Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


......... .

 

Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá
Nguyện Sinh Kệ Chú
Lược Luận Tịnh Độ
Tác giả: Đàm Loan Đại Sư
Việt dịch : Thích Nhất Chân

 ---o0o---

Quyển Thượng 

BÀ TẨU BÀN ÐẦU (VASUBHANDU) BỒ TÁT TẠO

NGỤY – VĨNH NINH TỰ - BẮC THIÊN TRÚC

SA MÔN BỒ ÐỀ LƯU CHI

NGỤY – TÂY HÀ THẠCH BÍCH CỐC - HUYỀN TRUNG TỰ

SA MÔN ÐÀM LOAN CHÚ GIẢI

 

Xét kỹ theo (luận) Thập Trụ Tỳ Bà Xa của Bồ Tát Long Thụ có nói: Bồ Tát cầu A Tỳ Bạt Chí(1) thời có hai con đường, một là con đường khó đi, hai là con đường dễ đi. Con đường khó đi là nói cho trong thời (kỳ thuộc) năm (thứ) dục(2), vào lúc không có Phật, (mà) cầu A Tỳ Bạt Chí thời (rất) khó (được). Cái khó ở đây vốn rất nhiều chiều hướng (sai khác), (nay) nói lược ra năm ba (thứ) để nêu lên ý nghĩa nọ. Một là tướng (của) ngoại đạo tốt (đẹp)(3) làm loạn pháp Bồ Tát, hai là (chỉ lo) lợi mình (của) Thanh Văn làm chướng đại từ bi, ba là (những kẻ) ác nhân vô lại phá mất thắng đức (của) người khác, bốn là quả (tuy là) thiện (nhưng thật ra là) điên đảo(4) có thể làm hoại phạm hạnh, năm là chỉ duy có sức của mình, không có sức của người khác đỡ cho. Các thứ (khó khăn) như thế nhìn đâu cũng thấy. Ví như đường bộ, đi bộ thời khổ. (Còn) con đường dễ đi là nói cho chỉ do nhân duyên tin Phật, nguyện sinh vào tịnh độ, (do) nương theo lực Phật liền được vãng sinh vào cõi thanh tịnh kia, (rồi nhờ) lực Phật giữ yên(5) (mà) đi ngay vào trong khối chính định của Ðại thừa(6). Chính định tức là A Tỳ Bạt Chí. Ví như đường thủy, đi thuyền thời sướng.  

Bộ Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Ðề Xá này vốn là chỗ cùng cực của thượng thừa(7), là chiếc thuyền (thuận) gió không thối chuyển vậy. Vô Lượng Thọ là biệt hiệu của Như Lai trong tịnh độ An Lạc. Thích Ca Mâu Ni Phật tại thành Vương Xá và nước Xá Vệ, ở giữa đại chúng, nói lên công đức trang nghiêm của Phật Vô Lượng Thọ, (rồi) lấy ngay danh hiệu của Phật làm thể (của) kinh. Bậc thánh về sau là Bồ Tát Bà Tẩu Bàn Ðầu, ghi nhớ lời dậy đại bi của Như lai làm thêm kệ nguyện sinh phụ vào kinh, rồi lại tạo thêm phần văn xuôi để giải thích thêm. Tiếng phạn là Ưu Bà Ðề Xá(8), xứ này(9) không có danh từ chính xác để dịch. Nếu chỉ nêu lên được một phần nào, thì có thể gọi là luận. Sở dĩ không có danh từ chính xác để dịch là bởi xứ này vốn không có Phật. Như sách (vở của) xứ này, cứ do Khổng Tử (mà ra) thì gọi là kinh, (còn) các người khác làm ra, đều gọi là “tử”. Các nhóm (sách vở) thuộc quốc sử quốc kỷ, mỗi (nhóm) đều có thể lệ riêng. Song trong mười hai bộ kinh do Phật nói thời có luận nghị kinh, gọi là Ưu Bà Ðề Xá. Lại nếu các đệ tử Phật giải thích về kinh giáo của Phật(mà) cùng với ý nghĩa của Phật tương ưng thì Phật cũng cho gọi là Ưu Bà Ðề Xá, vì (các luận này) nhập (được) vào (phương diện) pháp tướng(10) (trong) Phật (pháp). Xứ này nói luận, đúng ra chỉ là (ý nghĩa của) luận nghị mà thôi, (chứ) có lý nào (lại) dịch chính xác được danh từ kia sao? Cũng như người nữ, đối với con xưng là mẹ, đối với anh nói là em, các sự việc như thế đều túy theo nghĩa, mỗi tứ mỗi khác. Nếu chỉ lấy các danh nữ (mà) nói chung cho cả mẹ và em, thì (tuy) không mất cái đại thể của nữ, (song) có đâu (còn bao) hàm (được cái) ý nghĩa tôn ti (kia nữa) sao? Ở đây nói luận, cũng giống như (dùng chữ nữ) vậy. Cho nên vẫn giữ nguyên âm phản (mà) nói là Ưu Bà Ðề Xá.

Luận này trước sau gồm có hai lớp, một là phần tổng thuyết, hai là phần giải nghĩa. Phần tổng thuyết gồm trọn hết các bài kệ năm chữ. Phần giải nghĩa là trọn hết phần văn xuôi từ (hai) chữ “Luận rằng” trở xuống. Sở dĩ (phân) làm hai lớp (vì) có hai nghĩa. Kệ để tụng (về) kinh (và) để tổng gom lại, luận để (giải) thích kệ (và) để giải nghĩa vậy.

Vô Lượng Thọ là nói cho Như Lai Vô Lượng Thọ, (ngài có) thọ mệnh lâu dài không thể suy lường vậy.

Kinh (có nghĩa) là thường vậy. (Những gì) nói (về) cõi nước An Lạc, (nào là) công đức trang nghiêm thanh tịnh của Phật và Bồ Tát, công đức trang nghiêm thanh tịnh của cõi nước, có thể tạo lợi ích lớn cho chúng sinh, (các thứ này) hay thường (lưu) hành ở thế gian, nên gọi là Kinh(11).

Ưu Bà Ðề Xá là tên của kinh luận nghị của Phật(12).

Nguyện có nghĩa là thích muốn.

Sinh là Thiên Thân Bồ Tát nguyện sinh vào trong đóa hoa Như Lai thanh tịnh của cõi tịnh độ An Lạc kia, nên nói là “nguyện sinh”.

Kệ nghĩa là số câu, lấy câu năm chữ lược tụng ra kinh Phật, nên gọi là Kệ.

Bà Tẩu dịch là Thiên, Bàn Ðầu dịch là Thân (13), vị này tên chữ là Thiên Thân, truyện (có ghi) trong Phó Pháp Tạng Kinh(14).

Bồ Tát nếu giữ đủ âm phạn thì phải nói là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Bồ Ðề là tên (gọi) của Phật đạo, Tát Ðỏa hoặc nói là chúng sinh, hoặc nói là dũng kiện. (Các) chúng sinh đều cầu Phật đạo, có ý chí mạnh mẽ dũng mãnh, cho nên gọi là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Nay chỉ nói Bồ Tát do dịch giả lược bớt đi vậy.

Tạo cũng là làm, lại nhân (nơi) người (nào đó) trùng tuyên pháp (lại) nên nói là người nào đó tạo. Cho nên (đầu đề) nói là “Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Ðề Xá Nguyện Sinh Kệ, Bà Tẩu Bàn Ðầu Bồ Tát tạo”. Giải thích về danh mục của bộ luận xong.

CHÚ THÍCH 1:

(1) A Tỳ Bạt Chí (Avaivartika) còn phiên là A Bệ Bạt Chí, A Duy Việt Chí, nghĩa là “bất thối chuyển”, không thụt lùi trở lại (mà thẳng đường tiến dến Phật quả), chỉ cho thập địa Bồ Tát.

(2) Năm dục tức ngũ trược ác thế, xem chú thích (1) số 21 trang 67.

(3) Nguyên văn: “Ngoại đạo tướng thiện”. Ý nói thời mạt pháp thế lực ngoại đạo mạnh, nhưng ngoại đạo vốn không thật sự đạt được chân thật pháp giải thoát cũng như giác ngộ và độ sinh, thế nên chỉ nói sự ảnh hưởng lấn át đó của ngoại đạo chỉ như một hiện tượng không thật thể, thế nên mới dùng chữ “tướng”. Cũng đồng thời gợi ý sự lấn át của ngoại đạo đối với Bồ Tát đạo trên phương diện hình tướng tức hình thức. Nghĩa là sự ảnh hưởng của những hình thức mà đương thời cho là tốt đẹp của ngoại đạo tràn lan vào Bồ Tát đạo.

(4) Nguyên văn: điên đảo thiện quả. Ý nói con người không còn biết phân biệt đâu là “thiện” chân thật của Phật pháp, đặc biệt là Bồ Tát đạo, với “thiện” điên đảo của ngoại đạo và thế gian nữa. Hoặc chỉ cho “ngũ dục công đức”  mạnh mẽ khiến cho kẻ tu đạo không sao thực hiện phạm hạnh được nữa.

(5) Nguyên văn: Phật lực trụ trì.

(6) Ðàm Loan Ðại sư xác định ngay đây Tịnh Ðộ là chính định của Ðại thừa.

(7) Tức Ðại thừa. Nhiều khi để ca ngợi chỗ cứu cánh của Ðại thừa mà danh xưng Thượng thừa (Thiền tông còn xưng là tối thượng thừa) được xử dụng.

(8) Xem chú thích (2) phần Huyền Luận, trang 27.

