Tịnh Độ Luận
Minh Đức - Thanh Lương
Nhà Xuất bản Tôn Giáo - xuất
bản năm 2001
---o0o---
PHẦN BA (2)
CHƯƠNG 10
NHẬN ĐỊNH VỀ MỐI LIÊN HỆ
GIỮA TỊNH ĐỘ TÔNG,
THIỀN TÔNG VÀ DUY THỨC
TÔNG.
Tu Tịnh độ (thuần tuý) là
hướng về ngoại cảnh hay hành Pháp tướng, nương vào Tha lực bằng cách
niệm danh hiệu Phật A Di Đà, để trút bỏ phiền não, nhiễm ô, mong đạt tới
Niết bàn Tịnh độ. Tu Thiền là hướng về nội tâm, hành Pháp tính, dựa vào
Tự lực, quán sát tự tính để diệt trừ chúng sinh tính trong lòng mình,
mong cho tâm tỏ ngộ.
Nếu Tịnh độ chủ trương Tin là
tất cả, và tình cảm là then chốt, thì Thiền nhấn mạnh vào điểm “Thấy”
(Kiến) bằng trực giác tâm linh, và quen dùng khối óc hơn là con tim.
So sánh hai pháp môn Thiền và
Tịnh, ta thấy pháp môn Tịnh độ với phương pháp niệm hồng danh Phật A Di
Đà thật là thuận tiện, giản dị, dễ tu, nhờ được Tha lực gia hộ nên ít bị
chướng ngại, dù có gặp chướng ngại cũng dễ dẹp tan.
Còn tu Thiền, cậy vào sức
mình, thường gặp nhiều cam go thử thách, chẳng hạn phải suy nghĩ nát óc
để tìm giải đáp cho một câu thoại đầu hay công án bí hiểm, phải mất hàng
tháng hàng năm ấp ủ canh cánh bên lòng, mà chẳng thấy tia sáng chân lý
đâu cả. Bởi thế nên có câu : “Khô mộc đường Thiền thác lộ đa”. Y
nói tu Thiền cậy vào tự lực thường gặp nhiều nỗi nguy nan, trong khi
tham công án hoặc quán thoại đầu thường bị mất ăn, bỏ ngủ, tinh thần
căng thẳng, xác thân khô đét như cây khô mộc, gặp phải nhiều chướng ngại
khó vượt qua.
* Nhưng nếu bảo Thiền chỉ dựa
vào Tự lực mà Tịnh độ tông hoàn toàn dựa vào Tha lực là vô tình đã đánh
giá thấp pháp môn Tịnh độ bởi đã bỏ quên một yếu tố quan trọng của pháp
môn trì danh hiệu Phật, là ý chí sắt đá của hành giả để mong tiến tới
đích. Đáng lẽ phải nói : Tịnh độ tông nhờ vào ý chí cương quyết của
người tu trong việc trì danh hiệu Phật tới chỗ nhất tâm bất loạn, tức là
trông vào quyết tâm của mình để diệt vọng quy chân, lại còn được nhờ vào
năng lực hộ trì của chư Phật và Long Thần hộ pháp mới được sinh về cõi
Cực lạc Tây phương. Như vậy thì ngoài Tự lực của hành giả vốn có hạn,
lại còn được nhờ vào Tha lực vô biên của Phật và Thánh chúng nữa thì lo
gì mà chẳng thấy được bản tính chân tâm của mình ?
Pháp tướng dễ hành trì nhưng
tiến chậm. Pháp tính khó tu hơn, lại đòi hỏi phải có lợi căn, nhưng tiến
mau hơn. Tuy nhiên tới chỗ cùng đường thì hai bên lại gặp nhau ở chỗ Sự
Lý viên dung, Sự Sự vô ngại.
* Tịnh và Thiền, bề ngoài
dường như mâu thuẫn song bề trong đã đồng nhất trong sai biệt, để dung
hoà hiện thực với siêu nhiên. Nếu Thiền là lắng đọng tư duy, và Định là
tập trung tư tưởng, không để cho niệm lự dấy lên, và thắp sáng ngọn đèn
chính niệm để duy trì thường trực tính năng biết nhiệm mầu hay tri kiến
của mình, thì người tu Tịnh độ lúc nào cũng ở trong Thiền định, vì hành
giả luôn luôn ở trong tĩnh lặng của Thiền. Ý của hành giả không đuổi
theo trần cảnh và tâm của người này nhiếp câu niệm Phật trong định.
Người tu không duyên theo vang bóng của việc đã qua, không lo nghĩ về
hoàn cảnh hiện tại, cũng chẳng mơ tưởng đến việc vị lại : đó là Thiền.
Người tu lía sắc tướng và chuyên cần trì danh hiệu Phật : đó là Định.
Hiểu biết các căn, trần, và thân khẩu ý của mình đều trong sạch, đêm
ngày hướng về cõi Phật, và lúc nào cũng ý thức được công việc mình đang
làm : đó là Thiền Định. Nếu Thiền Định là phương pháp nhiệm mầu để thoát
lý mối tương quan Tâm Cảnh, siêu lên ý niệm nhị nguyên để đạt tới tâm
điểm của thực tại nhất nguyên, thì niệm Phật cũng là phương pháp đễ dẫn
tới Niệm - Vô niệm, Vô niệm - Niệm, thoát ly sự phân chia chủ khách, ra
khỏi sự khuấy động của tạp niệm để tới chỗ chính niệm, chính định và đạt
lý Nhất nguyên, Bất Nhị.
* Niệm Phật với tâm vô niệm
cũng giống như tham Thiền nhập Định để thể nhập vào tự tính thanh tịnh
của mình, hoà tan vào bản thể của vũ trụ. Như vậy tu tịnh nghiệp cũng
gồm đủ cả Giới Định Tuệ, Văn Tư Tu, và Thiền Tịnh nào có khác gì nhau ?
Do đó, người tu tịnh nghiệp đương nhiên hành cả pháp Thiền hay thực hiện
cùng một lúc pháp môn Thiền Tịnh song tu. Ngày đêm, trong bốn oai nghi,
hành giả niệm Phật trong lúc đi, niệm Phật trong lúc đứng, lúc ngồi, lúc
nằm, biết rõ lúc nào mình cũng đang niệm Phật. Hành giả ý thức rõ ràng
công việc mình đang làm, bất cứ lúc nào, như vậy hành giả đã thực hiện
công phu Thiền ở mức độ cao vậy.
- Xét trong Phật giáo Tiểu
thừa có phép tu Tứ Niệm Xứ (Sattipattana) mà niệm Phật với Niệm Xứ khác
gì nhau ? Thiền (tối thượng thừa) của Trung Quốc, so với Tứ Niệm Xứ của
Ấn Độ và phép Niệm Phật giống nhau về mặt lý thuyết. Kinh A Di Đà nói
đến bốn cảnh miền Cực lạc thì trong Thiền cũng có bốn cảnh của Thiền.
Tịnh độ dạy Niệm Phật với nhất tâm bất loạn, chẳng khác nào người ngồi
Thiền ở trong Đại Định. Thiền có Định của Thiền thì Tịnh cũng có Định
của Tịnh. Chỗ “Nhất tâm bất loạn” của Tịnh so với “Nhất hạnh tam muội”
của Thiền, nào có khác gì nhau ?
Mục 6 : Nghi vấn về mâu
thuẫn giữa Tịnh với Thiền.
Có nhiều nghi vấn giữa Tịnh độ
tông và Thiền tông cần được soi sáng để phá bỏ những chỗ mờ ám tối tăm :
1.- Thiền tông cho rằng : Niệm
Phật là có tướng hữu vi. Muốn đạt tới Vô tướng, Vô vi của Chân Tâm, Thể
tính, không thể dùng lối niệm Phật được.
- Để trả lời câu chỉ trích
trên, phái Tịnh độ cho rằng : Thiền sư khi ngồi Thiền, lúc tham thoại
đầu hay giảng pháp đều không ở trong cảnh Hữu vi sao ? Nếu cho rằng Vô
vi là làm những việc hữu vi mà không lưu ý đến việc mình làm thì Vô niệm
cũng vậy, vì Vô niệm xuất phát từ đáy lòng mình, không từ căn trần hữu
lậu. Vô là Thể của Niệm. Niệm là Dụng của Vô. Người đạt tới công phu,
Niệm - Vô niệm, Vô niệm - Niệm, thì đã tới được chỗ Niệm Vô vi rồi. Khi
ấy người niệm Phật thấy mọi pháp mà không bị nhiễm tướng của các pháp
bởi vì hành giả đã lấy Tuệ Bát Nhã chiếu soi. Niệm trước, niệm sau cứ
mặc chúng tự nhiên lui tới. Ác niệm đến thì tự tiêu. Thiện niệm đến thì
hành động, làm xong lại xả : Hành giả ở trong trạng thái Chân Tâm, như
bóng soi gương mà chẳng dính vào mặt gương nên không tạo ô nhiễm. Niệm
mà như không niệm, không niệm mà vẫn niệm, như thế gọi là Vô niệm. Khi
nói “Niệm - Vô niệm”, người ta đã dùng cái Không để vô hiệu hoá cái Hữu,
nhưng khi nói “Vô niệm - Niệm” người ta đã dùng cái Bất Không để vô hiệu
hoá cái Không. Hành động Niệm được Không hoá bằng Vô niệm. Đến lượt Vô
niệm lại bị phá huỷ bằng Bất Không (tức Hữu niệm) đẻ cho lý Bất Nhị hay
Trung Đạo, hoặc Chân Không Diệu Hữu tỏ bày. Đó là Vô Tâm mà Niêm. Niệm
Vô Tâm không mong cầu gì cả thì Sự Lý viên dung, Năng Sở hợp nhất, một
tấm gương phản ảnh vào một tấm gương, Chủ thể nhập vào đối tượng, nhạc
sĩ nhập vào cây đàn, hoạ sĩ nhập vào bút vẽ, thi sĩ nhập vào nguồn thơ,
người niệm nhập vào Đức Phật của mình. Niệm như thế gọi là “Vô niệm -
Niệm, Niệm - Vô Niệm”, chứ chẳng phải tuyệt đối bỏ hẳn ngôn ngữ, hành
động, sống như khúc gỗ, tảng đá vô tri mới là Vô niệm. Niệm - Vô niệm là
đi sâu vào thế giới tâm linh vô sai biệt và vô phân biệt mà không qua
cửa ải phân biệt Niệm với Không niệm, tức là không chặt đứt mối dây liên
hệ với đời sống hàng ngày của mình. Niệm như vậy còn có ý nghĩa là niệm
mà không dụng công, niệm một cách tự nhiên, như mây bay gió cuốn, hữu vi
một cách vô vi, và vô vi một cách hữu vi, cho nên không tác động vào bản
thể tự nhiên vốn bất động. Vì không còn tướng niệm nên không cần dụng
công diệt trừ ta niệm và nuôi dưỡng chính niệm. Ta đã thanh tịnh trong
suốt như gương thì tâm không ngại cảnh, cảnh chẳng ngại tâm, sự sự đều
vô ngại, tịch mà chiếu, chiếu mà tịch, đó là diệu dụng của tâm Bồ đề.
Cũng như Hành - Vô hành, hay Hành vô biệt niệm thì tâm không phân biệt,
không gây nhân quả vô diệt vô sinh, thể nhập vào hiện tiền, cắt đứt được
tư duy, do đó phá được cái Ta, và hoà đồng Khách Chủ vào Chân Thể của sự
vật.
