Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá
Nguyện Sinh Kệ Chú
Lược Luận Tịnh Độ
Tác giả: Đàm Loan Đại Sư
Việt dịch : Thích Nhất Chân
---o0o---
LƯỢC
LUẬN AN LẠC TỊNH ÐỘ
NGHĨA
ÐÀM LOAN
Hỏi rằng:
Nước An Lạc, ở trong ba cõi, (là) do cõi nào
nhiếp?
Ðáp rằng:
Như Thích Luận nói: Như Tịnh
Ðộ ấy chẳng phải do ba cõi nhiếp. Do cớ gì? Vì không có dục, nên chẳng
phải cõi dục (nhiếp). Vì sống trên đất, nên chẳng phải cõi sắc (nhiếp).
Vì có hình sắc, nên chẳng phải cõi vô sắc (nhiếp). Phật A Di Ðà khi hành
căn bổn đạo Bồ Tát, làm Tỳ Kheo tên gọi Pháp Tạng, theo nơi Phật Thế Tự
Tại Vương thưa hỏi về hạnh thuộc Tịnh Ðộ của chư Phật. Thời Phật vì Ngài
mà nói hai trăm mười ức cõi nước của chư Phật, (nào) người trời thiện ác
(ra sao), (nào) cõi nước tịnh thô (thế nào), trọn đều hiện ra cho thấy.
Lúc ấy Bồ Tát Pháp Tạng ở ngay trước Phật, phát thệ rộng nguyện lớn, giữ
lấy các cõi Phật. (Rồi) trong vô lượng tăng kỳ kiếp, như lời phát
nguyện, hành các Ba La Mật, (đến mức) vạn thiện viên mãn, thành đạo vô
thượng. (Như thế cõi An Lạc này là) do nghiệp riêng (của Pháp Tạng Bồ
Tát) mà có được, nên chẳng phải (là) ba cõi vậy.
Hỏi rằng:
Nước An Lạc có mấy loại trang nghiêm (mà) gọi là Tịnh Ðộ?
Ðáp rằng:
Nếu y theo kinh, căn cứ theo nghĩa (của Kinh) (thì) 48 nguyện của Bồ Tát
Pháp Tạng chính là sự thể này. Xem bài tán thỉ đủ rõ, không (cần phải)
nói lại nữa. Nếu y theo luận Vô Lượng Thọ, (thì) do hai loại thanh tịnh,
nhiếp 29 loại trang nghiêm (được) thành tựu. Hai loại thanh tịnh (này)
là: một, thanh tịnh (thuộc) khí thế gian, hai là thanh tịnh (thuộc)
chúng sinh thế gian. Thanh tịnh (thuộc) khí thế gian có 17 loại trang
nghiêm (được) thành tựu. Một là tướng của cõi nước (kia) hơn hẳn đường
ba cõi. Hai là nước này rộng lớn, lượng như hư không không có giới hạn.
Ba là do từ chính đạo đại từ bi (và) thiện căn xuất thế của Bồ Tát mà
khởi lên. Bốn là trang nghiêm (bằng) quang minh thanh tịnh, (và) viên
mãn. Năm là sẵn đủ tính (chất) trân bảo hạng nhất, có (đủ) bảo vật kỳ
diệu. Sáu là quang minh trong sạch thường chiếu thế gian. Bẩy là bảo vật
(ở) nước kia mềm mại, người chạm vào thích thú. Tám là ngàn vạn hoa báu
trang nghiêm ao hồ; điện báu, lầu gác báu, đủ loại cây báu, (với) quang
minh đủ mầu, hiện ảnh thế giới; vô lượng võng báu che hư không; chuông
treo bốn mặt thường ngân âm pháp. Chín là ở trong hư không tự nhiên
thường mưa xuống hoa trời, áo trời, hương trời huân (ướp) khắp (mà)
trang nghiêm. Mười là quang minh (của trí) huệ Phật chiếu trừ si ám.