(9) Tức Trung Hoa.

(10) Mọi sự giải thích và bàn luận về đế lý (tức chân lý) của Phật pháp đều thuộc về phương diện hiện tượng của Phật pháp tức Pháp tướng, chứ không phải là phương diện thật thể của Phật pháp (thuộc về thật chúng).

(11) Giải thích kinh như vầy, Ðàm Loan Ðại sư muốn nói gì? Phải chăng là chân lý của Phật pháp, và ở đây là Tịnh Ðộ, vẫn luôn luôn thường hiện hành (nghĩa là đang hoạt động), và nếu sự hiện hành này được biết đến qua phương tiện nào đó tại thế gian, thì phương tiện lưu hành sự thường có mặt của chân lý này là Kinh?

(12) Kinh Phật gổm 12 bộ kinh, xem chú thích số (3) phần Huyền Luận, trang 27.

Luận nghị là một trong 12 bộ.

(13) Xem chú thích số (22) phần Huyền Luận, trang 31.

(14) Ðại Chính Tạng, “Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện” (Quyển 50, số 2058, trang 321), có đề cập đến ngài Bà Tu Bàn Ðà hoặc Bà Tu Bàn Ðầu, mà truyền thống Thiền Tông Trung Hoa cho là Tổ Thiền thứ 21. Tuy nhiên sự tích trong Phó Pháp Tạng không được rõ ràng hay chi tiết gì hết. Ngoài ra còn có “ Bàn Tẩu Bàn Ðầu Pháp Sư truyện” (Ðại chính quyển 50, số 2049) do Trần Chân Ðế dịch tương đối chi tiết đầy đủ.

Trong phần kệ phân ra làm năm niệm môn, như phần văn xuôi bên dưới giải thích. Bốn câu kệ hàng thứ nhất gồm có ba niệm môn. Ba câu đầu là (hai) môn lễ bái và tán thán, câu sau cùng là môn tác nguyện. Hàng thứ hai là luận chủ tự nói ý (mình) ra, con y theo kinh Phật mà tạo luận cùng với giáo pháp của Phật tương ưng, (có nghĩa là) những gì (ngài) tin nhận (đều) có tông (có gốc). Tại sao lại (phải) nói như thế? Vì để thành tên Ưu Bà Ðề Xá vậy, cũng là (để) thành ba môn trên, và đưa ra hai môn dưới, cho nên kế đến mới nói về (hai môn) đó. Từ hàng thứ ba đến hết hàng thứ hai mươi ba là môn quán sát. Hàng sau cùng hết là môn hồi hướng. (Ðến đây là) phân xong các chương môn của các bài kệ.

THẾ TÔN, CON MỘT LÒNG QUY MẠNG, TẬN THẬP PHƯƠNG VÔ NGẠI QUANG NHƯ LAI, NGUYỆN SINH NƯỚV AN LẠC.

Thế Tôn là danh hiệu chung của chư Phật. Luận về trí, ắt không nghĩa nào không đạt đến. Nói về đoạn, thời tập khí không còn dư (chút gì). Trí và đoạn gồm đủ, có thể lợi ích cho thế gian (nên) được thế (gian) tôn trọng, thế nên gọi là Thế Tôn. Nói (Thế Tôn ở) đây là chỉ cho Thích Ca Như Lai. Cớ sao mà biết? (Do) câu dưới nói “con y Tu Ða La”. Bồ Tát Thiên Thân ở trong thời tượng pháp của Thích Ca Như Lai, thuận theo kinh giáo của Thích ca Như Lai, cho nên (mới) nguyện sinh. Nguyện sinh (như thế là) có (gốc có) tông(1), nên biết rõ nói (Thế Tôn) ở đây là chỉ về (Phật) Thích Ca. Nếu cho rằng ý (nói Thế Tôn) ở đây là nói hết cho chư Phật, thì cũng không sai quấy gì. Thường Bồ tát quy y Phật, như con có hiếu quy theo cha mẹ, như trung thần quy theo vương hậu, động(hay) tĩnh (đều) không phải (tự ý) mình, ra (hay) vào tất có lý do, (do) tri ân báo đức, (theo) lý phải trước thưa (bẩm). Lại ước nguyện không phải nhẹ, nếu Như Lai chẳng ra oai thần (gia hộ), thì làm sao đạt đến được (ước nguyện). (Vì) xin (Phật) ra thần lực, cho nên (phải) thưa lên.

Con một lòng, là câu nói tự đốc xúc của Bồ Tát Thiên Thân, (ý) nói niệm Vô Ngại Quang Như Lai (để) nguyện sinh An Lạc, (một cách) tâm tâm liên tục, không có (tâm) tưởng nào khác xen tạp vào. Hỏi rằng: Trong Phật pháp (chủ trương) không có tôi, ở đây tại sao lại xưng tôi (tức xưng con)(2)? Ðáp rằng: (khi) nói tôi (thì) gồm có ba (ý nghĩa) căn bổn, một là nói (tôi là) do tà kiến, hai là nói (tôi là) do tự (cao tự) đại, ba là nói (tôi là) để phổ biến. Giờ đây nói tôi, (tức “con”), là Bồ Tát Thiên thân tự chỉ vào mình mà nói, (ngài) dùng lối nói phổ biến, chứ không phải do tà kiến hay tự đại vậy.

Quy mạng tận thập phương Vô Ngại Quang Như lai là: quy mạng tức là môn lễ bái, tận thập phương Vô Ngại Quang Như Lai tức là môn tán thán. Cớ sao biết được quy mạng là lễ bái? Long Thụ Bố Tát tạo (bản văn) A Di Ðà Như Lai Tán(3), trong đó hoặc nói “dập đầu lậy”(4), hoặc nói “con quy mạng”, hoặc nói “quy mạng lễ”. Trong phần văn xuôi của luận này cũng nói tu năm niệm môn, trong năm niệm môn, lễ bái là trước nhất. Thiên Thân Bồ Tát đã nguyện vãng sinh, có lẽ nào lại không có lễ lậy cho được, nên phải biết quy mạng tức là lễ bái. Song lễ bái chỉ là cung kính, chưa hẳn là quy mạng, (mà) quy mạng thì chắc chắn là lễ bái. Nếu suy theo đó, thì quy mạng quan trọng hơn. (Dùng) kệ đưa tâm mình ra, nên phải nói quy mạng. (Còn) luận (để) giải nghĩa các kệ, thì nói đại để là lễ bái. (Hai nghĩa) đây (và) kia cùng thành, làm ý nghĩa càng hiển hiện. Tại sao biết được tận thập phương Vô Ngại Quang Như Lai là môn tán thán? Trong phần văn xuôi bên dưới có nói: Thế nào là môn tán thán? Chính là xưng danh của Như Lai kia, như trí tướng quang minh của Như Lai kia, như (ý) nghĩa của danh kia, vì muốn tu hành như thật tương ưng. Theo kinh Vô Lượng Thọ được nói ở nước Xá Vệ(5), Phật có giải thích về danh hiệu của A Di Ðà Như Lai (như sau): cớ gì hiệu là A Di Ðà? Quang minh Phật đó vô lượng, chiếu (các cõi) nước mưởi phương không hề bị chướng ngại, cho nên có hiệu là A Di Ðà. Lại (nói rằng) thọ mạng của Phật kia cùng với nhân dân, vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, nên gọi là A Di Ðà. Hỏi Rằng: Nếu nói quang minh Như lai Vô Ngại Quang (vốn) vô lượng chiếu khắp cõi nước mười phương, không có gì chướng ngại được, (thì) chúng sinh nơi đây tại sao không được quang chiếu tới? (Nếu) quang có chỗ không chiếu tới, (thì) há không phải là có chướng ngại (đó sao) sao? Ðáp rằng: Chướng ngại là thuộc về chúng sinh chứ không phải là (do) quang (bị) chướng ngại. Ví như ánh sáng mặt trời chiếu khắp bốn thiên hạ(6), song kẻ mù chẳng thấy, chẳng phải tại ánh sáng mặt trời không cùng khắp, lại cũng như mây dầy đặc đổ mưa bão mà đá trơ không thấm ướt, nào phải mưa không thấm đâu. Nếu nói một Phật (làm) chủ thống lãnh ba ngàn đại thiên thế giới(7), (thì) đó là trong luận của Thanh Văn nói, nếu nói chư Phật thống lãnh khắp mười phương vô lượng vô biên thế giới, (thì) đó là trong luận của Ðại thừa nói. Bồ Tát Thiên Thân giờ đây nói tận thập phương Vô Ngại Quang Như Lai, tức là y theo danh của Như Lai kia, như trí tướng quang minh của Như Lai kia mà tán thán, nên phải biết câu này là môn tán thán.

