---o0o---
KHAI THỊ MÙA PHẬT THẤT
29 /12 / 01
Kính thưa quý vị Pháp Sư,
quý vị đồng tu,
Hôm nay thật là nhân duyên
đầy đủ, chúng tôi đến tham dự ngày viên mãn Phật thất của Tịnh tông học
hội này, đồng thời cũng biết nhiều vị đồng tu từ những nơi xa xôi như
Canada, Mỹ đến tham dự Phật thất.
Phật thất lần này tuy tôi
không có ở đây nhưng tôi biết đạo tràng niệm Phật vô cùng tinh tấn trang
nghiêm, như vậy chẳng những đối với mỗi người chúng ta có lợi ích mà còn
lợi lạc cho tất cả chúng sanh.
Trong việc tinh tấn dụng công
điều quan trọng hơn hết là phải mở rộng tâm lượng của chúng ta. Mỗi một
tiếng niệm Phật, mỗi một ý niệm chúng ta phải vì tất cả chúng sanh ở tận
hư không biến pháp giới mà niệm.
Hư không pháp giới, quốc độ
chúng sanh thật vô lượng vô biên, thật sự có rất nhiều thế giới ở những
nơi khác giống như thế giới loài người của chúng ta, họ không biết có Phật
pháp, không biết có Phật Bồ tát.
Khi chưa gặp được Phật pháp,
chúng ta cũng giống như họ vậy, chẳng biết gì cả, may mắn thay do nhiều
đời quá khứ có được một chút phúc đức, nhân duyên, thiện căn nên ở trong
kiếp này gặp được thiện tri thức, nghe được Phật pháp, biết được pháp môn
Tịnh độ, nhân duyên này thật sự là hy hữu, khó gặp.
Sự thù thắng của pháp môn, sự
hy hữu của pháp môn đối với Ðại-thừa kinh giáo, càng đi sâu vào thì sự cảm
xúc của quý vị sẽ càng thâm thúy, nếu như trình độ khế nhập không đủ sâu
thì sự nhận thức, lý giải của chúng ta sẽ tỏ ra thiếu sót, vì chẳng biết
rằng pháp môn này thật sự là hy hữu khó gặp, cũng chẳng thể biết được pháp
môn này thù thắng không gì có thể sánh bằng!
Cho dù rất nhiều vị thiện tri
thức đã từng nhọc nhằn tha thiết khuyên răn chúng ta, nếu không phải do
chính bản thân ta trải qua kinh nghiệm, dù có nghe thầy của mình hết lòng
khuyên bảo vẫn không thể nào đem những lời răn dạy đó ghi nhớ trong lòng.
Ðây chính là tình trạng của cá nhân tôi. Khi tôi mới vừa học Phật, Ðại sư
Sám Vân đem pháp môn này giới thiệu cho tôi, tôi bán tín bán nghi, mãi đến
sau này học giáo pháp với lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, mục đích tôi đi theo thầy
là học giảng kinh thuyết pháp, chẳng phải đến với thầy để tu theo pháp môn
Tịnh độ.
Thầy Lý là đệ tử chân truyền
của Ngài Ấn Quang Ðại sư, thầy thường khuyên tôi và thậm chí còn nói với
tôi như vầy:
“Xưa nay, biết bao vị tổ
sư, đại đức đều là người có học thức, có đạo đức, các Ngài đều chuyên tu,
chuyên hoằng pháp môn Tịnh độ, giả sử có bị sai lầm đi nữa, chúng ta chỉ
sai có một lần thôi, không có gì phải đắn đo”.
Thầy khuyên tôi như vậy, tuy
tôi thuận theo thầy để học, nhưng chẳng có tín tâm vững mạnh. Về sau, tôi
giảng kinh Lăng Nghiêm, giảng Pháp Hoa đại nghĩa và kinh Hoa Nghiêm, Hoa
Nghiêm tám mươi, Hoa Nghiêm bốn mươi tôi đều giảng, khi tôi giảng được nửa
quyển Hoa Nghiêm, có một hôm tôi chợt suy nghĩ:
“Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền, các Ngài học pháp môn nào?”. Và
tôi đã tìm được câu trả lời ngay trong kinh Hoa Nghiêm. Các Ngài phát
nguyện cầu sanh Tịnh độ chẳng những thế các ngài còn khuyên 41 vị pháp
thân đại sĩ của thế giới Hoa Tạng cầu sanh Tịnh độ.
Lại tìm hiểu tỉ mỉ hơn về vị
đệ tử đắc ý nhất của Bồ tát Văn Thù là Thiện Tài đồng tử. Thiện Tài đồng
tử học theo pháp môn gì? Trong Hoa Nghiêm 40 vừa mới mở đầu chúng ta liền
thấy rõ Thiện Tài đồng tử học theo pháp môn Tịnh độ và tu theo trì danh
niệm Phật. Thầy của Thiện Tài đồng tử là Tỳ khưu Kiết Tường Vân, Ngài là
Bồ tát thị hiện làm thân Tỳ Khưu, Bồ Tát Văn Thù đặc biệt giới thiệu Thiện
Tài đến học với Ngài.
Người Trung Quốc thời xưa
thường nói: “Tiên nhập vi chủ”, tạm dịch: ”người mà ta theo học đầu
tiên là vị thầy chủ yếu”. Ở đây chúng ta thấy pháp môn Tịnh độ do chính
Ngài Kiết Tường Vân là người đầu tiên dạy cho Thiện Tài đồng tử, kề đến
xem tiếp phần cuối của 53 tham vấn, Thiện Tài đến tham vấn bồ tát Phổ
Hiền. Phổ Hiền Bồ tát thập đại nguyện vương qui hướng về Cực Lạc, lúc đó
tôi mới thật sự hiểu rõ rằng: Ngài Kiết Tường Vân Tỳ khưu là khởi đầu, Bồ
tát Phổ Hiền là kết thúc, từ khởi đầu cho đến kết thúc đều không rời niệm
Phật.
Niệm Phật phải niệm như thế
nào ?
Nền tảng trong việc tu học mà
ngài Kiết Tường Vân đã dạy cho Thiện Tài đồng tử đó là “BAN CHU TAM MUỘI”,
Ban chu tam muội lấy kinh hành niệm Phật làm chính yếu trong việc tu trì,
một kỳ là chín mươi ngày, lấy chín mươi ngày làm tiêu chuẩn cho một kỳ
nhập thất, trong thời gian đó không có ngủ và chẳng có ngồi, chỉ có thể
đứng hoặc đi, đây là pháp tu Ban Chu Tam Muội chuyên trì danh hiệu A Di Ðà
Phật cầu nhất tâm bất loạn.
Ðối với người trong thời kỳ
mạt pháp, căn tánh và thể lực của chúng ta đều không thể sánh bằng người
thời xưa, bảo chúng ta trong 90 ngày không ngủ, không ngồi, chúng ta không
thể nào thực hành được, cho nên tôi thường đề xướng trong niệm Phật đường,
cố gắng đi kinh hành, đi mỏi rồi quý vị có thể ngồi xuống để niệm hoặc ra
ngoài nằm nghỉ. Sau khi nghỉ ngơi liền lập tức trở vào niệm Phật đường,
đây là phương pháp trước kia do ngài Ðế Nhàn dạy, thầy rất từ bi, biết rõ
căn tánh của chúng sanh thời mạt pháp nên dạy rằng: “Phải niệm Phật
liên tục, khi mệt rồi thì nghỉ ngơi, sau đó lại tiếp tục niệm”.
Phương pháp này rất hay, đối
với những người dụng công như chúng ta, thân tâm đều không bị áp lực, tuy
nhiên trong lúc mọi người cùng nhau tu tập niệm Phật, phải tuân thủ theo
nghi thức kỷ luật. Kỷ luật là do chư Tổ soạn ra, người quản lý niệm Phật
đường chấp hành theo, mọi người đều phải cùng giữ gìn kỷ luật, đương nhiên
đối với cá nhân mỗi người cũng phải nghiêm chỉnh tự quản thúc lấy mình.
