CHÚ GIẢI VỀ
P’HOWA
Hướng Dẫn về
Pháp Môn Chuyển Di Thần Thức Siêu Sinh Tịnh Ðộ
theo Truyền Giảng của
Rigdzin Longsal Nyingpo
(Nguyên tác Anh ngữ:
P’howa Commentary: Instructions for the Practice of Consciousness
Transference as Revealed by Rigdzin Longsal Nyingpo)
Tác giả:
Chagdud Khadro
Dịch giả:
Cư sĩ Nguyên Giác
---o0o---
VỀ PHÁP MÔN P’HOWA
^
Sách này
nói về P’howa, có khi còn viết là Phowa, một pháp môn trong Kim Cang
Thừa của Phật Giáo Tây Tạng. Pháp này dạy cách chuyển di thần thức về
Cõi Cực Lạc của Phật A Di Ðà, nương theo đại nguyện của Ngài -- dù khá
dị biệt với Tịnh Ðộ Tông của Trung Quốc và Việt Nam, nhưng cũng có thể
dùng làm tham khảo cho người đọc khi đối chiếu các pháp tu của nhà Phật.
Vì có một số điểm trong pháp P’howa khá xa lạ với truyền thống Tịnh Ðộ
Tông Việt Nam, cho nên bản Việt dịch này sẽ được dịch thật sát với
nguyên bản Anh văn, dù phải chấp nhận một số trúc trắc về cú pháp, nhưng
bù lại thì cách dùng lời sẽ cố gắng trình bày sao cho thật dễ hiểu.
Theo truyền
thuyết, pháp môn P’howa từng được Tổ Sư Milarepa sử dụng để chuyển di
thần thức của một con chó đã chết. Dù có đúng với sự thực lịch sử hay
không, tích này đã cho thấy, Phật Giáo Tây Tạng tin rằng pháp môn P’howa
rất mực mãnh liệt, có thể đưa người về cõi Phật A Di Ðà ngay khi lìa
trần, hay ít nhất cũng khả dĩ tạo được nhân duyên để không phải đọa vào
các đường dữ.
Nhà Phật có
vô lượng pháp môn. Tùy nhân duyên nhiều đời, mỗi người sẽ tìm được pháp
thích hợp. Riêng với Phật Tử Việt Nam hiện nay, pháp môn Tịnh Ðộ phổ
biến nhất, rồi sau đó mới tới Thiền Tông. Sách này được dịch chỉ vì chỉ
muốn giới thiệu người đang tu Tịnh Ðộ biết rằng bên Tây Tạng cũng có một
pháp gọi là P’howa, tuy nhiều dị biệt, nhưng cũng tìm về Cõi Cực Lạc của
Phật A Di Ðà.
Có lẽ có
một chỗ tương đồng nổi bật nơi đây chính là pháp P’howa Pháp Thân, khi
học nhân trực nhận bản tánh thanh tịnh tự tại, và vào đây an trú. Như
thế thì không khác gì pháp Niệm Phật Thật Tướng. Và như thế hai pháp đó
cũng không khác gì Thiền Tông.
Trước khi
tham học Tổ Sư Thiền với Thiền Sư Tịch Chiếu (Chùa Tây Tạng, Bình
Dương), tôi từng có cơ duyên theo học trì chú và niệm Phật với hai vị
Hòa Thượng Thiền Tâm (ở Ðại Ninh, Lâm Ðồng; đã viên tịch) và Tài Quang
(ở Phú Nhuận, Sài Gòn; đã viên tịch) – qua các nghi quỹ trì tụng Ðại Bi
Chú, Ngũ Bộ Chú, Phật Ðảnh Tôn Thắng Thần Chú.
Một cách tự
động, lời nguyện đã ngấm vào người, kể cả nhiều thập niên sau, cả khi
không còn trì chú nữa (có lúc vì dồn hết tâm lực để tu Thiền, và rồi có
lúc thì quá bận rộn, với cả Phật sự và cả chuyện đời thường) nhưng
thường xuyên vẫn nghe vang vang bên tai các câu:
Nguyện sinh
Tây Phương Tịnh Ðộ trung
Cửu phẩm
liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai
kiến Phật ngộ vô sanh
Bất thối Bồ
tát vi bạn lữ.
(Xin nguyện sinh vào
cõi Tịnh Ðộ Tây Phương
Chín phẩm hoa sen là
cha mẹ
Khi hoa nở, thấy
Phật liền ngộ tánh vô sanh
Với các vị Bồ Tát
không lui sụt làm bạn hữu.)
Mặc dù Thầy
Tịch Chiếu dạy pháp Tổ Sư Thiền trong một ngôn ngữ mạnh bạo có lúc phi
bác hết mọi pháp khác, nhưng có một lần, Thầy kể cho tôi nghe về một
trường hợp vãng sanh Tịnh Ðộ, với hào quang sáng rực cả nhà tang chủ.
Lúc đó, tôi không hỏi thêm chi tiết, vì nghĩ các chuyện như thế rất là
thường ở Việt Nam, vì cũng từng nghe nhiều chuyện thần kỳ của Tịnh Ðộ ở
nhiều nơi, nhất là bên Thầy Thiền Tâm.
Hay như với
Thầy Tài Quang, bây giờ đây, tôi vẫn còn nhớ tới con chim két nuôi trong
sân chùa, cứ hễ có ai bước vào sân chùa Quang Minh thì két lại nói “Mô
Phật, Mô Phật” hệt như hình ảnh được ghi trong các kinh Tịnh Ðộ Tông,
khi chim chóc cây lá cũng nói pháp...
Một cách tự
nhiên, lòng tôi lúc nào cũng nhìn các pháp bình đẳng, không phân biệt,
chỉ là tùy cơ mà ứng phó. Bởi vì Phật đã dạy, chiếc bè pháp chỉ là để
qua sông, xong rồi thì phải bỏ bè. Thế nên, mỗi người tùy cơ duyên nhiều
đời, tùy hạnh nguyện và căn tính riêng, rồi sẽ tìm được bè pháp thích
hợp cho mình.
Vì mang ơn
thọ pháp từ các vị Thầy Tịnh Ðộ, nên tác phẩm “P’howa Commentary” được
chọn dịch nơi đây ra Việt Ngữ, một phần là để ghi ơn quý Thầy và một
phần là để người tu có thêm tài liệu tham khảo, mặc dù dịch giả vẫn còn
là một kẻ sơ học và ngôn ngữ lại quê mùa.
Thêm nữa,
Tịnh Ðộ đã trở thành pháp tu phổ biến tại Việt Nam, và là một phương
tiện gắn bó mang tính xã hội. Có rất nhiều gia đình tại Việt Nam gần như
không bao giờ tới chùa, chỉ khi có người thân lìa đời, bấy giờ mới tới
chùa cung thỉnh chư tăng ni hộ niệm. Từ các dịp tang chế như vậy, Tịnh
Ðộ đã tiếp cận tới đồng bào trước tiên như một pháp môn cầu nguyện cho
người thân về nơi bình an, và sau đó dùng làm một pháp tu cho người còn
lại.
Có quan hệ
nào giữa các pháp P’howa và Tịnh Ðộ Tông hay không? Có rất nhiều điểm
đồng, và một số điểm dị biệt. Nhưng một cách căn bản, hai pháp môn này
nhằm đưa thần thức người chết về cõi Phật A Di Ðà, nương theo hạnh
nguyện của Ngài. Ðứng về mặt khác, hai pháp này, cũng y hệt như tất cả
các pháp môn khác của nhà Phật, còn là nhằm xa lìa dòng sinh tử – mà hầu
hết các pháp nói chung chỉ là làm việc thiện, xa việc ác, ngộ lý vô
thường, chứng nhập vô ngã, tỏ rõ tâm thể, thấy được tánh Phật.
Chúng ta đã
trải qua vô lượng kiếp, luân hồi giữa biển sinh tử. Hết kiếp này rồi tới
kiếp khác. Kinh Na Tiên Tỳ Kheo (Milanda Sở Vấn) ví bằng hình ảnh, rằng
cuộc đời chúng ta như ngọn lửa, khi chaý hết cây đuốc này thì chuyền
sang cây đuốc khác. Vấn đề là cái gì đã dẫn dắt chúng ta đi vô lượng
kiếp như thế? Và làm sao để thoát khỏi dòng luân chuyển vô minh đó?
Kinh Na
Tiên trả lời rằng, chính dòng tâm thức đã lưu chuyển liên tục, biến hiện
vô chừng.
Kinh Pháp
Cú lại mở đầu bằng các câu:
Tâm dẫn đầu các
pháp.
Tâm là chủ, tạo tác.
Nếu nói hay hành
động,
Với tâm niệm bất
tịnh,
Khổ não liền theo
sau,
Như xe theo bò vậy.
(Bản Việt
dịch của Thầy Tịnh Minh)
Vì tâm là
dẫn đầu, vì tâm là ông chủ, nên để vượt qua dòng sông sinh tử, chúng ta
không thể nương tựa vào bất kỳ một pháp nào ngoài tâm. Ngay cả các pháp
môn Niệm Phật (Tịnh Ðộ), P’howa, Trì Chú, Thiền Minh Sát, Thiền Chỉ
Quán, Thiền Tổ Sư, và vân vân... đều chỉ là để hàng phục tâm.
Ngắn gọn,
tất cả các pháp môn nhà Phật chỉ là phương tiện để làm thanh tịnh tâm.
Và nếu thực sự cõi tâm đã thanh tịnh, thì hiển nhiên không còn pháp nào
cần nữa.
Chúng ta
nơi đây có thể trích dẫn lời Phật dạy:
“Này
Bhaggava, Ta nói như sau: ‘Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát,
khi ấy vị ấy biết thế giới là thanh tịnh’...” (Trường Bộ Kinh, Digha
Nikaya -- Kinh Ba-lê, Pàtika Sutta; Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Việt)
Chỗ này đơn
giản lắm: một khi đã chứng nhập Niết Bàn, thì làm gì còn có pháp nào
nữa, chính hiện tiền tịch tĩnh làm vui. Nơi đây cũng có thể nói ngược
lại, chính từ cảnh giới này mà muôn pháp mới thật là muôn pháp, nên mới
có sen nở, chim reo, suối hát... thảy thảy đều là chánh pháp.