Nguyện sinh nước An lạc, một câu này thôi là môn tác nguyện, là ý quy mạng của Bồ Tát Thiên Thân vậy. Các nghĩa (về) an lạc này, (sẽ nói) đủ ở nơi môn quán sát tiếp dưới. Hỏi rằng: Trong các kinh luận của Ðại Thừa, chỗ nào cũng nói chúng sinh rốt cuộc vô sinh như hư không, (thì) tại sao Bồ Tát Thiên Thân lại nói nguyện sinh vậy? Ðáp rằng: Nói chúng sinh vô sinh như hư không có hai loại: một là như phàm phu cho rằng chúng sinh thật (có), như phàm phu thấy là sinh tử thật (có). Các sự việc được thấy (như phàm phu) này, rốt cuộc không hề có, (mà chỉ) như lông rùa, như hư không; hai là nói rằng vì chư pháp do nhân duyên sinh, nên tức là không sinh, không có gì (sinh) hết, như hư không. Bồ Tát Thiên Thân mà nguyện sinh, đó là nghĩa nhân duyên (sinh). Do nghĩa nhân duyên, nên (chỉ là) giả danh (mà) sinh, chẳng phải như phàm phu cho là chúng sinh thật (có), sinh tử thật (có) vậy. Hỏi rằng: Y theo nghĩa nào mà nói vãng sinh? Ðáp rằng: Ở trong cõi người giả danh này (mà) tu năm niệm môn, niệm trước làm nhân cho niệm sau. Người giả danh ở tịnh độ và người giả danh ở uế độ không được dứt khoát (cho) là một, không được dứt khoát (cho) là khác (nhau). Tâm trước với tâm sau cũng y như vậy. Tại vì sao? Nếu là một thì không có nhân quả nữa, nếu khác nhau thì không phải là liên tục. Nghĩa này trong “luận quán” (về) môn một khác”(8) có giải thích chi tiết. Ba niệm môn hàng thứ nhất (đã giải thích) xong.

CHÚ THÍCH 2:

(1) Ý nói lấy tông theo Kinh Giáo của Phật Thích ca, chứ không phải tự ý tạo ra luận này.

(2) Hán ngữ là “ngã”, nghĩa là “tôi”. Song ở đây, trong hoàn cảnh một lòng một dạ chí thành đối với Phật Thích Ca, để nguyện sẽ nghe lời Ngài vãng sinh, nên thể theo tinh thần Việt ngữ mà dịch là “con”.

 (3) Xem Thập Trụ Tỳ Bà Xá, dị hành phẩm, (Ðại chính quyển 26, trang43).

(4) Hán ngữ: Khể thủ lễ.

(5) Tức tiểu bổn A Di Ðà Kinh, kinh thường tụng trong thời khóa nhật tụng của Thiền môn Trung Hoa và Việt Nam. Phật nói kinh này tại Xá Vệ thành, kinh Quán Vô Lượng Thọ tại Vương Xá thành, và đại bổn Vô Lượng Thọ kinh tại Kỳ Xá Quật thuộc Vương Xá Thành.

(6) Tứ thiên hạ: nói cho bốn châu bao quanh núi Tu Di theo bốn phương chính. Nam là Thiệm Bộ Châu (Jambudvipa) hoặc còn gọi là (Nam) Diêm Phù Ðề. Ðông là Thắng Thần Châu, âm phạn đọc là (Ðông) Tỳ Ðề Ha (Purvä-videha) hoặc Phất Sa Ðề. Tây là Ngưu Hóa Châu, âm phạn là (Tây) Cù Ðà Ni hoặc Cù Gia Ni (Apara-Godäniya). Bắc là Cu Lô Châu hoặc Uất Ðơn Việt (Uttara-Kuru). Bốn châu này, theo vũ trụ quan của Phật giáo, là toàn thể lãnh vực sinh cư của cõi người (đối với cõi thiên cũng như tam ác đạo). Khi Chuyển Luân Thánh Vương thu phục trọn bốn châu này là coi như vị thánh vương ấy cai trị toàn thể loài người.

(7) Xem chú thích (1) số 35, trang 87.

(8) “Quán nhất dị môn luận” không rõ ý nói là luận nào. Song có lẽ là “Quán nhất dị môn” thuộc môn thứ 6 trong “Thập Nhị Môn Luận” của Long Thụ Bồ Tát (xem Ðại chính quyển 30, trang 164).

Kế đến là (nói về phần lập) thành danh Ưu Bà Ðề Xá, cũng (chính) là bài kệ (lập) thành (các môn) trên, khởi (lên các môn) dưới.

CON Y TU ÐA LA, TƯỚNG CÔNG ÐỨC CHÂN THẬT, NÓI NGUYỆN KỆ TỔNG TRÌ, CÙNG PHẬT GIÁO TƯƠNG ƯNG.

Một hàng (kệ) này vì sao mà thành danh Ưu Bà Ðề Xá, vì sao mà thành ba môn trên, khởi (lên) hai môn dưới? Kệ nói rằng: Con y Tu Ða La, cùng Phật giáo tương ưng. Tu Ða La là tên của Phật kinh. Con luận (về) nghĩa của Phật kinh, cùng với kinh tương ưng, do nhập vào (phần pháp) tướng của Phật pháp, nên được gọi là Ưu Bà Ðề Xá. Danh thành (lập) xong. (Còn) thành ba môn trên, khởi ba môn dưới (thì) y vào đâu, cớ gì y, y (như) thế nào (mà nói như vậy)? Y vào đâu là y vào Tu Ða La, cớ gì y là vì Như Lai chính là tướng công đức chân thật. Y thế nào là do tu năm niệm môn (mà) tương ưng (với Phật giáo).

Tu Ða La là (phần) nói thẳng(1) ra trong 12 bộ kinh thì gọi là Tu Ða La, nghĩa là bốn A Hàm tam tạng(2) các thứ. Các kinh Ðại thừa ngoài tam tạng, cũng gọi là Tu Ða La. Ở đây nói y theo Tu Ða La là (y theo) Tu Ða La của Ðại thừa thuộc bên ngoài tam tạng, không phải là các kinh A Hàm này nọ vậy. Tướng công đức chân thật thời gồm có hai loại công đức. Một là từ tâm hữu lậu mà sinh, không thuận theo pháp tính, có nghĩa là các (việc) thiện của (cõi) trời người phàm phu, các quả báo của trời người, hoặc nhân hoặc quả, đều là điên đảo, đều là hư dối, cho nên gọi là công đức không (chân) thật. Hai là từ nghiệp thanh tịnh (thuộc) trí huệ của Bồ Tát mà khởi, (vốn là) Phật sự trang nghiêm, y (theo) pháp tính (mà) nhập vào tướng thanh tịnh, pháp này không điên đảo, không hư dối, gọi là công đức chân thật. Không điên đảo là thế nào? Là do y theo pháp tính, thuận theo hai đề(3).  Không hư dối là thế nào? Là gom chúng sinh nhập vào (sự thanh) tịnh rốt cùng(4).

Nói nguyện kệ tổng trì, cùng Phật giáo tương ưng là: trì là nói không tản không mất, tổng là lấy ít gom nhiều, kệ là nói số câu năm chữ, nguyện là nói ưa thích vãng sinh, nói nghĩa là nói các luận kệ. Tóm lại mà nói là lên các kệ nguyện vãng sinh tổng trì kinh Phật, cùng với Phật giáo tương ưng. Tương ưng là ví như nắp nồi tương xứng vậy.

CHÚ THÍCH 3:

(1)Tức phẩn “trường hàng”, nghĩa là văn xuôi đối với phần kệ tụng.

(2) A Hàm ( Àgama) có nghĩa là giáo lý, giáo pháp, thánh giáo hoặc thánh ngôn... Kinh điển của Tiểu thừa được biên tập lại thành bốn bộ lớn gọi là bốn A Hàm gồm có:

-          Trường A Hàm

-         Trung A Hàm

-         Tăng Nhất A Hàm 

-          Tạp A Hảm.

Ngoài kinh điển ra còn có luật điển và luận điển, gọi chung là Tam tạng (tức ba giáo điển của Phật Pháp). Chữ tam tạng này đã được các nhà Ðại thừa Trung Hoa dùng để chỉ cho giáo điển của Tiểu thừa Thanh Văn tạng (đối lại với Ðại thừa tạng).

(3) Tức Ðệ nhất nghĩa đế và thế tục đế. Xem chú thích (1) số 28, trang 77.

(4) Hán văn: :Tất cánh tịnh”, nghĩa là cái thanh tịnh tuyệt đối, tận cùng.

QUÁN TƯỞNG THẾ GIỚI KIA, HƠN HẲN ÐƯỜNG BA CÕI.

Từ đây trở xuống là môn quán sát thứ tư. Trong môn (thứ tư) này phân ra làm hai (thứ quán sát) khác nhau. Một là quán sát sự thành tựu (về) trang nghiêm (thuộc) khí thế gian(1), hai là quán sát sự (về) trang nghiêm (thuộc) chúng sinh thế gian. Từ câu này trở xuống cho đến (chỗ) nguyện sinh cõi nước Phật A Di Ðà kia, là quán sự thành tựu (về) trang nghiêm (thuộc) khí thế gian. Trong sự quán (sát về) khí thế gian, lại phân làm 17 thứ khác nhau, (khi) đến trong (bài) văn sẽ nêu đề mục ra. Hai câu ở đây tức là sự (quán sát) thứ nhất, gọi là quán sát sự thành tựu công đức thanh tịnh trang nghiêm. Thanh tịnh ở đây là tổng tướng.

Phật sở dĩ mà khởi lên công đức thanh tịnh trang nghiêm này là (do) thấy ba cõi là tướng hư dối, là tướng luân chuyển, là tướng không cùng như loài sâu Xích Oách tuần hoàn(2), như kén tằm tự trói buộc. Khổ thay cho chúng sinh, (lại) trói chặt vào ba cõi (vừa) điên đảo (vừa) bất tịnh, (ngài vì thế) muốn đặt chúng sinh vào chỗ không hư dối, vào chỗ không luân chuyển, vào chỗ không vô cùng, được chỗ chung cuộc an lạc đại thanh tịnh, thế nên khởi lên công đức trang nghiêm thanh tịnh này. (Còn ) sự thành tựu (của các công đức này) là nói sự thanh tịnh này không thể phá hoại (được), không thể (bị) ô nhiễm, chẳng phải như ba cõi (vốn) là tướng ô nhiễm, (vốn) là tướng phá hoại (được).