Trong niệm Phật đường, khi
kinh hành phải niệm Phật thành tiếng, âm thanh lớn hay nhỏ tự mình có thể
điều chỉnh, đừng quá lớn tiếng dễ bị tổn khí nhưng cũng không được làm
thinh vì như thế dễ bị hôn trầm. Tôi đã từng thấy có rất nhiều người trong
lúc đi kinh hành mà vẫn ngủ gục như thường, chân thì bước đi nhịp nhàng mà
cứ vẫn ngủ gục, công phu của người này cũng hay thật! Chúng tôi cũng
thường thấy nhiều người vừa ngồi niệm Phật vừa ngủ gục, thậm chí trong lúc
chỉ tịnh họ ngủ say, ngáy to một cách ngon lành!
Cho nên khi kinh hành phải
niệm ra tiếng, phải biết tự điều tiết thân thể của chúng ta, đừng nên để
cho nó quá mệt mỏi, như thế mới có thể duy trì thời gian trì niệm lâu dài,
riêng về phần âm thanh của tiếng niệm Phật, chúng ta phải phối hợp với Duy
Na và người duyệt chúng (tức người đánh pháp khí). Họ là những người rất
chịu cực trong việc lãnh chúng, chúng ta niệm Phật có được như lý và như
pháp không là do sự quan hệ hợp tác của ta với vị pháp sư chủ thất, người
Duy Na và duyệt chúng. Nếu chúng ta có thể phối hợp với họ một cách tốt
đẹp thì niệm Phật đường của chúng ta sẽ trang nghiêm, sẽ được chư Phật hộ
niệm, chư Long thiên Hộ pháp ủng hộ.
Bởi vì ngoài những người cùng
tu với mắt phàm của chúng ta nhìn thấy được, còn có rất nhiều vị Quỷ thần,
Thiên thần có duyên với đạo tràng, họ đều đến tham dự và cùng chung tu tập
với chúng ta. Do đó, ngoài những người mà mắt phàm của chúng ta có thể
nhìn thấy còn có rất nhiều người chúng ta không thể thấy, số lượng đó so
với chúng ta không biết bao nhiêu lần nhiều hơn, đây là sự thật, đặc biệt
là ở một đạo tràng tu đúng pháp.
Một số quỷ thần có duyên với
những vị đồng tu nào đó, những vị này có thể cảm giác hoặc thấy được họ,
tuy nhiên phàm là đến đây tham gia niệm Phật, hoặc ở giảng đường nghe
kinh, họ đều là thiện thần cả. Cho dù là quỷ thần cũng đều là thiện thần,
không bao giờ hại người và sự tu trì của họ tinh tấn hơn cả chúng ta
nhiều. Thực tế mà nói việc niệm Phật vãng sanh của họ so với người thế
gian chúng ta số lượng gấp mấy lần nhiều hơn.
Cho nên chúng ta phải xem tất
cả chúng sanh trong chín pháp giới đều là bạn đồng tu của mình, phải tôn
trọng, kính yêu lẫn nhau cùng hợp tác giúp đỡ nhau, do đó trong lúc chúng
ta cùng với đại chúng tu tập phải cẩn thận chú ý hình tướng của mình, phải
đứng đắn trang nghiêm, cho dù là ở những nơi không có ai nhìn thấy đi nữa
vẫn phải giữ gìn nghiêm chỉnh, bởi vì sao? Vì ở những nơi không có người
nhìn thấy ta nhưng có các vị quỷ thần nhìn thấy, phải luôn nhớ “lúc nào
cũng có nhiều cặp mắt đang chú ý và nhiều ngón tay đang chỉ về ta”.
Nếu quý vị hiểu được sự thật chân tướng như thế, tự nhiên quý vị sẽ biết
tự khuyến khích, tự cảnh giác lấy mình, từng giờ từng khắc không dám buông
thùa, tu tập được như vậy chắc chắn sẽ có thành tựu.
Người niệm Phật nhất định
phải hiểu lời Phật thường dạy trong kinh rằng: “Thân người khó được,
Phật Pháp khó gặp” đặc biệt là pháp môn Tịnh Ðộ. Bởi vì sao ? Trong
thời mạt pháp, ngoài pháp môn này ra, tất cả những pháp môn khác, chúng ta
không dám nói các pháp môn khác đó không tốt, bởi vì pháp môn bình đẳng,
không có cao thấp, cho nên đối với bất cứ một pháp môn nào chúng ta đều
phải tôn trọng, tuy nhiên nó không phù hợp với căn cơ của chúng ta.
Mỗi một pháp môn đều dạy
chúng ta “đoạn mê hoặc và thật chứng”, thế nhưng kiến tư phiền não của ta
có thể đoạn dứt hay không? Nói thật, trong thời đại hiện nay không tìm ra
người như vậy, ngoài ra trần sa phiền não, vô minh phiền não, thực tế mà
nói: Một phẩm cũng không đoạn được.
Phật đã nói rất rõ trong kinh
rằng: “Loại phiền não thô nặng nhất đó là tam giới tám mươi tám phẩm
kiến hoặc”. Phải có khả năng đoạn dứt những thứ này, quý vị mới có thể
chứng được quả vị tiểu thừa Tu-đà-hoàn. Còn sơ tín vị Bồ tát của đại thừa,
quý vị hãy nghĩ xem có khả năng chứng được không? đừng nói chi đến tám
mươi tám phẩm. Tôi thường nói, nếu quý vị có thể dứt bỏ được phiền não căn
bản nhất đó là tánh tự tư ích kỷ, ý niệm ích kỷ, quý vị có thể đoạn dứt
không? Nếu như có thể đoạn dứt ý niệm này một cách sạch ráo, lại hỏi chúng
ta đã đoạn dứt được tám mươi tám phẩm kiến tư phiền não chưa?
Thưa thật cùng quý vị là chưa
đoạn dứt được, cho dù đoạn dứt phiền não căn bản tức là ý niệm ích kỷ đi
nữa, đối với việc phá trừ kiến hoặc chỉ chiếm được một phần ngoại biên mà
thôi, ngược lại không bỏ được ý niệm ích kỷ, muốn chiếm phần bìa của ngoại
biên đoạn trừ phiền não cũng không thể được, như vậy quý vị làm sao có thể
thành tựu được ?! Thế mới biết việc tu học Phật pháp thật là vô cùng khó.
Sự thù thắng của pháp môn
Tịnh độ là ở chỗ không cần thiết phải đoạn phiền não, như vậy chúng ta có
thể yên tâm rồi, bởi vì muốn đoạn dứt phiền não, chúng ta không thể làm
được. Tuy nhiên, có một điều kiện khác đòi hỏi chúng ta là phải biết cách
hàng phục phiền não, mặc dù phiền não không thể đoạn dứt, chỉ cần quý vị
có khả năng khống trị nó, nói cách khác, tuy có phiền não, nhưng phiền não
không khởi tác dụng, điều này chúng ta có thể làm được, chỉ cần ta nỗ lực,
siêng năng tu hành.
Ðoạn phiền não thật sự và dứt
khoát. Ðiều này chúng ta không thể thực hiện, thế thì dùng phương pháp gì
để hàng phục và khống trị nó?
Chỉ cần một câu Phật hiệu,
vạn đức hồng danh cho nên mỗi một tiếng niệm Phật của chúng ta:
Trên, chẳng những cảm ứng đạo giao với Phật A Di Ðà,
với mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai, chỉ cần một câu Phật hiệu
này có thể giao cảm với các Ngài,
Dưới, cũng với một câu Phật
hiệu để giúp đỡ tất cả chúng sanh khổ nạn trong chín pháp giới, chúng ta
hồi hướng cho họ, giúp họ trồng thiện căn.