Mười một là phạm thanh khai ngộ nghe xa (khắp) mười phương.Mười hai là
thiện lực của Phật A Di Ðà, pháp vương vô thượng, trụ trì. Mười ba là do
từ tịnh hoa của Như Lai mà hóa sinh. Mười bốn là yêu thích vị Phật pháp,
thiền tam muội là món ăn. Mười lăm là vĩnh viễn lìa các khổ (thuộc)
thân, tâm, thọ lạc không gián đoạn. Mười sáu là cho đến danh từ hai
thừa, người nữ và căn khuyết, cũng không (hề) nghe (đến). Mười bẩy là
chúng sinh có các thích muốn nào, (đều) tùy tâm như ý, không thứ nào
không đủ. Mười bẩy loại như thế vậy, đó gọi là thanh tịnh (thuộc) khí
thế gian. Thanh tịnh (thuộc) chúng sinh thế gian có 12 loại trang nghiêm
(được) thành tựu. Một là đài hoa (bằng) vô lượng trân bảo vương lớn (và)
vi diệu dùng làm Phật tòa. Hai là vô lượng tướng tốt, vô lượng quang
minh trang nghiêm thân Phật. Ba là Phật (với) biện tài vô lượng (tương)
ưng với cơ (mà) nói pháp, đầy đủ rõ ràng, khiến người thích nghe, (mà)
người nghe ắt tỏ ngộ, lời lẽ không nói suông. Bốn là trí huệ chân như
của Phật ví như hư không, chiếu rõ tổng tướng và biệt tướng của các
pháp, tâm không phân biệt. Năm là (do) chúng người, trời bất động (mà)
trang nghiêm rộng lớn, ví như núi Tu Di hiển chiếu (giữa) bốn biển lớn,
tướng pháp vương gồm đủ. Sáu là, thành tựu quả vô thượng, (bằng) còn
không ai bằng được, huống gì là hơn. Bẩy là, bậc thầy điều ngự của người
trời trượng phu, đại chúng cung kính vây quanh như chúa sư tử (với) sư
tử vây quanh. Tám là, cácv công đức do bổn nguyện lực của Phật trang
nghiêm (và) trụ trì, ai gặp (sẽ) không qua không, (mà) khiến được mau
đầy đủ tất cả biển công đức. Bồ Tat chưa chứng tịnh tâm rốt cuộc được
chứng pháp thân bình đẳng, cùng với Bồ Tát tịnh tâm, và Bố Tát địa tiền,
tốt cuộc cùng được tịch diệt bình đẳng. Chín là, các chúng Bồ Tát của
nước An Lạc, thân không động đậy mà đến khắp mười phương, ứng hóa đủ
loại, tu hành như thật, thường làm Phật sự. Mười là, thân ứng hóa như
thế của Bồ Tát (trong) tất cả mọi thời không trước không sau, mỗi tâm
mỗi niệm phóng quang minh lớn, trọn đến khắp được thế giới mười phương,
giáo hóa chúng sinh (bằng) đủ loại phương tiện, do tu hành mà thành
(tựu), diệt trừ khổ não cho tất cả chúng sinh. Mười một là, các Bồ Tát
này nơi tất cả các thế giới chiếu không sót (một) đại hội nào của chư
Phật, cúng dường, cung kính, tán thán vô lượng rộng lớn không sót (một)
công đức nào của chư Phật Như Lai. Mười hai là, các Bồ Tát này ở nơi các
chỗ không có Tam Bảo trong tất cả các thế giới ở mười phương (sẽ) trụ
trì (và) trang nghiêm (bằng) biển lớn công đức Phật Pháp Tăng bảo, hiện
bày khắp (chỗ) khiến thấu hiểu, (để) tu hành như thật. Những thứ ấy
(gồm) 8 loại công đức trang nghiêm (thuộc) pháp vương (được) thành tựu,
(và) như thế (là) bốn loại công đức trang nghiêm (thuộc) Bồ Tát (được)
thành tựu. Ðó gọi là thanh tịnh (thuộc) chúng sinh thế gian. Cõi nước An
Lạc đủ 29 loại công đức trang nghiêm như thế (được) thành tựu, nên gọi
là Tịnh Ðộ.
Hỏi rằng:
Sinh về cõi An Lạc thông thường có bao nhiêu phẩm hạng, có bao nhiêu
nhân duyên?
Ðáp rằng:
Trong kinh Vô Lượng Thọ duy có ba hạng thượng,
trung, hạ. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, (mỗi) một phẩm lại phân làm
thượng, trung, hạ. Ba (là) ba là chín, hợp làm 9 phẩm. Nay y theo kinh
Vô Lượng Thọ (làm) phụ trợ làm bài (văn) tán. Cứ dựa theo ba phẩm kinh
này đưa ra mà luận, thì những người sinh (thuộc) hạng thượng có 5 nhân
duyên:
-Một là bỏ nhà lìa dục để làm sa môn.
-Hai là phát tâm Bồ Ðề vô thượng.
