NHỮNG LỜI KHAI THỊ
CỦA ĐẠI SƯ HÁM SƠN
(Trích: ĐƯỜNG MÂY TRONG CÕI MỘNG)
THÍCH HẰNG ĐẠT & NGUYÊN PHONG
phóng tác
---o0o---
Phần 1
BÀI 1 - LUẬN VỀ SỰ CẢM ỨNG.
Đức Phật đã dạy rằng tất cả nhân quả thiện ác trên thế
gian đều theo nhau như bóng với hình, không sai chạy chút nào. Tuy
nhiên, những kẻ không tin tưởng vào luật nhân quả thì cho đó là lời nói
ngoa. Ngoài ra, nhiều người do tin tưởng thuyết “An Mạng (an phận thủ
thường)” của Khổng Tử nên thường đổ trút tất cả cho số mạng, và chỉ cầu
phước báo, cùng thích nghe những điều tốt lành mà bỏ ngoài tai những
việc xấu xa tai hoạ. Thật là những kẻ hàm hồ ngu muội.
Thật ra, cuộc đời sanh tử chỉ như một ngày đêm. Khái niệm
luân hồi trong ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) giống như hôm nay và
ngày trước. Ví như trong cuộc sống hằng ngày, lúc mời khách đến nhà dự
tiệc, thì phải chuẩn bị đặt để thức ăn nước uống cho trang trọng đầy đủ.
Nếu có thiếu sót món chi tức là lo lắng không chu đáo. Đó là lẽ tất
nhiên.
Cuộc nhân sanh, những việc thọ mạng dài ngắn (chánh báo),
gia sản tài vật (y báo), sự nghiệp công danh, cùng phú quý bần tiện đều
tuỳ thuộc vào nghiệp nhân đã trồng trong tiền kiếp. Những sự thọ dụng
trong đời nay đều không phải từ bên ngoài mang đến, mà hoàn toàn là do
tự làm tự hưởng. Vì vậy cổ nhân đã có câu : “Muốn biết nghiệp nhân đời
tiền kiếp, hãy nhìn báo ứng đang thọ. Muốn biết quả báo đời vị lai, hãy
xem đang làm những gì”. Đa số người đời ỷ vào tài năng học thức để đạt
công danh phú quý, nhưng chẳng hề biết rằng việc này khó xảy ra, vì chủ
yếu chính là do nhân lành đã tự trồng trong tiền kiếp kết hợp với khả
năng tài trí trong hiện tại mới tạo dựng được. Do đó, nếu vui mừng hớn
hở khi được công danh phú quý thì rất sai lầm. Lại nữa, lúc bị người
khác phá mất công danh phú quý, liền khởi tâm oán hận, mà chẳng biết
rằng phần phước mình chỉ có thế thôi. Phần phước báo bị người khác phá
mất thật ra chẳng phải là của mình mà chính vì thiếu nợ người đó nên
phải trả. Vì vậy, đau khổ ưu sầu, oán trời trách đất, thậm chí kết thành
cừu oán không thể xả bỏ, thì cũng là sai lầm. Do đó, phải nên biết rằng
pháp “An Mạng” của Khổng Tử tức là thuyết nhân quả của Phật giáo. Nếu
hiểu được lý “An Mạng” thì sẽ chấp nhận rằng sang hèn được mất đều tuỳ
thuộc vào nhân xưa, vốn tự làm tự thọ. Nghèo cùng hay hiển đạt, mạng
ngắn hoặc dài, đều do nhân đời tiền kiếp chủ định. Thật vậy, nếu hiểu rõ
và tin tưởng quy luật nhân quả, thì sẽ chấp nhận rằng tất cả sự thọ dụng
trong hiện tại đều phát xuất từ những nghiệp nhân đã trồng vào đời tiền
kiếp, chớ chẳng phải do người khác đem đến, hay nhờ tài trí mới đạt
được. Dẫu có đạt được bằng tài trí, thì đó chẳng qua là phần phước của
mình. Thế nên, sao lại khổ sở đắm chấp, lao tâm nhọc sức, lo lắng ưu sầu
những việc được mất, thậm chí vọng tích bao oán thù ! Nếu là người thông
minh sáng suốt, thì phải thâm tín nhân quả báo ứng, mà không chấp trước
vào những việc đắc thất trong hiện tại, chỉ nên căn cứ theo điều kiện
hiện hữu, để trồng nhân lành vào ruộng phước cho tương lai. Ví như người
nông dân, phải biết chọn đất phì nhiêu để gieo trồng giống tốt, rồi
siêng năng cấy cày, thì nhất định sẽ thu hoạch được đầy ắp lúa mạ trong
mùa thu. Đây là việc hiển nhiên. Có khác biệt chăng trong sự thu hoạch
là do việc bỏ phân bón ít nhiều.
Đức Phật đã dạy : “Cúng dường Phật, Pháp, Tăng thì gọi là
gieo nhân lành vào ruộng phước thù thắng. Hiếu thảo với cha mẹ thì gọi
là gieo nhân lành vào ruộng phước cung kính. Cứu giúp những kẻ nghèo
cùng khốn khổ thì gọi là gieo nhân lành vào ruộng phước tâm thức”. Tôi
hy vọng quý vị sẽ không ưu sầu vế những sự được thua còn mất trong quá
khứ, mà chỉ lo gieo nhân lành vào ruộng phước cho tương lai. Nếu quý vị
giảm bớt tiêu xài vào những việc phung phí hay vô ích cùng biết tiết chế
chi tiêu trong việc ăn mặc, rồi dùng những phần được tiết kiệm trồng
trong ba loại ruộng phước ở trên, thì không những đời vị lai được tăng
phước đức trang nghiêm mà hiện thế thân an tâm lạc, và trở thành người
có phước lành bậc nhất. Nếu thường gieo giống lành vào ba loại ruộng
phước bên trên, lại còn biết lưu tâm về Phật Pháp như dùng cách niệm
Phật để dẹp trừ tâm vọng tưởng, dùng từ bi để chuyển hoá sân si, dùng
nhu hoà để cảm hoá cường bạo, dùng khiêm tốn để chiết phục ngã mạn, thì
đó là hạnh của bậc Bồ-tát phát đại tâm. Nếu có tín tâm chân thật, thì
xứng đáng được gọi là đại trượng phu dũng mãnh tối thắng
BÀI 2 - SỰ THIẾT YẾU CỦA VIỆC NIỆM PHẬT
CÙNG THAM THIỀN
Người thẩm sát công án niệm Phật, phải đơn độc đề cử một
âm thanh “A Di Đà Phật” làm thoại đầu. Nơi đề khởi, phải hạ nghi tình,
thẩm vấn xem người niệm Phật là ai. Lại đề cử lại thẩm xét, xem coi rốt
ráo người niệm Phật là ai. Quyết bám tựa câu thoại đầu này như thế, thì
tất cả vọng tưởng tạp niệm đều bị đốn đoạn, như chặt dây nhợ. Lại không
dung dưỡng cho chúng khởi lên, (vì nơi khởi tức tâm liễu giác bị che
mất), mà chỉ còn một niệm ; đơn độc sáng suốt rõ ràng, như mặt trời lơ
lững trên không trung, thì vọng niệm không sanh, hôn mê tự thối tán, tức
tịch tịch tỉnh tỉnh.
Đại sư Vĩnh Gia thuyết: Tịch tịch tỉnh tỉnh là phải, Tịch
tịch vô ký là sai. Tỉnh tỉnh tịch tịch là phải, tỉnh tỉnh loạn tưởng là
sai. Đây là dạy rằng tịch tịch mà không lạc vào hôn trầm vô ký. Tỉnh
tỉnh mà không lạc vào vọng tưởng. Tịch tỉnh song song lưu hành, và tâm
phù trầm đều xả. Xem đến nơi một niệm chưa sanh, thì tiền hậu tế đều
đoạn, chính giữa tự cô độc, tức khắc đập thủng thùng nước sơn, bèn thấy
bản lai diện mục. Thân tâm thế giới lập tức rơi xuống, như hoa rụng
trong hư không. Mười phương tròn đầy trong sáng, thành một tạng đại
quang minh. Như thế chính là thời tiết trở về nhà. Nhật dụng hiện tiền,
viên minh trong sáng, nên không còn nghi ngờ ; tin chắc tự tâm, gốc vốn
như thế. Từ trên Phật Tổ, nơi tự thọ dụng, không hai không khác. Đến
cảnh giới đó, chớ nên giữ chấp không kiến (thấy không). Nếu giữ chấp
không kiến, thì đoạ vào ngoại đạo ác kiến. Lại không thể khởi hữu kiến,
cùng tri kiến huyền diệu, vì còn hữu kiến tức đoạ vào tà kiến. Ngay
trong công phu, xuất hiện bao loại cảnh giới, quyết chẳng nhìn nhận
chúng ; nghe một tiếng quát liền tiêu. Cảnh ác hiện chớ sợ, và cảnh lành
chớ vui, vì chúng chính là con ma tập khí. Nếu sanh tâm vui mừng, tức
đoạ vào đường ma. Phải quán biết đó là hiện cảnh của tự tâm, không từ
ngoài vào. Phải biết bổn lai thanh tịnh, trong tâm vốn không có một vật.
Gốc vốn không mê ngộ, chẳng nương nơi thánh phàm, thì còn an đắc bao
loại cảnh giới sao ! Ngày nay vì mê bản tâm này, nên phải dụng công phu,
để tiêu ma vô minh tập khí. Nếu ngộ bản tâm xưa nay không có một vật,
vốn sáng suốt bao la, thanh tịnh lặng lẽ, thì thong dong tự tại qua
ngày, sao còn có công phu nào để hành !
Người thời nay phải tin tâm này, xưa nay vốn không một vật.
Như nay dụng công phu, chỉ vì chưa thấy được bản lai diện mục đó, nên
phải quyết hạ thủ công phu, thì mới có ngày trở về quê quán. Từ đó mà
thẳng bước, thì tự nhiên sẽ có lúc đốn ngộ bản lai diện mục, tức là xuất
ra khỏi sanh tử, mãi mãi không nghi ngờ
BÀI 3 - KHAI THỊ ĐẠI CHÚNG
Đức Phật trụ thế, thuyết
pháp lợi sanh, khiến bốn chúng đều được đắc độ. Ngài tuỳ cơ giáo hoá,
mỗi mỗi đều có phương tiện quyền xảo, khiến tất cả mọi loài đều được lợi
ích. Thí như trời mưa, cỏ cây đều được thấm nhuần, tuỳ theo loại lớn nhỏ
mà được sung túc, sanh trưởng. Thế nên tuy pháp môn có thiên sai vạn
biệt, nhưng quay về nguồn thì không hai. Nếu dùng Phật tánh mà quán sát
chúng sanh, thì không có loài nào mà chẳng được độ. Dùng tự tâm mà quán
xét Phật tánh, thì ai ai cũng đều tu được cả. Song, chúng sanh tự mê
muội mà không biết điều này. Lại nữa, vì không có thiện tri thức chân
chánh dẫn dắt chỉ dạy, nên phải cam chịu trầm luân, uổng thọ bao khổ
não. Vì vậy, lúc Tổ Huệ Năng vừa đến, ngũ Tổ Hoàng Mai liền hỏi : “Ngươi
là người xứ nào ?” Huệ Năng đáp : “Con là người xứ Lĩnh Nam”. Ngũ Tổ nói
: “Người Lãnh Nam mọi rợ lại có Phật tánh ư ?”. Huệ Năng đáp : “Người có
phân nam bắc, nhưng Phật tánh chẳng hề có hai”. Lời này lưu bố khắp nhân
gian, như tiếng sấm nổ, khiến loài sâu bọ phải khiếp đảm. Vùng Lãnh Nam
trở thành cội nguồn của thiền đạo Phật Pháp, khiến xuất sanh bao bậc trí
giả và ngộ đạo. Từ khi Lục Tổ hoằng hoá, đạo pháp được lưu truyền khắp
Trung Nguyên.
Ngày nay, trước cửa môn
đình, cảnh tượng tiêu điều, cỏ dại mọc khắp nơi cả ngàn năm. Nhiều người
đàm luận cho rằng đó chẳng phải là vùng đất của thiện căn. Đây thật là
chưa đạt được ý chỉ Phật tánh. Tôi mong từ ân (của nhà vua) chuyển đến
Lôi Dương vào mùa xuân năm Bính Dần. Đến mùa thu năm đó thì đến Ngũ
Dương. Trong thành tôi chú giải hoàn toàn bộ kinh Lăng Già. Mùa hè năm
Mậu Tuất diễn giảng cho chư đệ tử. Trong mỗi lần ngồi toạ, thấy chư
thiện nam tử hậu bối cố gắng mà đến, nên tôi rất mực khen ngợi. Lại có
hơn mười vị thiện sĩ lễ bái, khấn cầu thọ năm giới của Ưu-bà-tắc. Tôi
vui mừng chấp thuận, nên làm pháp Yết Ma. Họ tự quy tâm ngày một tín
thành, và dốc lòng lắng nghe Phật Pháp. Tôi thương cho họ chưa liễu ngộ
và chưa biết cách tấn tu công phu tự độ. Vì vậy, tôi dùng niệm Phật
tam-muội, dạy họ chuyên tâm nơi tịnh nghiệp, tức là chán chường duyên
khổ, mà quy hướng Cực Lạc. Trong kỳ hội mỗi tháng, lập ra quy chế ;
trong ba thời tu hành xưng danh lễ bái tụng đọc sám hối. Vì muốn tín tâm
ngày càng khẩn thành, tội chướng ngày càng tiêu bớt, nên phải phát khởi
nguyện vãng sanh. Nếu quả tình hành theo pháp môn này, thì tuy thân tại
trần lao, mà có thể bảo rằng sống không hư, chết không phóng túng. Chẳng
phải là công hạnh chân thật sao ! Phật là giác, tức là Phật tánh của
chúng sanh. Vì mê mà làm chúng sanh. Nếu ngộ thì gọi là Phật. Ngày nay
niệm Phật, tức tự tánh Di Đà. Cầu vãng sanh cõi Tịnh Độ, tức duy tâm Cực
Lạc. Quý vị nếu thường niệm niệm mà chẳng quên mất, thì tâm tâm Di Đà sẽ
xuất hiện, và từng bước lần hồi sẽ vê đến quê hương Cực Lạc. Cần gì vọng
mong nơi ngoài mười vạn ức cõi nước, còn có cõi Tịnh Độ để quy hướng !
