về nước ta, như không y lời thì ta chẳng làm Phật”.
57.
Pháp môn niệm Phật là một pháp môn rất phổ thông, từ hạng phàm phu cho
đến các đấng Thánh Hiền, từ hàng cùng đinh tục tử cho đến các bậc văn
nhân học giả. Một pháp tu rộng rãi thích hợp cho từ dưới phàm phu lên
trên Thánh giả, bao trùm hết các Giáo, thâu nhiếp cả mười tông.
58.
Niệm Phật là một pháp môn lẹ làng thẳng tắt, công cao dễ tới, sự rẻ dễ
làm, nếu chẳng niệm Phật mà cầu thoát ly ra khỏi tam giới thì tất không
đặng.
59.
Những người tu
hành dẫu có năng lực làm được những sự bố thí, trì giới, tham
thiền, tụng
đọc, cũng không bằng công đức
niệm Phật. Bởi
vì tu theo các thứ phước
nghiệp kia đều
là thiện căn nhỏ nhen, còn niệm Phật
cầu sanh Tây
phương mới thiệt là thiện căn to
lớn.
60.
Trong sự cầu sanh về Tịnh độ mà được dễ dàng là nhờ có Phật lực. Ðức
A-di-đà thì có nguyện lực tiếp dẫn, Ðức Thích-ca thì có nguyện lực
khuyến bảo, còn chư Phật thì có nguyện lực hộ niệm.
61.
Một câu “A DI ÐÀ PHẬT” là công án đầu tiên của tông môn. Thí như cỡi
ngựa mà cầm gậy thì càng thêm vững vàng cho sự sống. Hết thảy trong hàng
tứ chúng, ai niệm Phật cũng đều có ứng nghiệm, đương khi sống thì thêm
phước thêm duyên, sau lúc chết được tiêu nghiệp. Cho nên người nào thọ
trì thì những điều hy vọng của mình không có chi là chẳng mãn nguyện.
62.
Nhất tâm niệm Phật, muôn việc trần tự nhiên dứt bỏ, tức là pháp “Bố
thí ba-la-mật”.
Nhất tâm niệm Phật, các việc ác tự dứt, tức là “Trì giới
ba-la-mật”.
Nhất tâm niệm Phật, lòng được nhu
hòa mát dịu, tức là “Nhẫn nhục ba-la-mật”.
Nhất tâm niệm Phật, vĩnh viễn
không bị thối lui đọa lạc, tức
là “Tinh tấn ba-la-mật”.
Nhất tâm niệm Phật, không sanh
các vọng tưởng, tức là “Thiền định ba-la-mật”.
Nhất tâm niệm Phật, chánh niệm rõ ràng, tức là “Bát-nhã
ba-la-mật”.
Suy xét cho cùng tột, thì không ra ngoài nhất tâm niệm Phật mà
muôn hạnh được đầy đủ cả.
63.
Nghe nói danh hiệu Phật là “Văn huệ”, chấp thọ nơi lòng là “Tư huệ”, giữ
gìn làm theo là “Tu huệ”.
64.
Ðại Tập Kinh có lời: “Mạt thế, ức ức người tu hành không có một người
được giải thoát, chỉ nương pháp môn niệm Phật mà ra khỏi luân hồi”.
Kinh
lại nói: “Nếu người chuyên niệm Phật, hoặc ngồi mà niệm, hoặc đi mà
niệm, ròng rặc trong 49 ngày, thời hiện đời được thấy Phật, liền đặng
vãng sanh”.
65.
Niệm Phật là chuyên xưng danh hiệu,
chấp trì không tán loạn, cứ bền giữ như
thế, trong đời này được thấy Phật.
Hiện nay, phần đông người tu
Tịnh độ đều lấy pháp Trì danh
làm chính. Pháp xưng danh cần phải
lắng lòng không cho
tán loạn, mỗi niệm nối tiếp
nhau, buộc tâm nơi hiệu Phật. Khi
miệng niệm Nam mô A-di-đà Phật, tâm
phải soi theo mỗi chữ cho rành rẽ rõ ràng. Khi xưng
danh hiệu Phật, không luận ít hay nhiều, đều
phải một lòng một ý tâm tâm nối nhau.
Niệm như thế, mới có thể mỗi câu diệt
được tội nặng nơi đường sanh
tử trong tám mươi ức kiếp. Nếu chẳng vậy thì tội chướng khó tiêu
trừ.
66.
Vừa làm xong một việc, vừa nói xong một lời, chưa khởi tâm niệm Phật, mà
một câu hồng danh niệm Phật cuồn cuộn
tuôn ra đó là triệu chứng tam muội dễ thành vậy.
67.
Người niệm Phật, thì không được
nói chuyện tạp hoặc nghĩ ngợi lông bông. Nếu lỡ có phạm, phải suy
xét: Ta là người niệm Phật không nên như thế, rồi niệm Phật vài tiếng để
tự cảnh tỉnh mà đánh tan điều ấy.
