PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
H.T. THÍCH TRÍ THỦ
biên tập
---o0o---
Chương IV
Trì Danh Niệm Phật
Tiết Thứ
1
So Sánh
Ba Pháp: Thật Tướng Niệm Phật,
Quán
Tưởng Niệm Phật, và Trì Danh Niệm Phật
Nói niệm Phật không phải chỉ niệm nơi miệng mà thôi. Theo nghĩa đen,
niệm nghĩa là nhớ nghĩ. Cho nên khi tâm ta nhớ nghĩ đến Phật tức là niệm
Phật. Vì vậy phương pháp niệm Phật gồm có ba loại:
a.Trì danh niệm Phật tức là chuyên trì tụng danh hiệu Phật nơi miệng.
b. Thật tướng niệm Phật tức
là thâm nhập nghĩa lý chơn thật của Phật dạy (đệ nhất nghĩa đế).
c. Quán tưởng niệm Phật tức là quán tưởng cảnh giới Cực lạc của đức Phật
A Di Đà.
Thật tướng niệm Phật cũng tức là quán tưởng thật tướng của Phật. Kết quả
sở đắc của phương pháp nầy là Chơn như tam muội, cũng gọi là Nhất hạnh
tam muội. Tam muội nghĩa là chánh định, chỉ cho cảnh giới đạt được trong
định khi sự tu tập đã thành tựu. Pháp môn nầy vốn thuộc về Thiền tông,
nhưng cảnh giới hiển hiện sau khi công hạnh tu thiền thành tựu chính là
cảnh giới Tịnh độ, nên cũng nhiếp vào pháp môn Tịnh độ. Với pháp môn
nầy, nếu không phải là bậc căn khí tối thượng thì không thể ngộ nhập,
cho nên những hàng trung, hạ trí không thể tu tập được. Trong pháp môn
Tịnh độ vì thế ít khi đề cập đến phương pháp nầy, mà riêng nhường cho
Thiền tông đề xướng.
Quán tưởng niệm Phật là một phương pháp y theo kinh quán Vô Lượng thọ mà
thiết lập. Phương pháp nầy chia cảnh giới y báo và chánh báo trang
nghiêm ở quốc độ Cực lạc của đức Phật A Di Đà thành 16 phép quán qua 16
giai đoạn. Khi quán hạnh đã thuần thục, sức quán đã mạnh mẽ thời mở mắt
nhắm mắt đều thấy cảnh giới Cực lạc. Trong hiện tại có thể chuyển biến
thế giới Sa bà thành thế giới Cực lạc. Không cần phải đợi tới lúc lâm
chung sanh về Cực lạc mới hưởng thọ cảnh giới ấy mà ngay trong hiện tại
đã hưởng thọ rồi. Công hiệu của phương pháp quán tưởng niệm Phật thật là
lớn lao, không thể tả xiết.
Chánh định Tam muội chứng được là do tu theo phương pháp nầy nên có tên
riêng là "Ban châu Tam muội" hay "Phật lập Tam muội". Phương pháp quán
hạnh nầy quá vi tế huyền diệu và có 5 điều khó thành tựu:
-
Căn cơ ám độn, khó thành tựu.
-
Tâm thô tháo, khó thành tựu.
-
Thiếu phương tiện thiện xảo, khó thành
tựu.
-
Nhận thức không sâu, khó thành tựu.
-
Tinh lực bất cập, khó thành tựu.
Nếu có 5 điều kiện nghịch lại 5 điều kiện trên là: căn cơ thông lợi, tâm
niệm tế nhuyến, phương tiện thiện xảo, nhận thức sâu sắc, gây được ấn
tượng mạnh mẽ, tinh thần cương kiện thì kết quả được xem như đã nắm chắc
ở trong tay. Nhưng có đủ điều kiện như thế, thật là vạn người chưa được
một. Vì thế, phương pháp nầy cũng ít phổ cập trong quần chúng.
