PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
H.T. THÍCH TRÍ THỦ
biên tập
---o0o---
Chương III
Đường Lối Tu Tịnh Độ
Tiết Thứ 1
Ba Tư Lương: Tín, Nguyện, Hạnh
Pháp môn Tịnh độ dễ tu nhưng khó tin. Trong kinh "Phật Thuyết A Di Đà",
đức Thích Tôn cũng thừa nhận như thế.
Đã thế rồi, pháp môn nầy lại còn nương tựa hoàn toàn vào lòng tin để
thành lập, nương tựa vào lòng tin để duy trì. Có lòng tin mới sanh khởi
hành động rồi mới đạt được nguyện vọng nhân viên quả mãn. Nếu không có
lòng tin vững chắc thì tuy cửa Phật rộng mở, cũng không dễ gì vào được.
Vì Vậy nên Tín, Nguyện, Hạnh gọi là ba món tư lương về Tịnh độ.
Nói tư lương cũng như nói người muốn đi xa cần phải có tiền của (tư) và
lương thực (lương). Nếu thiếu một trong hai thứ đó thì khó mà đạt được
mục đích mình muốn đến. Cũng thế, ba món tư lương cần có để lên đường về
Tịnh độ cũng không thể thiếu một. Hơn nữa, ba món nầy liên hệ mật thiết
với nhau theo thứ tự trước sau tiếp nối sanh khởi. Trước hết phải do có
lòng tin thắm thiết mới có sanh nguyện cầu; do nguyện cầu thành khẩn mới
hăng hái hành động. Nếu lòng tin không có thì quyết nhiên nguyện và hạnh
không thể thành lập được.
Tín là căn bản của người tu hành pháp môn Tịnh độ.
Thứ nhất, phải tin rằng ba bộ kinh nói về Tịnh độ là do đức Thích Tôn vì
lòng từ bi chân thật mà dạy cho chúng ta, quyết không phải như sách ngụ
ngôn giả thiết để khuyến tu.
Thứ hai, phải tin rằng ngoài thế giới ô-uế mà chúng ta hiện sống, chắc
thật có thế giới Tịnh độ trang nghiêm.
Thứ ba, phải tin rằng 48 lời đại nguyện của đức Phật A Di Đà cùng là
những công hạnh kiến lập cõi Tịnh độ của Ngài là chân thật, cũng như
việc Ngài đang ứng hóa độ sanh tại cảnh giới Tịnh độ ấy là chân thật.
Thứ tư, phải tin rằng sanh Tịnh độ hay uế độ hoàn toàn do nhân quả, hễ
trồng nhân uế thì đuợc quả uế; hễ trồng nhân tịnh thì được quả tịnh
không liên quan gì đến vấn đề thưởng phạt.
Thứ năm, phải tin rằng chánh niệm của ta cùng tâm niệm của đức A Di Đà
chắc chắn cảm ứng với nhau, lâm chung thế nào cũng được Ngài tiếp dẫn
vãng sanh.
Thứ sáu, phải tin rằng tuy ác nghiệp của chúng ta có nhiều, nhưng một
khi đã sanh về Tịnh độ, nhờ có hoàn cảnh tốt đẹp thuận tiện, nhờ ơn giáo
huấn thường xuyên của Phật và Bồ tát, ác niệm không thể sanh khởi lại và
ác báo do đó sẽ lần lần tiêu trừ.
Thứ bảy, phải tin rằng sức mình và sức Phật, cả hai đều bất khả tư nghị.
Trong hai sức cùng bất khả tư nghị ấy, sức Phật lại bất khả tư nghị, gấp
trăm ngàn muôn ức lần hơn, cho nên một khi được tiếp dẫn, sức mình còn
kém cỏi thì với sức Phật cũng đủ giúp ta vãng sanh.
Thứ tám, phải tin rằng Phật có vô số Pháp môn giải thoát, Phật có công
năng kiến lập thế giới trong một mảy trần. Giá như chúng sanh trong mười
phương đều sanh trong mảy trần ấy, hết thảy phòng ốc dụng cụ đều trang
nghiêm đầy đủ, không thiếu một thức gì.
Thứ chín, phải tin rằng khi niệm một tiếng Phật tức thời đức Phật liền
nghe và liền thâu nhiếp.
Thứ mười, phải tin rằng hễ mình niệm Phật thì chắc chắn lúc lâm chung
được Phật và Thánh chúng đến tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc,
quyết không còn đọa lạc luân hồi trong sáu đường nữa.