-Ba là một mực chuyên niệm Phật Vô Lượng Thọ.
-Bốn là tu các công đức.
-Năm là nguyện sinh nước An lạc.
Ðủ các nhân duyên này, vào lúc lâm chung, Vô
Lượng Thọ Phật cùng các đại chúng hiện trước người ấy, (người ấy) tức
thì sẽ theo Phật (mà) vãng sinh (vào) An Lạc, ngay trong hoa bẩy báu, tự
nhiên (mà) hóa sinh, trụ không thối chuyển, trí huệ dũng mãnh, thần
thông tự tại.
Người sinh (thuộc) hạng trung có 7 nhân duyên:
-Một là phát tâm Bồ Ðề vô thượng.
-Hai là một mực chuyên niệm Phật Vô Lượng Thọ.
-Ba là (có) tu thiện ít nhiều phụng trì trai
giới.
-Bốn là dựng lập tháp tượng (Phật).
-Năm là nuôi sa môn cơm ăn.
-Sáu là treo tranh, thắp đèn, rải hoa, đốt
hương (để cúng dường).
-Bẩy là lấy đấy hồi hướng nguyện sinh (về) An
lạc.
Vào lúc lâm chung, Phật Vô Lượng Thọ hóa hiện,
thân ngài (cũng) quang minh tốt tướng như Phật thật, cùng với đại chúng
hiện trước người kia, tức thì (người ấy) theo hóa Phật (mà) vãng sinh An
lạc, trụ không thối chuyển, công đức trí huệ đứng sau hạng thượng.
Người sinh hạng ba có ba nhân duyên:
-Một là, giả sử không thể làm các công đức
(thì) hãy phát tâm Bồ Ðề vô thượng.
-Hai là một mực chuyên ý cho đến mười niệm
niệm Phật Vô Lượng Thọ.
-Ba là dùng tâm chí thành nguyện sinh nước An
Lạc.
(Người này) vào lúc lâm chung, mộng thấy Phật
Vô Lượng Thọ, cũng được vãng sinh. Trí huệ công đức đứng sau hạng trung.
Lại có một loại vãng sinh (về) An Lạc (mà) không thuộc vào ba hạng. Ðó
là do tâm nghi hoặc (mà) tu các công đức, (cũng) nguyện sinh An Lạc.
Không hiểu rõ (về) Phật trí (là) trí không thể suy lường, trí
không thể sánh bằng, trí đại thừa, trí không (gì) bằng, không (gì) sánh,
tối thượng thắng hết. Ðối với các trí ấy nghi hoặc không tin, song
vẫn còn tin tội phúc (và) tu tập gốc thiện. (Người này khi) sinh An Lạc,
(sẽ) sinh vào cung điện bẩy báu của nước An Lạc, hoặc (rộng lớn) trăm do
tuần, hoặc 500 do tuần. Mỗi vị ở trong ấy (hưởng) thọ các khoái lạc như
trời Ðao Lợi. (Và) cũng đều tự nhiên trong khoảng 500 năm luôn không
thấy Phật, không nghe kinh pháp, không thấy thánh chúng Bồ Tát Thanh
Văn. Cõi nước An Lạc gọi đó là biên địa, cũng nói là thai sinh. Biên địa
là vì nói họ trong 500 năm không thấy (hay) nghe (đến) tam bảo, nghĩa
(này) đồng với nạn biên địa, hoặc cũng (là do) ở tại biên giới tối cùng
của cõi nước An Lạc. Thai sinh là ví như người do thai sinh, lúc mới sơ
sinh chưa thành nên pháp (cách) con người. Biên (địa) là nói cho nạn của
người ấy, thai (sinh) là nói cho sự tối ám của người ấy. Hai tên này đều
là mượn cái này so sánh (với) cái kia vậy, (chứ) không phải là biên địa
thuộc tám nạn, cũng không phải là thai sinh thuộc bào thai. Do đâu mà
biết? Bởi cõi nước An Lạc duy chỉ hóa sinh (mà thôi), nên biết không
phải thật là thai sinh. Bởi 500 năm sau còn được nghe thấy Tam Bảo, nên
biết không phải là biên địa thuộc tám nạn vậy.
Hỏi rằng:
Người thai sinh kia ở trong cung điện bẩy báu có (hưởng) thụ khoái lạc
không? Lại nhớ tưởng (được) những gì?