Phương pháp trì danh niệm Phật,
so với hai phương pháp trên thì thật là dễ dàng hơn bội phần. Bất luận
là trung hay hạ trí, hễ có phát tâm chuyên niệm danh hiệu Phật, không ai
là không làm được. Niệm niệm tích lũy lâu ngày cho đến khi được "Nhất
tâm bất loạn" thì liền chứng Tam muội. Tam muội nầy có tên riêng là
"Niệm Phật Tam muội". Trải qua hơn 2000 năm, các bậc Đại đức nối tiếp
nhau đề xướng và thật hành phương pháp nầy, đã thâu hoạch được nhiều kết
quả... Hiện tại, phương pháp nầy thâm nhập nhân gian, phổ cập khắp quần
chúng và không ai là không biết niệm sáu tiếng "Nam mô A Di Đà Phật". Lý
do thâm nhập và phổ biến của phương pháp nầy là hễ có tu là có thành,
rất thích hợp với mọi căn cơ, bất cứ kẻ trí người ngu đều thâu nhiếp
được một cách dễ dàng. Số người nhờ phương pháp nầy mà được độ thoát, so
với các tông phái khác, chiếm đến bảy, tám mươi phần trăm.
Cứ xác thật mà nói thì đạo lý của pháp môn nầy hàm chứa tinh ba của các
pháp môn khác một cách sâu xa rộng rãi. Không những so với các pháp môn
khác, nó đã không kém thua, mà trái lại, tinh ba của các pháp môn khác
đều thu trọn vào trong một pháp môn nầy. Nó có đủ khí độ rộng rãi tập
hợp sự đại thành của các tông phái khác. Vì vậy, nếu bàn đến hiệu quả,
bàn đến học lý, bàn đến khó dễ, không một tông phái nào so sánh kịp!
Có người vì không nhận thức rõ ràng chân giá trị của phương pháp trì
danh niệm Phật nầy và vì thấy nó quá dễ dàng ai cũng thật hành được nên
liền vội cho là một pháp môn dành cho hàng ngu phu thất phụ, chứ người
thức giả thì không cần để ý đến. Họ đâu có ngờ rằng người nói như vậy
mới chính là người ngu, vì chính ngay họ chưa nhận thức được phần nào
nguyên lý hàm chứa trong pháp môn nầy. Giả sử người ấy có một nhận thức
thấu đáo và chân chính, tưởng e rằng không những tự họ, họ sẽ triệt để
khâm phục sùng bái, mà dù cho gặp phải hoàn cảnh khó khăn buộc họ có
phải bỏ mình đi nữa, họ cũng không thể quên được niệm Phật!
Tiết Thứ 2
Các Phương Pháp Trì Danh
Niệm Phật hay trì danh tức là đọc sáu chữ"Nam mô A Di Đà Phật "hoặc chỉ
đọc bốn chữ "A Di Đà Phật" cũng được.
Sáu chữ nầy từ tiếng Phạn phiên âm ra. Nếu cắt nghĩa từng chữ một theo
Phạn ngữ thì có bốn chữ mà thôi. Trước hết, chữ "Nam Mô" có sáu nghĩa:
kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng. Chữ "A" nghĩa là
không, là vô. Chữ "Di Đà" nghĩa là lượng. Chữ "Phật" nghĩa là giác giả.
Hợp cả sáu chữ lại, có nghĩa là: quy y kính lễ đấng Giác ngộ vô lượng.
Đức Phật A Di Đà là Giáo chủ thế giới Cực Lạc, Ngài đã từng phát nguyện
rằng ai niệm danh hiệu Ngài, lúc lâm chung sẽ được Ngài tiếp dẫn sanh về
nước Cực lạc (xem lại đại nguyện 18, 19 và 20). Vì thế, về sau căn cứ
vào đó mà xưng danh hiệu Ngài.