Mỗi buổi tối hồi hướng:
”Nguyện đem công đức này, Trang nghiêm Phật Tịnh độ” là công đức gì?
Chính là nhất tâm chấp trì lục tự hồng danh, công đức của danh hiệu thật
không thể nghĩ bàn, đây là sự thật. Một khi quý vị biết được công đức
không thể nghĩ bàn của lục tự hồng danh rồi quý vị mới hiểu được công đức
thù thắng không gì sánh bằng của pháp môn, bởi thế, đức Phật thường nói
trong kinh: “Pháp môn này chỉ có Phật với Phật mới hiểu một cách rốt ráo”
Ðẳng Giác Bồ tát cũng không thể hiểu rõ hết được, chỉ có quả địa Như Lai
mới có thể hiểu rõ, hiểu thấu.
Hôm nay, chúng ta gặp được
pháp môn này thật là nhân duyên thù thắng vô cùng, đó là do thiện căn,
phúc đức, nhân duyên nhiều đời, nhiều kiếp, chỉ cần chúng ta có thể tin,
tin chắc và phát nguyện, một lòng trì danh và quyết định buông xả vạn
duyên. Trụ trì trong niệm Phật đường cũng thường nhắc nhở chúng ta:
“Thân tâm thế giới, tất cả đều buông xả, giữ gìn chánh niệm”. Chánh
niệm tức là niệm Phật, như thế mới có thể khống trị được vọng tưởng, phiền
não, chấp trước của chúng ta.
-Vọng tưởng là
vô minh phiền não
-Phân biệt là trần sa phiền não
-Chấp trước là kiến
tư phiền não
Chúng ta ở niệm Phật đường dụng
công tu luyện. Mỗi ngày có được vài phút đồng hồ khống trị chúng nó, giữ
được vài phút tâm thanh tịnh không sanh một niệm, đó là cảnh giới tốt. Sau
đó, dần dần kéo dài thời gian này ra, xong đến dự Phật thất để học kỷ
luật, học phương pháp.
Thật sự dụng công là ở lúc bình
thường, bình thường bất cứ lúc nào, ở đâu pháp môn thù thắng này đều không
chướng ngại, đi đứng, nằm, ngồi, câu niệm Phật đều không gián đoạn. Tuy
nhiên, trong lúc nằm nghỉ không nên niệm ra tiếng, bởi vì điều thứ nhất là
tỏ ra không tôn kính đối với Phật, thứ hai sẽ bị tổn khí, cho nên khi nằm
nghỉ chỉ mặc niệm trong tâm, lúc ngồi xuống cũng vẫn có thể không niệm ra
tiếng.
Quý vị hãy xem phương pháp niệm
Phật của Ðại sư Hành Sách dạy chúng ta. Ngài là vị Tổ thứ mười hai trước
Tổ Ấn Quang của Tịnh độ tông chúng ta, khi chưa đọc trứ tác của ngài, tôi
cũng từng nghĩ ra một phương pháp niệm Phật. Sau này được đọc sách của
ngài không ngờ những gì tôi nghĩ lại giống y như những lời dạy của ngài.
Phương pháp niệm Phật của ngài
là chia đại chúng trong Phật đường thành ba nhóm, bởi vì hai mươi bốn giờ
không gián đoạn, đương nhiên thể lực của đại đa số người không thể kham
nổi, đại chúng trong đạo tràng rất đông, nên chia phiên nhau để niệm. Như
vậy mỗi nhóm sẽ có bốn vị xuất gia lãnh chúng, một ngày ba nhóm, do đó mỗi
ngày phải có ít nhất mười hai vị pháp sư dẫn dắt đại chúng cùng nhau niệm
Phật.
Một nhóm đi kinh hành, hai nhóm
còn lại thì chỉ tịnh, người đi kinh hành nhất định phải niệm Phật ra
tiếng, người chỉ tịnh ngồi yên lắng nghe và trong lòng thầm niệm theo.
Những người đi kinh hành khi thấy mệt mỏi sẽ luân phiên thay đổi cho nhóm
khác. Ðại sư Hành Sách dạy phương pháp như vậy.
Ngày nay, ngoài phương pháp này
ra, tôi nghĩ đến băng cassette và máy niệm Phật, trường hợp không có Pháp
sư vẫn có thể thực hành được, chúng ta chỉ cần nghe theo tiếng niệm Phật
trong băng cassette hoặc trong máy niệm Phật để kinh hành. Do đó, trong
những năm qua tôi ở khắp nơi các quốc gia trên thế giới đều dạy mọi người
áp dụng theo phương pháp này.
Trong chánh điện, chúng ta chia
làm ba khu chính, ở giữa là bàn thờ Phật, nơi dùng để lạy Phật, hai bên
trái và phải của chánh điện là nơi dùng để chỉ tịnh, nghĩa là khi nào quý
vị cảm thấy mệt mỏi, có thể ngồi xuống đó tĩnh tọa, đại chúng kinh hành đi
theo vòng tròn quanh chánh điện, người đi kinh hành bắt buộc phải cất
tiếng niệm Phật, riêng người lạy Phật và chỉ tịnh không niệm ra tiếng, tuy
nhiên phải giữ câu danh hiệu Phật trong lòng không cho gián đoạn.
Sau khi nghỉ mệt một lúc, phải
lập tức tham gia vào đoàn người đi kinh hành, nhất định phải lấy việc kinh
hành làm chính. Nếu quý vị muốn cho cơ thể được vận động, có thể đối trước
tượng Phật ở giữa chánh điện lạy Phật. Tôi nghĩ ra phương pháp như vậy
không ngờ nó lại rất giống với phương pháp của Ðại sư Hành Sách.
Hiện nay, đạo tràng niệm Phật
không nhiều, các thầy niệm Phật cũng rất ít, cho nên muốn thỉnh pháp sư
đến lãnh chúng niệm Phật thật là khó. Do đó, chúng ta sử
dụng máy niệm Phật, dù ở nhà chỉ có một người, hai người, ba người vẫn có
thể niệm Phật, khi đã hiểu biết phương pháp rồi, công phu không thể cho
gián đoạn, phải biết nghĩ rằng lời Phật dạy không sai: “Thế gian vô
thường, quốc độ nguy nan” nhất là chúng ta sinh sống trong thời
đại này, thời đại loạn động, tai nạn dồn dập, hơn thế nữa như chúng ta đã
nhìn thấy, hầu như những tai nạn đó mỗi năm mỗi to lớn, trầm trọng hơn.
Phật nói: “Ngũ trược ác thế”,
trược là ô nhiễm, ác là tạo ác nghiệp, chúng ta hãy bình tĩnh quán sát thế
giới này xem, thật là ác trược đến chỗ cùng cực, đã tạo tác và tích tựu
biết bao thứ nhân ác, một khi đã tạo nhân cực ác tất phải lãnh lấy tai nạn
vô cùng to lớn, bởi vì có nhân đương nhiên phải có quả. Nhân quả là định
luật tất yếu của thế và xuất thế gian tất cả các pháp, cho dù Phật cũng
không thể sửa đổi.
Chúng ta cần phải có cảnh giác
cao độ, đã gặp được pháp môn này rồi cho dù gặp tai nạn lớn đến đâu đi
nữa, ta cũng không sợ hãi, vì chúng ta có thể lướt qua được. Có rất nhiều
vị đồng tu trong và ngoài nước đến hỏi tôi: ”Lỡ khi tai nạn đến thì
phải làm sao? Ði đâu để lánh nạn?”.
Tôi nói : “Không cần phải
nghĩ đến việc trốn tránh, thế giới này có gì đáng cho ta lưu luyến ?!