Quán (ở đây) là quán sát. (Còn chữ) kia là (chỉ cho) nước An Lạc. Tướng thế giới là tướng thanh tịnh của thế giới An Lạc kia. Các tướng này được phân biệt ra (và được nói đến) ở bên dưới. Hơn hẳn đường ba cõi (thì) đường(3) là thông (suốt) vậy, (nghĩa là) do nhân như thế (nào thì) đắc quả (sẽ) như vậy, do quả như thế (nào thì) đối (lại) nhân (cũng) như vậy, thông (suốt từ) nhân đến quả, thông (suốt từ) quả đối (trở lại) nhân cho nên gọi là đường. Ba cõi thì một là cõi dục, chính là nói cho sáu cõi trời (thuộc cõi) dục(4), (cõi) người thuộc bốn thiên hạ, (cùng) súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục v.v...; hai là cõi sắc, chính là nói cho các cõi trời sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền; ba là cõi vô sắc, chính là nói cho các cõi trời không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ vậy(5). Ba cõi này vốn là căn nhà tối (trong đó) các phàm phu sinh tử lưu chuyển. Tuy là khổ sướng có khác nhau đôi chút, (tuổi thọ) dài ngắn tạm thời có khác, (song) tóm lại mà xét thì chẳng cõi nào chẳng phải hữu lậu, tựa nép nương nhau(6), (mà) tuần hoàn không cùng, (xen) tạp (vào nhau)(7) mà sinh xúc (giác) (cảm) thọ, (rồi bị) bốn (thứ điên) đảo(8) tóm giữ mãi. Cả nhân lẫn quả (chỉ) là hư dối áp bức nhau.

(Cõi) An Lạc (này) có chính quán từ bi của Bồ Tát là (nguyên) do sinh (của nó), (do) thần lực bổn nguyện của Như Lai mà (được) kiến lập (nên). (Ba loài) chúng sinh thuộc thai, trứng, ẩm thấp(9), do (cõi An Lạc) đây mà (được) nâng cao, nghiệp trói(10) thường buộc, từ đây vĩnh (viễn) đoạn (dứt), tiếp (lấy) quyền đuôi tên không đợi khuyên (mời) mà (sẵn sàng) giương cung(11), chăm nhún giỏi nhường (đặt) ngang (với) Phổ Hiền (Bồ Tát) mà (sánh) cùng đức (hạnh)(12). (Nói) hơn hẳn ba cõi, cũng chỉ là nói gần (đúng mà thôi).

CHÚ THÍCH 4:

(1) Thế gian (loka) hay thế giới, theo Phật giáo, được phân thành hai loại, đại để là vô tình tức khí thế gian (bhäjana-loka) và hữu tình tức chúng sinh thế gian (sattva-loka). Khí là đồ dùng, khí cụ... nghĩa là cái thế giới thiên nhiên không tình cảm không ý thức để cho các loài chúng sinh có tình cảm và ý thức sử dụng nó như đồ dùng và dựa trên nó mà sinh sống. Như thế thế gian không thể thiếu một trong hai yếu tố này được.

(2) Xích Oách: một loài sâu cũng tiến hóa như loài bướm, bỏ thân sâu chuyển thành loài có cánh.

(3) Hán ngữ là “đạo”. Có đường tức có nghĩa là đi lại được, nên đường có nghĩa là thông suốt.

(4) Xem chú thích (2) số 13, trang 61.

(5) Các cõi trời này xem chú thích (3) và (4), số 13, trang 61.

(6) Ý nói không có thật thể.

(7) Ý nói do căn và cảnh đối đãi với nhau mà sinh cảm giác, ý thức...

(8) Bốn điên đảo là:

-          Thường cho là vô thường, vô thường lại cho là thường.

-         Lạc cho là khổ, khổ lại cho là lạc.

-         Ngã cho là vô ngã, vô ngã lại cho là ngã.

-         Tịnh cho là bất tịnh, bất tịnh lại cho là tịnh.

(9) Tức do hoặc thai sinh, hoặc trứng sinh, hoặc ẩm thấp mà sinh.

(10) Nghiệp đưa chúng sinh vào ba cõi không dứt ra khỏi nên gọi là nghiệp trói (nghiệp hệ).

(11) Nguyên văn: “Tục quát chi quyền, bất đãi khuyến nhi luyến cung”. Không rõ ý câu “Tục quát chi quyền” ra sao! Ðại để nghĩa nôm na là “tiếp lấy oai quyền của đuôi mũi tên”. Chắc ý nói là đón nhân lấy công đức của cõi Tịnh Ðộ mà mạnh mẽ tiến thẳng lên đường Ðại thừa, không cần phải ai khuyên nhủ, như ý câu sau “bất đãi khuyến nhi luyến cung”: không đợi mời mà giương cung.

(12) Nguyên văn: “Lao khiêm thiện nhượng, tề Phổ Hiền nhi đồng đức”. Câu này diễn tả về đức hạnh đạt được nơi Tịnh Ðộ sánh ngang với Phổ Hiền hạnh.

CỨU CÁNH TỰA HƯ KHÔNG, RỘNG LỚN KHÔNG BỜ BẾN.

Hai câu này gọi là sự thành tựu công đức (về) lượng trang nghiêm. Phật vốn sở dĩ mà khởi lên công đức (về) lượng trang nghiêm này, là (do) thấy ba cõi hẹp nhõ, gò lở, non sa, đất bồi, bãi đắp, hoặc (bị) đền đài ép ngặt, hoặc (bị) ruậng nương chèn cựa, hoặc (ý) chí mong (muốn) (mà) đường gấp (xúc)(1) hoặc (bị) núi sông ngăn lại, hoặc bị bờ cõi phân chia, có đủ thứ gò bó như thế. Thế nên Bồ Tát(2) khởi lên (hạnh) nguyện công đức (về) lượng trang nghiêm này, nguyện cõi nước của tôi như hư không rộng lớn không bờ cõi. Tựa hư không là nói người sinh vào tuy nhiều mà cũng như không có vậy. Rộng lớn không bờ bến là lập thành ý nghĩa “tựa hư không” ở trên. Tại sao lại như hư không? Bởi (nó) rộng lớn không bờ bến. Sự thành tựu (công đức vô lượng) này là nói cho chúng sinh ở khắp mười phương vãng sinh về, hoặc đã sinh (rồi), hoặc hiện (đang) sinh, hoặc sẽ sinh, tuy vô lượng vô biên, rốt cùng luôn như hư không, rộng lớn không bờ cõi, rồi ra không có lúc hết. Cho nên nói: Cứu cánh tựa hư không, rộng lớn không bờ bến.

Hỏi rằng: Như phương trượng của Duy Ma(3) chứa trọn không sót (ai), cần gì phải bờ cõi không lường, mới gọi là rộng lớn?

Ðáp rằng: Nói rộng lớn (ở đây) không cần phải dùng ba mươi mẫu (hay) năm mươi mẫu mà ví dụ, chỉ (cần) nói như (hư) không (thì) cũng (chẳng) việc gì (phải) phiền đến phương trượng(4). Vả lại những gì phương trượng gom chứa, là (theo ý nghĩ ở) nơi hẹp mà (thành) rộng. (Nếu) luận (một cách) đích thật về quả báo, thì lẽ nào lại bằng được (ở) nơi rộng mà rộng sao.

CHÚ THÍCH 5:

(1)Nguyên văn “chí cần lộ xúc”, có lẽ ý nói: tâm ý muốn thong dong mà đường nẻo lại ngặt nghèo?

(2) Chữ Bồ tát ở đây chỉ cho Phật A Di Ðà khi còn là Pháp Tạng Tỳ Kheo phát 48 nguyện... Các bài kệ dưới nếu có dùng chữ Bồ Tát thì cũng chiếu theo đây mà hiểu.

(3) Phương Trượng tức một trượng vuông (một trượng khoảng gần ba mét rưỡi), chỉ cho diện tích căn phòng của Bồ Tát Duy Ma Cật (Vimalakìrti). Khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát dẫn đại chúng Bồ Tát và Thanh văn đến văn phòng này để thăm bệnh của Duy Ma Cật, vị Bồ Tát này dùng thần lực của “bất tư nghì giải thoát” thỉnh về ba vạn hai ngàn sư tử tòa, từ Phật Tu Di Ðăng Vương tại thế giới Tu Di Tướng cách cõi này 36 hằng hà sa cõi Phật về phương đông, để mời đại chúng ngồi. Các tòa sư tử này trang sức đẹp đẽ, cao lớn như 8 vạn 4 ngàn do tuần (một do tuần, yojana, lhoảng 11 cây số), đều được sắp đặt trọn trong căn phòng “phương trượng” của Duy Ma Cật (xem “Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, Bất Tư Nghì phẩm đệ lục”, Ðại chính tạng, quyển 14, trang 546). Sau đó 9 trăm vạn Bồ Tát từ thế giới Chúng Hương của đức Phật Hương Tích đồng kéo đến tụ hội nơi căn phòng nhỏ này. Bồ Tát Duy Ma Cật lại hóa hiện thêm 9 trăm vạn sư tử tòa như trên. Lúc ấy 8 vạn 4 ngàn vị trưởng giả trong thành Tỳ Già Ly cũng như các địa thần, hư không thần, và chư thiên thuộc dục và sắc giới, đều theo mùi hương của cơm của cõi Chúng Hương mà đến vào phòng “phương trượng” của Duy Ma Cật Bồ Tát (Sách dẫn: “Hương Tích Phật phẩm đệ thập”, trang 552). Căn phòng phương trượng của Duy Ma chứa bằng đó người mà không hề chật chội.