Tóm lại, phải tin chắc chắn rằng những lời Phật dạy trong kinh đều chân
thật, cần phải thâm tín, tuyệt đối không nên sanh tâm ngờ vực. Lòng ngờ
vực là chướng ngại vật không thể vượt qua trên con đường dẫn đến đạo
quả. Có lòng ngờ vực rồi thì tất nhiên nguyện và hạnh sẽ không có cứ
điểm để sanh khởi. Nếu lòng tin kiên cố, tự nhiên phát nguyện cầu sanh
Cực Lạc và đã phát tâm nguyện cầu, tự nhiên chuyên tâm tinh tấn, y pháp
hành trì, không đợi ngoại duyên thúc đẩy.
Người đời nhơn vì căn khí bất đồng, cho nên kiến thức cũng bất đồng. Có
người cho rằng Tịnh độ là cõi hư vô không thật, nên không tin. Có người
cho rằng chết là mất hẳn, không có đời sau, nên không tin. Có người cho
rằng sanh đông sanh tây, chịu khổ hưởng vui là việc ngẫu nhiên, không có
việc gây nhơn hưởng quả, nên không tin. Có người cho rằng niệm Phật cầu
sanh Tây Phương là lối giả thuyết để khuyên người làm lành tránh dữ, chứ
không có cảnh Tây Phương Tịnh độ, túng sử có thật thì quyết không thể
chỉ niệm ít lần danh hiệu Phật mà được vãng sanh, nên không tin. Có
người cho rằng con người vốn đã nặng nghiệp tham, sân si và ích kỷ, dù
có sanh về Tịnh độ thì thói cũ vẫn khó trừ, quyết không thể trong khoảnh
khắc biến thành người hiền được, nên không tin. Có người cho rằng con
người trong thế gian nầy tạo nghiệp ác quá nhiều, đương nhiên phải theo
từng nghiệp mà thọ quả báo, không thể nhờ vãng sanh mà tiêu trừ tất cả
nghiệp dữ trong một lúc, như thế thì không hợp nhân quả, nên không tin.
Có người cho rằng mỗi ngày chỉ cần niệm 10 lần danh hiệu Phật mà cũng
được vãng sanh, đó là lời nói mơ hồ; giả như tất cả chúng sanh ai nấy
đều làm y như thế thì địa ngục hẳn sẽ trống không, thế giới này hẳn
không còn người ở, không thể có việc dễ dàng như thế, nên không tin. Có
người cho rằng tại quốc độ Cực Lạc, dù cho số phòng ốc dụng cụ có nhiều
đến đâu vẫn có số lượng, trong khi ấy thì số chúng sanh được vãng sanh
từ vô thủy đến giờ, theo lời Phật dạy là vô lượng, thế mà không bị nạn
nhân mãn thì thật là mâu thuẫn; vì thế mà không tin. Có người cho rằng
sanh về Tịnh độ, nghĩ gì có nấy, muốn áo có áo, muốn ăn có ăn, khỏi nhọc
công người tạo tác, thật không khác nào lời nói trong mộng; nói như thế
chỉ phỉnh phờ được kẻ ngu phu, thất phụ, vì vậy nên không tin. Có người
cho rằng tại thế giới Cực Lạc, đất vàng, hồ sen, lâu đài thảy đều bằng
thất bảo, không cần kiến tạo, mà tự nhiên thành tựu, đó là chuyện thần
thoại của thời thượng cổ còn sót lại, không hợp với khoa học hiện đại;
vì vậy nên không tin, v. v...
Bao nhiêu vấn đề nghi nan tương tợ phát sanh trong trí óc mọi người. Số
nghi vấn thật là vô lượng, không sức nào chép hết. Ở đây cũng không thể
mỗi mỗi giải đáp tuờng tận từng nghi vấn một. Vì sao? Vì trí thức con
người ở cõi nầy bị hạn cuộc trong một phạm vi nhỏ bé nên đã cố đúc thành
một mớ thành kiến cố chấp. Đem cái mớ thành kiến cố chấp ấy mà phán đoán
sức thần thông biến hóa của chư Phật, của thế giới Cực Lạc do tịnh thức
tổng hợp của vô lượng vô biên vô số chúng sanh phát khởi, thì thật khác
nào đem kiến thức của loài sâu kiến mà bàn luận công trình xây dựng và
quá trình hoạt động của quốc gia xã hội loài người. Dù cho cùng năm mãn
đời, trải qua vô lượng vô số tháng năm, loài sâu kiến cũng không thể nào
dùng suy luận của chúng mà hiểu đúng như sự thật được. Chỉ vì sâu kiến
không phải là người vậy. Cũng tương tợ như thế, chúng ta chưa phải là
Phật thì chưa thể nào hiểu thấu sức thần thông và trí huệ của Phật một
cách tỏ tường. Đã không thấu rõ được thì dù có suy luận đến cùng năm mãn
đời cũng không đem lại kết quả nào. Vì vậy, chúng ta chỉ nên tin lời
Phật mà thật hành theo, quyết không bị lầm lạc và để khỏi bỏ phí thì giờ
trong hí đàm. Nếu tự phụ là thông minh trí tuệ không chịu tin theo,
chung quy sẽ trở lại thua những người thật thà chất phác mà có tín tâm
mạnh mẽ. Sở dĩ sanh tâm tự phụ kiêu căng như thế, chẳng qua là phước đức
thiển bạc nên mới không thọ nạp được một pháp môn giản dị và rất khó gặp
như pháp môn Tịnh độ. Thật cũng đáng tiếc lắm thay!