Không đáng một chút nào, trốn tránh để làm gì? Tai nạn dù có đến, không
nên sợ hãi, cũng chẳng kinh hoàng bởi vì chúng ta có chỗ tốt đẹp
hơn để đến, đến thế giới Cực Lạc”.
Chúng ta cần phải chuẩn bị đầy
đủ điều kiện để có thể trong vòng thời gian thật ngắn vãng sanh về Tây
phương Cực Lạc. Thật tình mà nói, điều kiện vãng sanh về Cực Lạc rất đơn
giản, đây là một pháp môn dễ dàng nhất trong tám vạn bốn ngàn pháp môn.
Chỉ cần chúng ta chuẩn bị cho thật tốt, điều quan trọng nhất là phải buông
xả thân tâm thế giới, đối với tất cả mọi người mọi sự, mọi vật trong thế
giới này không mang một chút tâm tham luyến, đây là điều kiện tiên quyết.
Chúng ta nguyện lìa khỏi nơi đây vì biết rõ mọi thứ trên đời này không thể
mang theo, duy chỉ có NGHIỆP theo ta mà thôi.
Như vậy chúng ta cần phải tu
nghiệp gì đây? Phải chuyên tu tịnh nghiệp, chuyên niệm Di Ðà, duy những
thứ này mới có thể mang theo. Xử thế, đối người, tiếp vật cần giữ thái độ
nhẹ nhàng đừng quá so đo tính toán, thà tự ta chịu bị thiệt thòi, bị lừa
gạt cũng không cần phải hơn thua với họ, luôn giữ « tâm bình khí hòa »,
điều này mới thật là quan trọng. Bởi vì nếu ta đối với mọi sự đều quá so
đo tính toán, không chịu buông bỏ thành kiến của mình sẽ tạo nên chướng
ngại lớn trong việc vãng sanh.
Người thông minh cần biết diệt trừ hết mọi thứ chướng ngại, hà tất phải
tranh chấp với người khác, có gì đáng phải tranh chấp, chỉ vài ngày nữa
thôi là ta đến thế giới Cực lạc rồi, thế giới ta đang ở chỉ là Quán trọ,
chỉ ở vài hôm thôi là phải ra đi, cho nên người ta tốt với mình cũng được,
không tốt cũng được. Bất luận là thuận cảnh, nghịch cảnh, thiện duyên hay
ác duyên đều không để trong lòng, trong tâm của ta chỉ có Phật A Di Ðà,
chỉ có thế giới Tây Phương Cực Lạc.
Mỗi ngày tụng kinh Di Ðà phải
“Tùy văn nhập quán” nghĩa là vừa tụng vừa nghĩ tưởng đến cảnh giới
cực lạc, bởi vì trong kinh nói đến thế giới Cực Lạc. Kinh Vô Lượng Thọ lại
càng nói rõ hơn: “mỗi ngày nghĩ đến thế giới Cực Lạc, mỗi ngày nghĩ đến
Phật A Di Ðà, chắc chắn sẽ có một ngày thế giới Cực Lạc và đức A Di Ðà sẽ
hiện ra”. Câu nói này Thế Tôn đã từng dạy trong kinh đại thừa “Tất
cả pháp, từ tâm tưởng sanh”.
Trong tịnh nghiệp tam phước, câu
sau cùng có nói đến “thâm tín nhân quả” chúng ta nghĩ đến thế giới
Cực Lạc là nhân một khi Phật A Di Ðà đến và thế giới Cực lạc hiện
ra đây chính là quả, vì tất cả pháp do tâm tưởng sanh, do đó chớ
bao giờ nghĩ đến những thứ danh, văn, lợi, dưỡng của thế gian này đừng
tham muốn hưởng thụ ngũ dục, lục trần, chúng ta quyết định không nghĩ đến
những thứ này và phải hoàn toàn buông xả nó để sống tùy duyên , tốt cũng
được, không tốt cũng rất hay, tuyệt đối không so đo tính toán, cho dù là
nơi để tu học cũng vậy, bất luận chỗ nào cũng được, chỉ cần ta biết cách
dụng công, tất cả mọi thời, mọi nơi đều là đạo tràng tốt cả.
Cho nên về mặt lý phải thông
suốt, hiểu rõ và phương pháp tu học cũng phải thấu đáo rõ ràng hầu có thể
tu hành một cách như lý như pháp, khẳng định rằng chúng ta sẽ thành tựu
ngay trong một kiếp này.
Người niệm Phật phải biểu hiện
ra tấm gương tốt của mình, đây chính là tự độ, độ tha, làm gương cho đại
chúng thấy nhất là cho những vị đồng tu học Phật, khi lâm chung ta thể
hiện rõ tướng vãng sanh cho mọi người xem khiến họ sanh lòng tin tưởng.
Người thật sự niệm Phật và vãng sanh chắc chắn sẽ độ rất nhiều người, theo
một số người gọi đó là « thoại tướng vãng sanh », đây đều do công
phu tu dưỡng trong lúc bình thường.
Nếu như hàng ngày công phu tu
dưỡng của chúng ta không đủ sâu, đến lúc lâm chung, tay chân quờ quạng,
không tự làm chủ được, tu hành như vậy là sai rồi! Ðặc biệt là tu phước,
đoạn ác tu phước, chúng ta tích lũy công đức mà không nghĩ đến việc hưởng
phước, chỉ lo tu phước nhưng không hưởng phước, để dành phước báu này đến
khi lâm chung hưởng.
Lâm chung hưởng phước gì?
Ðó là đầu óc minh mẫn không mê
hoặc, được như vậy là đại phúc báo, quý vị hãy nói xem tất cả chúng sanh
người nào mà không vãng sanh, tuy nhiên vãng sanh về đâu ? Ðiều này không
thể nhất định, có người vãng sanh về súc sanh đạo, ngạ quỹ
đạo, hoặc vãng sanh về địa ngục đạo. Sinh mạng là đời đời kiếp kiếp
nối nhau không dứt đoạn. Trong kinh Hoa Nghiêm nói rất rõ, nếu như quý vị
thật sự hiểu rõ, hiểu thấu thì không có việc tử vong, chỉ là thay đổi một
cái thân khác mà thôi, thân này dùng hư rồi kiếp sau thay một thân khác,
tuy nhiên phải xem quý vị thay một cái thân gì ? như thế nào ?
Người thông minh bậc nhất khi
đổi thân phải là thân “tử ma kim sắc” của Như Lai, đó mới là người
thượng thượng căn, người thật sự thông minh. Ngược lại nếu thay một cái
thân của súc sanh, của ngạ quỉ thì quý vị đã sai lầm quá lớn.
Người thế gian nói sinh tử, là
người học Phật chúng ta rõ biết việc sinh tử chẳng hề có, chỉ là thay một
thân thể khác mà thôi và đây là sự thật. Cho nên chúng ta chẳng nên sợ hãi
đối với sinh tử, phải hiểu rõ thật tướng của nó, trong Phật pháp gọi là
liễu sanh tưû nghĩa là thật sự hiểu rõ thật tướng của sanh tử, khi đó
quý vị sẽ không còn sợ hãi khi trực diện với nó. Hãy xem người thế gian
tham sống sợ chết, vừa nhắc đến cái “chết ” là vô cùng kinh hoàng, nhìn
thấy chữ “ tư Û” liền cho là không may, không kiết tường, ngược lại đối
với người học Phật chúng ta thì luôn luôn dán chữ “tư Û” ở trước mặt.
Quý vị hãy xem niệm Phật đường của ngài Ấn Quang Ðại sư, tôi đã từng đi
tham quan, Ngài ở trên núi Linh Nghiêm, đạo tràng đây có quan phòng (phòng
nhập thất), Ngài thường ở trong quan phòng vào lúc tuổi già, trong phòng
trang trí rất đơn giản, một bức tượng Phật, một cái lư hương và một cặp
đèn cầy để bàn, vô cùng sạch sẽ ngăn nắp, trên bàn có một quyển kinh Di
Ðà, ngoài ra không có gì hết.