Lại nữa, trong kinh "Phật Thuyết A Di Đà", dạy rằng: "Đức Phật kia cùng
nhân dân đều có thọ mạng vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp cho nên gọi là
A Di Đà". Thọ mạng nghĩa là thân mạng sống lâu; a tăng kỳ nghĩa là vô
số, không thể đếm được. Vì thế, có chỗ gọi Ngài là Đức Phật Vô lượng
thọ. Khi xưng niệm, ta có thể đọc: "Nam mô Vô lượng thọ Phật" cũng được.
Nhưng nói vô lượng thọ thì hai chữ vô lượng bị hạn cuộc trong phạm vi
hẹp hòi của sự thọ mạng mà thôi. Kỳ thật ra, A Di Đà còn bao hàm cả
nghĩa vô lượng quang minh, vô lượng công đức v.v... bất cứ đức tánh nào
của Ngài cũng vô lượng cả. Vì vậy cứ để nguyên âm mà xưng niệm, ý nghĩa
mới rộng rãi, hợp lý, và bao quát được mọi khía cạnh khác như: tôn
nghiêm vô lượng, từ bi vô lượng, thần thông vô lượng v.v...
Vì muốn thích hợp với mọi hoàn cảnh, mọi tâm niệm, mọi căn cơ, nên cùng
một việc niệm Phật mà có nhiều phương pháp sai khác nhau. Mỗi phương
pháp lại có nhiều tác dụng đặc biệt riêng của nó. Khi niệm Phật, người
tu hành nên y theo các phương pháp nêu ra sau đây, chọn lấy phương pháp
nào thích hợp nhất với căn cơ và hoàn cảnh của mình mà hành trì. Nếu tu
niệm trong một thời gian mà thấy rằng phương pháp mà mình đã chọn lựa
không trấn tỉnh được tâm vọng động thì nên bỏ phương pháp đó, chọn lại
một phương pháp khác. Lắm lúc phải chọn đi chọn lại 5, 7 lần mới tìm ra
một phương pháp thật thích hợp. Phương pháp nào trấn định được tâm cảnh,
tiêu trừ được vọng niệm thì đó là phương pháp hay nhất đối với mình.
Cũng như đối với thầy thuốc, phương thang nào chữa đúng căn bệnh là
phương thang hay. Đối với chúng
sanh, vọng niệm là căn bệnh, thuốc là danh hiệu Phật, hễ phương pháp nào
trị được căn bệnh vọng niệm, ấy là phương pháp thiện xảo nhất, đừng nên
câu nệ.
Sau đây, xin giải thích rõ từng phương pháp một để hành giả y theo mà
hành trì cho phải phép. Lại nên nhớ thêm rằng "trì danh" là phương pháp
tụng niệm của đường lối tu Tịnh độ. Đó là một điểm trọng yếu.
a) Niệm cao tiếng: Đem hết cả
tinh lực toàn thân dồn vào một câu niệm Phật khác nào tiếng đại hồng
chung, những tiếng sư tử rống, át cả trời đất vũ trụ. Theo phương pháp
nầy thì hao hơi rát cổ nhiều, không thể trì niệm lâu được. Tuy nhiên nó
có công năng đối trị được bệnh hôn trầm, giải đãi, trừ khử được tạp niệm
lăng nhăng. Khi niệm Phật thấy mơ màng muốn ngủ gục, hoặc thấy tư tưởng
bị chao động, hành giả nên mạnh mẽ đề khởi tinh thần, cất cao giọng niệm
to tiếng làm trí não thức tỉnh, chánh niệm khôi phục và sẽ được linh
hoạt như cũ. Niệm Phật cao tiếng có tác dụng rất lớn lao. Hơn nữa, nó
còn làm cho người hai bên nghe rõ tiếng niệm và khiến họ lần lần sanh
khởi tâm niệm Phật.