Do vậy, vấn
đề chung cho tất cả các tông phái nhà Phật chính là: muốn giải thoát
sinh tử luân hồi, thì phải chứng nhập Niết Bàn.
Câu hỏi có
thể nêu nơi đây: đối với người đã giải thoát, thì thế giới này là thanh
tịnh, vậy thì tại sao chúng ta lại thấy thế giới này là bất tịnh, là đau
khổ?
Hòa Thượng
Chơn Thiện, trong cuốn Phật Học Cơ Bản, tập 4, in tại Sài Gòn năm 2001,
phần Giáo Lý Duyên Khởi có viết:
“Một lần,
theo kinh Pàtigamya (Tiểu Bộ), Ðức Phật Thích Ca nói đến thế giới vô vi
(Asankhàra) là thế giới hiện hữu ngoài các phạm trù "Ði, đến", "Sanh,
diệt" v.v... và tuyên bố đây là thế giới của đoạn tận Khổ đau, đoạn tận
Chấp thủ. Ðiều này nói lên rằng thế giới mà con người đang thấy và biết
là thế giới của chấp thủ.”
Nghĩa là,
phải rời Chấp Thủ thì thấy Thanh Tịnh?
Ðể làm sáng
tỏ hơn, nơi đây, có thể trích dẫn một đoạn lời Phật dạy về cảnh giới
Niết Bàn như sau. Các đoạn sau đây trích từ Tiểu Bộ - Khuddhaka Nikaya,
Kinh Phật Tự Thuyết – Udàna, do Hòa thượng Minh Châu dịch ra Việt ngữ.
“Này các
Tỷ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa,
không có gió; không có Hư không vô biên, không có Thức vô biên xứ, không
có Vô sở hữu xứ, không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này,
không có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các
Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có
diệt, không có sanh; không có an trú, không có chuyển vận, không có sở
duyên, đây là sự đoạn tận khổ đau.” (II) (Ud 80)
Ðoạn văn
trên cho thấy Niết Bàn không hề có trú xứ, và cũng không có thời gian --
không có đời này, không có đời sau – nghĩa là không hề có cái gì gọi là
ở đây, ở kia, quá khứ, hiện tại và tương lai.
Chính vì
vậy, pháp hàng phục tâm của nhà Phật không thể nào cho trụ vào bất kỳ
một nơi chỗ, dù là cái ở đây, hay vào bất kỳ một thời khoảng nào, dù là
cái bây giờ. Ngắn gọn, nói như kinh Kim Cang thì phải là “vô sở trụ.”
Cho nên, dù
có mượn phương tiện nào để tạm thời trụ tâm thì cũng chỉ nên xem như là
chỗ tạm.
Tuy nhiên,
còn có chỗ khác nên nhận rõ, trong câu niệm Phật và các bài thần chú đều
có uy lực của chư Phật.
Tôi từng có
một thời tu tập chú thuật ngoại đạo, trước khi vào tu các pháp Ðại Bi
Chú, Ngũ Bộ Chú, Niệm Phật... Dù chỉ là mới sơ cơ, nhưng tôi đã thấy mật
chú nhà Phật và mật chú ngoại đạo đều có uy lực. Nhưng thần chú nhà Phật
càng đọc, thì lòng càng dịu đi tham sân si. Tôi thực sự tu hành chưa tới
đâu, nhưng vẫn cảm nghiệm được nhiều linh ứng, cho nên tin rằng, những
người siêng năng tinh tấn hơn sẽ nhất định có nhiều lợi lạc hơn.
Nhưng cốt
tủy của các pháp môn đều phải là giác ngộ, nghĩa là thấy được thực tướng
các pháp. Ðó là lý do vì sao, trong các kinh nhật tụng và hầu hết trong
mọi thời khóa, mở đầu gần như luôn luôn là bài Ðại Bi Chú, và kết thúc
luôn luôn là bài Bát Nhã Tâm Kinh. Hay nói cách khác, mở đầu thời khóa
phải là mở lòng Từ Bi thương xót tất cả chúng sinh, và kết thúc phải là
Trí Tuệ Bát Nhã. Nói một cách khác nữa, phải vào bằng cửa Có, và ra bằng
cửa Không. Sau đó, thì Có với Không đều không làm bận tâm người tu được
nữa. Ðây chính là cảnh giới Niết Bàn vậy.
Xin ghi
thêm các lời Phật dạy về Niết Bàn như sau.
“Này các
Tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi,
này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị
làm, không hữu vi, thì ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh,
hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh,
không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình bày sự xuất ly
khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.” (III) (Ud 80)
“Cái gì có
nương tựa, cái ấy có dao động. Cái gì không nương tựa, cái ấy không dao
động. Không có dao động thì có khinh an. Có khinh an thì không có thiên
về. Không có thiên về thì không có đến và đi; không có đến và đi thì
không có diệt và sanh; không có diệt và sanh thì không có đời này, không
có đời sau, không có đời ở giữa. Ðây là sự đoạn tận khổ đau.” (IV) (Ud
81)
Vậy thì,
phải quán sát tâm ra sao để giải thoát? Cũng trong bản Kinh Udana do Hòa
Thượng Minh Châu dịch, Phật dạy pháp quán tâm như sau.
"Vậy này
Bàhiya, ngươi cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy sẽ chỉ là cái
thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là
cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri... Như vậy,
này Bàhiya, nhà ngươi cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, như với
ngươi, trong thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là cái nghe, trong
cái thọ tưởng sẽ chỉ là cái thọ tưởng, trong cái thức tri sẽ chỉ là cái
thức tri. Do vậy, này Bàhiya, ngươi không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya
ngươi không là chỗ ấy. Do vậy, này Bàhiya, ngươi không là đời này, không
là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau." (Kinh
I, 10)
Vấn đề trở
nên đơn giản: trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy, trong cái nghe sẽ chỉ
là cái nghe... rồi sẽ tới một lúc chứng ngộ vô ngã – nghĩa là, không hề
có cái gì gọi là tôi thấy hay tôi nghe, anh thấy hay anh nghe, chúng ta
thấy hay chúng ta nghe – nơi đó, “ngươi không là chỗ ấy... ngươi không
là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa...” và không còn
tìm được đâu cái ngươi đó nữa, và cũng không còn tìm đâu cái gọi là thời
gian tam thế nữa.
Có lẽ, các
đoạn kinh ngắn này đã được diễn giải theo các phương tiện khác nhau, và
rồi dẫn tới các pháp thiền khác nhau. Nhưng tất cả đều có những điểm
chung nhau, rằng trong cảnh giới giác ngộ này thì không có thời gian,
không có trú xứ, và là vô ngã (ngươi không là chỗ ấy). Ngắn gọn, đây là
cảnh giới vô sinh diệt.
Cũng nên
trích thêm vài đoạn từ bài Giới Thiệu Kinh Phật Thuyết Như Vậy
(Itivuttaka) của Hòa thượng Minh Châu:
“Tập
Itivuttaka - "Kinh Thuyết Như Vậy", thuộc Bộ Khuddaka Nikàya (Tiểu Bộ
Kinh) ....
“Một kinh
nữa, kinh số 43 xác nhận sự hiện diện của trạng thái giải thoát này,
ngay trong đời hiện tại, có mặt trên quả đất này:
"Này các tỷ
kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra.
Này các tỷ kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không tác
thành, không làm ra, thời ở đây không có thể trình bày sự xuất ly khỏi
sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra. Do vì này các tỷ kheo,
có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra, nên có
thể trình bày được sự xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành,
khỏi làm ra".
Nói ngắn
gọn phần này, nghĩa là, vì có một cái không sanh không diệt, cho nên mới
có thể giải thoát ra khỏi cõi sanh diệt.
Tới đây,
câu hỏi sẽ là: pháp môn Tịnh Ðộ có thể đưa người tu vào cảnh giới vô
sanh diệt hay không? Và làm sao một pháp môn niệm niệm không rời lại có
thể dẫn tới chỗ chứng ngộ vô ngã?
Có thể có.
Thử lấy hình ảnh thường dùng tương tự. Người tu phải quán sát tâm mình,
tương tự như chăn trâu. Trâu là hình ảnh ví cho tâm, và người chăn trâu
là học nhân lo điều tâm.
Sẽ có một
số người, trong khi niệm Phật, hốt nhiên trực nhận ra ba pháp ấn – Khổ,
Vô Thường, Vô Ngã – trong các niệm.
Sẽ có một
số người, trong khi niệm Phật, hốt nhiên trực nhận ra cả trâu với người
đều biến mất, vốn thật là Không, thì chuyện vô ngã hay không vô ngã đều
không còn chỗ để nói năng nữa.
Sẽ có một
số người, trong khi niệm Phật, hốt nhiên thấy tâm mình không lìa tâm
Phật A Di Ðà, bởi vì cả hai đều vào biển chân tâm một vị giải thoát –
nơi đó, tánh bản tịch thì là Niết Bàn, và tánh bản chiếu thì là Trí Tuệ.
Sẽ có một
số người, trong khi niệm Phật, hốt nhiên nghe được âm thanh của niệm và
vô niệm không lìa nhau, đều từ một thể như sóng không lìa nước.
Tuy nhiên,
không phải người tu nào cũng có chỗ thù thắng như thế. Và chính từ đây,
Tịnh Ðộ và P’howa mới tìm phương tiện để chuyển di thần thức.
Hãy hình
dung thế này, cõi Cực Lạc khởi lên do đại nguyện của Phật A Di Ðà cũng
giống như Ngài lập ra một trường đại học, nơi đó chúng ta nộp đơn xin
vào học bằng cách khởi nguyện tu Tịnh Ðộ.
Cõi này có
thật có hay không? Hay chỉ là phương tiện để khuyến tu thôi? Ngày xưa,
tôi cũng nhiều phen khởi nghi như thế. Kể cả ngay khi đọc thần chú và
thấy các cảm ứng lạ, kể cả có khi sức quán tưởng về Phật A Di Ðà mạnh
tới nỗi như thấy Ngài hiện trước mặt mình... lòng nghi vẫn không biết đó
có phải là ảo giác hay không. Chỉ tới sau nhiều năm tu pháp Tổ Sư Thiền,
thì bấy giờ mới hết lòng nghi nói trên. Tất cả đều là chiếc bè pháp để
đưa người qua sông.
Chỗ này
chúng ta thử lý luận như sau.