Trên đây, hoàn toàn đứng về phương diện Tín mà nói, chứ chưa đề
cập đến hai phương diện Nguyện và Hạnh . Nhưng hễ Tín đã
vững chắc thì Nguyện và Hạnh tự nhiên thành tựu, khỏi cần nhắc nhủ,
khuyến hóa. Vì như khi đã tin chắc rằng trước sân nhà có hầm vàng thì tự
nhiên không ai sai bảo, vẫn hăng hái đào bới tìm tòi. Còn nếu nghe nói
có hầm vàng mà chưa chịu đi đào là vì lòng tin chưa vững chắc vậy.
Tiết Thứ 2
Thập Thiện Là Cơ Bản Tu Hành
Thập thiện là mười điều thiện,
thuộc ba nghiệp thân, khẩu, ý.
Thuộc thân nghiệp có ba điều: không sát sanh, không trộm cắp, không dâm
dục (nếu là tại gia thì không tà dâm).
Thuộc khẩu nghiệp có bốn đìều: không nói láo, không nói lời thêu dệt,
không nói hai lưỡi, không nói lời thô bạo.
Thuộc về ý nghiệp có ba đìều: không tham lam, không sân hận, không ngu
si.
Mười điều nầy là căn bản phát sanh ra tất cả các điều thiện khác. Đó
cũng là nền tảng xây dựng mọi cảnh giới an vui.
Người tu hành mà không tu mười điều thiện nầy thì không khác kẻ xây lâu
đài cao ngàn thước trên vũng bùn xập xậy, quyết không hy vọng thành
công.
Đức Phật trong lúc nói kinh Thập thiện nghiệp đạo , đã dạy cho
Long Vương rằng: "Mười thiện nghiệp nầy có công năng làm cho các pháp
như thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cọng, tất cả các pháp mà Phật đã
chứng, thảy đều được viên mãn. Vì vậy các người cần phải tu học thập
thiện. Này Long Vương! Ví như tất cả thành ấp xóm làng đều y vào đại địa
mà an trú, tất cả cỏ cây rừng rú đều y vào đại địa mà sanh trưởng, thì
mười điều thiện nầy cũng vậy. Tất cả thiên nhơn đều y vào "đại địa" thập
thiện mà thành lập, tất cả Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và tất cả Phật
pháp cũng đều y vào "đại địa" thập thiện mà thành tựu được các hạnh Bồ
đề".
Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ , Phật bảo bà Vi Đề Hy rằng: "Muốn
sanh về nước Cực Lạc, phải tu ba phước. Trong ba phước ấy, phước thứ
nhất là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu mười
nghiệp thiện".
Vì thế, người tu pháp môn niệm Phật cần phải tu mười điều thiện để làm
cơ bản cho tịnh nghiệp. Nếu đạo niệm không tha thiết, mười thiện nghiệp
không tu, thời thiệt e khó vãng sanh cảnh giới chư Phật.
Tóm lại, muốn chắc chắn vãng sanh, một mặt cần phải luôn luôn gìn giữ ba
nghiệp thân, khẩu, ý chớ để phạm các điều ác; mặt khác lại phải luôn
luôn chuyên cần niệm Phật thì mới mong thành tựu viên mãn.
Tiết Thứ 3
Đôn Đốc Hết Bổn Phận
Đời và đạo có tương quan mật thiết với nhau và giúp lẫn nhau, nhất là
đối với hàng Phật tử tại gia chưa thoát ly được gia đình, xã hội. Ai
trong nhiệm vụ nào phải lo tròn nhiệm vụ ấy. Là trưởng quan, phải nhất
tâm vì dân vì nước. Là liêu thuộc, phải hết bổn phận của liêu thuộc,
trung thành với chức vụ. Là người buôn bán, phải giữ hàng thật giá đúng,
đừng lừa trẻ dối già. Là thầy thuốc, phải biết thương xót con bệnh, nâng
đỡ kẻ nghèo hèn, và hết lòng điều trị v.v... Nói tóm lại, trong công kỹ
nghệ, mỗi mỗi đều phải làm tròn bổn phận, tận tâm với chức vụ, lại vừa
lo tích công dồn đức, tu học Phật pháp thì nhất định có ngày giải thoát.
