Vãng
Sinh Tịnh Độ Luận Giảng Ký
Tác giả: Ấn Thuận Đại Sư
VÃNG SINH TỊNH ÐỘ LUẬN
GIẢNG
KÝ
ẤN THUẬN PHÁP SƯ GIẢNG
CỐ PHÁP NGHIÊM GHI.
Mùa đông năm
52 Dân Quốc giảng tại Huệ Nhật giảng đường ở Ðài bắc.
CHÍNH VĂN
Thế Tôn, con
một lòng
quy mạng tận
thập phương
vô ngại quang
Như lai,
nguyện sinh
nước An Lạc.
Con y Tu Ða
La,
tướng công đức
chân thật
nói nguyện kệ
tổng trì,
cùng Phật giáo
tương ưng.
Quán tướng thế
giới kia,
Hơn hẳn đường
ba cõi.
Cứu cánh tựa
hư không
rộng lớn không
bờ bến.
Chính đạo đại
từ bi,
thiện căn xuất
thế sinh.
Quang minh
sạch đầy đủ
Như gương vành
nhật nguyệt.
Ðủ tính chất
trân bảo,
gồm hết diệu
trang nghiêm
Quang vô cấu
rực rỡ
Sáng sạch rọi
thế gian
Có công đức
bằng báu
mềm mại chuyển
trái phải,
chạm vào sinh
thắng lạc
hơn Ca Chiên
Lân Ðà.
Hoa báu ngàn
vạn loại
Che khắp suối
ao hồ,
Gió thoảng lay
hoa lá
Quang giao
thoa loạn chuyển.
Cung điện cùng
lầu gác
thấy không
ngại mười phương,
cây tạp đủ
quang sắc,
lan can báu
giáp vòng.
Vô lượng báu
giao nhau
hư không tràn
lưới võng,
Ðủ loại linh
vang hưởng
ngân nga âm
diệu pháp.
Mưa hoa, y
trang nghiêm
Vô lượng hương
huân khắp.
Mặt trời Phật
huệ sáng
Sạch trừ thế
ám si.
Phạm thanh nói
vang xa(1)
Vi diệu vọng
mười phương.
A Di Ðà chính
giác
Pháp vương
khéo giữ trì.
Như Lai tịnh
hoa chúng
Hóa sinh hoa
chính giác.
Yêu thích Phật
pháp vị
Thiền tam muội
món ăn.
Dứt lìa thân
tâm não
Thường thọ lạc
không ngưng.
Ðại thừa thiện
căn giới,
bằng, không
danh xấu xa:
người nữ và
căn khuyết,
giống nhị thừa
chẳng sinh
Chúng sinh bao
ước muốn,
tất cả đều đầy
đủ.
Nên con nguyện
vãng sinh(2)
nước Phật A Di
Ðà(3).
Vô lượng vua
báu lớn,
Đài hoa sạch
vi diệu.
Tướng đẹp rạng
một tầm,
sắc tượng vượt
quần sinh.
Như Lai tiếng
vi diệu,
âm phạm vọng
mười phương.
Ðồng đất,
nước, lửa, gió,
hư không,
không phân biệt.
Chúng trời,
người bất động,
biển trí thanh
tịnh sinh.
Như Tu Di núi
chúa
thắng diệu
không gì hơn.
Trời, người,
trượng phu chúng,
chiêm ngưỡng
kính vây quanh.
Quán Phật bổn
nguyện lực
Gặp không uổng
qua không,
khiến được mau
đầy đủ
Biển lớn công
đức báu.
Nước An lạc
thnh tịnh
thường chuyển
vô cấu luân,
hóa Phật, Bồ
tát nhật,
như Tu Di trụ
trì.
Vô cấu quang
trang nghiêm,
mỗi niệm và
mỗi thời,
chiếu khắp các
Phật hội,
lợi ích các
quần sinh.
Nào mưa nhạc
trời, hoa,
Y, diệu
hương... cúng dường,
Khen công đức
chư Phật,
Không có phân
biệt tâm.
Những thế giới
nào không
Phật, Pháp,
công đức bảo,
Con đều nguyện
vãng sinh
hiển Phật,
Pháp như Phật.
Con làm luận
nói kệ
Nguyện gặp
Phật Di Ðà
Cùng khắp các
chúng sinh
Sinh về An lạc
quốc.
Các câu cú
thuộcTu Ða La (về) Vô Lượng Thọ, con đã dùng kệ tụng (để) nói tổng quát
xong.
Luận rằng: Các
nguyện kệ này (muốn) nói lên nghĩa gì? Vì (muốn) quán thế giới An Lạc,
(muốn) gặp Phật A Di Ðà, (muốn) nguyện sinh (về cõi) nước kia(4)
.
Làm sao quán?
Làm sao sinh tín tâm? Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân, người nào tu “năm
niệm môn”(5)
thành tựu, rốt cuộc sẽ được sinh về nước An
Lạc, gặp Phật A Di Ðà kia.
Những gì là “năm
niệm môn”? Một là lễ bái môn, hai là tán thán môn, ba là tác nguyện môn,
bốn là quán sát môn, năm là hồi hướng môn.
Thế nào là lễ
bái? Thân nghiệp lễ bái A Di Ðà Như Lai Ứng Cúng(6)Chính
Biến tri, do vì ý muốn sinh về nước kia.
Thế nào là tán
thán(7)?
Xưng danh của Như Lai kia, (đúng) như trí tướng quang minh của Như Lai
kia, (đúng) như danh (và) nghĩa kia, vì muốn như thật tu hành (cho được)
tương ưng.
Thế nào là tác
nguyện? Tâm thường tác nguyện: một lòng chuyên niệm rốt cuộc (sẽ) vãng
sinh về cõi nước an lạc, bởi muốn như thật tu hành Sa ma tha vậy.
Thế nào là
quán sát? (Dùng) trí huệ quán sát, chính niệm quán sát (nước) kia, bởi
muốn như thật tu hành Tỳ bà xá na vậy.
Quán sát (cõi
nước) kia có ba loại. Những gì là ba loại? Một là quán sát (sự) trang
nghiêm (do) công đức của cõi nước Phật kia. Hai là quán sát (sự) trang
nghiêm (do) công đức của Phật A Di Ðà. Ba là quán sát (sự) trang nghiêm
(do) công đức của Bồ tát(8)
.
Thế nào là hồi
hướng? Không bỏ tất cả các chúng sinh khổ não, tâm thường tác nguyện,
hồi hướng làm đầu, do (để) thành tựu tâm đại bi vậy(9)
.
Thế nào là
quán sát (sự) trang nghiêm (do) công đức của cõi nước phật kia(10)
? Do thành tựu (năng) lực không thể suy
lường, do y như tính (chất) của báu Ma Ni Như ý, (vốn là) tương tợ tương
đối pháp.
Quán sát (sự)
trang nghiêm (do) công đức của cõi nước của Phật kia(11)gồm
có 17 sự cần phải biết. Thế nào là 17?
- một là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) thanh tịnh(12),
- hai là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) lượng,
- ba là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) tính,
- bốn là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) hình tướng,
- năm là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) đủ loại sự,
- sáu là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) diệu sắc,
- bẩy là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) xúc,
- tám là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) trang nghiêm(13)
- chín là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) mưa,
- mười là (sự)
thành tựu (của) công đức (về) quang minh,
- mười một là
(sự) thành tựu (của) công đức (về) thanh,
- mười hai là
(sự) thành tựu (của) công đức (về) chủ,
- mười ba là
(sự) thành tựu (của) công đức (về) quyến thuộc,
- mười bốn là
(sự) thành tựu (của) công đức (về) thọ dụng,
- mười lăm là
(sự) thành tựu (của) công đức (về) không có các nạn,
- mười sáu là
(sự) thành tựu (của) công đức (về) đại nghĩa môn,
- mười bẩy là
(sự) thành tựu (của) công đức (về) tất cả các sở cầu(14)
.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) thanh tịnh là do kệ rằng: “Quán tướng thế giới kia,
hơn hẳn đường ba cõi”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) lượng là do kệ rằng: “Cứu cánh tựa hư không, rộng
lớn không bờ bến”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) tính là do kệ rằng: “Chính đạo đại từ bi, thiện căn
xuất thế sinh”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) hình tướng là do kệ rằng: “Quang minh sạch đầy đủ,
như gương vành nhật nguyệt”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) đủ loại sự là do kệ rằng: “Ðủ tính chất trân bảo,
gồm hết diệu trang nghiêm”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) diệu sắc là do kệ rằng: “Quang vô cấu rực rỡ, sáng
sạch rọi thế gian”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) xúc là do kệ rằng: “Cỏ công đức bằng báu, mềm mại
chuyển trái phải, chạm vào sinh thắng lạc, hơn ca chiên lân đà”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) trang nghiêm gồm có ba loại cần phải biết. Những gì
là ba? Một là nước, hai là đất, ba là hư không.
Trang nghiêm
(về) nước là do kệ rằng: “Hoa báu ngàn vạn loại, che khắp suối ao hồ,
gió thoảng lay hoa lá, quang giao thoa loạn chuyển”.