Trong 49
năm thuyết pháp, Phật đi nhiều nơi, thuyết nhiều pháp hội, cho mọi thành
phần khác nhau, và được tứ chúng hiểu theo các căn cơ khác nhau. Có khi
Phật nói, giải thoát là người đã chấm dứt Tham, Sân, Si. Có khi Phật
nói, giải thoát là người đã chấm dứt Tham (kinh Một Pháp, trong Tiểu Bộ
Kinh, bản dịch của Hòa Thượng Minh Châu). Có khi Phật nói, giải thoát là
người đã chấm dứt Sân (một kinh Một Pháp khác). Có khi Phật nói, giải
thoát là người đã chấm dứt Si (lại kinh Một Pháp khác nữa). Có khi Phật
nói, giải thoát là người đã thấy bản tánh của Tham Sân Si là Niết Bàn
(kinh Duy Ma Cật)... và vân vân.
Thử trích
dẫn một đoạn kinh như sau.
“Ðiều này
đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được
nghe:
“Này các
Tỷ-kheo hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.
Thế nào là một pháp? Sân, này các Tỷ-kheo, là một pháp các Thầy hãy từ
bỏ. Ta bảo đảm cho các Thầy không có tái sanh.” (Tiểu Bộ - Khuddhaka
Nikaya. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)
Tại sao lúc
nói bỏ một là đủ, lúc thì nói phải bỏ cả ba, lúc thì nói có gì đâu mà
bỏ... Không vào được chỗ tri kiến của Phật thì sẽ không bao giờ hiểu
nổi. Còn chấp vào từng chữ thì Phật thế nào cũng oan.
Do vậy, các
bài pháp khi được kết tập có lẽ đã được gạn lọc theo các vị trưởng lão
chủ trì. Sẽ có một số kinh không xuất hiện ở vùng này, hay thời này, mà
lại xuất hiện ở vùng khác, hay thời khác. Và rồi được diễn giải để ứng
dụng khác nhau. Hình như đó là lý do mà pháp môn P’howa xuất hiện ở Phật
Giáo Tây Tạng, và pháp môn Tịnh Ðộ xuất hiện ở Phật Giáo Trung Hoa – và
cả hai pháp này đều nhằm đưa người tu vãng sanh cõi Cực Lạc của Phật A
Di Ðà.
Nói theo
ngôn ngữ nhà Phật, không thể nói cõi Cực Lạc là có hay không, bởi vì tất
cả các pháp thực sự đều bất khả.
Nếu chúng
ta nói cõi Ta Bà có thật, còn cõi Tịnh Ðộ không có thật, thì đã phạm lỗi
chấp thật, điều mà Phật đã phi bác.
Nếu chúng
ta nói cõi Ta Bà hư ảo, còn cõi Tịnh Ðộ là thật có, thì đã phạm lỗi chấp
giả, điều mà Phật đã phi bác. (Ðiều này gần với khái niệm Thiên Ðường
của nhiều tôn giáo khác.)
Cho nên,
ngay khi chúng ta khởi niệm rằng cõi Ta Bà là thật có, thì lập tức cõi
Cực Lạc cũng thật có.
Tương tự,
ngay khi chúng ta khởi niệm rằng cõi Ta Bà là không thật có, thì lập tức
cõi Cực Lạc cũng không thật có.
Tất cả cái
nhìn đó đều sai, vì Phật đã phi bác bằng mệnh đề tứ cú, rằng cõi Ta Bà
không phải có, không phải không, không phải vừa có vừa không, và không
phải vừa không có vừa không không.
Với cái
nhìn này, thì cõi Cực Lạc trong thực tướng cũng ly tứ cú, tuyệt bách phi
vậy.
Tuy nhiên,
khi chưa thực sự giác ngộ thì đừng bao giờ nói là không có sinh tử luân
hồi. Nơi đây, chúng ta trích một lời Phật như sau.
Trong kinh
Pháp Cú, Ðức Phật có nói: "Trải qua vô lượng kiếp Luân Hồi, Như Lai đã
phải đi lạc đường, trong khi muốn tìm cho ra người thợ cất nhà này; khốn
khổ thay, Như Lai đã phải sanh đi, sanh lại triền miên".
Ðó là điều
để cảnh sách: Phật còn phải luân hồi triền miên như thế, huống gì là
chúng ta.
Mặt khác,
có một số vị đa nghi, lại nêu ra các giải thích về không gian, về vũ
trụ, nói rằng hiện thời nhân loại có những ống kính nhìn xa mười mấy tỉ
năm ánh sáng, mà có thấy cõi nào đâu. Ý họ muốn nói chỉ cõi trần gian
này là thật có, còn các cõi Phật, cõi chư Thiên, vân vân chỉ là ẩn dụ
thôi, không thật có. Than ôi, lấy nhục nhãn mà đo lường kinh Phật thì kể
như hết nước nói.
Chúng ta
nơi đây sẽ ghi lại kinh nghiệm thiền định của một nữ thiền sư người Aán
cuối thế kỷ 20, bà cụ Dipa Ma (1921-1989), chuyên tu và giảng dạy về
Thiền Minh Sát, một pháp môn bà cụ học được từ các vị sư Miến Ðiện. Cuộc
đời bà cụ ghi lại trong sách “Knee Deep In Grace: The Extraordinary Life
and Teaching of Dipa Ma” (sưu khảo của Amy Schmidt, bản Việt ngữ là
“Ngập Sâu Trong AÂn Sủng: Cuộc đời ly kỳ và Giáo pháp của Nữ Thiền sư
Dipa Ma,” do Thiện Nhựt phỏng dịch).
Trong những
người học pháp từ bà cụ có cả Jack Kornfield, Jack Engler, Michael
McDonald Smith – những vị thầy nổi tiếng đã khai sáng ra các trung tâm
chuyên dạy Thiền Minh Sát tại Hoa Kỳ.
Bà cụ Dipa
Ma sau khi học Thiền Minh Sát, được thầy dạy thêm các pháp về thần thông
– phân thân, tàng hình, đằng không, nhìn lại quá khứ, đoán chuyện tương
lai, vân vân... tất cả đều do sức định mà thành – các khả năng mà về sau
bà cụ rời bỏ vì cho là không cần thiết cho trí tuệ giải thoát. Ðiều
chúng ta muốn nói nơi đây rằng có những chỗ mà nhục nhãn không thể nhìn
thấy được, và cái gọi là kiến thức khoa học vẫn còn rất là xa với cảnh
giới mà các đại thành tựu giả nhìn thấy, thí dụ như về cõi chư Thiên.
[Bắt đầu
trích đoạn]:
“Ðôi khi
Dipa Ma và em bà là Hema đi đến trình pháp với thiền sư Munindra bằng
cách bất thần hiện hình lên trong phòng ông, và Dipa Ma cũng có lúc bước
ra khỏi phòng xuyên qua cánh cửa khép chặt. Cũng tựa như trò đùa, bà
đứng lên khỏi ghế, bước tới vách gần đó và đi ngang qua tường...
“Nếu bà đi
bộ một mình trong đêm tối, bà phân thân ra, thành có thêm một bạn đồng
hành đi bên cạnh, để khỏi bị ai khuấy phá.
“Khả năng
của Dipa Ma về địa hạt nầy đã được trắc nghiệm lại và được một nhóm khoa
học gia khác xác nhận. Thiền sư Munindra có quen biết với một giáo sư về
Cổ sử Ấn độ tại truờng Ðại học Magadh, ông ấy đã tỏ ra rất nghi ngờ về
các năng lực thần thông. Munindra mới đưa đề nghị chứng minh sự có thật
của các năng lực thần thông và cả hai ông cùng thiết lập một cuộc thử
nghiệm. Vị giáo sư liền nhờ một người sinh viên tín cẩn ngồi canh chừng
trong căn phòng Dipa Ma đang ngồi thiền, để chắc chắn rằng bà chẳng hề
rời khỏi chỗ ngồi của bà trong phòng. Ðến ngày đã hẹn trước, người sinh
viên kiểm nhận là Dipa Ma chẳng hề rời khỏi tư thế ngồi thiền, và cùng
lúc ấy, bà lại hiện lên trong văn phòng của vị giáo sư cách đó mười dặm
và trò chuyện cùng ông...
“Dipa Ma
còn có khả năng nhìn thấy hay nghe đến các biến cố xảy ra ở nơi khác và
vào một thời kỳ khác. Khi nhà ngoại giao Miến điện, U Thant, sắp lên
lãnh chức vị Tổng Thơ Ký Liên Hiệp Quốc, thì thiền sư Munindra biết U
Thant sẽ đọc một bài diễn văn nhậm chức, ông bảo Dipa Ma hãy đi vào
tương lai và ghi nhớ lại nội dung bài diễn văn đó. Bà liền đọc lại bài
diễn văn đó và thiền sư Munindra ghi âm vào máy. Một tháng sau, U Thant
đọc diễn văn tại Liên Hiệp Quốc, đúng từng chữ một với bài văn Dipa Ma
đã tiên đoán.
“Vượt thời
gian và không gian. - Dipa Ma bảo, bà có thể đi ngược lại thời gian để
đến nghe lúc Ðức Phật đang thuyết pháp. Khi tôi hỏi, bà làm cách nào
được như vậy, thì bà mỉm cười và bảo: "Tôi đi ngược lại từng tâm thời
qua tâm thời". Chắc là tôi đang nhìn bà với cả sự kinh ngạc, bởi vì bà
lại mỉm cười và nói, "Ồ, bạn chẳng thể nào làm như thế để Niết bàn (sự
giác ngộ) được hiện ra." Rồi bà cười to lên và nói thêm, "Ðiều ấy rất
buồn cười. Chỉ cần tập trung định lực cho thật nhiều thôi." Trông ánh
mắt bà, khi bà đang nói, bà thật là hết sức giải thoát và hết sức thanh
tịnh." -- Michael McDonald Smith...