Ðáp rằng:
Kinh ví dụ rằng: Ví như con của vua Chuyển luân đắc tội với vua, cho vào
trong hậu cung, dùng khóa vàng gài lại. Tất cả mọi thứ cung cấp không
thiếu thứ gì, (cũng) y như vua. Vương tử lúc ấy tuy có đủ loại đồ dùng
tuyệt hảo để tự vui thú, (song) tâm không thọ lạc (mà) chỉ tưởng nghĩ
tìm các phương tiện mong sao được ra khỏi. Người thai sinh kia cũng y
như vậy. Tuy ở nơi cung điện bẩy báu có sắc, hương, vị, xúc tốt đẹp,
(song) không lấy đấy làm lạc (mà) chỉ trông thấy Tam Bảo, không được
cúng dường tu các gốc thiện, lấy đó làm khổ. Rõ được do tội của mình,
hết lòng tự hối trách, cầu lìa chốn kia, liền được như ý, lại đồng với
ba hạng sinh kia. (Song) phải cuối 500 năm kia mới biết hối tội vậy.
Hỏi rằng:
Do tâm nghi hoặc vãng sinh An Lạc thì gọi là thai sinh. Tại sao (lại)
khởi nghi?
Ðáp rằng:
Trong kinh chỉ nói nghi hoặc không tin, (chứ)
không đưa ra tại sao (có) ý nghi. Xét theo chỗ không hiểu rõ năm câu,
(thời) dám lấy (nghĩa) đối trị để mà nói. Không rõ trí Phật
(Phật trí) nghĩa là không thể tin hiểu trí biết tất cả chủng loại
của Phật. Do không biết rõ nên khởi nghi. Một câu này trình bày tóm
(mọi) điều nghi. Bốn câu sau mỗi câu đối trị các điều nghi. Nghi có bốn
ý:
-Một là
nghi (rằng) chỉ niệm tưởng Phật A Di Ðà chưa chắc được vãng sinh An Lạc.
Tạo sao (nghi như) vậy? Kinh có nói: nghiệp đạo như (bàn) cân, cái nặng
kéo trước. Tại sao (mà) một đởi hoặc trăm năm, hoặc mười năm, hoặc một
tháng, không ác nào không làm, (mà) chỉ do mười niệm tương tục là được
vãng sinh, nhập ngay vào tụ chính định, rốt cuộc không thối chuyển, vĩnh
viễn cách xa các khổ của ba nẻo được? Nếu (quả thật như) thế, (thì) cái
nghĩa (cân nặng) kéo trước còn gì đáng tin nữa? Lại bao kiếp đến nay đều
tạo các pháp hữu lậu (thuộc) hành, hệ thuộc (vào) ba cõi, (thì) làm sao
không đoạn kết hoặc (của) ba cõi, (mà) chỉ cứ dùng chút thời gian niệm
Phật A Di Ðà là ra khỏi ba cõi được? Ý nghĩa nghiệp trói tại sao phải
cần nữa. Do đối trị ý nghi này nên (mới) nói trí không (thể)
suy lường (bất tư nghị trí). Trí không (thể) suy lường
nghĩa là trí lực của Phật có thể lấy ít làm nhiều, lấy nhiều làm ít, lấy
gần làm xa, lấy xa làm gần, lấy nhẹ làm nặng, lấy nặng làm nhẹ, lấy dài
làm ngắn, lấy ngắn làm dài. Do như thế Phật trí vô lượng vô biên không
thể suy lường. Ví như trăm người phu (trong) trăm năm chất củi chứa cao
đến ngàn nhận, đốm lửa bằng hạt đậu đốt (trong) nửa ngày là tận. Không
lẽ có thể nói được rằng củi chứa trong trăm năm (đốt) nửa ngày không tận
sao? Lại như người đi bộ quá giang thuyền người khác, nhân thế (lực) của
gió buồm, một ngày (đi) đến ngàn dặm, không lẽ có thể nói được rằng
người đi bộ (kia) tại sao một ngày (mà đi) đến ngàn dặm chăng? Lại như
người hà tiện bần cùng được một vật quý đem cống hiến chủ. Chủ mừng được
vật (quý), thêm phần trọng thưởng. Kẻ (bần cùng) kia chỉ cần chốc lát
phú quý tràn đầy. Không lẽ lại nói được rằng do có thể cả mấy chục năm
(mà) người ta chịu đủ mọi cần khổ, (và) người nào người nấy còn chưa
thành đạt vinh quy (rồi có thể) nói kẻ (bần cùng) kia (mà mau lẹ trở
thành) phú quý, không thể có chuyện như thế được? Lại như kẻ yếu tự lực
leo lên lưng lừa còn chưa nổi, (nhưng) đi theo vua Chuyển Luân liền cưỡi
hư không bay bổng tự nhiên, lại có thể do kẻ yếu leo lừa (không nổi) rồi
cho rằng chắc chắn (kẻ ấy) không thể cưỡi (hư) không (mà bay) hay sao?