Thế nên, tâm tịnh thì cõi nước thanh tịnh. Tâm cấu uế thì cõi nước uế
trược. Do đó, một niệm ác vừa dấy khởi, thì rừng kiếm cây đao liền vung
dậy. Một niệm lành sanh, thì đất báu hồ sen liền hiện rõ. Thiên đường
địa ngục, sao lại ngoài tâm này ư ! Chư thiện nam tử ! Xin hãy suy nghĩ
chín chắn ; phải luôn thống niệm sanh tử đại sự, vô thường mau chóng.
Một khi mất thân này, thì muôn kiếp khó hoàn phục lại. Mặt trời mặt
trăng luôn xoay chuyển, và thời gian chẳng đợi mình. Nếu phụ duyên này,
thì lỡ mất cơ hội. Khi đại hạn đến, hối hận chẳng kịp. Quý vị mỗi mỗi
hãy nỗ lực. Trân trọng ! Trân trọng !
BÀI 4 – KHAI THỊ VỀ NHỮNG ĐIẾM THIẾT YẾU
KHI NIỆM PHẬT
Pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh cõi Tây phương Cực Lạc,
vốn là đại sự cắt đứt dòng sanh tử. Vì vậy bảo rằng chỉ cần xưng niệm
danh hiệu Phật là có thể cắt đứt sanh tử. Do đó, ngày nay mới phát tâm
niệm Phật.
Song, nếu không biết cội gốc của sanh tử, mà cứ niệm Phật
mãi thì cuối cùng sẽ đi về đâu ? Nếu niệm Phật mà không đoạn được cội
gốc của sanh tử thì làm sao cắt đứt dòng sanh tử ? Cội gốc của sanh tử
là gì ? Cổ nhân nói : “Nghiệp bất trọng bất sanh Ta Bà. Ái bất đoạn bất
sanh Tịnh Độ”. Thế nên, biết rõ ái dục là cội gốc của sanh tử. Khiến tất
cả chúng sanh thọ khổ trong sanh tử đều do ái dục. Cội gốc ái dục này
không phải chỉ hiện hữu trong một, hoặc hai, ba, bốn đời, mà nó đã tự có
sẵn từ đời vô thủy cho đến ngày nay. Sanh sanh thế thế, xả thân thọ
thân, đều do lưu chuyển theo ái dục.
Ngày nay, suy nghĩ nhìn lại, xem coi lúc nào có một niệm
tạm rời cội gốc ái dục này đâu ! Hạt giống ái căn, bao kiếp tích luỹ sâu
dày, nên khiến sanh tử không cùng tận. Hiện tại, vừa phát tâm niệm Phật,
nếu chỉ vọng không cầu sanh Tây phương mà danh tự ái dục (tức cội gốc
của sanh tử) lại không biết đến, thì khi nào mới có niệm đoạn được nó ?
Không biết cội gốc của sanh tử, nên một bên niệm Phật, một bên cội gốc
sanh tử lại càng tăng trưởng nhiều hơn. Cả hai việc niệm Phật và cội gốc
sanh tử chẳng quan hệ với nhau. Dẫu niệm cách nào đi nữa, đến lúc lâm
chung quý vị chỉ thấy sanh tử ái căn hiện tiền. Khi đó lại cho rằng Phật
hoàn toàn không có thần lực, nên liền oán trách niệm Phật không linh
nghiệm ; dẫu sau này có hối hận cũng không kịp.
Vì vậy, khuyên người niệm Phật thời nay, đầu tiên phải biết
ái dục là cội gốc của sanh tử. Ngày nay dốc lòng niệm Phật, thì niệm
niệm phải đoạn ái căn này. Trong cuộc sống hằng ngày, ở nhà niệm Phật ;
mắt thấy vợ con cháu chắt, gia duyên tài sản, đều không nên đắm trước ái
nhiễm, thì làm việc nào và niệm nào cũng đều vì sự sanh tử, và cảm giác
như toàn thân đang đứng trong hầm lửa. Lúc chưa biết cách chân chánh
niệm Phật, thì niệm ái dục trong tâm chưa có thể xả bỏ. Vì niệm không
thiết tha và chẳng biết ái dục là chủ tể, nên chỉ niệm Phật ngoài da.
Nếu như thế thì Phật chỉ nghe niệm, còn ái dục thì lại tăng thêm. Lúc
cảnh tình của vợ con hiển hiện, phải xoay nhìn vào tâm. Một danh hiệu
Phật có thể đối địch với ái dục, thì sẽ cắt đoạn được ái căn. Không cắt
được ái dục thì làm sao đoạn được sanh tử. Do tập khí của duyên ái trong
bao đời đã chín mùi mà nay chỉ mới bắt đầu niệm Phật, lại không thiết
thật niệm Phật, thì không thể niệm Phật được đắc lực được. Nếu trước mắt
không thể kềm chế được ái cảnh thì khi lâm chung quyết không thể tự làm
chủ được. Do đó, khuyên người niệm Phật, việc trước nhất là phải biết vì
sanh tử mà thiết tha niệm Phật, tức là phải có tâm thiết tha cắt đoạn
sanh tử, và phải dùng niệm niệm mà đốn đoạn cội gốc sanh tử. Lúc niệm
niệm đều dứt được sanh tử thì cần gì đợi đến ngày ba mươi tháng Chạp !
Đợi đến lúc đó thì đã trễ lắm rồi ! Thế nên, bảo rằng trước mắt luôn
nghĩ đến sanh tử đại sự. Trước mắt liễu được sanh tử vốn không. Niệm
niệm thiết thật, thì đao đao đều chặt đứt. Dụng tâm như thế, nếu không
vượt khỏi sanh tử thì chư Phật bị đoạ vì tội vọng ngữ ! Do đó, người
xuất gia kẻ tại gia, biết rõ tâm sanh tử tức là biết rõ thời tiết xuất
ly sanh tử, sao còn diệu pháp nào khác nữa !
BÀI 5 - KHAI THỊ VỀ TỊNH ĐỘ.
Đa số các sĩ phu trong đời cận thế đều hướng về tai
miệng, phóng túng đàm luận ngọn ngành, cho việc tham thiền là hướng
thượng nên bài bác không tu theo Tịnh Độ. Cho đến những đệ tử của tôi,
đa phần tập tành theo ngôn cú của chư cổ đức, chỉ có miệng lưỡi lanh
lợi, và luôn hướng theo danh tướng, nên Phật Pháp ngày càng suy vi.
Không những thực hành chẳng được gì mà lại phỉ báng kinh điển Đại thừa,
tức cho là văn tự danh tướng, không muốn thân cận tu học. Gặp những kẻ
tri thức u mê thì làm sao tránh được những ngọn sóng cuồng ! Thật rất
đáng sợ ! Đa số họ không hiểu thâm sâu về thừa giáo, và không biết rõ
việc độ sanh của chư Phật, vì phương tiện nên mới thuyết ra nhiều pháp
môn, nhưng xoay về cội nguồn thì không hai. Thế nhân phải biết môn hạ
của chư tổ sư, dùng việc ngộ đạo làm tối thượng, và ngộ tâm làm bổn ý.
Muốn ra khỏi sanh tử, niệm Phật chẳng phải là pháp xuất ly sanh tử hay
sao ? Tham thiền đa số khó ra khỏi sanh tử, mà niệm Phật thì chắc chắn
sẽ xuất khỏi sanh tử, không nghi ngờ chi. Tham thiền phải rời bỏ vọng
tưởng. Niệm Phật thì chuyên giữ tại tư tưởng.
Chúng sanh đã lâu nhiễm sâu trong vọng tưởng, nên muốn xa
rời chúng lại rất khó. Nếu chuyển được vọng niệm ô uế thành vọng niệm
thanh tịnh thì đó là cách dùng độc trị độc, tức là pháp hoán đổi. Tham
cứu thiền rất khó ngộ, mà niệm Phật lại dễ thành. Nếu tâm thiết tha vì
sanh tử, dùng tâm tham cứu mà niệm Phật, thì sao lo gì một đời không cắt
được sanh tử ! Đối với pháp môn Tịnh Độ, thế nhân dùng mắt mà cân nhắc
đo lường, nào biết đó là pháp môn chân thật vi diệu. Hãy xem rõ Ngài Phổ
Hiền, dùng pháp giới làm thân, và tu mười đại hạnh nguyện, mà chỉ muốn
quy về Tịnh Độ. Tổ sư Mã Minh truyền tâm ấn cho chư Tổ sư, và dùng hàng
trăm bộ kinh Đại thừa để viết bộ Luận Khởi Tín, mà cuối cùng lại quy kết
về Tây Phương. Chư Tổ sư truyền đăng ở cõi Đông Độ, tuy không nói rõ về
Tịnh Độ, nhưng lúc đã ngộ tâm tức đã xuất sanh tử ; các Ngài nếu không
quy về Tịnh Độ, thì há trở thành đoạn diệt sao !
Ngài Vĩnh Minh hiểu thấu ý nghĩa hết cả đại tạng kinh chỉ
quy về nhất tâm, lại cũng quy hướng về Tịnh Độ. Vào lúc Thiền tông cực
thạnh, mà Ngài Trung Phong cũng cực lực tán dương cõi Tây Phương. Huống
nữa pháp môn này, do đức Bổn sư Thích Ca vô vấn tự thuyết, và mười
phương chư Phật đồng tán dương ! Há chư Phật, chư Bồ-tát, chư đại Tổ sư
lại nói những lời vọng đàm như chúng sanh nghiệp cấu hiện thời sao !
Tịnh Công trung niên xả ái mà xuất gia. Đầu tiên theo đại sư Tử Bá tham
thiền, và thọ yếu chỉ thiền cơ. Ngày nay đối với pháp môn Tịnh Độ,
nguyện tu mà chưa quyết chắc. Vì vậy lão nhân bảo rằng việc này không
cần phải hỏi người khác, chỉ xem tự mình có vì việc sanh tử hay không.
Tâm phải vì sự sanh tử, như cứu lửa cháy đầu, và chí muốn giải quyết cho
xong trong một đời. Ví dụ, một kể bệnh nặng chắc phải chết. Có người tìm
được phương thuốc có thể cứu chữa. Nếu người này dùng thang thuốc này,
thì có thể cải tử hoàn sanh. Song, chỉ do người bệnh có tâm quả quyết,
tin phục vào thang thuốc kia. Không cần phải tìm thang thuốc khác, mà
chỉ dùng thang thuốc này, thì tức khắc xuất hạn mồ hôi, rồi bèn sống
lại. Lúc ấy mới tinh diệu dụng của thang thuốc này. Thế nên, phải tin
chắc pháp môn này, mà chuyên tâm nhất chí. Đến lúc lâm chung, bèn tự
biết cõi đó. Hà tất phải hỏi người khác ! Hãy cố gắng mà hành. Quyết
chẳng để người khác lừa !
BÀI 6 – PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ.
Thiền nhân Hải Dương từ xa đến Lô Sơn, cầu thọ giới pháp,
được pháp danh là Thâm Ngu, rồi dâng hoa cầu pháp : “Đệ tử phát nguyện
cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ. Thế nên, cùng giao kết với cả ngàn pháp lữ,
đồng hội tụ một nơi, chuyên tu tịnh nghiệp. Xin nguyện từ bi, dạy bảo
pháp yếu”. Lão nhân vì đó mà bảo rằng Phật thuyết pháp tu hành xuất sanh
tử, phương tiện tuy có nhiều môn, mà chỉ có pháp môn niệm Phật cầu vãng
sanh là thẳng tắt. Hoa Nghiêm , Pháp Hoa, pháp môn viên diệu, Phổ Hiền
diệu hạnh, rốt ráo chỉ quy Tịnh Độ. Mã Minh, Long Thọ, cùng chư đại tổ
sư ở cõi này như Vĩnh Minh, Trung Phong, đều cực lực chủ trương pháp môn
Tịnh Độ. Pháp môn này do Phật tự thuyết, vốn bao trùm ba căn, độ khắp
bốn chúng, chẳng phải vì kẻ hạ căn mà quyền thiết.
Kinh nói : - Nếu muốn tịnh cõi Phật, thì phải thanh tịnh
tự tâm. Ngày nay tu hành tịnh nghiệp, thì phải lấy việc thanh tịnh thân
làm gốc. Muốn tịnh tự tâm, trước nhất là phải thanh tịnh giới căn. Vì
mười việc ác của thân miệng ý vốn là nhân khổ của ba đường ác, nên nay
phải cần trì giới, khiến cho ba nghiệp được thanh tịnh, tức tâm tự tịnh.
