PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
H.T. THÍCH TRÍ THỦ
biên tập
---o0o---
Chương VI
PHÁP QUÁN TƯỞNG
Tiết thứ I
Trì Danh Và Quán Tưởng
Trong pháp môn Tịnh độ,
quán tưởng cũng là một pháp trọng yếu như pháp trì danh. Những ai vì
ngắn hơi, không theo được pháp trì danh mà chỉ chuyên tu pháp quán
tưởng, kết quả vãng sanh hai đàng vẫn như nhau.
Kinh Quán Vô Lượng
Thọ dạy có 16 pháp quán, trình bày rất chí lý rõ ràng. Luận vãng
sanh của Ngài Vô Trước lại chia thành 29 phép quán. Công năng tán trợ
vãng sanh của các pháp quán, như trên đã nói, không khác công năng của
pháp trì danh. Có khác chăng là một đàng dễ theo, một đàng khó theo, như
sẽ nói rõ sau đây:
Với pháp quán tưởng,
cảnh quán thường rất rộng rãi và tế nhị nên khó hành trì. Hơn nữa, vì
chưa từng trải qua cảnh đó nên ấn tượng dễ trở nên mông lung. Cảnh chỉ
hoàn toàn căn cứ vào ức tưởng nên khó tránh khỏi sai sự thật. Những sự
khó khăn trên lại càng tăng thêm lên nữa, đối với chúng sanh trong thời
mạt pháp nầy. Quả vậy, nghiệp chướng nặng nề, trí huệ cạn cợt, tâm tư
tạp loạn, hoàn cảnh nhiễu nhương; với những điều kiện như thế, tư lự
thật khó tập trung vào một cảnh chuyên nhất trong quán pháp. Vì các lý
do như trên, nên pháp quán tưởng khó áp dụng hơn pháp trì danh. Nếu chỉ
chuyên tu quán tưởng mà không tu các pháp khác, sợ ít hy vọng thành
công, vì vậy mà người tu Tịnh độ hiện thời ít kẻ thực hành quán tưởng;
phần đông chuyên theo pháp trì danh mà thôi.
Tuy nhiên, nếu gác ngoài
sự thực hành khó khăn, pháp quán tưởng còn có một tác dụng rất lớn lao ở
trong pháp môn Tịnh độ. Nó có hiệu lực phát huy công năng phục diệt
chủng tử ô nhiễm và đồng thời đề khởi chủng tử thanh tịnh ở trong tâm
thức chúng ta, khiến cho các chủng tử ấy mau thành thục để hiện hành
mạnh mẽ. Khi hiện hành mạnh mẽ tức là kiến tánh thành Phật vậy. Nếu lập
chí vững bền, quán tâm mạnh mẽ tinh tấn, thì lại có thể chuyển biến thế
giới Sa bà thành thế giới Cực lạc được. Pháp quán tưởng có công năng lớn
lao như vậy, thế mà chỉ có một số ít người thực hành được, quả thật đáng
tiếc!
Nay xin đề nghị một biện
pháp để dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh, mọi năng lực là lấy pháp trì
danh làm nòng cốt tu hành, đồng thời lấy pháp quán tưởng làm trợ duyên
giúp thêm sức. Đã có trì danh làm căn bản thì cho dù quán tưởng có thành
công hay không, công phu tu tập cũng không vì thế mà mất. Trái lại, nếu
bên quán tưởng cũng đồng thời thành công thì kết quả hai bên hợp lại
thật là vô cùng rực rỡ. Trong trường hợp không thành công, ít nhất nó
cũng đóng được vai trò tăng thượng duyên cho pháp trì danh. Do đó, ta có
thể kết luận một cách quả quyết và minh bạch rằng:
Nếu chỉ chuyên tu quán tưởng mà không
kiêm tu các pháp khác, rủi không thành công thì thật là tổn phí thì
giờ.
Nếu dùng pháp quán tưởng phụ giúp cho
pháp trì danh thì nó có thể làm tăng thượng duyên cho tịnh nghiệp, bồi
thêm hiệu quả cho pháp trì danh mà không mảy may lưu tệ.
Tóm lại, dùng phương
pháp quán tưởng giúp cho phương pháp niệm Phật thì thật là nhiệm mầu
vậy. Chúng ta cần phải biết châm chế mà thật hành cho chóng có kết quả.
Sau đây xin cung lục 16
pháp quán trong kinh Quán Vô Lượng Thọ và 29 pháp quán trong Luận
Vãng Sanh. Mong rằng các bậc hành giả tinh tấn y theo, công đức sẽ vô
lượng.
Đối với 16 pháp quán
trong kinh Quán Vô Lượng Thọ hay đối với 29 pháp quán trong luận
Vãng Sanh , nếu hành giả, trong khi tu, cảm thấy cảnh giới quá
rộng rãi phiền phức hoặc giả cảnh quán hiện ra quá mơ màng mông lung,
không thể quán tưởng hết cùng một lượt, thì bắt đầu chỉ nên quán một
pháp hoặc hai pháp mà thôi. Hoặc cũng có thể chỉ quán tưởng một bộ phận
nhỏ trong một pháp, hay thay đổi, hôm nay quán bộ phận nầy, hôm sau quán
bộ phận khác.