2.- Có người lại đặt nghi vấn
: Muốn thấy tướng Vô tướng của các pháp, phải dùng Vô tướng, Vô niệm,
nhưng pháp môn Tịnh độ lại dùng lối Hữu tướng, Hữu hình, để đạt tới chỗ
có hình tướng là cảnh Cực lạc Tây phương cùng Phật A Di Đà, như thế
phỏng có trái lý Thực tướng Vô tướng của các pháp chăng ? Bởi vì Chân
tính thì Vô tướng, mà đã Hữu tướng, hữu hình thì không thể là Chân tính
được. Lấy cái hữu hình thì nắm bắt sao được cái vô hình tướng ? Hình ảnh
viên ngọc tươi thắm trên núi lửa và bông sen nở trên đống than hồng là
những hình ảnh mô tả sự nhiệm mầu của Chân Tâm chỉ đạt tới do một tâm
trạng vô tướng, vô tác, vô đắc, vô cầu, bởi thế mà Thiền tông đã dùng
bài thơ sau đây để chỉ cái khó đạt được của Chân Tâm Pháp tính, nếu dùng
lối hữu tướng hữu niệm của phái Tịnh độ tông :
Diệu tính hư vô bất khả phân.
Hư vô tâm ngộ, đắc hà nan ?
Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
Liên phát lô trung thấp vị can.
Dịch :
Chân tính hư vô khó đến nơi
Hư tâm mới đạt tới mà thôi.
Trên núi ngọc thiêu mầu còn nhuận
Trong lò sen nở sắc thường tươi.
- Xin thưa : Pháp môn Tịnh độ
dẫn vào phương pháp niệm Phật và cảnh Cực lạc Tây phương, tự nó không
thể đưa thẳng chúng sinh đến chỗ chứng được trực tiếp thực tướng “Không”
nhưng nó lại có công năng dẫn chúng sinh đến cõi Tịnh độ, ở đó có hoàn
cảnh thuận lợi để đưa tới chỗ chứng được thực tướng “Không” một cách dễ
dàng, bởi vì ở thế giới Cực lạc Tây phương, chúng sinh chung sống với
các bậc Hiền thánh trong một môi trường lý tưởng cộng nghiệp tốt lành,
có đủ phương tiện để học hỏi giáo lý Không và thành tựu được Phật đạo
một cách chắc chắn.
3.- Một nghi vấn nữa được nêu
lên ở đây là nguyện vọng của người tu Tịnh độ được vãng sinh Cực lạc
quốc, so với nguyện vọng của pháp tu Thiền để được thành Phật có khác
nhau không ?
Thoạt nghe ai cũng tưởng rằng
mục tiêu của phái tu Tịnh độ thua kém phái tu Thiền, nhưng xét kỹ ta lại
thấy pháp môn Tịnh độ là nơi mà người tu theo bất cứ pháp môn nào cũng
đều phải ghé qua trước khi đặt bước vào toà nha Như Lai. Nếu chưa được
vãng sinh về cõi Tịnh độ thì chưa đạt được tâm Không, còn mang nặng ưu
tư phiền muộn thì tâm chưa Định, đó là ý nghĩa của bốn chữ “Vãng sinh
Tịnh độ”. Tâm còn mang nặng sắc, tài, danh, lợi, tham luyến nhiễm ô thì
mong gì được thành Phật ? Như vậy ta đã thấy rõ chủ đích của pháp môn
Tịnh độ là rũ sạch tà niệm để tâm được trong sáng và định ở chỗ sáng đó.
Hễ có Định là có Tuệ và đây là cái mà kinh nói : “Hoa khai kiến Phật tức
văn Phật thừa, đốn khai Phật tuệ…”. Thấy Phật là thấy được chân tâm bản
tính, chuyển được Bát thức thành Tứ Trí, đổi được ba độc tham, sân, si
thành ba pháp giải thoát Giới, Định, Tuệ và thắng được sáu tên giặc (lục
căn hay lục thức) buộc nó phải hàng phục sáu pháp Lục độ, như vậy Tịnh
nào có thua kém gì Thiền ?
4.- Lại có người cho rằng :
Tịnh độ tông đặt niềm tin vào Tha lực, lấy đó làm điểm tựa cần thiết cho
việc siêu sinh. Thoạt nghe, ta thấy Tịnh độ giống như Thiên Chúa giáo
chỉ tin tưởng vào sự cứu rỗi của Chúa mà không tự tin ở sức của mình,
nhưng xét kỹ, ta lại thấy không đúng như vậy, bởi vì tuy ở pháp môn Tịnh
độ, người Phật tử phải tin vào Tha lực của Phật A Di Đà nhưng vẫn phải
nỗ lực niệm Phật đêm ngày mới tới được chỗ “Nhất tâm bất loạn”. Ngoài ra
hành giả còn phải tạo thêm nhiều phúc đức nhân duyên nữa, nhất là trong
lúc lâm chung phải giữ sao cho “thân không bệnh khổ, tâm không tham
luyến, ý không điên đảo, như vào Thiền định” mới mong được vãng sinh.
Như vậy thì người niệm Phật tới mức độ ấy khác hẳn tín đồ bên Thiên Chúa
giáo chỉ thuần ỷ lại vào ân sủng của Chúa để được đưa lên Thiên đường.
Người tu Tịnh nghiệp ở trong trạng thái ấy cũng giống như tham Thiền
trong chánh Định. Có khác chăng chỉ ở mức độ cao thấp mà thôi.
Theo kinh Hoa Nghiêm thì giữa
Thiền và Tịnh, Lý và Sự, Tri và Hành vẫn có mối dây liên hệ mật thiết
theo lý : Lý Sự và Sự Sự vô ngại pháp giới. Thiền tông và Tịnh độ tông
cùng chung một mục tiêu : đưa hành giả vào trạng thái đại Định để phát
sinh Tuệ giác. Việc tiếp dẫn của Phật A Di Đà về cõi Tây phương Cực lạc
được coi như một chiếc cầu bắc ngang nối liền tâm linh của hành giả với
Chân Như pháp giới, tức là nối liền tuệ giác siêu thoát của người tu với
cái tâm đại đồng của vũ trụ. Đó là một thứ liên giác thể nhập, và với ý
đó thì Thiền, Tịnh vốn cùng chung một điểm là phá chấp Ngã và chấp Pháp.
Thiền tông và Tịnh độ tông không hề mâu thuẫn một khi cả hai tông đó đều
cùng nhằm đạt tới Phật tính, Chân Tâm, một phái bằng lối niệm Phật với
nhất tâm bất loạn, một phái bằng lối nhập định tam muội. Giây phút đột
biến đạt đạo của Thiền Tịnh song tu, thấy Niết bàn, Tịnh độ ở tại tâm,
ngay tại đây và ngay trong lúc này. Mối dây liên lạc giữa hai tông này
được thắt chặt một cách cụ thể trên thực tế, bằng chứng là có những ngôi
chùa mệnh danh là Thiền Tịnh Đạo tràng, ở đó có nhiều vị Thiền sư chuyên
cần niệm Phật A Di Đà và quán tưởng cõi Tây phương Cực lạc để mong cầu
được vãng sinh. Với pháp môn Tịnh độ lúc nào cũng làm chủ được tâm mình,
và lúc nào cũng quan sát thiện ác chính tà, trong bốn oai nghi, lúc nào
cũng niệm Phật thì sáu chữ hồng danh nhắc nhở hành giả phải làm việc
thiện, giữ tâm thanh tịnh, không để Căn, Trần, Thức dấy lên, và ba
nghiệp thân, khẩu, ý được trong sạch thì chừng đó tâm định sẽ sinh tuệ.
Như vậy thì người tịnh nghiệp sống sáu thời trong cảnh Thiền định, chứ
chẳng phải chỉ ngồi Thiền trong chốc lát ở một nơi mà thôi.
Trong chốn tấp nập xôn xao,
chung sống với đủ mọi hạng người mà vẫn niệm Phật. Tâm không dao động
thì hành giả thực hiện được lối tu Thiền cao tột vậy. Nếu quan sát thật
kỹ, thì trong pháp môn Tịnh độ bộ Kinh A Di Đà dạy phương pháp trì danh
niệm Phật nghiêng về Sự tướng, như bộ Kinh Quán Vô Lượng Thọ lại dạy 16
phép quán, nghiêng về Lý tính. Với phương pháp thực nghiệm tâm linh,
quán tưởng Phật A Di Đà cùng cõi Tây phương Cực lạc và niệm hồng danh
Phật, thì pháp môn Tịnh độ, theo dòng Quán Niệm của Tổ Tụê Viễn gồm cả
Thiền lẫn Tịnh, có đủ cả hai lối tu Đốn và Tiệm. Mục đích của Thiền là
soi sáng ý nghĩa của sự sống, còn mục đích của Tịnh là thanh toán vấn đề
sinh tử, hai bên bổ túc cho nhau. Thiền thì chủ trương nhìn thẳng vào
tâm mình để nhận thấy tính mình là tính Phật, trong khi Tịnh độ tông lại
nhằm tới cõi Tịnh độ (vốn là tâm mình) cũng để thấy rõ tính mình là tính
Phật A Di Đà, cho nên Hư Vân Đại sư mới nói : Tịnh độ tông tức Thiền
tông không khác, vì cả hai đều cùng chung một mục đích là thanh tịnh hoá
tâm con người. Chỉ vì sau người đời quen thói phân biệt nên mới lấy niệm
Phật làm Tịnh, và chấp Thiền định là Thiền, gây nên chia rẽ, chứ xưa kia
Đức Phật Thích Ca đắc đạo có phân chia ra Thiền với Tịnh như ngày nay
đâu ? Để bày tỏ lý Thiền và Tịnh tuy hai mà một, Tây Trai Lão Hoà Thượng
mới để lại bài thơ sau đây :
Tức tâm là Phật, ý không ngoa.
Tịnh khác Thiền đâu ? vẫn một nhà.
Sắc hiển trang nghiêm mầu Diệu Hữu
Không kiêm vô ngại cõi hằng sa.
Trời Tây sáng đẹp màu châu ngọc,
Biển giác bao la đức hải hà,
Ngoảnh lại đường tu ai sớm tỉnh.
Nỗi thương ác đạo mãi vào ra.
* Thiền tông và Tịnh độ tông
không có pháp môn nào cao thấp, hơn kém, nhưng về căn cơ thì Thiền tông
có lợi cho hàng thượng căn, còn Tịnh độ tông lại nhiếp đủ mọi hạng
người. Thiền tông không phổ cập đại chúng bằng Tịnh độ tông, nhất là
trong thời đại ngày nay, tinh thần đạo đức của nhân loại sa sút, và số
người hiểu rõ về triết lý cao siêu của đạo Phật còn rất hiếm, cho nên
muốn đạt tới chính quả, hiện nay cần nên theo con đường Tịnh nghiệp mới
mong khỏi sa đoạ.
* Cùng một pháp môn Tịnh độ mà
ngày xưa được trọng thị hơn ngày nay chỉ vì bên cạnh Tịnh độ tông còn có
Thiền tông. Hai pháp môn này, trong quá khứ đều song song phát triển.
Nhiều vị cao Tăng đã theo Thiền Tịnh song tu và hiểu rõ lý niệm Phật,
thấy được Tự tính Di Đà, duy tâm Tịnh độ và nhìn nhận rằng trong pháp
môn này có Sự Lý viên dung, Sự Sự vô ngại. Tiếc rằng đến nay Thiền tông
gần như bị thất truyền đường lối vào cửa Thiền chỉ có một thiểu số cao
Tăng có thực tu, thực chứng lý Không, ẩn náu nơi rừng thẳm non cao, lánh
cư ở những nơi khuất tịch, không gây được ảnh hưởng sâu đậm trực tiếp
trong quần chúng cho nên pháp môn Tịnh độ thuần tuý mà vắng bóng Thiền,
với lối trì danh hiệu Phật cầu vãng sinh Tịnh độ trở thành một lối tu
của đại chúng, phần đông gồm những người ít học, già nua, ốm yếu, không
tự tin, quen ỷ lại chẳng biết rằng trong mỗi chúng sinh đều có viên ngọc
quý vô giá là Phật tính, Chân Tâm và với bảo bối đó thì cầu gì chẳng
được ? Do đó, số đông Phật tử ngày nay tu theo pháp môn Tịnh độ mà chẳng
hiểu lý thâm sâu của pháp vô lượng nghĩa này, một pháp khó hiểu, khó nói
như lời Phật đã dạy. Muốn cho pháp môn Tịnh độ lấy lại được phong độ xưa
thì ngày nay đành phải dựa vào Pháp Tướng Duy Thức học vậy. Căn cơ của
người bình dân Việt Nam thời nay chưa thích hợp với pháp môn nào khác
ngoài pháp môn Tịnh độ và muốn cho người căn cơ từ bậc trung trở xuống
thông hiểu được sự mầu nhiệm và ý nghĩa thâm sâu của pháp môn này thì
không gì hơn là giải bày cho họ hiểu về thuyết huân sinh, huân trưởng và
cộng nghiệp, biệt nghiệp của Duy Thức học.