Ngày xưa, lúc Ngài Vĩnh Minh Thọ Thiền Sư niệm Phật tại chóp núi Nam
Bình, tỉnh Hàng Châu, những người qua lại dưới chân núi nghe tiếng rang
rảng như tiếng nhạc trời đánh giữa hư không, khiến cho ai nấy đều rất
thâm cảm. Chính Ngài đã áp dụng phương pháp nầy vậy.
b) Mặc niệm: Lúc niệm, môi miệng
chỉ hơi mấp máy không phát ra tiếng. Người ngoài nhìn vào, không biết là
đương niệm. Tuy không phát ra tiếng, nhưng sáu chữ "Nam mô A Di Đà Phật"
đương sáng ngời và rang rảng trong tâm thức hành giả, vô cùng rõ ràng.
Nhờ sự sáng ngời và rang rảng ấy mà tâm thần định tỉnh, chánh niệm ngưng
tụ thành một khối, khiến cho hiệu lực của nó không khác hiệu lực của
niệm Phật có tiếng.
Phương pháp niệm nầy có thể áp dụng trong khi nằm nghỉ, khi tắm rửa, lúc
bệnh hoạn, lúc phóng uế, hoặc trong khi ở hội trường công cộng hay khi
lữ thứ tha phương v.v... tóm lại là trong những trường hợp không tiện
niệm ra tiếng.
c) Niệm Kim Cang: Niệm thư thả,
hòa hoãn tiếng không lớn quá, không nhỏ quá. Bất luận là niệm bốn chữ,
hay sáu chữ, hành giả vừa niệm vừa lắng tai nghe lại tiếng niệm của mình
từng chữ một, thật rõ ràng. Cứ vừa niệm vừa nghe như thế, trí óc sẽ
không bị xao lãng và tâm thần định được.
Phương pháp nầy hiệu lực rất lớn lao, cho nên đem ví dụ với ngọc kim
cang. Kim nghĩa là vàng, thí dụ cho sự cô động cẩn mật; cang nghĩa là
cứng, thí dụ cho sự cứng rắn. Vừa cẩn mật vừa cứng rắn thì ngoại cảnh
khó xâm nhập và tạp niệm dễ bị đánh tan.
Trong các phương pháp niệm phật, phương pháp nầy được thường dùng hơn
hết. Với phương pháp nầy lại có tên là Phản văn niệm Phật nghĩa
là niệm chữ nào trở lại nghe chữ ấy, chữ ra từ miệng lại trở về tai.
d) Niệm giác chiếu: Một mặt xưng
danh hiệu Phật, một mặt quay tâm trí của mình trở lui soi xét tự tánh.
Với phương pháp nầy, cảnh đối tượng trước mắt đều bị đẩy lùi hết, chỉ
còn một cảm giác linh động trong tâm thôi. Ấy là cảm giác tâm ta tâm
Phật, thân ta thân Phật, cả hai cùng ngưng tụ thành một khối sáng chói
lọi, tròn vành vạnh. Ngoài ra, các cảnh giới bao la trong mười phương
như sơn hà đại địa, nhà cửa khí cụ, nhất nhất thảy đều mất tung tích cho
đến thân tứ đại của hành giả cũng không biết lạc mất ở chỗ nào. Được như
vậy thì báo thân chưa xả mà cảnh Tịch quang đã chứng. Danh hiệu Phật vừa
tuyên lên là đồng thời hành giả chứng nhập tam muội, đem thân phàm phu
dự vào cảnh giới chư Phật.
Thật không có phương pháp nào so bằng phương pháp nầy. Nhưng có điều
đáng tiếc là, phi bậc thượng thượng trí, ít ai lãnh hội và thật hành
nổi. Vì vậy mà sức cảm hóa của phương pháp nầy có hơi hẹp.
đ) Niệm quán tưởng: Một mặt xưng
danh hiệu Phật, mặt khác quán tưởng thân Phật và Bồ tát trang nghiêm
đương lồ lộ đứng trước mặt ta. Do tự kỷ ám thị tưởng tượng ra các cảnh
như cảnh Phật đương đưa tay thoa đầu ta hoặc lấy áo phủ lên mình ta,
hoặc như cảnh đức Quán Âm và đức Thế Chí đương đứng hầu hai bên đức
Phật, còn Thánh chúng thì đương đoanh vây hai bên thân ta. Lại có thể
quán tưởng cảnh đất vàng, hồ báu của thế giới Cực lạc với lâu đài tráng
lệ, lưới báu bủa giăng, hoa nở,chim kêu đương phát ra tiếng niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng v.v...
