Tịnh Ðộ không phải chỉ là lý tưởng của Tịnh Ðộ tông, mà
còn là khuôn mẫu lý tưởng chung cho mọi tông phái của Ðại thừa Phật giáo
nữa.
Người ngoài cũng như Phật tử nói chung, thường bị quan
niệm thanh tịnh cá nhân (tức lý tưởng của Tiểu thừa) ám ảnh đến mức độ như
tin chắc rằng Phật giáo chỉ là con đường để thanh tịnh cá nhân đến mức
tuyệt đối toàn hảo. Ðại thừa bị nghi ngờ là hậu sinh và bị pha trộn đủ thứ
lệch lạc trong đó. Thậm chí có người còn cho Ðại thừa không phải là Phật
giáo mà chỉ là một nỗ lực của ngoại đạo để phá hoại Phật giáo “nguyên
thủy” chính thống. Lý do chẳng qua là vì Ðại thừa hoàn toàn đượm mùi vị
tôn giáo tập thể, phản ngược lại với chất vị cá nhân thuyệt đối trong sạch
của Tiểu thừa “nguyên thủy”.
Một sự thẩm xét thấu đáo về Ðại thừa sẽ cho thấy rằng
những ám ảnh trên là hoàn toàn sai lầm. Lịch sử Phật giáo cũng chứng thật
rõ ràng là Ðại thừa không hề phá hoại Tiểu thừa, cũng không hề tiếp tay
với ngoại đạo. Trước sau Ðại thừa vẫn là Ðại thừa và hoàn toàn là Phật
giáo. Ðại thừa cũng không hề xóa bỏ con đường thanh tịnh của cá nhân, trái
lại sự thanh tịnh ấy, đối với Ðại thừa, lại chính là chân lý tuyệt đối phổ
biến khắp mọi nơi và mọi loài. Ðại thừa có thể nói với Tiểu thừa rằng:
“Chúng ta chẳng có gì khác nhau, chẳng qua anh cá nhân và tôi tập thể mà
thôi. Tất cả mọi nỗ lực của tôi làm là để thành tựu sự thanh tịnh cho tất
cả chúng sinh. Anh tôn thờ Phật như một cá nhân hoàn toàn thanh tịnh, tôi
tôn thờ Phật như một pháp thân thanh tịnh biến khắp không gian thời gian,
mà mỗi vị Phật xuất hiện trong đời chỉ là một hiện thân cá nhân của pháp
thân thanh tịnh ấy mà thôi. Anh thực hiện sự thanh tịnh viên mãn để Niết
Bàn hóa toàn thể hiện hữu của cá nhân anh, tôi thực hiện sự thanh tịnh
viên mãn cho toàn thể chúng sinh để tịnh độ hóa toàn thể vũ trụ...”.
Tóm lại, theo Ðại thừa, cái chân lý viên mãn mà đức
Phật giác ngộ ra không phải Tiểu thừa mà cũng chẳng phải Ðại thừa, không
phải ngoại đạo cũng chẳng phải Phật giáo. Nó vốn cứu cánh thanh tịnh tuyệt
đối dứt mọi ngôn ngữ và tư tưởng. Tuy thế nó lại là nền tảng duy nhất cho
toàn thể mọi xu hướng hiện hữu, nó là nguồn năng lực sinh khởi bất tận cho
mọi sự hữu được hiện hữu. Nó là tất cả, là toàn thể. Song không phải vì
thế mà cái gì cũng là Phật giáo được. Cái tính chất “là tất cả” của tất cả
chân lý này, Phật giáo không hề chịu chia xẻ chung với Ấn Ðộ giáo. Cái
nguyên lý “là tất cả” nầy là nguyên lý củ sự giác ngộ của đức Phật, chứ
không phải là nguyên lý của một năng lực huyền bí bao trùm khắp vũ trụ, mà
loài người cứ tha hồ võ đoán là thần lực hay Thượng Ðế... nói cách khác
cái nguyên lý “là tất cả” nầy đã được giác ngộ hóa cũng như thanh tịnh
hóa, thế nên toàn thể vũ trụ, tất cả các pháp, đều là giác ngộ, đều là
thanh tịnh, đều là Phật pháp.