Phía sau hình Phật ngài viết một
chữ “tư Û” thật to, mỗi ngày nhìn thấy chữ này để cảnh sách chính mình.
Ngài làm rất đúng, rất chính xác và là tấm gương cho chúng ta noi theo, là
hình tướng tốt nhất cho những người niệm Phật. Chúng ta không nên sợ vì đã
hiểu rõ thế nào về việc sinh tử, nhất quyết đem cái nhục thân phàm phu này
thay một tấm thân chân kim sắc, thân kim cang bất hoại của đức A Di Ðà
Phật, điều này không phải chúng ta không làm được.
Quan trọng nhất như lời của
Thiện Ðạo đại sư nói: “Tam bối, cửu phẩm đều do nhân duyên khác nhau”,
câu nói này khiến chúng ta nghe xong cảm thấy phấn khởi, chư cổ đức lại
nói: ”Thượng bối vãng sanh là Bồ tát, trung bối vãng sanh là La Hán,
phàm phu chúng ta vãng sanh ở hạ bối”. Thế thì đối với thượng bối vãng
sanh hình như chúng ta không thể với tới ? Ngài Thiện Ðạo đại sư đã giúp
chúng ta giải quyết vấn đề này, nghĩa là phàm phu chúng ta vẫn có thể vãng
sanh lên thượng bối, chỉ là chỗ gặp duyên khác nhau mà thôi.
Duyên là gì? Trong kinh “A
Nan vấn sự Phật kiết hung” gọi duyên đó là thiện tri thức, đây là nhân
duyên tối quan trọng trong các thứ duyên. Quý vị gặp được một người thầy
tốt, vị thiện tri thức tốt, người này có tu có chứng và có thể giảng nói
thật rõ ràng thấu đáo để giải tỏa tất cả mọi thứ nghi hoặc của quý vị
khiến quý vị hốt nhiên đại ngộ, duyên này mới thật vô cùng thù thắng. Thứ
đến là có một đạo tràng tu hành tốt, có những người bạn đồng đạo tốt, tất
cả mọi thứ này đều là duyên thù thắng vô cùng quan trọng.
Trước kia, ở Trung quốc, sơ tổ
của Tịnh độ tông, ngài Huệ Viễn đại sư xây dựng đạo tràng đầu tiên, đó là
Ðông Lâm niệm Phật đường, trong đó có tất cả một trăm hai mươi ba người
cùng nhau tu tập, không như đạo tràng hiện nay của chúng ta, kẻ đi người
đến, đương nhiên đây cũng do tình trạng xã hội của ta khác với quý ngài
hồi xưa. Người dự tu trong đạo tràng của các ngài là cố định, họ đều phải
kiết giới nghĩa là mỗi người không được ra ngoài phạm vi giới hạn của mình
để chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sanh, duyên này thật quá ư là thù thắng.
Ngài Viễn Công, tức Huệ Viễn đại
sư, trong truyền ký mà chúng ta đã thấy đó, một đời của Ngài đã ba lần
nhìn thấy cảnh giới Tây phương Cực Lạc trong lúc niệm Phật, cảnh tượng mà
Ngài nhìn thấy hoàn toàn giống như trong kinh nói. Lúc bấy giờ kinh điển
của Tịnh độ tông chúng ta chỉ có một loại đó là kinh Vô Lượng Thọ, kinh A
Di Ðà và Quán Vô Lượng Thọ đều chưa được phiên dịch ra. Ðạo tràng Viễn
Công đại sư xây cất chỉ dựa theo kinh Vô Lượng Thọ, vì kinh này được
truyền sang Trung Quốc sớm nhất.
Trong truyện An Sĩ Cao đại sư có
dịch lại và nói: « Cảnh giới ở thế giới Cực Lạc mà ngài Viễn Công nhìn
thấy hoàn toàn có thật trong kinh Vô Lượng Tho »ï, thật là điều hy
hữu, đáng quý vô cùng. Viễn Công ba lần nhìn thấy, nhưng chưa bao giờ kể
lại với bất cứ một ai, dù trong lúc cộng tu cùng với đại chúng, Ngài cũng
không nói. Mãi đến khi lâm chung ngài mới nói với mọi người: “Cảnh giới
Cực Lạc đã hiện ra, đức Phật A Di Ðà đang đến tiếp dẫn tôi, cảnh tượng này
trong thời gian qua tôi đã được thấy tổng cộng ba lần”.
Quý vị xem, đây mới là người
thật sự tu hành, đối với họ “thấy như không thấy”, vì tâm của họ đã
định, không giống như những người hiện nay, vừa thấy được một chút gì lạ
vội cho rằng mình hay lắm liền nói với người này, người nọ là tôi đã thấy
Phật, tôi đã được cảm ứng v.và.. và v..v....Quý vị đâu ngờ rằng một khi
đem việc này khoe khoang nói ra, tâm thanh tịnh của quý vị đã hoàn toàn
phá hỏng hết. Phải luôn luôn ghi nhớ: cho dù định trung kiến (tức trong
lúc định tâm niệm Phật nhìn thấy) hoặc thấy trong giấc mơ cũng không nên
giữ trong tâm bởi vì “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” tạm
dịch: “Phàm có sắc tướng đều là giả”.
Những cảnh giới tốt đẹp mà ta nhìn thấy, bất luận là cảnh giới của Phật
hoặc cảnh giới nào khác, nếu ta ưa thích đem nói ra cho mọi người nghe đều
không phải là cảnh giới tốt. Bởi vì sao ? Bởi vì quý vị không có công phu,
không có định lực.
Thường giữ tâm thanh tịnh, tâm
bình đẳng, giữ tâm chân thành của ta mới là điều quan trọng, mới là điều
kiện đầy đủ tất yếu cho việc cầu sanh Tây Phương Tịnh Ðộ, hy vọng mỗi
người chúng ta luôn ghi nhớ một điều: “Bất luận là cảnh giới gì cũng
không nên đem ra nói cho người khác biết”.
Chư cổ đức đã từng căn dặn chúng
ta rằng: “Nếu quý vị có điều gì nghi hoặc, có thể hỏi thầy của mình,
nói rõ cho thầy để thầy ấn chứng và giải thích cho quý vị, giả như quý vị
không có nghi hoặc thì ngay đến thầy mình cũng không nên nói, vậy mới là
cảnh giới tốt”.
Trong kinh điển Phật dạy chúng
ta : “phát tâm bồ đề, thâm tín nhân quả, đọc tụng đại thừa, khuyến tấn
hành giả”. Chúng ta tự mình tu hành cho thật tốt tức là khuyên tấn
hành giả rồi vậy, bởi vì chúng ta có một hình tướng tu hành tốt đẹp khiến
mọi người nhìn thấy khởi tâm cảm động, ngưỡng mộ và tôn kính, xong chính
tự nơi họ cũng phát tâm muốn theo học, làm được như vậy mới tốt vì quý vị
đã độ họ. Riêng đối với những người đang tu học, nhìn thấy hình tượng tốt
đẹp của quý vị, khiến họ biết tự phản tỉnh, tự sửa lỗi để đổi mới và như
thế quý vị cũng đã độ họ rồi vậy.