Nếu thân không giết hại, ăn cắp, tà dâm, nói láo thì thân nghiệp thanh
tịnh. Nếu miệng không nói láo, nói lưỡi hai chiều, nói lời ác độc, nói
lời thêu dệt thì khẩu nghiệp thanh tịnh. Nếu ý không tham lam, sân hận,
si mê, thì ý nghiệp thanh tịnh. Mười việc ác này mãi đoạn dứt, ba nghiệp
trong sạch, đó là điều thiết yếu của sự tịnh tâm. Trong lúc thanh tịnh
thân tâm, phải dấy khởi tâm chán khổ nơi cõi Ta Bà, mà phát nguyện vãng
sanh về miền an dưỡng ; lập chánh hạnh niệm Phật ; tâm niệm Phật phải
thiết tha vì sanh tử. Đầu tiên, ngoài đoạn ngoại duyên. Kế đến, bên
trong đơn độc đề khởi nhất niệm. Dùng một câu A Di Đà Phật làm mạng căn.
Niệm niệm không quên, tâm tâm chẳng đoạn. Trong mười hai thời, đi đứng
nằm ngồi, cử động gân cốt, xoay mình cúi ngửa, động tịnh đều quên. Trong
mọi thời, không u mê không ngu muội, lại chẳng làm duyên khác. Dụng tâm
như thế, lâu ngày thuần thục, cho đến trong mộng, cũng không quên mất ;
thức ngủ như nhau, tức là công phu liên tục ; dệt thành một phiến, tức
là lúc công phu đắc lực. Nếu niệm đến nhất tâm bất loạn, thì lúc lâm
chung, cảnh giới Tịnh Độ hiện ra trước mắt ; tự nhiên không bị sanh tử
trói giữ, bèn cảm Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn.
Đây là việc chứng nghiệm quyết định vãng sanh. Nhất tâm
chuyên niệm đó là chánh hạnh, rồi phải dùng tư lương quán tưởng để xem
xét rõ. Xưa kia, Phật vì hoàng hậu Vi Đề Hy mà thuyết ra mười sáu cách
quán vi diệu, nên giải quyết xong một đời. Hiện nay Quán Kinh vẫn còn
tồn tại. Lúc kết duyên với các tịnh lữ mà đồng tham học, thì dẫu ai có
chí nguyện gì, nơi mười sáu cách quán, hãy tuỳ duyên mà chọn một : Hoặc
chỉ quán Phật cùng diệu tướng của Bồ-tát, hoặc tuỳ ý mà quán tưởng cảnh
giới cõi Tịnh Độ, giống như kinh Di Đà thuyết về liên hoa bảo địa. Nếu
quán tưởng rõ ràng, tức trong mười hai thời, hiện tiền như sống tại cõi
Tịnh Độ. Đi đứng nằm ngồi, nhắm mắt mở mắt, như tại trước mặt. Nếu quán
tưởng thành tựu như thế, thì lúc lâm chung, nhất niệm bèn vãng sanh. Thế
nên bảo rằng sanh tức quyết định sanh, mà đi thật chẳng phải đi. Đây là
ý chỉ vi diệu về lý duy tâm Tịnh Độ. Dụng công như thế, cùng tinh nghiêm
hành trì giới hạnh, thì sáu căn cùng tâm địa được thanh tịnh, và mãi
đoạn trừ ác nghiệp phiền não. Quán niệm tương tục, thì diệu hạnh dễ dàng
thành tựu. Hạt nhân chân chánh vãng sanh qua cõi Tịnh Độ không ngoài
cách này. Nếu xưng niệm Phật, cầu vãng sanh Tịnh Độ, mà không trì tịnh
giới, phiền não không thể đoạn trừ, tâm địa vẫn còn cấu uế, thì Phật bảo
người này, mãi chẳng thành tựu.
Vì vậy hành nhân, việc thiết yếu bậc nhất là phải trì giới
làm căn bổn ; phát nguyện làm nhân duyên phụ trợ ; niệm Phật và quán
tưởng làm chánh hạnh. Tu hành như thế, nếu không được vãng sanh, thì
Phật sẽ đoạ vọng ngữ ! ..
BÀI 7 : KHAI THỊ CHO THỊ
GIẢ ĐẲNG NGU.
Tự tâm niệm Phật, niệm Phật niệm tâm ; tâm và Phật không
hai ; niệm niệm nếu không trụ, năng niệm không thể lập, và sở niệm tánh
không ; tánh không vốn tịch tĩnh. Năng và sở đều mất, gọi là tức tâm
thành tự tánh Phật. Một niệm quên mất, bèn đoạ vào nghiệp ma.
BÀI 8 : KHAI THỊ CHO
THIỀN NHÂN HUỆ CẢNH.
Đức Phật thuyết pháp dùng nhất tâm làm tông chỉ. Vô luận
trăm ngàn pháp môn, chẳng ngoài hạnh liễu ngộ nhất tâm. Quan trọng nhất
chỉ là tham thiền và niệm Phật. Nơi đây, chư tổ sáng lập pháp tham thiền
liễu ngộ chân tâm. Pháp môn niệm Phật, do Phật khai thị chung cho chư
Bồ-tát tam hiền thập địa, dùng niệm Phật làm hạnh thiết yếu thành Phật.
Bồ-tát thập địa đã chứng chơn như, chẳng chưa ngộ sao ? Các ngài đều dạy
rằng không rời niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.
Thiện Tài đồng tử tham vấn năm mươi ba vị thiện tri thức.
Vị thứ nhất là Tỳ kheo Đức Vân. Ngài dạy Thiện Tài đồng tử môn niệm Phật
giải thoát. Đến gần cuối, tham kiến Phổ Hiền bèn nhập vào biển diệu giác
của thiện tri thức, rồi hồi hướng qua cõi Tây Phương Tịnh Độ ; Thiện Tài
đồng tử bảo rằng tự thân trông thấy đức Như Lai vô lượng quang, hiện ra
trước mắt, thọ ký cho đạo Bồ Đề. Do được thấy như thế, bèn thành nhất
thừa tối thượng của kinh Hoa Nghiêm, mà xưng tu pháp giới hạnh, trước
sau không rời niệm Phật. Thập địa thánh nhân đã chứng chân như, cũng
chẳng bỏ niệm Phật, mà vọng nhân đời mạt pháp lại huỷ báng cho là hạnh
thấp kém. Sao lại nghi rằng tham thiền cùng niệm Phật là khác nhau ? Đa
văn khiếm khuyết, không biết ý Phật, vọng sanh phân biệt. Ước theo duy
tâm tịnh độ, tâm tịnh thì cõi nước tịnh. Lúc tham thiền chưa liễu ngộ,
ngoài niệm Phật ra, chẳng có pháp nào để thanh tịnh tự tâm ; một khi tâm
được thanh tịnh, thì sẽ liễu ngộ chân tâm. Bồ Tát đã ngộ, mà không xả bỏ
sự niệm Phật. Thế nên, ngoài việc niệm Phật ra, không thể thành chánh
giác. Phải biết chư tổ, không dùng niệm Phật mà liễu ngộ chân tâm. Nếu niệm Phật đến độ nhất tâm bất loạn,
thì phiền não tiêu trừ, tự tâm sáng soi, tức gọi là ngộ. Niệm Phật như
thế, tức là tham thiền. Từ xưa chư tổ đều không xả bỏ cõi Tịnh Độ như
thế. Niệm Phật là tham thiền. Tham thiền cũng sanh cõi Tịnh Độ. Đây là
việc của người xưa và nay, chớ có nghi ngờ. Lời này phá tận tiêu tan
kiến chấp phân biệt Thiền và Tịnh. Chư Phật xuất thế cũng không thuyết
khác những lời này. Nếu bỏ qua lời này mà sanh vọng nghị luận, tức là
lời của ma, chứ chẳng phải Phật Pháp.
Bài 9 : KHAI THỊ CHO NHAN TRUNG TIÊN TRÌ CHÚ CHUẨN ĐỀ.
Cư sĩ tại gia, thọ năm món dục lạc nồng hậu, cội rễ phiền
não sâu dày. Nơi việc hằng ngày
thường mê muội trước mắt, như nước sôi sùng sục. Vừa an được một
niệm trong sạch, bèn phát tâm tu hành, nhưng khó bề hạ thủ công phu.
Người thông minh xem kinh giáo ; bất quá chỉ học theo đường tri kiến,
rồi đàm luận lăng xăng, chẳng có thật dụng. Họ lại xem việc niệm Phật
rất ư tầm thường, nên chẳng quyết tâm tu ; hoặc tuy muốn nhưng lại không
đắc lực, và chỉ khởi vọng niệm thô phù. Tập khí trong tạng thức ẩn tàng
lưu chuyển, hoàn toàn không thể thấy được, nên dẫu có niệm Phật nhưng
không thể được chánh niệm. Niệm Phật nếu đắc lực, sao còn cầu những việc
huyền diệu khác nữa ! Nghe có pháp nhất đẳng thâm cao lạ lùng nên ngưỡng
mộ. Nghe tham thiền đốn ngộ, tự phụ cho là bậc thượng căn, mà không màng
tu hành, vì sợ lạc vào thứ lớp. Trên cơ duyên của các bậc cổ đức, ghi
nhớ làm nơi hợp đầu ngữ ; mở miệng đàm luận lăng xăng ; chỉ vui thích vẻ
vời, rồi cho đó là cơ phong thiền môn. Những kẻ này thật rất đáng thương
!
Nếu chân thật phát tâm vì sợ sanh tử, mà chưa có thể nhập
vào môn trì chú, thì trước tiên phải dùng tâm khẳng khái thiết thực, thì
mới dễ dàng đắc được. Nhan tiên sanh có phước trì chú, lại vấn hỏi cách
tu hành thiết yếu, nên tôi mới khai thị những lời này. Người xem chớ cho
là đạo lý, vì đạo lý này làm lầm ngộ biết bao người !
Bài 10 : KHAI THỊ CHO TỪ
TỊNH CHI.
Phật dạy rằng pháp ở trên và dưới ba cõi, chỉ do một tâm
tạo tác. Trên ba cõi, tức bốn thánh vị xuất thế gian, là Phật, Bồ-tát ,
Thanh Văn, Duyên Giác. Dưới ba cõi, tức sáu đường phàm phu, là trời,
người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, và A Tu La. Ba đường ác cũng nằm
trong mười pháp giới. Tất cả thánh phàm, nhân quả thiện ác, chánh báo y
báo trang nghiêm, đều do một tâm tạo tác. Tâm này không khác với tâm
liễu tri phân biệt thường ngày của chúng ta.
Thế nên, tất cả đều do tâm này, mà không có gì khác tạo
ra. Hiện tiền, trong cuộc sống hằng ngày, niệm niệm tạo nghiệp, nên lưu
chuyển trong mười pháp giới. Nếu một niệm do tham sân si mà tạo ra mười
việc ác (thân ba : giết hại, ăn căp, tà dâm ; tâm ba : tham lam, sân
hận, si mê ; miệng bốn : nói láo, nói lưỡi đôi chiều, nói lời ác độc,
nói lời thêu dệt) thì đó là tạo nhân khổ trong ba đường ác. Nếu trong
một niệm mà chuyển mười việc ác thành mười điều lành, thì gieo nhân diệu
lạc ở cõi trời người. Nếu nơi một niệm, thiện ác đều mất, trong không
thấy có Ta, ngoài không thấy có người, nhất tâm tịch tĩnh, tức gieo nhân
Thanh Văn vượt xuất khổ đau. Nếu quán thấy trước mắt những việc khổ vui,
thuận nghịch đều do nhân duyên sanh diệt, hay lưu chuyển sanh diệt, tức
là thành nhân của Duyên Giác. Nếu một niệm liễu ngộ nhân duyên của nhân pháp vô ngã,
và hiểu rõ tánh vốn không, chẳng có kẻ làm người thọ, mà không ngại hiện
hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, cùng những thiện hạnh trong sáu đường,
để hoá độ chúng sanh, tức là nhân của Bồ-tát . Nếu một niệm đốn ngộ tự
tâm, gốc vốn quang minh quảng đại, bao trùm muôn vật, cứu độ muôn loài,
liễu ngộ không một pháp tình lự, chúng sanh và Phật đồng bình đẳng, tức
là nhân thành Phật.
Tâm này quảng đại bao la, bổn lai thanh tịnh, tròn đầy
trong sáng. Nếu thường ngày niệm niệm ngộ tâm này thì tuy cư nơi trần
lao, mà làm người xuất thế. Thế nên, Duy Ma Cật xưng đây là pháp môn
không hai. Cư sĩ nếu có thể hội được mà hành, thì tất cả oán ân, thị
phi, nhân ngã, phiền não, căn tình, đều ứng theo niệm mà hoá thành tạng
quang minh. Nơi mọi cảnh giới trong thường ngày, hãy dùng niệm giác sát,
xem xét. Nếu vừa thấy mình không thể an nhẫn vì bị phiền não làm chướng
ngại, phải đề khởi câu kệ “xưa nay vốn không một vật” của Lục Tổ, như
dùng bảo kiếm Kim Cang chặt đứt mọi phiền não, thì băng giá liền tan, và
thân tâm hoá thành hồ nước trong xanh. Dùng lực hành như thế, và năng
tinh tấn bất thối, tức đốn ngộ chứng đắc nơi tràng đại giải thoát. Sao
còn chạy bên ngoài mà cầu Phật Pháp !
Bài 11 : KHAI THỊ CHO NGÔ KHẢI CAO.