Do đó, tuy chân lý tuyệt đối phải là chân lý chung của
mọi loài, mọi tôn giáo, song nếu nó chưa được giác ngộ hóa và thanh tịnh
hóa, thì nó không có một tác dụng gì hơn là một giấc mộng “vũ trụ” biến
diệt bất tận và vô nghĩa. Nó thật sự không đưa lại một lối thoát, mà chỉ
đưa lại một nguyên lý thần lực tuyệt đối áp đặt vào thân phận của muôn
loài. Khi ấy Phật giáo từ chối nó như là chân lý tuyệt đối, mà chỉ coi đó
là một nguồn lực vô minh bao trùm khắp mọi loài.
Như thế, với Ðại thừa, vô minh và giác ngộ có chung một
nguyên lý tuyệt đối. Song trong giới hạn của vô minh, nguyên lý tuyệt đối
này là một thảm họa cho muôn loài. Một khi thoát vào thế giới giác ngộ,
nguyên lý tuyệt đối sẽ thanh tịnh hóa và giải thoát cho tất cả mọi cõi mọi
loài. Và chỉ với giác ngộ, nguyên lý tuyệt đối này mới được coi là chân
lý. Do đó, nếu thiếu giác ngộ, (hay rõ hơn, nếu thiếu một vị Phật) sẽ
không thể có chân lý tuyệt đối, không thể có Niết Bàn, an lạc, giải thoát
chân thật, dù cái nguyên lý tuyệt đối của muôn loài vẫn luôn luôn có mặt
ngay đây.
Vì vậy, một mặt chân lý của đạo Phật là chung cho tất
cả chứ không riêng gì của Ðại thừa, song mặt khác chỉ có xu hướng Ðại thừa
mới duy nhất hiển lộ ra được toàn thể chân lý chung hết cho mọi loài. Bởi
chỉ có xu hướng Ðại thừa mới lấy sự giác ngộ của đức Phật làm lý tưởng cứu
cánh, con đường Ðại thừa mới nuội dưỡng và phát triển ánh sáng giác ngộ ấy
đến mức viên mãn.
Mà đến mức viên mãn có nghĩa là đưa ánh sáng giác ngộ
từ cá nhân sang thấm nhập vào tất cả mọi hiện hữu cho đến khi toàn thể
hiện hữu đều trở nên hoàn toàn thanh tịnh trong ánh sáng giác ngộ. Khi ấy
thế giới trở thành Tịnh Ðộ và cá nhân giác ngộ trở thành pháp thân thanh
tịnh biến khắp không và thời gian. Ðây là cảnh giác ngộ viên mãn và chân
thật nhất của một vị Phật, và là khuôn mẫu lý tưởng của Ðại thừa Phật giáo
vậy.
Ðại thừa trở thành một tôn giáo, bởi đối tượng của Ðại
thừa giờ đây là pháp thân thanh tịnh Phật, một thật thể siêu việt nhưng
tích cực biến hiện cùng khắp theo nguyên tắc giác ngộ và tịnh hóa mọi
loài. Ðồng thời Ðại thừa vẫn là con đường thành tựu thanh tịnh của cá
nhân, bởi mỗi cá nhân tin tưởng đều có bổn phận phải thành tựu pháp thân
thanh tịnh kia qua sự giác ngộ của mình để cứu độ tất cả chúng sinh.