Cho nên hình tướng vô cùng quan
trọng, trong “Kinh A Nan vấn sự Phật kiết hung” đoạn vừa mới khởi
đầu Phật liền nói với chúng ta: “Hình tướng tươi sáng” ý
nghĩa lời Phật nói rất sâu rộng, chẳng những hình tượng của Phật, Bồ tát
mà chúng ta cúng dường phải tươi sáng mà ngay ở hình tướng của chúng ta
càng phải tươi sáng hơn, mỗi ngày nhìn tượng Phật, ý nghĩa quan trọng nhất
là “kiến hiền tư tề” tạm dịch: “nhìn thấy thánh hiền tự nghĩ mình
phải bằng với các ngài”, các ngài đã thành Phật, như Bổn Sư Thích Ca Mâu
Ni Phật của chúng ta, Ngài đã thành Phật, trước kia Ngài như phàm phu
chúng ta, nhờ tu hành nên đã thành Phật. Ðức A Di Ðà Phật trong những kiếp
lâu xa về trước cũng vậy. Trong kinh Vô Lượng Thọ nói rất rõ: “Ngài do
tu hành mà thành Phật”. Bởi vì sao chúng ta mãi đến ngày nay vẫn còn
là phàm phu? !
Cho nên khi nào nhìn thấy hình tướng của các ngài và mỗi ngày lễ lạy,
chúng ta phải học theo, phải giống hệt như các Ngài, đây chính là tâm
nguyện của Phật, Bồ Tát, một khi chúng ta thật sự phát khởi tâm nguyện
này, các ngài sẽ vô cùng hoan hỷ, chắc chắn chúng ta sẽ được oai thần lực
và trí tuệ của các Ngài gia trì, người đời thường gọi là phò hộ. Phật, Bồ
Tát thật sự phò hộ cho chúng ta.
Ngược lại nếu như chúng ta khởi
tâm động niệm, lời nói việc làm trái nghịch với tâm của Phật, Bồ Tát, với
nguyện của Phật, Bồ Tát, cho dù các Ngài muốn gia hộ cho chúng ta cũng
không thể được, bởi vì cảm ứng đạo giao không khởi tác dụng. Do đó, chúng
ta muốn cầu chư Phật, Bồ tát gia hộ thì phải học theo các Ngài, buông xả
vạn duyên, nhất tâm chuyên niệm, chắc chắn chúng ta sẽ được thành tựu ngay
trong một kiếp này.
Hiện giờ thời gian đã hết, tôi
rất vui khi gặp gỡ mọi người ở đây và mong rằng trong tương lai tất cả
chúng ta đều vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
|^|
Nam mô A Di
Ðà Phật.
CHUYỂN NGHIỆP LỰC THÀNH
NGUYỆN LỰC
Kính thưa quí vị đồng tu,
Sáng nay ông Tổng Cán Sự yêu cầu
tôi lợi dụng buổi tối này nói chuyện cùng với quí vị, thời gian là một giờ
đồng hồ, vì sau có tôi có khách đến phỏng vấn.
Sau hai ngày đến đạo tràng,
tôi rất vui khi nhìn thầy quí vị đồng tu tinh tấn niệm Phật. Ngày hôm qua,
chúng tôi đến thăm trường Ðại Học Queensland, nghe nói gần đây trường này
có mở một môn học gọi là « Khoa tham khảo về an định xã hội và hòa bình
thế giới ».
Môn học này rất mới mẻ xưa
nay chưa từng có. Họ nói với tôi hiện nay trên toàn thế giới có khoảng tám
trường đại học đã ý thức được tính chất quan trọng của môn học này và đang
tiến hành mở lớp, trong đó sự tiến hành ở trường Ðại học Queensland là
thành công nhất. Nghe nói họ dự tính nhận khoảng 20 - 40 học sinh mà số
người ghi danh đã lên đến hơn 100 người.
Ðây là môn học xưa nay chưa
từng dạy qua nên không có kinh nghiệm. Họ đến tìm tôi vì biết tôi trong
nhiều năm qua đã có một chút cống hiến đối với việc tổ chức, hợp tác, trợ
giúp giữa tôn giáo và các cộng đồng với nhau. Tuy nhiên tôi chỉ có một ít
kinh nghiệm nhỏ bé để cống hiến cho họ tham khảo mà thôi. Chúng tôi đã trò
chuyện thật cởi mở và vui vẻ trong buổi gặp gỡ vừa qua.
Môn học này đối với xã hội
hiện tại có thể nói là vô cùng cần thiết và cấp bách, bởi vì chúng sanh
đang sống trên quả địa cầu đều ý thức được rằng:
Thế giới hiện nay quá loạn, tai nạn dồn dập, hầu hết mọi người đều có
cảm giác không an toàn, đây là tất cả hiện tượng của thời đại.
Nay nhìn thấy những vị Viện
trưởng, những vị Giảng Sư đại học có thể đề cập đến vấn đề này, tôi vô cùng cảm
động và tán thán họ có được tư tưởng và cách làm việc như vậy.
Trong Phật pháp gọi đó là Phật, Bồ Tát, đại từ đại bi cứu khổ, cứu nạn.
Trong tôn giáo của Tây phương gọi đó là sứ giả
của Thượng Ðế. Dựa vào những điểm này tôi có thể nói rằng thế giới đã lóe
lên một luồng ánh sáng vì có những người đáng quí như vậy xuất hiện, nên
tôi hết lòng khuyến khích họ.
Hai chữ Hòa Bình, hầu
như mọi người mỗi ngày đều mong cầu, sự mong cầu
này đã trải dài qua mấy ngàn năm, mấy vạn năm, hình như niềm hy vọng hòa
bình càng lúc càng thấy mỏng manh hơn.
Nguyên do vì
đâu? Ðối với ý nghĩa bên trong của văn hóa ngoại quốc tôi không hiểu,
nhưng đối với văn tự của Trung Quốc, ý nghĩa hai chữ Hòa bình rất sâu
rộng, trong đó bao gồm cả nhân quả.
HÒA:
là mọi người hòa thuận đối xử với nhau, tối
thiểu các chúng sanh sinh sống trên quả địa cầu này đều cần phải hòa thuận
đối xử, dĩ nhiên trong ấy bao gồm cả việc tôn trọng, yêu kính, chiếu cố
lẫn nhau, hợp tác giúp đỡ với nhau làm việc, Ðây chính là nội dung của
việc hòa thuận đối xử, là kết quả mà chúng ta mong cầu. Còn ‘Nhân’
là gì? Nhân là bình.
BÌNH:
là mỗi người có thể đối xử bình đẳng với nhau,
thì quả sẽ hiện thành, nếu như mong cầu được quả báo tốt mà cứ mãi tạo
nghiệp xấu làm sao có kết quả tốt được? Cho nên ý nghĩa của văn tự Trung
Hoa rất là sâu sắc, muốn đạt đến chỗ thế giới được hòa bình, xã hội được
ổn định, quyết phải thực hành ngay trong tâm của mỗi người chúng ta.
-Trước
tiên phải đối xử bình đẳng với tất cả mọi người mọi vật.
-Thứ hai, trong hoàn cảnh
sinh hoạt của ta bao gồm tất cả thực vật, khoáng vật ở chung quanh, chúng
ta đều phải bình đẳng đối xử.
-Thứ ba, là đối với thiên
địa, quỉ thần, chúng ta vẫn phải bình đẳng tôn kính.
Nếu thực hiện tốt ba sự
quan hệ này. Hai chữ Hòa thuận mới có thể hiện
thực.
Người
với người hòa thuận
Người
với đại thiên nhiên hòa thuận
Người
với thiên địa quỉ thần hòa thuận, chắc chắn sẽ có hòa bình
Nếu như chúng ta vừa khởi
tâm động niệm chỉ nghĩ đến lợi ích của mình, nghĩ đến việc làm đó có phù
hợp với lợi ích của mình không? Như vậy, vĩnh viễn sẽ chẳng bao giờ hy
vọng có hòa bình. Chúng ta thường thấy những bài diễn văn của những vị
lãnh tụ giữa các quốc gia, hầu hết đều chỉ đề cập đến những việc làm nào
phù hợp với lợi ích quốc gia của mình. Nếu còn mang ý niệm như vậy thì Hòa
bình sẽ không bao giờ có hy vọng. Giả như mỗi vị lãnh tụ của mỗi quốc gia,
khi khởi tâm động niệm đều biết nghĩ rằng: Việc làm của mình, cách suy
nghĩ của mình có phù hợp với lợi ích cho nhân loại trên toàn thế giới của
quả địa cầu này không?
