--- o0o ---
DỄ TU ^
Trong bốn
mươi chín năm thuyết pháp độ đời, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ dạy, nói
rộng, vô lượng vô biên, vô số pháp môn phương tiện; nói hẹp với con số
lượng cũng đến tám muôn bốn ngàn. Tất cả pháp môn ấy đều tùy theo căn cơ
sai biệt của chúng sinh mà Phật nói, nên chẳng đồng: Hoặc lớn nhỏ, cao
thấp, hoặc khó dễ, mau chậm, v.v... Tu với một pháp môn nào chẳng hạn,
chúng sinh phải dùng tự lực rốt ráo mới được liễu sinh thoát tử và siêu
phàm nhập thánh.
Ngoài vô
lượng, vô biên vô số pháp môn tu tự lực, Ðức Phật còn dạy thêm một pháp
môn tu tự lực nương với tha lực; pháp môn này rất dễ tu, dễ chứng và hợp
với tất cả thời cơ.
Ðứng về mặt
thế gian mà nói, ở ngoài đời, con người ta muốn sinh sống của dễ dàng,
không ai lại chẳng chọn một công nghệ dễ làm và mau phát tài. Cũng thế,
đứng về mặt đạo mà nói, người Phật tử muốn được giải thoát, không ai lại
chẳng lựa một pháp môn dễ tu, dễ chứng mà tu. Bởi vì, ở trong thời kỳ mạt
pháp này là thời kỳ rất khó tu, Phật tử cần phải biết pháp môn nào dễ tu,
dễ chứng để hành trì.
Mỗi Ðức Phật
ra đời độ sinh, thời gian giáo hóa của mỗi Ngài đều chia ra làm ba thời
kỳ:
1.- Thời kỳ
Chánh pháp,
2.- Thời kỳ
Tượng pháp,
3.- Thời kỳ
Mạt pháp.
Thời kỳ
Chánh pháp là lúc Phật còn tại thế; Ngài đi khắp chỗ cùng nơi giảng kinh
cứu thế, thuyết pháp độ đời. Chúng sinh nào có phục đức nhân duyên lớn gặp
Phật khai thị cho, thì liền chứng được quả thánh, ngàn người không sót
một.
Thời kỳ
Tượng pháp là sau khi Phật đã thâu thần nhập diệt, chúng sinh không còn
diễm phúc gặp Phật nữa. Mặc dầu sẵn có ba tạng kinh điển của Phật lưu
truyền, mà số tu đắc quả thành đạo chỉ riêng người căn tánh thuần thục,
huệ nhiều, chướng ít được chứng ngộ mà thôi, nên chi sự tu hành của Phật
tử ở thời kỳ Tượng pháp có phần khuy khuyết, không được toàn hảo như thời
kỳ Chánh pháp.
Ðến thời kỳ
Mạt pháp, là sau khi cách Phật đã lâu đời, một nỗi kinh luật xiêu lạc,
Chánh pháp thất truyền, lại thêm các nhà đại diện cho Phật chỉ đạo, bậc
đại thiện tri thức khó gặp, mà người học đạo phần đông là hạng nghiệp
nặng, chướng dày, nên chi sự tu hành số người chứng quả rất hiếm hoi,
chẳng khác nào bông xoài khi mới đơm hoa thật nhiều, mà lúc kết trái còn
rất ít.
Chúng ta
ngày nay ở nhằm thời kỳ Mạt pháp của Ðức Thích Ca Mâu Ni. Sự tu hành của
chúng ta khó bì, khó sánh với những người ở trong hai thời kỳ Chánh pháp
và Tượng pháp. Lâm vào thời buổi khó khăn như vậy, chúng ta phải chọn một
pháp môn nào dễ tu, dễ chứng để cho chúng ta đi thẳng thắn một lần đến bờ
giác, kẻo một khi vô thường bỏ mất thân người rồi, muôn kiếp ngàn đời khó
gặp lại.
- Căn cứ vào
đâu mà biết thời kỳ Mạt pháp khó tu chứng?
- Thời kỳ
Mạt pháp khó tu chứng tại sự đấu tranh kiên cố mà ra. Sự đấu tranh kiên cố
của chúng ta đây xét lại khởi điểm của nó ở tâm chấp ngã và chấp kiến mà
có.
Chấp ngã là
chấp có đây có kia, chấp có người có ta. Còn chấp kiến là chấp có phải có
quấy, chấp có hay có dở, chấp có hơn có kém, chấp có khôn có dại v.v... hễ
cái gì trái ý mình, thì không vừa lòng, liền nổi sân si. Chính tại sự sân
si này là cái nhân sinh ra các điều phần, cãi vã và tranh đấu. Ðó là bằng
cớ nghiệp nặng, chướng dày, si mê lầm lạc của chúng ta. Mà khi có phiền
não, nghiệp chướng, thì tất nhiên không có trí huệ, rất khó tu chứng lắm
vậy.
Ðây chúng ta
mới xét qua một ít nội chướng cũng đủ thấy nó trở ngại như thế nào rồi.
Còn nếu bàn về ngoại duyên, như hoài cảnh riêng của từ cá nhân, từ gia
đình hay tình thế của quốc gia, xã hội và thế giới, thì còn biết bao nhiêu
là việc khó khăn nữa!
- Ở trong
thời kỳ Mạt pháp khó tu chứng như vậy, chúng ta có nên ngã lòng hay không?
- Tuy nhiên,
chúng ta không nên ngã lòng. Chúng ta phải bình tĩnh để sáng suốt giải
quyết lần lần. Biết rằng chúng ta là những người ở trong thời kỳ Mạt pháp,
chính là những kẻ đã lâm vào hoàn cảnh nghèo thời cơ lẫn phương tiện, thì
đáng lẽ chúng ta phải phát tâm rộng lớn và kiên cố để tu hành.
Vả lại,
trong bốn phương pháp độ sinh của chư Phật như:
1/ “Pháp thí
độ chúng sinh”, tức là từ kim khẩu Phật nói ra mười hai phần kinh hóa độ
chúng sinh.
2/ “Thân
nghiệp độ chúng sinh”, tức là chư Phật dùng ba mươi hai tướng tốt với tám
mươi vẻ đẹp và hào quang của các Ngài mà hóa độ chúng sinh.
3/ “Thần
thông lực độ chúng sinh”, tức là chư Phật có vô lượng đức dụng thần thông
đạo lực và các pháp biến hóa dùng để hóa độ chúng sinh.
4/ “Danh
hiệu độ chúng sinh”, tức là chư Phật có vô lượng danh hiệu hoặc chung,
hoặc riêng, nếu chúng sinh nào biết chuyên tâm xưng niệm hồng danh của
Ngài, thì một ngày kia sẽ được gặp Phật hóa độ cho.
Trong bốn
pháp độ sinh của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, mặc dầu ba pháp đứng đầu đã
tuần tự trôi qua với thời gian dĩ vãng chỉ còn lại pháp độ sinh thứ tư là
“Danh hiệu độ chúng sinh” cho chúng ta tu hành dễ dàng, thì gẫm lại chúng
ta ở trong thời kỳ Mạt pháp này chưa đến đỗi là hoàn toàn vô duyên bạc
phúc đâu! Vậy chúng ta phải phát tâm rộng lớn, nỗ lực tu hành kiên cố với
pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh”, tưởng lại cái kết quả đời tu của chúng
ta sau này cũng không đến đỗi không hy vọng được giải thoát.
- Kinh nào
nói pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh”?
- Kinh Ðại
Tập Nguyệt Tạng nói: “Trong thời kỳ Mạt pháp, chúng sinh chỉ nương sức
niệm Phật mà ra khỏi luân hồi”.
Kinh Vô
Lượng Thọ, Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật khuyên chúng sinh nên trì danh hiệu
Ðức Phật A Di Ðà để thoát cõi khổ, sinh về cõi an vui, đủ duyên lành tu
hành mau chứng đạo quả Bồ đề.
Kinh A Di
Ðà, Ðức Bổn sư Từ phụ nói: “Tất cả sáu phương thế giới: Ðông phương, Nam
phương, Tây phương, Bắc phương, Hạ phương, Thượng phương chư Phật và Bồ
tát đều khen ngợi pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh” và thường hộ niệm
những người chuyên trì danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà”.
Kinh Bửu
Tích nói: “Ðức Thích Ca Mâu Ni giảng pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh”
(pháp môn Trì danh niệm Phật) cho vua Tịnh Phạn với bảy vạn người tộc
thuộc nghe đều phát tâm tu theo được siêu sinh về Cực lạc thế giới”
Nói tóm tắt,
pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh”, tức là pháp môn “Trì danh niệm Phật”
đều được nhiều kinh luận khác nói đến và tán thán công đức không thể kể
xiết.
- “Trì danh
niệm Phật” nghĩa gì?
- Chữ “Trì”
nói đủ là “Trì cửu” nghĩa là giữ mãi không thay đổi.
Chữ Danh nói
đủ là “danh hiệu” nghĩa là tên và hiệu.
Chữ Niệm nói
đủ là “niệm niệm” nghĩa là nghĩ nhớ đến luôn.
Chữ Phật nói
đủ là “Phật đà” nghĩa là người đã giác ngộ hoàn toàn với ba bậc giác: Tự
giác, giác tha và giác hạnh viên mãn do sự tu hành.
“Trì danh
niệm Phật” là một pháp môn chuyên tu của tông Tịnh độ (một tông trong mười
tông của đạo Phật) bằng cách nghĩ nhớ đến danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà không
bao giờ xao lãng.
- Phải niệm
như thế nào mới đúng ý nghĩa danh hiệu Phật?
- Phật là
một danh từ tôn xưng những bậc giác ngộ hoàn toàn và được xem như hiện
thân của các đức tính:
1.- Ðại từ
nghĩa là thường ban vui cho khắp cả chúng sinh một cách bình đẳng.