Trang nghiêm
(về) đất là do kệ rằng: “Cung điện cùng lầu gác, thấy không ngại mười
phương, cây tạp đủ trời Phật
quang sắc, lan can báu giáp vòng”.
Trang nghiêm (về)
hư không là do kệ rằng: “Vô lượng báu giao nhau, hư không tràn lưới
võng, đủ loại linh vang hưởng, ngân nga âm diệu pháp”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) mưa là do kệ rằng: “Mưa hoa, y, trang nghiêm, vô
lượng hương huân khắp”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) quang minh là do kệ rằng: “Mặt huệ sáng, sạch trừ
hết ám si”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) diệu thanh là do kệ rằng: “Phạm thanh nói vang xa,
vi diệu vọng mười phương”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) chủ là do kệ rằng: “ A Di Ðà chính giác, Pháp Vương
khéo trụ trì”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) quyến thuộc là do kệ rằng: “Như Lai tịnh hoa chúng,
hóa sinh hoa chính giác”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) thọ dụng là do kệ rằng: “Yêu thích Phật pháp
vị,thiền tam muội món ăn”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) không có các (tai) nạn là do kệ rằng: “Lìa xa thân
tâm não, thường thọ lạc không ngưng”.
(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) đại nghĩa môn là do kệ rằng: “Ðại thừa thiện căn
giới, bằng, không danh xấu xa,
người nữ và căn khuyết, giống nhị thừa không sinh”. Quả báo Tịnh Ðộ lìa
hai loại lỗi xấu xa(15)cần
phải biết: một là thể, hai là danh. Thể có ba loại: một là người nhị
thừa, hai là người nữ, ba là người không đầy đủ các căn. Không ba lỗi
lầm ấy, gọi là “lìa (sự) xấu xa (về) thể”. Danh cũng đồng ba loại: là do
không những không có ba thể, mà cho đến còn không nghe đến tên của ba
loại nhị thừa, người nữ và không đủ các căn (kia), nên gọi là “lìa (sự)
xấu xa (về) danh”. Bằng là do bằng nhau một tướng.
(Sự) thành tựu
đầy đủ (của) công đức (về) tất cả các cầu mong(16)là
do kệ rằng: “Chúng sinh bao ước muốn, tất cả đều đầy đủ”.
Lược nói
(xong) về 17 loại công đức (dùng) trang nghiêm cõi nước của Phật A Di Ðà(17)
kia do hiện bày (ra) sự thành tựu của
lực đại công đức lợi ích (cho) tự thân của Như Lai và sự thành tựu của
công đức lợi ích (cho) người khác. Sự trang nghiêm cõi của Phật Vô Lượng
Thọ kia (là) cảnh giới (vi) diệu (thuộc) đệ nhất nghĩa đế(18).
Mười sáu câu và một câu tuần tự nói (ra), cần phải biết.
Thế nào là
quán (sự) thành tựu (về) trang nghiêm (do) công đức (thuộc về) Phật(19)?
Quán (sự) thành tựu trang nghiêm công đức (thuộc về) Phật gồm có tám
loại cần biết . Những gì là tám loại? Một là trang nghiêm tòa, hai là
trang nghiêm thân, ba là trang nghiêm khẩu, bốn là trang nghiêm tâm, năm
là trang nghiêm chúng, sáu là trang nghiêm thượng thủ, bẩy là trang
nghiêm chủ, tám là trang nghiêm không uổng làm trụ trì(20)
.
Gì là trang
nghiêm tòa? Là do kệ rằng: “Vô lượng vua báu lớn, đài hoa sạch vi diệu:.
Gì là trang
nghiêm thân? Là do kệ rằng: “Tướng đẹp rạng một tầm, sắc tượng vượt quần
sinh”.
Gì là trang
nghiêm khẩu? Là do kệ rằng: “Như Lai tiếng vi diệu, âm phạm vọng mười
phương”.
Gì là trang
nghiêm tâm? Là do kệ rằng: “Ðồng đất, nước, lửa, gió, hư không, không
phân biệt”. Không phân biệt là không có tâm phân biệt vậy.
Gì là trang
nghiêm chúng? Là do kệ rằng: “Chúng trời, người, bất động, biến trí
yhanh tịnh sinh”.
Gì là trang
nghiêm thượng thủ? Là do kệ rằng: “Như Tu Di núi chúa, thắng diệu không
gì hơn”.
Gì là trang
nghiêm chủ? Là do kệ rằng: “Trời, người, trượng phu chúng, chiêm ngưỡng
kính vây quanh”.
Gì là trang
nghiêm không uổng làm trụ trì? Là do kệ rằng: “Quán Phật bổn nguyện lực,
gặp không uổng qua không, khiến được mau đầy đủ, biển lớn công đức báu”.
Nghĩa là do
gặp Phật kia, Bồ Tát chưa chứng tịnh tâm, rốt cuộc sẽ đắc pháp thân bình
đẳng, cùng với Bồ tát tịnh tâm không khác; (còn) Bồ Tát tịnh tâm (sẽ)
cùng với các Bồ Tát thượng địa, rốt cuộc cùng được tịch diệt bình đẳng(21)
.
Lược nói tám
câu, thị hiện sự thành tựu (về các sự) trang nghiêm (do) công đức,
(nhằm) lợi mình lợi người của Như Lai(22),
cần phải biết.
Thế nào là
quán (sự) trang nghiêm
(do) công đức (thuộc về) Bồ Tát(23)
? Quán (sự) trang nghiêm công đức
(thuộc về) Bồ Tát là quán các Bồ Tát kia có bốn loại thành tựu (của)
công đức (chân) chính tu hành, cần phải biết.
Những gì là
bốn? Một là nơi một cõi Phật, thân không động đậy mà (đến) khắp mười
phương, (làm) đủ loại ứng hóa, (đúng) như thật (mà) tu hành, thường làm
các Phật sự. Do kệ rằng: “Nước An Lạc thanh tịnh, thường chuyển vô cấu
luân, hóa Phật, Bồ Tát nhật, như Tu Di trụ trì”. Vì để khai (mở) đóa hoa
(trong) bùn lầy của chúng sinh vậy.
Hai là do thân
ứng hóa kia (trong) mọi thời, không trước không sau, mỗi tâm mỗi niệm
phóng ánh sáng lớn, đều có thể đến khắp các thế giới trong mười phương,
(để) giáo hóa chúng sinh, (bằng) đủ phương tiện, (do) tu hành tạo nên,
trừ diệt khổ cho tất cả chúng sinh. Do kệ rằng: “Vô cấu quang trang
nghiêm, mỗi niệm và mỗi thời, chiếu khắp các Phật hội, lợi ích các quần
sinh”.
Ba là (các hóa
thân Bồ Tát) kia trong tất cả các thế giới không sót (một thế giới nào),
chiếu các đại chúng của các Phật hội không sót (một đại chúng nào)(24),
(một cách) rộng lớn vô lượng cúng dường, cung kính, tán thán chư Phật
Như Lai. Do kệ rằng: “Nào mua nhạc trời, hoa, y, diệu hương... cúng
dường, khen các công đức Phật, không có phân biệt tâm”.
Bốn là (Bồ Tát
hóa thân) kia ở nơi tất cả các thế giới khắp mười phương, các chỗ nào
(không có) biển công đức lớn Phật, Pháp, Tăng (Tam) Bảo trụ trì trang
nghiêm, (thì sẽ) hiển bày đến khắp (các nơi đó) khiến (họ) hiểu biết, và
như thật mà tu hành. Do kệ rằng: “Những thế giới nào không, Phật, pháp,
công đức bảo, con đều nguyện vãng sinh, hiển Phật, pháp như Phật”.
Lại (cho) đến
đây (là đã) nói về sự thành tựu trang nghiêm công đức của cõi nước, sự
thành tựu trang nghiêm công đức của Phật, sự thành tựu trang nghiêm công
đức của Bồ Tát. Ba loại trang nghiêm (do) nguyện tâm thành tựu này (là)
do nói tóm nhập vào một câu pháp(25).
Một câu pháp là nói cho câu thanh tịnh. Câu thanh tịnh là vì nói cho
pháp thân vô vi chân thật trí huệ.
Thanh tịnh này
có hai thứ cần phải biết, những thứ gì là hai? Một là thanh tịnh (thuộc)
khí thế gian, hai là thanh tịnh (thuộc) chúng sinh thế gian. Thanh tịnh
(thuộc) khí thế gian là (như) trước đã nói (về) 17 loại thành tựu trang
nghiêm công đức cõi nước Phật(26),
đó gọi là thanh tịnh (thuộc) khí thế gian. Thanh tịnh (thuộc) chúng sinh
thế gian, như tám loại thành tựu trang nghiêm công đức (về) Phật và bốn
loại thành tựu trang nghiêm công đức (về) Bồ Tát(27)đã
nói trên, đó gọi là thanh tịnh (thuộc) chúng sinh thế gian. Một câu pháp
như thế nhiếp hai loại thanh tịnh(28)
cần phải biết.