Ngô Khải Cao quy y Tam Bảo và trì trai giới đã bao năm,
nay lại đến Lô Sơn, cầu thọ giơi pháp, làm đệ tử trong pháp môn, để kết
duyên xuất thế trong vị lai. Nhân vì đó mà có pháp danh là Phước Thường,
hiệu cư sĩ Tịnh Tâm ; thọ giới ưu bà tắc, rồi lại dâng hoa, đến thỉnh
vấn. Lão nhân vì vậy khai thị rằng tất cả nghiệp hạnh ở thế gian, đều là
vô thường, và cứu cánh đều là nhân khổ. Chúng sanh đồng hội tụ, và cảm
sanh đến cõi Ta Bà đau khổ, nên gọi cõi này là kham nhẫn. Kẻ ngu mê, lấy
khổ làm vui, chuyên thêm tham ái, lại tăng gốc khổ, mà không biết sự
thiết yếu của việc xuất thế ra biển khổ. Thực là điên đảo ! Thế nhân nếu
có một niệm, biết là vô thường, khổ, không, mà phát tâm cầu xuất ly, tức
là người đại trí huệ. Lại nữa, nếu có một niệm phản tỉnh, phát khởi tâm
chán khổ, tức là bước trên con đường xuất ra khỏi khổ đau. Ngoài ra, nếu
có một niệm nguyện cầu sanh Tịnh Độ, tức là có căn bản thành Phật.
Phật thuyết giới pháp, thiết yếu là dạy người ngưng ác
hành thiện. Ác ngưng tức tâm tịnh. Tu thiện tức khổ diệt hết. Khổ diệt
hết tức tăng phước. Tâm tịnh tức làm nhân cho cõi tịnh. Khổ diệt hết tức
làm gốc cho cõi Cực Lạc . Tăng phước tức làm quả cho thường lạc. Thế
nên, biết rõ rằng một niệm phát khởi tâm thọ giới, tức là các việc khổ
có thể đoạn trừ ; các việc phước lành có thể hội tụ ; sanh tử có thể ra
khỏi ; cõi Tịnh Độ có thể vãng sanh. Tất cả đều do từ một niệm phát khởi
lúc đầu tiên làm nhân địa.
Cư sĩ hôm nay đã biết rõ việc này mà phát tâm, nên mọi
việc làm đều là hạnh xuất thế. Tuy chưa xuất gia, mà đã là Phật tử. Từ
nay nếu dùng tâm trì giới và niệm Phật, để tịnh trừ tập nhiễm xưa (tức
tham sân si ái, bao loại phiền não) thì tâm địa sẽ được thanh tịnh. Dùng
tâm tịnh niệm Phật, và niệm niệm không quên, cùng tâm tâm chẳng đoạn,
thì ngay nơi công việc thường ngày, mọi việc đều là nhân Tịnh Độ. Bố thí
các đồ vật, và tứ sự cúng dường Tam Bảo, để làm tư lương trang nghiêm
cõi Tịnh Độ. Vì vậy bảo đảm rằng tâm tịnh tức cõi Phật tịnh. Duy tâm
tịnh độ, tự tánh Di Đà vốn không rời một niệm.
Đây là pháp hạnh chân thật, nên mới có pháp danh chân
chánh là Phước Thường. Do tâm tịnh bên trong, nên mới có hiệu là Tịnh
Tâm. Nếu như cư sĩ tin chắc không nghi, sao còn cầu Phật Pháp nào chi
nữa ! Nếu không hằng làm những việc tầm thường ở thế gian, thì trước mắt
đạo tâm tự kiên cố, tín tâm ngày càng tăng trưởng. Trân trọng ! Trân
trọng !
Bài 12 : BÀI TỰA VỀ TỊNH
ĐỘ CHỈ QUY.
Chỉ quy Tịnh Độ : Chỉ tức ý chỉ tu hành ; quy tức quy về
cõi Tịnh Độ. Đức Thế Tôn nhiếp hoá quần sanh, thuyết ra bao loại pháp
môn, phương tiện chẳng có một, mà pháp yếu thuỷ chung vốn có hai tông
tánh và tướng. Vì căn cơ có đại tiểu, nên giáo có thi thiết đốn tiệm.
Người sau phân hai môn thiền giáo. Giáo tức là nhiếp cả ba căn. Thiền
tức là đốn ngộ nhất tâm. Như cả Đại tạng kinh Đại Thừa, cùng một ngàn
bảy trăm công án, thì hướng về cái nào ! Pháp môn Tịnh Độ, bao trùm ba
căn, đốn tiệm đều được cứu độ ; không có căn cơ nào mà chẳng nhiếp thọ.
Vì vậy bảo rằng siêu vượt ra ba cõi, đây là pháp môn tối thắng nhất.
Từ trên chư tổ, dưới đến các bậc đại sĩ liễu ngộ chân
tâm, chưa từng có ai không quy hướng vào đó. Bồ-tát Long Thọ, Mã Minh,
cực lực xiển dương, tán thán. Có người bảo rằng pháp môn này chỉ vì
những người căn cơ trung hạ, tức là họ không biết yếu chỉ Tịnh Độ. Tất
cả chúng sanh trong mười phương thế giới, cùng chánh báo y báo, tuy có
khác biệt về sự hơn kém tịnh uế, mà đều do từ một tâm cảm hiện ra. Vì
vậy, bảo rằng tâm tịnh tức cõi nước tịnh, nên gọi duy tâm tịnh độ ; cõi
tịnh độ này không ngoài tâm. Thanh tịnh tâm do nhất tâm bất loạn. Các vị
chưa liễu ngộ được chân tâm, sao không muốn an cư nơi Tịnh Độ !
Thiền gia thượng thượng căn, chưa từng có ai không quy về
tịnh độ. Các bậc trung hạ căn, tu trì tịnh giới, chuyên tâm chú niệm,
quán niệm tương tục, lâm chung sẽ được vãng sanh. Tuy có tướng đến đi,
mà tướng hảo Di Đà, đài hoa rừng báu, thật do tự tâm cảm hiện ra. Ví như
những việc trong mộng, chẳng từ ngoài vào. Những kẻ ngu phu ngu phụ,
thường tu thập thiện, tinh trì năm giới, chuyên tâm niệm Phật, lúc sắp
lâm chung, tất được vãng sanh. Đây là nhờ Phật lực gia trì, và hành nhân
niệm tưởng được tăng ích thù thắng. Những niệm tưởng thù thắng kia do
đại nguyện mà có. Nguyện cùng niệm giao tiếp, và tự tâm cùng Phật thầm
mặc tương ưng. Tuy cảnh tịnh độ chưa hiện, mà công phu vãng sanh đã
thành, thật do lực của tự tâm thầm cảm nên, mà chẳng từ ngoài vào.
Những kẻ thường gieo mười điều ác, thì lúc lâm chung sẽ
bị nghiệp lôi kéo, và bao việc khổ trong địa ngục hiện ra trước mắt. Vì
khổ quá bức bách, nên mới có tâm thiết tha muốn thoát khổ. Tâm này cộng
với ý cùng cực khổ não mà thành niệm lực, nên khởi tâm thiết tha sám
hối. Tâm sám hối đã thiết tha, thì ngay nơi ấy toàn thể ý niệm chuyển
biến, nên trong một niệm, bèn tương ưng với chư Phật. Nhờ Phật lực gia
trì, cảm ứng, khiến núi đao hoá thành rừng châu báu, và vạc lửa biến
thành ao sen, nên những kẻ ác này cũng được vãng sanh. Cảnh Tịnh Độ do
toàn thể công lực của tự tâm chuyển biến, chứ chẳng do từ ngoài mà được.
Vì vậy quán thấy, vạn pháp trong ba cõi, chẳng có pháp nào mà không xuất
sanh từ tâm. Cảnh tịnh uế, chẳng có cảnh nào là không do tâm hiện. Thế
nên, pháp môn Tịnh Độ, không luận là người đã ngộ hay chưa ngộ, bậc
thượng trí hay kẻ hạ ngu, nếu tu thì tất định sẽ được vãng sanh ; tất cả
đều do tự tâm, tức là ý chỉ duy tâm tịnh độ, trắng đen rõ ràng. Thể tánh
của chư Phật như hư không. Tự tâm lặng lẽ thanh tịnh, thì ứng hợp với
chư Phật. Tuy giả lập khởi một
niệm nguyện lực trang nghiêm, mà cảnh giới tịnh độ liền hiện, chứ
không cần vay mượn công huân. Đó là bậc thượng thượng, chẳng phải là
việc mà kẻ trí hẹp hay lòng tin cạn cợt có thể đạt đến. Các vị trung căn
hạ căn, hãy nên liên tục quán xét tâm niệm, chớ để duyên ái hay tập
nghiệp làm khuynh đảo. Căn tuy khiếm khuyết, mà chí thật thượng thượng.
Việc tu khó, chỉ vì khó đoạn ái căn.
Những kẻ ác được vãng sanh lại còn khó hơn. Tuy bảo rằng
đới nghiệp vãng sanh, nhưng thật ra do tập khí của thiện căn trong bao đời đã huân tập mà phát khởi. Tuy
căn tánh xấu xa thấp kém, nhưng nếu phát khởi một tâm niệm dũng mãnh,
thì siêu vượt lên bậc thượng thượng. Vừa bỏ dao đồ tể, bèn làm Phật sự,
còn gì thù thắng bằng ! Song, chúng sanh mỗi mỗi không giống nhau. Thế
nhân nếu mong đợi cầu vãng sanh thì là sai lầm. Căn tánh không lớn nhỏ ;
cứu cánh chỉ do một niệm hướng thượng mà thành tựu. Vì vậy pháp môn này,
há chẳng phải đặc biệt quyền thiết cho trung hạ căn thôi sao !
Tông chỉ của Tịnh Độ Chỉ Quy là dựa vào kinh mười sáu
phép quán, và phát minh những chỗ khó hỏi, để hiển lộ yếu chỉ của pháp
môn tịnh độ. Kế đến dẫn các thuyết từ Liên Tông cùng Long Thư, để biểu
thị tín nguyện chánh hạnh. Thứ đến, liệt kê tiểu sử từ ngài Huệ Viễn,
xuống tới hai mươi sáu vị khác, để dùng làm thật chứng. Sau đó, diễn
giảng khuyến khích, cùng phát huy nghĩa lý niệm Phật, hay dẫn dụ nhân
quả, hầu mong hành giả tiến bước tu hành, và chân thành chú tâm nơi pháp
môn này. Tôi gọi là tập chỉ nam của Tịnh Độ. Lý và sự đêu phải tu ; lý
nhân quả đều hiển lộ. Người xem lấy đây làm nơi nương tựa. Đó là cảnh
giới diệu lạc, sáng soi tâm mắt. Cần gì phải cầu ngoài muôn quốc độ, mới
thọ được sự an lạc vi diệu thù thắng ! Những điều này, hiển hiện ngay
trong công việc hằng ngày, chứ không đợi quả báo đến hay lúc thần thức
đã siêu sanh, mà sau mới thật chứng. Lợi ích của bài này là làm chiếc
thuyền từ bi trên biển khổ, và làm ánh đuốc huệ trong đêm dài tăm tối.
Chớ coi là việc nhỏ !
Bài 13 : QUY CHẾ NIỆM PHẬT TRONG MƯỜI HAI THỜI TẠI CHÙA HỒ TÂM.
Phật dạy rằng sự sanh tử của chúng sanh, cứ tương tục
luân chuyển trong bao số kiếp mà không ngừng nghỉ, chỉ vì niệm niệm vọng
tưởng phan duyên, chưa hề dứt đoạn. Vì vọng tưởng không đoạn, nên sanh
tử không cùng tận, rồi bị lôi kéo luân chuyển không dừng. Phật thuyết
bao phương pháp chế ngự tâm, đều là muốn bánh xe luân hồi dừng lại. Pháp
môn tuy nhiều, mà chúng sanh trần cấu nặng nề, tâm thức mê muội khó
nhiếp nhập, nên chỉ có pháp môn niệm Phật là thẳng tắt và cần yếu nhất.
Thế nên bảo rằng nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền và tương lai, nhất định
thấy Phật. Tất cả vọng kiến của chúng sanh đều nương nơi sanh tử. Do đó,
đơn độc chỉ có chánh kiến thấy được Phật là pháp xuất khỏi sanh tử. Do
có lòng nhớ đến, nên mới thấy được chư Phật.
Lúc vọng niệm ngày đêm không gián đoạn, phải dùng niệm
Phật để đoạn trừ chúng. Đây là cách thức mà liên xã của ngài Huệ Viễn
thường hành trong sáu thời khắc tại Lô Sơn. Đương thời, trong liên xã có
một trăm hai mươi người, mà chỉ có mười tám vị được xưng là cao hiền,
tức là những vị chân thật niệm Phật ; những vị còn lại đa số chưa đắc
được nhất tâm niệm Phật. Hiện nay, xem thấy người niệm Phật thường thuộc
hàng mạt phẩm. Sao không chân thật nhận biết !
Đời cận đại, người người thường lấy trâu núi làm hạnh
niệm Phật, và lấy việc luyện ma làm danh ; nghĩa là kềm chế quá cứng
chắc. Tuy ngày đêm niệm Phật không gián đoạn, nhưng chỉ trong ba mùa
đông là thối thất. Người người tu hành chẳng giống nhau. Hiếm có ai tâm
tu hành dài lâu. Tuy ngày đêm có bốn thời, mà tối đến lại hôn mê. Tu
hành thiếu sự liên tục ! Thật phí cho những lời cảnh tỉnh.