* Vũ trụ quan của Phật giáo
theo pháp môn Duy Thức được thiết lập trên nền tảng tự biến và cộng
biến. Mỗi người sống trong một hoàn cảnh hay thế giới hiện tượng riêng
gọi là thế giới Đới chất cảnh được nhận thức bằng giác quan riêng của
từng cá nhân. Ngoài thế giới Đới chất cảnh còn có một thế giới Tánh
cảnh, làm bản chất cho cái thế giới Đới chất cảnh của từng người và đó
là thế giới của Thực tại tự thân, do Cộng nghiệp của chúng sinh thành
lập. Mỗi cá nhân có một nghiệp lực riêng tạo ra hoàn cảnh của chúng sinh
sống hay thế giới Y báo hoặc Tổng báo của chúng sinh ấy, và thân mạng
hay Chánh báo của y. Hoàn cảnh và thân mạng ấy tiêu hoại đi, khi một
giai đoạn sinh mệnh kết thúc, nhưng cái nghiệp lực kia vẫn còn cái đà
tồn tại (élan vital) và phát sinh ra một giai đoạn sinh mệnh mới, gồm
một căn thân mới sinh hoạt trong một Cộng nghiệp mới. Cái vòng sinh tử
tiếp nối triền miên ấy gọi là Luân hồi. Thế giới bản chất Tánh cảnh hàm
chứa trong Thức A lại da của mỗi chúng sinh, gồm có đủ cả phần Tánh cảnh
(hay thế giới Thực tại trung thực) và phần Đới chất cảnh (hay thế giới
méo mó của thực tại biến đổi theo sự sai biệt của từng cá nhân). Thức A
lại da có tác dụng chấp trì sinh mệnh và chứa đựng tất cả những hiện
tượng thực chất, cũng như những ảnh hưởng biến chất không để rơi mất.
Thế giới Tánh cảnh ấy do A lại da thức của nhiều chúng sinh trong cộng
đồng phát hiện, trong đó có phần phát hiện chung gọi là Cộng biến, và
phần phát hiện riêng gọi là Tự biến. Xã hội của loài người là một hình
thức Cộng biến do Thức A lại da của tất cả cá nhân trong tập thể tác
động sinh khởi, hay do hoạt động (hoặc nghiệp lực về thân khẩu ý) của
các cá nhân trong xã hội đó tạo ra. Xã hội (hay môi trường sinh hoạt) là
Cộng biến, còn hoàn cảnh hay số phận riêng của từng người trong tập thể,
do nghiệp riêng của mình trong tập thể tạo ra là Tự biến. Trong Cộng
biến có Tự biến và trong Tự biến có Cộng biến. Mỗi cá nhân trong đoàn
thể tuy cùng hưởng những quyền lợi về chế độ xã hội như nhau nhưng vì
mỗi người có biệt nghiệp riêng và ý chí tự do khác nhau, hành động và
suy nghĩ khác nhau, nên đã tự tạo cho mình những hoàn cảnh không giống
người khác, kẻ sướng, người khổ chẳng đồng đều.
* Pháp môn Duy thức là một
phương pháp đi từ Tướng vào Tánh, từ Sự đến Lý, một môn học phân tích
tâm lý tỉ mỉ, nói rõ sinh tử, nghiệp báo, một môn học nghiêng về suy
luận và lý trí. Hiểu được học thuyết Duy thức, ta thấy rõ tầm quan trọng
của việc niệm Phật cầu vãng sinh, một công việc huân sinh, huân tập bằng
hình ảnh và âm thanh (phương pháp nghe nhìn) nhằm gieo những chủng tử
Phật cực giác và cực lành vào A lại da thức, và tác dụng của A lại da
đối với 7 thức kia, do đó mới nhận thấy rõ sự thần diệu của việc niệm
Phật là thanh tịnh hoá dần dần tâm con người. Bằng phương pháp niệm danh
hiệu Phật, ta ngăn chặn không cho những chủng tử hữu lậu thuận lợi cho
vô minh tà kiến nẩy nở, để chúng không được hiện hành tác hại nữa, và
nhường chỗ cho những chủng tử vô lậu, vị tha, từ bi hỷ xả được sinh
trưởng tiếp nối. Chủng tử có thể hoặc tồn tại, biến chuyển hay tiêu
diệt. Chúng hiện hành để tạo nên những chủng tử mới biến chuyển từng sát
na. Bởi A lại da thức là tổng thể của mọi chủng tử, và chính A lại da
thức cũng luôn luôn biến chuyển theo luật Hằng Chuyển, cho nên bằng
phương pháp niệm Phật, ta có thể làm cho A lại da thức khỏi bị nhiễm ô,
và trang bị cho nó những hạt giống thanh tịnh, đưa nó tới giai đoạn chỉ
còn thuần những chủng tử vô cấu, có cơ hội biến hành và tham dự vào một
cộng nghiệp tốt lành. Đó là nguyên lý của công phu niệm Phật cầu vãng
sinh để biến đổi biệt nghiệp và cộng nghiệp, hay đạt tới Chân Tâm, Phật
Tính của mình, và mong chuyển biến cõi Ta bà thành nơi Tịnh độ.
* Nghiệp có thể Thiện, Ác hoặc
Vô ký và mang tính cách cá nhân hay tập thể. Cũng bởi biệt nghiệp của
từng cá nhân có mối tương quan mật thiết với cộng nghiệp của xã hội, cho
nên mỗi hành động, ý nghĩ, tư tưởng của cá nhân gây hậu quả cho xã hội,
cũng như những quyết định của xã hội ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống
của cá nhân. Đóng vai trò trọng yếu cho sự tạo nghiệp là ý thức tự do
của con người. Sự quán chiếu tự tâm và sự luyện tập những hình ảnh và âm
thanh vào Ý thức và Mạt na thức, tạo nên những động lực có tác dụng
chuyển biến tận gốc các Thức ấy trong căn để của A lại da thức, ở nơi
tận cùng thâm sâu, trong Vô Thức của hành giả. Một ngày nào đó, bằng
quán tưởng và niệm Phật, sự chuyển biến phát hiện, và khi ấy thì những
chủng tử Phật tiềm tàng lu mờ từ lâu, dưới danh nghĩa là Tuỳ miên, bỗng
trở thành rõ nét, và thành hình Phật trong sáng nơi tâm của hành giả đột
nhiên bừng giác ngộ, biến đổi tâm Thức thành bốn Trí hay chuyển được A
lại da thức thành Đại Viên Cảnh Trí để tự tách ra khỏi khối Cộng nghiệp
luân hồi sinh tử. Sức mạnh khiến cho mặt nước Chân Như yên lặng bỗng
nhiên nổi sóng gió, A lại da thức là những tác động vô thức của bản năng
sinh tồn, lôi cuốn con người vào bóng tối vô minh, tạo nghiệp bất thiện.
Bản năng sinh tồn ấy chính là các khuynh hướng âm thầm chấp ngã, chấp
pháp, nhiễm đấy tính chất ích kỷ, mê mờ, do Mạt na thức gây ra từ khi
con người mới sinh ra đời. Càng tạo nghiệp xấu bao nhiêu thì Dục vọng
càng nẩy nở và ngã ái, ngã kiến, ngã chấp, ngã si… càng bành trướng
hoành hành. Chống lại sức mạnh mù quáng đó là Ý chí Tự do Sáng suốt, tạo
điều kiện cho những chuyển biến hướng nội, về mục tiêu Chân, Thiện, Mỹ
để được giải thoát.
Trong Bát Thức Tâm Vương chỉ
duy có Ý thức (thức thứ 6) là có khả năng tự do hoạt động, không bị
nghiệp lực ràng buộc. Trái lại, nó còn có thể hoán cải được nghiệp nữa.
Tuỳ theo nghiệp tốt hay xấu mà phạm vi hoạt động của ý thức hay ý chí tự
do rộng hẹp khác nhau. Người mang nghiệp quá nặng nề xấu xa, sống trong
một cộng nghiệp (môi trường) có nhiều nghịch cảnh, lại phải mang một tấm
thân đần độn, ngu si, bị vô minh bịt kín ánh sáng chân lý do đó cũng ít
có ý chí tự do. Ý chí tự do này tác động trên biệt nghiệp dễ hơn trên
cộng nghiệp. Trên đường dẫn tới giải thoát, càng lên cao bao nhiêu, con
người lại càng thoát ly được những cộng nghiệp xấu xa, hạn chế bớt ý chí
tự do, và càng tiến đến những môi trường (cộng nghiệp) được hưởng một
chế độ tự do rộng rãi hơn thì ý chí tự do được phát triển dễ dàng hơn.
Sống trong cộng nghiệp con người không thể thay đổi được những định luật
của thế giới cộng nghiệp, tuy nhiên vẫn có thể dùng những phương tiện
thích nghi để tăng trưởng thiện nghiệp, tiêu trừ ác nghiệp riêng, do đó
mà tuy cùng sống chung trong một nghịch cảnh nhưng nếu biết tu Tịnh
nghiệp thì ít bị chi phối bởi môi trường chung mà vẫn được hưởng quả báo
của một biệt nghiệp tốt lành hơn, so với những người cùng cảnh ngộ.
* Trên lập trường Tứ Đế thì
Khổ Đế và Tập Đế liên quan đến bản năng sinh tồn mù quáng và bị luật
nhân quả trói buộc chặt chẽ, còn Diệt Đế và Đạo Đế thì liên quan đến ý
chí tự do sáng suốt và vấn đề tu dưỡng là để đối phó với luật nhân quả
thiên nhiên khắc nghiệt, bằng cách chuyển nghiệp thành Nguyện, cố gắng
gây thiện nghiệp để cải tiến sinh mệnh ngay ở kiếp này. Chính vì lẽ đó
mà Phật khuyên chúng sinh nên nỗ lực thoát ly bản năng sinh tồn của tiên
thiên mù quáng mà thực hiện cho được Ý chí tự do của Ý thức hậu thiên
sáng suốt bằng tu đạo. Giữa hai nẻo thiện ác, con người có toàn quyền
lựa chọn. Trên bước đường thăng hoa từ Cộng nghiệp với chúng sinh tiến
tới Cộng nghiệp với Thánh hiền, từ Thức phân biệt nhiễm ô chuyển thành
Tâm vô phân biệt thanh tịnh, từ tham lam ích kỷ, si mê tiến đến thấu
triệt lý Vô ngã, Vô thường, hiểu rõ thực tướng “Không” bất biến của vũ
trụ nhân sinh, tự do ý chí hay khí chất hậu thiên của con người càng
ngày càng phát triển để chống lại khuynh hướng vị kỷ, và phân biệt bất
bình đẳng, chỉ biết tuân theo mệnh lệnh của bản năng sinh tồn, hay của
khí chất tiên thiên mù quáng. Tự do ý chí vừa là mục tiêu, vừa là công
cụ. Là mục tiêu vì trước sau con người cũng phải tìm cách thoát ly đau
khổ để được giải thoát,vì nếu không có tự do ý chí thì con người sẽ
không tự lựa chọn được giữa hai nẻo Thiện Ác, và không thực sự đóng góp
được vào công cuộc tiến hoá chung. Không thể cải thiện được nội tâm một
cách sâu sắc. Không thể tự giác, tự độ, giác tha, độ tha, giác hạnh viên
mãn. Tất cả sự chuyển biến đó đều do công phu của Ý thức của con người
vẫn được hướng về nẻo Thiện bằng phương pháp Thiền định hoặc Niệm Phật
để Ý thức được chuyển thành Tuệ giác hay Diệu quan sát trí, cùng với Mạt
na thức được chuyển thành Bình đẳng tánh trí, đó là điều kiện thiết yếu
để phá Ngã và Pháp chấp và trở về với Chân Tâm bình đẳng, vô phân biệt
của mình hay được vãng sinh Tịnh độ, tức là được sống trong Cộng nghiệp
tốt đẹp của thế giới Cực lạc Tây phương trong đó chỉ có toàn những vị Bồ
tát thuần thiện, thuần lương.