Bồ Tát như thế
(một cách) rộng rãi và tóm lược (mà) tu hành Sa ma tha và Tỳ bà xá na,
(nhờ đó) thành tựu tâm mềm mại, (và) biết (đúng) như (sự) thật (về) các
pháp (một cách) rộng rãi và tóm lược, (và) như thế (là) thành tựu sự hồi
hướng (bằng) phương tiện(29).
Gì là hồi
hướng (bằng) phương tiện khéo của Bồ Tát? Hồi hướng (bằng) phương tiện
khéo của Bồ Tát là nói về tất cả các thiện căn công đức do tu hành năm
môn lễ bái này nọ... tích tập lại, (song) không cần sự an lạc giữ chắc
nơi thân mình, (mà vì) muốn nhổ hết khổ cho tất cả chúng sinh, (nên) lập
nguyện gom hết tất cả chúng sinh cùng nhau sinh về nước Phật an lạc kia,
đó gọi là sự thành tựu hồi hướng (bằng) phương tiện khéo.
Bồ tát như thế
biết rõ (cách) thành tựu hồi hướng, (sẽ) lìa xa(30)ba
loại pháp tương vi với môn Bồ Ðế. Những gì là ba? Do một là y theo môn
trí huệ, không cầu (lợi) lạc riêng cho mình, lìa xa (cái) tâm (chấp) tôi
(chuyên) tham đắm (cho) thân mình. Do hai là môn từ bi, (muốn) nhổ hết
khổ cho tất cả chúng sinh, lìa xa (cái) tâm không (đem lại) an (lạc) cho
chúng sinh. Do ba là y theo môn phương phương tiện, (là) tâm thương
tưởng tất cả chúng sinh, lìa xa tâm (chỉ lo) cung kính cúng dường (cho)
thân mình. Ðó gọi là lìa xa ba loại pháp tương vi với môn Bồ Ðề.
Do Bồ Tát lìa
xa ba loại pháp tương vi với môn Bồ Ðề như thế, thì sẽ được đầy đủ ba
loại pháp tùy thuận với môn Bồ Ðề. Những gì là ba? Một là tâm thanh tịnh
vô nhiễm, do không vì riêng thân mình mà cầu các (lợi) lạc. Hai là tâm
thanh tịnh an, do nhổ hết khổ cho tất cả chúng sinh. Ba là tâm thanh
tịnh lạc, do khiến cho tất cả chúng sinh được đại Bồ Ðề, do gom trọn
chúng sinh sinh về cõi nước kia. Ðó gọi là trọn đủ ba loại pháp tùy
thuận với môn Bồ Ðề, cần phải biết.
Ba thứ môn trí
huệ, từ bi và phương tiện vừa nói trên, gom lấy Bát Nhã, Bát Nhã (lại)
gom lấy phương tiện, cần phải biết.
Trên đã nói lìa
xa tâm (chấp) tôi không tham đắm thân mình, xa lìa tâm không (đem lại)
an (lạc) cho chúng sinh, lià xa tâm (cầu) cung kính cúng dường (cho)
riêng thân mình, ba loại pháp này (là) lià xa tâm chướng (ngại cho) Bồ
Ðề, cần phải biết.
Trên đã nói về tâm
thanh tịnh vô nhiễm, tâm thanh tịnh an, tâm thanh tịnh lạc, ba loại tâm
này tóm lược lại một chỗ, (là) thành tựu tâm diệu lạc thắng chân, cần
phải biết.
Như vậy Bồ tát
(do) tâm trí huệ, tâm phương tiện, tâm không chướng, tâm thắng chân,
(nên) có thể sinh vào cõi nước thanh tịnh của Phật, cần phải biết.
Ðó gọi là Bồ Tát
Ma Ha Tát tùy thuận năm loại pháp môn, những gì phải làm (được) tùy ý,
tự tại (mà) thành tựu. Như những gì đã nói ở trên là về thân nghiệp,
khẩu nghiệp, ý nghiệp, trí nghiệp, phương tiện trí nghiệp, tùy thuận
pháp môn.
Lại có năm
loại (pháp) môn, tuần tự từ từ thành tựu năm loại công đức cần phải
biết. Gì là năm môn? Một là môn gần, hai là môn đại hội chúng, ba là môn
nhà, bốn là môn phòng, năm là môn chốn vườn rừng rong chơi. Năm loại môn
này, thì bốn loại môn đầu thành tựu công đức vào, môn thứ năm thành tựu
công đức ra.
Vào môn thứ
nhất là do lấy lễ bái A Di Ðà Phật để sinh (về) cõi nước kia, (nên) được
sinh (vào) thế giới An Lạc, đó gọi là vào môn thứ nhất.
Vào môn thứ
hai là do ca ngợi Phật A Di Ðà, tùy theo danh (và) nghĩa (mà) xưng danh
Như Lai, y theo (quán) tưởng (về) ánh sáng(31)(của) Như Lai (mà) tu hành, (nên) được vào (trong) số chúng (của) đại
hội, đó gọi là vào môn thứ hai.
Vào môn thứ ba là
do một lòng chuyên niệm lập nguyện sinh (cõi nước) kia (để) tu hành tam
muội tịch tĩnh Sa ma tha (nên) được vào trong thế giới Hoa Tạng, đó gọi
là môn thứ ba.
Vào môn thứ tư là
do chuyên niệm quán sát sự trang nghiêm (vi) diệu của (cõi) kia (để) tu
Tỳ bà xá na. (Nên) được đến chốn kia, thọ dụng đủ loại (an) lạc pháp vị,
đó gọi là vào môn thứ tư.
Ra môn thứ năm
là do đại từ bi, quán sát tất cả chúng sinh khổ não, thị hiện ứng hóa
thân, vào trở lại trong vườn sinh tử rừng phiền não, (như) thần thông
rong chơi, đến vùng đất giáo hóa, do bổn nguyện lực hồi hướng vậy, đó
gọi là ra môn thứ năm.
Bốn loại môn
vào của Bồ Tát (là) sự thành tựu của hạnh lợi mình cần phải biết. Môn
thứ năm ra của Bồ Tát (tự) sự thành tựu hồi hướng lợi ích người. Do Bồ
Tát tu hạnh của năm môn như vậy, lợi mình lợi người, mau được thành tựu
A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề.
Chú Thích:
(1) Theo bản Ðông Doanh có
hơi khác: “Phạm thanh ngộ sâu xa”. Hán văn theo bản Ðại Chính Tạng là
Phạm thanh ngữ thâm viễn. và theo bản Ðông Doanh là Phạm thanh
ngộ thâm viễn.
(2) Hán văn theo bản Ðại Chính Tạng là
cố ngã nguyện vãng sinh nghĩa là “nên con nguyện vãng sinh”; trong
khi bản Ðông Doanh đọc là thị cố nguyện vãng sinh, nghĩa là “cho nên
nguyện vãng sinh”.
(3)
Hai câu này Ấn Thuận không đưa ra
trong phần giảng giải của ngài.
(4)
Bản Ðông Doanh đọc khác,
như sau: “Do thị hiện quán thế giới An lạc kia, gặp Phật A Di Ðà, nguyện
sinh nước kia”. Hán văn: Thị hiện quán bỉ An Lạc thế giới, kiến A Di
Ðà phật, nguyện sinh bỉ quốc cố.
(5)
Bản Ðông Doanh đọc là “tu
hạnh” năm niệm môn “thành tựu”. Hán văn: Tu ngũ niệm môn hạnh thành
tựu.
(6)
Bản Ðông Doanh không có chữ cúng.
Ở đây sau câu hỏi: “Thế
nào là tán thán?”, bản Ðông Doanh có thêm câu “khẩu nghiệp tán thán”,
rồi mới đọc tiếp “xưng danh của Như Lai kia...”.
(7)
Về ba loại “trang nghiêm (do) công
đức” này, bản Ðông Doanh đọc ngược thành “công đức trang
nghiêm”. Như bản Ðại Chính Tạng ở đây đọc là (hán văn:) Quán sát
bỉ Phật quốc độ công đức trang nghiêm, (việt dịch là: “quán
sát sự trang nghiêm (do) công đức (mà nên) của cõi nước của Phật kia”),
thì bản Ðông Doanh đọc là (hán văn:) quán sát bỉ Phật quốc độ trang
nghiêm công đức, (Việt dịch là: quán sát các công đức trang nghiêm
của cõi nước của Phật kia”).
(8)
Câu : “do thành tựu tâm đại bi vậy”,
bản Ðông Doanh có thêm chữ đắc đứng đầu, đọc thành: “do được thành tựu
tâm đại bi vậy”.
(9)
Bản Ðông Doanh đọc là “Thế nào là
quán sát công đức trang nghiêm của cõi nước của Phật kia? Công đức
trang nghiêm của cõi nước của Phật kia là...”
(10)
Bản Ðông Doanh đọc là: “Quán sát
(sự) thành tựu của công đức trang nghiêm của công đức trang nghiêm của
cõi nước của Phật kia gồm...”