(4) Ý nói: nmói như hư không là chính xác quá rồi, nếu còn phải dùng đến “phương trượng” thì vẫn là có thước đo (vẫn là có lượng), rồi lại từ chỗ có lượng ấy để luận ra là vô lượng thì có mất công hay không?

CHÍNH ÐẠO ÐẠI TỪ BI, THIỆN CĂN XUẤT THẾ SINH.

Hai câu này, gọi là (sự) thành tựu công đức (về) tính trang nghiêm. Phật vốn vì sao khởi lên thứ trang nghiêm này? (Do ngài) thấy có cõi nước, do vì ái dục nên có cõi dục, do vì thiền định (duyên) theo chán (ngán)(1) tất có cõi sắc và vô sắc. Ba cõi này đều là do tà đạo hữu lậu mà sinh, chúng sinh (cứ thế) ngủ vùi trong giấc mộng lớn (là ba cõi này), không biết mong cầu ra khỏi. Thế nên (ngài mới) dấy tâm đại bi, nguyện ta thành Phật, dùng đạo chính kiến vô thượng, khởi (lên) cõi thanh tịnh, (vượt) ra khỏi ba cõi. Tính (trang nghiêm) có nghĩa là gốc, ý nói cõi tịnh độ này tùy thuận theo pháp tính, không trái ngược với gốc pháp(2). Sự (tướng của cõi này) đồng với nghĩa khởi (lên) từ tính của Bảo Vương Như Lai trong kinh Hoa Nghiêm(3). Còn (có ý) nói là tập mà thành tính, chỉ cho Bồ Tát Pháp Tạng(4) do tích tập các Ba La Mật(5) lại mà thành (tính của cõi này). Cũng có ý nói tính là chủng tính (của) thánh, từ Bồ Tát Pháp Tạng do nơi Phật Thế Tự Tại Vương mà ngộ vô sinh pháp nhẫn(6), (địa) vị lúc đó gọi là chủng tính thánh(7). Ở trong tính này, phát 48 đại nguyện, tu cho thành cõa này, tức gọi là An Lạc tịnh độ. (Cõi) đó là do nhân này mà được, (nay) ở trong quả (mà) nói về nhân, nên gọi là tính. Lại (còn có ý) nói tính có nghĩa là tất nhiên, nghĩa là không đổi, như tính biển (chỉ) một vị, các nguồn (sông) nhập vào đều thành một vị, vị của biển không tùy theo (các nguồn) kia mà thay đổi. Lại như thân người tính (của nó) không sạch,nên đủ loại sắc,, hương, mỹ vị tuyệt hảo, nhập vào thân đếu thành không sạch. Các người vãng sinh trong tịnh độ An Lạc (thời) không ai không phải tịnh sắc, không ai không là tịnh tâm, rốt cuộc đều được pháp thân thanh tịnh bình đẳng vô vi. Bởi cõi nước An Lạc do tính thanh tịnh mà thành tựu.

Chính đạo đại từ bi, thiện căn xuất thế sinh là đại đạo bình đẳng vậy. Ðạo bình đẳng sở dĩ gọi là chính đạo, vì bình đẳng là thể tướng của các pháp. Bởi các pháp bình đẳng nên phát tâm (bình) đẳng, phát tâm bình đẳng nên đạo bình đẳng, đạo bình đẳng nên đại từ bi bình đẳng. Ðại từ bi là chính nhân của Phật đạo, nên mới nói là chính đạo đại từ bi. Từ bi có ba duyên, một là duyên chúng sinh, đó là bi nhỏ; hai là bi pháp, đó là bi trung; ba là không có duyên, đó là đại bi(8). Ðại bi là thiện căn xuất thế vậy. Tịnh độ An Lạc do từ đại bi này mà sinh, nên gọi đại bi này là gốc của tịnh độ, nên mới nói thiện căn xuất thế sinh.

CHÚ THÍCH 6:

(1) Tu thiền định lấy sự chán ghét và xả bỏ dục ái làm căn bản và mục tiêu thành ra tứ thiện cõi sắc và tứ định cõi vô sắc.

(2) Nguyên văn: “Pháp bổn”, nghĩa là thật tính của pháp.

(3) Chưa truy ra gốc gác trong Hoa Nghiêm. Nhưng theo “Dinh Thị Phật Học Ðại Từ Ðiển” thì Bảo Vương không phải là tên Phật mà chỉ do vì Phật dùng công đức “bảo” trang nghiêm báo thân nên gọi các ngài là Bảo Vương.

(4) Pháp Tạng Tỳ Kheo là tiền thân của Phật A Di Ðà, đã phát 48 đại nguyện thành tựu Cực Lạc thế giới vậy. (Xem kinh Vô Lượng Thọ, đại bổn).

(5) Ba La Mật (Päramitä) nói đủ là Ba La Mật Ða. Về ý nghĩa, có hai lối phân tích theo ngữ nguyên. Pàrami (hoặc Paramï) tạo thành từ chữ “parama” có nghĩa là trên hết, tối thượng, tuyệt hảo, hạng nhất, đệ nhất (như parama + artha = paramärtha tức đệ nhất nghĩa hay thắng nghĩa). Pärami cộng thêm vĩ ngữ tà thành päramitä nghĩa là tối thượng hay toàn hảo như các học giả Tây phương thường dịch là “perfection”. Lối phân tích khác là päram cộng với ita. Päram là bờ bên kia của con sông, ita là quá khứ phân từ của động từ căn i có nghĩa là đi. Päramitä là đi qua bờ bên kia. Nghĩa này được các nhà dịch kinh ra Hán ngữ và Tạng ngữ chấp nhận, trong khi nghĩa trên lại được chấp nhận theo kinh tạng hệ Pali.

Theo Ðại thừa thì gồm có 6 Ba La Mật hoặc 10 Ba La Mật. Theo “Giải Thâm Mật Kinh”. 6 Ba La Mật nhiếp hai xu hướng: 3 Ba La Mật đầu bố thí, trì giới, nhẫn nhục là để giúp ích các hữu tình. 3 Ba La Mật sau tinh tiến, thiền định, trí huệ nhằm đối trị phiền não. Sáu Ba La Mật căn bản này lại có thêm 4 Ba La Mật khác hỗ trợ là 1. Phương tiện xảo Ba La Mật trợ giúp cho bố thí, trì giới, nhẫn nhục thêm mạnh, 2. Nguyện Ba La Mật hỗ trợ cho tinh tiến thêm mạnh, 3. Lực Ba La Mật giúp thêm cho thiền định thêm chắc bền, và 4. Trí Ba La Mật làm cho trí huệ được viên mãn (xem Ðịa Ba La Mật Ða phẩm đệ thất, Giải Thâm Mật Kinh). Tổng cộng là 10 Ba La Mật.

(6) Xem chú thích (16) phần Huyền Luận, trang 30.

(7) Chủng là mầm giống, mầm loại, có tính chất xuất thế thanh tịnh nên gọi là tính thánh.

(8) Tâm thức cần phải chỗ duyên (sở duyên) vào để theo đó mà khởi. Tâm bi cũng vậy, cần phải chỗ duyện tức đối tượng của mình để mà khởi. Hoặc duyên theo toàn thể chúng sinh, lấy đó làm đối tượng để khởi bi tâm, thì bi tâm này gọi là chúng sinh duyên từ bi. Nếu lấy “pháp”, ở đây là toàn thể các phẩn tính tạo thành chúng sinh, làm duyên để khởi tâm bi, thì được gọi là Pháp duyên từ bi. Nếu lấy thật tính KHÔNG của các pháp làm duyên để khởi lên bi tâm, thì tâm bi này gọi là vô duyên từ bi. Như kinh Kim Cương nói “độ tất cả các chúng sinh (tức chúng sinh duyên từ bi) mà không thấy có một chúng sinh nào được diệt độ hết (tức vừa pháp duyên, vừa vô duyên từ bi)”.

QUANG MINH SẠCH ÐẦY ÐỦ, NHƯ GƯƠNG VÀNH NHẬT NGUYỆT.

Hai câu này gọi là (sự)  thành tựu công đức (về) hình tướng trang nghiêm. Phật sở dĩ khởi lên công đức trang nghiêm này là (do) thấy mặt trời đi (quanh) bốn miền(1) (mà) ánh sáng không trọn ba hướng(2), lửa thắp ngay lên trong nhà (mà) soi sáng chẳng đủ mười nhận(3), do đó nên (ngài) khởi lên nguyện quang minh sạch đầy đủ , như vành ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, đầy đủ nơi tự thể. Tịnh Ðộ An Lạc kia tuy là rộng lớn vô biên (song) quang minh thanh tịnh (này) không gì không (chiếu tới) tràn ngập, thế nên mới nói là Quang minh sạch đầy đủ, như gương vành nhật nguyệt.

CHÚ THÍCH 7:

(1)Nguyên văn “tứ vực”: ý chỉ trong vòng giới hạn của bốn phương, tức khoảng không gian của một thế giới.

(2) Ý nói ánh mặt trời chỉ chiếu được một “vực” trong một lúc, không thể chiếu đều hết cả ba hướng kia cùng một lúc.

(3) Nhận là đơn vị đo lường thời cổ xưa. Một nhận khoảng gần 2 mét rưỡi.