Thoạt nhìn bề ngoài chúng ta
không khỏi có cảm tưởng cho phương pháp niệm Phật và quán tưởng Phật
đượm mầu sắc dị đoan, thần bí, nhưng nhìn kỹ, xét sâu ta thấy phương
pháp này hợp với lý Y tha khởi và Viên thành thực tính của Duy Thức học.
Bởi vì tâm niệm Phật là nhân lành, nguyện lực của Phật a Di Đà và nỗ lực
niệm Phật của người tu là Tăng thượng duyên, cảnh giới Cực lạc hay tâm
chân như thanh tịnh là quả. Đó là thế giới mà chúng ta góp phần xây dựng
tạo thành. Nhân sao quả vậy. Không có Chính báo và Y báo nào tốt đẹp
bằng Chính báo và Y báo ở cõi Tây phương Tịnh độ của Phật A Di Đà mà
Phật tử hàng ngày thường quán tưởng và mong cầu về đó. Khi dùng phương
pháp quán niệm thì hành giả thanh tịnh hoá được ba căn thân, khẩu, ý và
dùng Sự để hiển Lý, tiến tới Lý Sự viên dung, hay tâm cảnh nhất như Bất
Nhị. Bởi vì A lại da thức và những chủng tử nằm trong đó đều có năng lực
phát sinh ra các hiện tượng tâm lý và vật lý, và chủng tử lại là nguồn
gốc của mọi hiện hành theo luật nhân quả cho nên khi niệm Phật thì hành
giả gieo vào tạng thức của mình những hạt giống Phật, được huân sinh
huân trưởng tại đó, để đợi thời cơ thuận tiện phát khởi. Mỗi chúng sinh
có một A lại da thức riêng nằm trong khối A lại da thức chung của toàn
thể. Không có một A lại da thức nào tồn tại độc lập và biệt lập cả. A
lại da thức nào hiện hữu là nhờ sự có mặt của A lại da thức kia, trong
mối tương quan, tương duyên trùng điệp chỉ khi nào A lại da thức của một
cá nhân trở thành vô cấu, do công phu tinh luyện lâu ngày để trở thành
thật trong sạch, thì mới tách rời khỏi khối A lại da thức chung của cộng
đồng chưa giác ngộ để nhập vào bản thể sáng suốt thanh tịnh của vũ trụ,
hay nhập vào bản thể Chân Như Pháp giới. Nói khác đi, thì chừng nào công
phu tu luyện niệm Phật của hành giả đã chín mùi thì người đó nhập vào
Pháp giới tính, hay thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà và được chung sống
trong Cộng nghiệp tốt lành của các bậc Hiền, Thánh. Trái lại, nếu công
phu niệm Phật còn non thì các chủng tử Phật của người đó gieo mà chưa đủ
điều kiện để hiện hành, sẽ rơi vào khối A lại da thức chung, trong đó có
đủ thứ chủng tử thiện lẫn ác và tiềm phục tại đây. Tuy còn ở trong trạng
thái chủng tử chưa hiện hành nhưng tất cả những chủng tử này vẫn tiếp
tục chuyển biến không ngừng dưới hình thức được nhận định là bản thân
của Cộng nghiệp.
Duy Thức học chủ trương rằng :
sinh mệnh và môi trường đó chúng sinh hoạt động (hay Chính báo và Y báo)
do cả hai loại A lại da thức riêng của cá nhân, và của chung toàn thể
cộng đồng tạo thành. Đó là thuyết Cộng biến và Tự biến, hoàn cảnh sinh
sống của cá nhân là Tự biến, và hoạt động của cộng đồng là Cộng biến.
Then chốt của sự tạo thành một thế giới chính là nghiệp lực hay nghiệp
cảm Duyên khởi. Thấu hiểu được tác dụng của Cộng biến và Tự biến của dị
thục, ta mới thấy sự kiến tạo thế giới Cực lạc cũng như sự tạo lập một
cõi Bồng lai hay Tịnh độ nơi hạ giới này là hợp lý, nhờ đó mà phá tan
được mọi nghi ngờ về “nan tín chi pháp”. Vũ trụ quan của Phật giáo dựa
trên thuyết “Duyên sinh Cộng nghiệp” hay “Trùng trung duyên khởi” ở vào
thế động, rất phù hợp với tư tưởng tiến bộ và quyền bình đẳng, tự do của
con người, không phân biệt mầu da sắc tộc, có thể dùng làm nền tảng để
thực hiện lý tưởng hoà bình và đại đoàn kết của nhân loại trên toàn hành
tinh này. Trên một quy mô nhỏ hẹp hơn thì một quốc gia lấy tín ngưỡng vũ
trụ quan Duyên sinh cộng nghiệp làm điểm tựa, có thể đạt được một sự
đoàn kết quốc gia sâu rộng giữa toàn dân trong nước, không phân biệt
sang hèn, giàu nghèo và có thể tạo lập được một nền văn minh nhân bản,
hướng thiện, làm cho xã hội đó sớm trở nên hùng tráng, ấm no, hạnh phúc,
bởi vì theo lý Duy Thức thì các hiện tượng sinh diệt từng sát na, hiện
hành trở về chủng tử, chủng tử trở thành hiện hành, nương nhau mà huân
sinh, huân trưởng, biến đổi theo luật tương quan, tương duyên, cho nên
việc niệm Phật thường xuyên là cố để cho những mầm giống Phật hiện hành
trong tâm của hành giả. Niệm Phật mà đạt tới điểm cao nhất, tới giai
đoạn nhất tâm bất loạn thì quả Phật sẽ thành. Do đó mà khi ta thấu hiểu
được lý nhân quả hay lý Y tha khởi của Duy Thức, ta không còn dám coi
thường việc niệm Phật cầu vãng sinh và sẽ nhận thấy pháp môn Tịnh độ
thật là tuyệt diệu.
* Tịnh độ tông gần với Duy
thức tông bởi vì cả hai tông này đều cùng chủ trương tùng Tướng nhập
Tánh. Tịnh độ tông dùng phương pháp niệm Phật để đi tới “Niệm - Vô niệm,
Vô niệm - Niệm” mà ngộ được Chân Tâm, tức là gián tiếp đạt đạo quả bằng
cách gieo mãi chủng tử Phật vào tiềm thức của hành giả, cũng như Duy
Thức tông phải dùng Thức để truyền Thức, mượn ngôn ngữ hình danh để
truyền đạo mà nhập vào Duy Thức tính, như vẽ hình con chim trên giấy tờ
để lưu bóng con chim đang bay. Không như Thiền tông dùng Tâm truyền Tâm
để ngộ đạo một cách trực tiếp, chỉ thẳng vào Tâm để trực ngộ Chân Tâm,
không phải nhờ trung gian bất cứ một sự vật gì cả, cũng như chỉ thẳng
vào con chim đang bay trên hư không mà chẳng phải mượn bút vẽ để lưu
bóng con chim trên tờ giấy. Phương pháp của Duy thức là phân tích vạn
vật thành 100 pháp để nhận thấy rõ vạn vật đều là nhân duyên giả sinh
giả hợp, không có thực thể cố định. Đây là tướng Không, và khi đã đi tới
chỗ rốt ráo thì cúng tới Chân Không, đồng một Thể tính với Tính Không
của Thiền vậy. Cũng như người tu Tịnh nghiệp mà được vãng sinh Tịnh độ
là được về nơi để luyện cho tâm trở về với Chân Như Pháp giới, kết quả
không khác gì nhau. Tuy trên nguyên tắc Thiền tuyên bố bất lập văn tự
giáo ngoại biệt truyền, nhưng trên thực tế Thiền vẫn phải dùng ngôn ngữ,
văn tự làm phương tiện để khai tâm, dẫn đến chỗ ngộ nhập Thực tại vô
ngôn, vô niệm. Du chưa nhờ Duy thức mà được chứng ngộ, nhưng người học
Duy thức ngày nay có thể dùng sở học của mình về môn học này để làm cơ
sở cho một đức tin vững vàng và lành mạnh để thực hành pháp môn Tịnh độ,
và như vậy thì việc niệm Phật A Di Đà trở thành phần thực hành, còn phần
lý thuyết lại do pháp môn Duy Thức soi sáng. Bởi vậy một học giả đã nói
một câu rất có lý : “Học Phật ngày nay nên nghiên cứu về pháp môn Duy
Thức vì nó phù hợp với khoa học thực nghiệm đương thời, còn phần thực
hành thì nên theo pháp môn Tịnh độ”.
CHƯƠNG 11
NHẬN ĐỊNH
VỀ THA LỰC VÀ TỰ LỰC
Vấn đề Tha lực và Tự lực xưa
nay vẫn được nhiều người tranh luận sôi nổi.
Đứng trước sức mạnh cuồng bạo
của thiên nhiên, loài người tự cảm thấy mình nhỏ nhoi yếu đuối, sợ bị
tiêu diệt, nên mới phải thần phục sức mạnh của tạo hoá và dựa vào Tha
lực để an tâm lập mệnh. Đó là căn bản của bản năng sinh tồn mang nặng
tính chất ỷ lại và vô minh, ngã si và vị kỷ. Nhưng mặt khác, trong con
người biết suy nghĩ, lại có sức mạnh tinh thần quật khởi, có ý chí khát
khao tự do muốn vươn lên để đòi hỏi con người phải ức chế dục vọng để tự
cứu mình thoát khỏi sự chế ngự của thiên nhiên nhất là ngày nay khoa học
đã tiếp tay giúp loài người đoạt quyền tạo hoá trong nhiều lãnh vực, thì
loài người đã cảm thấy rằng mình đã nhiều phen thoát khỏi sự chế ngự của
thiên nhiên.
Giữa hai lập trường trái ngược
đó, hoặc là ỷ lại vào tha lực, thường thường là một đấng Thần linh cao
cả, ban phúc giáng hoạ cho con người, giao phó tính mệnh của mình vào
tay con tạo xoay vần, không còn tin ở tài sức của mình nữa, hoặc là chỉ
dựa vào Tự lực vùng lên với tinh thần dũng mãnh để tự giải thoát, không
cầu mong ở bất cứ ai. Còn một khuynh hướng thứ ba là dung hoà cả hai
phái trên, đi theo con đường “Thần, Nhân hợp tác” hay “Tự tha đồng hiệp
lực” (Synergisme). Trong Phật giáo Đại thừa, vấn đề Tha lực và Tự lực đã
từng được nhiều nhà bình luận cổ kim tranh biện, làm nổi bật hai luồng
tư tưởng khác nhau :
1.- Một đường thì thừa nhận
chúng sinh nào cũng có Phật tính và khả năng thành Phật, do đó phải tìm
cách phát huy năng lực sẵn có của mình : đó là lập trường của phái Thiền
tông chủ trương “trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật”, quy Tự lực vào
một mối nhằm đạt tới Phật tính chân tâm của mình.