(11)
Ðông Doanh đọc 17 “sự thành tựu
công đức” này đều có thêm chữ trang nghiêm sau cùng. Thí dụ:
“(sự) thành tựu (của) công đức (về) thanh tịnh” ở đây sẽ đọc là: “(sự)
thành tựu (của) công đức (về) thanh tịnh trang nghiêm”. 16 sự kia chiếu
lệ theo đây mà đọc.
(12)
Ðông Doanh có thêm hai chữ “ba sự”
và đọc thành “(sự) thành tựu (của) công đức (về) ba sự trang nghiêm”.
(13)
Ðông Doanh có thêm hai chữ “đầy
đủ”, đọc thành” (sự) thành tựu (của) công đức (về) đầy đủ tất cả các cơ
sở cầu trang nghiêm. Phần 17 thành tựu công đức dưới đây với các
câu kệ tụng, sự khác biệt của bản Ðông Doanh, xin chiếu theo các chú
thích trên mà chuẩn định.
(14)
“Xấu xa” hán ngữ là cơ hiềm,
đúng nghĩa là bị chỉ trích và chê bai.
(15)
Ðại chính bản đến đây cho thêm hai
chữ “đầy đủ” vào, nhưng lại đọc thành”(Sự) thành tựu đầy đủ (của) công
đức (về) tất cả các cầu mong”. (Hán văn: Nhất thiết sở cầu công đức
mãn túc thành tựu), thay vì đọc như Ðông Doanh: “(Sự) thành tựu
(của) công đức (về) đầy đủ tất cả các cầu mong trang nghiêm” (Hán văn:
Nhất thiết sở cầu mãn túc công đức thành tựu trang nghiêm”). Ðọc như bản
Ðông Doanh rõ ràng và có nghĩa hơn.
(16)
Ðông Doanh đọc câu này như sau:
Lược nói (xong) 17 thành tựu (của) công đức (để) trang nghiêm cõi nước
của Phật A Di Ðà kia”.
(17)
Ðông Doanh đọc câu này là “Sự trang
nghiêm cõi nước của Phật Vô Lượng Thọ kia (là) tướng cảnh giới
(vi) diệu (thuộc) đệ nhất nghĩa đế”.
(18)
Ðông Doanh đọc là “Thế nào là quán
(sự) thành tựu (của) công đức (để) trang nghiêm (thuộc về) Phật?”
(19)
Tám thứ trang nghiêm này, Ðông
Doanh đều có bốn chữ “thành tựu công đức” và ba thứ thân, khẩu,
tâm, đều có thêm chữ “nghiệp”. Cách xếp đặt chữ cũng trước sau có
khác. Ðại khái đọc thành: một là “(sự) thành tựu (của) công đức
về tòa trang nghiêm”, hai là “(sự thành tựu (của) công đức (về)
nghiệp thân trang nghiêm “, ba là “(sự) thành tựu (của) công đức
(về) nghiệp khẩu trang nghiêm”, bốn là “(sự) thành tựu (của) công
đức về nghiệp tâm trang nghiêm”. Bốn thứ còn lại chuẩn theo trang
nghiêm thứ nhất mà đọc.
Phần 8 thứ trang nghiêm
sau đó, các cách đọc câu cú khác biệt của bản Ðông Doanh đều chiếu theo
chú thích này mà đọc.
(20)
Bản Ðông Doanh không có các chữ
“...không khác, (còn) Bồ Tát tịnh tâm...” nên đọc Bồ Tát chưa
chứng tịnh tâm, rốt cuộc sẽ đắc pháp thân bình đẳng. Cùng với Bố Tát
tịnh tâm,... cùng với các Bồ tát thượng địa, rốt cuộc đồng được tịch
diệt bình đẳng”.
(21)
Ấn Thuận phân câu có khác, xin xem
trong phần giảng ký.
(22)
Ðông Doanh đọc là: “ Thế nào là
quán sát (sự) thành tựu (của) công đức (để) trang nghiêm (thuộc
về) Bồ Tát?”
(23)
Ðông Doanh chấm câu đoạn này có
khác, đọc thành như sau: “(các hóa thân Bồ tát) kia trong tất cả các thế
giới, chiếu không sót (một) đại chúng (nào) trong các Phật hội;
cúng dường, cung kính, tán thán rộng lớn vô lượng không sót (một) công
đức (nào) của chư Phật Như Lai”.
(24)
Ðông Doanh đọc là: “Lại (cho) đến
đây (là đã) nói về các quán sát sự thành tựu (của) công đức (về) cõi
Phật trang nghiêm, sự thành tựu (của) công đức (về) Phật trang nghiêm,
(và) sự thành tựu (của) công đức (về) Bồ Tát trang nghiêm. Ba loại
trang nghiêm (do) nguyện tâm thành tựu này, cần phải biết. Do nói lược
lại (gom) vào một câu pháp.
(26) Ðông
Doanh đọc là:”17
loại thành tựu công đức cõi Phật trang nghiêm”.
(27)
Bản Ðông Doanh đọc hai chữ trang
nghiêm ra sau cùng: “Thành tựu công đức (về) Phật trang nghiêm”,
“thành tựu công đức (về) Bồ Tát trang nghiêm”.
(28)
Ðông Doanh có thêm chữ nghĩa,
đọc là “... Nhiếp hai loại nghĩa thanh tịnh...”
(29)
Ðông Doanh có thêm chữ
khéo (hán văn: xảo) vào hai chữ phương tiện, đọc là “... hồi hướng
(bằng ) phương tiện khéo”.
(30)
Ðông Doanh thêm hai chữ tức
năng, nghĩa là liền có thể, đọc thành “...liền có thể lìa
xa...”
(31)
Ðông Doanh đọc là: “y theo tướng
ánh sánh (của) trí (của) Như Lai.
HUYỀN
LUẬN.
1) GIẢI THÍCH TỰA ÐỀ:
Bộ luận này tên
đủ là :Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Ðề Xá”, hoặc gọi là “Vãng Sinh
Tịnh Ðộ Luận”, hoặc nói gọn là “Tịnh Ðộ Luận”. Tịnh Ðộ Tông ở
xứ ta y theo “ba kinh một luận” mà lập tông. Về ba kinh thì một là
Phật thuyết A Di Ðà kinh [tiểu bổn]; hai là cũng tên A Di Ðà Kinh
[đại bổn], gồm nhiều bổn dịch, (bổn do) Vương Long Thư Cư sĩ biên
tập lại là một bổn tương đối văn tự dễ hiểu, đó là bộ đại bổn thông
dụng; thứ ba là Quán Vô Lượng Thọ Kinh. Còn “một luận” kia chính
là bổn Luận này, do căn cứ vào (các) A Di Ðà Kinh mà tạo luận, nên được
gọi là “A Di Ðà Kinh Luận”. Người ta có kẻ cho rằng niệm A Di Ðà
Phật, chỉ Trung Hoa mới có, còn người Ấn Ðộ không hề có niệm A Di Ðà
Phật. Nói như thế không được đúng. Thật ra Ấn Ðộ, nhất lại là cả một
miền từ Tây Bắc Ấn cho đến Y Lăng [xưa gọi là An Tức], người niệm A Di
Ðà Phật rất đông [nay không còn dấu tích nữa], song không lập tông
chuyên niệm như người nước ta mà thôi. Vả lại cả Ðại Thừa Khởi Tín
Luận của Mã minh Bồ Tát, Thập Trụ Tỳ Bà Sa luận của Long Thọ
Bồ Tát đều có phụ thêm nói về pháp môn này, và bổn luận này của Thế Thân
Bố Tát, lại đặc biệt chuyên đề xướng vế pháp môn này. Mới biết niệm Phật
tại Ấn Ðộ, xưa đã có rồi, đến Trung Hoa mới là nhiều. Song phương tiện
niệm Phật của Hoa và Ấn đại khái có chỗ không đồng vậy thôi. Giờ giải
thích tựa đề phân làm hai đoạn:
1- Vô Lượng Thọ
Kinh
2- Ưu Bà Ðề Xá
Vô Lượng Thọ
kinh: Vô Lượngchính là nghĩa của A
Di Ðà. Vô Lượng Thọ phạm văn là Amitayus. Người đời tuổi thọ đều có hạn
lượng, nên không được triệt để, không được cứu cánh. Như học Phật đạt
đến cảnh giới tối cứu cánh chính là được thường lạc, ngã tịnh. Thường là
một trong các đức (tính) của Phật: Phật (tuổi) thọ không giới hạn. Kinh
ở đây tức chỉ cho các bổn thuộc hệ A Di Ðà Kinh mà nói
(1).
Ưu Ba Ðề Xá
(2):
là một trong 12 bộ (kinh)
(3),
là luận tùy thuận theo nghĩa của Kinh mà giải thích. Luận của Ấn Ðộ có
hai loại: Một là, giống như chú sớ của Trung Hoa, theo câu mà giải thích
nghĩa của văn, gọi là “thích kinh luận”; hai là “tông kinh luận”, y theo
nghĩa của kinh làm tông, theo đó mà phát huy, không coi trọng văn cú.