Trong khi tu quán đừng
nên bắt đầu "quán Không" và đừng sợ bị pháp chấp. Đặc sắc của pháp môn
tu Tịnh độ là không cấm kỵ sự muốn thấy Phật, muốn thấy cảnh giới Phật,
tức là "quán hữu". Đã có phuơng pháp trì danh làm căn bản (dù chỉ trì 10
danh hiệu một ngày) pháp quán kiêm thêm là cốt để giúp cho tịnh nghiệp
mà thôi. Vì ở địa vị phụ nên quán tưởng có thành công hay không cũng
không hại. Ví như trong công việc thành tựu một cái bàn, công thợ và cây
ván có thể ví với phương pháp trì danh, dầu, vẹc-ni và sự đánh bóng có
thể ví với phương pháp quán tưởng. Lại như trong công việc dệt sa lụa,
trì danh như canh chỉ, quán tưởng như bông hoa. Miễn rằng đâu được cái
bàn chắc chắn hay dệt xong cây lụa tốt bền thì gọi là hoàn thành, có
đánh bóng hay không, có bông hoa hay không, chưa phải là điều quan
trọng. Nếu hiểu được lẽ đó, ta nên khéo léo vận dụng thế nào cho phần
chính được đặc biệt chú trọng hơn phần phụ, nếu có thêm phần phụ là chỉ
tăng vẻ mỹ miều cho phần chính được chừng nào hay chừng đó mà thôi vậy.
Nghe nói như trên, không
khỏi có người sẽ phản đối lại mà đàn hạch rằng: "Sở dĩ thấy chúng sanh
bị giặc phiền não làm hại, nên đức Thích Tôn đặc biệt khai ra pháp quán
tưởng nầy trong Quán Vô Lượng Thọ, nay vì sao ở đây có chủ trương
hạ thấp giá trị nó xuống và gán cho nó một vai trò phụ phương pháp trì
danh?".
Nếu có sự khiển trách
ấy, tôi xin nhận lỗi ngay, nhưng cũng xin bình tĩnh xét kết quả hai bên
thì sẽ rõ. Từ khi đức Phật khai ra pháp môn Tịnh độ, chúng sanh y theo
phương pháp trì danh mà tu hành, thử tính xem kết quả được vãng sanh là
bao nhiêu! Lại cũng thử tính xem số chúng sanh y theo phương pháp quán
tưởng mà tu hành, kết quả vãng sanh là bao nhiêu! Kết quả hai bên so
nhau thật quá huyền thù. Sự kiện nầy chính đức Phật cũng đã nêu rõ. Hơn
nữa trong đời mạt pháp nầy vì nhơn tâm dễ tán loạn, vì hoàn cảnh quá
nhiễu nhương nên ở đây mới dám tùy cơ duyên khuyên hành giả lấy phương
pháp trì danh làm chủ và lấy phương pháp quán tưởng làm phụ. Nếu hành
giả thành công được cả hai, kết quả sẽ vô cùng tốt đẹp. Nếu chỉ riêng
thành tựu được phương pháp trì danh, cũng quyết định được vãng sanh, vì
với phương pháp trì danh, mười người tu là mười người đạt kết quả, chứ
không khó như phương pháp quán tưởng. Vì các lẽ ấy, ở đây quyền biến chủ
trương bên chính bên phụ, tưởng cũng không trái với ý kinh.
Ngày xưa, khi Ngài Thiện
Đạo trước tác quyển "Pháp môn Quán niệm A Di Đà Phật tướng hảo công đức"
để giải rõ phương pháp tu hành quán tưởng Niệm Phật, nhưng cũng không
quên khuyên hành giả chuyên trì danh hiệu Phật. Lý do Ngài đưa ra là:
"Vì chúng sanh, nghiệp chướng nặng, cảnh quán vi tế mà tâm thô tháo,
thức bay nhảy, thần tản mác, nên quán tưởng khó thành tựu". Mặc dù vậy,
Ngài vẫn nói pháp quán tưởng, mục đích chính cốt để giáo hóa hàng lợi
căn thượng trí mà thôi, chứ đối với quần chúng phổ thông thì Ngài khuyên
nên trì danh hiệu Phật là hơn cả, đó chính là phương tiện thiện xảo của
các bậc Cổ đức sáng chế ra để dắt dẫn kẻ hậu tấn vậy.
Tiết Thứ 2
16 Pháp Quán Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ
a) Quán tưởng mặt trời.
Ngồi xây mặt về hướng
Tây. Quán tưởng mặt trời như cái trống treo lơ lửng giữa hư không, tròn
chói lọi; về hướng mặt trời sắp lặn, ánh sáng rực rỡ, bất cứ nhắm mắt
hay mở mắt đều trông thấy rõ ràng.
Quán tưởng nước.
Thứ lại, quán tưởng
nuớc. Tập trung tâm ý nhìn vào nước trong lặng. Khi nhắm mắt cũng vẫn
thấy được nước thì quán tưởng nước ấy kết thành băng. Đã thấy được
băng rồi thì quán tưởng băng ấy thành lưu ly. Tiếp theo đem lưu ly ấy
biến thành đất của thế giới Cực lạc trong suốt sáng ngời; dưới đất lưu
ly ấy có một đế vàng thất bảo chống đỡ; đế có tám góc tám cạnh, mỗi
góc cạnh đều do trăm ngàn châu báu tạo thành, mỗi một châu báu chiếu
ra trăm ngàn hào quang, mỗi hào quang loé ra 84 ngàn sắc, chiếu lên
đất lưu ly, lung linh như muôn ngàn mặt trời, không thể nhìn xiết.
Lại quán trên đất lưu
ly ấy có vô số dây chằng, toàn bằng vàng ròng, xen lộn chằng chịt có
bảy báu làm giới hạn và phân khoản rõ ràng; trong mỗi thứ báu có 500
sắc hào quang tuôn ra, rực rỡ như hoa, lung linh như trăng sao, treo
lồng lộng giữa hư không, kết thành đài quang minh gồm có muôn ngàn lầu
gác do trăm thứ báu hợp thành; xung quanh đài có trăm ngàn tràng hoa
và vô lượng nhạc khí bằng châu báu, lại có tám thứ gió mát từ trong
ánh sáng phe phẩy thổi ra nhẹ rung các nhạc khí, khiến trổi lên những
khúc nhạc vô thường, khổ, không, vô ngã, một cách hòa nhã và tự nhiên.