2.- Ðại bi
nghĩa là thường cứu khổ cho mọi loài mọi vật.
3.- Ðại hùng
nghĩa là luôn luôn hăng hái về sự cứu khốn phò nguy và xây dựng hạnh phúc
cho chúng sinh không biết mỏi mệt.
4.- Ðại lực
nghĩa là mạnh dạn và cương quyết việc cứu tế chúng sinh không hề chán nản.
- Pháp môn
niệm Phật có mấy cách?
- Trong Ðại
Tạng Kinh nói: “Pháp môn niệm Phật” có trên trăm cách, mà giản tiện để
thuật lại thì có bốn pháp là:
1.- Thật
tướng niệm Phật,
2.- Quán
tưởng niệm Phật,
3.- Quán
tượng niệm Phật.
4.- Trì danh
niệm Phật.
Thật tướng
niệm Phật là niệm Phật bằng cách tuyệt đối, là khế hợp với bản tâm chân
như. Nghĩa là hành giả trong cảnh giới này không còn chấp một quan niệm
nào, hoặc năng, hoặc sở, không còn danh tự, ngôn thuyết nào cho đến cái
biết không này cũng thật không, tức là chánh định hoàn toàn song song với
Thiền tông.
Cách niệm
Phật này cao lắm, chỉ dành riêng cho những bậc thượng căn, thượng trí dùng
mà thôi.
Quán tưởng
niệm Phật là niệm Phật bằng cách tưởng tượng nhớ lại những tướng hảo của
Phật mà mình đã chiêm ngưỡng.
Những người
mới tu, hoặc trí kém không nên áp dụng cách này sớm, vì có hại cho phần
não nhiều.
Quán tượng
niệm Phật là niệm Phật bằng cách chiêm ngưỡng ngay tượng Phật, nhìn rõ từ
nét, từ phần các tướng tốt của Phật. Cặp mắt phải chăm chú không xao lãng,
còn trong trí cứ nghĩ rằng như mình đứng trước Báo thân của Phật thật mà
khởi lòng cung kính, tin, nguyện.
Trì danh
niệm Phật là niệm Phật bằng cách ghi nhớ danh hiệu của Phật. Ðể tỏ lòng
cung kính như chúng ta thường niệm đủ là “Nam mô A Di Ðà Phật”, hoặc là “A
Di Ðà Phật” mà trong Kinh Nhật Tụng của chúng ta thường thọ trì do Ðức Bổn
sư Thích Ca đã khuyên dạy.
Trong bốn
cách vừa nói trên, xét kỹ, chỉ có cách thứ tư là “trì danh niệm Phật” là
giản tiện và phổ thông nhất.
- Phải trì
danh niệm Phật bằng âm thanh nào?
- Chúng ta
có thể trì danh niệm Phật bằng:
1/ “Cao
thanh niệm” nghĩa là niệm lớn tiếng. Cách này chúng ta có thể dùng mõ để
phụ lực, hoặc giữ trường canh mà lấn áp tiếng động bên ngoài và đánh tan
sự buồn ngủ của chúng ta.
2/ “Ðê thanh
niệm” nghĩa là niệm nhỏ tiếng. Nếu niệm lớn tiếng nghe hơi mệt, thì nên
dịu lại để giữ tâm khỏi sự tán loạn, giải đãi.
3/ “Kim cang
niệm” nghĩa là niệm chỉ nhép môi, động lưỡi mà không có ra tiếng như hai
cách vừa nói trên.
4/ Mặc niệm”
nghĩa là niệm âm thầm. Ðến đây môi, lưỡi không còn động, chỉ dùng trí để
nhớ câu niệm Phật mà thôi.
KINH
NGHIỆM.- Chúng ta có thể dùng bốn cách trên đây mà thay đổi. Không nên cố
chấp một pháp niệm nào nhất định. Nghĩa là nếu niệm thầm (mặc niệm) có hơi
năng đầu, buồn ngủ, thì trở lại niệm lớn tiếng và tuần tự, hoặc đê thanh
niệm, v.v...
Ngài Luật
Hàng Pháp sư dạy chúng ta có thể trong khi dùng bốn cách “Trì danh niệm
Phật”:
1.- Hoặc là
niệm đủ sáu tiếng “Nam mô A Di Ðà Phật”.
2.- Hoặc chỉ
niệm bốn tiếng “A Di Ðà Phật”.
3.- Hoặc cho
câu niệm Phật theo hơi thở ra vào tùy theo sức mà niệm nhiều câu hay ít
câu gọi là “Xuất nhập tức niệm”.
4.- Hoặc khi
niệm Phật, luôn luôn trụ tâm nơi đỉnh đầu để tâm khỏi duyên cảnh khác mà
bị tán loạn.
Ngoài ra,
người niệm Phật phải chú trọng đến ý căn bản của mình, nghĩa là phải gom
thâu tư tưởng lại mà đặc biệt để ý đến bốn điểm cần thiết:
1.- Phải
kiên thành nghĩa là cung kính, thành khẩn, kỵ sự khinh mạn, không tôn
kính.
2.- Phải
thống thiết nghĩa là tỏ vẻ đau khổ, kỵ sự trống không, không thiết thực.
3.- Phải
kiên chí nghĩa là ý chí vững vàng, kỵ sự gián đoạn, đứt khúc, không nối
tiếp nhau.
4.- Phải
chuyên nhất bấy giờ là chỉ theo một chiều, kỵ sự xen tạp lộn xộn.
Ý căn được
kềm vào bốn điểm này thì các căn khác như: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân khó
duyên ngoại mà phát thức vọng động.
Muốn cho
được kết quả chắc chắn, trong khi niệm, hoặc lớn tiếng, nhỏ tiếng, chúng
ta còn phải luôn luôn kiểm điểm những việc như sau:
1.- Giữ
miệng niệm cho rành rẽ.
2.- Kềm hai
lỗ tai nghe cho rõ ràng.
3.- Giữ
tiếng niệm cho trong trẻo, đều đều.
4.- Nhất là
cái ý phải cẩn mật, kim chỉ cho thật khít khao mà dày dặn đừng để một tà
niệm nào xen vào.
Trong Kinh
Di Giáo, Ðức Phật dạy chúng ta khi niệm Phật phải chăm chỉ, chẩm bẩm như
mèo rình chuột, như viên tướng soái giữ cửa thành. Nếu được như thế, thì
chúng ta sẽ thành công “Niệm Phật Tam muội” vậy.
- Niệm Phật
có lợi ích gì cho mình và cho người không?
- Ðức Thích
Ca Mâu Ni nói: “Ta là Phật đã thành, còn chúng sinh là Phật sẽ thành”. Nói
một cách khác, Ðức Phật là người đã giác ngộ sự thật, còn chúng sinh là
người sẽ giác ngộ sự thật ấy sau này, nếu biết tu hành chân chính. Vì vậy,
hết thảy các hành động của Phật tử phải nhắm Phật làm mục tiêu gương mẫu;
nghĩa là phải thực hành các đức tính cao cả của Phật vào đời sống hằng
ngày của mình.
Thí dụ: Như
một người chí sĩ hằng ngày tủ đến những đấng anh hùng để khích lệ chí
hướng của mình đã làm gương cho mình noi theo, thì Phật tử cũng vậy, giờ
phút nào cũng đều niệm Phật để hướng Phật làm gương cho mình, lấy sự hành
động của Phật để chỉ huy đời sống của mình, hy vọng tạo thành mình trở nên
một bậc đại từ, đại bi, đại hùng, đại lực v.v..., tức là thành Phật. Như
thế là niệm Phật có ích lợi cho mình vậy.
Khi niệm đức
tính đại từ bi của Phật, thì phải áp dụng những biện pháp thiết thực và
khôn khéo để bảo vệ và giúp đỡ đời sống của mọi loài. Khi niệm đức tính
đại hùng lực của Phật, thì phải cực đoan, quả cảm thực hành biện pháp vị
tha, lợi tha dầu phải hy sinh tài sản và thân mạng của mình đi nữa cũng
không từ. Như thế là niệm Phật có ích lợi cho người, cho vật, cho chúng
sinh vậy.
- Như thế
nào pháp môn danh hiệu độ chúng sinh là dễ tu?
- Pháp môn
danh hiệu độ chúng sinh dễ tu là vì:
1.- Lúc
nào niệm Phật cũng được cả:
a) Sớm mai
niệm Phật được,
b) Trưa niệm
Phật được,
c) Tối niệm
Phật được,
d) Khuya niệm
Phật được v.v... nghĩa là không hạn cuộc thì giờ.
2.- Chỗ
nào niệm Phật cũng được cả:
1/ Trong
chốn già lam:
a) Trước
chánh điện niệm Phật được,
b) Sau nhà Tổ
niệm Phật được,
c) Trong liêu
thầy niệm Phật được,
d) Hai bên
Ðông lang, Tây lang niệm Phật được,
e) Trên gác
chuông niệm Phật được,
g) Dưới gốc cây Bồ đề, gốc da, gốc duối
niệm Phật được.
Tóm tắt, là niệm Phật không hạn định xứ sở.
2/ Trong
nhà:
a) Trước bàn
thờ Tam Bảo niệm Phật được,
b) Tại phòng
khách niệm Phật được,
c) Tại phòng
ăn niệm Phật được,
d) Tại phòng
ngủ niệm Phật được,
đ) Sau nhà
bếp niệm Phật được,
e) Trong phòng tắm niệm Phật
được,
g) Trong phòng tiêu niệm Phật
được,
h) Trong nhà sanh niệm Phật
được.
Tóm tắt, bất kỳ chỗ sạch, chỗ
dơ đều niệm Phật được hết. Nhưng mà nên lưu ý: Các nơi nào không
được thanh tịnh, tinh khiết, thì phải mặc niệm nghĩa là niệm thầm, niệm
trong tâm trí, niệm bằng ý tưởng.