Bổn luận là tông kinh luận.
Ðiều cần chú ý về
bổn luận này là bổn luận không hề giảng giải gì về (các) A Di Ðà Kinh,
cũng không nói lên nghĩa lý gì của (các) A Di Ðà Kinh, mà (chính) là căn
cứ vào (các) kinh này (để) đề ra một pháp môn tu hành.
Cho nên trọn những gì bộ luận trình bày đều
là làm sao niệm Phật, làm sao phát nguyện vãng sinh, thế nên đây là một
bộ luận lấy tu hành làm chủ yếu.
2) A Di Ðà Phật và Cực Lạc Quốc Ðộ.
Niệm Phật không phải chỉ là niệm Phật bằng
miệng, mà phải niệm niệm không quên Phật và Tịnh Ðộ của Phật, và phải
phát nguyện cầu xin về Tịnh Ðộ này. Nay trước tiên xin giảng về A Di Ðà
Phật.
A Di Ðà Phật tức là Vô Lượng Thọ Phật. Nói
vô lượng thì trước hết cần phải biết gì là lượng. Lượng có nghĩa như là
lớn nhỏ, lâu mau, nhẹ nặng, dài ngắn, kia đây, có thể so lường cùng
nhau. Vạn vật thuộc thế gian không gì lại không thể lượng, không thể
suy, không thể nghĩ, không thể dùng văn cú giải bày được. Song vị Phật
mà đã cứu cánh viên mãn Phật quả, ắt cái cảnh giới của Ngài ta không thể
so lường được, không thể nào suy nghĩ dược, nên (gọi) là “vô lượng”. Ví
như các giòng nước khi vào biển thì mất ngay tên gọi, mà đều chung là
một thứ nước, hoàn toàn bình đẳng, không thể phân biệt, không thể giải
bày. Như trí huệ và phước báo của chúng sinh, đủ loại sai biệt, song đến
(chỗ) thành Phật, ắt là pháp thân hoàn toàn bình đẳng, bằng nhau không
khác, tức thành (ra) vô lượng. Tuy dưới mắt của chúng sinh, vẫn có vô số
Phật, mà thật ra nơi cảnh giới của Phật, một Phật tức là tất cả Phật,
tất cả Phật tức là một Phật, như Kinh Hoa Nghiêm (vẫn thường) nói.
Ban Châu Tam Muội Kinh có nói: Tu hành niệm A Di Ðà Phật, khi thành
tựu Ban Châu Tam Muội, sẽ được thấy Phật, song Phật được thấy (tuy) là A
Di Ðà Phật, mà cũng là thấy tất cả các Phật hiện tiền. Nên A Di Ðà Phật
có thể nói chính là đại biểu cho tất cả các Phật. Ðó là ý nghĩa căn bổn
của A Di Ðà Phật. Suối nguồn giữa A Di Ðà Phật và Hoa Nghiêm Kinh
vô cùng thâm sâu. Như bổn luận có nói, phát nguyện vãng sinh “liên hoa
tạng thế giới” của A Di Ðà Phật. Hoa Tạng thế giới này chính là Hoa
Nghiêm thế giới của Kinh Hoa Nghiêm. Lại Bát Thập Bát Phật Sám Hối
Văn, (vốn) y theo phbẩm cuối cùng Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm
của Hoa Nghiêm Kinh mà ra. Các người cùng Tịnh Ðộ tông đều biết
“Phổ Hiền thập đại nguyện vương đạo quy cực lạc” (Mười đại nguyện vương
của Phổ Hiền là để dẫn đường quay về Cực Lạc), nên sự quan hệ giữa pháp
môn A Di Ðà Phật và Hoa Nghiêm Kinh vô cùng sâu xa. Bộ A Di Ðà
Kinh do Liên Trì Ðại Sư (4)
giải thích, chính là dùng ý nghĩa của Hoa Nghiêm Tông mà giải thích.
Vô Lượng thì dùng (hai nghĩa) Vô Lượng
Quang và Vô Lượng Thọ là nổi bật hơn cả. A Di Ðà Bà Gia
(5) là Vô Lượng Quang A Di Ðà Sưu
Tư (6) là Vô Lượng Thọ.
Quang có hai loại. Một là Phật thân quang,
biểu hiện Phật thân thanh tịnh, hai là trí quang, biểu hiện trí huệ vô
biên, (cả hai) đều là đối tượng mong cầu của chúng sinh, và (chỉ) ở Phật
mới được cứu cánh. Lại A Di Lợi Ða [Amrta] nghĩa là Cam lồ. Cam lồ theo
người Ấn nói, nghĩa thông thường là thuốc bất tử, thật ra [bất sinh] bất
tử, chính là nghĩa “thường” của Phật. Chữ A Di Lợi Ða trong Chú Vãng
Sinh chính là nghĩa này, nên Cam lồ Vương Phật cũng chính là A Di Ðà
Phật. Kinh đề tên Vô Lượng Thọ dường như để thuận theo thế tục; (nếu) y
theo luận nghĩa ở dưới thì vốn lấy (nghĩa) Vô Lượng Quang làm chủ yếu.
Trở lên là bốn
nghĩa của A Di Ðà. Nhưng A Di Ðà Phật mà ngày nay xưng danh, chính là
xưng (vị Phật) tiền thân là Pháp Tạng Tỳ Khưu
(7)
, nay thành Phật ở phương Tây (và đang còn) thuyết pháp
(8).
Sau khi Phật (này) nhập diệt, sẽ do Quan Thế Âm Bồ tát kế tục Phật vị
(9)
. Song Cực Lạc thế giới ở phương Tây, (vậy là)
cũng có phương (hướng), vị (trí), cho nên thọ mạng và lãnh vực (của cõi)
kia đều không phải là vô lượng. Ðiều này phải làm sao để giải thích đây?
Ðó chính bởi tâm lượng của chúng sinh hữu hạn, nên (phải) nói thành như
vậy. Như trong Kinh Duy Ma Cật, Xá Lợi Phất đem (việc) Phật cảm
uế độ mà nghi, không biết rằng có nhìn thành uế độ, (thì) chính là vì
mắt Xá Lợi Phất nhìn ra vậy, chứ không phải cõi Phật vốn tự là như vậy.
Nay cõi của A`Di Ðà Phật vốn là vô lượng, (song) vì chúng sinh hữu
lượng, (do) phương tiện nên nói là ở phương Tây như thế, như thế... vậy.
Ðó chính là trong vô lượng hiện hữu lượng, khiến cho chúng sinh được từ
hữu lượng đạt đến vô lượng vậy.
Lại nói về Cực lạc Quốc độ, trước hết bàn
về lẽ có hay không có của Tịnh Ðộ. Bởi như không có Tịnh Ðộ, thì làm gì
có chuyện vãng sinh? Nay nói về Tịnh Ðộ có hay không, có hai thuyết: một
là người thông thường võ đoán cho là mê tín, bởi người mà tin thì chưa
từng thấy qua, lại chưa từng đến qua, (nên) không thể chứng nhân là
(Tịnh Ðộ) có. Hai là người tin Phật thì cho chắc chắn có, vì tin vào
kinh nói (có) như thế. Nay thể theo thường ly mà đoán, không cần phải
chính thân mình trải qua, cũng chẳng phải toàn dựa vào kinh mà nói, cũng
có thể nhận định thấy là ắt phải có (cõi kia). Ðiều ấy lập luận như sa
khác:
1-Như khoa học ngày nay xướng thuyết, đã
chứng thật được thế giới này của chúng ta chỉ là một hành tinh trong vô
lượng tinh cầu, điều ấy đủ biết ngoài thế giới này ra còn có các thế
giới khác.
2- Lại hỏi các
thế giới này có hơn kém khác nhau hay không? Cứ xem các chốn ở thế gian
đều có hơn kém, có thể suy ra các thế giới cũng phải có hơn thua.
3-Nếu thế giới có
hơn thua, ắt thế giới ngày nay của chúng ta có phải là đẹp nhất hay
không, thì phải hiểu lả không phải vậy. Vậy thời đủ biết có những thế
gìới còn hơn nữa, không có gì là đáng nghi. Cũng như khoa học giới gần
đây, vì có vấn đề đĩa bay, cũng cho rằng các tinh cầu khác có thể có các
sinh vật có trí huệ cao hơn chúng ta.
Như trên đủ biết
Tịnh Ðộ không phải chỉ có , mà còn là rất nhiều, và còn có riêng những
thù thắng khác nhau. Trong giới Phật giáo lại có người nói “duy tâm Tịnh
Ðộ”, (ý) cho rằng Tịnh Ðộ chỉ có ở trong tâm, ngoài tâm thật không có
Tịnh Ðộ.
Nói như thế thật
là trái phạm với ý của Phật. Phải hiểu (các) thế giới do tâm hiện ra,
nói như thế đã đành, song đã nói như thế, thời phải biết uế độ do tâm
hiện ra là thật có trước mặt, sao lại chẳng thừa nhân Tịnh Ðộ do tâm
hiện ra là thật có? Cho nên đã tin Tịnh Ðộ, thì phải tin nó thật có,
không thể chấp lý bỏ sự được.