2.- Một đường thì tin rằng :
Các vị Bồ tát đã sẵn có lòng từ bi và lập nguyện sâu dày cứu độ chúng
sinh, nếu chưa độ tận chúng sinh thoát vòng khổ đau sinh tử, thì các
Ngài quyết không thành Phật, cho nên chẳng ai lại dại mà không cầu Phật
cùng các Bồ tát có thần lực hơn hẳn mình cứu giúp để được giải thoát :
đó là lập trường của phái Tịnh độ tông và Chân ngôn tông, quy về nguyện
lực của chư Phật và Thánh hiền.
Lập trường của Thiền tông là
chỉ trông cậy vào chính mình. Khắc phục tự tâm để tiến tới giác ngộ,
giải thoát. Những người tu Thiền phải là bậc thượng căn, hội đủ năm điều
kiện thiết yếu sau đây mới mong đạt tới Thánh quả :
1.- Giữ giới trang nghiêm.
2.- Căn cơ bén nhọn.
3.- Thông hiểu giáo lý và phân
biệt rành rẽ chân vọng, chánh tà.
4.- Có ý chí cương quyết tiến
tới mục đích đã định, không chịu lùi bước trước mọi chướng ngại trên
đường tu.
5.- Ngoài ra còn phải nương
cậy vào một bậc Thiền sư dẫn đạo cho mình, tức là vẫn phải đi theo con
đường “Tự, Tha đồng hiệp lực”. Tuy phần lớn nhờ vào ý chí sắt đá của
mình để quyết định công phu tu tập, nhưng muốn chứng ngộ thì Thiền sinh
phải tuỳ thuộc vào một yếu tố then chốt gọi là “Thời tiết nhân duyên bất
khả tư nghị”, nghĩa là dù hành giả có nỗ lực tới đâu mà “thời tiết nhân
duyên” chưa tới thì vẫn chưa thể chứng ngộ được. Bởi vì sự chứng ngộ là
trạng thái bộc phát bất thần, cũng như hòn than hồng phải được thổi hay
quạt vào để cho sức nóng của nó gia tăng tới mức độ cao tột, mới mong
bốc thành ngọn lửa được. Có thể nói đó là một loại “Thần Khải”
(Révélation). Sự bộc phát bất thần ấy tức là sự “hốt nhiên khai ngộ” mà
người Nhật Bản gọi là Satori, là giây phút thần diệu, thiêng liêng xảy
ra trong trường hợp đặc biệt mà người tu coi là một sự kiện mặc nhiên
khai ngộ, siêu việt mọi suy tư, ngôn ngữ. Giây phút thần diệu thiêng
liêng ấy chỉ đến với Thiền sinh vào lúc hành giả ở trong Đại Định hay
Quán tưởng chín mùi, và chỉ riêng người chứng ngộ ấy tự biết mà thôi,
cũng ví như người uống nước trà mới thưởng thức mùi vị đậm nhạt, thơm
ngon và nóng lạnh của chén trà mình vừa mới uống. Như trên đã nói : tuy
sự hốt nhiên khai ngộ là kết quả chủ yếu của công phu tu luyện bền gan
lâu dài của hành giả, nhưng dù cho khắc phục, gian nan khổ luyện tới mức
nào cũng vẫn chưa đủ, mà còn phải đợi “thời tiết nhân duyên” bất khả tư
nghị kia tới với mình mới thành tựu được việc lớn hằng ước mong. Bởi thế
cái “thời tiết nhân duyên” ấy đóng một vai trò quan trọng đặc biệt trong
sự thành công của hành giả. Câu nói : “Hữu cầu tất ứng, hữu cảm tất
thông” thường được dùng đến có nghĩa là Thiền sinh phải đợi tới lúc
thời tiết nhân duyên đến với mình. Và câu “Thôi trác đồng thời”
nghĩa là tình trạng quả trứng khi sắp nở, chim con trong quả trứng thôi
thúc muốn thoát ra ngoài hì ngay lúc đó chim mẹ phải mổ vào vỏ trứng,
làm cho cái vỏ đó rạn nứt mới giúp cho chú chim con phá được vỏ trứng
vây bọc nó mà chui ra ngoài. Cảnh chứng ngộ của Thiền sinh cũng vậy,
phải do nỗ lực song phương của hành giả phối hợp với Tha lực là thời
tiết nhân duyên, trong ngoài nhất trí mới mong đạt tới giây phút thiêng
liêng của sự Đại Ngộ. Như vậy thì Tự lực vẫn cần phải có Tha lực, nhưng
ở vào mức độ có giới hạn, không ỷ lại quá đáng vào Tha lực mà thôi.
Xét về chủ nghĩa Tha lực,
nghĩa là không tin ở tài sức của mình mà chỉ trông cậy vào sự giúp đỡ
của một thế lực ngoại lai, thường là một đấng thiêng liêng nào đó, nhưng
nếu không diệt được Tự ngã, tức là không từ khước được ý chí tự kỷ một
cách triệt để thì không thể hướng vào tuyệt đối được. Cũng ví như người
đi biển gặp nạn đắm thuyền, cố bám vào một mảnh ván trôi lênh đênh giữa
biển khơi trong cơn giông tố, nghĩa là ở trong cảnh tuyệt vọng tột đỉnh
chờ chết, không còn tin vào sức mình để được cứu thoát nữa, nếu không
thiết tha mong cầu Thần lực của Thượng đế thì khó lòng thoát khỏi thuỷ
tai. Muốn được cứu thoát tất phải nỗ lực xả kỷ và tinh tấn cầu nguyện
lực của Phật để được giải thoát mà không tin tấn diệt trừ vọng niệm,
cùng những nết xấu tật hư, chỉ niệm Phật suông mà thôi, trong khi vẫn
buông thả cho lục dục, thất tình của mình làm càn thì tất nhiên không
thể đạt được nguyện vọng. Cũng ví như người sắp chết đuối, chỉ còn cái
phao để bám vào, nếu không biết giữ gìn cái phao cho tốt, lại còn phạm
lỗi huỷ hoại cái phao đó thì Tha lực cũng khó hòng cứu nổi. Cuối cùng
chúng ta đi đến kết luận : Tự lực vẫn phải nhờ vào Tha lực, và trong Tha
lực vẫn có Tự lực hàm chứa. Tha lực với Tự lực chẳng qua chỉ là sự bất
đồng trên mặt danh từ mà thôi, chứ thực chất thì không có sự phân khu
biệt gì trong vấn đề đó cả. Trong Tự có Tha, trong Tha có Tự, chỉ vì câu
nệ danh ngôn nên mới bày đặt ra Tự và Tha mà thôi. Cả hai đường lối Sự
trì danh và Lý trì danh hiệu Phật A Di Đà đều đòi hỏi phải có sự nỗ lực
quyết tâm vượt bậc vững tin ở tài sức của mình. Và cũng tin cậy vào cả
nguyện lực của chư Phật gia hộ nữa. Có Tự lực dũng mãnh lại thêm được
Tha lực gia hộ thì Tự lực ấy càng vững mạnh, tăng lên gấp bội và trở
thành một sức mạnh vô biên, muốn gì chẳng được ? Như vậy thì bất luận
dựa vào Tha lực hay Tự lực danh từ tuy khác nhau, song đều đưa tới kết
quả là diệt trừ được phiền não, nhiễm ô, được giác ngộ, giải thoát, và
chung cuộc, nếu dựa vào Tha lực lấy việc niệm danh hiệu Phật làm nhân,
sẽ được hái quả Vãng sinh Tịnh độ, nghĩa là có Định thì có Tuệ, do đó
mới nói rằng : Vãng sinh Tịnh độ tức là thành Phật hay là trở về với
Chân Tâm, Phật tính của mình.
CHƯƠNG 12
PHƯƠNG PHÁP TU ĐỂ ĐƯỢC VÃNG
SINH CỰC LẠC QUỐC HAY TRỞ VỀ VỚI CHÂN TÂM BẢN TÍNH CỦA MÌNH.
* Pháp môn Tịnh độ có bốn lối
trì danh gọi là Tứ Hạnh, tuỳ căn cơ sở thích của người tu lựa chọn.
1. Niệm danh hiệu Phật A Di Đà
(không cần tụng kinh trì chú hay quán tưởng của Tịnh độ tông thuần tuý).
2. Niệm Phật A Di Đà kiêm tham
Thiền, quán tưởng Phật cùng cảnh Cực lạc Tây phương của Thiền Tịnh song
tu.
3. Niệm Phật A Di Đà (là
chính) và tụng kinh A Di Đà, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kim Cương, Pháp
Hoa, Hoa Nghiêm, hoặc các phẩm Phổ Môn, Phổ Hiền hạnh nguyện (là phụ)
của Giáo Tịnh song tu.
4. Niệm Phật A Di Đà (là
chính) và Trì Chú Đại Bi, Vãng sinh, Chuẩn Đề, Lục Tự Đại Minh chân ngôn
(là phụ) của Mật Tịnh song tu.
Dưới đây tôi chỉ xin đề cập
đến hai lối tu Niệm Phật thuần tuý và Thiền Tịnh song tu mà thôi. Căn
bản của pháp môn Tịnh độ để được Vãng sinh Cực lạc quốc, hay được trở về
với Chân Tâm, bản tính của mình dựa trên phương pháp niệm hồng danh Phật
A Di Đà và quán tưởng Phật với cõi Cực lạc Tây phương tới mức nhất tâm
bất loạn.
Phật dạy : “Muốn được tiếp dẫn
về miền Cực lạc phải niệm danh hiệu Phật A Di Đà từ 1 đến 7 ngày lên
tiếp và luôn luôn tưởng nhớ tới Phật A Di Đà. Phật thương chúng sinh như
mẹ hiền thương con thơ dại, nếu con không nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì
lòng mẹ nhớ thương con cũng thành vô ích. Với lòng đại bi, Phật thương
nhớ chúng sinh, nhưng chúng sinh cũng phải nhớ tưởng tới Phật A Di Đà và
mong cầu tha thiết được về quốc độ của Ngài, như hai mẹ con xa nhau lâu
ngày cùng mong được tái ngộ. Đạo cảm ứng giao thông mới tạo được mối
giao cảm, bằng không thì khó có được sự tiếp dẫn mầu nhiệm. Để đạt tới
sự cảm thông ấy, thì người tu Tịnh độ, ngoài việc niệm danh hiệu Phật,
còn cần phải tưởng nhớ tới Phật cho nên trong pháp môn Tịnh độ, ngoài
lối trì danh hiệu Phật theo Sự Tướng, người tu còn quán tưởng Phật và
cõi Tịnh độ Tây phương theo Lý trì danh hay lối Thiền Tịnh song tu.
* Trong đạo Phật, Thiền tông
hướng về Trí, còn Tịnh độ tông lại hướng về Bi. Trí mà thiếu Bi thì cái
Trí ấy khô cạn. Bi mà thiếu Trí là cái Bi mù quáng. Trong cuộc sống phải
có đủ cả Trí lẫn Bi, dung hợp hài hoà, với mong tạo được hạnh phúc và
giải thoát cho toàn thể sinh linh. Vì thế mà Thiền Tịnh song tu được coi
là phương pháp lý tưởng của người tu để đạt tới đích : “Thượng cầu Bồ
đề, hạ hoá chúng sinh” bằng con đường Lục độ và Tứ Vô lượng tâm của đạo
Bồ tát.
Để ca tụng đường lối của Thiền
Tịnh song tu, Tổ Vĩnh Minh Diên Thọ của Liên Tông có bài kệ như sau :
Không Thiền tông, có Tịnh độ,
Vạn người tu, vạn người đỗ.
Thấy được Phật A Di Đà
Còn lo gì chẳng khai ngộ ?
Có Thiền tông, khôngTịnh
độ,
Mười người tu, chín ngại khó.
Đến khi ấm cảnh bày ra
Nhắm mắt lại, nghiệp liền thọ.