3/ Ở chốn sơn lâm:
a) Trên đỉnh núi niệm Phật
được,
b) Trong động, trong hang niệm
Phật được,
c) Ngoài rừng, bụi niệm Phật
được.
4/ Miền duyên hải:
a) Ngoài cồn, ngoài bãi niệm
Phật được,
b) Trên doi, dưới vịnh niệm
Phật được.
5/ Ở thôn quê:
a) Trong vườn, ngoài rẫy niệm
Phật được,
b) Trong
ao, đầm, ngoài đồng áng niệm
Phật được.
6/ Ở thành thị:
a) Giữa chợ đông niệm Phật
được,
b) Trong quán cháo, hàng cơm,
lò bánh, tiệm nước, rạp hát niệm Phật được,
c) Ngoài bến xe, bến tàu niệm
Phật được.
7/ Ở trường vận động:
a) Tại
sân đấu cầu, đánh vợt niệm Phật được,
b) Tại hồ bơi lội niệm Phật
được.
8/ Ở bãi chiến trường:
a) Trước
họng súng, mũi gươm niệm Phật được,
b) Trên
máy bay, dưới tàu lặn niệm Phật được,
c) Trong
tiếng nổ của lựu đạn, quả bom
niệm Phật được.
3.- Niệm Phật cách nào cũng
được
Niệm Phật không nhất định phải
một mực chắp tay cúi đầu, quỳ gối trước bàn thờ mãi, mà tha hồ đi, đứng,
nằm, ngồi, bò, leo, chạy, nhảy v.v..., tùy theo hoàn cảnh. Niệm Phật cũng
chẳng bắt buộc phải lớn tiếng, dài hơi luôn luôn, mà niệm mau, niệm chậm,
niệm thầm, niệm có tiếng mõ, tiếng chuông, niệm vừa lần tràng (lần chuỗi),
niệm đếm hơi thở ra vào (sổ tức niệm), niệm như thế nào tùy thời thay đổi,
miễn là niệm niệm tiếp nối, đừng cho gián đoạn mới hy vọng đến cảnh giới
“nhất tâm bất loạn”.
4.- Người hạng nào niệm Phật
cũng được cả
a) Không
hạn cuộc tuổi tác, kẻ bé măng
sớm niệm càng hay, mà người già tàn tạ muộn niệm Phật cũng tốt.
b) Không hạn
định nghề nghiệp: Người làm quan, làm thầy, làm thợ, cày ruộng, đi buôn,
lập vườn, học trò, lính tráng v.v... người nào niệm Phật tâm lần sáng tỏ,
không bê trễ công việc làm ăn, biết yêu nghề, biết trọng danh giá mình,
không làm điều ám muội, ích kỷ hại nhân.
5.- Pháp môn tu nào cũng gồm
đủ ở trong pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh”
Nhiều người
tưởng rằng tu hành được thành đạo là nhờ có ăn chay, giữ giới, tụng kinh,
trì chú, tham thiền, nhập định nhiều năm, chớ nghe nói niệm Phật được
thoát khỏi sinh tử luân hồi ắt nghi ngờ; vì các người ấy chưa rõ pháp môn
“Danh hiệu độ chúng sinh” gồm tất cả các pháp, chưa nhận định niệm Phật
tức là Giới, niệm Phật tức là Kinh giáo, niệm Phật tức là Thiền, niệm Phật
tức là Phật.
Niệm Phật tức là Giới.-
Chuyên trì các điều
Phật cấm là giữ Giới để trị tam nghiệp: Thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý
nghiệp. Còn chuyên trì danh hiệu của
Phật là niệm Phật để trị thân tâm.
Niệm Phật mãi thì thân an nhàn, tâm
thuần thục. Tâm thuần thục là
tâm rốt ráo; tâm rốt ráo là tâm rỗng không; ấy là niệm tánh (tánh
niệm Phật). Niệm tánh với Giới tánh (tánh giữ Giới) nào có khác gì? Nên
chỉ niệm Phật tức là giữ Giới vậy.
Niệm Phật tức là Kinh giáo.-
Cả ba tạng kinh lớn đều bởi tâm mà ra. Nếu tâm không có Phật thì giáo vào
đâu? Nhưng mà tâm ai lại không có Phật, chỉ vì mình không tự nhận đó thôi.
Kinh giáo là cốt yếu cho người biết rõ lối tà mà bỏ đặng quay về đường
chánh. Trì kinh mục đích để minh tâm kiến tánh; còn niệm Phật cốt yếu để
trừ sạch các mối nghĩ nhầm đặng đi đến chỗ chánh niệm và chân niệm, tức là
minh tâm kiến tánh, nên chi niệm Phật
tức là Kinh giáo vậy.
Niệm Phật tức là Thiền, là
Phật.- Lặng xem một
câu thoại đầu gọi là Tham thiền. Ngồi yên xét hơi thở gọi là Tọa thiền.
Tham với Tọa cả hai phương cũng đều là Thiền cả. Thiền, Phật rốt cuộc cũng
là một Tâm. Thiền kia tức là Thiền của Phật; Phật kia tức là Phật trong
Thiền, nên chi pháp môn niệm Phật không có trở ngại gì với pháp Tham
thiền, không trái trấp gì với pháp Tọa thiền.
Vả lại lúc Tham thiền, nếu lấy
sáu chữ Hồng danh “Nam mô A Di Ðà
Phật” làm câu thoại đầu, niệm đi niệm lại quanh quẩn không rời,
thì không cần Tham thiền mà cũng là
Thiền rồi. Pháp Tọa thiền cốt nhất phải đến cõi chỉ còn một mối
nghĩ cùng ứng với Tâm, rỗng rang như hư không thì đối với niệm Phật mà tới
cảnh “Nhất tâm bất loạn” nào có khác gì? Nên chi niệm Phật tức là Thiền là
Phật vậy.
QUYẾT NGHI.-
Giả sử có người ngại rằng: Tu theo pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh” tức
là niệm Phật cầu sinh Tịnh độ Tây phương Cực lạc là “Tiểu thặng” có phải
không?
- Pháp môn
“Danh hiệu độ chúng sinh” ở trong Kinh A Di Ðà. Bộ kinh này thuộc về loại
“vô vấn tự thuyết”, không ai hỏi, Phật tự nói. Kinh A Di Ðà là kinh Ðại
thặng.
Vả lại, người muốn niệm Phật cầu sinh
Tịnh độ phải phát tâm đại Bồ đề (rộng lớn) trên cầu cho được quả Phật,
dưới mong mỏi hóa độ chúng sinh. Phát tâm rộng lớn như vậy là tu Ðại
thặng.
- Người trọn
đời làm ác, khi gần chết, chí tâm niệm Phật có được vãng sinh không?
- Ðược. Ngày
xưa, ở Trung Quốc, đời nhà Ðường có Trương Thiện Hòa chuyên làm thịt trâu
bán độ nhật. Lúc chàng bệnh nặng gần chết, thấy nhiều con trâu hiện trước
mắt đòi mạng. Trương Thiện Hòa sợ hãi lắm, bảo vợ mau mau lên chùa thỉnh
thầy Tỳ kheo tới cứu độ chàng.
Thầy Tỳ kheo dạy rằng: Kinh Thập Lục Quán nói: “Nếu người nào trong
khi sắp lâm chung có ác tướng địa ngục hiện ra, thì phải chí tâm xưng niệm
danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà, tức thì được vãng sinh”. Vậy ngươi hãy y theo
lời kinh dạy mà làm ắt được siêu độ.
Trương Thiện Hòa vâng lời chí
tâm niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà. Vừa niệm ít câu, Trương Thiện Hòa tự
nói rằng: “Ta thấy Ðức Phật từ phương Tây đến kìa, ta đi theo Ngài”. Nói
dứt lời, Trương Thiện Hòa tắt thở.
- Ðời nay có người nghe câu
Thánh giáo trong kinh rằng: “Chúng sinh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn
sinh về nước Ta, đến cùng mười hơi niệm Phật, nếu ai không được vãng sinh,
Ta không ở ngôi Chánh giác”, rồi người ấy cả đời không lo tu hành gì cả.
Người nói như vầy: “Khi gần chết ta sẽ niệm Phật mười câu cũng không muộn
gì”. Như vậy có nên hay không?
- Không. Mười niệm tương tục
nói suông nghe không khó, nhưng mà bắt tay vào việc làm
chẳng phải dễ. Vì cái tâm của con
người lăng xăng như con ngựa hoang, cái ý thức của con người lung
loạn như con vượn chuyền cây, nó cứ
dong ruổi mãi theo lục trần không ngừng nghỉ. Hơn nữa, khi gần
chết, có biết bao nhiêu thứ khổ bấu
theo thân. Nếu bình nhật không tập niệm
Phật cho quen, đến cơn hấp hối thì làm
gì xong được.
Vậy mỗi người nên lượng xét lại
mà lo khắc niệm Phật trước hay hơn.
Kinh giáo có câu: “Chớ đời đến
già mới niệm Phật, mồ hoang biết mấy kẻ thanh niên”.
Nói tóm lại, pháp môn dễ tu, dễ
chứng và hợp cả thời cơ là pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh” thông thường
gọi là pháp “Trì danh niệm Phật” mà sao gọi là dễ tu?
- Pháp môn Trì danh niệm Phật
dễ tu vì:
1.- Lúc nào niệm Phật cũng
được,
2.- Chỗ nào niệm Phật cũng
được,
3.- Niệm Phật cách nào cũng
được,
4.- Người nào niệm Phật cũng
được,
5.- Pháp môn niệm Phật bao gồm
tất cả các pháp môn tu khác.