Trong tiến trình thực hiện sự giác ngộ để thành tựu
pháp thân, Tịnh Ðộ (và báo thân Phật) là một điều không thể thiếu sót được
cho hành giả Ðại thừa. Ðó là huyết mạch giao thông giữa hành giả và thập
phương chư Phật, qua đó hành giả thân chứng từ từ ra được pháp thân phổ
biến vô cùng tận. Do đó sự thể nhập vào Tịnh Ðộ của Phật A Di Ðà là một
phương tiện tối cao, tối cần thiết, và không thể không có được cho một
hành giả Ðại thừa. Và sự thể nhập chỉ hoàn toàn đúng nghĩa khi hành giả
trở thành một với Tịnh Ðộ, nghĩa là qua sự vãng sinh để trở thành một
thành phần (một con dân) của Tịnh Ðộ. Sự vãng sinh để thể nhập nầy có thể
thực hiện được là bởi toàn thể vũ trụ đã được quang minh trí tướng của A
Di Ðà Phật tịnh hóa đã được mười kiếp nay rồi, song chúng ta vẫn cứ hóa
hiện theo nguyên tắc của vô minh nên vẫn không hề hay biết, song như thế
có nghĩa là chúng ta đã ở sẵn trong Tịnh Ðộ rồi, vấn đề chỉ còn là rũ bỏ
tất cả mọi nghiệp lực vô minh của cá nhân qua sự chết và bằng lòng đón
nhận Tịnh Ðộ qua niềm tin quyết liệt. Do đó thể nhập vào Tịnh Ðộ, niềm tin
là căn bản tiên quyết. Hành giả Ðại thừa cần phải có lòng tin tuyệt đối
vào Tịnh Ðộ và buông bỏ hết mọi dính dấp với sáu cõi vô minh. Tịnh Ðộ trở
thành thật thể của hành giả, khi ấy trí huệ thể nhận ra pháp thân cùng đại
nguyện cứu độ toàn thể chúng sinh sẽ được phát hiện và thành lập. Và con
đường Bồ tát đạo mở rộng ra trước hành giả...
Tịnh Ðộ như thế là chung cho các hành giả Ðại thừa chứ
không riêng gì của Tịnh Ðộ tông. Vãng Sinh Luận ở đây do Thế Thân
(Vasubandhu) Bồ Tát tạo, và được giảng giải qua hai bậc Ðại sư khả kính:
Ấn Thuận Ðại sư, một cao tăng hiện đại của Trung Hoa, và Ðàm Loan Ðại sư,
một bậc cổ đức của triều đại nhà Tùy bên Trung Hoa. Thế Thân vốn là tổ của
Duy Thức học; Ấn Thuận là một bậc bác học về tạng kinh điển, nhưng có
thiên về tính Không học; Ðàm Loan như khai tổ của Tịnh Ðộ học vậy, bởi có
lẽ trước ngài không ai khai triển hay đả động gì đến Tịnh Ðộ... Như thế đủ
thấy mọi xu hướng của Ðại thừa một khi đi sâu vào chân ý nghĩa của Ðại
thừa, ắt hẳn sẽ gặp nhau nơi Tịnh Ðộ.
Những sự hiểu lầm về Tịnh Ðộ cần phải được tẩy rửa đi,
lòng tin vào Tịnh Ðộ cần phải được thành lập, trước khi chúng ta có thể
đặt bước vào con đường Ðại thừa Bồ Tát đạo.
ẤN THUẬN ÐẠI
SƯ (1906)
Ấn Thuận Ðại sư người huyện Hải Ninh,
tỉnh Triết Giang, sinh năm 1906.
Ngày 11 tháng mười năm 1920 (Dân Quốc 19)
được lão hòa thượng Thanh Niệm trụ trì Phước Tuyền Am tại Phổ Ðà Sơn thế
độ cho, đặt phàp danh là Ấn thuận, hiệu là Thanh Chánh. (việc xuất gia của
Ấn Thuận là do sự đồng ý , chỉ thị của Dục Sơn Thượng Nhân, giới huynh của
Thái Hư Ðại sư).
Cuối tháng mười 1920 (Dân Quốc 19), đến
thiên Ðồng Tự thọ giới. Giới Hòa thượng (Hòa Thượng đàn đầu) là Viên Anh
Lão Pháp sư.