“Munindra
bảo Dipa Ma hãy nhìn vào những gì đang xảy ra trong phòng bên cạnh, rồi
tả lại cho ông nghe. Rồi ông kiểm điểm lại. Sau đó, ông lại bảo bà nới
rộng khả năng thiên nhãn thêm, để nhìn càng lúc càng xa hơn nữa, đến
những điạ điểm mà ông có thể soát lại sự chính xác của lời bà mô tả. Thí
dụ như, bà chưa hề đặt chơn đến Bồ đề đạo tràng (Bodh Gaya), và thiền sư
bảo bà hãy mô tả lại nơi ấy -- cội Bồ đề ở về phía nào, những thánh vật
nào còn lưu lại từ thời cổ đại. Ông đã từng làm vị giám thủ bảo tàng
viện ở đấy trong nhiều năm và biết rõ cả những chi tiết ẩn mật của điạ
điểm nầy. -- Jack Engler
“Chẳng
những Dipa Ma có thể đến thăm viếng bất cứ nơi nào trên quả đất nầy, bà
còn có khả năng vượt đến các cảnh giới khác đã được mô tả trong vũ trụ
học của Phật giáo -- như cõi Trời và cảnh điạ ngục chẳng hạn. Bà mô tả
các loại chúng sanh đang sống nơi đó và những gì xảy ra chung quanh họ.
Ðôi khi, bà buột miệng kể lại các chuyến bà du hành sang các cảnh giới
khác lạ đó. Cõi Trời. - Trong ba tháng an cư ở Hội Thiền Minh Sát
(Insight Meditation Society), ở tiểu bang New England, vào những ngày
mùa thu trời trong xanh như pha lê, với vài vừng mây bạc trôi trên ngọn
cây rực rỡ ánh sáng và màu sắc, chúng tôi thường đi bách bộ bên ngoài.
Chúng tôi đến ngồi trên các phiến đá, bên bờ hồ, và mặt nước lặng tờ
phản chiếu các màu sắc đó.
“Có nhiều
người đến bờ hồ, và trong số đó có một người nói với Dipa Ma, "Cảnh nầy
chắc phải giống cảnh tiên trên cõi Trời" -- chúng tôi đều biết bà đã
từng du hành đến các cảnh giới khác. Và bà nhìn anh bạn rồi nói: "Không,
chẳng có chi giống cả. Cảnh đây khá đẹp, nhưng nó thật còn chưa đụng tới
cảnh Trời." -- Jack Kornfield.
“Thiên nhãn
của Dipa Ma đã giúp bà nhìn thấy cả tương lai của các học viên của bà.
"Bà tiên đoán về sự nghiệp giảng dạy của tôi rất tỉ mỉ, vào lúc mà tôi
chưa từng giảng dạy chút ít nào cả", Joseph Goldstein nói, "Tôi tin rằng
bà đã thấy rõ trước tất cả những thăng trầm của trọn đời tôi."
[hết trích
đoạn – trích từ
http://www.budsas.org ]
Cho nên,
chính ngay cõi của chư Thiên, mà các vị thành tựu giả đã nhìn thấy trong
khi chúng ta chưa thấy nổi, vậy mà nhiều người trong chúng ta lại dám lý
luận càn rỡ về cõi của chư Phật, cho rằng đó chỉ là phương tiện bày ra
cho người hạ căn thôi, thì là hết sức cuồng ngôn. Chỗ này nên cảnh giác,
nếu có trú xứ nào cho cõi Phật thì đó hiển nhiên không phải cõi Phật, mà
chỉ là hóa thành thôi (nếu có). Ngay như một số người học chú thuật
ngoại đạo, còn tiếp cận được cảnh giới vô hình, vậy mà nhiều người con
Phật lại hiểu nhầm Phật Pháp, lấy ngay cái không gian vũ trụ trong sách
khoa học ra mà cố ý giảng pháp làm sao cho “hợp khoa học.” Lại nữa, một
số vị tự nhận có căn cơ cao, chuyên về tu tập Tổ Sư Thiền, rồi lại giữ
thành kiến rằng Tịnh Ðộ là pháp của các bà già nhà quê.
Tất cả các
thành kiến đó đều không nên. Thật sự là có những cảnh giới vô hình, mà
chúng ta chưa biết hết. Và thật sự là, nếu thấu đạt Tổ Sư Thiền, thì có
ngồi hít thở sổ tức tự nhiên cũng là đạo, có ngồi tụng kinh niệm Phật tự
nhiên cũng là đạo, hay có chạy nhảy la hét ngoài sân banh cũng không
thấy mình lìa đạo – thì làm sao mà dám chê Tịnh Ðộ được.
Tới đây,
dịch giả xin mời gọi cùng đọc về pháp P’howa của Phật Giáo Tây Tạng, để
tham khảo thêm cho những người tu pháp Tịnh Ðộ. Trường hợp độc giả muốn
tìm hiểu thêm về pháp môn Tịnh Ðộ, xin mời đọc các bộ sách của cố Hòa
Thượng Thích Thiền Tâm, có bán ở hầu hết các tiệm sách Phật Giáo trong
và ngoài nước, hoặc lên các trang web Phật Giáo Việt Ngữ.
Dịch giả
không giữ tác quyền bản Việt dịch này, và bất kỳ ai cũng có quyền sao
chép, in ấn trong mọi phương tiện khả dụng.
Nguyên Giác Phan Tấn
Hải
Pháp môn
P’howa, sự chuyển di thần thức vào lúc từ trần, là một trong những
phương tiện chủ yếu của tôi để làm lợi ích người khác từ khi tôi còn là
một đứa bé. Trong kiếp này, và thực sự – từ những chuyện mà tôi được
nghe kể – trong kiếp trước của tôi, tôi đã có năng lực thành tựu p’howa.
Khi rời Tây
Tạng để lưu vong năm 1959, tôi nhận thức rằng năng lực về p’howa sẽ cực
kỳ hữu dụng cho các đồng hương tị nạn, phải trực diện với xâm lăng, mất
mát và các điều kiện xa lạ. Tôi đã bắt đầu truyền giảng pháp môn này
rộng rãi.
Tại Nepal
năm 1978, tôi dạy pháp môn này cho một nhóm học nhân người Tây Phương
lần đầu tiên, trong đó có người vợ tương lai của tôi, bây giờ có tên là
Chagdud Khadro. Cô ta đã đạt được các dấu hiệu thành tựu khá dễ dàng, và
qua nhiều năm, cô đã cho thấy nhiều lợi lạc trong việc tu tập pháp này.
Năm 1986, dựa vào các dấu chỉ rõ ràng xuất hiện trong khi thiền định,
tôi đã cho phép cô truyền dạy, và năm 1997 tôi cho phép cô truyền phép A
Di Ðà Phật quán đảnh (Amitabha empowerment). Tôi tự tin rằng cô sẽ không
dắt dẫn người khác đi lạc, và tôi đã thấy rằng những ai đã tu học với cô
đều thành đạt các dấu hiệu thành công. Tôi hy vọng rằng việc kết tập
pháp môn này sẽ tăng lòng tự tin cho những ai đã thọ nhận giáo pháp
p’howa. Tôi cầu nguyện rằng họ sẽ giải thoát vào cõi Tịnh Ðộ Cực Lạc vào
lúc từ trần.
Chagdud Tulku
Chagdud Khadro Ling
Três Coroas, Ba Tây
Tập sách
P’howa này được viết như một cẩm nang cho những ai đã thọ nhận giáo pháp
và sự huấn luyện từ một vị thầy về pháp môn p’howa. Nó không được viết
để đọc cho biết, và không ghi lại nhiều chuyện thật và kinh nghiệm cá
nhân vốn đã làm phong phú cho pháp môn truyền khẩu của Ngài Chagdud
Tulku Rinpoche trong nhiều năm. Sách này cũng không phải để trình bày
một cách uyên bác, vì tôi không có một mảy may ý định cho thấy mình là
học giả, dù là theo tiêu chuẩn Tây Tạng hay theo tiêu chuẩn Tây Phương.
Sách này chỉ đơn giản là một nơi để tham khảo, một nhắc nhở về các điểm
chủ yếu được trình bày trong giáo pháp khẩu truyền.
Tuy nhiên,
mặc dù sách rất là ngắn, nó lại mất một thời gian dài để viết ra, vì
pháp môn p’howa kết hợp tất cả các căn bản của việc tu tập và thành tựu
Kim Cang Thừa, và dẫn tới cái nhìn thâm sâu vào sự vận hành của thân,
khẩu và ý. Là một người tu kém nhanh nhạy, tôi phải mất một thời gian
mới đủ chiều sâu kinh nghiệm để có một công lực hữu dụng. Tôi trọn lòng
mang ơn Ngài Chagdud Rinpoche đã dạy tôi pháp môn p’howa hai mươi năm
trước ở Nepal, đã khuyến khích tôi kết tập các lời giảng của Ngài, và
cho phép tôi giảng dạy. Rinpoche đã có nhiều hóa hiện, cả bình an và
phẫn nộ, nhưng tận thâm sâu là lòng kiên nhẫn gần như vô bờ, với tôi,
với các chúng sinh. Không có sự sẵn lòng giảng dạy cho tôi, liên tục
điều chỉnh và mở rộng sự tu tập của tôi, chắc chắn là tôi sẽ không thể
giảng dạy và hướng dẫn người khác thành tựu p’howa.
Ðây cũng là
một đặc quyền lớn – và trách nhiệm lớn – khi làm việc với một bản văn
trân quý ẩn tàng của Rigdzin Longsal Nyingpo, từ lâu đã là một pháp sư
tôi kính ngưỡng. Sinh năm 1685, được tiên tri sẽ là một đại lạt ma, vào
lúc 7 tuổi, Ngài đã thông thạo đọc và viết, và đã xin xuất gia làm sư.
Ngài bị cha ngăn cản không cho đi tu, cho tới năm hai mươi tuổi, Ngài
trốn nhà tới Katog Gonpa. Nơi đó, Ngài theo học Dempa Konchog Gyaltsen
và thọ nhận pháp môn Ðại Toàn Thiện (Dzogchen), trực nhận bản tánh tuyệt
đối của mình. Là một học nhân cực kỳ tinh tấn, không hề cho phép những
gian khó gây trở ngại các kỳ thiền thất, Ngài được kính ngưỡng bởi các
vị hộ pháp, những vị đã tới phục vụ Ngài, và Ngài còn bị thử nghiệm bởi
các vị thần địa phương, và rồi chư thần đã lại thán phục Ngài.
Năm 28
tuổi, Ngài rời tu viện và tới tu tập trong các nơi cô đơn, nguy hiểm.