Ðức Thích Ca Từ phụ đã để dành
sẵn một phương thần dược chữa bệnh sinh tử luân hồi cho
bầy con thơ dại dột rơi rớt trong thời
kỳ Mạt pháp này. Ngài đinh ninh
khuyên dạy rằng: Chúng sinh chỉ
nương pháp môn niệm Phật mà được ra
khỏi luân hồi. Vì pháp môn niệm Phật
có những công dụng đặc biệt mà
các pháp môn khác không có.
Cho hay
thân người khó gặp, Tịnh độ Tây
phương lại dễ sinh! Vì Ðức Phật A Di Ðà có lời thệ nguyện rộng lớn rằng:
“Nếu chúng sinh nào nghe danh hiệu Ta, khởi tâm chí thành, niệm từ một
niệm đến mười niệm mà Ta không tiếp độ về nước Ta, thì Ta không làm Phật”.
May mắn thay! Hiện nay chúng ta
có cái thân người lại được nghe pháp môn Dễ Tu thật là chúng ta có
đầy đủ phước đức nhân duyên để sau này sẽ vãng sinh về Tây phương Cực lạc
thế giới. Vậy chúng ta không nên chần chờ, lần lựa gì nữa mà không chuyên
tâm trì niệm danh hiệu của Ðức Phật A Di Ðà, kẻo một khi thân này mất rồi,
thì muôn kiếp ngàn đời khó gặp trở lại được.
Nam mô A Di Ðà Phật.
DỄ CHỨNG^
Về sự tu giải thoát, Ðức Thích
Ca Mâu Ni Phật có nhiều pháp môn chỉ dạy từng bậc tu chứng từ phàm phu
tiến lên Thánh hiền, từ Thánh hiền tiến lên Phật. Ngoài vô lượng pháp môn
tu tự lực, Phật còn chỉ thêm một pháp môn tu tự lực nương tha lực rất viên
đốn, rất huyền diệu, vì dễ thực hành mà thành công, dùng sức ít mà có hiệu
quả, chính là pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh” hay là “Trì danh niệm
Phật”.
Với pháp môn này, mỗi người có
thể tùy phận, tùy sức mà tu chứng. Không luận kẻ trí người ngu, không luận
kẻ tăng, người tục, không luận người sang, kẻ hèn, không luận người già,
kẻ trẻ, v.v... nói tóm tắt, tất cả các
giới người trong xã hội đều có thể tu tập và chứng quả tốt cả.
- Nhờ đâu mà pháp môn “Danh
hiệu độ chúng sinh” tu dễ chứng?
- Pháp môn “Danh hiệu độ chúng
sinh” tu dễ chứng là nhờ có:
1.- Nhị lực,
2.- Tam nhân,
3.- Tam
duyên,
4.- Tam nhân
duyên, thất nhân duyên, ngũ nhân duyên.
NHỊ LỰC.- Nhị lực là hai
sức mạnh: 1/ Tự lực và 2/ Tha lực.
Tự lực là sức mạnh của cá nhân,
sức mạnh của riêng mình có.
Tha lực là sức mạnh của người
khác, mà đây ám chỉ về sức mạnh của chư Phật và chư Bồ tát gia bị hay ủng
hộ, hoặc là bố hóa hay cứu giúp chúng sinh.
Công năng của Tự lực.- Ở
đời con người ta, phàm muốn nên công kia việc nọ, dầu cho công việc nhỏ
nhặt đến bậc nào hay là dễ dàng đến đâu, ít nữa mình cũng phải phí sức
mình ra làm mới được kết quả; ấy gọi là do Tự lực.
Công năng của Tha lực.-
Nếu một công việc lớn lao, nặng nề quá, đem hết sức mình làm chẳng xuể,
bất buộc mình phải cần đến sức người khác giúp đỡ thêm mới mong được thành
tựu; ấy gọi là nhờ Tha lực.
- Phẩm và lượng của Tự lực và
Tha lực khác nhau thế nào?
- Luận về
phẩm của Tự lực thì giá trị của nó thật là quý. Ðây, giả sử một người con
thảo muốn báo hiếu cha mẹ lúc còn sinh tiền, tự mình phải ra tay nấu cơm,
đun nước dâng lên cho hai thân dùng được no lòng ấm dạ; tự mình phải ra
sức giặt giũ y phục cho cha mẹ thay đổi sạch sẽ hằng ngày; tự mình phải ân
cần hầu hạ bên giường, quạt nồng ấp lạnh cho cha mẹ nghỉ ngơi ngon giấc.
Nói tóm tắt, là đích thân mình đứng ra làm các việc cần thiết để phục vụ
cha mẹ trong lúc tuổi già, thì lòng mình mới cảm thấy vui sướng chẳng có
chi bằng! Hơn là mình phó thác cho tôi trái tớ gái trong nhà, quanh năm
cùng tháng vẫn thay thế cho mình chăm nom từ miếng ăn, thức uống, săn sóc
từ manh quần tấm áo, coi chừng từ giấc ngủ của cha mẹ mình. Thật ra cách
phụng dưỡng ấy, tuy không thiếu sót về phần vật chất nào; nhưng mà lòng
mình cũng thấy nao nao, chưa được thỏa mãn lắm, vì mình xét lại còn khuyết
điểm một tinh thần là tình thương yêu mật thiết giữa con cái đối với cha
mẹ. Bằng chứng thực nghiệm là ai có dịp hầu hạ cha mẹ một vài hôm trong
lúc tuổi già ương yếu, mà tự mình đi sắc thuốc, hoặc đích thân mình bồng
lên đỡ xuống cha mẹ trên giường bệnh, hoặc để tắm giặt giũ mùng mền, thay
xiêm đổi áo cho cha mẹ khi đau ốm. Mình có làm được những việc ấy một cách
tận tình rồi mới biết thưởng thức cái chân giá trị của Tự lực nó thật là
quý báu vô cùng! Cũng như một em bé học lớp sơ đẳng trường tiểu học, tự
mình viết được một bài văn cỏn con với lời lẽ ngây thơ mà có ý nghĩa, làm
cho thầy giáo là người chấm bài của cậu học trò ấy rất hài lòng khen ngợi,
hơn cậu học trò khác đồng thời đi tìm sách vở chép lại những bài kiểu mẫu
của nhà văn sĩ trứ danh đã soạn.
Còn bàn về
lượng của Tự lực thì thật là rất hiếm hoi! Ðây trên thế gian này, người ta
ai ai cũng cần phải ăn no, mặc ấm và ở yên mới sống. Nhưng nếu bắt buộc
mỗi người đều phải tự mình ra công cày sâu, cuốc bẫm, gieo mạ, cấy lúa mới
có cơm ăn, tự mình phải trồng bông, kéo chỉ, dệt vải, cắt may mới có áo
quần mặc, tự mình phải đốn cây đẵn gỗ, dựng cột xây tường mới có nhà ở
v.v... thì sức một người làm có hạn, không bao giờ kịp hết cả trăm công
ngàn việc cần thiết ấy được.
Tuy nhiên, mỗi người trong chúng ta, tự mình không ra công trồng lúa cũng
được cơm ngày ba bữa no nê, tự mình không ra công chăn tằm, quay tơ cũng
có quần áo lòe loẹt, tự mình không ra công đào móng, đắp nền, trộn hồ,
gánh gạch cũng được nhà cửa kín đáo ngăn mưa đón gió v.v... Mặc dầu biết
rằng chúng ta có xuất tiền ra trả công thuê người, mua vật liệu, song cũng
phải mang ân người. Nếu không nhờ Tha lực là sức của người khác đóng góp
vào, thì chúng ta đâu được cái cảnh sung sướng là ăn no, mặc ấm, ở yên như
thế ấy! Nên chi quyết định rằng lượng của Tha lực thật là rất trọng đại
lắm vậy!
- Sự liên quan của Tự lực và
Tha lực.- Tự lực và Tha lực có liên quan mật thiết không thể rời ra
được. Vì thế mà người ngoài đời cũng như trong đạo không nên thiên chấp Tự
lực hay Tha lực, mà phải dung hòa, phối hợp cả hai sức ấy lại áp dụng mới
được kết quả tốt trong công việc sinh sống cũng như trong sự tu hành. Ðại
phàm con người biết tín nhiệm Tự lực và Tha lực, thì chẳng khác nào chim
có hai cánh mới bay được dễ dàng, cũng như xe có hai bánh mới chạy được
vững vàng; nếu chích một cánh, thì chim kia phải sa, đâu còn bay liệng tự
do được nữa, cũng như nếu hỏng một bánh thì xe nọ phải ngả nghiêng nằm lì
một chỗ.
- Nếu thiên chấp Tự lực, tự hào
nơi sức mình có đủ khả năng chẳng cần đến Tha lực, phủ nhận sức của quần
chúng, thì người thế gian sẽ thâu thập một kết quả nhỏ nhít và khó khăn
trong việc sinh sống hằng ngày. Bởi vì Tự lực là sức của cá nhân lẻ loi,
yếu ớt đối với Tha lực là sức của nhiều người hợp lại mạnh mẽ. Nếu tự cao,
tự mãn với sức mình mà chẳng cầu đến sức Phật, sức Bồ tát, sức thầy sáng,
bạn lành, thì người học đạo giải thoát khó bề tu hành chứng được quả
thánh. Bởi vì sức của phàm phu ngu tục, đã phước mỏng lại thêm chướng dày
sánh với sức Phật, Bồ tát phước đức vô lượng, vô biên, kém xa một vực,
chẳng khác nào bọt nước phập phều trong biển cả. Nên biết, bọt nước tuy là
bé bỏng mà chu du được khắp cùng trong biển mênh mông, do vì nó nhờ sức
thủy triều lôi cuốn trong lúc luân lưu xuống lên vòng quanh đại hải. Nếu
không nhờ lực lượng của nước khi lớn khi ròng đưa đi, thì làm sao bọt nước
lưu thông khắp cả đó đây trong biển dễ dàng! Vậy thì, người tu hành không
nên phủ nhận “Tha lực” là sức Phật và Bồ tát mà thiên chấp “Tự lực” là sức
của mình mà khó nỗi thoát ra khỏi ải sinh tử luân hồi, chẳng khác nào bọt
nước nếu phủ nhận lực lượng thủy triều, thì không xê xích đi đâu được hết.