68.
Tâm ta chỉ có một niệm, niệm Phật tức là nó, mà tạp niệm cũng là nó. Chỉ
nhân ta niệm Phật chưa tinh chuyên, niệm niệm trần còn vơ vẩn thế thôi.
69.
Không cần phải trừ tạp niệm, chỉ đem tâm niệm hoàn toàn để trên hiệu
Phật, tạp niệm liền mất.
70.
Người đạo đức chưa thuần, nên tán loạn nhiều, phải cố thâu nhiếp sáu
căn, lần lần sẽ được thanh tịnh. Nếu chưa làm được như thế, thì mở mắt
chăm chú nhìn tượng Phật mà niệm, hoặc nhắm mắt tưởng chân dung Phật mà
niệm, tạp niệm sẽ tiêu.
71.
Niệm Phật đừng vội vàng nóng nảy, phải lóng định tâm tư, niệm chậm rãi
hiệu Phật ra từ nơi tâm, phát thành tiếng nơi miệng, rồi lại vào nơi
tai, tâm nghĩ, miệng niệm, tai nghe, cứ tuần hoàn như thế, tạp niệm sẽ
dứt.
72.
Nên đem sáu chữ Nam mô A-di-đà Phật mà niệm. Khi niệm ghi nhớ rành rẽ,
tiếng thứ nhất là Nam, tiếng thứ nhì là mô, như thế đủ sáu
chữ, liên hoàn không dứt, thì vọng niệm không còn chỗ xuất sanh.
73.
Chúng sanh cùng ta đồng một bản thể,
là cha mẹ của ta trong nhiều kiếp, là chư
Phật đời vị lai, nếu chẳng phát tâm
cứu độ, chỉ cần giải thoát
riêng mình, thì đối với tình
có chỗ chưa an, với lý có điều sơ sót. Huống chi chẳng phát đại
tâm, thì ngoài không thể cảm thông với chư Phật, trong không thể khế hợp
tánh chân, trên không thể tròn quả Bồ-đề, dưới không thể độ khắp muôn
loài. Như thế làm sao báo bổ người ân nhiều kiếp, làm sao cởi mở oan gia
nhiều đời, làm sao thành tựu căn lành đã gieo trồng từ xưa,
làm sao sám trừ tội nghiệp đã tạo ra
từ trước? Và như thế thì tu
hành chỗ nào cũng gặp chướng
duyên, dù có thành tựu cũng là quả thấp, cho nên phải xứng tánh
phát lòng Bồ-đề vậy.
Nhưng phát đại tâm, phải tu đại
hạnh, mà trong tất cả hành môn, tìm
phương pháp dễ dụng công, mau thành tựu, rất yên
ổn, rất viên đốn, thì không chi hơn
dùng Tín Nguyện sâu trì danh hiệu Phật. Nói chấp trì danh hiệu
tức là giữ chắc hiệu Phật nơi lòng
không tạm quên. Nếu có một niệm gián đoạn, hoặc một niệm xen tạp,
thì không gọi là chấp trì. Giữ được một niệm nối nhau không xen tạp, đó
là chân tinh tấn; tinh tấn mãi không
thôi, sẽ lần vào cảnh nhất tâm bất
loạn mà viên thành tịnh nghiệp. Nhất
tâm bất loạn là chỗ quy túc của tịnh nghiệp, là đại môn của Tịnh
độ; chưa vào môn này tất chưa yên ổn,
học giả há chẳng nên cố gắng ư?
74.
Tâm đã hay tạo nghiệp thì cũng có thể chuyển nghiệp và nghiệp đã
do tâm tạo, tất cũng tùy theo tâm mà
chuyển. Nếu tâm mình không chuyển được nghiệp, tức bị
nghiệp trói buộc, nghiệp không chuyển theo
tâm thì có thể buộc tâm. Nhưng dùng
tâm thế nào mới chuyển được nghiệp? Ấy là giữ tâm hợp với đạo
đức, hợp với Phật. Và nghiệp làm sao buộc được tâm? Ấy là để tâm y theo
đường lối cũ, buông lung theo cảnh trần.
75.
Nghiệp đã tạo ra từ trước, đành đã lỡ rồi, chỉ trông mong có phát đại
tâm để biến chuyển; mà nắm giữ cơ quan ấy chính là ta chớ không ai khác.
Nếu hôm nay ta phát tâm niệm Phật cầu sanh Cực lạc để mau chứng quả, độ
chúng sanh, giữ niệm hiệu Phật nối nhau không dứt, lâu ngày tâm sẽ hiệp
với đạo, thì chuyển được quả báo Ta-bà thành Cực lạc, đổi nhục thai
thành liên thai. Không bao lâu, chính mình sẽ là một bậc thượng thiện,
tướng tốt trang nghiêm, an vui tự tại nơi cõi liên hoa thất bảo. Như ta
tu hành nửa chừng bỗng lần biếng trễ thối lui, tất bị