Lại như dây tơ mười vi ngàn người cũng không làm gì nổi, đứa bé con vung
kiếm nháy mắt thành hai phần. Không lẽ có thể nói được là sức một đứa bé
không thể cắt đứt dây tơ hay sao? Lại như chim chậm (nhào) vào nước cá
sò đều vì vậy mà chết, sừng tê (giác) chạm vào lầy, các loài (bị) chết
(kia) đều sống dậy. Không lẽ có thể nói được là tính mệnh đã đoạn không
thể sống lại hay sao? Lại như Hoàng Hộc gọi “Tử An”, Tử An sống lại.
Không lẽ có thế nói được là dưới mộ ngàn năm chắc chắn không thể sống
lại được sao?
Tất cả vạn pháp đều có tự lực tha lực, tự
nhiếp tha nhiếp, ngàn mở vạn đóng vô lượng vô biên. Làm sao lại đem cái
thức có ngại ra mà nghi pháp vô ngại kia được sao? Lại trong năm cái
không (thể) suy lường, Phật pháp là không (thể) suy lường hơn hết, mà
xem cái ác trăm năm làm trọng, nghi mười niệm niệm Phật (cho) là nhẹ,
không (thể) được vãng sinh An lạc nhập tụ chính định, điều (nghi) này
(quả thật) không đúng.
-Hai là nghi trí Phật so với người
không phải là thâm tuyệt. Tại sao (nghi như) vậy? Thường thì tất cả danh
tự do đối đãi với nhau mà sinh. Giác trí do không giác mà sinh, như thế
mê hướng do nhớ hướng mà sinh. Nếu cứ mê là tuyệt hẳn không mê, (thì) mê
rốt cuộc (phải) là không tỏ. Mê nếu có thể tỏ, ắt (là) người mê tỏ, (và)
cũng có thể nói (ngược lại) là người tỏ mê. Mê (và) tỏ, tỏ (và) mê như
bàn tay ngửa úp vậy. (Thế) mới có thể (nói) sáng (trí) tối (trí) khác
nhau, (và) cũng (vì thế nên) siêu nhiên thế nào được đây? Do khởi lên
nghi này, (nên) đối với trí huệ Phật sinh nghi không tin. Ðối trị nỗi
nghi này nên nói trí không thể sánh bằng (bất khả xứng trí).
Trí không thể sánh bằng là nói trí Phật tuyệt hết
(mọi) so sánh giảng nói, chẳng phải (do) hình tướng (mà) đối đãi (được).
Do đâu mà nói vậy. Nếu là có, ắt phải có cái trí biết có. Pháp nếu là
không có, cũng phải có cái trí biết không có. (Nay) các pháp lìa khỏi có
(và) không có. Cho nên Phật thầm khế các pháp, ắt trí (của Ngài) dứt hết
đối đãi với nhau. Ông đưa tỏ mê ra ví dụ, vẫn là (thêm) một (lẽ) mê (nữa
mà) thôi, (chứ) không thành (được lẽ) mê tỏ. Cũng như trong mộng giúp
người khác giải mộng, tuy nói là giải mộng (mà) chẳng phải là không có
mộng. Lấy (cái) biết (để) cho (đó) là Phật (thì) không (thể) nói là biết
Phật (được). Lấy (cái) không biết (để) cho (đó) là Phật (cũng) không
phải là biết Phật, lấy (cái) không phải biết (cũng) không phải (là)
không biết (để) cho (đó) là Phật, cũng không phải (là) biết Phật, lấy
(cái) không phải (là) không biết (cũng) không phải (là) không phải không
biết (để) cho (đó) là Phật, cũng phải là biết Phật. Trí Phật lìa
bốn câu này, nếu (muốn) duyên vào (trí Phật) (thời) tâm hành (lại) diệt,
nếu (muốn) loại bỏ (trí Phật) (thởi) ngôn ngữ (lại) đoạn. Do ý nghĩa ấy,
thích luận nói rằng: nếu người nào thấy (là cõi) Bát Nhã, (như) thế ắt
là bị (ràng) buộc, nếu không thấy Bát Nhã, (như) thế cũng là bị (ràng)
buộc. Nếu người nào thấy Bát Nhã, (như) thế ắt là giải thoát, nếu không
thấy Bát Nhã, (như) thế cũng là giải thoát. Ðiều này trong kệ có nói:
Không lìa bốn cú ấy là (ràng) buộc, lìa bốn câu ấy là giải thoát. Ông
nghi trí Phật so với (trí con) người không phải là thâm tuyệt,
điều (nghi) ấy không đúng.