- Còn thiên chấp “Tha lực” thì
sao?
- Nếu thiên chấp “Tha lực” mà phủ nhận “Tự lực”, thì người thế gian không
làm công việc gì cả. Dụ như đứa con của một thầy giáo ỷ lại rằng cha mình
hay chữ mà chẳng chịu ra công học tập, thì tự nhiên nó phải dốt. Cũng như
người tôn giáo, người Phật tử nếu phủ nhận sức mình, cứ một mực đặt tín
nhiệm vào Ðức Phật, thì không làm sao chứng được quả Phật.
- Nếu dùng “Tự lực” nương với “Tha lực” thì kết quả sẽ được thế nào?
- Nếu dùng “Tự lực” nương với “Tha lực”, thì kẻ ngoài đời sẽ thâu hoạch
được kết quả tốt đẹp trong công việc làm của mình. Dụ như một đứa con đã
siêng năng, cần mẫn mà lại có cha mẹ chia sớt gia tài và bà con, anh em
giúp thêm cả công lẫn của nữa, thì đứa con ấy chắc chắn được phát tài. Còn
người trong đạo, vừa dùng sức mình vừa nương sức Phật, sức Bồ tát mà tu,
thì quyết định người Phật tử ấy sẽ được vãng sinh về Tây phương Cực lạc
thế giới gặp Ðức Phật A Di Ðà, nghe pháp “Vô sanh” chứng ngôi “Bất thối”
và sẽ làm Phật kiếp vị lai. Như ngài Huệ Viễn với những người trong hội
Liên xã có đến 123 vị ở Lô Sơn hằng ngày lo phát triển các việc lành và
đem hết sức mình ra chuyên niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà cầu “Tha lực”
đới nghiệp vãng sinh, khi lâm chung đều được Phật phóng hào quang đến tiếp
dẫn tất cả về Tây phương Cực lạc thế giới.
Xứng lý mà nói, nếu chỉ cần giác ngộ bản tâm phá tan màn lưới vô minh,
vượt khỏi vòng sông ái dục để chứng quả Niết bàn, thì gọi là nương sức
mạnh của mình. Người do “Tự lực” mà tu chứng quả Thánh là những bậc đại
trượng phu, những bậc thượng căn, thượng trí. Chính là các bậc đại Bồ tát
và Thanh Văn ở trong thời kỳ Chánh pháp. Chí như đến thời kỳ Tượng pháp và
Mạt pháp căn khí con người đã kém sút, tuy có tu mà không ngộ, hoặc có ngộ
mà không thuần. Vì soi chiếu vào trong thì in tuồng thanh thoát mà khi đối
cảnh bên ngoài cũng chưa khỏi mê mờ. Như không mê mờ đi nữa, cũng chẳng
qua là cuộc hạn mà thôi. Ðến như bậc Bồ tát chưa chứng “Vô sanh nhẫn” còn
có cái mê cách ấm (cái mê khi thay đổi thân ngũ ấm), bậc Sơ quả (Tu Ðà
Hoàn) còn phải trải qua bảy lần sinh tử ở cõi Dục giới vẫn chưa khỏi cảnh
tối nhập thai. Huống chi là hạng bát địa phàm phu làm sao khỏi theo dòng
sinh tử. Thế thì nương “Tự lực” mà tu thật là rất khó xuất trần lao lắm.
Vì một phen mê lầm rồi thì trăm thứ đều mê. Tai hại thay!
Bởi cớ, Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật mới tùy phương tiện dạy pháp môn “Danh
hiệu độ chúng sinh” để cho người ở thời kỳ Mạt pháp nương “Tha lực” mà tu
hành mới chắc chắn thành đạo.
TAM NHÂN HAY TAM TƯ LƯƠNG
Tam nhân
là ba nguyên nhân. Nguyên nhân là yếu tố căn bản để được kết quả.
Tam tư lương
là ba món tư lương. Tư lương là những gì có thể giúp đỡ đời sống của con
người. Nhất là trong những cuộc hành trình như du lịch, tản cư chẳng hạn,
v.v...
Tư lương là
thứ phải được đặc biệt sắp sửa đàng hoàng. Bởi vì con người cần phải sống
để làm cho đời họ tiến hóa thêm lên, đồng thời lại cần phải vì người mà
giúp đỡ, nâng cao đời sống đại đồng được bớt khổ.
Thí dụ: Như
người học sinh Việt Nam, sau khi nhận thấy ở xứ sở mình không đủ điều kiện
để thỏa mãn sự học theo ý muốn, hoặc vì xã hội rối ren, hoặc vì nền giáo
dục quốc gia kém khuyết, v.v... nên vừa nghe người giới thiệu ở một nước
khác có đủ điều kiện tốt cho người học sinh ấy học tập thành tài, là người
học sinh ấy nghe theo và quyết định xuất dương du học. Rồi nào quần áo,
sách vở, nào tiền bạc, cơm gạo v.v... người học sinh ấy lo sắm đủ để lên
đường. Như thế là người học sinh ấy đã dự bị đủ “Tư lương” đi ra nước
ngoài học tập.
Nhưng đó
chẳng qua là câu chuyện thế gian mà thôi. Còn “Tư lương” về mặt đạo giải
thoát của pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh là những tinh thần cần thiết có
một sức mạnh chuyển đổi được cả một đời hiện tại của Phật tử chúng ta và
có thể đưa chúng ta ra khỏi các thống khổ ở thế gian ô trược để sau này sẽ
sinh sang một giữ an vui và giải thoát.
Những “Tư
lương” của pháp môn “niệm Phật cầu vãng sinh”, theo Kinh A Di Ðà, Ðức Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật dạy có ba món là: 1.- Tín, 2.- Nguyện, 3.- Hạnh.
- TÍN là gì?
- Tín nghĩa
là tin. Nó là đầu mối, là bước trước nhất để vào đạo tín là chỗ phát sinh
các công đức. Bởi vậy trong Khế kinh có phân biệt sáu thứ Tín: 1.- Tín tự,
2.- Tín tha, 3.- Tín nhân, 4.- Tín quả, 5.- Tín sự, 6.- Tín lý.
“Tín tự là
tin tưởng mình có khả năng sửa đổi tâm tánh mình như: Sửa đổi ý nghĩ, lời
nói, việc làm từ dở ra hay, từ quấy ra phải, từ dữ ra lành, từ xấu ra tốt,
từ mê ra giác v.v... và cố gắng phát triển.
“Tín tha” là
tin lời Phật nói: “Chúng sinh đều sẵn có bản tánh sáng suốt, có thể tu
hành tiến hóa đến địa vị Phật như Ngài”. Và tin ở sự hộ niệm thầm kín của
Phật, của Bồ tát nếu lòng thành mình cảm đến.
“Tín nhân”
là nhận thức tu nhân hiện tại như thế nào thì đời sau sẽ kết quả như thế
ấy. Thí dụ như chuyên tu niệm Phật, thì thế nào cũng được vãng sinh.
“Tín quả” là
nhận thức rằng cái quả không phải tự có, chính phải suốt nguồn nhân.
Thí dụ như
anh A và anh B là hai anh em ruột, mà anh A thì giàu, còn anh B lại nghèo,
mặc dầu hai người đều chí thú làm ăn. Vì chỗ tạo nhân đời trước của hai
người sai khác: Anh A đã từng tu hạnh bố thí nên ngày nay được giàu; anh B
đã không gây nhân bố thí mà lại bỏn sẻn nữa nên hiện giờ nghèo.
“Tín sự” là
như tin lời Phật nói: “Cách Ta bà mười vạn ức cõi Phật, có thế giới Cực
lạc Tây phương”.
“Tín lý” là
nhận xét, tuy nhiên thế giới Cực lạc Tây phương ấy vẫn không ngoài nhất
tâm thanh tịnh của mình.
Nói đến TÍN,
không phải Ðức Phật bắt buộc chúng ta phải tin ngay lời của Ngài đâu; mà
Phật bảo chúng ta nghe cho kỹ, rồi suy nghĩ cho cùng, nếu nhận định lời
Ngài nói là đúng, thì mới tin, bằng không thì thôi. Vậy thì, tính cách tin
này không có nghĩa quên mình mà chạy theo lời nói của kẻ khác. Trái lại,
nó còn đề cao tinh thần tự chủ, đánh tan óc mê tín, dị đoan, thần quyền mà
phát khởi nhiều đức tính tốt khác sẵn có của chúng ta. Như thế gọi là “Tự
tín”.
Tuy biết
rằng Tự tín là vấn đề then chốt, nhưng nếu không do Ðức Phật chỉ dạy, thì
chúng ta cũng khó biết được. Do đó, đã là Phật tử, chúng ta không vì lý do
gì mà không tin Phật? Ví dầu có điều Ðức Phật đã nói mà chúng ta chưa đạt
được, chưa chứng được, hay chưa thấy được với con mắt thịt của chúng ta,
chưa nhận được với sự suy nghĩ nông cạn của chúng ta, thì những điều đó
vẫn bất di bất dịch. Chẳng hạn, như trong Kinh A Di Ðà, Ðức Phật Thích Ca
bảo rằng kinh này là pháp khó tin, thảo nào chúng sinh lại chẳng lắm kẻ
chưa tin!