Đó là ngoài xã hội.
Trong gia đình lại còn những bổn phận khác. Là cha mẹ, phải nuôi nấng
dạy dỗ con cái thành người. Là con cái, phải hết lòng hiếu thảo với cha
mẹ. Là vợ chồng, anh em, thầy trò, bầu bạn, hợp với lẽ đời. Có làm tròn
hết các bổn phận ấy bấy giờ mới nói đến lẽ đạo. Nếu trái lại, việc đời
bấy như tương, tự thân mình chỉ là "y quan cầm thú" (cầm thú mang áo đội
mũ) thì làm sao có thể nói đến lẽ Đạo được? Với các sự kiện khách quan
và chủ quan thiếu tốt đẹp ấy mà mong thành Phật hoặc cầu sanh nước Phật
thời sợ e tịnh nghiệp chưa kịp thành mà nghiệp quả đã chín trước. Tưởng
khó tránh khỏi quỷ vô thường dắt dẫn vào địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh!
Vì thế, hy vọng rằng toàn thể Phật tử, khi muốn thoát ly sanh tử, tu
theo pháp xuất thế, không những không nên xa bỏ việc đời, lấy việc đời
làm cơ bản cho đạo, khiến cho đời trở nên tốt đẹp hơn và khiến cho đạo
sáng tỏa trong lòng đời. Có như thế, Phật tử tại gia mới mong thành công
chắc chắn và mau chóng.
Thảng hoặc, có người trước kia đã trót lỡ tạo các ác nghiệp, thì hôm nay
nên chí thành ăn năn hối cải, nguyện không tái phạm. Cửa Phật rộng mở
chờ đón người biết sám hối. Một phen đã sám hối rồi, thề quyết không bao
giờ tái phạm trở lại. Hơn nữa, phải cố gắng đền bù tội lỗi trước, bằng
cách làm nhiều việc thiện mới. Được như thế thì ác báo sẽ tiêu tan và
phước đức sẽ tăng trưởng. Ví như cái chai trước kia đựng thuốc độc,
nhưng giờ đây súc chùi sạch sẽ rồi, tự nhiên độc không còn nữa.
Tiết Thứ 4
Rộng Tu Công Đức, Hồi Hướng Quả Vãng Sanh
Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ chép: "Phật bảo ngài A Nan và bà Vy
Đề Hy rằng nếu có chúng sanh nào nguyện cầu sanh về Tây phương Tịnh độ,
nên phát khởi ba tâm thì liền đặng vãng sanh. Ba tâm ấy là: 1) Chí thành
tâm, 2) Thâm tâm, 3) Hồi hướng phát nguyện tâm. Có đủ ba tâm ấy, quyết
được vãng sanh về cõi nước kia".
Danh từ "Thâm tâm" trong kinh chỉ cho cái tâm tu hành các công đức và
thích làm các điều lành.
Danh từ "hồi hướng phát nguyện tâm" chỉ cho cái tâm muốn đem các công
đức đã tu hoặc đem các việc lành đã làm, hướng về quả Cực Lạc để nguyện
cầu vãng sanh.
Trong Phật pháp, việc hồi hướng công đức có một giá trị trọng yếu. Đại
nguyện thứ 20 của đức Phật A Di Đà đã có nói đến. Vậy xin sơ lược giải
thích ý nghĩa của việc hồi hướng công đức như sau:
1. Đức và hiệu của Phật có công năng bất khả tư nghị.
2. Tâm thức thanh tịnh của chúng sanh có công năng bất khả tư nghị.
3. Tâm niệm của chúng sanh cũng có công năng bất khả tư nghị. Hợp cả ba
công năng bất khả tư nghị ấy tạo thành phương pháp Tịnh độ. Cho nên pháp
môn Tịnh độ cũng bất khả tư nghị.
Trên lý thì hành giả chú tâm niệm Phật là đã đủ vãng sanh, nhưng trong
thâm tâm hành giả khi tu pháp môn Tịnh độ, ngoài sức niệm Phật ra, còn
cần phải rộng tu các công đức, hồi hướng quả vãng sanh, là vì:
1) Cần cúng dường đức Phật A Di Đà để trang nghiêm Phật độ.
2) Cần làm các trợ duyên tăng thượng cho đạo quả.
3) Cần phát tâm đại thừa học theo hạnh Bồ tát.
Vì các lẽ trên nên không những chỉ niệm hiệu Phật mà đã cho là đủ được.