Quán tưởng đất.
Khi phép quán tưởng
nước đã thành tựu, nghĩa là khi đã thấy rõ được các cảnh như trên, bất
cứ mở mắt hay nhắm mắt, lúc nào các cảnh ấy cũng hiện ra, ngoại trừ
lúc ăn, như vậy là đã thấy sơ qua đất nước Cực lạc rồi. Nếu được Tam
muội rõ ràng phân minh, không thể nghĩ nghị hết được. Một khi quán
tưởng đất thành tựu rồi, thì lúc bỏ thân nầy, tức liền vãng sanh Tịnh
độ.
Quán tưởng cây.
Quán tưởng 7 lớp hàng
cây, mỗi cây cao 8 ngàn do tuần, hoa lá toàn bằng thất bảo, sum sê im
mát. Trong mỗi hoa lá tỏa ra nhiều sắc khác nhau, lại trong mỗi sắc
ánh ra hào quang riêng như sắc lưu ly ánh ra hào quang vàng, sắc pha
lê ánh ra hào quang hồng, sắc mã não ánh ra hào quang xa cừ, sắc xa cừ
ánh ra hào quang lục v.v... Các loại châu báu như lưu ly, pha lê, xa
cừ, trân châu, san hô, hổ phách đều dùng để trang sức cho cây.
Trên mỗi hàng cây đều
có lưới che bằng ngọc báu. Trên mỗi cây lại có một lớp lưới, trong
lưới có năm trăm ức diệu hoa cung điện giống như cung trời Phạm Vương;
trong cung điện có Chư thiên đồng tử nhởn nhơ qua lại. Mỗi đồng tử đeo
một vòng chuỗi anh lạc gồm 500 hột ngọc ma ni kết thành. Ánh sáng của
ngọc ma ni tỏa chiếu hằng trăm do tuần, lóng lánh như trăm ngàn mặt
trời mặt trăng, đẹp đẽ tuyệt vời không thể tả xiết.
Các cây báu ấy hàng
hàng đối nhau, lá lá chen nhau; giữa các kẽ lá lại nhô lên nhiều cụm
hoa đẹp, trổ ra vô số trái thất bảo. Chóp cây tỏa thành một tàn lá
rộng, che phủ 25 do tuần. Tàn lá có ngàn sắc, trên mỗi lá có hàng trăm
đường chỉ quay tròn như vòng lửa xoay, óng ánh sắc vàng ròng, chói
sáng rực rỡ. Những vòng quang minh lớn hóa thành vô lượng tràng phan
bảo cái; hiện ra tam thiên đại thiên thế giới và hết thảy các Phật sự
trong mười phương cõi Phật.
Thấy được cây rồi, sẽ
theo thứ lớp mà quán tưởng nhánh, cành, lá hoa, mỗi mỗi riêng biệt cho
thật phân minh.
đ) Quán tưởng nước
công đức.
Thứ lại, quán tưởng 8
hồ nước của Thế giới Cực lạc. Các hồ ấy đều do thất bảo tạo thành;
thất bảo nầy là những thứ báu mát mẻ nhu nhuyến do như ý bảo châu phát
sanh. Mỗi hồ phân ra 14 chi lưu, bờ bằng vàng ròng, đáy bằng tạp sắc
kim cang lót thế cát. Trong hồ có vô số hoa sen thất bảo. Mỗi hoa sen
tròn trặn 12 do tuần. Trong hoa tuôn ra một thứ như ngọc ma ni, theo
cây lên xuống; nước chảy phát ra những âm thanh nhiệm mầu dạy các đạo
lý vô thường, khổ, không, vô ngã và các phép ba la mật. Cũng trong
những thanh âm ấy, thỉnh thoảng lại vang lên những lời tán thán tướng
hảo của chư Phật. Đồng thời, từ những viên ngọc như ý châu, những hào
quang sắc vàng lại được phóng ra một cách vô cùng nhiệm mầu. Trong hào
quang, bay ra từng đàn chim lộng lẫy muôn màu muôn vẻ, cùng nhau hát
những tiếng hòa nhã tán thán sự niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Tổng quán tưởng.
Tổng quán tưởng tức là
quán tưởng toàn thể quốc độ Cực lạc. Quốc độ chia thành nhiều khu vực
với ranh giới phân minh. Trong mỗi khu vực có 500 ức lâu các với vô số
chư thiên hòa tấu ca nhạc bằng những nhạc khí treo lơ lửng giữa hư không
như những tràng phan bảo cái. Các nhạc khí ấy tự nhiên phát ra những âm
thanh luôn luôn nói pháp niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Một khi đã thấy được đất
báu, cây báu, hồ báu cùng tổng tướng của thế giới Cực lạc rồi, pháp quán
tưởng như vậy là đã thành tựu. Ai thành tựu được các phép quán tưởng
trên, tức trừ được các ác nghiệp rất nặng từ vô lượng kiếp; về sau, khi
lâm chung nhất định sẽ được vãng sanh.
Quán tưởng tòa sen.
Sau khi việc quán tưởng
đất đã thành tựu, tiếp là quán tưởng hoa sen. Nên bắt đầu quán tưởng
từng bộ phận, từ cánh hoa cho đến đài hoa.