Bây giờ
chúng ta hãy tạm so sánh những việc gần nhất để hiểu và tin theo lời của
Phật đã nói Tây phương Cực lạc. Thí dụ như chúng ta thấy trong một thành
phố chúng ta ở, nhà cửa thật nhiều, nhưng đại khái có nhà tốt đẹp, sạch
sẽ, rộng rãi, mà cũng có nhà xấu xa, nhơ nhớp, chật hẹp. Trong những nhà
ấy, có gia đình sung sướng, vui vẻ, mà cũng có gia đình khổ sở, buồn rầu.
Còn xa, khỏi xứ Việt Nam, cũng có xứ dân cư lạc hậu và những xứ dân cư văn
minh.
Ðây xin nhắc
lại vài chuyện để làm bằng:
1.- Trước
khi Kha Luân Bố chưa tìm châu Mỹ, nào ai đã tin có thế giới mới?
2.- Sau khi
Phan Thanh Giản đi sứ bệnh nước Pháp về nói những cái văn minh bên nước
ấy, như đèn điện không dùng dầu mà thắp lại cháy sáng tỏ như ban ngày,
thêm giữa gió mưa đèn ấy cũng không tắt; còn cái xe đạp có hai bánh trước
sau ngay một chiều mà người cỡi xe đạp chạy bon bon không ngã. Các quan
tại triều đình Huế không ông nào tin.
Và bây giờ,
nếu chúng ta thử nói với các em ở cồn đảo suốt đời không ra khỏi quê
hương, rằng có những xứ người ta xài tiền bằng vàng và người xứ ấy ở tại
nhà mà bắt được tin tức các nước khác, chắc rằng các em ấy sẽ bảo nhau
chúng ta nói gạt.
Nước Cực lạc của Ðức Phật A Di
Ðà, kể về y báo, chánh báo đối với người chưa tin cũng bị ở trong tình
trạng bi quan này.
Hoặc có
người nói: “Tôi có tin Tịnh độ Di
Ðà mà chỉ là Tịnh độ duy tâm, Di Ðà duy tánh mà thôi”.
Nói như thế là nói lý, tưởng
rằng người đã tỏ vẻ thông minh, cao kiến; nhưng kỳ thật, người ấy vướng
phải bệnh “kiến thủ” mà không hay, vì chưa nhận được lý tâm tánh là thế
nào. Xét ra nếu Lý rời Sự thành lý suông, mà Sự rời Lý là sự
mê tín. Trong đạo Phật bao giờ Sự, Lý
cũng đi đôi, thể với tánh lúc
nào cũng hòa hợp. Biết rằng tự
tâm ta thanh tịnh là Tịnh độ, tự tánh ta sáng suốt là Di Ðà, nhưng
ngoài tâm tánh cũng vẫn có một cõi Tây phương Cực lạc; một Ðức Phật A Di
Ðà đúng với sự thật là Sự, Lý viên
dung, ấy cũng như tinh thần với
vật chất rất liên quan mật thiết vậy.
Tóm lại đoạn
này, người Phật tử tu tập pháp môn niệm Phật, trước hết phải giữ một lòng
tin cho kiên cố, nhưng không phải cố chấp, tin cho chí quyết, nhưng không
phải lý thuyết, tin những điều chân chính, hợp lý mà không tin một cách mê
muội những việc dị đoan. Nghĩa là lòng tin ấy phải có đủ mấy nghĩa này:
Tự, Tha, Nhân, Quả, Sự, Lý một cách sáng suốt.
Trong Kinh
Hoa Nghiêm, Phật dạy ; “Tin là nguồn của đạo, là mẹ đẻ của các công đức.
Tin có thể thêm lớn căn lành, có thể thành tựu đạo quả Chánh giác”.
Vậy chúng ta
phải bảo vệ lòng tin cho vững, nếu chúng ta thật tâm muốn giải thoát. Vì
đó là một thứ “tư lương” cần nhất trước hết, mà trong Kinh A Di Ðà Ðức Bổn
Sư Thích Ca đã cặn kẽ dạy.
- NGUYỆN là
gì?
- Nguyện là
thề quyết làm việc gì cho đến kết quả mới thôi. Như chúng ta sau khi nghe
nói cõi Tây phương Cực lạc là nơi vui sướng, giải thoát, có Ðức Phật A Di
Ðà sẵn sàng tiếp dẫn chúng sinh, dĩ nhiên chúng ta phát lòng thệ nguyện
mãnh mẽ tu tịnh nghiệp cầu sinh Tịnh độ.
Nói như thế
chắc không khỏi có người vội phê bình rằng thuyết Tịnh độ là bi quan, chán
đời và từ cái bi quan, chán đời ấy sẽ làm cho con người yếu hèn chăng?
- Xét kỹ
lại, đối với thế gian này cũng đáng bi quan lắm chớ! Vì như sự thật đã
thấy phần nhiều con người ít sống theo tư cách của con người. Nào là con
cháu ngỗ nghịch với cha mẹ, ông bà, nào là vợ chồng oán hận giết dốc lẫn
nhau không biết gớm, nào là anh em một nhà mà lại nồi da xáo thịt v.v...
Nói tóm, phần nhiều vì “chấp ngã” mà sống xa đạo đức, sống thuần theo phàm
tình để vừa theo dục vọng. Do đó, trên thế giới này không mấy khi an ổn và
thật vui được. Ai cũng vì một lẽ phải riêng của mình mà quên cái lẽ phải
chung đi. Bởi thế, càng sửa đổi lòng người càng táo bạo, quỷ quyệt, độc
ác, càng sửa đổi thế giới càng điên đảo, hỗn loạn. Lắm lúc người lấy khổ
làm vui, lấy dơ làm sạch, lấy quấy làm phải, v.v... Như thế bảo sao chúng
ta không bi quan, không chán đời.
Nhưng thế
này, bi quan theo đạo Phật là bi quan để nhận thật bề trái của cuộc đời,
của bản thân để thức tỉnh, để kích thích lòng thương đối với nhân loại. Sự
chán đời của đạo Phật không phải là lối chán đời hủy mình, bỏ liều, ích
kỷ, mà trái lại chán đời để không bị nhiễm theo đời hầu gây tạo một trí
huệ sáng suốt đủ phương pháp cứu đời cho hợp lý.
Một bằng
chứng chắc chắn là người Phật tử, nhất là người tu tịnh nghiệp, ngày nào
cũng thệ nguyện rằng:
“Nguyện tiêu tam chướng trừ
phiền não
Nguyện đắc trí huệ chân minh
liễu
Phổ nguyện tội chướng tất
tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ tát
đạo”
Chướng
là tất cả những cái gì có thể làm hại cho mình và di họa đến người
khác, mà miếng mồi nuôi lớn nó, chính là những cảnh vật ở thế gian. Nếu
không chán nó, nhàm nó, nguyện lìa bỏ nó, thì chắc rằng không bao giờ có
được cái trí huệ siêu xuất thế gian. Mà thiếu trí huệ ấy lòng từ bi cũng
sai lạc đi, thì làm thế nào thực hành theo công hạnh Bồ tát là giáo hóa
thế gian, cải tạo thế gian một cách chân chính thiết thiệt.
Ở tại cõi
này, đồng thời tự tu và độ người là quý lắm rồi, nhưng cũng tương đối một
phần nào thôi, không thể bỏ bổn phận được. Nhưng nếu không khéo, thì cả
mình và lẫn người đều sai lạc và đắm chìm trong bể khổ. Do đó, Ðức Thích
Ca Từ phụ đã cặn kẽ khuyên chúng ta phải phát nguyện sinh về cõi Cực lạc
của Ðức A Di Ðà dễ tu và dễ chứng quả Phật hơn. Và nếu mỗi người nghe như
vậy, thì có lo gì thế giới này sẽ không ai cứu độ!
Bởi thế,
chúng ta cần phải nguyện sinh Cực lạc Tịnh độ một cách thiết tha mạnh mẽ.
Vì ở đấy, theo lời Ðức Bổn Sư Thích Ca đã bảo trong Kinh A Di Ðà thì tất
cả đều vui vẻ, không bị hoàn cảnh thân, tâm làm thối chuyển đời sống của
bậc Thánh nhân tu hành cho tới khi nào chứng quả Phật hoàn toàn.
Nguyện là
sức mạnh để chứng thật lòng tin trước kia là chắc chắn. Nguyện có công
năng kích phát sự thực hành và còn làm bánh lái cho con thuyền của chúng
ta không lạc nẻo quanh co. Ðức Phổ Hiền là một vị Ðại Bồ tát mà còn phát
nguyện vãng sinh, lời lẽ còn ghi trong Kinh Hoa Nghiêm, đức Mã Minh sau
khi tạo xong Luận Khởi Tín còn nguyện về Tây phương Cực lạc.
- HẠNH là
gì?
- Hạnh là
công hạnh nghĩa là sự thực hành, sự áp dụng đúng theo lời nguyện.
Nếu pháp môn
“Danh hiệu độ chúng sinh” chỉ có Tín, Nguyện, thì không trách gì người ta
sẽ bảo là một lối ỷ lại Tha lực, thần quyền, chẳng khác nào thằng giáo,
đồng thời nó tự mâu thuẫn với giáo lý của Phật. Và có Tín, Nguyện suông,
chẳng khác nào thuyền kia có mũi, có lái mà chẳng có chèo, xe nọ có đủ bộ
phận mà không ai điều khiển. Bởi cớ đó dầu muốn dầu không, người Phật tử
cầu vãng sinh về Cực lạc thế giới cần phải thực hành y theo lòng tin và
chí nguyện của mình; cũng như muốn đi thuyền từ chỗ này đến chỗ kia, chúng
ta phải ra tay chèo chống.
TAM DUYÊN
Tam duyên là
ba duyên. Duyên là điều kiện phụ thêm để giúp sự kết quả được dễ dàng.