Lại về vấn đề Cực
Lạc thế giới, vẫn luôn có những tranh luận lặt vặt. Nghĩa là Tịnh Ðộ này
rốt là báo độ của Phật, hay là hóa độ [tức thế giới do Phật ứng hóa ra]?
Xưa nay cho rằng Phật [nếu chiếu theo thuyết hai thân] có pháp thân và
ứng hóa thân.
Cõi của pgáp thân
là thật báo độ, cõi của ứng hóa thân là hóa độ. Nay nếu Tịnh Ðộ đây là
báo độ, ắt chúng sinh tội ác làm sao đến được? Nếu là hóa độ, thời chúng
sinh chưa đoạn phiền não cũng có thể tựa vào Phật nguyện lực và tự
nguyện lực mà được vãng sinh. Song cõi này lại dường như không dược cứu
cánh cho lắm. Nay vấn đề này tuy không cần phải thâm cứu, song nếu theo
các bổn A Di Ðà Kinh mà xét, thì cõi này hình như chuyên vì hóa
đạo chúng sinh ở uế độ mà hiện ra để nhiếp dẫn. Nếu y Bam Châu Tam
Muội Kinh mà nói, người tu thành sẽ được A Di Ðà Phật hiện thân ra
mà nói pháp cho mình, và lúc đó hành giả khởi niệm quán sát: “Phật lại
có đến sao? Phật lại có đi sao? (Phật vốn) không đến không đi, song Phật
hiện tiền, (mới) biết do tâm biến hiện. Tâm này niệm Phật, tâm này làm
Phật. Phật tức là tâm, tâm tức là Phật”. Quán pháp như vậy. Từ đó mà ngộ
nhập thật tướng của các pháp, như thế mà vãng sinh Cực lạc thế giới, ắt
Cực lạc thế giới không hề phải là ứng hóa độ. (Hành giả) kia ngay lúc
hoa nở thấy Phật ngộ vô sinh nhẫn, thì Tịnh Ðộ nọ chẳng tại phương đông,
chẳng nơi phương tây, chính là biến khắp mọi nơi và (chính) là báo độ
vậy. trong Ðại Tạng kinh, (các kinh) có liên quan về Cực Lạc Tịnh Ðộ rất
nhiều, không phải chỉ ba kinh mà ngày nay vẫn thường nói mà thôi. Tịnh
Ðộ mà các kinh ấy trình bày, có kinh bảo (đó) là báo độ của Phật, có
kinh (cho) là hóa độ, cho nên gây ra biết bao tranh biện cho cổ nhân.
Như nói “niệm Phật tức sinh Cực Lạc”, một số người giải thích là niệm
Phật chắc chắn được vãng sinh, như thường nói là “đái nghiệp vãng sinh”
(mang theo nghiệp mà vãng sinh). Lại một số người khác thì cho rằng đó
chỉ là”biệt thời ý thú”
(10),
nghĩa là khi nói vãng sinh, không phải là vãng sinh tức thời, mà có
nghĩa là trải qua bao đời tiến tu, rốt cuộc sẽ vãng sinh, không phải ý
nói hiện đời này mà vãng sinh. Như người đời (thường) nói “nhất bổn vạn
lợi” (một vốn bốn lời), chính là từ từ buôn bán, chất chứa mà được, chứ
không phải bỏ ra một đồng liền có thể được vạn lời. Các giải thích khác
nhau này dĩ nhiên đều do sự hiểu biết không đồng nhau về Phật thân độ
(11)
mà ra. Thật ra Tịnh Ðộ chỉ là một, mà thấy ra
báo độ, hóa độ, hoàn toàn nhìn theo trình độ tu hành của chúng sinh mà
định. Như tu hành công sâu, vẫn có thể tại hóa độ mà đắc pháp thân, ắt
hóa độ này cũng chẳng dời báo độ vậy.
3) Ý HƯỚNG CỦA
SỰ VÃNG SINH CỰC LẠC.
Tại sao lại muốn
vãng sinh Cực Lạc? Tại sao lại phát nguyện ấy? Phải biết pháp môn Tịnh
Ðộ chính là pháp môn Ðại thừa Tiểu thừa không có Tịnh Ðộ mười phương,
nên cầu vãng sinh Tịnh Ðộ là đặc sắc của Ðại thừa. Mà yếu nghĩa của của
Ðại thừa là ở chỗ “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh” (trên cầu
Phật đạo, dưới giáo hóa chúng sinh). Nếu niệm Phật không lìa khỏi tâm
cảnh Ðại thừa này thì sẽ phù hợp với ý nghĩa sinh về Cực Lạc. Nếu chỉ vì
lìa khổ được lạc, ắt là căn tính Tiểu thừa rồi. Song phát tâm Ðại thừa ,
tại sao lại phải cầu sinh Tịnh Ðộ? Bởi uế độ nhân duyên không đầy đủ,
học Phật không dễ, tuy phát tâm Bồ Ðề, song chướng ngại hết sức nhiều,
sinh, lão, bệnh, tử không nắm chắc được chút gì
(12),
nên cần phải vãng sinh Cực Lạc. “Chư thượng thiện nhân, câu hội nhất xứ”
(cùng ở một chỗ với các bậc toàn thiện), quyết không thối mất đại tâm.
Mã Minh Bồ Tát (13)
trong Ðại Thừa Khởi Tín Luận có nói: : “Như Lai có thắng
phương tiện, không để thối chuyển [thối mất tâm Bồ Ðề]”(14),
tức nói về ý nghĩa (vãng sinh) này vậy. Ðủ thấy ý hướng cứu cánh của sự
vãng sinh chính ở chỗ không nhất tâm Bồ Ðề. Ðến như việc sinh Tịnh Ðộ
của bát địa Bồ Tát Mã Minh và sơ địa Bồ Tát Long Thụ
(15),
cùng
với phàm phu cầu sinh, cũng không hề giống nhau. Bậc đã ngộ vô sinh nhẫn
(16)
thuộc đăng địa Bồ Tát
(17),
thì tùy nguyện (mà) vãng sinh Tịnh Ðộ, như nước đổ vào chỗ trũng, chính
là cái thế ắt sẽ phải đến
(18),
(so) với người phát tâm cầu sinh thời không giống (nhau) vậy. Cho nên
chúng sinh không (kể) cao thấp, trọn đều sinh được, duy có người không
phát tâm Bồ Ðề (là) không (được) dự vào đó
(19).
4) TÁC GIẢ VÀ
DỊCH GIẢ.
“Luân”, tại Ấn Ðộ
là do Ðại thừa Bồ Tát hoặc Tiểu thừa A La Hán làm, “tạo” có nghĩa là
trước tác. Bồ Tát là (người) phát tâm Bồ Ðề, trên cầu Phật đạo, dưới hóa
chúng sinh, (một) hữu tình giác (cùng) cực (chính) là Bồ Tát. Bà Tẩu Bàn
Ðầu (20),
xưa dịch Thiên Thân, pháp sư Huyền Trang dịch sửa lại là Thế Thân. Thật
ra, cả hai cách dịch đều không ổn lắm. Bởi (chữ) “Thiên” theo Ấn ngữ là
Ðề Bà (21)
, “Bà Tẩu” là tên (một vị) thần, mà lại không
hề có nghĩa là “Thế”(22).
Nguyên thần là chỗ “thân” của người đời, người mong có con nếu cầu sẽ
được con, nên gọi là Thế Thân [thiên](23),
vị đại Bồ Tát này rất là nổi danh. (Ngài) là một trong hai vị đại Bồ Tát
của Duy Thức Pháp Tướng Tông. Tại Ấn Ðộ (ngài) có danh tiếng lớn, được
gọi là “Thiên Bộ Luận sư”(24).
Bộ Luận Thông Minh [Câu Xá Luận] chính là do ngài tạo ra.. Bộ
Tam Thập Duy Thức Luận [người sau chú giải thêm vào thành Thành
Duy Thức Luận], trong các luận của Ðại thừa, là chỗ y cứ của Duy
Thức Tông, bộ luận này cũng do ngài làm nên. Do vì ngài có một nhận thức
hết sức thâm sâu đối với toàn thể Phật pháp, cho nên cách nhìn, cách tu
(của ngài) đối với pháp môn niệm Phật này, cũng có những kiến giải (rất)
độc đáo. Ðây là nói qua về sinh bình của Bồ Tát. Bồ Tát sinh tại tây bắc
Ấn vào khoảng 900 năm sau Phật nhập diệt [ thuộc thời đại Tây Tấn
(25)
bên Trung Hoa]. Anh em ba người, anh là Vô Trước
(26), em là Sư Tử Giác, đều là đệ tử xuất gia Phật (giáo). Người Ấn thời đó
xuất gia, đều xuất gia nơi giáo đoàn tiểu thừa. Ngài xuất gia nơi Hữu Bộ
(27),
trước học Tiểu thừa (làm) thành bộ Câu Xá
Luận. Anh ngài là Vô Trước, gặp Di Lặc tận mặt, đắc Duy Thức Quán.