Bất cứ việc gì cũng không ly được nhơn quả; dù là pháp thế gian hay pháp
xuất thế gian. Bất luận tâm niệm thiện hay ác hoặc hành động thiện hay
ác đều có hậu quả về sau. Căn cứ vào lẽ ấy, ta có thể biết hành giả tu
tập thiện pháp, trong tương lai quyết phải được phước báo. Giả sử điều
thiện ấy thuộc loại nhơn hữu lậu nhơn thiên, chứ chưa phải cứu cánh an
lạc, vì còn đọa lạc luân hồi. Giả sử điều thiện ấy thuộc loại nhơn vô
lậu xuất thế gian thì trong tương lai sẽ sanh về Ngũ bất hoàn thiên
(cảnh giới của bốn quả Thánh: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na Hàm, A la hán)
hoặc mười phương Tịnh độ.
Nếu vì lý do không muốn thọ hưởng quả báo nhơn thiên vì sợ còn luân hồi
đọa lạc mà hành giả tự nguyện hồi hướng tất cả công đức của mình hoặc
công đức hữu lậu hoặc công đức vô lậu, làm trợ duyên tăng thượng để cầu
vãng sanh Cực Lạc thì phải đem tất cả công đức ấy hồi hướng về quả Cực
Lạc của đức A Di Đà. Như thế thì bao nhiêu nhơn gây phuớc báo nhơn thiên
hữu lậu hoạc vô lậu trước kia sẽ không thành thục được mà địa điểm thành
thục sẽ chỉ ở thế giới Cực Lạc. Đã quy tụ về được một nơi rồi thì dù
tịnh nghiệp chưa hoàn toàn nhưng phước quả vẫn thành tựu. Vì rằng hết
thảy các pháp đều do tâm tạo. Tâm lực đã có công năng trồng nghiệp quả
thì cũng có công năng chuyển nghiệp quả. Vì thế, khi hành giả hướng tất
cả thiện nghiệp về quả Cực lạc, tâm niệm ấy không những có công năng
điều hòa các chủng tử vô lậu đã huân tập trong đệ bát thức, nó lại còn
khiến cho các chủng tử ấy biến chất thành chủng tử tịnh pháp hoàn toàn
vô lậu. Chủng tử đã quyết định được rồi, như vậy địa điểm tương lai sẽ
hưởng thọ quả báo cũng có thể biết trước một cách chắc chắn rồi vậy. Đây
là giải thích theo học lý duy thức, một nền học lý rất thâm diệu trong
Phật pháp.
Trong pháp môn Tịnh độ, hồi hướng chiếm một địa vị rất trọng yếu. Hành
giả quyết phải thâm tín mới có hiệu lực.
Vạn nhất, nếu còn nhứt điểm hồ nghi ở trong lòng thì tâm lực sẽ mất công
dụng, không làm sao chuyển biến được chủng tử trong bát thức. Nếu tâm
hồn còn hồ nghi, pháp môn Tịnh độ sẽ không đem lại hiệu quả nào cho hành
giả hết. Kinh dạy: "Còn nghi thì hoa không nở" là chỉ cho duyên cớ ấy.
Đức Phật A Di Đà biết rõ chủng tử có thể biến từ hữu lậu sang vô lậu,
công đức có thể từ cõi nầy di dịch qua cõi khác, nên mới phát đại nguyện
thứ 20. Trăm ngàn năm trở lại đây, các vị đại đức cũng hiểu rõ lý đó,
nên mới soạn ra các bài văn phát nguyện hồi hướng Cực Lạc khuyên ta đem
công đức tu hành hồi hướng về quả vãng sanh thế giớI Cực Lạc.
Hành giả bất luận làm công đức gì, dù chỉ giúp kẻ khó một đồng tiền hay
chỉ cứu mạng sống cho một con kiến, sau khi làm xong, cũng phải quán
tưởng đức Phật A Di Đà như đương đứng ở trước mặt mà chấp tay cung kính
đọc bài kệ hồi hướng sau đây:
Nguyện đem công đức nầy
Trang nghiêm chốn Phật độ
Trên đền bốn ơn sâu
Dưới cứu ba đường khổ
Nếu có kẻ thấy nghe
Đồng phát tâm Bồ đề
Nước Cực lạc cùng về.
Sau khi đọc bài kệ ấy rồi, bao nhiêu công đức đã làm liền cảm ngay tâm
lực của Phật ứng hợp với tâm ta. Sức cảm ứng của hai bên tức là "tư
lương" vãng sanh Cực lạc về sau vậy.
Tất cả công đức hồi hướng, bất luận công đức thuộc loại hữu lậu hay vô
lậu, đều trở thành tư lương vãng sanh, ứng hợp với đại nguyện thứ 20 của
đức Phật A Di Đà. Chắc chắn về sau sẽ được toại nguyện không sai.