Tịnh độ môn lập ra thuyết minh niệm Phật có ba duyên công lực là:
1.- Thân
duyên.- Chúng sinh bắt đầu tu hành, thì:
a) Miệng
thường xưng niệm danh hiệu Phật, Phật liền nghe vì tiếng niệm Phật của
chúng sinh thấu cảm đến lòng từ bi của Phật.
b) Thân
thường lễ kính Phật, Phật liền thấy.
c) Tâm
thường niệm Phật, Phật liền biết đó.
Như thế
nghĩa là ba nghiệp của chúng sinh và ba nghiệp của Phật không tách rời
vậy.
2.- Cận
duyên.- Chúng sinh nguyện thấy Phật, Phật liền ứng niệm mà hiện đến trước
mắt.
3.- Tăng
thượng duyên.- Chúng sinh xưng niệm danh hiệu Phật thì trong mỗi niệm trừ
được tội lỗi từ nhiều kiếp; khi chết, Phật và Thánh chúng đều đến rước,
không bị các tà nghiệp ràng buộc (Ðịnh thiện).
TAM NHÂN DUYÊN
Không luận
là người chuyên tu, chuyên niệm, nếu ai có thể đủ ba điều kiện sau đây,
vẫn được vãng sinh Cực lạc thế giới, nhưng vào bậc thấp “Hạ bối”.
1.- Giả sử
không thể tạo các công đức, thì phải phát tâm Bồ đề vô thượng.
2.- Một mặt
chuyên ý cho đến chừng mười niệm mà niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà.
3.- Ðem tâm
chí thành nguyện sinh về nước An lạc.
THẤT NHÂN DUYÊN
Người tu
tịnh nghiệp, muốn toại nguyện vãng sinh về bậc “Trung bối”, trong Kinh Vô
Lượng Thọ có dạy phải đủ bảy nhân duyên:
1.- Phát tâm
Bồ đề vô thượng.
2.- Một mực
chuyên niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà.
3.- Có làm
lành, giữ trai giới nhiều.
4.- Xây
tháp, dựng tượng.
5.- Cúng
dường bậc Sa môn.
6.- Treo
phan, đốt đèn, rải hoa, xông hương.
7.- Ðem các
công đức trên hồi hướng về Cực lạc thế giới, thì về sau có thể trụ vào bậc
“Bất thối”.
Ðiều quan hệ
là phải giữ được “Nhất tâm bất loạn”.
NGŨ NHÂN DUYÊN
Người tu
Tịnh độ muốn toại nguyện vãng sinh về bậc “Thượng bối”, trong Kinh Vô
Lượng Thọ có dạy phải đủ năm nhân duyên:
1.- Bỏ nhà,
lìa dục, làm vị Sa môn.
2.- Phát tâm
Bồ đề vô thượng.
3.- Một mực
chuyên niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà.
4.- Tu các
công đức.
5.- Nguyện
quyết sinh về nước An Lạc.
Ðiều quan hệ
là phải giữ được “Nhất tâm”.
Ngoài ra còn
một hạng, ngoài ba cấp vừa kể ở đoạn trên, người tu Tịnh độ mà còn nghi
hoặc, nhưng biết tội phước chỉ được sinh về “Biên địa” ở cõi Tịnh độ.
Tuy nhiên,
sự vui ở cõi “Biên địa” này bằng ở Trời Ðao Lợi.
QUYẾT NGHI
- Nói rằng
chỉ có pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh” là dễ tu, dễ chứng, thì tất cả
vô lượng pháp môn khác đều khó tu và khó chứng là tại làm sao?
- Vì vô
lượng pháp môn khác chỉ dùng Tự lực mà tu chớ không nương Tha lực. Và tu
Tự lực từ địa vị phàm phu vượt lên quả Phật thật rất khó khăn, rất lâu
dài. Phải là bậc đại căn, thượng trí có đại kiên cố lực mới được; còn bậc
tiểu căn, hạ trí không bền chí, thì chẳng tài nào tu được, nên gọi là rất
khó. Lại nữa, vì phải trải qua ba A tăng kỳ kiếp làm hạnh Bồ tát mới được
chứng quả Phật, nên gọi là rất lâu dài.
Thì đây
trong “Tịnh độ Thập nghi luận” nói:
Những người
tu Phật ở thế giới này mà cứ dùng lấy sức mình thôi, thì thật chưa thấy ai
được sinh về Tây phương Cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà, nên trong Kinh An
Lạc nói: “Bắt đầu từ địa vị phàm phu đủ thứ phiền não ràng buộc, chưa biết
Tam Bảo là gì và cũng chưa biết thiện ác nhân quả là chi, ban sơ phát Bồ
đề tâm, lấy đức tin làm cội gốc mà trụ ở nhà Phật và lấy giới hạnh làm nền
tảng, tu bỏ thân đời này làm thân đời khác, tiếp tục luôn luôn, giới hạnh
không khi nào khuy khuyết, trải qua một kiếp, hai kiếp, ba kiếp mới lên
bậc “Sơ phát tâm trụ”. Lại y cứ như
vậy tu hành lần lên Thập tín nối nhau mãi không hở dứt chút nào mà
mãn một muôn kiếp mới lên đến bậc “Chánh tâm trụ” thứ sáu. Nếu do đó mà
tăng lên, thì đến bậc “Bất thối trụ” thứ bảy.
Thế thì lấy sức mình mà tu phải
trải qua nhiều thời gian lâu dài, nhưng cũng chưa được sinh về Tây phương
Cực lạc thế giới của Ðức Phật A Di Ðà. Còn tu theo pháp môn “Danh hiệu độ
chúng sinh” dung hòa Tự lực với Tha lực, phối
hợp sức mình với sức Phật, sức Bồ tát
mà tu từ địa vị phàm phu vượt lên quả Thánh thật rất dễ, rất mau.
Vì là vừa phát các hạnh lành vừa nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Ðức Phật A
Di Ðà là đủ, nên gọi rằng mau. Và vì từ một ngày nhẫn đến bảy ngày, hay là
từ một hơi niệm Phật đến mười hơi niệm
Phật mà được “nhất tâm bất loạn” trong lúc sắp lâm chung liền được
siêu thoát cõi phàm trần nhập vào nước Phật, nên gọi là rất mau.
Sách Tịnh độ Thập nghi luận
cũng nói: “Những người tu Phật nếu tin chắc sức mình với sức Phật A Di Ðà
có cái nguyện lực đại bi nhiếp thọ những chúng sinh niệm Phật, rồi tức thì
phát Bồ đề tâm tu pháp “Trì danh niệm Phật” nhàm chán cái thân trong ba
cõi, khởi làm những hạnh bố thí, trì giới và trong khi làm được một hạnh
tốt nào cũng đều hồi hướng về Tây phương Tịnh độ của Ðức Phật A Di Ðà, thì
đến lúc lâm chung chắc chắn nhờ cái nguyện lực của Phật cơ cảm tương ưng
lẫn nhau mà được vãng sinh trong một đời khỏi phải trải qua nhiều kiếp.
Hồi hướng có ba cách:
1.- Hồi tự hướng tha.
2.- Hồi tiểu hướng đại.
3.- Hồi sự hướng lý.
Hồi tự hướng tha là đem công
đức của mình mà xoay về cho người khác, nghĩa là không ích kỷ để thọ hưởng
một mình.
Hồi tiểu hướng đại là chuyển
hóa những tâm tánh nhỏ nhặt riêng biệt thành những chí nguyện cao cả, đại
đồng, phổ biến.
Hồi sự hướng lý là kết quy tất
cả những động tác bên ngoài về bản tâm của mình, nghĩa là thể nhận rằng
tất cả sự vật đều từ tâm mà có và đều gom về bản thể của tâm. Thế thì làm
Phật được là do tâm, mà làm chúng sinh cũng là do tâm. Tâm, Phật, chúng
sinh ba thứ không sai biệt. Giờ đây chúng ta niệm Phật cũng do tâm, Phật
hay chúng sinh chỉ như là bề trái, bề mặt
của bàn tay thôi. Hễ niệm chúng sinh
thì phải làm chúng sinh và chúng sinh chắc chắn phải ở cõi phàm
chịu khổ sở. Còn trái lại, nếu niệm Phật thì sẽ làm Phật và Phật thì ở cõi
Thánh được an vui giải thoát. Thánh với phàm và Ta bà với Cực lạc không
ngăn ngại người, chỉ có lòng người ngại thánh phàm thôi, nên chi có câu
rằng:
Lênh đênh trong cõi Diêm phù
Khéo
tu thì nổi (siêu), vụng tu thì chìm (đọa)
Tóm lại, về phần dễ chứng của
pháp môn “Danh hiệu độ chúng sinh” nhờ có hai sức mạnh: Tự lực và Tha lực,
ba món Tư lương: Tín, Nguyện và Hành, ba duyên: Thân duyên, Cận duyên và
Tăng thượng duyên với ba nhân duyên hoặc bảy nhân duyên hay năm nhân
duyên.
Tự lực
là sức của mình, còn Tha lực là sức
của Phật và Bồ tát. Mỗi sức đều có
công năng hiệu quả đặc biệt. Nhưng nếu Phật tử thiên chấp một sức,
thì sự tu hành phải khuy khuyết, khó thành tựu được quả “Vô thượng Bồ đề”.
Bởi thế chúng ta chẳng những cậy nơi sức của mình tín ngưỡng mà tỏ thấu
chân lý của sự vật và thực hành cái mục đích của mình mà thôi; lại còn
phải mong nhờ đến sức của Phật và Bồ
tát mới chứng được quả “vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác”, như chúng sinh phải nương nhờ nguyện
lực của Ðức Phật A Di Ðà mà được vãng
sinh Tịnh độ dễ dàng.
Tín là để phát khởi lòng nghĩ
sự hồi đầu của con người đối với pháp môn niệm Phật sau khi đã suy xét kỹ
lưỡng.