Cành sen làm bằng trăm
thứ báu, màu sắc rực rỡ. Trên mỗi cành có 84.000 đường gân chạy dọc, mỗi
đường gân tỏa ra 84.000 hào quang lộng lẫy như những bức vẽ tuyệt trần.
Mỗi hoa sen có 84.000 cánh và hoa nào nhỏ nhất cũng rộng đến 250 do
tuần. Trên mỗi cánh hoa lại có nạm trăm ức ngọc ma ni dùng làm trang
sức. Mỗi viên ngọc ma ni phóng ra ngàn hào quang giống như hình bảo cái
che khắp mặt đất.
Đài hoa làm bằng thứ
ngọc thích ca tỳ lăng già, và lại trang sức thêm bằng 8 vạn thứ ngọc kim
cang, chân thúc ca, ngọc phạm ma ni, ngọc diệu chơn châu v.v...
Nếu muốn niệm đức Phật A
Di Đà, trước hết phải quán tưởng đài sen ấy. Lúc quán tưởng, không nên
để tạp tưởng xen vào. Phải quán tưởng từng bộ phận cho phân minh như
nhìn mặt trong gương.
Quán tưởng nầy mà thành
tựu thì liền diệt trừ được 5 vạn ức kiếp sanh tử tội chướng và quyết
định sẽ được vãng sanh Cực lạc.
Quán tưởng hình tượng.
Khi đã thấy đài sen rồi,
tiếp theo là quán tưởng thân tướng của đức Phật ngồi trên đài sen ấy.
Quán cho đến khi nào nhắm mắt mở mắt đều thấy một ngôi tượng Phật, thân
sắc vàng ròng ngồi trên đài hoa kia thì tâm nhãn đều khai thông, khiến
thấy được thế giới Cực lạc với đất báu, ao báu, cây báu cùng là tràng
phan bảo cái dăng bủa đầy trời, lưới ngọc che khắp hư không. Tất cả cảnh
ấy hiện ra trước mặt như khi ta xem một trái cây nằm giữa lòng bàn tay
vậy.
Lại quán tưởng thêm hai
đài sen khác ở hai bên tả hữu Phật. Bên tả là đức Quán Âm, bên hữu là
đức Thế Chí. Khi quán tưởng hai tượng nầy đã thành tựu thì liền thấy từ
tượng Phật và Bồ tát đều phóng ra hào quang sắc vàng, chiếu khắp hàng
cây báu. Ở dưới mỗi gốc cây báu đều hiện ra ba đài sen; trên các đài sen
đều có Phật và Bồ tát ngồi, từ gốc cây nầy qua gốc cây khác, trùng trùng
điệp điệp, cùng khắp cả nước.
Quán tưởng ấy thành,
hành giả sẽ nghe các giòng nước, các luồng hào quang, các hàng cây báu,
cho đến chim phù, chim nhạn v.v... đều nói lên pháp mầu, bất cứ nhập
định hay xuất định,vẫn thường nghe văng vẳng lời thuyết pháp bên tai.
Những điều mà hành giả
nghe trong lúc nhập định nếu khi xuất định mà còn nhớ lại và thấy hoàn
toàn xứng hợp so với kinh giáo tức là hành giả đã thấy sơ qua cảnh giới
Cực lạc rồi vậy. Còn nếu những điều kia so với kinh giáo thấy không xứng
hợp, tức là cảnh vọng tưởng.
Quán tưởng được như trên
thì sẽ trừ diệt được tội nặng trong vô lượng ức kiếp sanh tử và hiện
thân chứng được Niệm Phật Tam Muội.
Quán tưởng toàn thể sắc thân Phật.
Tiếp theo là quán tưởng
thân tướng quang minh của đức Phật Vô Lượng Thọ (tức đức Phật A Di Đà).
Thân Phật sắc vàng, cao sáu mươi ức hằng sa do tuần. Bạch hào ở giữa hai
chân mày uyển chuyển xoay về bên hữu, vòi vọi như năm chóp núi Tu di.
Mắt Phật trong xanh, mênh mông như nước bốn bể. Các lỗ chân lông trong
mình Ngài phóng ra hào quang lớn như núi Tu di, trong mỗi vòng hào quang
hiện ra trăm ức đại thiên thế giới và trăm ức na do tha hằng sa Hóa
Phật, mỗi vị Hóa Phật lại có vô số Hóa Bồ tát làm thị giả.
Đức Phật Vô Lượng Thọ có
84.000 tướng, trong mỗi tướng 84.000 quang minh, và mỗi một quang minh
chiếu khắp chúng sanh đương niệm Phật trong mười phương thế giới, để
tiếp dẫn không sót một chúng sanh nào. Các tướng tốt của Phật, hào quang
của Phật và các hoá thân của Phật nhiều không thể kể xiết. Trong khi
quán tưởng, chỉ cần nên tưởng nhớ các cảnh giới nói trên thì trong tâm
và ngoài mắt cũng đều thấy cả.
Thấy được như thế tức là
đã thấy được tất cả các đức Phật trong mười phương. Vì thấy được các đức
Phật trong mười phương nên gọi là Niệm Phật Tam Muội. Phép quán tưởng
nầy gọi là quán tưởng toàn thể sắc thân Phật. Đã quán tưởng được thân
Phật nên cũng thấy được tâm Phật. Tâm Phật tức là lòng Đại từ, Đại bi,
lấy Vô duyên từ 1 độ tất cả chúng sanh.
Nếu quán tưởng được như
thế thì liền sau khi bỏ thân nầy sẽ được vãng sanh trước mặt các đức
Phật và chứng ngay quả vô sanh nhẫn. Vì lý do ấy nên kẻ trí giả nên đem
lòng chơn chánh quán tưởng đức Phật Vô Lượng Thọ.