Không Thiền tông, không
Tịnh độ,
Chịu giường sắt, cột đồng đỏ.
Tu muôn kiếp với ngàn đời
Chẳng tìm được nơi nương tựa.
Có Thiền tông, có Tịnh độ,
Như thêm sừng cho mãnh hổ.
Đời hiện tại làm thầy người
Kiếp vị lai làm Phật Tổ.
Mục 7 : Phương pháp tu của
phái Tịnh độ thuần tuý.
*
Niệm Phật thì Tâm được tĩnh lặng, buông
xả mọi tạp tưởng, cũng như ly nước đục, muốn cho trong cần để yên lặng
cho cặn nhơ từ từ lắng xuống. Trong khi niệm thì danh hiệu Phật phát
xuất từ tâm thành tiếng ở miệng, tai nghe, tiếng lại trở về tâm. Tâm
tưởng, miệng niệm, tiếng đậu ở tai, rồi lại trở về tâm phát xuất, cứ
tuần tự diễn biến như thế, thì mọi tạp niệm đều chấm dứt. Muốn đạt tới
cảnh “nhất tâm bất loạn” thì không có cách nào mới lạ cả chỉ cần một
lòng tin kiên cố, rồi tập trung tâm lực toàn diện vào việc niệm danh
hiệu Phật. Phải niệm sao cho tiếng niệm nọ tiếp nối với tiếng niệm kia
không có kẻ hở. Việc tập trung tâm thức vào câu niệm Phật làm cho danh
hiệu Phật trở thành một loại Thần chú (Dharani) có năng lực đưa hành giả
tới điểm nhất tâm. Với niệm Phật chỉ cần một cái tâm chất phác, đơn
thuần. Tin sâu, Nguyện thiết và Hành trì tinh tấn là đủ. Lâu ngày niệm
lực càng mạnh sẽ tới được điểm nhất tâm bất loạn. đó là trạng thái ly
Không Thời gian, xả bỏ tri thức một cách tuyệt đối, khiến không còn thụ
cảm ký ức, khái niệm về thiện ác, sướng khổ, có không, Niết bàn, địa
ngục, giác ngộ, mê mờ… gì cả. Lúc đó thì tâm dứt bỏ được vọng tưởng trở
thành vô tâm, và thực hiện được cái Tâm hư, Vô trụ, Vô đắc, Vô cầu, Vô
công, Vô danh…
* Khi còn sơ cơ, hành giả cần
phải dùng xâu chuỗi và niệm thành tiếng rõ ràng, và ấn định thời khoá
biểu hàng ngày để nhớ rõ câu niệm, lấy đó làm tiêu chuẩn, tiếp lên mãi
mãi. Hành trì như vậy một thời gian cho quen, lâu ngày niệm lực thuần
thục, hoá thành cảnh niệm mà không niệm, không niệm mà vẫn niệm. Tới
được thói quen đó rồi thì không cần ghi số câu niệm cũng được và như thế
thì lúc nào tâm cũng ở trong chính niệm, các vọng niệm không còn quấy
phá mình nữa. Tâm lúc đó ở vào trạng thái “nhất niệm tam muội” hay “nhất
tâm bất loạn”. Nếu lúc đầu đã vội đốt giai đoạn, không chịu qua cầu
trước tướng, đòi được viên dung tự tại ngay trong khi vọng thức còn
đương sôi nổi thì làm sao có được chính niệm ? Muốn đạt tới “nhất tâm
bất loạn” bằng phương pháp trì danh hiệu Phật có thể niệm rõ ràng thành
tiếng hay niệm thầm trong bụng bốn chữ A Di Đà Phật, hoặc thêm hai chữ
“Nam mô” thành sáu chữ. Trì bốn chữ có lợi là dễ nhập tâm và niệm được
nhiều câu. Trì sáu chữ có lợi là phát tâm thành kính và cảm ứng đạo giao
dễ thành tựu. Có người chủ trương nên dùng tâm niệm thay cho khẩu niệm
vì niệm lâu dễ mỏi. Không ai có thể niệm thành tiếng suốt đêm ngày dù
chỉ là niệm nhỏ tiếng. Bởi vậy, nếu không niệm to tiếng để buộc tâm viên
ý mã không cho nó được tự do rong ruổi trong buổi sơ cơ thì dùng lối Tâm
niệm quả là dễ đạt tới điểm nhất tâm bất loạn, bởi lẽ với Tâm niệm, hành
giả nhiếp được tâm trong chính niệm. Niệm niệm Phật không dứt thì xua
đuổi được tạp niệm, dễ đạt tới Niệm - Vô niệm, Vô niệm - Niệm, tức là
luôn luôn ở trong chính niệm vậy.
* Niệm Phật theo sự Tướng (hay
Tịnh độ thuần tuý) chủ trương dựa vào niềm tin hơn là luận giả. Tín là
chính yếu và Nguyện là phụ thuộc. Trên thực tế, đối với người sơ cơ cần
phải có Nguyện và Hành để bồi đắp cho đức Tin thêm vững bền. Tin là
nguyên lý của trường phái Tịnh độ tông và Mật tông và cũng là lập trường
của Tổ Từ Mẫn Tuệ Nhật của Liên tông đời Đường bên Trung Quốc. Có vững
tin mới đưa tới trạng thái nhất tâm bất loạn và như thế thì mới đạt tới
kết quả của công phu niệm Phật như sau :
Xét ra niệm Phật dễ mà không.
Khẩu ý buông lung giữ chẳng đồng.
Miệng niệm Di Đà, tâm tán loạn.
Dù cho khán cổ vẫn hoài công.
* Niệm Phật chân chính phải là
niệm với tinh thần “tam luân không tịch” nghĩa là không còn năng và sở
niệm, nhân và quả niêm, Ngã và Pháp niệm nữa.
* Để thức tỉnh những ai niệm
Phật đừng rơi vào vọng niệm, và có được tinh thần “tam luân không tịch”
nói trên, chư Tổ đã dùng câu thoại đầu : “Người niệm Phật là ai ?”
làm cho hành giả phải giật mình tỉnh ngộ và thốt lên rằng : “Ủa ! Không
phải là tôi niệm, mà là ma chướng nào đã nhập vào tôi để niệm rồi !” .
Bấy lâu nay mình vẫn chủ trương diệt Ngã và biết rõ là không có người
niệm (Vô ngã) sao nay lại còn mê muội chấp là có người niệm ? Bởi vì cái
mớ ngũ uẩn và phương tiện để tu hành đều do nhân duyên gọi là kết tụ mà
thành, đâu phải là thật có bền lâu không hề biến đổi ? Cái Tôi
chân chính (Chân ngã) vốn xưa nay bất động không hề niệm, vậy thì ai
niệm đây ? “Người niệm” là ai ? và ai sẽ được về Tây phương Cực
lạc ? Xét cho kỹ, nghĩ cho cùng thì chính cái Giả ngã hay cái nhóm ngũ
uẩn giả hợp nó vọng niệm, chứ đâu phải là Tôi hay cái Chân ngã
niệm ? Niệm tức là động, động thì tức quai, không còn là chân nữa.
Nói cách khác thì chính cái “Tác ý” phát minh ra nguyện lực thiết
tha mong cầu được về Tây phương Cực lạc đã kết duyên với Tín Tâm tạo
thành động lực thúc đẩy làm công việc niệm Phật, lại nhờ những trợ duyên
là Tinh tiến, Tự lực và Tha lực tạo thành cái nhân duyên hay
người niệm, đưa tới trạng thái thanh tịnh của tâm là cái quả
hay kẻ thụ hưởng cảnh vui Niết bàn. Ngoài Tác ý và Thọ
là hai yếu tố tinh thần trong nhóm năm Tâm Sở biến hành (là Tác ý, Xúc,
Thọ, Tưởng, Tư) hoặc Thức và Thọ là hai yếu tố tinh thần trong nhóm ngũ
uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) một gây nhân, một hưởng quả, ngoài ra
không tìm thấy bóng dáng người niệm Phật và kẻ được về Cực lạc Tây
phương. Hai yếu tố đó chỉ là những huyễn ảnh do tâm con người tạo ra mà
thôi. Sở dĩ phải có những cái huyễn đó thì mới đạt được tới cảnh giới
Niết bàn Tịnh độ, hay trở về với chân tâm bản tính của mình vốn là Tâm
Phật. Song những thứ này vẫn là những huyễn pháp ở bậc cao hơn mà thôi ;
bởi vì không có thực pháp nào làm nhân để tu hành, cũng không có thực
pháp nào làm quả để chứng ngộ cả, chỉ vì chúng sinh đã có sẵn đầy đủ
trong tâm mình hạt giống Bồ đề từ vô thuỷ. Ta với Phật đếu có giác tính
như nhau.
Ta chỉ khác Phật ở chỗ cam tâm
sống mãi trong mê mờ tối tăm mà không chịu thắp sáng ngọn đèn lòng hay
tri kiến của mình để nhìn thấy chân lý mà thôi. Người ngộ đạo phải niệm
Phật với tinh thần phá ngã, phá pháp, triệt để như vậy mới đúng với câu
: “Tu như huyễn pháp, hành như huyễn sự”.
* Cũng như cống án Thiền : “Ai
là người niệm Phật” thì chữ Ai (chỉ vọng ngã, vọng thức hay chúng
sinh khi còn mê) tức Tác ý hay Thức là nhân để tu
hành, và chữ Phật (chỉ Chân Tâm, Chân Ngã hay chúng sinh khi đã
giác ngộ) là Thọ hay Quả của công việc tu hành. Từ mê đến
ngộ là quãng đường hành trì để phá vô minh vọng thức, triệt để phá chấp
ngã và chấp pháp, để mong chứng được “đệ nhất nghĩa Không” hay thấy được
Chân Tâm, Phật tính của mình. Khi còn là chúng sinh mê muội thì Ai
niệm Phật chưa phải là Phật. Lúc đã ngộ rồi thì Ai tức Phật,
và Phật tức Ai. Nếu còn phân biệt Ai và Phật là hai đối tượng
năng sở, chủ khách, nhân quả, khác nhau thì còn chưa hiểu được lẽ “Tức
Tâm tức Phật”, “Chúng sinh tức Phật, phiền não tức Bồ đề”, “Ta bà tức
Phật độ” và “Phật vốn là tâm luống phải tầm”, và như vậy là còn giữ
nguyên ranh giới giữa Tâm và Cảnh, Kiến phần và Tướng phần, chưa thực sự
diệt được Ngã và Pháp, chưa thực hiện được cái lý “Tương tức, Tương
nhập”, “trùng trùng duyên khởi”, hay cái “lý Bất Nhị”, “Chân Không Diệu
Hữu”, và “Sự Sự nhất thiết vô ngại”.
Sau đây là bài thơ để hiển bày
cái lý thâm sâu đó :
Đừng tìm Cực lạc với Di Đà.
Tịnh độ, Ta bà vốn ở ta.
Giác tính không phân chia cao thấp.
Hương trầm chẳng ngại toả gần xa.
Trăng Thu sáng tỏ trời cao rộng.
Gió Hạ giải nồng khắp mọi nhà.
Tịnh, nhiễm xưa nay đồng một thể
Giác, mê vốn dĩ chẳng hai mà.
Trên căn bản thì tâm bất động.
Động là hiện tượng khách trần. Do một niệm khởi mà chân tâm vốn bất
động, bỗng trở thành Vọng thức, sinh ra đủ thứ quả báo tốt xấu. Mọi niệm
tưởng đều nằm trong không gian và thời gian, cho nên khi nào vượt được
ra ngoài khuôn khổ của Không - thời gian, giới hạn tự do của con người
mới được giải thoát và thấy được Chân Tâm là một phương pháp thần diệu
để phá không gian và thời gian, diệt trừ vọng niệm đã buộc chặt con
người vào khuôn khổ chật hẹp đó, vì khi niệm Phật tới giai đoạn “nhất
tâm bất loạn” thì ta quên cả Phương lẫn Thời, quên mọi sự vật, bặt mọi
tư duy, phá được ngã lẫn pháp để chỉ còn nhớ là mình đang ở trong chính
niệm, hay ở trạng thái chánh định của chân tâm. Niệm Phật tam muội hay
Bảo vương tam muội thì diệt được vô lượng tội chướng và chúng sinh tính,
tăng trưởng được vô biên phúc tuệ và vô lượng công đức.