-Ba là
nghi Phật thật (sự) không thể độ (hết) tất cả chúng sinh. Tại sao (nghi
như) vậy? (Trong) đời quá khứ (đã) có vô lượng a tăng kỳ hằng sa chư
Phật, hiện tại (trong các) thế giới (khắp) mười phương cũng có vô lượng
vô biên a tăng kỳ hằng sa chư Phật. Nếu giả sử Phật thật (sự) có thể độ
(hết) tất cả chúng sinh, ắt phải không (còn) có ba cõi từ lâu rồi. (Vị)
Phật thứ hai ắt không lại phải vì chúng sinh mà phát tâm Bồ Ðề, trọn tu
Tịnh Ðộ nhiếp thọ chúng sinh. Song thật có (các) Phật thứ hai nhiếp thọ
chúng sinh, cho đến thật có vô lượng chư Phật trong ba đời mười phương
nhiếp thọ chúng sinh. Cho nên (đủ) biết Phật thật (sự) không thể độ
(hết) tất cả chúng sinh. Do khởi lên nghi ấy, nên đối với Phật A Di Ðà
(có tư) tưởng (cho) là (Phật) có lượng. Vì đối trị nỗi nghi này nên nói
trí Ðại thừa rộng (lớn) (Ðại thừa quảng trí). Trí Ðại
thừa rộng (lớn) là nói Phật không pháp nào không biết, không phiền
não nào không đoạn, không thiện nào không (có) đủ, không chúng sinh nào
không độ. Lý do có ba đời mười phương các vị (Phật) là (do) có năm
nghĩa: Một là nếu quả là không có Phật thứ hai, cho đến a tăng kỳ
hằng sa chư Phật, (thì) Phật (mới) thật là không thể độ tất cả chúng
sinh, do (Phật) thật (sự) có thể độ (hết) tất cả chúng sinh (nên) ắt
(là) có mười phương vô lượng chư Phật. Vô lượng chư Phật chính là (các)
chúng sinh do Phật trước độ. Hai là nếu có một Phật mà độ tận tất
cả chúng sinh thì cũng không cần sau (còn) có Phật nữa. Tại sao? Do
không (còn) có ý nghĩa giác (ngộ cho) kẻ khác (thì) y vào nghĩa nào nữa
để nói có ba đời (chư) Phật vậy? Do y vảo nghĩa giác (ngộ) người khác
nên nói Phật (này) Phật (khác) đều độ (hết) tất cả chúng sinh. Ba
là Phật sau (mà) có thể độ (được chúng sinh) (thì) vẫn còn là cái (sức)
có thể của Phật trước. Tại sao vậy?Vì do Phật trước mới có Phật sau. Ví
như áo giáp của đế vương được truyền cho vua sau khoác, tức (chính) là
do (sức) có thể của vua trước. Bốn là lực (của) Phật tuy có thể
độ tất cả chúng sinh, (song) cần phải có nhân duyên. Nếu chúng sinh với
Phật trước không có nhân duyên (thì) lại phải cần có Phật sau. Như thế
(các) chúng sinh không có duyên thẳng qua trăm ngàn vạn Phật (mà cũng)
không nghe thấy, không phải (do) lực Phật (yếu) kém vậy. Ví như nhật
nguyệt xoay quanh bốn thiên hạ phá các tối ám, song người mù (lại) không
thấy, không phải mặt trời không sáng vậy. Sấm nổ rung tai mà kẻ điếc
không nghe, không phải là âm thanh không dữ dội vậy. Giác (ngộ) lý
duyên, thì được gọi là Phật, nếu (do) tình (thức) cưỡng (ép) vi phạm lý
(nhân) duyên (thì) không phải là chính giác vậy. Cho nên chúng sinh vô
lượng, (thì) Phật cũng vô lượng. Ðã nói đến Phật (thì) đừng có hỏi có
duyên (hay) không có duyên tại sao không độ hết tất cả chùng sinh. (Hỏi
thế là) lời nói phi lý vậy. Năm là chúng sinh nếu độ tận, thế
gian sẽ đọa vào bên có (hữu biên). Do ý nghĩ ấy ắt có vô lượng Phật độ
tất cả chúng sinh.