Muốn quán tưởng đức Phật
Vô Lượng Thọ cho có hiệu quả, nên tuần tự quán tưởng từng tướng tốt một.
Giả sử, trước tiên chỉ nên quán tưởng bạch hào giữa đôi chân mày. Nhưng
khi đã thấy rõ tướng bạch hào nầy rồi, thì 84.000 tướng khác tự nhiên
hiển hiện.
Quán tưởng toàn thể sắc thân đức Bồ
tát Quán Thế Âm.
Thân tướng đức Bồ tát
Quán Âm cao 80 ức na do tha do tuần, sắc vàng tía. Trên đảnh có nhục
kế, cổ có hào quang tròn. Trong hào quang có 500 Hóa Phật, mỗi Hóa
Phật có 500 Hóa Bồ tát và vô số lượng Chư thiên làm thị giả. Toàn thân
Ngài đều phóng hào quang, trong hào quang ấy đều hiện ra hết thảy sắc
tướng của 5 đạo chúng sanh. Đầu Ngài đội mũ làm bằng thứ ngọc báu Tỳ
lăng già ma ni, trong mũ có một vị Hóa Phật đứng, mình cao 25 do tuần.
Mặt Ngài sắc vàng, tướng bạch hào ở giữa hai chân mày có đủ sắc thất
bảo, phóng ra 84.000 thứ hào quang, mỗi hào quang có vô số Hóa Phật,
mỗi Hóa Phật có vô số Hóa Bồ tát đi theo làm thị giả, tràn đầy cả mười
phương thế giới. Bàn tay Ngài ánh ra 500 ức tạp liên hoa sắc, đầu 10
ngón tay đều có 84.000 nét vẽ rõ ràng như nét in, mỗi nét vẽ có 84.000
sắc, mỗi sắc có 84.000 hào quang uyển chuyển khắp mười phương. Chính
nơi bàn tay rực hào quang ấy mà Ngài tiếp dẫn đưa chúng sanh về Cực
lạc. Dưới mỗi bước đi của Ngài, như có muôn ngàn bánh xe, hóa thành
500 ức đài quang minh. Khi Ngài đặt bàn chân xuống là có hoa kim cang
ma ni tỏa nở để nâng chân.
Hầu hết thân tướng của
Bồ tát Quán Âm đều có đầy đủ vẻ đẹp như Phật, duy chỉ nhục kế trên đầu
và vô kiến đảnh tướng là không so được với Phật. Quán tưởng thân tướng
đức Quán Âm thì tránh được tai họa, trừ sạch nghiệp chướng và hết thảy
tội lỗi từ vô số kiếp đến nay.
Muốn quán tưởng đức
Quán Âm thì nên theo thứ lớp như sau. Trước hết, quán tưởng nhục kế ở
trên đầu, kế đó quán tưởng cái mũ, rồi mới đến các tướng khác, mỗi mỗi
cho thật phân minh.
Quán tưởng toàn thân sắc thân của đức
Bồ tát Đại Thế Chí.
Thân tướng cũng lớn
như đức Quán âm. Lòng kính vòng hào quang của Ngài đo được 125 do
tuần, sáng rực cả thân, ánh quang minh chiếu khắp cả mười phương quốc
độ, ngời sắc vàng cháy. Tất cả chúng sanh có duyên với Ngài đều được
trông thấy sắc vàng cháy ấy. Chỉ thấy được một hào quang từ lỗ chân
lông Ngài tỏa ra là đủ thấy được hết thảy hào quang tinh diệu của 10
phương chư Phật. Vì hào quang của Ngài sáng chói rực rỡ như vậy nên
Ngài lại có hiệu Vô Biên Quang. Ngài có năng lực tối thượng là đem ánh
sáng trí tuệ chiếu khắp thế giới chúng sanh khiến chúng sanh thoát ly
được ba đường dữ nên tên hiệu chính của Ngài là Đại Thế Chí.
Mũ Ngài đội có 500 hoa
báu, trong mỗi hoa báu có 500 đài báu, trong mỗi đài báu hiện ra các
cõi Tịnh độ của 10 phương chư Phật, nhục kế của Ngài như hoa bát đầu
ma, trên nhục kế có một bình báu đựng đầy ánh sáng quang minh hiện đủ
các Phật sự. Các thân tướng khác của Ngài cũng giống như đức Quán Âm.
Mỗi khi Ngài cất bước,
tất cả 10 phương thế giới đều rúng động, tại mỗi chỗ đất bị rúng động
hiện ra 500 ức hoa báu, các hoa báu thảy đều trang nghiêm cao hiển như
thế giới Cực lạc. Khi Ngài ngồi, các quốc độ thất bảo đều đồng loạt
điều động, từ quốc độ của Phật Kim Quang dưới Hạ phương đến quốc độ
của Phật Kim Quang Minh Vương trên Thượng phương; tại khoảng giữa thì
vô lượng vô số phân thân của đức Phật Vô Lượng Thọ và các phân thân
của đức Quán Âm, đức Thế Chí đều vân tập về, đầy khắp hư không, hết
thảy đều ngự trên tòa sen và cùng diễn thuyết pháp mầu.
Quán tuởng được như
thế sẽ trừ được vô số kiếp tội ác sanh tử, không còn bị thai sanh
thường được hóa sanh và được tự tại ngao du các quốc độ tịnh diệu của
chư Phật.
Phổ quán tưởng.