Nguyện là tỏ vẻ ham muốn,
ngưỡng mộ và chính nó là một sức mạnh để thúc đẩy lòng tin ấy được lớn
thêm và vững vàng.
Hành là bắt đầu vào thực tế để
chứng tỏ lòng tin và nguyện trước kia không phải là lý thuyết suông ngõ
hầu đạt được kết quả theo như ý muốn đã tin, đã nguyện.
Nhưng có điều rất quan hệ là
làm sao cho sự thực hành kia luôn luôn được kềm giữ cho quay về một nơi
khỏi bị tản mác để tăng cường sức mạnh trước kia cho thỉ chung như nhất.
Ðồng thời lại còn phải khởi lên tấm lòng rộng rãi hơn, lợi ích hơn để cho
bao nhiêu công đức của chúng ta vừa mới tạo nên được đem ứng dụng trên
tinh thần tự lợi lợi tha xứng đáng. Làm được như thế, tức là chúng ta hồi
hướng.
Ðức Phật Thích Ca là vị Giáo
chủ cõi ngũ trược ác thế chỉ cách đưa chúng sinh ra khỏi cõi Ta bà đau
khổ. Còn Ðức Phật A Di Ðà là vị Giáo chủ cõi Tây phương thế giới đón chờ
tiếp dẫn chúng sinh về cõi Cực lạc an vui. Tất cả lòng từ bi của hai Ngài
đã bộc lộ rõ ràng cho chúng sinh thấy trong công hạnh độ sinh tợ như một
ông cha hùng dũng hy sinh vào nhà lửa để kêu gọi, dẫn dắt bầy con ngây dại
ham chơi và một bà mẹ hiền từ thắt lòng héo ruột đang đứng chờ ở ngoài
cửa để tiếp độ đám con ấy. Nhưng than
ôi! Chúng sinh ham chơi quá, mê nghịch ngợm quá! Nhiều khi chúng
trở lại xua tay phỉ báng lời cha, không thèm đoái hoài đến mẹ. Nhà gần
cháy hết, thân chúng cũng sắp tàn, sức
chúng hầu kiệt. Thế mà chúng còn kháng cự, khinh lờn, lý thuyết và
cậy mình để chờ hảo hoạn thiêu thân.
Thế mà lòng từ bi của Ðức Phật
vẫn không giảm. Với cái sức nhiếp thọ mạnh mẽ của Ngài, nếu chúng sinh
thật lòng tín, nguyện và hành, thì không bao giờ bị bỏ rơi.
May mắn thay! Trong đám chúng
sinh ham chơi quá, mê nghịch ngợm quá, lại còn có đám Phật tử chúng ta: Kẻ
xuất gia và người tại gia biết vâng lời ông cha giáo hóa (Ðức Thích Ca)
và bà mẹ tiếp dẫn (Ðức A Di Ðà). Hằng
ngày chúng ta vừa ráng sức mình
ngăn ngừa các việc ác, lại rộng làm các điều lành, ấy là chúng ta
dùng tự lực mà tu. Ðồng thời chúng ta lại chuyên niệm danh hiệu Phật không
ngớt. Ấy là chúng ta biết dung hòa Tự lực và Tha lực, biết phối hợp sức
mình với sức Phật lại để mà tu. Sự học đạo và hành đạo của chúng ta rõ
ràng là phải đường lối. Vậy cứ y theo chiều hướng ấy mà phấn khởi tu hành
càng ngày càng thêm tinh tấn để gây
tạo một cái đà có suc lớn, có trớn mạnh đưa chúng ta thẳng thắn một
nước về Tây phương Cực lạc thế giới lúc lâm chung để nghe Ðức A Di Ðà
thuyết pháp “Vô sanh” chứng ngôi “Bất thối” hầu có làm Phật kiếp vị lai.
Nam mô A Di Ðà Phật
HỢP THỜI CƠ
^
Về thân
bệnh, sách y dược nói: “Thuốc trị trúng bệnh, bệnh lành là thuốc hay”.
Về tâm bệnh,
Khế kinh nói: “Pháp môn tu hợp thời cơ là pháp môn tuyệt diệu”.
Thật sự,
thuốc trị thân bệnh, không có thứ nào dở, mà dở là tại y sĩ đặt không
trúng ngay bệnh của người đau. Cũng thế, pháp môn tu của Phật dạy pháp nào
tu cũng được chứng ngộ, mà không chứng ngộ là tại thầy truyền giáo dạy
không hợp thời cơ của người tu học đó thôi.
- “Thời cơ”
là gì?
- Chữ “Thời”
nói đủ là thời gian. Ấy là ngày giờ không cùng tận nó cứ lưu chuyển mãi
không ngừng với ba trạng thái:1.- Thời quá khứ là ngày giờ đã qua.
2.- Thời
hiện tại là ngày giờ đương nay.
3.- Thời vị
lai là ngày giờ sẽ đến.
Chữ “Cơ”,
nói đủ là căn cơ. Ấy là cái gốc khi nói về thảo mộc, cái trình độ, tài
năng và đức hạnh khi nói về con người.
Hai chữ
“Thời cơ” nghĩa là cơ hội vừa đúng ở buổi ấy.
- Như thế nào gọi là chỉ đạo
hợp thời cơ và không hợp thời cơ?
- Muốn cho mau hiểu, thì sau
đây là một thí dụ có ghi chép trong kinh nói cách chỉ đạo hợp thời cơ và
bất hợp thời cơ.
Kinh nói: “Một lần kia, ngài Xá
Lợi Phất lãnh trách nhiệm dạy hai thầy Tỳ kheo trẻ tuổi
hai pháp môn Chỉ quán khác nhau. Thầy
thứ nhất tu “Bất tịnh quán”, thầy thứ nhì tu “Sổ tức quán”
Hai thầy Tỳ kheo đã nhiều năm
siêng năng tu tập, nhưng không thâu thập được kết quả gì hay. Chán nản
quá, hai thầy Tỳ kheo bèn đem sự tình thành thật bạch lên Ðức Phật.
Ðức Thế Tôn xét căn cơ của hai
thầy biết rõ: Một thầy, khi trước, còn ở ngoài đời, có làm nghề thợ rèn,
nay đi tu, bắt tập môn “Bất tịnh quán” như thế là không hợp thời. Một thầy
nữa, lúc chưa xuất gia, đã làm nghề khiêng thây người chết, bây giờ vào
đạo, bắt tập môn “Sổ tức quán”, như thế là không hợp cơ.
Ðức Phật liền dạy hai thầy Tỳ
kheo ấy phải đổi pháp hành: Thầy đã làm thợ rèn phải tu “Sổ tức quan” là
pháp quán đếm hơi thở mới hợp thời, do vì trước kia, thầy đã từng thụt ống
bễ cho không khí ra vào quạt lửa; còn thầy đã làm nghề chôn tử thi phải tu
“Bất tịnh quán” là tu pháp quán thân thể không sạch sẽ mới hợp cơ, bởi vì
trước kia, thầy đã từng ghê gớm mùi hôi tanh của mấy thây chết.
Quả nhiên, sau một thời gian
đổi pháp môn tu tập, theo lời chỉ dạy của Ðức Phật, cả hai thầy
Tỳ kheo trẻ tuổi đều thành công, chứng
quả “Thanh Văn”.
Như thế,
vấn đề “thời cơ” đối với người
Phật tử trong khi chọn một pháp môn tu của Phật đã dạy, thật là rất quan
trọng lắm vậy.
Xứng lý mà nói, ÐẠO lúc nào
cũng hợp thời, vì ÐẠO là bản thể của vạn vật, nguồn sống chung của muôn
loài, thì thời gian nào Ðạo lại chẳng hợp thời? Giả dự chúng ta rời bản
thể ra trong khoảnh khắc, lìa ÐẠO trong giây lát coi chúng ta có khỏi bị
khuynh phúc liền không?
- Chắc chắn là không khỏi
khuynh phúc. Vì cớ nào? Vì nếu chúng ta không y theo ÐẠO mà xử thế, thì
đời sống của chúng ta phải bị điêu đứng ngay. Lý do là mỗi khi xa lìa ÐẠO
rồi, thì ý nghĩ, miệng nói, thân làm, nhất nhất đều sai lầm, tức là bị tội
lỗi. Thân tâm chúng ta khi ấy không còn an vui, tự tại được nữa. Bởi thế,
thành nhân có lời dạy rằng: “ÐẠO không thể rời ra một chốc lát nào được”.
Tuy nhiên, về
sự hóa ÐẠO, truyền giáo phải biết thời cơ. Vì cớ mà Phật, Bồ tát và các Tổ
có lúc phải tạm nín im một thời gian trên con đường hoằng pháp lợi sinh
của Ngài. Dự như:
1.- Ðức Thích
Ca đóng thất ở nước Ma Kiệt.
2.- Ngài Duy
Ma Cật đóng thất ở thành Tỳ Da.
3.- Ðức Sơ Tổ
Bồ Ðề Ðạt Ma trọn chín năm ngồi xoay mặt vào vách chùa Thiếu Lâm.
4.- Ngài Lục
Tổ Huệ Năng ngót mười lăm năm ẩn dật sau khi đắc pháp chân truyền, là tại
cơ duyên chưa đến, chớ không phải ÐẠO chẳng hợp thời.
- Cơ duyên là
như thế nào?
- Cơ duyên
nói cho đủ là “cơ hội” và “nhân duyên”.
“Cơ hội” là
buổi thích đáng để làm việc.
“Nhân duyên”
là nhân cái này mà sinh ra cái kia, ví như có hột giống mới sinh ra được
quả gọi là nhân; vật kia theo vật nọ là thành, ví như cái bình theo đất
sét mà thành gọi là duyên.
“Cơ duyên” là
“cơ hội” và “nhân duyên” hòa hợp.