Hỏi rằng:
Nếu chúng sinh không thể (độ) tận (thì) thế
gian phải là đọa vảo không có (vô biên). Do bên không có (vô biên) ắt
Phật thật (sự) không thể độ (hết) tất cả chúng sinh.
Ðáp rằng:
Thế gian chẳng phải bên có (hữu biên) chẳng phải bên không có (vô biên),
(và) cũng tuyệt hẳn bốn câu. Phật làm cho chúng sinh lìa bốn câu này,
(thì) gọi là độ. Thật ra không phải độ (cũng) không phải không độ, không
phải tận (cũng) không phải không tận. Ví như mộng vượt qua biển lớn, gặp
các nạn sóng gió, người (nằm mộng) kia sợ hãi, kêu ra thành tiếng, người
bên ngoài gọi dậy (thời) bình thản hết lo (song đó) chỉ là vượt qua mộng
chứ không phải vượt qua sông (biển).
Hỏi rằng:
(Dù) nói độ hay không độ đều đọa vào biên
kiến. Cớ sao chỉ nói độ tất cả chúng sinh là trí Ðại thừa rộng (lớn)
(mà) không nói (là) không độ chúng sinh là trí Ðại thừa rộng
(lớn)?
Ðáp rằng:
Chúng sinh không ai chán khổ cầu sướng, sợ
buộc cầu thoát, (nên) nghe (có) độ sẽ quy hướng (về đó). (Nếu) nghe
không độ (thì vì) không biết cớ gì không độ, sẽ cho là Phật không phải
đại từ bi, ắt không (chịu) quy hướng (về Phật). Do không quy hướng nên
thiếp mãi (trong) mộng dài, không cách gì ngưng dứt. Vì những người ấy
nên hay nói độ (chứ) chứ không nòi không độ. Lại nữa “Chư Pháp Vô Hành
Kinh” cũng nói “Phật không đắc Phật đạo, cũng không độ chúng sinh. Phàm
phu khăng khăng phân (biệt) nào là Phật, (nào) là độ chùng sinh. Nói độ
chúng sinh là đối trị tất đàn, nói không độ chúng sinh là đệ nhất nghĩa
tất đàn. Hai cách nói đều có lý lẽ riêng, không mâu thuẫn với nhau.
Hỏi rằng:
Như mộng dứt được, đó không phải là độ rao? Nếu giấc mộng của tất cả
chúng sinh đều dứt, thế gian không lẽ không tận hay sao?
Ðáp rằng:
Nói rộng là thế gian, nếu mộng dứt ắt không có người mộng. Nếu không có
người mộng (thì) cũng không nói (có) người (được) độ (nữa). Như thế
(thời) biết thế gian tức là xuất thế gian. Tuy độ vô lượng chúng sinh
(mà) sẽ không đọa vào điên đảo.
Bốn là
nghi Phật không (có) được trí (biết) tất cả chúng loại (nhất thiết
chủng trí). Tại sao (nghi như) vậy? Vì nếu có thể biết khắp các
pháp, (thì) các pháp (lại) đọa vào bên có (hữu biên). Vì nếu không thể
biết được khắp, ắt không phải là trí (biết) tất cả chủng loại. Do đối
trị nghi này nên nói trí không (gì) bằng không
(gì) sánh (là) tối thượng trên hết (vô đẳng vô luân tối thượng
thắng trí). Trí không (gì) bằng không (gì) sánh tối
thượng trên hết là trí phàm phu hư vọng, (so với) trí Phật như thật.