Nếu quán tưởng nầy đã thành thục, thì tuy nhục thân đương ở cõi Sa bà mà
thức thần đã dạo chơi trên Cực lạc. Hoặc nếu quán tưởng chưa chơn thuần
thì nó vẫn có thể làm trợ duyên cho sự niệm Phật bằng cách giúp cho tịnh
nghiệp dễ thành tựu.
Phép tu quán tưởng nầy lâu ngày càng thuần thục càng tạo được một ấn
tượng rõ ràng và sâu sắc trong tầm mắt của hành giả. Một ngày kia khi
báo thân suy tạ, trần duyên ở cõi đời nầy dù cám dỗ đến đâu, cũng khó
lôi cuốn khiến phải liên lụy. Như vậy, thắng cảnh Cực lạc nhất thời đã
hiện ra trước mắt rồi.
e) Niệm truy đảnh: Cũng giống
như phép niệm kim cang nói đoạn trước, nhưng giữa chữ trước và chữ sau,
giữa câu trước và câu sau, đừng để xen hở. Chữ nọ bồi vào chữ kia, câu
sau chồng lên câu trước, trung gian không cho dứt hở, nên gọi là truy
đảnh . Truy nghĩa là đuổi theo, đảnh nghĩa là đầu.
Nhơn vì nghĩa truy đảnh, câu câu truy đảnh một cách chặt chẽ, nên tạp
niệm không cách gì xen vào được. Trong lúc niệm, do trong lòng tình tự
khẩn trương, tâm và khẩu cùng xúc tiến một lần, phát sanh được chánh
niệm. Uy lực của chánh niệm càng lớn càng lấn át tất cả, làm cho tâm
tưởng vô minh tạm thời phải chìm lặng.
Phương pháp niệm nầy có hiệu lực rất lớn, xưa nay thường được số đông
các bậc tu tịnh nghiệp dùng đến.
g) Niệm lễ bái: Đồng thời trong
khi miệng niệm thì thân lạy, hoặc niệm xong một câu thì lạy một lạy,
hoặc bất kể miệng niệm nhiều hay ít, hễ cứ miệng niệm thì thân lạy, thân
lạy thì miệng niệm.
Có niệm có lạy liên tục nên khiến cho thân khẩu hợp nhất; đồng thời
trong lúc ấy, ý chỉ nghĩ đến Phật nên cả tam nghiệp thân,khẩu,ý cùng tập
trung, sáu căn và các giác quan đều quy về một mối, không còn có chỗ hở
nào cho trần sự xen vào, cũng không có một niệm nào khác làm chao động
tâm niệm tưởng Phật, nhớ Phật.
Muốn áp dụng phương pháp nầy, phải đặc biệt tinh tấn. Hiệu lực của nó
cũng đặc biệt lớn lao. Duy chỉ có một điều hại, lễ bái quá nhiều sinh
nhọc sức, phí hơi thở; người yếu không làm nổi. Vậy chỉ nên kiêm dụng
với các phương pháp khác, chứ không nên chuyên trì, sợ e mất sức, sanh
bệnh.
h) Niệm từng loạt 10 niệm (sổ thập):
Khi niệm dùng chuỗi hạt để ghi số loạt, cứ
mỗi loạt mười câu. Sự ghi số có nhiều cách: hoặc mỗi lần niệm được mười
câu thì lần một hạt; hoặc niệm ba câu một hơi, làm như vậy ba lần, đến
câu tiếp thì lần một hạt chấm câu; hoặc ba câu một hơi, rồi hai câu một
hơi nữa, như vậy hai lần rồi lần một hạt. Như vậy là cứ mỗi khi lần một
hạt chuỗi tức là đã niệm xong mười niệm.