ÐỦ TÍNH CHẤT TRÂN BẢO, GỒM HẾT DIỆU TRANG NGHIÊM.

Hai câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) đủ loại sự trang nghiêm. Phật cớ gì lại khởi lên trang nghiêm này? (Do ngài) thấy có cõi nước dùng đất bùn để trang sức cung điện, dùng gỗ đá làm đài hoa, hoặc có chạm ngọc dát vàng (thì cũng) không thỏa ý nguyện, hoặc có sắp đặt trăm ngàn (thứ) (thì cũng) chịu đủ cơ cực(1), do lẽ đó nên (ngài) dấy tâm đại bi, nguyện ta (khi) thành Phật sẽ khiến (cõi của ta) châu báu đầy đủ, tự nhiên tráng lệ, (đến mức) cùng quên hết (không) còn (thứ) gì khác(2) (mà) tự đắc (thành) nơi Phật đạo. Sự trang nghiêm này cho dù Tỳ Thủ Yết Ma(3), tài nghệ (vốn) nổi danh là tuyệt vời, có (cố) suy cùng nghĩ cạn (cũng) không sao biết cách (làm) được.

Tính có nghĩa gốc vậy. Năng sinh đã (thanh) tịnh, sở sinh làm sao lại không (thanh) tịnh được, cho nên kinh nói, tùy tâm mà tịnh ắt cõi Phật tịnh. Cho nên mới nói là: đủ tính chất trân bảo, gồm hết diệu trang nghiêm.

CHÚ THÍCH 8:

(1)Ý nói dù kẻ có của đủ để xây cất thei ý mình thì cũng phải ra công sức rất nhiều.

(2) Nguyên văn: “Tương vong ư hữu dư”, ý nói tính chất trang nghiêm của cõi kia quá hoàn toàn đến độ làm cho chúng sinh không còn thấy thiếu thốn hay thèm mong bất cứ thứ gì nữa, do đó sẽ tự thành được Phật đạo.

(3) Viśva-karman tức thần công nghệ, cộng nghiệp, kiêm là thần kiến trúc, có thể biến hóa ra đủ thứ xảo nghệ, đồ dùng, dụng cụ, cũng như đủ loại trang nghiêm theo ý của các vị vua trên cõi trời Ðao Lợi (tức Tam Thập Tam Thiên).

QUANG VÔ CẤU RỰC RỠ, SÁNG SẠCH RỌI THẾ GIAN.

Hai câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) sắc trang nghiêm. Phật sở dĩ khởi lên (sự) trang nghiêm nảy là (do ngài) thấy các cõi nước xấu tốt không đồng. Do không đồng nhau nên lấy cao thấp làm hình (dáng). Cao thấp đã thành hình, thời thị phi khởi. Thị phi đã khởi (thì cứ) chìm luôn trong ba (cõi) hữu(1). Cho nên (ngài) dấy tâm đại bi, khởi lên nguyện bình đẳng, nguyện cõi nước của ta ánh sáng lung linh rực rỡ, hạng nhất không gì bằng, không như sắc vàng của trời, người có thể bị thứ (sắc) khác át mất. Nếu (nói về) lấn át lẫn nhau, (thì) như gương sáng để bên vàng (ròng) ắt (ẩn mất) không hiện(2), (lại) vàng trong thời hiện tại này sánh với vàng trong thời có Phật thời (ẩn mất) không hiện, vàng thời còn có Phật so với vàng Diêm Phù Na(3) lại (ẩn mất) không hiện, vàng Diêm Phù Na mà so với cát vàng trong biển lớn (vào thời) thuộc đạo Chuyển Luân Vương(4) thì lại (ẩn mất) không hiện, cát vàng thuộc đạo Chuyển Luân Vương so với núi vàng thời (ẩn mất) không hiện, núi vàng sánh với núi Tu Di vàng ắt (ẩn mất) không hiện, núi Tu Di vàng so với vàng anh lạc của cõi trời Ba Mươi Ba(5) ắt (ẩn mất) không hiện, vàng anh lạc của cõi trời Ba Mươi Ba so với vàng của cõi trời Diệm Ma sẽ (ẩn mất) không hiện, vàng của cõi trời Diệm Ma so với vàng của cõi trời Ðâu Suất Ðà sẽ (ẩn mất) không hiện, vàng của cõi trời Ðâu Suất Ðả so với vàng của cõi trời Hóa Tự Tại sẽ (Ẩn mất) không hiện, vàng của cõi trời Hóa Tự Tại so với vàng của cõi trời Tha Hóa Tự Tại sẽ (ẩn mất) không hiện, vàng của cõi trời Tha Hóa Tự Tại so với quang minh trong nước An Lạc sẽ (ẩn mất) không hiện.

Tại sao lại như thế? (Vì) ánh sáng vàng ở cõi ấy do đứt hết nghiệp cấu (bẩn) mà sinh, do không thanh tịnh nào lại không thành tựu vậy. Tịnh độ An Lạc là do nghiệp (thanh) tịnh vô sinh nhẫn của Bồ Tát mà (sinh) khởi, được thống lĩng bởi vua pháp A Di Ðà Như Lai, vì A Di Ðà Như Lai là tăng thượng duyên vậy(6), cho nên mới nói là Quang vô cấu rực rõ, sáng sạch rọi thế gian, là soi chiếu hai loại thế gian(7)vậy.

CHÚ THÍCH 9:

(1) Tức ba cõi luân hồi: cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.

(2) Ý nói cái sáng của gương quá yếu so với vàng, nên bị ánh sáng vàng lấn át mất không thấy đâu là ánh sáng gương nữa.

(3) Jambűnada-suvarņa: Jambünada phiên âm là Viêm Phù Ðàn, Diêm Phù Na Ðề, Diêm Phù Na Ðà (hoặc Na Tha), còn Suyvaņa nghĩa là vàng. Diêm Phù (Jambu) là tên cây. Nam Thiệm Bộ Châu có nhiều loại cây này, nên còn gọi là châu Diêm Phù Ðề (Jambudvipa). Dưới rừng cây Diêm Phù có con sông (nada). Sông lấy tên cây mà gọi, nên thành Diêm Phù Na Ðề (hoặc Ðàn, hoặc Tha). Trong sông có chất vàng (suvarņa), lấy tên của sông mà gọi thành vàng Diêm Phù Na Ðề (Jambünada-suvarņa).

(4) Tức vào thời vua Chuyển Luân (Cakra-vartiva) dùng thập thiện đạo để giáo hóa chúng sinh, nên thời ấy rất thuần thiện.

(5) Tức Tam Thập Tam Thiên (Träyastrimśa): tầng trời thứ nhì trong sáu tầng trời thuộc cõi dục (Kämävacara). Các tầng trời kia theo thứ tự từ thấp lên cao, tương ưng với phước đức hành thiện trì giới từ ít đến nhiều, như sau: Dưới Tam Thập Tam Thiên là tầng trời thứ nhất Tứ Thiên Vương (Cätur-mahäräjakäjika), từ Tam Thập Tam Thiên trở lênlà Diệm Ma Thiên (Yäma), Ðâu Suất Ðà Thiên (Tuşita), Hóa Tự Tại Thiên (Nirmäņarati) và Tha Hóa Tự Tại Thiên (Paranirmitavaśa-vartina).

(6) Tăng thượng duyên là một trong bốn duyên. Duyên (pratyaya) là chỗ dựa, điểm dựa, chỗ xuất xứ để từ đó khởi lên một cái khác, gọi là kết quả của duyên. Nhân chính để sinh quả gọi là nhân duyên (hetu-pratyaya); đối tượng ngoại giới làm chỗ tựa cho tâm thức khởi dậy gọi là sở duyên duyên (älambana-pratyaya); tâm tâm sinh diệt làm duyên cho nhau như tâm trước diệt làm duyên cho tâm sau khởi, tâm trước tâm sau bình đẳng và nối tiếp nhau không gián đoạn gọi là đẳng vô gián duyên (samanantara-pratyaya); và cuối cùng, tất cả mọi yếu tố trợ giúp cho các “kết quả” sinh khởi mạnh mẽ, không làm chướng ngại cho sự “thành quả”, đều gọi là tăng thượng duyên (Adhipati-pratyaya).

(7) Tức thế gian và xuất thế gian, ở đây là Cực lạc thế giới.

CÓ CÔNG ÐỨC BẰNG BÁU, MỀM MẠI CHUYỂN TRÁI PHẢI, CHẠM VÀO SINH THẮNG LẠC, HƠN CA CHIÊN DIÊN LÂN ÐÀ.

Bốn câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) xúc trang nghiêm. Phật vốn (do) cớ gì mà khởi lên trang nghiêm này? (Do ngài) thấy có cõi nước, tuy đầy báu vàng ngọc mà không (làm) được y phục(1), (có) gương sáng đồ chơi quý mà đồ đặt bày(2)không cách (gì có được). Do (có) các thứ ấy thì vui nơi mắt (song) chẳng tiện lợi cho thân. Mắt và thân hai đàng (như thế) chả lẽ không mâu thuẫn sao. Cho nên (ngài) nguyện rằng khiến cõi nước ta, người, trời, sáu tình hòa (nhau) như sữa với nước(3), diệt hết mọi lao khổ Sở Việt(4), cho nên (ở đây) bẩy báu mền mại, (vừa) đẹp mắt (vừa) tiện (lợi cho) thân.