Phổ quán tưởng tức là
tưởng tượng thân mình khi sanh về thế giới Cực lạc, chân xếp lại ngồi
trong hoa sen đang búp. Đến khi hoa nở, có 500 sắc hào quang chiếu vào
thân mình. Khi mở mắt liền thấy Phật và chúng Bồ tát đầy khắp cả hư
không, đương nói pháp mầu. Những lời Phật và Bồ tát dạy cũng như tiếng
nước, tiếng chim, tiếng cây, tiếng rừng phát ra đều là diễn xuất chơn lý
xứng hợp với 12 bộ kinh. Nếu sau khi xuất định mà vẫn nhớ tưởng mãi các
cảnh ấy tức gọi là thấy thế giới Cực lạc, thấy đức Phật Vô Lượng Thọ,
thấy được vô số hóa thân của Ngài, cùng là hai đức Quán Âm, Thế Chí
thường đến chỗ ngồi của mình.
Tập quán tưởng.
Như trên đã nói, thân
lượng của đức Phật Vô Lượng Thọ thật là vô biên, thân lượng của hai
đức Bồ tát Quán Âm, Thế Chí cũng thế. Tâm lực phàm phu không tài nào
quán tưởng nổi, vì vậy mới có thiết lập một loại quán tưởng mệnh danh
là tập quán tưởng mở đầu cho các quán tưởng trên. Phương pháp tập quán
tưởng nầy dạy ta chỉ nên quán tưởng tượng Phật cao một trượng sáu,
ngồi trên hoa sen, trong hồ báu, thân sắc vàng ròng; Hóa Phật ở trong
hào quang cùng các đức Quán Âm, Thế Chí đều lớn bằng thân chúng sanh
với các tướng trên đầu, như đức Quán Âm thì có đức Phật đứng trong mũ,
đức Thế Chí thì có bình báu trên nhục kế. Còn hồ sen, cây báu v.v...
thì giống như các loại hồ sen, cây báu có thể tìm thấy ở mọi xứ sở.
Quán tưởng 3 bậc thượng phẩm vãng
sanh.
Quán tưởng 3 bậc trung phẩm vãng
sanh.
Quán tưởng 3 bậc hạ phẩm vãng sanh.
(xin xem lại 1 chương
trên đã nói).
Tiết Thứ 3
29 Pháp Quán Theo Luận Vãng sanh
Luận Vãng sanh Tịnh độ
do Ngài Bồ tát Thế Thân trước
tác.
Nó lại còn có tên là "Vô
Lượng Thọ kinh Ưu bà đề xá nguyện sanh kệ". Nội dung bộ kinh ấy chia
chúng sanh thế gian thanh tịnh và khí thế gian thanh tịnh của thế giới
Cực lạc làm ba loại:
Loại công đức thành tựu
của Phật có 8 thứ.
Loại công đức thành tựu
của Bồ tát có 4 thứ.
Loại công đức thành tựu
của Quốc độ có 17 thứ.
Sở dĩ chia ra như vậy là
cốt để dạy hành giả biết phân biệt quán sát cho tinh tường từng loại
một. Vì thế nên đó cũng là những phép quán tưởng. So với 16 phép quán
tưởng trong Quán kinh, phương pháp hai bên có sự bất đồng, chẳng qua là
ở đây đặt nặng về phần nhận thức mà nhẹ về phần suy gẫm đó thôi. Nếu
hành giả biết nương vào đây mà quán tưởng thì cũng sẽ gợi được một ấn
tượng tốt về thế giới Cực lạc và do đó có thể tán trợ cho sự vãng sanh
rất nhiều.
Thuộc
Chúng Sanh Thế Gian Thanh Tịnh
a) Tám thứ công đức
thành tựu của Phật:
1. Chỗ ngồi trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Vô lượng đại Bửu vương,
Vi diệu tịnh hoa đài".
Nghĩa là: Đức Phật là
đấng Vô lượng đại Bửu vương, Ngài ngồi trên đài hoa thanh tịnh vi diệu.
2. Thân trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Tướng hảo quang nhất
tầm,
Sắc tượng siêu quần
sanh".
Nghĩa là: Tướng tốt của
Ngài chiếu sáng một tầm, hình dung xinh đẹp hơn tất cả chúng sanh.
Vì không thể quán được
thân tướng và ánh sáng của đức A Di Đà, nên chỉ căn cứ vào quan niệm của
chúng sanh ở cõi nầy mà quán tưởng tướng tốt và ánh sáng một tầm từ thân
đức Thích Ca chiếu ra làm tiêu chuẩn. Đức Phật có hào quang và tướng tốt
như thế nên siêu việt hơn quần sanh.
3. Miệng trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Như Lai vi diệu âm,
Phạm hưởng văn thập
phương".
Nghĩa là: Ngôn ngữ và âm
thanh của Phật rất nhiệm mầu như tiếng nói của Phạm thiên, âm hưởng nghe
khắp cả mười phương.
4. Tâm trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Đồng địa thủy hỏa
phong,
Hư không vô phân biệt".
Nghĩa là: Tâm Phật bình
đẳng như thể tánh của địa, thủy, hỏa, phong và hư không.
Phật dùng tâm bình đẳng
độ khắp chúng sanh, không có lòng phân biệt. So với vật khí thế gian,
tánh chất bình đẳng vốn đồng, không luận tinh thô tốt xấu, đất đều chở
hết, nước đều cuốn hết, lửa đều đốt hết, gió đều thổi hết, hư không đều
dung nạp hết.
5. Chúng trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Thiên nhơn bất động
chúng,
Thanh tịnh trí hải
sanh".
Nghĩa là: Hết thảy chúng
thiên, nhơn bất động; đều nhờ trí tuệ lớn thanh tịnh mà được vãng sanh
Cực lạc.