Nay pháp sư Phật Thạch Huyền Tân, phát tâm trong mười hai
thời thường thưa thỉnh. Pháp này phải liên tục tu trì. Trong động tịnh
như lúc ăn uống rất khó niệm đến nhất tâm. Nếu điều phục chừng mực, thì
mới niệm thành thục được. Đối với quy chế xưa nay, Pháp sư muốn thỉnh
vấn. Lão nhân vì thế mà thiết lập quy chế, giá sự không phức tạp, để
nhân tâm tập trung, mà hành diệu hạnh vi mật. Những quy chế giáo điều
này chỉ là phụ trợ. Phàm kiến lập pháp hội niệm Phật, phải tuỳ theo
người và tuỳ theo nguyện, rộng hẹp không đồng. Nếu có nhiều người thì
lập ra nhiều pháp đường. Nếu có ít người thì chỉ cần lập một pháp đường.
Song, không luận là người nhiều ít, phải phân thành sáu nhóm ; ngày đêm
mỗi nhóm hành hai thời, thay phiên dâng hương ; lúc ra ngoài thì lễ bái
tụng kinh, hành đạo sám hối ; những thời gian còn lại đều ngồi tĩnh toạ,
rồi nương theo âm thanh mà mặc niệm, hoặc tập môn quán tưởng ; người nào
thích gì thì tuỳ theo đó mà hành. Nơi đây phải tĩnh lặng nhiều mà động
ít ; không khẩn trương không loạn động, và tiếng niệm Phật không gián
đoạn, thì vọng tưởng không thể sanh khởi, như vừa kêu gọi ; không mê
không tán loạn ; lúc nhập vào chánh niệm thì động tịnh như nhau ; mình
người không hai không khác ; thức ngủ thường tỉnh giác. Được như thế,
thì không cần rời khỏi toà ngồi, bèn thấy được Phật A Di Đà. Đây chính
là diệu hạnh như ý bậc nhất. Lúc ăn uống cũng phải như pháp mà điều
phục. Lúc làm việc, trong ngoài đều nhất như, tức là nhân và ngã đều
mất, thị phi đều lặng. Đạo tràng vắng lặng tịch tĩnh, cũng chưa vi diệu
bằng như thế.
Lão nhân suy nghĩ sâu xa về pháp này, tự thẹn gót chân
chưa vững, nên vẫn chưa toại ý, nhưng đặc biệt nói ra những lời này. Đa
phần tâm niệm chỉ rong ruỗi chạy đó đây. Ngày nào thấy nghe được chúng,
thì nơi nơi đều an lạc, rồi đem tông Tịnh Độ phổ biến khắp nơi. Đây là
niềm hy vọng của lão nhân.
Bài 14 : THƯ ĐÁP ĐỨC VƯƠNG.
Thừa Đại Vương luận sử, gởi thư đến hỏi sơn tăng pháp môn
tu hành thẳng tắt. Xin đáp : Ngài đã có khả năng trì giới không giết
hại, và đã trì trai trong ba năm, mà niệm Phật sao vẫn còn tánh nóng
nảy, nên nay hỏi rằng còn có pháp nào để tu trì, hầu mong tới lúc lâm
chung được an lạc, và đời sau không mê mờ. Đây là Đại Vương kiếp xưa đã
tích tập căn lành. Bát Nhã thâm sâu, nên đời nay mới tiếp tục tu hành,
lại được địa vị tôn quý ở xứ này ; chẳng mê muội tâm niệm xưa, lại chân
thật tha thiết tham cầu yếu chỉ Phật Pháp. Sơn tăng tuy ngu dốt hạ liệt,
nhưng lại dám dùng những lời chân thật để đối đáp.
Đức Phật thuyết pháp độ sanh, như cho thuốc tuỳ theo bệnh
trạng ; phương tiện lập nhiều môn, không phải có một. Giáo pháp lưu
truyền qua xứ này, xưa và nay đều y theo mà phụng hành. Tu hành có hai
môn là Thiền và Giáo, mà người người thường đồng quy hướng. Thiền tức là
pháp truyền tâm ấn của chư Tổ, mà quý ngay nơi liễu ngộ tự tâm. Cách hạ
thủ công phu là chỉ đơn độc đề khởi tham cứu thoại đầu, cho đến lúc thấy
rõ tự tâm mới thôi. Pháp môn này chỉ đơn độc dành cho bậc thượng thượng
căn ; vừa siêu thoát liền nhập thẳng vào. Song, vị này cũng phải luôn
luôn theo bậc thiện tri thức, và thường tự thủ hộ điều phục đề tỉnh, thì
mới đi đúng con đường chân chánh. Xưa kia, nhiều vị vua quan cũng có khả
năng này. Song, ngay cả người xuất gia cũng không thấy có mấy ai hành dễ
dàng. Nay Đại Vương tôn thủ nơi thâm mật, không đi bái kiến thiện tri
thức, nên sơn tăng không dám dùng những lời này mà khuyến tấn, chỉ mong
Ngài y giáo phụng hành.
Ngày xưa, đại sư Trí Giả ở núi Thiên Thai có viết ra bộ
“Đại Tiểu Chỉ Quán” và “Thành Phật Yếu Môn”. Bộ “Đại Chỉ Quán” văn nghĩa
thâm sâu, rất khó thể hội. Bộ “Tiểu Chỉ Quán” tuy giản dị, và thuyết
giảng rõ ràng về cách hạ thủ an tâm, lại cũng khó nhập vào ; nghĩa là
tuy có thể hiểu biết và có thể hành, nhưng cũng khó mà thành tựu. Trong
cuộc sống hằng ngày, ngay nơi các cảnh giới thuận nghịch, đều không thể
dùng được, huống là vào lúc lâm chung. Pháp này cũng chẳng dễ dàng cho
Đại Vương hành, nên sơn tăng không dám khuyến tấn. Nay đơn độc chỉ có
một môn là Phật thuyết cõi Tây Phương Tịnh Độ, chuyên dùng niệm Phật làm
sự thiết yếu, dùng quán tưởng cảnh tịnh làm chánh hạnh, dùng sự tụng đọc
kinh điển Đại Thừa làm môi giới dẫn phát, dùng phát nguyện làm chỗ hướng
đến, dùng bố thí để trang nghiêm ruộng phước. Đây là pháp môn mà người
xưa và nay đồng tu trì. Bất luận sang hèn, thông minh ngu độn, đều có
thể dụng công tu được. Thế nên, muôn người tu hành, muôn người đồng có
cảm ứng.
Xin Đại Vương hãy lưu ý, mà thường ngày cẩn thận dùng
pháp môn này, và tu hành đúng theo những quy tắc điều lệ. Đức Phật vì
muốn cứu độ thế giới Ta Bà, và các chúng sanh khổ não, mà thuyết môn
Tịnh Độ, tức là cách vãng sanh qua cõi Tây Phương Cực Lạc . Song, phải
chuyên dùng tâm niệm Phật, phát nguyện vãng sanh. Cõi nước kia có một
quyển kinh A Di Đà, dùng làm chứng tín. Trong kinh miêu tả cõi nước kia,
cùng cảnh giới nơi đó rất tường tận. Phương thức tu hành, cũng có tình
tiết thứ lớp, như pháp làm công quả tăng ích lợi. Phải dùng niệm Phật
làm chủ yếu. Mỗi sáng sớm thức dậy lễ Phật, rồi tụng một quyển kinh A Di
Đà, hoặc kinh Kim Cang ; lần chuỗi niệm danh hiệu Phật A Di Đà, hoặc ba
bốn ngàn lần, hoặc một trăm ngàn lần, xong bèn đối trước tượng Phật mà
hồi hướng công đức, phát nguyện vãng sanh qua cõi nước kia ; lời này tại
trong kinh Công Quả thuyết rõ ràng. Đấy là công quả vào buổi sáng, còn
lúc buổi chiều cũng nên hành như thế. Ngày ngày cứ định đặt công phu tu
hành như vầy, mà không thiếu sót bê trễ. Pháp này đã từng dạy chư cung
nhân quyến thuộc trong hoàng cung. Nếu theo như pháp mà thánh mẫu của
thánh tông Nhân Hiếu thường hành. Pháp này cho đến ngày nay trong hoàng
cung cũng không bỏ phế, mà lại thường hành. Nếu vì đại sự lâm chung, thì
phải dụng công phu này, và phải thường chân thành tu hành thiết tha.
Mỗi ngày, trừ hai thời công quả, trong mười hai thời đều
đơn độc khởi một âm thanh Phật A Di Đà nơi ngực, mà niệm niệm không
quên, và tâm tâm chẳng u muội. Tất cả việc đời đều không nghĩ đến, mà
chỉ dùng một câu A Di Đà Phật này, làm mạng căn của mình, quyết trì giữ
mãi, không thể xả bỏ. Cho đến lúc ăn uống ngủ nghỉ, đi đứng nằm ngồi,
một âm thanh A Di Đà Phật thời thời luôn hiển hiện. Nếu gặp cảnh giới
phiền não, thuận nghịch vui buồn, và lúc tâm bất an, thì phải cố khởi âm
thanh niệm Phật liên tục, thì phiền não liền bị tiêu diệt. Tâm phiền não
vốn là gốc khổ của sanh tử. Nay dùng niệm Phật để tiêu diệt phiền não,
tức là nơi mà Phật cứu độ khổ não sanh tử, chứ chẳng còn pháp nào khác.
Niệm Phật cho đến lúc làm chủ được phiền não, thì ngay trong mộng cũng
tự làm chủ được. Nếu trong mộng tự làm chủ được, thì ngay trong lúc bệnh
khổ cũng tự chủ được. Nếu trong lúc bệnh hoạn khổ đau mà tự chủ được,
thì lúc lâm chung tâm sáng suốt rõ ràng, bèn biết nơi sắp đến. Việc này
hành không khó, chỉ thiết yếu là tâm phải tha thiết vì sự sanh tử. Đơn
độc nương tựa một câu niệm Phật, chớ hướng ra ngoài nghĩ ngợi chuyện
khác. Lâu ngày thuần thục, tự nhiên đắc được đại tự tại an lạc, và đắc
được đại hoan hỷ thọ dụng, mà dục lạc thế gian không thể nào sánh bằng.
Xin Đại Vương hãy lưu ý đến pháp này, cùng chân thật tu hành. Bỏ qua
pháp môn này, thì không còn pháp môn thẳng tắt nào khác.
Lại nữa, quyết không thể nghe theo bọn tà kiến tà thuyết
để bị mê hoặc. Ngoài ra, nếu Đại Vương muốn biết nơi đi của mình vào lúc
lâm chung, còn có một diệu pháp ; xin hãy nhớ cho. Pháp này có thể dùng
trong lúc niệm Phật ; nghĩa là thời thời thường tĩnh mặc quán tưởng
trước mặt có một đoá hoa sen lớn, hình dạng như bánh xe lớn, mà không
màng xanh đỏ trắng vàng. Quán tưởng hình dạng hoa sen phân minh rõ ràng,
rồi lại tưởng nghĩ thân mình đang ngồi an nhiên bất động trong hoa sen.
Quán tưởng Phật phóng ánh sáng chiếu đến thân mình. Lúc quán tưởng,
không câu nệ đi đứng nằm ngồi, lại cũng không màng năm tháng ngày giờ,
chỉ cần thiết là cảnh quán phải rõ ràng tường tận ; mở mắt nhắm mắt phải
hằng tỉnh giác không mê ; cho đến trong mộng cũng thấy Phật A Di Đà,
cùng Quán Âm, Thế Chí đến, đồng ngồi trong hoa sen, như thấy rõ sự việc
vào ban ngày. Nếu quán tưởng thành tựu, thì đó là lúc cắt đứt được sanh
tử. Đến lúc lâm chung, hoa sen hiện ra trước mắt, và tự thấy thân mình
ngồi trên hoa đó ; ngay lập tức, Phật A Di Đà, Quán Âm, Thế Chí đồng đến
tiếp dẫn. Trong khoảng một niệm, liền được vãng sanh qua thế giới Tây
Phương Cực Lạc , rồi cư nơi địa vị bất thối, mãi chẳng trở lại thọ khổ
sanh tử. Một đời chân thật tu hành thì quyết sẽ có thật hiệu nghiệm.
Pháp môn thẳng tắt này, không phải chỉ nói suông, mà trong kinh điển,
nơi nơi Phật đều khai thị tường tận. Thế nên, bảo rằng tuy có nhiều cách
thức tu hành, mà nếu bỏ niệm Phật A Di Đà, thì không còn diệu pháp nào
khác.
Nghe tâm Đại Vương, không cầu trường sanh, chỉ nguyện
phút cuối được sáng suốt. Trừ pháp này ra, không còn pháp nào nữa. Nếu
sợ bịnh hoạn mà học cách điều hơi vận khí, thì chẳng phải là pháp hay.
Nếu không thể vận được khí, thì ngược lại sanh ra trọng bịnh, khiến
không thể cứu chữa. Chớ nên mê hoặc vì pháp thức này. Nếu là pháp niệm
Phật thì phải nhất quyết bước vào, còn những pháp khác chẳng màng lưu
tâm tới. Xin Đại Vương hãy chân thật lắng nghe những lời đó, chớ có hoài
nghi !