Chẳng bao lâu, Ngài gặp Dudul Dorje, vị thầy chính của Ngài, người đã
đón nhận Ngài y hệt như một người cha gặp lại đứa con trai. Dudul Dorje
nói với Ngài, “Con có các bản văn trân quý ẩn tàng đang chờ con khám
phá,” và cho Ngài lời khuyên. Một lần nữa, Longsal Nyingpo vào khóa ẩn
tu. Vài năm sau, khi Ngài 32 tuổi, Ðạo Sư Liên Hoa Sanh (Guru
Padmasambhava), trang phục như một hành giả, bước tới và trao cho Ngài
một danh mục các bản văn trân quý để đi tìm. Ngài tiếp tục ẩn tu cho tới
khi sự chứng ngộ đã trọn đủ.
Ðó sẽ là
khuôn mẫu suốt đời Ngài, làm hoàn hảo sự thành đạt trong ẩn tu. Sau khi
khám phá ra mỗi bản văn trong kho kinh văn trân quý ẩn tàng, Ngài lại
vào kỳ thất để bảo đảm là từng phương diện của pháp môn đó được đưa ra
hoàn toàn, và để lập một nền tảng mạnh mẽ cho những người sẽ tu học theo
Ngài. Những gì mà Ngài có thể thành tựu được bằng nỗ lực thì Ngài không
buông lơi. Ðặc tính này, cũng như với tư cách người khám phá các bản văn
trân quý ẩn tàng và là thành tựu giả, đã biến Ngài thành một đại hành
giả.
Rồi tới lúc
thích hợp cho Longsal Nyingpo khám phá bản văn trân quý ẩn tàng của một
pháp tu liên hệ tới hình tướng phẫn nộ của Guru Rinpoche. Bản văn này
được giấu gần một tu viện của một tông phái khác, và có lẽ không thuận
thảo với tông phái này, một bản văn trân tàng Phái Cổ Mật (Nyingmapa)
được khám phá gần đó. Khi Longsal Nyingpo gửi một thông điệp thỉnh cầu
sự hợp tác của tu viện trong việc khám phá kinh văn đó, thì các vị sư
mới âm mưu ngăn trở. Thế nên, khi Longsal Nyingpo cỡi ngựa tới tu viện
đó, Ngài gặp các lá cờ ghi các kinh cầu trên đó bị nhuộm đen, thay vì
phải đủ thứ màu như bình thường. Thay vì nhang trầm hương thơm, thì mùi
gay gắt của gugul, loại dùng để xua đuổi ma quỷ, tràn ngập trong không
khí. Thay vì các bài kinh cầu được ưa chuộng, các vị sư đã tụng niệm các
bài thần chú đầy giận dữ. Ngài xuống ngựa, họ dẫn Ngài tới một chiếc
ngai phủ vải đen, và Longsal Nyingpo mới nghĩ ra đó là các dấu hiệu toàn
hảo. Không biết rằng bản văn trân tàng ẩn kín sắp được khám phá là về
Wrathful Guru Rinpoche (Ngài Ðạo Sư Phẫn Nộ), các vị sư đã vô tình tạo
ra sự liên lập tốt nhất cho sự hoàn thành một sinh hoạt đầy phẫn nộ.
Một hôm,
trong khi Longsal Nyingpo đang đi trong xứ Tromtar, nơi sinh của Chagdud
Rinpoche, một người đàn ông hiến tặng Ngài một nồi đồng xinh đẹp. Vợ của
người này thì rất thích chiếc nồi đồng, nên trong lòng cứ tiếc của.
Longsal Nyingpo, nhìn được tâm niệm của bà này, mới lấy một sợi lông
ngựa và cắt chiếc nồi ra làm hai nửa bằng nhau, và chỉ nhận một nửa làm
món cúng dường.
Sự hiện
diện của vị thánh tăng này đã gây ra sự kính ngưỡng từ những người quanh
Ngài. Con ngựa của Ngài đã để lại một dấu chân trên đá, và khi ngựa này
chết và được hỏa thiêu, người ta thấy để lại xá lợi trong tro. Tương tự,
khi con bò yak của Ngài chết, người ta thấy các hình ảnh hiển lộ nơi
xương của nó.
Di sản giáo
pháp của Rigdzin Longsal Nyingpo thì siêu đẳng. Cùng với thầy của Ngài,
Dudul Dorje, Ngài đã tạo môi trường giác ngộ tại Katog Gonpa. Ðặc biệt
vào cuối đời, Ngài tập trung khả năng để củng cố Katog. Người học trò ưu
tú nhất của Ngài là con trai Ngài, Sonam Detsen, kiếp sau của Dudul
Dorje. Dòng phái Longsal vẫn còn là một trong những dòng phái chính được
tu tập ở Chagdud Gonpa tại Kham, phía Ðông Tây Tạng.
Longsal
Nyingpo viên tịch năm 68 tuổi, lúc đó thị hiện nhiều dấu hiệu phép lạ,
và các xá lợi dị thường được tìm thấy trong tro hỏa thiêu.
Bản kinh
văn về pháp môn p’howa của Ngài Rigdzin Longsal Nyingpo đã đưa tới những
uy lực giải thoát, và có chứng cớ hiển hiện trên cuộc đời – và sự chết –
của người tu tập hôm nay. Những người được liệt kê dưới đây đã cho thấy
dấu hiệu rõ ràng sự thành tựu pháp môn p’howa. Tất cả họ đều sống cuộc
đời cư sĩ bình thường, và đối với nhiều người trong đó thì pháp môn
p’howa là liên hệ duy nhất của họ đối với Phật Giáo Tây Tạng, nhưng
trong vô lượng kiếp luân hồi trong dòng sinh tử, họ đã tìm được giải
thoát vào trong cõi Tịnh Ðộ Cực Lạc. Nơi đó, họ hóa thân thành các vị bồ
tát, và không còn gì ngăn trở sự thành tựu giác ngộ tuyệt đối của họ.
Alice
Miranda, một phụ nữ Canada, đã chết vì ung thư ngực. Việc bà tu tập pháp
môn p’howa được hộ niệm bởi Helen Orr.
Terri Laska
chết vì ung thư phổi. Bà được hộ niệm bởi các thành viên trong tăng thân
Chagdud Gonpa trong khoảnh khắc sau khi chết.
Reece Smith
chết vì ung thư ruột. Sau khi được Chagdud Rinpoche dạy pháp môn p’howa
năm 1981, ông tu tập thường xuyên. Vào khoảnh khắc trước khi chết năm
1996, ông chỉ đơn giản nói, “P’hat, p’hat, p’hat,” tự chuyển di thần
thức của mình với các dấu hiệu thù thắng. Thành viên tăng thân Jeannie
Chapman là một trong những người hộ niệm lúc đó cho Smith.
Premal Gold
đã đến với Chagdud Rinpoche sau khi bị chẩn đoán có bệnh ung thư ngực.
Mặc dù bà tu theo một tôn giáo không phải Phật Giáo, bà có lòng tin vào
pháp môn p’howa và đã tinh tấn tu tập trong khoảng thời gian ngắn ngủi
còn lại của đời mình. Ðược hộ niệm bởi các thành viên tăng thân Chagdud
Gonpa vào giây phút lìa đời, bà đã chết với các dấu hiệu thù thắng.
Neilly Joe
Gracia, một cậu bé 8 tuổi trong tăng thân, đã chết năm 1994 vì ung thư
não tại Rigdzin Ling, trụ sở ở Bắc Mỹ của Chagdud Rinpoche. Cậu bé được
vây quanh bởi các thành viên tăng thân, và được hộ niệm ngay tức khắc
sau khi chết bởi chính Chagdud Rinpoche, người đang ở Moscow vào lúc đó.
Sau nhiều cú điện thoại và sự bất định về các dấu hiệu, Ngài Rinpoche
cuối cùng nói, “Tôi biết là thần thức của cậu bé đã được chuyển di,” và
cho các lời dạy cụ thể để dò tìm các dấu hiệu [siêu sinh]. Các dấu hiệu
đã đúng như lời Ngài mô tả [qua điện thoại].
Carmen
Gomez chết tại Rio de Janeiro năm 1995 vì bệnh tim, được hộ niệm bởi con
gái là Clarita Maia, và bởi Ngài Chagdud Rinpoche. Mặc dù bà không phải
là người tu tập, bà vẫn hiển lộ các dấu hiệu chuyển di [thần thức vào
tịnh độ].
Sự hộ niệm
của các thành viên tăng thân được huấn luyện trong pháp môn p’howa thì
rất giá trị trong giây phút lìa đời. Một trong những cảm hứng của tôi
khi viết sách này và trong việc hướng dẫn người tu về phép chuyển di
thần thức chính là sự thành lập thêm các nhóm hộ niệm p’howa bởi những
người cùng tu với nhau và cùng lập nguyện giúp hộ niệm lẫn nhau khi có
ai trong nhóm từ trần. Các nhóm như thế đã được thành lập ở Hoa Kỳ, Ba
Tây, Uruguay và Uùc Ðại Lợi, nhưng vẫn còn cần nhiều hơn nữa. Cuốn sách
này để hoàn tất một lời hứa tôi đã nói với nhiều người trong các nhóm
này. Tôi hy vọng làm nhiều hơn nữa. Và, sâu thẳm, tôi hy vọng rằng họ và
tất cả những ai có liên hệ tới pháp môn thù thắng p’howa sẽ tìm được
giải thoát trong cõi tịnh độ của Phật A Di Ðà và sự giải thoát tối hậu.
CHÚ GIẢI VỀ P’HOWA
Tu tập pháp
môn P’howa, tức là pháp môn chuyển di thần thức vào giây phút từ trần,
sẽ làm người tu tự tin vào đời sống của mình, vào sự tu tập tâm linh của
mình, và vào lúc hấp hối của mình. Trong đời sống thường ngày, ngay cả
những sinh hoạt bình thường nhất cũng mang ý nghĩa mới, khi được nhìn
xuyên qua lăng kính của vô thường và sự chết. Pháp tu p’howa đi thẳng
vào sự kiện rằng chết là điều tất yếu, và rằng với mỗi giây phút thì
chúng ta tới gần cái chết hơn. Bám víu vào những sự ổn định hư giả sẽ
không ngăn cản hay làm chậm hướng đi về cõi chết. Sự tự tin có được là
nhờ dùng lấy bất kỳ những gì sinh khởi trong vở kịch của vô thường như
là cơ hội để làm thanh tịnh tâm mình, và sinh khởi phước đức. Tự tin
cũng đến từ sự trực nhận về cái [tự tánh] bất động, chơn thực, và tuyệt
đối, và có thể kinh nghiệm điều này liên tục. Giáo pháp và tu tập pháp
môn p’howa dẫn tới lòng tin xác thật vào hướng đi trong cõi thực tại
tương đối, và lòng tin xác thật khởi lên từ sự chứng ngộ cái bản tánh
tuyệt đối của thực tại. Cắt xuyên vào sự vượt qua cái chết sẽ cho phép
chúng ta thấy rõ ràng tầm mức quan trọng của thân người.