6. Thượng thủ trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Như Tu di sơn vương,
Thắng diệu vô quá giả".
Nghĩa là: Như Tu di là
ngôi núi Chúa, thù thắng đẹp đẽ không ai hơn.
Các bậc Bồ tát bất thoái
đại thừa làm thượng thủ có công đức đồ sộ như núi Tu di, không ai hơn
nổi.
7. Chủ trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Thiên nhơn trượng phu
chúng,
Cung kính nhiễu chiêm
ngưỡng".
Nghĩa là: Trên hàng
thượng thủ, Đức Phật là đấng Giáo chủ được chúng thiên nhơn trượng phu
cung kính đoanh vây chiêm ngưỡng.
8. Trú trì trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Quán Phật bổn nguyện
lực,
Ngộ vô không quá giả,
Năng linh tốc mãn túc,
Công đức đại bửu hải".
Nghĩa là: Sanh về Cực
lạc được gặp đức Phật A Di Đà thật không uổng công phu, vì nhờ bổn
nguyện lực của Ngài, chúng sanh mau được đầy đủ công đức lớn như đại
hải.
Bốn thứ công đức thành tựu của Bồ
Tát:
1. Trú thanh tịnh.
Kệ dạy:
"An lạc quốc thanh tịnh,
Thường chuyển vô cấu
luân,
Hóa Phật Bồ tát nhựt,
Như Tu di trú trì".
Nghĩa là: Bồ tát an trú
nơi cõi Cực lạc thanh tịnh, mà vẫn thường du hành khắp nơi để nói pháp
thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh xa lìa các ô nhiễm phiền não. Trong khi
du hành giáo hóa, tuy hóa hiện thân Phật và thân Bồ tát rất nhiều, nhưng
báo thân vẫn an trú bất động và vẫn vững chắc như núi Tu di.
2. Niệm thanh tịnh.
Kệ dạy:
"Vô cấu trang nghiêm
quang,
Nhứt niệm cập nhứt thời,
Phổ chiếu chư Phật hội,
Lợi ích chư quần sanh".
Nghĩa là: Bồ tát có đại
trí huệ thanh tịnh trang nghiêm. Trí ấy có công năng trong một niệm hay
trong suốt một thời gian, soi khắp quốc độ của chư Phật và làm lợi ích
cho hết thảy chúng sanh, diệt trừ các khổ não.
3. Cúng dường thanh tịnh.
Kệ dạy:
"Vụ thiên nhạc hoa y,
Diệu hương đẳng cúng
dường,
Tán Phật chư công đức,
Vô hữu phân biệt tâm".
Nghĩa là: Bồ tát thường
rưới xuống các vật báu trang nghiêm như: thiên nhạc, thiên hoa, thiên y
và diệu hương để cúng dường Phật và tán thán công đức của Phật mà không
hề có tâm phân biệt năng sở.
4) Hóa độ thanh tịnh.
Kệ dạy:
"Hà đẳng thế giới vô,
Phật pháp công đức bảo,
Ngã giai nguyện vãng
sanh,
Thị Phật pháp như Phật".
Ngĩa là: Bồ tát thường
dùng huệ nhãn quan sát xem thế giới nào không có Phật Bảo và Pháp Bảo
thì nguyện vãng sanh về thế giới ấy để giảng dạy Phật pháp, như đức Phật
không khác.
Thuộc Khí
Thế Gian Thanh Tịnh
Mười bảy loại công dức
thành tựu của Quốc độ.
Thanh tịnh công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Quán bỉ thế giới
tướng,
Thắng quá tam giới
đạo"
Nghĩa là: Quốc độ Cực
lạc do thiện căn vô lậu thanh tịnh xuất thế gian tạo thành; quốc độ ấy
hơn hết các quốc độ khác trong ba cõi sáu đường.
Vô lượng công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Cứu cánh như hư
không,
Quảng đại vô biên tế."
Nghĩa là: Quốc độ Cực
lạc mênh mông như hư không, không biết đâu là giới hạn; dù cho tất cả
chúng sanh trong mười phương đều vãng sanh hết về bên ấy, quốc độ ấy
vẫn còn đủ chỗ chứa rộng rãi.
Tánh công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Chánh đạo đại từ bi,
Xuất thế thiện căn
sanh".
Nghĩa là: Quốc độ Cực
lạc là kết quả vô lậu thanh tịnh do công đức tu hành Bát chánh đạo của
hàng tam thừa Thanh văn và hạnh Đại Từ Bi của hàng đại thừa Bồ tát mà
sanh khởi hiển hiện.
Tánh ở đây, tức là
chủng tử, cũng tức là nhân tánh. Tánh công đức thành tựu tức là nói
chủng tử thiện căn huân tập, cấu tạo thành thế giới Cực lạc.
Hình tướng công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Tịnh quang minh mãn
túc,
Như kính nhật nguyệt
luân".
Nghĩa là: Tất cả hình
sắc trong quốc độ Cực lạc thảy đều sáng chói vắng lặng chiếu khắp mười
phương, trong suốt như gương, rực rỡ như ánh sáng mặt trăng mặt trời.
Chủng chủng công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Bị chư trân bảo tánh,
Cụ túc diệu trang
nghiêm".
Nghĩa là: Mọi sự vật
đều có đủ tánh chất trân bảo, đầy đủ vẻ trang nghiêm đẹp đẽ, bất khả
tư nghị.
Diệu sắc công đức trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Vô cấu quang diệm xí,
Minh tịnh diệu thế
gian".