Lại nữa, vào ngày hai mươi bảy tháng giêng, tăng Uẩn Chân
phụng lệnh chỉ của Đại Vương, đem thơ đến vấn hỏi. Sơn tăng đọc qua
nhiều lần, nhận thấy Đại Vương muốn nghiên cứu thể hội đại sự sanh tử,
và muốn hiểu rõ căn tông tánh mạng, cùng liễu đạt chỉ thú thiền giáo của
Phật Tổ. Sơn tăng ngu muội, không dám vọng đàm, chỉ kính cẩn dùng giáo
điển để phân trần đối đáp rõ ràng những điều hỏi đó. Xin hãy xét rõ. Hỏi
: Đạo của ba thừa, nguồn gốc của tánh mạng, thuyết của thiền giáo, đạo
của Đạt Ma, sao thường bảo : “không có ngôn từ”, thì tâm địa nơi đâu mà
dụng công, nhân sanh đến đâu, gì là hạ lạc ? Lại bảo : “Màng chi đến
việc có Phật hay không có Phật”. Lại bảo : “Trong một tĩnh niệm, không
nhân không ngã, ví như hư không”, ý chỉ như thế nào ? Xin hãy dùng ngôn
từ thượng trung hạ căn, niệm độ sanh của Phật Tổ, mà giải thích tường
tận. Đáp : Tông chỉ Phật giáo, chỉ lấy nhất tâm làm tông. Nguyên vì tâm
này, bổn gốc vốn tròn đầy, sáng soi bao là, thanh tịnh chẳng dính một
hạt bụi. Trong đó vốn không có mê ngộ hay sanh tử, và chẳng lập thánh
phàm ; chúng sanh cùng Phật đồng một thể, không hai không khác. Đây
chính là việc mà ngài Đạt Ma từ Tây Vực sang, chỉ thẳng chơn tâm sẵn có,
dùng làm Thiền tông, nên đối đáp với vua Lương Võ Đế :
- Lãng nhiên vô thánh. Nếu đốn ngộ tâm này, thì sẽ cắt
đứt đường sanh tử. Dẫu cho người nào, chỉ trong một niệm mà đốn ngộ, thì
được gọi là như Phật, không cần phải tu chứng theo giai đoạn tiệm thứ
của ba thừa giáo. Đây là mục đích con đường hướng thượng của Thiền tông.
Từ xưa chư tổ đã truyền, tức là chỉ tâm này, mà dùng làm tông chỉ ; đó
gọi là thiền. Tông này không lập văn tự, chỉ quý tại minh tâm kiến tánh.
Bàn về cách dụng công tiến tu, buổi ban đầu tổ Đạt Ma hỏi nhị tổ Huệ Khả
:
- Ông thường làm gì ?
- Khất cầu Thầy dạy con phương pháp an tâm.
- Đem tâm ra đây để Ta an cho.
- Con tìm tâm mãi chẳng được.
Tổ Đạt Ma bèn ấn chứng :
- Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Không thể dùng lời nói mà đạt được tâm này. Đó là ý chỉ
của Tây Lai. Nhị Tổ lại hỏi :
- Còn phương tiện nào chăng ?
Ngoài ngưng các duyên, trong không cấp bách ; tâm như
tường vách, mới có thể nhập đạo. Đây chính là lời dạy tham thiền đầu
tiên. Đạo của tổ Đạt Ma, chỉ như thế thôi. Trừ tâm này ra, lại không còn
pháp nào khác. Người sau tuy vào thiền đạo đã lâu, nhưng vẫn chưa đốn
ngộ, nên mới có thuyết tham thiền quán thoại đầu. Thoại đầu này không
hạn cuộc là ai, chỉ dùng công án của người xưa, giữ tại nơi ngực mà hạ
nghi tình, và chẳng dùng một chữ ; đó là công án ; thẳng đến chỗ phát
xuất nghi tình, tức là tham cứu. Lâu ngày tham cứu tới lui, rồi tâm địa
bỗng nhiên khai mở, như tỉnh giác từ cơn đại mộng ; gọi đó là ngộ.
Dùng tham cứu tức là dụng công. Lúc tham cứu chân chánh,
trong tâm một niệm chẳng sanh một vật, nên gọi là vô ngã vô nhân, đồng
như hư không. Nơi ngộ tức là hạ lạc, nghĩa là đã liễu ngộ được tự tâm,
thì căn tình sanh tử trong bao kiếp, nhất tề bèn đốn đoạn. Đã ngộ được
tâm này rồi, thì còn thuyết gì là Phật và chúng sanh ! Thế nên, từ đó
bước ra ba cõi, rồi tuỳ ý qua lại mà độ chúng sanh, mãi mãi dứt các khổ
não, không còn bị sanh tử trói giữ ; đó gọi là Bồ-tát . Đây là tham
thiền đến nơi hạ lạc (giải thoát) ; tánh mạng từ đó đoạn dứt. Nếu chưa
ngộ tâm này, thì suốt đời luôn bị nghiệp thiện ác dẫn dắt, luân chuyển
trong sáu đường khổ não. Chưa đến nơi hạ lạc (giải thoát), thì gọi là
biển khổ sanh tử, không có bến bờ, chính là như thế.
Hỏi : Đạo của ba thừa là gì ?
Do Phật độ sanh, tuỳ theo căn cơ mà thuyết lập ra các
pháp môn phương tiện quyền xảo. Thuyết đại tạng kinh, cũng do ý đó. Pháp
của nhất tâm (chúng sanh cùng Phật đồng chung bản thể) vốn không có thân
tâm thế giới. Chỉ vì một niệm vọng động lúc ban sơ, khiến mê mất tâm
này, nên mới kết thành thân tâm huyễn vọng, tức nay là thân máu mủ thịt
thà của mọi người ; đó gọi là sắc thân. Tri giác suy nghĩ hôm nay, chính
là vọng tưởng. Tâm kinh thuyết năm uẩn vốn là nó. Năm uẩn tức là sắc,
thọ, tưởng, hành, thức. Nhục thân tức là sắc uẩn. Tâm tức là bốn uẩn
thọ, tưởng, hành, thức. Thân tâm biết khổ vui là thọ. Phân biệt tham
cầu, niệm niệm không đoạn ngừng là tưởng. Tưởng này tương tục không đoạn
là hành. Chúng là tâm thức tri giác suy nghĩ. Thức tức là mạng căn. Lúc
chưa mê, chỉ gọi là tánh. Khi đã mê chân tâm, thì trở thành thân tâm
huyễn vọng. Thức đó giữ mất sắc thân, nên gọi là mạng, cũng là cội nguồn
của tánh mạng. Phật vừa xuất thế, chỉ dạy người liễu ngộ tâm này. Song,
vì mê muội đã lâu, nên không thể liễu ngộ. Vì vậy, Phật quyền thiết
phương tiện ; đầu tiên dạy người nên biết thân này là gốc khổ. Khổ đó do
sự huân tập của tham sân si ái, phiền não mà sanh. Vì vậy, trước tiên
con người phải đoạn phiền não, thì mới có thể vượt qua khỏi khổ này. Các
người trung căn hạ căn, y theo đó mà tu hành, đoạn dứt phiền não, thì ra
khỏi khổ não sanh tử. Đó gọi là Thanh Văn, Duyên Giác, tức là hạ trung
nhị thừa. Họ chỉ có khả năng tự độ, không thể độ người. Họ chẳng biết ý
chỉ chúng sanh đồng thể tánh, mà chỉ đắc được nửa phần, nên gọi là tiểu
thừa.
Người có tâm quảng đại vì chúng sanh, tức là có khả năng
tự độ, lại độ được người ; tự lợi lợi tha, rộng tu lục độ : Bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Hành lục độ này, khiến
tâm kia rộng lớn ; đó gọi là Bồ-tát, hay đại thừa, cũng gọi là thượng
thừa. Hai thừa pháp này, đại tạng kinh đều thuyết rành rẽ. Người nào
liễu ngộ tâm này, cuối cùng quy về tâm đó, được gọi là tối thượng thừa
nhất thừa, hay là Phật thừa. Đây là pháp cao siêu nhất trong thiền giáo.
Pháp tu hành của ba thừa rất nhiều, kể không thể hết.
Song, nếu y một pháp mà tu hành, thì đều có thể xuất ra khỏi sanh tử khổ
não, chứ chẳng hạn cuộc vào cái nào. Lập ra các loại phương tiện, chỉ vì
muốn chúng sanh liễu ngộ tâm này. Chưa đến nơi hạ lạc, tức là chưa liễu
ngộ tâm này, thì vẫn còn ở trong biển khổ, và mãi mãi lưu chuyển tuỳ
theo nghiệp thiện ác. Nếu làm thiện, thì sanh vào loài trời người. Nếu
từ tham sân si ái mà gieo nghiệp ác thì đoạ vào ba đường ác, thọ khổ vô
lượng. Trong ba thừa pháp này, nếu tu học theo trung hạ thừa, thì đa số
khi bị ái dục quyến rũ, liền tham đắm nơi thọ dụng, nên không thể cắt
đứt tâm vọng tưởng. Người tu học theo thượng thừa, phần nhiều tuy có thể
hành bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, nhưng chưa có
thể vẹn toàn, cũng chưa có thể xuất ra khỏi sanh tử. Lo mãi tu pháp
thiện, nên sanh lên trời. Phước báo tận hết thì lại bị đoạ, như trục
quay kéo nước giếng, cuối cùng không thể hạ lạc (giải thoát). Nếu cầu
ngộ sáng tâm này, để có thể liễu sanh tử, thì cần chi dùng những pháp
xen kẻ như trên.
Lại nữa, nếu không quyết tâm tham cứu, hay tuỳ tiện phóng
túng tham cứu mà không được thiện tri thức chỉ dạy, thì e rằng sẽ dụng
tâm sai lầm, rồi trở lai bị đoạ vào tà kiến, khiến một đời trôi qua vô
ích. Tuy muốn cầu hạ lạc (giải thoát) mà không thể được. Chỉ thọ phước
báo trên trời, sao miễn khỏi luân hồi ! Thế nên, Phật đặc biệt thiết lập
phương tiện thẳng tắt, tức là pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu
trong một đời tu hành thành tựu pháp môn này, thì khi lâm chung, quyết
định hạ lạc (sẽ được vãng sanh). Nay vì Đại Vương mà giảng giải pháp môn
Tịnh Độ.
Hỏi : Vì sao thiết lập pháp môn Tịnh Độ ?
Đáp : Phật thiết lập pháp ba thừa, cần yếu cho người tu
hành, không phải chỉ một đời mà có thể thành tựu. Vì sợ đoạ lạc vào
trong biển khổ sanh tử, khó mà ra khỏi, nên hành tham thiền, có thể
trong một đời được liễu ngộ, xuất ra khỏi sanh tử. Song, vì vọng tưởng
rối rắm, tập khí sâu dày, nên không thể tham cứu. Nếu chưa ngộ sáng tâm
này, thì không miễn luân hồi. Thế nên, Phật mới đặc biệt thiết lập pháp
môn cầu vãng sanh qua cõi Tây Phương Cực Lạc. Không luận thượng trung hạ
căn, cùng giàu sang nghèo hèn, nếu y chiếu theo đó mà tu hành, thì trong
một đời có thể thành tựu. Vì vậy, bảo rằng tuy có nhiều đường lộ tu
hành, mà không có pháp nào vi diệu thù thắng bằng pháp môn Tịnh Độ.
Hiện tại, nơi cõi Ta Bà đầy dẫy các sự khổ nhọc, sao
chúng ta lại trú ở ? Nào là khổ vì sanh, già, bệnh, chết, cho đến khổ vì
cầu không được, hay khổ vì oan gia tụ hội, bao loại khổ não, kể không
thể hết. Tuy là vương hầu tể tướng, được hưởng thọ sung sướng, nhưng đều
là nhân khổ. Những sự khổ cực này, khó mà tránh khỏi. Thế nên, Đức Phật
thuyết về cõi Tây Phương Tịnh Độ, mà gọi là Cực Lạc thế giới. Trong cõi
nước đó, chỉ thọ các sự sung sướng, nên gọi là Cực Lạc ; cõi nước kia
không có sự dơ bẩn, nên gọi là Tịnh Độ ; không có người nữ, và hoá sanh
từ hoa sen, nên không có khổ vì sanh. Thọ mạng dài vô cùng, nên không có
khổ vì già, bệnh chết. Y phục thức ăn, tự nhiên sẵn có, nên không khổ vì
cầu chẳng được. Chư thượng thiện nhơn đồng tụ hội một nơi, nên không khổ
vì oan gia tụ hội. Cõi nước này dùng bảy loại châu báu để trang nghiêm,
nên không có đất đá ngói sỏi, hay phẩn tiểu bất tịnh. Bao loại thanh
tịnh, hoàn toàn không đồng với thế giới này. Những lời trong kinh A Di
Đà, mỗi mỗi đều là sự thật.
Hôm nay, tất cả mọi người nên cầu sanh qua cõi nước đó,
chứ không nên cầu pháp gì khác. Nhất tâm niệm Phật dùng làm chánh hạnh,
rồi ngày ngày hồi hướng ; dùng tâm quán tưởng hoa sen, và thân ngồi
trong đó. Đến lúc lâm chung, liền thấy Phật A Di Đà phóng ánh hào quang
tiếp dẫn ; thấy hoa sen lớn, vụt ra trước mắt ; thấy tự thân đang ngồi
trên hoa. Trong khoảng một niệm, liền được vãng sanh. Đã vãng sanh qua
cõi đó rồi, thì mãi mãi không bị đoạ vào đường khổ sanh tử ; đó gọi là
Bồ Tát Bất Thối Địa. Đây là kết quả của một đời tu hành. Đời sau hạ lạc
(giải thoát) rõ ràng như thế. Trừ pháp này ra, nếu có nói cảnh giới gì
khác vào lúc lâm chung, thì đó là tà thuyết. Nếu không niệm Phật, thì
đến lúc lâm chung, tuỳ theo nghiệp lành ác đã tạo, cảnh giới thiện ác
bèn hiện bày, hối hận cũng không kịp. Đây là pháp môn tu hành thẳng tắt
quan trọng nhất, vốn do Đức Phật đặc biệt quyền thiết phương tiện.