Phương pháp nầy bắt buộc tâm hành giả vừa niệm Phật, lại phải vừa nhớ số
câu niệm; cho nên dù tâm không chuyên, buộc cũng phải chuyên. Nhờ có sự
cưỡng bức ấy mà đối trị được các tạp niệm lăng xăng, tâm trở nên chuyên
nhất. Thật là một phương pháp hay và rất thích nghi với những kẻ nào mà
tâm niệm quá chao động.
i) Niệm đếm theo hơi thở (sổ tức):
Niệm như phép truy đảnh trước kia, không kể
số danh hiệu Phật niệm được nhiều hay ít, chỉ dùng hơi thở làm chứng.
Bắt đầu thở ra thì niệm cho đến khi hết hơi thở, nghỉ niệm mà hít hơi
vào. Khi thở ra lại tiếp tục niệm như trước. Cứ mười lần như vậy, thì
gọi là mười hơi niệm.
Phương pháp nầy sở dĩ thiết lập ra đặc biệt dành riêng cho những người
quá bận rộn, tiện cho sự thực hành hằng ngày. Chẳng hạn như, mỗi ngày
sáng sớm ngủ dậy, sau khi rửa mặt súc miệng xong, day mặt về hướng Tây
hoặc hướng trước Phật đài, bỏ ra năm phút là niệm xong mười hơi. Công
việc không cố sức, như người tập thể thao làm những cử động hô hấp. Nếu
ngày nào cũng chuyên cần như vậy, thì cũng nhất định được vãng sanh.
Đây là căn cứ theo đại nguyện thứ 18 của đức Phật A Di Đà (xem trước) mà
thiết lập phương nầy. Các vị Cổ đức nghiên cứu và tu tập phương pháp
thập niệm, chính là phương pháp niệm theo 10 hơi thở nầy.
k) Niệm theo thời khóa nhất định.
Điều tối kỵ nhất trong phép niệm Phật là
lúc bắt đầu thì hăng hái mà về sau lại giải đãi. Sở dĩ có sự thủy cần
chung đãi như vậy là vì không có tâm hằng thường. Cho nên, để giữ cho
được thủy chung như nhất, ngay từ khi sơ phát tâm niệm Phật, hành giả
cần phải tự vạch cho mình một thời khóa biểu nhất định. Một khi thời
khóa biểu đã vạch sẵn rồi thì ngày ngày cứ y theo đó mà thật hành, tự
gây cho mình một thói quen, và có như thế mới giữ được đạo tâm bất
thoái. Trong buổi đầu, niệm nhiều hay ít chưa phải là điều quan trọng vì
nhiều hay ít còn tùy thuộc năng lực và hoàn cảnh riêng biệt từng cá
nhân; quan trọng là tại chỗ thường thời thật hành, đều đều và chuyên
nhất.
Người xưa có vị mỗi ngày niệm đến 10 vạn hiệu. Vị nào ít lắm cũng 5 vạn.
Công hạnh tu hành của họ thật là tinh tấn dõng mãnh! Ngày nay, hoàn cảnh
thay đổi khác xưa rất xa mà lực lượng của tự thân ta cũng không bằng,
vậy ta nên châm chước hoạch định một công khóa thật sát với hoàn cảnh và
vừa sức của ta, để thực hành cho đúng mức. Sau khi đã hoạch định rồi thì
dù gặp phải công việc bận rộn đến đâu, cũng phải cố gắng hoàn thành công
khóa. Vạn nhất, vì một lẽ nào đó không hoàn tất được ngày ấy thì qua hôm
sau phải bổ khuyết kịp thời, chớ nên để rày lần mai lữa, tạo thành cho
ta một thói xấu rất có hại về sau.