Tiết Thứ 5
Cẩn Thận Lúc Lâm Chung
Trong sự chuyển tiếp từ kiếp nọ sang kiếp kia, cái niệm chót (nhất niệm
tối hậu) có một lực lượng mãnh liệt quyết định cho việc chuyển sanh. Vì
lý do đó nên lúc lâm chung, người tu hành phải làm thế nào để còn nhớ
Phật niệm Phật thì chắc chắn sẽ sanh về cõi Phật.
Kinh "Phật Thuyết A Di Đà" dạy rằng: "Nếu người nào niệm Phật trong bảy
ngày được nhất tâm bất loạn, lúc lâm chung, có Phật và Thánh chúng hiện
ra trước mặt, người ấy tâm không còn đìên đảo và liền được vãng sanh".
Nhất tâm bất loạn nghĩa là ngoài
sự nhớ Phật, tuởng Phật, không có một vọng niệm nào xen lẫn ở trong
lòng: lòng mình và Phật đã xứng hợp làm một.
Kinh văn đã dạy rõ ràng như thế, đương nhiên tuyệt đối chúng ta phải
tin. Có e ngại chăng là e ngại tịnh nghiệp tu chưa tinh tấn nên phút lâm
chung, tâm còn điên đảo khiến khó thấy được Phật tiếp dẫn. Tâm còn điên
đảo thì cũng khó mà vãng sanh. Vì vậy trong khi gần lâm chung rất cần có
người hai bên trợ niệm. Có kẻ trợ niệm mới dẫn phát tâm người bệnh niệm
Phật. Lý do cần thiết lập các ban hộ niệm là thế.
Hiện tại ở các khuôn hội đều có thiết lập ban Hộ niệm. Bất luận trai gái
già trẻ, là Phật tử, ai ai cũng nên gia nhập vào ban ấy càng đông càng
tốt. Hễ khi nào gặp một bệnh nhân lâm nguy, trong ban nên cắt phiên thay
nhau đến nơi phòng người bệnh, đốt hương niệm Phật. Như vậy, mắt trông
thấy tượng Phật, tai nghe tiếng niệm Phật, mũi ngửi mùi hương thơm từ
bàn Phật xông ra, người bệnh có đủ duyên sanh khởi tịnh niệm, rất hữu
ích cho sự vãng sanh Tịnh độ.
Nay xin đem những biện pháp của người tu hành cần giữ gìn trong lúc lâm
chung, sơ lược giải bày như sau, để các ban hộ niệm y cứ hành trì. Mong
rằng các đạo hữu lưu ý, công đức sẽ vô lượng, vì nó quyết định cho tương
lai của cả một đời tu hành.
a) Lúc bệnh nặng sắp lâm
chung
Khi có một đạo hữu nào bệnh nặng sắp lâm chung, thân thuộc nên tin cho
ban hộ niệm và mời đến nhà hộ niệm. Nếu tinh thần người bệnh còn tỉnh
táo, ban hộ niệm nên nhất thiết khuyên thân thuộc đừng khóc lóc và cũng
đừng đem việc nhà ra nói với người bệnh làm gì nữa. Khóc lóc hay hỏi về
việc nhà lúc ấy không giải quyết được gì hết mà chỉ khiến cho người bệnh
sanh khởi niệm luyến tiếc việc đời một cách vô ích.
Nên khuyến khích bệnh nhân đem tâm phóng xả tất cả chỉ nhớ Phật và niệm
Phật mà thôi. Nên nói với bệnh nhân: "Thế giới Cực lạc rất là an vui
sung sướng. Nay ngươi nên bỏ tất cả, nguyện sanh về thế giới kia. Được
sanh về đấy sẽ không còn có hạnh phúc nào bằng. Hiện tại sở dĩ bị bệnh
hoặc đau đớn là do ác nghiệp nhiều kiếp tích lũy gây nên. Tạm thời nên
chịu khó nhẫn nại".
Nếu bệnh nhân có việc gì khổ tâm lắm không thể bỏ được, nên tìm mọi
phương tiện thuyết pháp giải trừ. Hoặc dùng lời dịu ngọt vui vẻ để
khuyến khích an ủi, hoặc đem bao nhiêu điều hay việc tốt hay công đức tu
hành mà bình sanh người ấy đã làm để tán thán ngợi khen. Các phương tiện
ấy sẽ có công năng khiến bệnh nhân hoan hỷ và tin tưởng rồi nhờ đó mà sẽ
được vãng sanh Tịnh độ.