Khả năng
thực hiện pháp môn p’howa bảo đảm rằng ngay cả nếu cái chết can thiệp và
cắt ngắn cơ hội tu tập trong kiếp này, người ta vẫn có thể tiếp tục
đường tu trong các điều kiện thù thắng. Ngay cả khi với nghiệp lực chưa
thanh tịnh, học nhân cũng không bị kéo lùi vào cõi luân hồi quanh co và
bất trắc. Thêm nữa, pháp môn p’howa giúp tu tập tốt đẹp trong các giai
đoạn phát triển và hoàn tất Phật Giáo Kim Cang Thừa, kết hợp các phương
diện của ba pháp môn cao nhất – tức là các pháp du già maha, anu và ati.
Tu tập vững vàng trong p’howa cũng thiết lập căn bản vững chắc cho việc
học các pháp môn Kim Cang Thừa khác và để đạt các dấu hiệu đặc biệt của
sự thành tựu Kim Cang Thừa.
Tu tập pháp
p’howa làm cho học nhân tự tin trong lúc hấp hối và lúc lìa trần bằng
cách cung cấp cho học nhân phương tiện để giải thoát thần thức mình vào
cõi tịnh độ Cực Lạc của Phật A Di Ðà, hay ít nhất cũng được tái sinh tốt
đẹp hơn để có cơ hội tu tập. Trong pháp tu có tên là “pháp p’howa của ba
sự chứng nhập,” kênh giữa được nhận thức như là con đường, quả cầu thần
thức (LDG: hay giác linh của người từ trần) thì như người du hành trên
con đường, và tâm của Phật A Di Ðà thì như là nơi đến. Trong khi tu tập,
các dấu hiệu vật lý thực sự có khởi lên, cho thấy rằng một kẽ hở nhỏ đã
xuất hiện tại luân xa đỉnh đầu [của học nhân] và con đường này sẽ dùng
chuyển di thần thức vào giây phút lìa trần. Những dấu hiệu này thường
xảy ra trong vòng một ngày hay hai ngày, khi học nhân tu tập trực tiếp
với một vị thầy p’howa, xảy ra trong vòng một tuần hay hai tuần nếu học
nhân tu tập đơn độc. Sau đó thì việc tu tập làm cho pháp p’howa gần như
một phản xạ tự động, làm cho học nhân tự tin rằng, ngay cả trong các
hoàn cảnh trở ngại, họ vẫn có thể nhớ tới và thành tựu việc chuyển di
thần thức.
Pháp môn
p’howa của ba sự chứng nhập là phần thứ tư trong năm phạm trù của
p’howa, và trao truyền từ nhiều dòng phái. Ba phạm trù đáp ứng trực tiếp
tới tam thân (LDG: ba thân của Phật).
P’howa Pháp
Thân là sự chuyển di thần thức vào trạng thái tỉnh thức tự tại, xa lìa
thời gian (Tạng Ngữ: yeshe) – vào không gian căn bản, Tánh Không.
P’howa Báo
Thân là sự chuyển di thần thức vào trạng thái tâm thức bất nhị, trong
sáng của sự hiện hữu thanh tịnh khởi lên liên tục từ Tánh Không.
P’howa Ứng
Thân là sự chuyển di thần thức vào trạng thái của tâm từ bi vô lượng.
Pháp môn
p’howa của ba sự chứng nhập thì liên hệ tới sự chuyển di ứng thân, trong
đó học nhân chuyển di thần thức vào sự hóa hiện ứng thân của từ tâm của
Phật A Di Ðà, tức là cõi tịnh độ Cực Lạc.
Pháp môn
p’howa pháp thân, báo thân, và ứng thân có thể thành tựu phù hợp với các
giai đoạn thân trung ấm của người chết (Tạng ngữ: bardo), hay là xuyên
qua các phương pháp thiền định trong đời người. Ðiều này sẽ được giải
thích kỹ càng hơn trong chương nói về thành tựu p’howa vào lúc lìa đời.
Phạm trù thứ năm, gọi là “pháp p’howa của cứu độ từ bi,” nói về việc
chuyển di thần thức của người khác. Ðiều này sẽ được giải thích trong
cùng chương.
Pháp p’howa
của ba sự chứng nhập liên hệ tới các phương diện của các pháp du già
maha, anu, và ati, và đòi hỏi sức quán tưởng mạnh. Học nhân cũng phải
tập cho có khả năng để thư giãn tạm thời sức tập trung của mình trên các
hình ảnh của sự quán tưởng, an nghỉ tâm mình trên kinh nghiệm bất nhị về
sự không cách biệt giữa tâm mình và tâm Phật A Di Ðà, rồi lại quán tưởng
tiếp tục. Như thế, p’howa cũng là pháp tu thù thắng cho các giai đoạn
phát triển và thành tựu Kim Cang Thừa.
Là một
người bình thường, chúng ta bị ràng buộc bởi các cảm nhận hạn chế của
thân xác mình như là một cá thể có thực, cụ thể. Nhưng ngay cả một phản
chiếu của khoảnh khắc lại nhắc nhở chúng ta rằng thân xác mình liên tục
biến đổi, từ khi sanh cho tới lúc chết. Chúng ta không thể tìm ra một
khoảnh khắc của sự ổn định, không một mảy may gì về cái hiện hữu nội
tại, về bất cứ thứ gì hơn là sự liên lập tương thuộc của các phần tử và
chức năng mà chúng ta gọi là “thân” của mình cho cái thời khoảng của
kiếp này. Sau khi chết, khi thân thể không còn điều khiển bởi thần thức
nữa, thì cái hình tướng đó tan rã.
Ngoài cái
sắc tướng ra, chúng ta còn buộc vào với thọ, tưởng, hành, và thức, tất
cả chung nhau là ngũ ấm ngăn trở sự tỉnh thức vô ngại. Khi, xuyên qua
pháp niệm tưởng về tính vô thường và trí huệ quán chiếu, chúng ta bắt
đầu chứng ngộ Tánh Không của các ấm, chúng ta cũng bắt đầu giải thoát
khỏi cái hư vọng do chúng tạo nên. Xuyên qua phương pháp chuyển hóa của
Kim Cang Thừa về tu tập giai đoạn phát triển, đặc biệt là pháp quán
tưởng bổn tôn (LDG: quán tưởng về vị Phật hay Bồ Tát bảo hộ), chúng ta
bắt đầu kinh nghiệm trực tiếp về hiển lộ thanh tịnh thân khẩu ý của bổn
tôn.
Một cách
tận cùng, pháp tu Kim Cang Thừa đòi hỏi chúng ta chứng ngộ rằng tất cả
những gì khởi lên như hình tướng, không cách biệt khỏi Tánh Không của
nó, chính là hiển lộ của hình tướng vị bổn tôn.
Tương tự,
tất cả những gì khởi lên như âm thanh, không cách biệt với Tánh Không,
chính là âm thanh câu thần chú của bổn tôn.
Tất cả
những gì hiển lộ như tâm ý, trong Tự Tánh vẫn là Không, chính là hiển lộ
của tâm đấng bổn tôn.
Việc gìn
giữ ba nghiệp thanh tịnh như thế vào lúc hấp hối – khi thân xác đang hư
rã, khi âm thanh tan dần vào hỗn loạn, khi ý thức và cảm xúc có hướng
mất kiểm soát – thì quả là cực kỳ khó khăn.
Chúng ta
thực sự không thể mong đợi thành công, trừ phi chúng ta đã tu tập kỹ
càng trong kiếp này, cắt đứt khỏi những ràng buộc và trở ngại vốn kéo
trì chúng ta vào hư vọng và gây cản trở cho tự tánh thanh tịnh của tất
cả các hiện tướng.
Bằng cách
nhận biết rõ ràng về cái chết đang đến và bằng cách vận dụng phương pháp
thiền định Kim Cang Thừa phi thường, người tu pháp môn p’howa sẽ tăng
thêm cơ hội có những giây phút cuối giữ tâm bình an và từ bi mà lìa
trần, chuyển thần thức trực tiếp từ cõi này vào cõi tịnh độ của Phật A
Di Ðà. Khi vững vàng thấu đạt pháp môn p’howa, học nhân không còn cần
hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi để chết an ổn. Thay vào đó, [với] sự nhận
biết vạn pháp chỉ như trò bày vẽ, mà tự tánh vạn pháp vốn thanh tịnh, sẽ
dẫn tới tâm bình an và hợp nhất với cái vọng cảnh như huyễn như mơ của
cái đang-chết và, khi thời điểm chín mùi, sẽ đưa chúng ta vào cảnh giới
giải thoát xa lìa vọng cảnh luân hồi.
Theo văn
kinh có tên là “Rolling of Drums” (Ðánh Trống Pháp), vô lượng kiếp về
trước có một vương quốc an vui mà vị vua rất mực thờ kính vị Phật thời
đó, Ðức Phật Lokeshvaraja. Vị vua đã rời bỏ ngai vàng, trở thành một vị
sư, và nguyện thành đạt giác ngộ. Ngài khởi tâm đại bi, phát lên 48 lời
nguyện, và nói rằng sẽ không thành Phật nếu bất kỳ lời nguyện nào trong
đó chưa thành tựu. Với những lời đó, trái đất rung chuyển và mưa hoa bay
xuống từ khắp trời. Những lời ngợi ca vang lên, và cùng với đó là lời
tiên tri rằng vị sư này sẽ chắc chắn thành Phật. Và Ngài đã thành Phật,
danh hiệu Phật A Di Ðà.