Ðược
như vậy, hòa bình của thế giới mới có nền tảng, nếu chỉ biết nghĩ đến lợi
ích riêng tư của mình, của quốc gia mình, không đoái hoài, suy nghĩ đến
lợi ích của quốc gia khác, thì giữa người với người, giữa quốc gia với
quốc gia, giữa chủng tộc với chủng tộc, giữa tôn giáo với tôn giáo làm sao
lại không phát sinh xung đột?
Dù là niềm tin của tôn giáo
nào, vừa khởi tâm động niệm, quyết định phải nghĩ đến việc làm đó có phù
hợp với lợi ích cho tất cả các tôn giáo khác không? Ðây mới thật sự là
nguồn gốc của Hòa bình.
Ai là sứ giả của Thượng Ðế?
Ai là Phật, Bồ Tát? Là những người thật sự phát tâm hy sinh, phụng sự và
cống hiến, khởi tâm động niệm luôn vì người chẳng hề vì cá nhân mình.
Trong lúc giảng kinh, tôi thường nói: Quí vị lần này đến thế gian để
làm người, đại đa số là do nghiệp lực dẫn tới, bản thân tôi cũng vậy.
Vì sao chúng ta phải học
Phật?
Vì Phật pháp dạy chúng ta
có thể tự chính mình chuyển nghiệp lực thành nguyện lực. Ðây là sự chỉ dạy
không thể nghĩ bàn.
Thế nào là “Nghiệp lực” ?
Mỗi một ý niệm chỉ nghĩ cho cá nhân, đó là nghiệp lực. Chỉ cần quí vị còn
giữ một chút ý niệm vì lợi ích cá nhân, cho dù quí vị tu hành như thế nào
hoặc giỏi đến đâu cũng không thể chống chọi lại với nghiệp lực.
Trong nhà Phật thường nói:
“Tín - Phật -chúng sanh, tam vô sai biệt”, tạm dịch: “Tin - Phật - Chúng
sanh, ba thứ không hề sai khác”. Ðó là Tâm lực - Phật lực - nghiệp lực. Ba
thứ lực lượng này đều lớn như nhau. Chúng sanh thuộc về nghiệp lực, giả
như chúng ta biết kết hợp hai lực lượng của Tâm lực và Phật lực, chắc chắn
chúng ta sẽ vượt khỏi được Nghiệp lực.
Lực lượng của tâm là sức
mạnh của sự chuyển biến trong tâm, trong tư tưởng của chúng ta. Lực lượng
của Phật là Phật lực gia trì, nhờ hai lực lượng này để chuyển nghiệp lực.
Nếu không như thế, cho dù
quí vị có xuất gia đi nữa cũng không thể chuyển nghiệp lực được. Ðiều này
tôi rất có kinh nghiệm, đây là một điển hình thực tế mà tôi đã từng nói
với nhiều người.
Khi tôi xuất gia, tôi với
hai người bạn thân, cả ba chúng tôi đều cùng chung chí hướng và tâm đạo
giống nhau. Trong cùng một năm, tôi với hai thầy Minh Diễn và Pháp Dung
đồng thời thọ giới. Những người xem tướng bói toán đều nói số mạng của cả
ba người chúng tôi không qua khỏi 45 tuổi, phước mỏng đoản mạng.
Trong lòng chúng tôi đã
biết rõ điều này, nên sau khi xuất gia, cả ba người đều vô cùng siêng năng
tinh tấn. Ðặc biệt là thầy Minh Diễn, hết sức dõng mãnh tinh tấn, nghiêm
trì giới luật. Trong suốt 50 năm qua, tôi chưa từng thấy ai có thể hơn
thầy ấy.
Tháng hai, năm 45 tuổi thầy
Pháp Dung ra đi, tháng năm, thầy Minh Diễn cũng ra đi, tháng bảy, tôi bị
một trận bịnh nặng. Tôi tự nghĩ, cả ba người chúng tôi thật sự không thể
sống qua năm này. Lúc đó, tôi đang tham dự mùa an cư, kiết hạ ở chùa Ðại
Giác tại Cơ Long, thầy trụ trì là Hòa Thượng Linh Nghiêm, Hòa Thượng bảo
tôi giảng kinh Lăng-Nghiêm, tôi mới giảng tới tập thứ ba, vì mang bệnh
nặng nên không thể giảng tiếp, tôi tự biết giờ chết đã đến nên không đi
khám bác sĩ, không uống thuốc. Bởi vì bác sĩ chỉ có thể chữa bệnh chứ
không thể chữa mệnh, nếu như mạng sống đã hết, thuốc men cũng chẳng thể
làm gì được.
Tôi chỉ còn cách niệm Phật
cầu sanh Tịnh độ, niệm Phật hơn một tháng, sức khỏe dần dần hồi phục trở
lại và mãi cho đến ngày hôm nay tôi chưa từng bị bịnh nặng lần thứ hai.
Sau trận bịnh đó, khoảng một năm sau, tôi dự pháp hội Luân Vương gặp Ngài
Cam Châu (Ngài Cam Châu là Lạt Ma tái sanh), ngài là bạn cũ của tôi và
cũng là học sinh của Chương Gia Ðại sư. Ngài lớn hơn tôi khoảng 16, 17
tuổi, chúng tôi gặp nhau ở trong pháp hội.
Ngài nói với tôi: “Chúng
tôi thường nói chuyện về thầy, một người giỏi giắn thông minh, nhưng rất
tiếc đoản mạng, không có phúc báo”.
Tôi nói: “Những điều này
có thể nói thẳng với tôi, không cần e ngại vì tôi biết và tôi cũng sẵn
sàng chấp nhận”.
Ngài nói tiếp: “Mấy năm
nay thầy giảng kinh thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh, tướng của thầy đã
hoàn toàn thay đổi, thầy chẳng những trường thọ mà còn có đại phúc báo
nữa”.
Qua những điều kể trên,
chúng ta phải khéo biết phản tỉnh. Vì sao hai thầy Minh Diễn và Pháp Dung
tinh tấn dõng mãnh như thế mà vẫn không thể chuyển đổi số mạng? Bởi vì hai
thầy chỉ vì mình, sở dĩ tôi có thể kéo dài tuổi thọ chuyển đổi mạng số bởi
tôi không vì cá nhân tôi, tôi vì chúng sanh, vì Phật Pháp, đây thuộc về
tâm linh.
Sau khi học Phật, tôi hiểu rõ
Phật pháp vô cùng thù thắng, vô cùng hoàn mỹ, nhưng rất tiếc không có
người hoằng dương. Nếu như chúng ta không biết thì chẳng nói làm gì!
Một khi đã biết mà không gánh vác trách nhiệm phục hưng giáo pháp, chúng
ta có lỗi với Phật Ðà, có lỗi với thầy Tổ, có lỗi với chúng sanh và có lỗi
với chính mình. Tôi quan niệm như vậy.
Học Phật, thế nào gọi là
học Phật? Là học theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni, tâm
của Ngài như thế nào? Hoàn toàn mang tấm lòng vì tất cả chúng sanh, không
hề mang tâm nghĩ cho cá nhân Ngài, nếu vì Ngài, thì Ngài đã trở về làm
Quốc Vương rồi, bởi Ngài là Hoàng Tử, kế thừa ngôi vua, vì sao Ngài lại
không chịu làm vua để hưởng thụ? Vì sao Ngài lại buông xả cuộc sống hưởng
thụ vinh hoa phú quý? Bởi vì sao? Vì Ngài muốn giúp đỡ những chúng sanh
khổ nạn, muốn giúp những chúng sanh đang bị khổ nạn mà không hòa mình
chung sống thì làm sao có thể giúp đỡ họ được? Ai có thể tin tưởng? Vừa
trông thấy hình dáng của một vị Hoàng Tử, người ta đã chạy trốn từ đàng xa
rồi, không ai dám gần gũi, cho nên ngài phải sống một cuộc đời giống hệt
như những chúng sanh khổ nạn vậy.