Lúc tu Tịnh Độ, không cần cầu ngộ sáng tâm tánh, chỉ
chuyên dùng niệm Phật và quán tưởng làm chánh hạnh ; lại bố thí, cúng
dường chư tăng, tu bao công đức phước điền, để trợ cho việc trang nghiêm
cõi Phật. Trong tâm niệm Phật, tuy phát nguyện vãng sanh, mà trước hết
phải nên cắt đứt cội gốc sanh tử, thì mới mau có hiệu nghiệm.
Cội gốc sanh tử là gì ? Tức là tham đắm hưởng thọ vật
chất trên thế gian, cùng sắc đẹp, lời hay, vị ngọt, khẩu nồng. Tất cả
đều là gốc khổ. Hiện nay, một hạng người tà có đủ cả tâm sân hận phẫn
nộ, cùng tâm chấp trước si ái, và đồng với tà ma ngoại đạo, tà thuyết
của tà sư, tà pháp của tà giáo, mà dám tự vọng xưng là hành giáo pháp
Đạt Ma Viên Đốn, cùng vọng lập giáo pháp Nam Dương Tịnh Không Vô Vi, Quy
Gia. Mỗi mỗi đều là lời nắn tạo của bọn tà nhân trong đời cận đại, khiến
làm rối loạn mê hoặc luật pháp của thế nhân. Người người phải lánh xa
chúng. Cho đến những thuật toàn chân nắm bỏ âm dương, thuyết nội đơn
ngoại đơn, đều là tà pháp, không thể tin được, mà chỉ đơn thuần tin chắc
pháp môn niệm Phật. Mỗi ngày tụng kinh A Di Đà hai quyển. Niệm vài ngàn
danh hiệu Phật, hoặc không cần đếm số. Tâm tâm không quên danh hiệu
Phật, tức là thoại đầu, và cũng là căn gốc của tánh mạng. Lại nữa, không
cần hỏi tánh mạng là gì, bản lai diện mục là gì, cùng những thuyết ba
hồn bảy vía nguyên thần là gì.
Nếu nhận thức sai lầm nơi luận đàm tông chỉ, thì không
thể hạ lạc (giải thoát). Nếu hỏi rằng cuộc đời này như thế nào, và đời
kế ra sao, thì nên biết rằng đời này nếu tạo nghiệp ác thì đời sau cảnh
ác hiển hiện. Đời này niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, thì đời sau cảnh giới
Phật hiển bày. Toại ý theo sở cầu của mình, đó là việc tốt. Nếu không
phải theo đúng sở cầu của thiện tâm, thì đó là việc của tà ma ; quyết
không thể tin lầm theo. Nếu không, sẽ bị ngộ nhận trong trăm kiếp ngàn
đời. Kinh Lăng Già và Lăng Nghiêm nói rõ tường tận. Nếu nói lời rằng
phàm có tướng đều là hư vọng, thì đó là lời của pháp môn tham thiền. Đơn
độc chỉ cầu chân tâm thanh tịnh, mà chẳng dung chứa một vật ; phàm có
tướng tức là hư vọng. Niệm Phật cầu vãng sanh qua cõi Tịnh Độ, vốn là do
tâm tưởng mà thành tựu.
Kinh nói - Nếu quán tưởng vi tế thì cõi nước sẽ thành.
Tham thiền muốn đoạn vọng tưởng thật khó. Thế nên, nay dùng tâm tưởng
thanh tịnh để tẩy rửa tâm tưởng nhiễm uế. Nếu hoa sen hiện trước mặt thì
quán tưởng thành tựu, sao còn bị tướng vọng thôi thúc nữa ! Các pháp môn
tu hành chẳng đồng, nên không thể bàn luận tóm tắt.
Những lời đối đáp bên trên, mỗi mỗi đều y theo kinh giáo
của Phật Tổ mà kiểm nghiệm rõ ràng, chẳng phải là lời đàm luận hư vọng.
Nếu tham thiền, tức là lấy việc minh tâm kiến tánh làm chủ. Nếu niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ, thì không cần phải mong cầu minh tâm kiến tánh,
mà đơn thuần chỉ luôn niệm Phật, tức tự tâm niệm đều minh giác sáng
suốt. Nếu quên mất Phật, tức là chẳng giác. Nếu niệm đến độ trong mộng
cũng có thể niệm, tức là thường giác không mê. Hiện tại, nếu tâm này
không mê, thì lúc lâm chung tâm này cũng không u muội. Nơi tâm không u
muội, tức là hạ lạc (được giải thoát). Hiện tại, Hiền Vương vì quốc sự
đa đoan, quyết không thể tham thiền, mà chỉ nên niệm Phật là hay nhất.
Không câu nệ trong động tịnh, tức là tại mọi nơi đều niệm được. Đạt được
nhất niệm không quên, thì đâu còn pháp vi diệu nào nữa ! Trước mặt vẫn
biết những việc thần thông, nhưng không thể cần cầu. Xưa kia, đức Phật
không hứa khả cho sự tu tập việc đó. Nếu được thành Phật, thì tự nhiên
sẽ có thần thông, chẳng cần mong cầu. Đây là việc mà quỷ thần biết
trước, chứ con người không thể học được. Vì vậy, không nên nghĩ tưởng
đến những việc này. Nếu niệm Phật được nhất tâm bất loạn, thì khi lâm
chung, tự nhiên sẽ dự biết thời tiết ; đó là thành tựu niệm Phật tam
muội. Những điều như trên, xin Hiền Vương tinh tường lưu ý xem xét.
Bài 15 : KHAI THỊ THAM THIỀN THIẾT YẾU.
Tông chỉ thiền môn là truyền tâm ấn của Phật, vốn chẳng
phải là việc nhỏ. Khởi đầu, Tổ Đạt Ma từ Tây Thiên sang Đông Độ, đơn độc
đứng ra truyền tông chỉ, rồi dùng bốn quyển kinh Lăng Già làm tâm ấn.
Tuy truyền ngoài giáo lý (giáo ngoại biệt truyền), mà thật ra Thiền tông
lại dùng giáo để ấn chứng, mới thấy đạo của Phật Tổ không hai. Công phu
tham cứu, cũng từ giáo mà ra.
Kinh Lăng Già thuyết : - Ngồi thiền tĩnh toạ trong núi
rừng, bậc thượng trung hạ, nên xem xét tự tâm vọng tưởng lưu chú. Đây
chính là bí quyết công phu của đức Thế Tôn. Kinh lại nói : - Ý thức kia
do tự tâm mà hiện ; tướng của cảnh giới tự tánh vốn là hư vọng. Sanh tử
mênh mông như biển cả. Nghiệp thức mù mờ vô tri. Những việc này, quyết
phải độ tận hết. Đây là lời dạy của đức Như Lai về diệu chỉ ngộ tâm.
Kinh lại thuyết : - Từ trên chư thánh, tương chuyển truyền thọ, đều dạy
rằng vọng tưởng vốn vô tánh. Đó là nơi biểu thị tâm ấn bí mật, và là chỗ
ông già mặt vàng (đức Phật) dạy người nơi tham cứu thiết yếu. Lại nữa,
tổ Đạt Ma dạy ngài Huệ Khả (487-593) : - Ngoài ngưng các duyên, trong
không cấp bách. Tâm như tường vách, thì mới có thể nhập đạo. Đây là lời
dạy thiết yếu đầu tiên của tổ Đạt Ma về phương pháp tham cứu. Lúc ngũ tổ
Hoằng Nhẫn (602-674) tầm cầu người kế thừa, vừa nghe Lục Tổ (638-713)
nói : “Xưa nay không một vật”, nên bèn truyền y bát cho. Đó là tông chỉ
tương truyền tâm ấn.
Sau này, khi vào nam (tức Tào Khê) Lục Tổ lại dạy Huệ
Minh : - Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi đó, gì là bản lai
diện mục của thượng toạ Minh ? Đó là bí quyết tham cứu mà Lục Tổ dạy
người trong buổi đầu. Đấy mới biết rằng từ trên Phật Tổ chỉ dạy người
liễu ngộ tự tâm, nhận ra tự tánh, mà chưa thuyết công án hay thoại đầu.
Sau đời tổ Hành Tư (660-740) ở Thanh Nguyên và tổ Hoài
Nhượng (677-744) ở Nam Nhạc, chư tổ sư tuỳ theo căn cơ mà khai thị ;
phần nhiều đánh vào những chỗ nghi ngờ, khiến người xoay đầu chuyển não
để đến nơi ngơi nghỉ. Nếu có những kẻ chưa khai ngộ, tuỳ theo thời tiết
nhân duyên, các ngài giáng búa kềm. Đến đời tổ Hoàng Bá (776-856), Ngài
bắt đầu dạy người tham khán thoại đầu. Qua đời thiền sư Đại Huệ
(1089-1163), Ngài lại cực lực chủ trương dạy người tham khán công án của
cổ nhân. Đây là nắm mũi mà gọi là thoại đầu, vì muốn người thiết thật
tỉnh ngộ.
Tại sao ? Chỉ vì trong ruộng thức thứ tám của các học
nhân, chứa đầy bao chủng tử tập khí xấu xa, mà niệm niệm đã huân tập sâu
dầy, nên mãi mãi bị tương tục lưu chuyển. Vọng tưởng không thể đoạn, thì
chẳng làm gì được. Cứ nắm chặt một câu thoại đầu vô vị vô nghĩa, hầu
mong xả bỏ hết nội ngoại tâm cảnh vọng tưởng. Vì xả bỏ chưa nổi nên dạy
đề câu thoại đầu, như chặt dây nhợ ; vung một đao lên bèn đoạn dứt hết.
Dòng ý thức chảy tương tục đến đây bị cắt đứt.
Đó chính là quy tắc pháp thức ngoài ngưng muôn duyên,
trong không cấp bách, tâm như tường vách của tổ Đạt Ma. Nếu không dùng
phương pháp đó mà hạ thủ công phu, thì quyết không thể thấy được bản lai
diện mục của mình. Không phải dạy quý vị tham tầm suy nghĩ nơi ngôn ngữ
của công án, như bàn thảo đàm luận về nghi tình. Thiền sư Đại Huệ chuyên
dạy người tham khán thoại đầu, như hạ độc thủ bằng tâm lạnh lùng. Ngài
dạy đại chúng:
- Tham thiền chỉ cần yếu bỏ hư tâm. Lấy hai chữ sanh tử
dán lên trán như nhắc mình đang bị thiếu nợ trăm nghìn đồng. Ngày đêm ba
thời, lúc ăn cơm uống trà, đi đứng nằm ngồi, cùng bạn bè đối đáp, nơi
náo nhiệt chỗ tĩnh lặng, đều giữ câu thoại đầu. - Con chó có Phật tánh
không ? Tổ Triệu Châu (778-897) đáp : - Không. - Quý vị chỉ lo xem khán
thoại đầu tới lui, mãi đến lúc không còn mùi vị, như đánh vào tường
vách. Cuối cùng, như chuột chui vào sừng trâu, bao điên đảo đều đoạn
dứt. Phải lập tâm lâu dài cùng tự nhắc nhở tiến bước, thì tự nhiên hoa
tâm khai sáng, chiếu khắp mười cõi quốc độ. Một lần ngộ bèn ngộ tận cùng
triệt để. Trên đây là búa chày tầm thường mà lão nhân Đại Huệ hằng dùng.
Ý chỉ này dạy quý vị dùng thoại đầu để cắt đứt ý căn, hạ vọng tưởng. Nơi
vọng tưởng lưu chú không hành, phải nhìn lại bản lai diện mục của mình,
chứ không phải dạy quý vị tham tầm suy nghĩ về công án, rồi cho là nghi
tình, mà khởi tâm phân biệt thảo luận.
Lại nữa, bảo rằng hoa tâm được khai sáng, tức là chẳng do
từ người ngoài mà được. Đó là mỗi mỗi lời chỉ dạy của Phật Tổ, răn nhắc
quý vị phải tham cứu chính mình, chứ không tìm kiếm diệu ngữ của người
khác. Ngày nay tham thiền tạo công phu, người người đều bảo tham khán
thoại đầu, phát khởi nghi tình, mà không biết hướng vào gốc để tham cứu,
cứ lo tầm cầu trên thoại đầu. Cầu đến cầu lui, rồi chợt loé ra một tia
sáng, bèn bảo là đã liễu ngộ, liền thuyết kệ trình câu cú. Vì cho là rất
hiếm được, nên nghĩ rằng đã đắc đạo, mà không biết hoàn toàn đoạ trong
lưới của vọng tưởng tri kiến. Tham thiền như thế, có phải là làm cho mắt
của người hậu thế bị mù loà chăng ? Những kẻ thiếu niên ngày nay, ngồi
bồ đoàn chưa vững, mà dám xưng ngộ đạo. Nói càn nói bậy, đùa giỡn với
con quỷ tri kiến ; xem việc tham thiền như món đồ chơi. Khi cơ phong
chợt vụt lên, thì tưởng rằng dùng ý kệ đó để đối đáp với cổ nhân. Nếu
ngộ đạo quá dễ dàng như người đời nay, thì người xưa chắc đã bất tài hết
rồi. Ngài Trương Khánh ngồi rách cả bảy chiếc bồ đoàn. Triệu Châu trong
ba mươi năm không dụng tâm tạp loạn. Nếu dựa vào dữ kiện này, thì căn
tánh của người xưa chắc rất đần độn, và chắc cũng không xứng để cầm đôi
giày cỏ của người đời nay. Cứ mãi tăng thượng mạng khinh người, và chưa
được mà tự bảo đã được. Thật rất đáng sợ.