Trong khi vạch khóa trình, nên tránh hai cực đoan, cực đoan thứ nhất là
vì sự hăng hái trong buổi đầu, tự định cho mình khóa trình quá nhiều, về
sau đuối sức theo không kịp, rồi vì vậy bỏ luôn; cực đoan thứ hai là vì
sự e ngại về sau theo không kịp, nên dè dặt tự định cho mình một khóa
trình quá ít, không thấm vào đâu, rồi cũng sinh ra giải đãi. Cả hai cực
đoan đều đem đến kết quả như nhau. Cho nên trong khi quyết định khóa
trình, cần phải tế nhị châm chước dung hòa giữa hoàn cảnh và năng lực
thế nào cho vừa phải mới được lâu dài và hữu hiệu.
l) Niệm bất cứ lúc nào. Với
những hành giả đã huân tập được tịnh chủng khá thành thục thì tự nhiên
phát ra những tiếng niệm Phật bất cứ lúc nào, cơ hồ như có một sức lực
dõng mãnh bên trong thúc đẩy, khiến cho hành giả hằng tiến không lùi. Vì
vậy mà dù công khóa đã hoàn tất, các vị nầy vẫn chưa cho là đủ, nên trừ
ngoài giấc ngủ, bất luận ngày đêm, trong bốn uy nghi là đi, đứng, nằm,
ngồi, không lúc nào, không chốn nào, là không niệm Phật. Như vậy câu"Nam
mô A Di Đà Phật"không lúc nào rời khỏi miệng, lâu ngày thành tập quán.
Truyện vãng sanh của người xưa còn ghi chép lại rất nhiều trường hợp
vãng sanh do pháp môn niệm Phật nầy đem lại. Như có ông thợ rèn, tay đập
búa miệng niệm Phật; bà làm nghề đậu hũ, tay xay đậu miệng niệm Phật; về
sau, khi vừa dứt tiếng niệm Phật, cả hai đều được đức Phật phóng hào
quang tiếp dẫn và đều được tọa hóa vãng sanh Cực lạc.
Chúng ta nên lấy đó làm gương. Nếu niệm được đến trình độ ấy thì dù có
định khóa trình hay không định khóa trình, không còn là vấn đề nữa.
m) Niệm hay không niệm vẫn là niệm.
Phép niệm Phật nói ở đoạn trên là chỉ sự
niệm thành tiếng, phát ra nơi cửa miệng, trong bốn uy nghi đi, đứng,
nằm, ngồi. Chữ Niệm trong đoạn nầy chỉ là tâm niệm (tâm niệm nhớ nghĩ
đến Phật). Nói "niệm hay không niệm vẫn là niệm", có nghĩa là bất kể
miệng có niệm thành lời hay không, luôn luôn trong tâm vẫn tưởng nhớ đến
Phật tức là vẫn có niệm Phật.
Sở dĩ miệng phải niệm Phật là cốt nhắc cho trong tâm tưởng nhớ đến Phật.
Giờ đây, dù cho khi miệng không niệm mà tâm vẫn có tưởng nhớ, như thế
cứu cánh của phép trì danh niệm phật đã được rồi vậy.
Nếu hành giả thực hiện được phép "không niệm mà niệm" thì bất luận thì
gian nào, bất luận miệng có trì danh hay không trì danh, tâm lý lúc nào
cũng để vào Phật. Như vậy, tịnh niệm đã kiên cường liên tục không hở,
lòng như rào sắt vách đồng, gió thổi cũng không lọt, ai muốn đập phá
cũng không xuể, quyết không còn một trần niệm ô nhiễm nào có thể đột
nhập, khiến cho tâm chao động được. Lúc ấy phép niệm Phật tam muội, tự
nhiên thành tựu, quả vãng sanh không cầu mà tự đến.
Người xưa nói "niệm mà không niệm, không niệm mà niệm" tức là chỉ cho
cảnh giới nầy vậy. Nếu không phải là người niệm Phật đã lâu năm, và do
đó công hạnh đã thuần thục, thì quyết không thực hành được pháp môn nầy.
Hàng sơ cơ quả thật khó mà noi theo.