Nếu gặp phải bệnh nhân hồn trí hôn mê không còn biết gì nữa, ban hộ niệm
nên đứng bên cạnh trợ niệm hoặc đánh chuông mõ hết sức nhẹ nhàng, đừng
cho tiếng xẳng và ồn, khiến gây nên trạng huống lộn xộn trong thần thức
của bệnh nhân. Nếu như phút lâm chung kéo dài quá lâu, nên luân phiên
tụng niệm, thế nào cho tiếng niệm Phật đừng dứt đoạn. Niệm đến khi nào
bệnh nhân hết thở và toàn thể châu thân lạnh đều mới thôi.
b) Sau khi lâm chung
Khi bệnh nhân đã hết thở rồi, ban hộ niệm vẫn tiếp tục niệm Phật và
tuyệt đối không nên cho bà con khóc lóc. Cũng không nên đụng đến thi thể
hoặc vội tắm rửa thay áo quần. Tránh đừng nên đụng chạm gây ra huyên náo
hay nói to tiếng khiến cho vong giả kinh loạn.
Sở dĩ phải tuyệt đối giữ thanh tịnh là vì dù ngực hết thở, quả tim hết
đánh, nhưng thần thức (thức thứ 8) của người chết vẫn chưa lìa khỏi xác.
Nếu chung quanh có tiếng khóc lóc hoặc ồn ào và va chạm, thi thể còn cảm
giác sẽ sanh lòng sân hận, rồi có thể vì đó mà bị đọa lạc. Kinh chép khi
Vua A kỳ Đạt chết, vì người giữ thây dùng quạt đuổi ruồi, rủi đụng nhằm
mặt nhà vua, khiến nhà vua phẫn nộ; do đó nhà vua bị đọa làm thân con
rắn!
Vì những lẽ trên nên cần phải thận trọng trong giờ phút trước và sau khi
lâm chung. Tốt hơn hết là nên luôn luôn có người ngồi bên cạnh tiếp tục
niệm Phật không hở, khiến cho chánh niệm được liên tục. Nếu không làm
được như vậy thì nên đuổi hết mèo chó, cấm hẳn người ra vào và đóng kín
cửa phòng lại. Nếu muốn tắm rửa, thay quần áo và uốn nắn tay chân cho
người chết để nhập liệm thì nên đợi sau tám tiếng đồng hồ mới chắc chắn
không làm hại cho người chết.
Trong duy thức học có dạy rằng muốn biết một người chết sẽ thác sanh về
thế giới nào, hãy xem thần thức người đó lìa khỏi xác tại điểm nào. Điểm
mà thần thức xuất tức là đỉểm còn hơi nóng cuối cùng, sau khi toàn thể
châu thân đã lạnh buốt. Bài kệ sau đây sẽ cho ta biết cảnh giới tương
lai của người chết sắp đầu thai:
Đảnh Thánh, nhãn sanh thiên,
Nhơn tâm, ngạ quỷ phúc,
Bàng sanh tất hạ hành
Địa ngục cước để xuất.
Nghĩa là: Thần thức xuất ở đảnh đầu là sanh về cõi Thánh, xuất ở con mắt
thì sanh về cõi trời, xuất ở trên chấn thủy thì sanh về cõi người, xuất
ở dưới bụng thì sanh về cảnh giới ngạ quỷ, xuất ở đầu gối thì sanh về
cảnh giới bàng sanh, xuất ở bàn chân thì sanh về cảnh giới địa ngục.
Vì thế, trong khi thần thức sắp rời khỏi xác, mà ví như sẽ được sanh về
cõi trời thì chỗ còn nóng sau cùng là ngang khoảng hai con mắt. Nếu
không khéo để cho thi thể va chạm hoặc có tiếng ồn ào làm kinh động
khiến thần thức tán loạn sanh phiền não, phải bị đọa lạc thì thật là oan
uổng cho người chết biết chừng nào!
Thiết tha mong toàn thể tín đồ Phật tử hãy lưu tâm điểm nầy để cứu giúp
nhau trong giờ phút lâm chung, giờ phút nghiêm trọng có ảnh hưởng cho cả
một kiếp sau. Mong thay!
c) Cứu độ thân trung ấm
Thân thể con người do năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức tạo thành.
Năm uẩn cũng gọi là năm ấm. Vì thế thân thể hiện còn gọi là tiền ấm, sau
khi chết rồi và thác sanh gọi là hậu ấm, nằm ở khoảng giữa tiền ấm và
hậu ấm (chết rồi mà chưa đầu thai lại) gọi là trung ấm.
Thân trung ấm bắt đầu từ giây phút thức thứ tám mới lìa khỏi xác thể
người chết. Theo luận Câu xá thì thân trung ấm của người ở Dục
giới lớn bằng em bé 5, 6 tuổi, nhanh sáng, có sức thông đạt, có sức ký
ức nhạy hơn chín phần, so với lúc sanh tiền.