Trong kiếp
làm một vị bồ tát tu sĩ, Ngài đã thấy rằng có vô lượng cõi tịnh độ cho
các vị chứng ngộ, những người đã chiến thắng được vọng tâm, nhưng không
có những cõi như thế cho những ai còn gian nan trên đường tu. Trong 48
lời nguyện của Ngài có một ước nguyện tạo ra một cõi thanh tịnh cho tất
cả những ai nghe được tên Ngài, mong muốn vào cõi đó, xây dựng cội rễ
công đức, và hồi hướng các công hạnh phước đức để được siêu sinh vào cõi
tịnh độ đó. Ý nguyện của Ngài mạnh tới nổi Ngài thề không thành Phật,
nếu Ngài không thành tựu được một cõi tịnh độ như thế.
Trong tâm
thức giác ngộ, Phật A Di Ðà vẫn luôn duy trì trong sự chứng biết pháp
thân, trong sự nhận biết không gián đoạn về bản tánh tuyệt đối, trong
cái rộng lớn bao trùm hết thảy. Nhưng cái bản chất rỗng rang, cái không
gian căn bản, của pháp thân thì không đơn giản là cái không gì hết; mà
nó mang giữ tròn đầy năng lực để phát khởi không ngưng nghỉ sự hóa hiện
của báo thân và sắc thân. Các cảnh giới thanh tịnh báo thân và các cung
điện cõi trời sẽ hóa hiện ra cho các vị Phật và các bồ tát thập địa,
những người đã xa lìa phiền não, nên có thể kinh nghiệm và hân hưởng các
hiện tượng thanh tịnh như thế. Các hóa hiện sắc thân sẽ khởi lên tùy
theo nghiệp chúng sinh sáu cõi.
Cõi Cực Lạc
(Dewachen), tức cảnh giới của Niềm Vui Lớn đã hóa hiện ra nhờ nguyện lực
Phật A Di Ðà, có thể đón nhận những chúng sinh chưa trở thành bồ tát
thập địa, nhưng chỉ nhờ lòng tin vào Phật A Di Ðà và mong muốn được sinh
vào cõi thanh tịnh của Ngài. Nơi đó, họ có thể tiếp tục đường tu để tới
giác ngộ trong một cõi thuần an lạc, vượt ra ngoài những khổ đau. Trong
Phật Giáo Kim Cang Thừa, hướng dẫn thần thức học nhân để tái sinh vào
Cõi Cực Lạc thì được thành tựu hiệu quả nhất qua pháp môn p’howa.
Ngay cả
người chưa thành đạt mức độ thanh tịnh cao cũng có thể, xuyên qua lòng
tin mãnh liệt và nguyện lực, được siêu sinh vào Cõi Cực Lạc. Sau khi
chết, thần thức người đó được bao bọc bởi một hoa sen cho tới khi hầu
hết các chướng ngại biến mất và cõi tịnh độ hiển lộ. Khi hoa sen nở, học
nhân sẽ thấy một vùng đất của những phần tử hòa hài, không còn các xung
khắc, với không gò đống, nguy hiểm hay có thể gây hại. Nhiệt độ tự điều
chỉnh theo ý muốn cá nhân. Hoa trải thảm trên mặt đất và gió thổi nhẹ
nhẹ, mang mùi hương dễ chịu. Nhiều loại chim kỳ diệu hát các bài ca giàu
âm điệu của Phật Pháp, chuông vang dịu dàng, và cây rung chuyển cũng
mang theo diệu nghĩa.
Cung điện
sáng ngời của Phật A Di Ðà đứng nơi giữa Cõi Cực Lạc, và Ðức Phật ngồi
trong đó, trên một ngai được mang bởi tám con chim công. Nhìn vào khuôn
mặt của Phật A Di Ðà sẽ làm thanh tịnh nhiều phiền não, thọ nhận giáo
pháp trực tiếp từ Ngài sẽ mở vô lượng cánh cửa vào thiền định. Học nhân
có thể thọ nhận giáo pháp và viếng thăm các cõi tịnh độ khác tùy ý mình.
Sau cung
điện là một cây bồ đề vĩ đại với từng chiếc lá mang một câu thần chú và
trĩu nặng châu báu. Nhìn cây này sẽ bảo vệ được mắt nhìn, chạm xúc vào
cây sẽ có sức khỏe, và nghĩ về cây sẽ mang tới sức định kiên cố.
Các chúng
sinh trong Cõi Cực Lạc có thân vàng, và khi họ sắp giác ngộ thì ba mươi
hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của thân Phật sẽ xuất hiện. Các thành
viên của tăng đoàn là các vị sư, cũng như chính Ðức Phật A Di Ðà, nhưng
nhiều hình tướng khác của các thiện tri thức cũng cư trú nơi đây.
Không sự
căng thẳng, buồn nản, tiêu cực, hay đau khổ nào làm ngăn trở sự toàn hảo
của Cõi Cực Lạc, nhưng học nhân vẫn không bị cô lập khỏi các hoàn cảnh
của chúng sinh xoay vòng trong cảnh luân hồi. Học nhân có thể chứng kiến
hoàn cảnh của các chúng sinh, và cảm nhận cùng lúc nỗi đau tương đối của
họ và bản chất hư vọng tuyệt đối của chúng. Bởi vì lòng từ bi của học
nhân ở ngôi bồ tát bất thối thì không bị ngăn trở, học nhân có thể lựa
chọn trở về đầu thai trong cõi luân hồi, không phải vì nghiệp lực lôi
kéo nhưng là vì lòng thương xót và muốn cứu độ chúng sinh. Biết những
phẩm chất kỳ diệu của Cõi Cực Lạc và khởi tâm mong muốn sinh vào cõi
này, đó là nguyên do đầu tiên để được siêu sinh vào cõi tịnh độ này.
Nguyên do
thứ nhì [để vãng sinh vào tịnh độ] là khởi tâm thanh tịnh: từ lòng đại
bi thương xót chúng sinh, chúng ta mong cầu giác ngộ để đưa khắp chúng
sinh tới bờ giác ngộ. Sự thức tỉnh bồ đề tâm khởi ra khi các phẩm cách
thanh tịnh của Phật Tánh của chúng ta – các tâm từ, bi, hỉ và xả – trào
lên xuyên qua những lớp che của lòng ích kỷ bình thường xoay quanh tự
ngã. Về phương diện pháp môn p’howa, thế nghĩa là chúng ta có ý định
thành tựu pháp môn này và sử dụng nó như phương tiện tự giải thoát khỏi
cảnh luân hồi với mục đích làm lợi ích người khác. Do đó, chúng ta sẵn
lòng muốn lắng nghe và suy nghĩ về giáo pháp, và tu tập thiền định. Pháp
môn p’howa tự thân trở thành vận động trường để tích cực tham dự vào bồ
đề tâm xuyên qua sáu pháp toàn thiện ba la mật của bố thí, trì giới,
tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và trí huệ. Ðiều này sẽ được bàn luận
sâu thêm trong chương về tu tập p’howa.
Việc huân
tập công đức là nguyên do thứ ba để siêu sinh vào Cõi Cực Lạc, và điều
này thành tựu bằng cách thực hiện Cúng Dường Bảy Phần, pháp này cũng cốt
yếu với nhiều pháp môn khác. Khi hướng về Phật A Di Ðà, pháp này gồm các
phần sau:
1. Kính Lễ.
Hãy quán tưởng Ðức Phật A Di Ðà trên hư không phía trước chúng ta, chúng
ta kính lễ hình tướng (thân) giác ngộ của Ngài bằng cách chắp hai tay
lên đỉnh đầu chúng ta, kính lễ lời nói (khẩu) giác ngộ của Ngài bằng
cách đưa hai tay về tới cổ, và kính lễ tâm (ý) giác ngộ của Ngài bằng
cách đưa hai tay về giữa ngực. Rồi chúng ta lạy bằng toàn thân, quán
tưởng có thân phụ bên phải của mình, có thân mẫu bên trái của mình, có
loài quỷ dữ sau lưng của mình, có kẻ thù nơi phía trước của mình, và có
tất cả chúng sinh vây quanh chúng ta. Tất cả đều cùng quỳ lạy với chúng
ta, miệng đọc lên kinh nguyện và quán tưởng Phật A Di Ðà. Học nhân cũng
có thể quán tưởng thấy mình hóa hiện ra vô lượng sắc thân đang quỳ lạy
kính lễ Phật A Di Ðà. Pháp quỳ lạy là thuốc trị độc dược của cao ngạo.
2. Cúng
Dường. Chúng ta cúng dường Phật A Di Ðà một đàn pháp mạn đà la vô tận.
Một vũ trụ ba ngàn nếp gấp, đại diện cho hiện tượng bất động, dùng như
một vật dung chứa, và tất cả chúng sinh – tức hiện tượng sinh động – là
những gì được chứa trong đó. Món cúng dường này được sắp xếp như một vũ
trụ khổng lồ, với núi Tu Di nơi trung tâm, vây quanh bởi bảy vòng núi
vàng trồi lên từ biển nước thanh tịnh. Nơi đỉnh núi Tu Di là các cõi
trời. Trong các phương hướng chính, là bốn lục địa, mỗi lục địa nằm giữa
hai tiểu lục địa, gồm cả lục địa hướng nam của chúng ta với các cây như
ý. Chúng ta quán tưởng các thiên nữ đang cúng dường những hình tướng, âm
thanh, mùi hương dễ chịu, những vật để chạm xúc và những món ăn để nếm,
cũng như tám biểu tượng thịnh vượng, bảy thứ trang phục hoàng gia, và
tám bảo vật – nghĩa là mọi thứ có thể làm vui bởi sự quý giá, bởi vẻ
đẹp, hay bởi tính linh thánh của chúng. Cúng dường là thuốc chữa trị sự
gắn bó ích kỷ.
3. Sám Hối.
Ðối trước Phật A Di Ðà, chúng ta bày tỏ sám hối về tất cả những gì chúng
ta đã làm sai trái qua thân, khẩu và ý nghiệp. Chúng ta nguyện không
phạm lỗi nữa, và đón nhận sự thanh tịnh hóa của Phật A Di Ðà trong hình
thức ánh sáng bao trùm khắp và hoàn toàn làm trong sạch chúng ta. Sám
hối là thuốc chữa trị sân hận.
4. Hoan Hỷ.
Bằng cách chân thực biết ơn và vui mừng với công hạnh của những người
cầu nguyện và quán tưởng về Phật A Di Ðà và, một cách tổng quát hơn, của
những người đã vào con đường giải thoát, chúng ta đối trị lòng ghen tị
và ganh đua mà đôi khi khởi lên đối với người tu khác. Bất kỳ ai chân
thành hoan hỷ vì công hạnh những người khác cũng thu nhận cùng công đức
như người thành tựu công hạnh đó.