Biết em mình mê nơi Tiểu thừa, coi như bệnh (nên) kêu lại gặp, nói cho
nghe nghĩa Ðại thừa. Thế Thân giác ngộ, định tự cắt lưỡi. Vô Trước
khuyên hãy “hồi tiểu hướng đại” (bỏ Tiểu thừa quay về Ðại thừa), dùng
lưỡi ấy mà hoằng dương Ðại thừa, (ngài) bèn vâng nối nghiệp (anh). Các
bộ luận ngài trước tác không thiếu một thứ gì, hễ Ðại thừa kinh là không
(thứ) nào không xiển dương. Bộ luận này là một trước tác danh tiếng vốn
dựa vào yếu nghĩa của toàn thể kinh điển Ðại thừa để giải thích A Di
Ðà Kinh.
Dịch giả là Thiên
Trúc Tam Tạng Pháp Sư Bồ Ðề Lưu Chi
(28)
thời Nguyên Ngụy
(29).
Nguyên Ngụy tức THác Bạt Ngụy, Thiên Trúc tức
Ấn Ðộ, Tam Tạng là tinh thông Kinh, Luật, Luận.
Bồ Ðề Lưu Chi:
Bồ Ðề nghĩa là giác; Lưu Chi là người mong cầu, yêu thích; có nghĩa là
vui cầu giác ngộ. Ngài này trong lịch sử Phật giáo (Trung Hoa) địa vị
rất cao, (có những) quan hệ rất là lớn. Ngài vào thời Nguyên Ngụy từ Ấn
Ðộ đến kinh đô của Ngụy, kinh luận ngài dịch ra rất nhiều, chủ yếu đều
là các luận trước của Vô Trước và Thế Thân, như Kim Cương Kinh, Pháp
Hoa Kinh, Thập Ðịa Kinh này nọ đều có luận, trọng yếu nhất trong số
là Thập Ðịa Kinh Luận. Bổn dịch của bộ luận này một thời thịnh
hành, (lập) thành Ðịa Luận Tông
(30).
Sau lại diễn biến thành Hoa Nghiêm Tông
(31).
Ảnh hưởng của Luận (này) đối với Phật giáo Trung Hoa rất sâu. Song “duy
thức” mà ngài dịch (so) với những gì mà Pháp sư Huyền Trang giải minh
sau này hơi có chỗ không đồng. (Thuyết)
chân tâm do ngài đề xướng rất hợp với cá tính của người bổn quốc.
Bổn luận này do ngài dịch đối với việc niệm Phật của người nước ta cũng
là một sự khai mở to tát. Người ngày nay chỉ biết Pháp Sư Huệ Viễn ở Lô
Sơn (32),
là thủy tổ của Tịnh Ðộ tông (chứ) không biết pháp môn Tịnh Ðộ (từ lúc)
ban đầu chưa thành tông (mà) hoằng dương, thì người mà chân chính chuyên
môn hoằng dương, thật ra là Ðàm Loan Pháp Sư
(33).
Song việc Ðàm Loan hoằng (hóa) Tịnh Ðộ cũng
là một nhân duyên thật đặc biệt. Nguyên vì Ðàm Loan thể chất yếu đuối,
sợ không kịp hoằng pháp thì đã yếu tử, nên xuống phương nam, theo đạo sĩ
Ðào Hoằng Cảnh học phương pháp luyện thuốc, đến khi quay về bắc Ngụy
cùng Bồ Ðề Lưu Chi tương ngộ, đem chuyện phỏng đạo ra kể lại. Bồ Ðề Lưu
Chi bác, cho là cọng (tưởng). Ðàm Loan xin chỉ cho thuật trường sinh của
Phật giáo, Bồ Ðề Lưu Chi đưa ra cho bổn luận này. Ðàm Loan tập theo đại
ngộ, bèn nỗ lực hoằng dương, có làm ra bộ Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Ðề
Xá Nguyện Sinh Kệ Chú. Sau này Ðạo Xước
(34)
tiếp nối, lại truyền đến Thiện Ðạo
(35)
đời Ðường thì thịnh hành. Cho nên Tịnh Ðộ một thời phong thịnh, công lớn
là do bộ luận này của Bồ Ðề Lưu Chi vậy.
CHÚ THÍCH:
(1)Nói “ A Di Ðà
Phật Kinh” hay “Vô Lượng Thọ Kinh” ở đây chỉ là một, chính yếu là nói
chung cho các kinh nói về Phật A Di Ðà và cảnh giới Cực Lạc. Chữ kinh ở
đây là số nhiều vậy.
(2) Phạn ngữ
Upadesa thường được phiên âm là Ưu Bà Ðề Xá, hoặc Ưu Ba Ðề Xá, Ô Ba Ðề
Xá, Ô Ba Ðệ Thước... Hán dịch là luận nghị.
(3) Mười hai bộ tức mười
hai bộ kinh. Kinh Phật được biên tập lại bằng các cách theo đó đức Phật
nói pháp, với nhiều thể thức, dưới các đề tài khác nhau.
Hoặc bằng văn xuôi (1.
Trường hàng), bằng kệ tụng (2. Trùng tụng, 3. Phúng tụng), hoặc
dưới các đề t2i như các nhân duyên cho Phật nói pháp (4. Nhân duyên),
sự tích các chư Phật (. Bổn sinh), và sự tích các đệ tử
(6. Bổn sự) hoặc theo các cách Phật nói pháp như dùng thí dụ (7.
Thí dụ), dùng biện luận (8. Luận nghị, tức Ưu Bà Ðề Xá), dùng
thần thông (9. Vị tằng hữu), Phật tự ứng khẩu nói (10. Vô vấn
tự thuyết), dùng nghĩa thâm sâu (11. Phương quảng), và nhân
hứa nhận sự thành tựu đạo hay Phật quả của các đệ tử mà nói (12. Thọ
ký). Mười hai vấn đề trên được gọi là mười hai bộ kinh.
(4) Liên trì Ðại sư:
Pháp danh là Chu Hoằng, tự Phật Huệ, hiệu Liên Trì, trụ ở núi Vân Thê,
nên còn xưng là Vân Thê. Ngài sinh vào đời nhà Minh (Trung Hoa) vào
khoảng 1534 tây lịch. Ngài giác ngộ cơ thiền, song sau này vào núi Vân
Thê chuyên tu Tịnh Ðộ. Ngài chủ trương Thiền, Tịnh đồng quy về một mối.
Tuy thế song chuyên đề xướng Tịnh Ðộ, tạo sớ giải thích A Di Ðà Kinh,
trách mắng kẻ thiền đồ cao tâm ngạo mạn. Ðó cũng là noi theo tác phong
của các Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ, Cao Phong Nguyên Diệu v.v...Ngài
tịch năm 1615 Tây lịch.
(5)
Amitabla:
phiên âm là A Di Ðà Bà Già, có nghĩa là Vô (A), Lượng (Mita), Quang
(Abla).
(6) Amitàyus: phiên
âm là A Di Ðà Sưu Tư, dịch nghĩa là Vô (A), Lượng (Mita), Thọ (Âyus).
(7) Xem A Di Ðà Kinh
(đại bổn).
(8) Theo như Phật
Thuyết A Di Ðà Kinh (tiểu bổn), tức kinh A Di Ðà thường tụng hằng
ngày, Phật cho Xá Lợi Phất hay rằng: “Tùng thị tây phương quá thập vạn
ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc, kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Ðà
kim hiện tại thuyết pháp”, nghĩa là Từ đây đi về phương tây qua khỏi
mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên gọi Cực Lạc, cõi đó có vị Phật
hiệu là A Di Ðà, hiện tại đây còn nói pháp”.
(9) Theo kinh Quán Thế
Âm Bồ Tát thọ ký, thời sau khi thọ mệnh vô lượng trăm ngàn ức kiếp,
A Di Ðà Phật sẽ nhập Niết Bàn, Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ tục vị thành Phật.
Kinh ghi: “Tương lai bao la không thể tính toán, A Di Ðà Phật sẽ nhập
Niết Bàn..., sau khi chính pháp của A Di Ðà diệt mất, vào lúc quá nửa
đêm, tướng (ánh) sáng rõ ràng xuất hiện, Quán Thế Âm Bồ Tát, dưới gốc
cây Bồ Ðề bằng bẩy báu, ngồi kết già phu, thành đẳng chính giác, hiệu
Phổ Quang Công Ðức Sơn Vương Như Lai...”. (Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Ký
Kinh, Ðại Chính XII, trang 372, Phần trên). Tham khảo thêm Bi Hoa Kinh
(quyển 3. Ðại Chính III, trang 186-187).
(10) Biệt thời ý thú:
:Biệt thời” là lúc khác, (trong) một thời gian khác (chứ không phải là
lúc này. “Ý thú” là ý nghĩa, ý hướng, có ý nói cho, có ý chỉ cho... Ý
nói vấn đề niệm Phật vãng sinh không hề có nghĩa là niệm Phật được vãng
sinh Tịnh Ðộ ngay (trong đời sống này), mà sẽ vãng sinh vào một thời
điểm rất lâu sau đó (tức một “lúc khác”), sau khi đã tích tập đầy đủ các
công đức và trí huệ cần thiết để vãng sinh. Xem “Trung Quốc Tịnh Ðộ
Giáo Lý sử”, chương 13, tiết 3, trang 108, của Vọng Nguyệt Tín Ðình.