Sau khi người chết, tuy thần thức ly khai thân xác chuyển thành thân
trung ấm, nhưng thân trung ấm ấy trừ trường hợp quá dày phúc đức hay quá
nhiều tội ác thì trong giây phút hoặc được sanh nhơn thiên hoặc bị đọa
ác thú liền, còn trong các trường hợp bình thường thì thần thức vẫn còn
loanh quanh lưu luyến bên cạnh thây cũ. Cho nên nếu quyến thuộc khóc lóc
hoặc tắm rửa, thay áo quần cho người chết v.v... thần thức đều biết cả.
Bấy giờ thần thức tưởng mình còn sống nên nó vẫn đến hỏi việc nầy việc
khác, nhưng ngặt vì không ai thấy nghe mà đáp lại, vì vậy vô cùng bực
tức, sợ hãi, bối rối, rồi giận dữ bỏ ra đi. Vì thế đối với người chết
rồi, thân thể tuy đã lạnh cứng, nhưng người sống không nên nói điều gì
hay làm việc gì có tánh cách khêu gợi lòng tham, sân, si, khêu gợi sự
luyến tiếc cho người chết. Như là người sắp chết thì chỉ nên thuyết
pháp, an ủi, khuyến khích nhất tâm cầu nguyện vãng sanh Cực lạc; nếu
người ấy đã chết rồi thì nên tụng kinh niệm Phật cho thân trung ấm nghe.
Nếu người chết lúc sanh tiền chưa từng niệm Phật, trong giờ phút gần lâm
chung, lòng không chốn nương tựa, thân không còn là chủ tể, hoàn cảnh
thật là hết sức thê lương ảm đạm. Trong giờ phút ấy, nếu được nghe một
tiếng niệm Phật, một lời thuyết pháp, người chết nhờ nhất niệm đó mà có
thể vãng sanh Tịnh độ. Cho nên đối với vong nhân, không kể sanh tiền có
tin Phật hay không tin Phật, có tu Tịnh độ hay không tu Tịnh độ ban hộ
niệm đều nhất thiết nên đến giúp đỡ và cao tiếng niệm danh hiệu Phật. Đó
là phương pháp cứu độ thân trung ấm, hết sức hữu ích và cần phải thi
hành.
d) Cúng vong, cầu siêu
Đám tiệc nên tùy nghi phương tiện, cốt nhất phải thanh tịnh. Không nên
bày vẽ rộn ràng, sát sanh cúng tế một cách linh đình.
Trong kinh Phật dạy: "Vì Thần thức người chết (thân trung ấm) chỉ dùng
mùi hương làm thức ăn", vì thế ta chỉ nên dùng hương thơm, hoa đẹp, đèn
sáng mà cúng là đủ. Nhất là tiếng niệm Phật và lời thuyết pháp thì rất
bổ ích cho vong linh.
Sau khi đám tiệc xong xuôi, người con hiếu thảo nên vì vong linh làm các
Phật sự để cầu siêu độ, bất luận vong giả đã vãng sanh rồi thì lại càng
được tăng thêm phước huệ; nếu chưa vãng sanh thì có thể nhờ đó mà túc
nghiệp tiêu trừ, sanh về các cõi thiện. Đó là cách báo ân hay nhứt của
người con hiếu thảo.
Làm Phật sự thì không gì hơn là chuyên tụng kinh bái sám và trì niệm
danh hiệu Phật. Có thể tự trong gia thuộc mình tụng lấy, hoặc mời đạo
hữu tụng thêm. Các kinh thường tụng là Di Đà, Kim Cang hoặc
Đại bi Thần chú v.v... Tụng niệm xong nên hồi hướng công đức cho
vong giả làm tư lương cầu sanh Cực lạc. Nếu như trong gia thuộc mình
không ai tụng kinh được thì chuyên niệm hiệu Phật cũng đủ rồi.
Còn như di sản của vong giả để lại, nếu là của cải thì nên đem làm việc
phước thiện như: Bố thí kẻ nghèo khó, giúp đỡ người tàn phế, cấp dưỡng
cô nhi quả phụ hay phụ nữ sanh đẻ, hoặc làm chùa, chú tượng, ấn tống
kinh điển, cúng dường chúng tăng v.v... Làm các việc phước thiện ấy rồi
đem công đức hồi hướng cầu cho vong giả tội diệt phước sanh, vãng sanh
Cực lạc. Như thế thì người còn kẻ mất, thảy đều được công đức lớn lao
không thể kể xiết. Kinh Địa Tạng nói:"Trong khi vì người chết mà làm
việc công đức thì người sống đã hưởng hết sáu phần mà người chết chỉ nhờ
được một phần thôi".