Thuở xưa, khi Thiền tông thạnh hành, nơi nơi đều có các
bậc minh nhãn thiện tri thức. Thiên hạ đầy dẫy những kẻ tham cứu thiền
cơ, cho đến nơi đây cũng còn khai phát, thì hà huống bảo rằng không có
thiền. Thật ra, chỉ vì hiếm tìm được thiện tri thức. Ngày nay nhà thiền
vắng vẻ hoang tàn đã lâu. Đôi khi, có nhiều người phát tâm tham cứu, rồi
may mắn gặp được thiện tri thức xem xét huyền cơ, tuỳ theo đương tình mà
ấn chứng. Song, những học nhân còn tâm thức thô thiển, tự cho rằng đã
đạt đạo. Lại nữa, họ không tin thánh giáo của Như Lai, chẳng tầm cầu
đường lộ chân chánh, chỉ u mê tu hành, tức lấy dấu ấn rẻ mạt mà cho là
chân thật, nào biết tự mình lầm lạc và kéo người khác lạc theo. Có phải
đáng sợ lắm không ! Y cứ theo quyển Truyền Đăng Lục, có rất nhiều vị tể
quan và cư sĩ đạt đạo. Song, người trong trần lao vào thời nay, giới thô
không giữ, lại xúc loạn vọng tưởng, ỷ mình thông minh. Vừa xem qua pháp
tắc cơ duyên của người xưa, mỗi mỗi đều tự phụ, cho mình là bậc thượng
thượng căn, rồi ganh tỵ cơ phong, cũng tự bảo là đã ngộ đạo. Kẻ mù dẫn
đoàn người mù, tệ hại đến thế !
Ngày nay, lão nhân đề khởi tôn trọng nơi dụng công phu
chân chánh thiết thật của Phật Tổ, để cùng mọi người thương lượng. Các
bậc cao minh đạt sĩ, mỗi người hãy tự sửa mình chân chánh.
Bài 16 : KHAI THỊ CHO
TIÊU HUYỀN ĐOÀN.
Tâm thể của chúng ta, xưa nay vốn tròn đầy trong sáng.
Hiện tiền không thể đốn ngộ hay đắc được thọ dụng, đều vì từ vô lượng
kiếp đến nay, do tham sân si ái cùng bao loại phiền não chướng ngại che
lấp tự tâm. Thế nên, không thể dụng công phu tiệm tu ít oi.
Ngài Quy Sơn bảo : - Học nhân nếu nơi một niệm mà đốn ngộ
tự tâm, rồi lại dùng sở ngộ đó, tịnh trừ nghiệp thức lưu chuyển trong
hiện tại ; đó mới gọi là tu, chứ chẳng có cách nào khác.
Nếu có học nhân vì cầu đốn ngộ, mà cho rằng không có công
phu nào để dụng, đấy là do tập khí tiềm ẩn thâm sâu, vừa gặp cảnh bèn
phát khởi, nên mới lưu nhập vào ma giới dài lâu. Vã lại, công phu tiệm
tu, chẳng có thứ lớp ; trong nhật dụng thường ngày, hướng vào nơi tâm
chưa khởi động niệm, lập định vững chân, phản quán chiếu soi vào trong.
Nơi một niệm vừa khởi, bèn thẩm xét niệm đó, từ đâu phát ra. Truy cứu
đến nơi nhất niệm vừa sanh xuất, liền nhận rõ nó vốn vô tánh, thì tất cả
vọng tưởng tình lự đều ngưng lập tức, như nước chảy băng tan. Song,
những kẻ quên tâm mình, không phát lực dõng mãnh, và không thể đoạn dứt
yết hầu, chẳng giác tâm tương tục, thì mãi bị lưu chuyển mà không biết
xoay về.
Bài 17 : KHAI THỊ CHO CƯ SĨ VƯƠNG HIỂN
NGUNG.
Thế nhân dùng thân tâm cảnh giới huyễn vọng mà sinh hoạt
sống còn. Từ sanh đến tử, chưa từng có một niệm giác biết lại tự tâm bản
lai diện mục. Vì chưa giác ngộ, nên không biết gốc rễ của bịnh tật. Nơi
nước lửa xung đột, bốn đại cùng nhau công phá, đó là thân bịnh. Vọng
tưởng phan duyên, thương ghét thủ xả, đó là tâm bịnh. Thân bịnh thì
thuốc có thể trị, mà tâm bịnh thì không có thuốc để trị.
Đức Phật là đấng y vương ở thế gian, có thể điều trị tâm
bịnh của chúng sanh. Ngài tuy dạy bao loại phương tiện, mà rốt ráo chỉ
dùng chánh giác để phá vọng tưởng vô tánh ; đó gọi là lương dược hoàn
sanh vi diệu. Học nhân muốn cầu pháp môn an lạc, trước tiên phải nhận
rõ thân vốn chẳng có bản ngã. Hãy quán xem trước khi cha mẹ sanh ra,
thân máu thịt này từ đâu mà có ? Lúc bốn đại phân ly, thân này an lập
tại nơi nào ? Thời thời quán sát như thế, lâu ngày đột nhiên sẽ có một
niệm tỉnh giác, thì không còn khổ vì thân này nữa ; đó là thang thuốc vi
diệu trị thân bịnh. Tất cả bịnh tật đều từ tâm vọng tưởng sanh ra.
Thường ngày, dùng niệm quán sát, xem coi nơi khởi của tất cả niệm thiện
ác, tức là phát hiện cội gốc của bịnh khổ. Dùng niệm lực quán sát nơi
khởi, xem coi nó từ đâu mà nổi dậy, và rốt ráo diệt về đâu ! Lúc vọng
tưởng diệt, phải truy cứu nó diệt tới đâu. Truy cứu cho đến nơi khởi và
chẳng khởi, cùng nơi diệt và chẳng diệt, mà nhận thấy rằng khởi diệt
không từ đâu đến, thì tâm thể liền an nhiên, đắc đại tự tại. Chặt đoạn
cửa ải trọng yếu như thế, trước sau không ngừng ; trung gian nhất niệm
tự cô độc, thì niệm này đứng nơi độc lập. Lâu ngày thuần thục, thì căn
bịnh vọng tưởng tự nhiên sẽ bị nhổ trừ. Tất cả tâm dơ bẩn cũng không còn
có nơi để nương tựa. Đó là phương thuốc vi diệu trị tâm bịnh. Vương Tử
Ngung thiết chí hướng thượng, nhưng vẫn còn tầm cầu trên ngôn ngữ văn
tự, không biết hướng vào chính mình mà cầu. Tự tâm vọng tưởng đó vốn là
căn bịnh. Cứ dùng ngôn ngữ của người, cho là pháp thật, đó gọi là tăng
thêm một lớp chướng ngại.
Từ nay, phải biết phá trừ tự tâm vọng tưởng, không để
chúng trói buộc xoay chuyển. Phải xem xét nơi khởi của vọng tưởng, quyết
không để chúng cứ tiếp tục chạy. Phật bảo rằng tâm cuồng loạn nếu ngừng,
tức là Bồ Đề. Tâm thanh tịnh sáng soi thù thắng, vốn không từ ngoài mà
đắc được. Ngay nơi tự tâm hiện tiền, tức là pháp môn đại giải thoát. Lão
nhân do ông thỉnh cầu khai thị nên đặt cho pháp danh là Phước Giác, tức
là dùng giác này làm phước vô lượng bậc nhất. Xin hãy cố gắng !
Bài 18 : ĐÁP QUAN TRUNG
THỪA TRỊNH CÔN NHAM.
Bàn luận phần đại sự nhân duyên này, thì ai ai cũng đều
có đầy đủ, và mỗi mỗi đều hiện thành, không thiếu một sợi lông tóc ; chỉ
vì từ vô thuỷ đến nay, hạt giống ái căn, vọng tưởng tình lự, tập khí
nhiễm ô thâm sâu, nên chướng chư tự tánh vi diệu sáng soi, khiến không
thể được chân thật thọ dụng. Cuộc sống dựa trên tâm vọng tưởng, và thế
giới hư huyễn, nên cứ mãi trôi giạt trong sanh tử.
Phật Tổ ra đời, dùng ngàn lời muôn lẽ, thuyết thiền,
thuyết giáo, bao loại phương tiện, chẳng ngoài việc tuỳ thuận theo căn
cơ, phá chấp cho chúng sanh, mà hoàn toàn không có pháp thật và người
thật. Bảo là tu, chỉ vì tuỳ thuận tự tâm, tịnh trừ bóng ảnh của vọng
tưởng tập khí, mà mới dùng lực nơi đó. Nếu nhất niệm vọng tưởng chợt
ngưng, bèn thấy rõ tự tâm, xưa nay vốn tròn đầy sáng soi bao la, bản
nhiên thanh tịnh, chẳng chứa một vật, đó gọi là ngộ. Trừ ngoài tâm này,
chẳng vật gì là có thể tu có thể ngộ. Tâm như thể tấm kiếng ; vọng tưởng
phan duyên như bóng hình ; làm nhiễm ô chân tâm, nên gọi tướng vọng
tưởng là trần, thức tình là cấu. Nếu vọng tưởng tan mất, thì bản thể tự
hiện. Ví như lao kiếng, sạch bụi bặm thì ánh sáng tự hiện ra.
Chúng ta tích tụ tập nhiễm kiên cố đã bao kiếp, nên cội
gốc ngã ái thâm sâu khó nhổ trừ. Đời nay may mắn gặp được pháp Bát Nhã.
Trong huân tập làm nhân. Ngoài nhờ thiện tri thức dẫn dắt làm duyên. Tự
biết bản hữu của tâm tánh, nên phát tâm chí nguyện hướng đến việc giải
thoát khỏi sanh tử, há là việc nhỏ ư !
Nếu không phải là người khoẻ mạnh, tự thân đơn độc mang
đao nhập thẳng vào, thì rất là khó khăn. Cổ nhân bảo rằng như một người
mà chống với muôn người, chẳng phải là lời nói hư vọng. Nói chung, đời
mạt pháp người tu hành rất nhiều, nhưng đắc chân thật thọ dụng lại rất
ít. Phí sức lực thì nhiều, mà đắc lực thì ít. Tại sao ? Vì không đi
thẳng đến nơi hạ thủ công phu, chỉ lo tu trên ngôn từ thấy nghe tri
giải, cùng bám chấp thức tình, đè ép vọng tưởng, và dụng công phu trên
bóng hình. Họ lấy những lời huyền ngôn diệu ngữ của cổ nhân chấp chứa
trong ngực, mà làm pháp thật, rồi tự cho đó là tri kiến của mình, chứ
chẳng biết trong đó dùng một điểm nhỏ cũng không thể được. Đó chính gọi
là y theo người mà tác giải, khiến làm bế tắc cửa tự ngộ.
Nay dụng công phu, trước hết phải chẻ dẹp tri giải, chỉ
nhắm vào nơi một niệm mà dụng công. Phải tin chắc tự tâm, bản lai thanh
tịnh trong sạch, chẳng quảy một tấc dây, tròn tròn sáng sáng, tràn đầy
khắp pháp giới, vốn không có thân tâm thế giới, cùng chẳng có vọng tưởng
tình lự. Một niệm này, vốn tự vô sanh. Bao loại cảnh giới trước mắt đều
là vọng huyễn không thật, chỉ xuất phát từ trong chân tâm mà hiện ra
bóng hình. Thấy rõ như thế, ngay nơi vọng tưởng khởi diệt, nhất định tìm
xem nó từ đâu khởi và từ đâu diệt. Dùng lực ép chặt như thế, chẳng màng
đến bao vọng niệm ; kẹp nát chúng khiến tan thành phấn vụn, thì băng tan
ngói bể. Thiết yếu chẳng nên chạy theo chúng, cũng không thể khởi tâm
tương tục.
Đại sư Vĩnh Gia bảo rằng phải đoạn tâm tương tục là như
thế. Tâm thô phù hư vọng, vốn không có chỗ tựa. Chớ nên cho chúng là
thật. Cứ giữ tại ngang ngực, lúc chúng khởi lên liền quát. Vừa quát
chúng liền tiêu. Thiết yếu không đè ép, hãy để chúng tự nhiên khởi, như
nước trên quả hồ lô, chỉ ném phứt thân tâm thế giới qua một bên. Đơn độc
đề khởi một niệm nghi tình ; vung bảo kiếm trong hư không, dẫu là Phật
là ma, một đao liền chặt hết, như chém dây nhợ. Phải dùng niệm lực mà
giữ chúng. Đó gọi là trực tâm chánh niệm chân như. Chánh niệm tức là vô
niệm. Quán được vô niệm thì mới gọi là hướng đến tri kiến của Phật.
Vừa mới phát tâm tu hành, cần thiết phải tin chắc pháp
môn duy tâm. Phật thuyết ba cõi duy tâm, vạn pháp duy thức. Đa số, giáo
lý Phật Pháp, thường giải thích tám chữ này rõ ràng để người người tin
nhận. Hai đường thánh phàm chỉ nằm trong hai co