* Trong khi niệm Phật, đối với
người sơ cơ, vọng tưởng thi nhau đến quấy phá. Lúc đó phải niệm Phật
thành tiếng rõ ràng và dùng xâu chuỗi để đếm số câu niệm Phật cho khỏi
quên cốt để buộc chặt tâm mình lại cho nó khỏi rong ruổi, cũng như kẻ
chăn bò phải dùng đoạn dây thừng xỏ mũi bò mới điều khiển nổi con vật
còn hung hăng. Cũng có thể chẳng cần quan tâm để ý đến những vọng niệm,
coi chúng như khách vãng lai đến rồi đi, còn cái tâm chủ nhà thì vẫn ở
lại để coi nhà. Lối nào cũng chỉ nhắm vào mục tiêu đưa tới định tâm và
khi đã niệm quen rồi thì dùng lối tâm niệm, thay cho khẩu niệm là tốt
hơn hết.
Phương pháp niệm Phật có nhiều
lối :
1.- Phản văn trì danh
là lối miệng niệm, tai nghe, tâm điều khiển từng tiếng và bắt kịp những
tưởng đó. Tư tưởng và âm thanh dung hợp nhau. Cách niệm này khiến hành
giả dễ gạn lọc được vọng niệm và mau đạt được tâm thanh tịnh.
2.- Sổ châu trì danh
là lối miệng niệm Phật, tay lần tràng hạt. Với lối này, niệm lực được
mạnh nhờ sự phù trợ của xâu chuỗi, cũng ví như người leo núi, lúc đầu
chưa quen, phải dùng cây gậy để chống đỡ thì leo dốc mới dễ dàng, đỡ mỏi
và khỏi trượt chân. Với cách này thì tiếng niệm phải rõ ràng và nhớ rõ
số câu niệm của mỗi thời, tiến lên mãi mãi, nhờ vậy mà chữa được bệnh
giải đãi, đạt tới định tâm. Niệm như vậy lâu ngày thành thói quen sau
không cần ghi số câu niệm mà tâm lúc nào cũng ở trong chính niệm.
3.- Ký thập trì danh
là niệm mà đếm số câu, cứ 10 niệm là
một đơn vị, lại lần một hạt ở xâu chuỗi. Với lối này phải nhớ số câu
niệm, nếu không sẽ đếm sai và như vậy thì tâm chưa định. Phương pháp này
buộc hành giả phải chuyên tâm vào công phu niệm Phật, kết quả tốt cho
người mang tâm vọng động.
4.- Tuỳ tức trì danh
là niệm thầm không ra tiếng, lúc niệm nương vào hơi thở, mỗi hơi thở,
không cứ được bao nhiêu câu cũng coi là một niệm, và khi đếm mười hơi
thở thì gọi là Thập niệm. Cách niệm này do Từ Vân Đại sư chế ra, căn cứ
vào Kinh Quán Vô Lượng Thọ để giúp những người đa đoan công việc, với
dụng ý dùng hơi thở để nhiếp tâm. Đủ 10 hơi thở hay 10 niệm là làm tròn
công phu một buổi niệm Phật, rất tiện cho những người bận công việc mà
vẫn nhiếp được tâm bằng lối niệm Phật.
5.- Truy đỉnh trì danh
là lối niệm Phật mà không để một kẻ hở, niệm nọ niệm kia tiếp nối nhau
như hạt mưa sa, nhờ vậy mà tâm của hành giả dễ định vì oai lực của câu
niệm buộc vọng niệm phải lắng xuống cho tâm trở nên thanh tịnh.
6.- Lễ bái trì danh
là lối vừa niệm vừa lễ Phật. Lễ Phật
nhẹ nhàng, chậm rãi, đúng oai nghi. Lời niệm phải rõ ràng, rành rẽ, đi
đôi với việc lễ bái. Trong khi đó thì ý cũng phải thành khẩn, thiết tha.
Ba căn thân, khẩu, ý phối hợp với nhau chặt chẽ và tập trung vào một
mối. Phương pháp này trị được bệnh hôn trầm nhưng chỉ những người cường
tráng, sức lực gân cốt có thừa mới áp dụng được bởi lẽ lễ lâu dễ mỏi,
người yếu sức khó lòng đương nổi.
7.- Kim cương trì danh
là lối niệm chỉ hơi động môi
đôi chút, niệm nhanh như cây truỳ bằng kim cương liên tiếp giáng xuống
như cái máy. Điểm quan trọng là dù niệm thầm nhưng vẫn không hề rối
loạn, lời niệm vẫn phải gắn bó với tâm niệm. Với lối này lâu ngày thành
thói quen, sức niệm càng mau, càng nhiều, sớm đạt tới điểm nhất tâm bất
loạn. Khi nào sức dồn chứa những chủng tử Phật đã nhiều thì bất cứ lúc
nào, dù thức hay ngủ, câu niệm Phật cũng từ tạng thức của hành giả hiện
hành phát ra. Để có thể niệm được nhiều câu và đỡ mỏi. Hoà Thượng Đào
Nguyên khuyên nên :
1. Ngồi mà niệm, trừ phi đau
yếu mệt mỏi quá phải nằm để niệm là điều bất đắc dĩ.
2. Niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”
hay ba chữ “Nam mô Phật”, thay vì sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật” để niệm
được nhiều câu trong cùng một thời gian.
3. Dùng xâu chuỗi nhẹ, hạt vừa
phải.
4. Trong khi niệm phải gác bỏ
mọi việc trần gian ra ngoài để tâm khỏi tán loạn.
* Lục Tổ Huệ Năng nói :
Vô niệm, niệm mới chánh,
Hữu niệm, niệm thành tà.
Ta phải hiểu nghĩa chữ Vô niệm
ở đây như thế nào mới đúng ? Vô niệm tức là vô tà niệm, vô dục niệm, chứ
không phải là vô chính niệm. Trong khi niệm, hành giả không được tưởng
tới bất cứ điều gì ngoài Phật A Di Đà, và cõi Tây phương Cực lạc. Người
niệm phải luôn luôn nhớ tới Giác đức của Phật, tưởng tới 48 lời nguyện
của Ngài và suy xét tường tận ý nghĩa 10 danh hiệu Phật. Có hiểu tường
tận về Phật mới làm tăng trưởng đức tin của mình và quý trọng Ngài hơn,
đúng như câu nói của một nhà nghiên cứu về Phật giáo người nước Anh bình
luận về Đức Phật.
The more I know Him
The more I love Him
The more I love Him
The more I know Him
(Càng hiểu Phật, tôi càng kính
yêu Ngài, càng kính yêu Ngài, tôi càng hiểu rõ Ngài thêm).
* Người Phật tử tu tịnh
nghiệp, trong bốn oai nghi, lúc nào cũng ý thức được sáng suốt công việc
mình đang làm là niệm Phật không ngừng.
Tổ Hụê Năng nói : “Chẳng phải
Vô niệm là không niệm mà là thường xuyên lúc nào cũng niệm Phật với tâm
vô nhiễm và diệt hết các niệm tưởng đối đầu : Năng Sở, Có Không… đó gọi
là “Vô niệm”. Muôn niệm tan vào nơi không niệm, mà trong vô niệm, Niệm
hằng sa”. Tổ Huệ Năng lấy Vô niệm làm tôn chỉ vì Ngài cho rằng : Người
đời miệng nói Kiến tính mà vẫn vọng động thì Kiến tính sao được ? Có
giới dục, khử tà, thì tâm mới định hay ở trong chính niệm và như thế mới
Kiến tính được. Danh từ Vô sih hay Bất sinh cũng vậy, phải hiểu theo
nghĩa tương tự. Vô sinh nghĩa là chỉ cần sinh một lần chót, về thế giới
Cực lạc Tây phương nữa mà thôi, không cần phải đoạ lạc mãi trong sáu ngã
luân hồi nữa. Các hiện tượng tuy có sinh diệt, nhưng tướng sinh diệt đó
là giả. Các hiện tượng giả sinh, giả diệt nên gọi là Vô sinh, Vô diệt
hay Bất sinh, Bất diệt. Nếu cho rằng Vô niệm là Không niệm, Vô sinh là
Không sinh thì chẳng hoá ra lại rơi vào hư vô chủ nghĩa, và như vậy là
muốn tránh chấp Có lại lạc vào chấp Không sao ? Bởi vậy Lục Tổ Hụê Năng
lại phải bổ túc thêm hai câu nữa :
Có không đều chẳng tưởng
Mới ngự xa bạch ngưu.
Một vị cao tăng có để lại cho
hậu thế bài thơ dưới đây :
Có niệm, đồng không niệm
Không sinh tức là sinh,
Chẳng phải rời nửa bước
Thân tới Pháp vương thành
Thời nay hiếm thấy người tu
tịnh nghiệp mà có được tác phong niệm Phật đạt tới trình độ “Niệm - Vô
niệm, Vô niệm - Niệm” như các bậc thượng căn thuở xưa. Thời nay chỉ cần
tin sâu, nguyện thiết và tinh tấn niệm Phật đã là quý lắm rồi, vì nếu
tạo được thói quen siêng năng niệm Phật thì giờ phút lâm chung ta đã tạo
được cảnh thanh lương tự tại để được chung sống với các vị Hiền Thánh,
còn lo gì đến vấn đề Hữu niệm lẫn Vô niệm nữa ? Nếu chẳng biết lượng sức
mình mà cứ muốn đạt ngay tới điểm Vô niệm từ ban đầu rồi chẳng làm nổi,
lại sinh tâm phiền não, chán nản, thực đáng thương.
Mục 8 : Phương pháp niệm
Phật của phái Thiền Tịnh song tu.
Người theo phái Thiền Tịnh
song tu có nhiều lối quán tưởng đi đôi với việc trì danh hiệu Phật A Di
Đà, đại để như :
1.- Thực tướng niệm Phật
tức quán Pháp thân Phật A Di
Đà bao trùm cả hư không bao la, kết quả mau chứng được Chân Như thực
tướng hay Lý Chân Không Diệu Hữu, hoặc Chân Tâm thanh tịnh của mình.
Phương pháp này của Thiền tông nhưng đối tượng quán tưởng lại là Phật A
Di Đà nên cũng thuộc về tông Tịnh độ. Pháp quán này do các bậc thượng
căn sử dụng nên trong Tịnh độ thuần tuý hàng hạ căn ít khi dùng đến.
2.- Quán tưởng niệm Phật
là quán Chính bào và Y báo
tức quán thân mình và cuộc sống trong cảnh Cực lạc Tây phương. Phương
pháp này được Phật Thích Ca dạy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Nếu quán
tưởng thành thục thì bất cứ lúc nào hành giả cũng thấy mình như được
sống trong thế giới Cực lạc, kinh hành dạo chơi cùng với các vị Đại Bồ
tát, được nghe các loài chim hót lên lời kinh tiếng kệ du dương, lại
được học hỏi chính pháp Đại thừa cùng các vị “nhất sinh bổ xứ”. Công đức
của pháp quán này lớn lao vô cùng, nhưng ít người theo được vì sự quán
tưởng khó hành trì đối với người căn cơ thấp kém, chỉ những bậc Thiền sư
quen ngồi Thiền định mới áp dụng được mà thôi.