Hư (và) thật khác rất sâu xa, (về) lý không bằng nhau được nên nói không
(gì) bằng. Thanh Văn, Bích chi Phật muốn có (cái) biết (này) (phải) nhập
định mới biết, ra khỏi định (lại vẫn) không biết. Lại biết (của Thanh
Văn Bích Chi) cũng có hạn. Phật đắc tam muội như thật, thường ở nơi định
thâm sâu, song (lại) chiếu biết khắp các pháp (là) hai và không (có)
hai. Pháp thâm sâu không gì sánh tầy, nên nói không (gì) sánh. Bồ
Tát từ địa thứ 8 trở lên tuy đắc báo sinh tam muội dụng (công) không
(cần phải) ra vào, song tập khí tích tập nhỏ nhiệm (nên) tam muội không
cực sáng sạch. (Ðem) so sánh với trí Phật vẫn còn là có cái trên
nữa. Trí Phật đoạn gồm đủ như pháp mà chiếu. Do pháp vô lượng,
chiếu cũng vô lượng. Ví như hộp lớn thì nắp đậy cũng lớn. nên nói là
tối thượng. Ba câu này cũng có thể tuần tự theo nhau mà thành. Do vì
trí Phật không (gì) bằng, cho nên không (gì) sánh. Do
không (gì) sánh nên tối thượng thắng hết. Cũng có thể tối
thượng thắng hết nên không (gì) bằng. Do không (gì) bằng nên không
(gì) sánh. Chỉ (cần) nói không (gì) bằng (vô đẳng) là đủ rồi, cần gì
phải đến hai câu dưới nữa? Như trí (của) Tu Ðà Hoàn không bằng được với
(trí của) A La Hán, các kiểu (nói) như thế. Ðịa ban đầu đến địa thứ mười
cũng vậy, trí tuy không bằng, (song) không phải (là) không sánh
được. Tại sao vật? Do không phải là tối thượng. Ông biết đem bên có,
(bên không có) ra vặn hỏi, (mà còn) nghi Phật (là) không phải (bậc) biết
tất cả (nhất thiết trí), sự thể (nghi ngờ) này không đúng vậy.
Hỏi rằng:
Trong hạng hạ vãng sinh, nói (là) 10 niệm
tương tục là được vãng sinh. Thế nào gọi là 10 niệm tương tục?
Ðáp rằng:
Ví như có người, trong đồng trống quay về gặp
giặc cướp, tuốt dao hung hăng, xông lại muốn giết. Người này ra sức
chạy, thấy có con sông phải qua. Nếu qua được con sông (thì) đầu cổ mới
toàn. Lúc ấy chỉ tưởng phương tiện qua sông “ta đến bờ sông để áo mà qua
hay cởi áo mà qua? Nếu để nguyên áo sợ không qua được, nếu cởi áo ra sợ
không kịp giờ”. Chỉ có niệm ấy không duyên gì hết. Một niệm sao để sang
sông, chính là một niệm (ở đây vậy). (Cứ) như thế tâm không tạp, thì gọi
là mười niệm tương tục. Hành giả cũng vậy, niệm Phật A Di Ðà như người
kia niệm sang sông, trải qua 10 niệm, hoặc niệm danh tự của Phật, hoặc
niệm tướng tốt của Phật, hoặc niệm quang minh của Phật, hoặc niệm thần
lực của Phật, hoặc niệm công đức của Phật, hoặc niệm trí huệ của Phật,
hoặc niệm bổn nguyện của Phật, không có tâm khác xen vào, tâm tâm tiếp
nối cho đến 10 niệm, gọi là 10 niệm tương tục. Thoạt nói 10 niệm tương
tục tựa như không có gì khó. Song phàm phu tâm như ngựa đồng (dã mã),
thức quá khỉ vượn, đuổi bắt sáu trần, không tạm ngừng nghỉ. Cần phải rốc
tín tâm tự cố khắc niệm, sẽ tích tập thành tính, (nhờ thế) thiện căn
kiên cố vậy. Như Phật bảo vua Tân Bà Sa La, con người tích chứa thiện
hạnh, (đến) chết không có niệm ác, như cây ngả về (hướng) tây, ắt đổ tùy
khúc. Nếu lại gió đao mà đến (thời) trăm khổ đổ về thân. Nếu nghiệp tập
trước không có đó (thì) nói gì đến nhớ niệm. Lại cần phải năm ba vị đồng
chí (hướng) cùng tóm kết cái ngôn yếu (của đạo). Ngay lúc (bạn) lâm
chung, thay phiên giảng rõ cho, (rồi) vì (người sắp chết) đó mà xưng
danh hiệu Phật A Di Ðà, nguyện sinh An Lạc, tiếng tiếng tiếp nối, làm
thành 10 niệm vậy. Ví như ấn các ấn (bằng) sáp vào bùn, ấn hư (mà) vãn
thành. Khi mạng (người) này mất chính là lúc sinh (về) An Lạc, một phen
vào tụ chính định thì còn âu lo gì nữa vậy.
Lược Luận An Lạc Tịnh Ðộ nghĩa hết.
---o0o---