Huệ Nhật Giảng Ðường ấn hành.
(11) Phật thân độ:
nghĩa là các cõi tương ưng với các thân Phật, như tương ưng với pháp
thân là pháp thân độ, với báo thân là báo thân độ, với hóa thân là hóa
thân độ.
(12) Nguyên văn: “Sinh lão
bệnh tử, hào vô bả ác”, nghĩa là do bản chất vô thường (sinh, lão, bệnh,
tử) của bản thân này, nên chúng ta không tích tụ được công đức và trí
huệ gì xứng đáng hơn.
(13) Tức Asvaghosa. Niên
đại không chính xác, được coi là đồng thời với Kaniska (một vị vua vào
thời đại Kusana ở Tây Bắc Ấn Ðộ, hoằng dương Phật pháp rất mạnh), nghĩa
là vào khoảng thế kỷ thứ hai trước công nguyên. Một đại Bồ Tát của Phật
giáo Ðại thừa, ngài vừa là một nhà truyền giáo, vừa là một biện luận
giả, vừa là một văn hào, một nhà thơ, và vừa là một nhạc sư. Tác phẩm
nổi tiếng của ngài đối với giới học Phật Trung Hoa là “Ðại Thừa khởi tín
luận” (Mahāyāna Śraddhotpada Śāstra). Tham khảo: Mã Minh Bồ Tát
truyện, Ðại Chính quyển 50, trang 183.
(14) Ðoạn văn đó như sau:
“Phải biết Như Lai có thắng phương tiện bảo vệ tín tâm. Nghĩa là dùng
nhân duyên chuyên niệm Phật tùy nguyện được sinh cõi Phật ở
phương khác... Như Tu Ða La có nói: Nếu người chuyên niệm Phật A Di Ðà ở
thế giới Cực lạc về phương Tây... tức được vãng sinh. (Nhờ đó) thường
thấy được Phật nên rốt cuộc không có thối thất”. Ðại Thừa Khởi tín luận
- Ðại Chính quyển 32, trang 583, phần trên. Thật ra không thối tâm ở đây
là tâm tín. Nhưng tín ở đây lại chính là tin vào Ðại thừa,
tức là Bồ Ðề tâm vậy.
(15) Long Thụ (Nāgärjuna):
Niên đại về tiểu sử bất xác. Có thể khỏng đầu thế kỷ thứ nhất thuộc công
nguyên. Một Bồ Tát vĩ đại nhất trong việc hoằng hóa Ðại thừa (Mahäyäna)
bắt đầu từ Ấn Ðộ và sau đó ảnh hưởng khắp Trung hoa và Tây Tạng. Ðặc
biệt nhất là về tính KHÔNG (Śünyatä), ngài tạo các bộ luận nổi tiếng như
Trung Luận (Ma dhyamakaśästra) v.v... để hiển minh tính KHÔNG. Truyền
thuyết cho rằng các kinh điển Ðại thừa thuộc hệ Bát Nhã là đều do Bồ Tát
Long Thụ từ thất bảo tạng (Śaptaratnakośa) trong cung rồng dưới đáy biển
đem trở về thế gian để truyền bá. Tham khảo Long Thụ Bồ Tát truyện
- Ðại Chính quyển 50, trang 184.
(16) Vô sinh nhẫn
hoặc vô sinh pháp nhẫn (Anutpattika-dharmakşänti): Thấy được thật
tính vô sinh vô diệt của các pháp và an trụ vào pháp vô sinh diệt ấy một
cách vững chắc không thối chuyển. Như thế gọi là nhẫn vào pháp vô sinh
diệt, tức vô sinh pháp nhẫn. Theo Ðại Trí Ðộ Luận (quyển 73) của
Long Thụ Bồ Tát: “Vô sinh nhẫn là cho đến các pháp vi tế còn không thể
có được, huống gì pháp to lớn. Như thế gọi là vô sinh. Ðắc dược pháp vô
sinh này, không làm không khởi các nghiệp hành. Như thế gọi là đắc vô
sinh pháp nhẫn. Bồ Tát đắc vô sinh pháp nhẫn, thì gọi là A Tỳ Bạt Chí
(Avaivartika, tức bất thối chuyển)”.
(17) Ðăng Ðịa Bồ Tát
tức các Bồ Tát đà vào trong thập địa (Daśabhümi), tức giai đoạn cuối
cùng của một Bồ Tát trước khi đi đến thành quả viên mãn, tức Phật quả.
Giai đoạn này phân thành 10 tầng bậc nên gọi là thập địa. Các Bồ Tát
chưa đến giai đoạn này thường được gọi là “địa tiền Bồ Tát”, nghĩa là
các Bồ Tát ở vào các giai đoạn trước khi vào đến thập địa, như thập trụ,
thập hạnh, thập hồi hướng.
(18) Nguyên Văn: “Nãi thế
chi sở tất chí”, nghĩa là (nước mà gặp chỗ trũng thì) chắc chắn sẽ đổ
vào đó.
(19) Ấn Thuận xác nhận
rằng pháp môn Tịnh Ðộ là pháp môn Ðại thừa, thế nên ý hướng của sự vãng
sinh Cực Lạc dĩ nhiên phải lấy Bồ Ðề tâm làm trung tâm điểm, vì Bồ Ðề
tâm là trọng tâm và là nền tảng của Ðại thừa. Một cách công thức,
Bồ Ðề tâm được định nghĩa là “thượng cầu Phật đạo (tức cầu trí huệ), hạ
hóa chúng sinh (tức khởi đại bi)”. Nhưng các ý nghĩa (tức Bồ Ðề tâm)
này, trên phương diện hiện thực của một hữu tình, luôn luôn lấy căn bổn
tham sân si làm suối nguồn kích phát, và lại bị hạn cuộc trong một môi
trường hoàn toàn mâu thuẫn (tức ngũ trược ác thế), thế nên ý nghĩa đó
không thể thực hiện được đối với bất cứ hữu tình nào trong cõi thế gian
này. Nghĩa là không có một chúng sinh nào thật sự phát được Bồ Ðề tâm
hết. Do đó kết luận như Ấn Thuận kết luận trong đoạn này, không thỏa mãn
chút nào đối với ý nghĩa vãng sinh Tịnh Ðộ theo Tịnh Ðộ Tông.
Thật ra theo các kinh như
Quán Vô Lượng Thọ Kinh, cũng như Ðại bổn và Tiểu bổn, vấn đề vãng sinh
Tịnh Ðộ hoàn toàn thuộc trách nhiệm của Phật A Di Ðà, tức bổn nguyện lực
của Ngài (điều này đúng với chủ trương của Ðàm Loan). Việc phải làm của
hành giả Tịnh Ðộ chỉ là tín, niệm mà thôi. Tin và niệm Phật sở dĩ
được đề cao, vì Phật mới chính là hiện thân đích thực và là nền tảng
thỏa đáng nhất của Bồ Ðề tâm. Và Tịnh Ðộ cần phải được sinh về vì đó là
môi trường tương ưng và khế hợp nhất cho sự phát triển Bồ Ðề tâm đúng
nghĩa vậy.
(20) Âm phạm là
Vasubandhu.
(21) Deva, chỉ chung cho
các hữu tình thuộc thiên giới.
(22) Bà Tẩu (Vasu), theo
nghĩa trong Vệ Ðà là sự thiện và thịnh vượng. Nó lại chỉ chung cho một
hạng, một giới các vị thần. Rồi nó lại được dùng để chi cho các thần Ấn
Ðộ như Siva, Agni.. Chính theo nghĩa này mà nó được dịch là ‘Thiên’.
Ngoài ra nó còn có nghĩa là đất, mặt đất. Có lẽ do nghĩa này mà Huyền
Trang dịch là ‘Thế chăng
Ngoài ra Bandhu
(tức Bàn Ðầu) có nghĩa là người thân, họ hàng... nên được dịch là
‘Thân’ vậy.
(23) Ấn Thuận cho rằng như
vậy là Huyền Trang chỉ dịch chữ Bandhu Bàn Ðầu là “Thế Thân”, chứ
không dịch chữ Vasu Bà Tẩu, có nghĩa là “Thiên”.
(24) Nghĩa là vị
luận sư đã tạo ra cả ngàn bộ luận.
(25) Triều đại này được
sáng lập vào năm 265 công nguyên bởi Tư Mã Viêm trải qua bốn đời vua,
kéo dài 52 năm, đến năm 316 thì chấm dứt, lập đô tại Lạc Dương, một
trung tâm văn hóa của Phật giáo, một thời hết sức thịnh hành. Như vậy
Thế Thân sinh bình là khoảng cuối thế kỷ thứ ba, đầu thế kỷ thứ tư.