3.- Quán tượng niệm Phật
là chăm chú nhìn vào một bức
tranh hay một pho tượng Phật A Di Đà bày trước mặt, quan sát vẻ đẹp
trang nghiêm của Phật từng chi tiết, cho đến khi không có ảnh tượng Phật
A Di Đà trước mặt mà lúc nào cũng thấy Phật với đầy đủ tướng tốt, trang
nghiêm. Từ quán tượng niệm Phật đến “Nhất tâm bất loạn”, hành giả cảm
thông được với Phật, và hình tướng giả của Phật biến thành Thực Tướng
của Phật chói rạng sáng ngời trong tâm của hành giả, bởi vì năng lực
tinh thần và vật chất, hay Tâm và Vật chỉ là một, tượng Phật là cảnh mà
Quán niệm là Tâm. Khi đã hiểu rõ lý Nhất như rồi thì sự cảm thông giữa
hình tượng giả bên ngoài biến thành Thực Tướng của Phật trong tâm hành
giả là một sự kiện đương nhiên xảy ra.
4.- Quán chiếu
hay Giác chiếu trì danh là lối
niệm Phật hồi quang phản bản, khiến cho hành giả đi sâu vào cõi hư linh
siêu thoát, cảm thấy tâm Phật với tâm mình giao hoà và ngưng đọng trong
một khối mông mênh viên chiếu. Niệm như vậy tuy chưa mãn phần ở thế gian
này nhưng tâm đã chứng được cảnh Thường tịch quang Tịnh độ, thân tuy còn
là xác phàm, mà lòng đã ngự ở nơi Liên Đài siêu thoát, và chứng được
“Tức thân thành Phật” đúng như câu :
Thân tuy còn ở Ta bà
Mà lòng đã gửi bên toà Liên hoa.
Chỉ tiếc rằng lối tu này đòi
hỏi phải có công phu tu tập lâu ngày khó khăn, kết hợp Tịnh và Thiền ở
mức cao độ, dành riêng cho hàng thượng căn, bậc sơ cơ thiểu học, ít
người dám nghĩ tới.
5.- Liên Hoa trì danh
là tưởng như mình đang đứng trước màn lưới đế châu tại cung Trời Đế
Thích, thấy giữa mỗi mắt lưới có đính một viên minh châu toả hào quang
sáng ngời, hạt nọ hạt kia chiếu vào nhau, ánh phản xạ tạo thành một khối
lung linh rực rỡ, nói lên cái lý “trùng trùng duyên khởi”, “một là tất
cả, tất cả là một” và “tương tức, tương nhập”, “Sự sự vô ngại” của Kinh
Hoa Nghiêm. Lại thấy như mình đang đứng trước mỗi hạt châu, mà trên mỗi
hạt châu lại có một toà sen ngàn cánh, trên mỗi cánh sen có một tượng
Phật A Di Đà toả ánh linh quang ngời sáng. Lại tưởng như mình đang hành
lễ chiêm ngưỡng và nguyện cầu hằng hà sa số Phật trong khắp đạo tràng
này, tưởng mình như được tắm gội trong bầu hào quang huyền diệu, nhiệm
mầu ấy của Phật Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Công Đức.
Nói chung thì các lối trì danh
và quán tưởng kể trên mỗi lối có một công dụng trị bệnh cho hành giả để
diệt trừ vọng niệm, trở về với Chân Tâm, cách nào cũng có lợi ích cả,
tùy căn cơ của từng người lựa chọn để đi sâu vào con đường Tịnh nghiệp.
Tất cả những lối niệm Phật mà miệng niệm, tâm tưởng tới Phật được gọi là
Định Tâm niệm Phật. Trái lại, miệng tuy niệm Phật mà tâm lại nghĩ tưởng
tới đâu đâu, gọi là Tán Tâm niệm Phật, kết quả so với nhau, cách xa nhau
như trời vực. Tuy nhiên, dù là Tán Tâm nhưng vẫn gieo được vào Tạng thức
của hành giả những mầm giống Bồ đề, lúc đầu còn lu mờ, lâu ngày thành rõ
nét, rồi cũng có lúc hiện hành ra ngoài rồi huân tập trở lại bên trong
làm cho Tán Tâm hoá thành Định Tâm niệm Phật. Bởi vậy, dù lúc đầu chưa
quen lối định tâm, nhưng nếu cứ kiên tâm niệm Phật thì lâu ngày, với
thói quen niệm Phật cũng đạt tới điểm nhất tâm bất loạn, chỉ sợ lòng
người giải đãi bất chuyên mà thôi.
Để giải thích cho hàng sơ cư
cách niệm Phật sao cho đạt tới điểm nhất tâm bất loạn, Tổ Vĩnh Minh Diên
Thọ dạy rằng : “Phải dùng tâm thành kính mà niệm Phật liên tục, lúc nào
cũng giữ tâm ở trong chính niệm, cũng như người bị tử tội sắp đem đi
hành hình, hay người bị mắc nạn nước lửa bức bách, ở trong cảnh thập tử
nhất sinh, hoặc người bị giặc cướp hay ác thú rượt đuổi gấp sau lưng,
phải lớn tiếng cầu cứu luôn miệng để gọi người tới cứu mình mới mong
thoát nạn, người tu Tịnh độ phải coi việc niệm Phật gắn liền với tính
mạng của mình, không được lãng quên giây phút nào cả, dù phải bận công
việc, khi làm xong, lại trở về ngay với việc niệm Phật, coi đó là công
việc hệ trọng hàng đầu, còn mọi việc khác đều không đáng kể. Người tu
Tịnh độ phải nương vào hơi thở của mình mà niệm cho tới lúc nhắm mắt,
tắt hơi, còn hơi thở là còn niệm, như vậy mới gọi là tâm chí thành, chí
thiết, và mới mong được Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn về quốc độ của
Ngài.
- Về mặt Sự Tướng, do công phu
niệm Phật A Di Đà tới nhất tâm bất loạn, hành giả chắc chắn sẽ được đời
nghiệp vãng sinh.
- Về Lý tính cho rằng thế giới
Cực lạc ở ngay trong tâm mình, chỉ cần Kiến tính là thành Phật. Hai điểm
ấy chẳng khác nhau, chẳng qua chỉ là hai lối diễn tả để chỉ một cái đích
chung là được giác ngộ, giải thoát khỏi cảnh khổ đau trong tam giới mà
thôi.
* Một điểm đáng lưu ý là :
Niệm Phật cho tới nhất tâm bất loạn là muốn ám chỉ tời việc niệm Phật
trong giờ phút lâm chung, cần phải định tâm, dồn hết tâm lực vào việc
niệm Phật trong thời điểm quan trọng đó. Bởi vì khi sắp lìa trần cần
phải có những tư tưởng tốt lành, trong sáng để có được một nghiệp lực
tốt, ảnh hưởng quyết định mạnh mẽ tới kiếp lai sinh. Chỉ cần có từ 1 đến
10 niệm trong sạch lúc bấy giờ cũng đủ để được vãng sinh về cõi Tây
phương Cực lạc. Nhưng muốn được “nhất tâm bất loạn” khi lâm chung thì
bình nhật phải niệm Phật cho chuyên, cho thuần để có được thói quen niệm
Phật, và có được nhiều chủng tử Phật dồn chứa trong A lại da thức, ngõ
hầu khi sắp lìa trần, hành giả vừa mới khởi niệm thì chủng tử Phật liền
hiện hành ngay. Lúc đó dù không cần tâm vô niệm, mà cảnh vô niệm cũng
hiện bày. Trái lại, nếu bình nhật chẳng năng niệm Phật thành thói quen,
thì khi lâm chung sẽ bị cận tử nghiệp lôi cuốn, tâm thức tuỳ theo nghiệp
rối loạn, chính niệm chẳng thành tựu thì mong gì có được nhất tâm ?
Trong giây phút lâm chung, năm căn của người hấp hối như năm cánh cửa
khép kín, duy còn căn thứ sáu là Ý thức hoạt động yếu ớt để tiếp xúc với
ngoại cảnh. Người đang hôn mê lúc bấy giờ ở vào tình trạng như người
nhập định, hoặc người tu theo Duy Thức mà thu thúc lục căn, chính trong
lúc ấy mà người sắp lìa trần tự lực hướng về cõi Phật, lại nhờ được Tha
lực của những người chung quanh nhất tâm niệm Phật để trợ lực cho người
ấy thì có thể gây được chính niệm để được Cận tử nghiệp hướng dẫn thần
thức của người ấy về miền Cực lạc.
Bởi băn khoăn về vấn đề cần
phải giữ cho tâm thanh tịnh lúc lâm chung để niệm Phật với nhất tâm bất
loạn, Ngài Đại Ca Diếp đã hỏi Phật và được Phật giải đáp. Câu chuyện
được ghi lại trong Luận Tà Trí như sau :
“Bạch Đức Thế Tôn ! Chẳng hay
những lúc gặp tai biến bất ngờ như rủi bị ngựa xe cán chết ngay, hay bị
voi điên đuổi gấp, ác thú rượt bắt, hoặc bị người đời đánh đập, bắn giết
mà chết bất đắc kỳ tử, không kịp niệm Phật trước khi tắt thở thì thần
thức con sẽ phải sinh về nơi đâu ?”
Để trấn an Ngài Đại Ca Diếp,
Phật dạy rằng : “Ông cứ an tâm, chớ lo, không bị sinh vào ác đạo đâu mà
sợ. Bởi vì như cây kia thường vẫn nghiêng về hướng Đông, nếu gặp gió
bão, cây ấy bị trốc gốc thì nó phải ngã về hướng Đông mà đổ xuống. Người
tu tịnh nghiệp cũng vậy. Nếu hàng ngày người đó chuyên cần niệm Phật A
Di Đà chẳng may bị chết thình lình thì sẽ nhờ sức huân tập của ý thức
niệm Phật, lâu ngày dồn nén trong Tạng thức mà được sinh về cõi Cực lạc
Tây phương chẳng sai”.
Mục 9 : Kết quả công phu
niệm Phật A Di Đà
Niệm Phật nhằm đạt cho được
Phật tính nghĩa là có những đức Từ, Bi, Hỷ, Xả, Bình đẳng vô phân biệt
giống như Phật vậy. Niệm Phật mà chẳng thực hiện được chút nào những
hạnh cao cả đó, không thấy được Phật tính, Chân tâm của mình, còn bị
thất tình lục dục chi phối thì chỉ là nô lệ cho việc niệm Phật mà thôi.
Tuỳ theo công phu hành trì niệm Phật mà người tu Tịnh nghiệp, lúc sinh
thời, có thể đạt được những đạo quả sau đây :
1. Đoạt người chẳng đoạt cảnh.
2. Đoạt cảnh chẳng đoạt người.
3. Người và cảnh đều đoạt
4. Người và cảnh đều chẳng
đoạt.
Ba lớp tu này ám chỉ hai cảnh
mê và ngộ khác nhau. Ba tầng trên : Tâm và Cảnh, hoặc cả Tâm lẫn Cảnh
đều quên. Đến tầng chót (Tâm và Cảnh đều chẳng đoạt) tức là ở vào trạng
thái sau khi Tâm và Cảnh đều không quên thì Chân Tâm, Giác tính mới hiển
lộ rõ ràng, và hành giả ở vào trạng thái Chân Không tỏ bày Diệu Hữu.
Cũng giống như Thiền sư sau nhiều năm tu tập đã vượt qua các giai đoạn
thấy núi là núi, thấy sông là sông, sông khác với núi, rồi thấy núi
chẳng phải là núi, thấy sông chẳng phải là sông, rồi tháy núi tức là
sông, thấy sông tức là núi, và sau cùng trở về trạng thái “bình thường
Tâm là Đạo”, thấy núi vẫn là núi, thấy sông vẫn là sông, đâu đâu cũng
đều là đạo mầu cả. Núi đứng đó mặc núi, sông đứng đó mặc sông, núi và
sông chẳng phải hiện diện để cho ta bàn lu