Tháng 2, 1931 (Dân Quốc năm 20, ngài 26
tuổi) được sự đồng ý của tiên sư, Ấn Thuận đến Mân Nam Phật học viện, chùa
nam Phổ Ðà ở Hạ Môn cầu pháp. Vào học lớp sơ cấp, mùa hạ chưa hết lại bị
bệnh. Từ đó không khôi phục tinh thần lại được bình thường, cơ thể suy yếu
nhiều.
Ðầu tháng tám, đại diện cho viện trưởng
Ðại Tinh Pháp sư phái ngài đến Dũng Tuyền Phật học viện ở Cổ Sơn dạy học.
Năm 1932 (Dân Quốc 21, ngài 27 tuổi), đầu
học kỳ, Ðại Tinh Pháp sư yêu cầu Ấn Thuận dạy lại chính lớp mà khi trước
ngài (Ấn Thuận) vào học.
Ðược ít lâu, Ấn Thuận bèn tự nghĩ: “Mình
phát tâm xuất gia vì cầu pháp. Học chưa đầy bốn tháng lại ở chính nơi đây
làm giảng sư, thật chẳng biết tàm quý. Ở đây không thể đạt được nguyện
vọng cầu pháp của mình, mình phải tự tìm cầu. Nghĩ thế, Ngài bèn biên thư
về Phước Tuyền Am nhờ biên thư kêu ngài trở về gấp vì lý do khẩn.
Mùa hạ 1932 (27tuổi), đến chùa Huệ Tế -
núi Phật Ðỉnh, ở Lầu Kinh đọc Ðại Tạng. Ở đây được một năm rưỡi để đọc
chương sớ của Tam Luận Tông.
Tháng một 1934 (29 tuổi) lại đến Vũ Xương
Phật học viện, tại đây lần đầu tiên được lễ kiến Thái Hư Ðại sư. Sau đó đi
Nam Kinh, đến thăm Cổ đạo tràng của Tam Luận Tông. Trở lại Vũ Xương ở đấy
nửa năm, đọc xong chương sớ của Tam Luận Tông, và sau đó trở lại núi Phật
Ðỉnh.
Khoảng tháng 6, 7 nhận được thư của Thái
Hư Ðại sư và Thường Tinh Pháp Sư, viện trưởng đại học Mân Nam mời ngài đến
Hạ Môn (Mân Nam Phật học viện).
Ðến Hạ Môn được nửa năm (1/1935, 30
tuổi), trở lại Thượng Hải, sau đó về Lầu Kinh ở núi Phật Ðỉnh, duyệt tạng
kinh đến mùa thu năm 1936 (Dân Quốc 25, 31 tuổi) đọc xong Ðại tạng.
Ấn Thuận Ðại sư là một trong những hiện
đại danh tăng lỗi lạc nhất hiện cư ngụ tại Ðài Loan (Ðài Trung). Tuy nhiên
lạp đã cao nhưng ngài vẫn ngày đêm nghiên cứu thêm về Phật Pháp, viết rất
nhiều tác phẩm Phật giáo.
Ngoài những tác phẩm lẻ mà sau này được
kết lại thành bộ Diệu Vân Tập, còn được biết thêm những tác phẩm của ngài
như:
-
Nguyên Thủy Thánh điển chi tập thành,
-
Ðại thừa sơ kỳ Phật giáo, khởi nguyên dữ khai triển,
-
Như Lai tạng chi nghiên cứu v.v...
(Theo “Hoa Vũ Hương Vân” của Ấn Thuận).
Ðàm Loan
Ðại Sư (476-542)
Truyền thống Tịnh Ðộ Trung Hoa coi Lô Sơn Huệ viễn
(334-416) Ðại sư như sơ tổ và không hề đề cập gì đến Ðàm Loan Ðại sư hết.