Ca Chiên Lân Ðà là tên của loại cỏ mềm mại bên Thiên Trúc (5), xúc chạm vào có thể sinh ra cảm giác )khoái) lạc, nên lấy đó làm thí dụ. Người chú giải(6) (có thể) nói (như sau), cõi này đất đá cỏ cây, mỗi thứ có thể (chất) cố định riêng, dịch giả(7) vì sao lại nhìn (các) báu (của cõi) kia là cỏ? Phải (chăng) là cho rằng các thứ (báu) kia (như) mầm non mơn trớn, (như) cỏ mịn uốn vòng, nên nêu lên là cỏ vậy. Tôi(8) nếu được tham gia vào việc dịch (thuật) thì sẽ có cách khác. Sinh thắng lạc là khi chạm vào Ca Chiên Lân Ðà thì sinh cái lạc nhiễm trước(9) (còn) chạm vào báu mềm ở đây thì sinh niềm (an) lạc pháp hỉ(10), hai sự (việc này) nêu lên, không phải thắng thì là gì nữa. Cho nên mới nói: Cỏ công đức bằng báu, mềm mại chuyển trái phải, chạm vào sinh thắng lạc, hơn Ca Chiên Lân Ðà.

CHÚ THÍCH 10:

(1) Có lẽ ám chỉ cho các loài phi nhân như loài Rồng (Näga) chẳng hạn?

(2) “Phô cụ” tức các đồ dụng cụ để trưng bày các thứ quý.

(3) Sáu tình tức sáu căn. Từ sáu căn khởi lên các tình cảm ý thức, nên đôi kai gọi là sáu tình, chính là mắt, tai, mữi, lưỡi, thân và ý. Sáu tình hòa như sữa nước, ý nói cả sáu căn đều cùng hưởng lạc đồng đều như nhau.

(4) “Sở Việt chi lao”: Sở và Việt là hai nước vào thời Xuân Thu bên Trung Hoa, hai xứ này cách xa nhau nên nói “Sở Việt”, là chỉ cho sự xa xôi cách trở vậy. “Sở Việt chi lao” là cáo khổ nhọc xa xôi, đi lại vất vả.

(5) Xưa Trung Hoa gọi Ấn  là Thiên Trúc.

(6) Người chú giải ở đây không rõ ám chỉ vào ai, có lẽ chỉ vào các người nghiên học bổn luận này

(7) Dịch giả chỉ cho ngài Bồ Ðề Lưu Chi.

(8) Tức Ðàm Loan Ðại sư. Ðại sư không mấy hài lòng về ý nghĩa ở đây. Và nhài tin rằng đó là do lối dịch của Bồ Ðề Lưu Chi mà ra.

(10) Pháp hỉ là cáo vui của pháp, do pháp giải thóat đưa lại niềm vui thanh tịnh.

HOA BÁU NGÀN VẠN LOẠI, CHE KHẮP SUỐI AO HỒ, GIÓ THOẢNG LAY HOA LÁ, QUANG GIAO THOA LOẠN CHUYỂN.

Bốn câu này gọi là (sự) thành tựu công đức về nước trang nghiêm. Phật vốn vì đâu khởi lên nguyện này? (Do ngài) thấy có cõi nước hoặc sông nước cuồn cuộn, biển động ba đào, bọt nổi rợn người, hoặc đóng (băng) tan (giá) thấm (ướt) đông (đá), thúc bách xôn xao, hướng (đến) thì không niềm vui thích, trở (ngược) thì có (nỗi) lo gặp nạn(1). Bồ Tát thấy như thế dấy tâm đại bi, nguyện (khi) ta thành Phật thời mọi thứ sông suối ao hồ cùng với cung điện tương xứng. (Sẽ có) đủ loại hoa báu trải khắp làm đẹp cho (mặt) nước, (rồi có) gío hiu hiu quạt nhẹ, (có ánh sáng) chiếu ra thứ lớp. Không một đóa (hoa) nào lại không thể làm cho sảng khoái tinh thần vậy. Cho nên mới nói: Hoa báu ngàn vạn loại, che khắp suối ao hồ, gío thoảng lay hoa lá, quang giao thoa loạn chuyển.

CHÚ THÍCH 11:

(1)Ý nói sông nước hiểm nghèo, kẻ đi thuyền trong các cõi nước này dễ gặp khó khăn nguy hiểm.

CUNG ÐIỆN CÙNG LẦU GÁC, THẤY MƯỜI PHƯƠNG KHÔNG NGẠI, CÂY TẠP ÐỦ QUANG SẮC, LAN CAN BÁU GIÁP VÒNG.

Bốn câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) đất trang nghiệm. Phật vốn vì đâu khởi lên trang nghiêm này? (Do ngài) thấy có cõi nước non cao sừng sững, câu khô giăng đèo, gập ghềnh hiểm trở, vực thăm thẳm sâu, cỏ đen đầy hốc. Biển xanh man mác (kia) là các dòng hút mắt, dạt dào đầm rộng (nọ) là chốn không dấu chân(1), Bồ Tát thấy thế dấy nguyện đại bi, nguyện rằng cõi nước ta đất bằng như lòng bàn tay, cung điện lầu gác (như) gương thâu (vào hình ảnh) mười phương, đúng là không thuộc vào đâu hết, mà cũng không đâu thuộc vào. Cây báu lan can báu óng ánh chiếu nhau, cho nên nói rằng: Cung điện cùng lầu gác, thấy không ngại mười phương, cây tạp đủ quang sắc, lan can báu giáp vòng.

CHÚ THÍCH 12:

(1) Ý chỉ sự hoang dại của thiên nhiên ở cõi này.

VÔ LƯỢNG BÁU GIAO NHAU, HƯ KHÔNG TRÀN LƯỚI VÕNG, ÐỦ LOẠI LINH VANG HƯỞNG, NGÂN NGA ÂM ÐIỆU PHÁP.

Bốn câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) hư không trang nghiêm. Phật vốn vì đâu mà khởi lên trang nghiêm này? (Do ngài) thấy có cõi nước, khói mây sương bụi, che đậy thái hư. Sét gầm giông ào, từ trên đổ xuống. Cầu vòng điềm gở, từ không mà hiện; âu lo trăm mối khiến cho lông dựng(1), Bồ Tát thấy thế dấy tâm đại bi, nguyện cõi nước ta lưới báu nối chéo nhau, vòng khắp hư không, chuông linh cung thương(2) ngân nga đạo pháp, nhìn không biết chán, (lại thành) nhớ đạo thấy đức. Cho nên nói rằng: Vô lượng báu giao nhau, hư không tràn lưới võng, đủ loại linh vang hưởng, ngân nga âm điêu pháp.

CHÚ THÍCH 13:

(1) Tức sửng tóc gáy hay nổi gai ốc, ý chỉ cho các sự lo âu hãi hùng của cõi này từ trên hư không đổ xuống.

(2) Tức các âm điệu của âm nhạc cổ Trung Hoa.

MƯA HOA, Y TRANG NGHIÊM, VÔ LƯỢNG HƯƠNG HUÂN KHẮP.

Hai câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) mưa trang nghiêm. Phật vốn vì sao lại khởi lên trang nghiêm này? (Do ngài) thấy có cõi nước, muốn dùng đồ trang điểm trải dưới đất để mời bậc đáng tôn trọng, hoặc muốn dùng hương hoa báu quý để tỏ lòng cung kính, song nghiệp nghèo phước bạc, sự việc (mong muốn) ấy chẳng xong. Cho nên (ngài) dấy nguyện đại bi, nguyện cõi nước ta, thường mưa xuống các thứ này, thỏa mãn tâm ý chúng sinh. Tại sao lại dùng mưa mà nói (cho sự việc ấy)? Sợ (có người) chấp lấy mà nói rằng nếu thường mưa hoa y, thì phải đầy lấp hư không, (vậy do) duyên gì mà không ngại (mưa như vậy)(1)? Cho nên lấy mưa làm ví dụ. Mưa đúng thời tất khônglo gì tràn ngập. Quả báo trên (cõi) An Lạc lẽ nào lại có các thứ làm phiền chúng sinh sao? Kinh có nói: Ngày đêm sáu thời(2) mưa áo báu, mưa hoa báu, chất báu mềm mại, dẫm bước lên trên, ắt lún xuống bốn tấc, theo chân nhấc lên, lại hoàn lại như cũ. Dùng xong đi vào đất báu, như nước vào hang. Cho nên nói rằng: Mưa hoa, y trang nghiêm, vô lượng hương huân khắp.

CHÚ THÍCH 14:

(1) Ý nói tại sao thường mưa như vậy mà không bị tràn ngập các thứ trang nghiêm ấy và sẽ làm trở ngại cho đất đai các thứ.

(2) Cách phân một ngày đêm thành các thời, tức các buổi, theo đạo Phật, gồm: sáng sớm (thần triêu), giữa trưa (nhật trung), mặt trởi lặn (nhật một), đầu đêm (sơ dạ), giữa đêm (trung dạ), và sau đêm (hậu dạ), nên gọi một ngày đêm là sáu thời.

MẶT TRỜI PHẬT HUỆ SÁNG, SẠCH TRỪ THẾ ÁM SI.

Hai câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) quang minh trang nghiêm. Phật vốnvì sao khơi dậy trang nghiêm này? (Do ngài) thấy có cõi nước tuy là ánh mặt trởi ngay trên đầu, mà bị ngu si che ám, cho nên nguyện rằng khiến cho (tất cả) ánh sáng có nơi cõi nước ta, có thể trừ được si ám, (mà) vào trí huệ Phật (chứ) không phải (chỉ) là (một) sự (kiện) vô ký(1). Cũng (có ý) nói là quang minh của cõi nước An Lạc do quả báo từ trí huệ của Như Lai mà khởi lên, cho nên có thể trừ cái tối ám của thề gian.Kinh nói: Hoặc có cõi Phật dùng quang minh làm Phật sự, chính là nghĩa này, Cho nên nói rằng: Mặt trời Phật huệ sáng, sạch trừ thế ám si.