Nghĩa là: Bao nhiêu
hình sắc của Quốc độ Cực lạc đều tinh khiết, quang minh rực rỡ không
vướng bụi nhơ; chói sáng rạng ngời tất cả thế gian bất khả tư nghị.
Xúc công đức trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Bảo tánh công đức
thảo,
Nhu nhuyến tả hữu
triền.
Xúc sanh thù thắng
lạc,
Quá ca chiên lân đà".
Nghĩa là: Cỏ công đức
do chủng tử thanh tịnh sanh ra, mịn màng như gấm trải; đụng đến cỏ ấy
cũng đều có cảm giác êm dịu thích thản lạ lùng, hơn xa thứ cỏ Ca chiên
lân đà là một thứ cỏ rất mịn ở Ấn độ.
Trang nghiêm công đức thành tựu có ba
loại:
a/ Nước trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Bảo hoa thiên vạn
chủng,
Di phú trừ lưu tuyền.
Vi phong động hoa
diệp,
Giao thác quang loạn
chuyển".
Nghĩa là: Hoa báu ngàn
muôn thứ, che phủ các suối hồ, gió dịu rung cành hoa, lung linh mặt
nước động!
b/ Đất trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Cung điện chư lâu
các,
Quán thập phương vô
ngại.
Tạp thọ dị quang sắc,
Bảo lan biến vi
nhiễu".
Nghĩa là: Từ cung điện
lầu gác trông ra, thấy suốt được mười phương không chướng ngại; hào
quang màu sắc tân kỳ xuyên qua các hàng cây, lan can báu đoanh vây bốn
phía cung điện.
c/ Hư không trang
nghiêm.
Kệ dạy:
"Vô lượng bảo giao
lạc,
La võng biến hư không.
Chủng chủng linh phát
hưởng,
Tuyên dương diệu pháp
âm".
Nghĩa là: Vô lượng
châu ngọc xen nhau kết thành lưới, bao phủ khắp hư không; các thứ linh
rung động tạo thành những âm hưởng tuyên dương các phép mầu.
Mưa trang nghiêm.
Kệ dạy:
"Vũ hoa y trang
nghiêm,
Vô lượng hương phổ
huân".
Nghĩa là: Tại quốc độ
Cực lạc có những trận mưa hoa, mưa y phục, mưa đồ trang sức và vô
lượng hương báu xông khắp quốc độ.
Quang minh công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Phật huệ minh tịnh
nhựt,
Trừ thế si ám minh".
Nghĩa là: Hào quang
trí huệ của Phật chiếu tan màn ngu si của chúng sanh như ánh sáng mặt
trời soi tan màn tối tăm của thế gian.
Âm thanh công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Phạm thanh ngữ thâm
viễn,
Vi diệu văn thập
phương"û.
Nghĩa là: Ở quốc độ
Cực lạc, âm thanh của Phật, Bồ tát và chúng Thanh văn cho đến âm thanh
của gió và nước v.v... mỗi mỗi đều thâm diệu như tiếng Phạm thiên và
vọng ra xa đến tận mười phương, khiến tất cả thính chúng đều nghe thấy
được.
Chủ công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Chánh giác A Di Đà,
Pháp vương thiện trú
trì".
Nghĩa là: Đức Phật A
Di Đà làm chủ thế giới Cực lạc, Ngài là vị Pháp vương khéo chủ trì thế
giới ấy.
Quyến thuộc công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Như lai tịnh hóa
chúng,
Chánh giác hoa hóa
sanh".
Nghĩa là: Nhân dân ở
thế giới Cực lạc đều là quyến thuộc thanh tịnh của Phật và đều do hoa
sen chánh giác mà hóa sanh.
Thọ dụng công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Thọ lạc pháp trung
vị,
Thiền tam muội vi
thực".
Nghĩa là: Chúng sanh ở
thế giới Cực lạc hưởng thọ hương vị của chánh pháp và thiền tam muội
làm thức ăn.
Vô chư nạn công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Vĩnh ly thân tâm não,
Thọ lạc thường vô
gián".
Nghĩa là: Vĩnh viễn xa
lìa các sự khổ não của thân như thiếu thốn cơm áo vật dụng, lại cũng
vĩnh viễn xa lìa các sự khổ não của tâm như tham sân si v.v...; cho
nên chúng sanh ở quốc độ Cực lạc thường hưởng thọ sự vui thích, không
lúc nào gián đoạn.
Đại thừa thâm lý công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Đại thừa thiện căn
giới,
Đẳng vô cố hiềm danh.
Nữ nhơn cập căn
khuyết,
Nhị thừa chủng bất
sanh."
Nghĩa là: Quốc độ Cực
lạc là cảnh giới của những kẻ có thiện căn đại thừa, nhứt loạt bình
đẳng; không có hàng nhị thừa, phụ nữ và những kẻ lục căn khiếm khuyết,
vì vậy ở đấy tuyệt đối không có cái gì đáng chê trách, mà cũng không
có danh từ chê trách.
Hy cầu công đức thành tựu.
Kệ dạy:
"Chúng sanh sở nguyện
lạc,
Nhất thế năng mãn túc."
Nghĩa là: Những nguyện
vọng gì của chúng sanh, một khi sanh về đó thì đều được thỏa mãn.
Trên đây là 29 thứ công
đức trang nghiêm thành tựu của thế giới Cực lạc mà luận Vãng sanh đã
trình bày. Hành giả trong khi tu hành phép trì danh niệm Phật, nên chiếu
ý nghĩa từng loại một mà quán tưởng để huân tập thêm tịnh nghiệp và giúp
cho phương pháp niệm Phật mau thành tựu, khiến cho kết quả vãng sanh
càng thêm chắc chắn.