Tuy nhiên theo truyền thống Tịnh Ðộ Nhật Bản thì Ðàm Loan Ðại sư lại được
coi là Thủy Tổ, bởi Tịnh Ðộ Nhật Bản tryền thừa theo hệ Ðạo Xước và Thiện
Ðạo, mà Ðạo Xước và Thiện Ðạo lại liên hệ và bị ảnh hưởng chính yếu bởi
Ðàm Loan.
Theo “Tục Cao Tăng truyện”, Ðàm
Loan vốn người Nhạn Môn, tỉnh Sơn Tây. Nhân du ngoạn Ngũ Ðài Sơn, thấy tâm
thần thư thái, bèn phát tâm xuất gia. Ngài học rộng về cả nội, ngoại điển,
nghiên cứu thâm sâu về bốn luận (Trung, Bách, Thập nhị môn luận và Ðại trí
Ðộ Luận), cùng các vấn đề về Phật tính. Một hôm đang duyệt đọc Ðại tập
Kinh, thấy từ ngữ rất thâm mật, khó cho người hiểu, nên ra sức chú giải.
Ðược nửa phần, bỗng nhiên phát bệnh. Sau tuy có khỏi, nhưng nghĩ đến đời
người vô thường, nên lập chí tìm học thuật trường sinh trước, rồi mới
hoằng đạo sau. Do đó mới lần về phương Nam, đến Nam Kinh thuộc tỉnh Giang
Tô vào năm Ðại Thông triều Lương Vũ Ðế. Lương Vũ Ðế tiếp kiến tại Trùng
vân điện, hỏi về vấn đề Phật tính. Sau đó, tại Thái Vân điện hỏi thăm Ðại
sư cớ gì tìm đến phương Nam. Ngài bèn cho biết muốn tìm Ðào Quân để học
phép tiên. Ðế giới thiệu cho Ðào quân, tức Ðào Hoằng Cảnh, tiếp đãi ân cần
và tặng cho Ðại sư mười quyển tiên kinh. Ðại sư được tiên kinh, muốn tìm
ngọn núi ẩn cư tu luyện. Trên đường trở về Bắc Ngụy, ngang qua lạc Dương,
gặp gỡ Tam Tạng Bồ Ðề Lưu Chi, mới hỏi thăm trong Phật pháp có chăng
phương pháp bất tử hơn hẳn tiên kinh của Trung Quốc? Lưu Chi Tam Tạng bác
bỏ tiên kinh, cho rằng dù có được trường sinh bất tử, nhưng chung cuộc vẫn
thuộc ba cõi luân hồi! Trường sinh bất tử chân chính duy chỉ có Phật đạo.
Rồi trao cho Ðại sư Quán Vô Lượng Thọ Kinh, bảo y theo đó mà tu hành, sẽ
được giải thoát và trường thọ vĩnh viễn. Ðàm Loan vâng theo, đốt hết tiên
kinh và chuyên tu theo Di Ðà Tịnh Ðộ Pháp môn. Lại dạy bảo tăng tục tự
thực hành và dạy người khác hành. Giới đế vương Bắc Ngụy thời ấy tôn trọng
đức ngài, sắc phong là Thần Loan, và sắc trụ tại Ðại Nghiêm Tự ở Tinh
Châu. Sau ngài dời về Huyền Trung Tự ở Phần Châu tập chúng huân tu niệm
Phật pháp môn. Ngài thị tịch vào triều Ðông Ngụy, tháng 5 năm Hưng Hòa thứ
4.
Tác phẩm do Ðàm Loan trước tác
không có bao nhiêu. Ngoài “Ưu bà Ðề Xá Nguyện Sinh Kệ chú” (2 quyển) ở đây
ra, còn có “Tán Di Ðà Phật kệ” (1 quyển) và “Lược Luận An Lạc Tịnh Ðộ
Nghĩa” (1 quyển).
(Phỏng theo “Trung Quốc Tịnh Ðộ Giáo lý sử” của Vọng
Nguyệt Tín Ðình).
---o0o---
[
Mục Lục ]
[
Phần 1]
[
Phần 2]
[
Phần
3
]
[
Phần
4
]
---o0o---