CHÚ THÍCH 15:

(1) Vô ký là không phải thiện không phải ác. Nói theo thói thường là “vô tư”.

PHẠM THANH NGỘ SÂU XA, VI DIỆU VỌNG MƯỜI PHƯƠNG.

Hai câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) âm thanh trang nghiêm. Phật vốn vì sao mà khơi lên nguyện này? (Do ngài) thấy có cõi nước, tuy có thiện pháp, mà danh tiếng chẳng xa, có danh tiếng tuy xa nhưng lại hkông vi diệu. Có danh tiếng xa vi diệu mà lại chẳng làm vật(1) (giác) ngộ, cho nên khởi lên trang nghiêm ngày. Nước Thiên Trúc gọi hạnh (thanh) tịnh là phạm hạnh, gọi llời lẽ vi diệu là phạm ngôn. Xứ ấy quý trọng Phạm Thiên, phần nhiều hay dùng (chữ) phạm để ca ngợi, nên còn nói là pháp tại trung quốc(2) thông với Phạm Thiên là vậy.

Thanh là danh vậy, danh có nghĩa là danh của cõi An lạc. Kinh có nói: nếu có người chỉ nghe thấy danh của cõi Tịnh Ðộ An Lạc (mà) muốn nguyện vãng sinh thì cũng được như nguyện. Ðây là một chứng cớ cho thấy danh này (giác) ngộ (vạn) vật vậy. Luận giải thich(3) có nói: Như Tịnh Ðộ này, không phải thuộc về ba cõi. Lấy gì để nói như vậy? Do không có dục (nên) chẳng phải cõi dục; do ở mặt đất, (nên) chẳng phải cõi sắc; do có sắc (nên) chẳng phải cõi vô sắc. Nguyên là vì nghiệp riêng của Bồ Tát (nên) mới thành như vậy. Ra khỏi (ba cõi) hữu mà (là) hữu (nên) nói là vi, danh có thể khai ngộ (nên) nói là diệu. Cho nên nói: Phạm thanh ngộ sâu xa, vi diệu vọng mười phương.

CHÚ THÍCH 16:

(1) Vật ở đây ý nói vạn vật, thuộc chúng hữu tình.

(2) Trung quốc ở đây không phải là nước Trung Hoa ngày nay, mà nói chung cho các xứ trung tâm văn hóa, ngược lại với các vùng biên địa hạ tiện.

(3) Không rõ lả luận nào? Ðàm Loan Ðại sư gọi là Thích luận tức “luận giải thích”. Trong “Lược Luận An Lạc Tịnh Ðộ nghĩa” ngài cũng chỉ nói “Như Thích Luận ngôn” giống như ở đây, không nói rõ là thích luận nào, của ai? Song thường vẫn được hiểu là Ðại Trí Ðộ Luận, bộ luận giải thích kinh Ðại Bát Nhã, của Long Thụ Bố tát.

CHÍNH PHÁP A DI ÐÀ, VUA PHÁP KHÉO TRỤ TRÌ.

Hai câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) chủ tang nghiêm. Phật vốn vì sao mà khơi dậy nguyện này? (Do ngài) thấy có cõi nước La sát làm vua thời hướng dẫn cả nước ăn (thịt) lẫn nhau, bánh xe báu dừng trên (cung) điện thời bốn miền hết lo(1), ví như là (một thời) phong thịnh, lẽ nào lại không có gốc gác hay sao(2)? Cho nên (ngài) khơi nguyện lên, nguyện cõi nước ta thường có pháp vương, (và) do thiện lực của pháp vương mà được trụ trì(3). Trụ trì là chim hoàng hộc (trì) giữ Tử An, ngàn năm lại (sống) dậy(4), (như) mẹ cá chăm (trì) giữ con trải qua cạn dâng(5) chẳng hoại. Nước An Lạc (dĩ nhiên phải) được chính giác khéo (trì) giữ, không lẽ cõi nọ lại có sự việc phi chính giác hay sao? Cho nên nói rằng: A Di Ðà Phật chính giác, pháp vương khéo trụ trì.

CHÚ THÍCH 17:

(1) Ý nói khi có Chuyển Luân Vương xuất hiện thời có bánh xe báu (bảo luân) hiện ra dừng đứng trong không trên cung điện, khi bánh xe chuyển về hướng nào thì luân vương cất quân theo hướng đó, và sẽ được mọi xừ ở phương đó quy phục. Bánh xe đi đủ bốn hướng, luân vương thu phục trọn bốn miền, thì thế gian an cư lạc nghiệp.

(2) Ý nói Chuyển Luân Vương không phải thường có hay dễ có. Thởi đại an lạc của con người phải có đủ nhân duyên mới được hưởng. Không như cõi Cực Lạc, Phật A Di Ðà luôn trụ trì.

(3) Trụ trì có nghĩa là giữ cho yên ổn, cho vững chắc lâu bền.

(4) Nguyên văn “thiên linh canh khởi”. Theo “Lược Luận An Lạc Tịnh Ðộ Nghĩa” thì Tứ An và chim Hoàng Hộc (hay Hoàng hạc) ở đây thuộc tích truyện thần tiên. Tử An chết cả ngàn năm, mà có chim Hoàng Hộc đến mộ kêu “Tử An”, thời Tử An lại sống dậy. Có lẽ ý nói A Di Ðà Phật trì giữ chúng sinh, cho đến bao giờ thành tựu vô thượng Bồ Ðề mới thôi, dù chúng sinh chìm đắm trong phiền não vô sinh.

(5) Ý nói trải qua mùa nước dâng vào tiết hè, mùa nước cạn vào tiết đông.

NHƯ LAI TỊNH HOA CHÚNG, CHÍNH GIÁC HOA HÓA SINH.

Hai câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) quyến thuộc trang nghiêm. Phật vốn cớ gì mà khơi lên nguyện này? (Do ngài) thấy có cõi nước hoặc lấy thai huyết làm thân thể, hoặc lấy phân tiểu làm gốc sinh, hoặc hòe cức chốn cao(1), con cái lại hung tợn, hoặc con mọn dạ hèn(2) mà tài ba siêu việt, do chê bai mà mang lửa (giận), vì sỉ nhục mà ôm băng (hởn)(3). Cho nên mới nguyện rằng, khiến cõi nước ta đều sinh ra trong tịnh hoa (của) Như Lai; quyến thuộc bình đẳng, không cách nào mà cho hay lấy (được)(4). Cho nên nói rằng: Như Lai tịnh hoa chúng, chính giác hoa hóa sinh.

CHÚ THÍCH 18:

(1) Hòe cức: Từ thời nhà Chu phân tước vị các quan trong triều ra “ ba công” và “chín khanh”. Trồng ba cây hòe để định chỗ cho ba quan Công, và chín cây cức để sắp chỗ cho chín quan khanh. Nên đời sau nói hòe cức là chỉ cho  “ba Công chín Khanh”, tức nói cho các quan tước trong triều đình. Nguyên văn câu này là “hòe cức cao kỳ”. “Cao kỳ” chỉ cho chốn kinh kỳ cao sang thuộc triều đình vua chúa.

(2) Nguyên văn “thụ tử tì phúc”, tức con cái của quan hèn  và nô tì.

(3) Nguyên văn “Cơ tiểu do chi hoài hỏa, sỉ nhục duyên dĩ bão băng”. Ý nói các phiền não hờn giận vì sự đụng chạm liên hệ con người với nhau.

(4) Nguyên văn “dữ đoạt vô lộ”, ý nói không cách gì mà có thương hay ghét được. “Dữ” là cho, biểu tượng cho các hành động liên hệ đến tình thương. “Ðoạt” là lấy đi, tượng trưng cho các hành động liên hệ với ghét bỏ. Vì trên cõi Cực Lạc, mọi người đều là quyến thuộc trong một liên hệ “tình cảm” bình đẳng, vì đồng một bản thể trí huệ thanh tịnh.

YÊU THÍCH PHẬT PHÁP VỊ, THIỀN TAM MUỘI MÓN ĂN.

Hai câu này gọi là (sự) thành tựu công đức (về) thọ dụng trang nghiêm. Phật vốn do đâu mả khơi dậy nguyện này? (Do ngài) thấy có cõi nước hoặc lục ổ phá trứng(1) làm bữa ăn no đủ, hoặc treo cát chỉ đãy(2) làm cách vỗ về nhau, con cái kêu réo quả là đau lòng(3). Cho nên (ngài) khơi dậy nguyện đại bi, nguyện cõi nước ta dùng Phật pháp, dùng thiền định, lấy tam muội làm món ăn, không còn các khổ nhọc vì các món ăn khác.Yêu thích Phật pháp vị là như Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh nói kinh Pháp Hoa trong 60 tiểu kiếp. Các vị thính giả tụ hội lúc đó cũng (chỉ) ngồi (yên) một chỗ. Sáu mươi tiểu kiếp coi như khoảng bữa ăn, không có một ai hoặc thân hoặc tâm lại đâm lười mỏi(4). Lấy thiền định làm món ăn là nói cho các vị đại Bồ tát thường ở trong tam muội(5) không (nhận) đồ ăn gì khác. Tam muội(6) là các người, trời, cõi đ