5. Thỉnh
Pháp. Việc thu nhận kiến thức siêu việt được thành tựu xuyên qua nghe
(văn), suy lường (tư) và thiền định (tu) về giáo pháp. Ðiều này khởi đầu
với một yêu cầu học pháp. Ðặc biệt, chúng ta có thể xin học pháp về
p’howa và các đề tài liên hệ, nhằm chữa trị sư si mê của chúng ta.
6. Cung
Thỉnh Chư Thánh Tăng Ở Lại Trần Gian. Chúng ta cầu nguyện rằng những vị
giác ngộ sẽ vẫn ở lại với chúng ta và đừng vào niết bàn. Bằng cách nhìn
thấy các vị sư dạy chúng ta pháp môn thiền định về Phật A Di Ðà cũng
hoàn toàn không tách biệt với Phật A Di Ðà, chúng ta dần dần đạt cái
nhìn thanh tịnh về những gì linh thánh. Ðiều này chữa trị tà kiến.
7. Hồi
Hướng. Thiền định về bất kỳ phương diện nào của Phật A Di Ðà cũng có
công đức lớn. Cúng dường công đức này cho khắp các chúng sinh sẽ làm lớn
rộng thêm công đức này, và không làm cho công đức này mất hay suy giảm
đi. Qua sự hồi hướng, công đức khởi lên bởi một người sẽ làm tăng công
đức của tất cả chúng sinh, cũng chắc chắn như dầu đổ thêm vào đèn bởi
một người sẽ giúp duy trì và tăng thêm ánh sáng chia xẻ bởi nhiều người
trong phòng. Sự hồi hướng chữa trị tâm nghi ngờ, mà tâm này có thể khởi
lên về khả năng của mình để thành tựu mục tiêu tối hậu để giải thoát tất
cả chúng sinh, không bỏ sót ai, vào trong cõi thuần vui của Tịnh Ðộ. Sự
hồi hướng là nguyên do thứ tư để siêu sinh vào Cõi Cực Lạc.
Sự hiện hữu
của chúng sinh đã bị điều kiện hóa bởi sự sinh, sự chết, và sự chuyển
tiếp từ cái chết sang sự tái sinh. Sức khởi động không ngưng nghỉ của
nghiệp lực đã làm cho đời sống vô thường. Chúng ta liên tục luân hồi
xuyên qua những trạng thái khác nhau của hữu thể, và trong pháp môn
p’howa thì cách hữu dụng nhất để hiểu chúng là trong cách phân loại của
sáu thân trung ấm, tức là các trạng thái trung gian.
Thân trung
ấm nơi sinh (birthplace bardo) bắt đầu từ khoảnh khắc chào đời, và kết
thúc khi từ trần. Nó chỉ cho kiếp sống của chúng sinh, và với kiếp người
thì đây là cơ hội tối thắng để tu tập – có khả năng để làm thanh tịnh
các nghiệp xấu và thu thập công đức và sự giác ngộ nhằm giaỉ thoát khỏi
luân hồi và hướng dẫn các chúng sinh khác tới giải thoát.
Thân trung
ấm nơi sinh trong cõi người thường xen lẫn bởi hai thân trung ấm khác,
thân trung ấm chiêm bao (dream bardo) và thân trung ấm của thiền định
(bardo of meditative concentration). Cả hai thân này dung chứa tiềm năng
cho các trạng thái thâm sâu của tâm thức, mặc dù với hầu hết mọi người
chúng chỉ giữ trong khoảng thời gian ngắn. Hệt như thân trung ấm nơi
sinh, chúng có thể được vận dụng cho sự tiến bộ tinh thần.
Tiến trình
chết xảy ra trong thân trung ấm của khoảnh khắc lìa đời (bardo of the
moment of death), nó tiếp cận với hơi thở cuối cùng và sự hợp nhất vào
luân xa quả tim của các năng lực nam và năng lực nữ nguyên thủy của
chúng sinh đó. Thân trung ấm này có thể rất ngắn ngủi; nếu người này gặp
cái chết chưa đúng thời bởi vì tai nạn hay vì bạo lực, hay là nó có thể
được kéo dài, nếu người này chết vì căn bệnh dằng dai. Thân trung ấm của
khoảnh khắc lìa đời là chặng chuyển tiếp chủ yếu trong chu kỳ luân hồi,
bởi vì đó là lúc pháp môn p’howa có thể thành tựu được và sự giải thoát
vào cõi tịnh độ có thể đạt được dễ dàng. Tuy nhiên, để thành tựu p’howa,
học nhân nên tu tập kỹ lưỡng khi còn trong thân trung ấm nơi sinh, bởi
vì tâm thức hỗn loạn thường gây mê mờ vào thời điểm chết.
Ðối với hầu
hết mọi người, thân trung ấm của chơn tánh của vạn pháp (Anh Ngữ: bardo
of the true nature of phenomena; Tây Tạng Ngữ: chos nyid; Phạn Ngữ:
dharmata) khởi đầu khi họ rơi vào màn tối đen, sau khi các năng lực nam
và nữ hợp nhất trong quả tim. Các thiền sư vĩ đại nào có thể duy trì
tỉnh thức trong suốt thời chuyển tiếp của cái chết sẽ không rơi vào màn
tối đen này. Trong thời khoảng này, các phẩm chất của tâm được buộc vào
trong tự tánh bất khả hủy diệt, vào trong tận nguồn vi tế nhất của tâm
thức và sự hồn nhiên. Các phẩm chất của tâm về tánh biết – tám phương
diện của ý thức – thì hiện hữu như là quả cầu cốt yếu của ý thức. Ðặc
tính di động của tâm thì hiện hữu như là các năng lực nghiệp thức cực kỳ
vi tế (tức là “các gió”; Tạng Ngữ là lung), các lực này quấy động các
phần tử của ý thức. Sự quấy động nhẹ này làm mê mờ ý thức, và ánh sáng
trong suốt (clear light) của thật tánh của vạn pháp khởi lên như một
trạng thái bất nhị, bất khả diễn tả của Tánh Biết.
Tất cả
chúng sinh, từ bất kỳ cảnh giới nào của đời sống, có một kinh nghiệm
chớp nhoáng về tia sáng trong suốt khi họ chết, nhưng đối với hầu hết,
nó qua đi trong khoảnh khắc mà không được ghi nhận. Chỉ có các đại thiền
giả – những người đã chứng nhập cái nhìn cao nhất qua các pháp thiền của
Ðại Toàn Thiện, Ðại Thủ Aán, Trung Quán – có khả năng để tìm giải thoát
vào pháp thân, để thành đạt giác ngộ, xuyên qua việc chứng nhập ánh sáng
trong suốt.
Ðối với
những người khác, sự giải thoát bị ngăn trở bởi một sự thúc giục về
hướng “đầu thai” và một nỗi sợ bị hư vô hóa. Các phương diện vi tế của ý
thức, bị quấy động thêm nữa bởi các năng lực tế vi, dẫn khởi lên các
hiện tướng thanh tịnh của Tánh Biết, sự xuất hiện các vị thánh hiền hòa
và hung dữ. Aùnh sáng khởi lên, cùng với các âm thanh cuồng nộ. Và rồi
các hình tướng xuất hiện từ ánh sáng đó, trước tiên hiện ra như các vị
thánh đầy giận dữ cùng với tiếng cười gây kinh hãi. Mỗi vị mặc trang
phục riêng đặc biệt và được đi kèm bởi một đoàn hội chúng dầy đặc tới
đầy khắp không gian. Rồi các vị thánh hiền hòa xuất hiện – trong đó có
các vị bổn tôn của pháp môn p’howa là Phật A Di Ðà, Quan Thế Âm Bồ Tát,
và Phật Vô Lượng Thọ– sáng rực và đầy kính ngưỡng.
(Ghi
chú: Bản Anh văn ghi tên ba vị là Amitabha, Avalokiteshvara và Amitayus.
Hai vị đầu dịch ra Việt ngữ là A Di Ðà Phật, và Quan Thế Âm Bồ Tát.
Nhưng chữ “Amitayus” lại có nghĩa là “Vô Lượng Thọ,” một danh hiệu khác
của Phật A Di Ðà. Trong khi theo kinh điển Tịnh Ðộ thì vị thứ ba phải là
Ðại Thế Chí, tức Anh ngữ phải là Mahasthamaprapta. Tuy nhiên, bản Việt
dịch sẽ giữ hoàn toàn trung thực với nguyên tác Anh ngữ, và sẽ ghi các
chỗ nghi vấn.
Cần phải
ghi nhận thêm rằng cuốn Tử Thư Tây Tạng, The Tibetan Book of the Dead -
bản Anh dịch và chú giải của Francesca Fremantle và Chogyam Trungpa, ấn
bản 2000 của NXB Shambhala, trang 46 - ghi rằng lúc đó “Phật A Di Ðà sẽ
xuất hiện trước người chết từ hướng Tây Phương Cực Lạc, toàn thân màu
đỏ, tay cầm hoa sen và ngồi trên ngai trên lưng chim công, ôm người bạn
đạo là Pandaravasini. Ngài được đi kèm theo bởi hai nam bồ tát là Quan
Thế Âm và Văn Thù và hai nữ bồ tát là Gita và Aloka, để 6 hình tướng
Phật xuất hiện từ không gian của ánh sáng cầu vồng.” Có lẽ, chỉ nên xem
các mâu thuẫn nơi đây như là các ngón tay dị biệt đang cùng chỉ về một
mặt trăng, và có khi chỉ là mang tính ẩn dụ, chứ không có gì sai lạc cả.
Hết ghi chú của dịch giả.)
Bất kỳ ai
đã tu tập pháp quán tưởng, những ai đã thấy vị bổn tôn chỉ là hóa hiện
tự tâm mình, có thể giải thoát được vào cảnh giới Báo Thân. Ðối với
những người khác, sự hóa hiện của các vị thánh hiền hòa và hung dữ sẽ
chớp qua đi. Những người khác sẽ lùi xa khỏi khối sáng rực đó, và những
hình ảnh và âm thanh của các vị bổn tôn sẽ biến dạng.
Bây giờ
xuất hiện một chuỗi bố