Ðạo lý này, tất cả quý vị
đồng tu ở Singapore đã từng trông thấy và nghe về bà cụ Hứa Triết. Tất
nhiên sẽ hiểu rất rõ vì sao bà cụ Hứa Triết phải sống vô cùng khổ cực như
vậy?
Cuộc sống của bà gần như
giống đức Phật Thích Ca, ngày ăn một bữa rau tươi, các thứ dầu, muối, gia
vị đều không dùng, sinh hoạt vô cùng đơn giản. Khi tôi hỏi đến thì bà cụ
trả lời: “Tôi muốn giúp đỡ, chăm sóc những người nghèo khổ, nếu cuộc
sống của tôi không giống như họ, họ sẽ không nhận sự chiếu cố của
tôi”.
Áo quần của bà cụ Hứa Triết
mặc là do lượm từ trong những thùng rác, quần áo nào vừa thì bà giặt sạch
sẽ để mặc, quần áo nào không vừa, thì tự sửa lại, chưa bao giờ tốn tiền
mua sắm áo quần.
Năm nay bà đã 104 tuổi rồi,
thân thể khỏe mạnh như người trẻ tuổi. Cuộc sống như bà cụ mới thật là
cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn. Hơn 100 tuổi, chưa từng đau ốm qua, một chút
bệnh tật cũng không có. Tôi quan sát kỹ thấy bà cụ chỉ mất có mỗi một cái
răng, tóc bà có bạc nhưng thể lực khỏe mạnh như người ở tuổi 30, 40. Hiện
nay bà vẫn đang tiếp tục săn sóc những người nghèo khổ nhất, đa số là
những người già 60 - 70 tuổi, bà cụ Hứa Triết năm nay 104 tuổi mà vẫn còn
chăm sóc người già 60 - 70 tuổi, đại chúng trong xã hội, không ai mà không
tôn kính bà cụ. Chúng tôi cũng thường tặng một ít tiền bạc cho bà, bà liền
dùng tiền đó tiếp tục đi giúp những người nghèo khổ.
Qua hình ảnh này quý vị mới biết Phật Thích Ca Mâu Ni vì sao Ngài phải
sống một cuộc sống như thế !
Hôm nay, chúng ta là những
người đệ tử của Phật, đang được thừa hưởng phước báo của Ngài, tiếp nhận
sự cúng dường đầy đủ, phong phú của tứ chúng, mà hành vi, việc làm của
chúng ta thì quên hết tất cả những việc làm, hành vi của Phật, chẳng giống
Phật một chút nào. Cho nên chư cổ đức từng nói: “Trước cửa địa ngục, người
tu nhiều’’, những ai đọa địa ngục ?
– Người xuất gia.
Người xuất gia vì sao lại đọa địa ngục ? Bởi quý
vị hưởng thụ sự cúng dường của tứ chúng, mà không chịu học theo Phật, quý
vị không đọa thì ai đọa đây? Ðương nhiên, ở xã hội hiện nay chúng ta nhìn
thấy những người tạo tội ngũ nghịch thập ác rất nhiều cho nên cảnh tượng ở
dưới địa ngục hiện giờ chen chút nhau rất đông đảo náo nhiệt, người xuất
gia sở dĩ bị đọa lạc, bởi vì vô minh không hiểu, nên bị ảnh hưởng bởi
phong khí của xã hội, tham đắm sự hưởng thụ của ngũ dục lục trần, quên
sạch hết việc hoằng pháp lợi sanh.
Thế giới hiện nay, nếu không
được Phật lực gia hộ thì chắc chắn sẽ được yêu ma quỉ quái gia trì, việc
này tôi nhìn thấy rất rõ.
Yêu ma quỉ quái gia trì cho
quý vị bằng cách nào? Tăng trưởng tham, sân, si, mạn, khiến cho tham sân
si mạn của quý vị mỗi năm mỗi tăng trưởng, đó là Ma đang gia trì cho quý
vị, tiền đồ tương lai một màu đen tối !
Những “Phật sự hình
thức” không ngừng tái diễn để lừa gạt tín đồ Phật tử, lừa gạt những
thiện nam, thiện nữ tốt lành của thế gian, tội của quý vị sẽ nặng biết
chừng nào ! Tâm của quý vị không phải là tâm của Phật. Tâm của Phật là tâm
từ bi, tâm bình đẳng, tâm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Hành vi của quý vị không
phải là hành vi của Phật, vì hành vi của Phật tối thiểu phải có thập thiện
ngũ giới. Chúng ta chưa thực hành được như vậy. Hành vi tối thiểu của
người xuất gia là Sa di mười giới, hai mươi bốn điều uy nghi, thật sự làm
được như thế, quý vị mới có thể gọi là người xuất gia, là người chỉ thực
hiện tới mức tiêu chuẩn tối thiểu, chứ chưa phải là tiêu chuẩn cao, tối
thiểu phải được như vậy, không thể kém hơn.
Nếu như không có mười giới, hai mươi bốn điều uy nghi, quý vị không phải
là người xuất gia, là người giả mạo làm đệ tử Phật, không phải là người
thật sự xuất gia, nếu lại ngay đến “Ðệ tử quy” cũng không thể thực hành,
quý vị không phải là học trò của Khổng Lão Phu Tử.
Tiêu chuẩn hành trì trong
giáo dục của nhà Nho, thấp nhất là Ðệ tử qui, đó là bài học của những em
nhỏ 5 -6 tuổi. Hôm nay chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh quý vị phải nỗ lực học
tập là bởi vì sao? Vì xưa kia lúc còn nhỏ quý vị chưa được học, hiện giờ
đã 30, 40 tuổi rồi, qua một thời gian lâu dài như thế đã tập thành nhiều
thói hư tật xấu, những tập quán không tốt lành, chỉ cần quý vị mở quyển
sách Ðệ Tử Quy, quyển Thái Thượng Cảm Ứng Thiên và Sa Di Luật Nghi ra xem,
những gì quý vị chưa thực hiện được đều do tập khí xấu.
Cư sĩ tại gia không thực
hiện được, lỗi đó còn nhẹ, tu sĩ xuất gia mà không thực hành được, tội lỗi
của quý vị mới thật là nặng. Cho nên Ngài Ấn Quang Ðại Sư cả một đời không
làm việc thế phát cho ai (không xuất gia cho người), nguyên do vì đâu?
Cuộc đời của Ngài có “ba điều không”, đó là:
- Không xuất gia cho
người.
- Không truyền giới.
- Không làm trụ trì
Ngài không thế phát (xuất
gia) cho người là đại từ đại bi, bởi vì sao? Vì xuất gia cho một người là
khiến cho một người đọa xuống A Tỳ địa ngục,
Ngài không nhẫn tâm để cho quý vị đọa địa ngục. Bởi người xuất gia là
tượng trưng cho Phật, cho hình tướng của Phật, nếu quý vị làm không giống
Phật, khiến cho người thế gian nhìn thấy rồi hủy báng Phật pháp, hủy báng
người xuất gia, tội của quý vị lớn biết chừng nào!
Quý vị là người đại diện
cho hình tướng của Phật, Bồ Tát, nếu như hình tướng của quý vị có thể
khiến cho xã hội đại chúng nhìn thấy, phát tâm tôn kính và tán thán, công
đức của quý vị vô lượng vô biên. Ngược lại quý vị khiến cho người khác hủy
báng, chửi mắng Phật. Tội lỗi của quý vị là ở A Tỳ địa ngục. Tổ sư
không xuất gia cho người đó thật sự là do lòng đại từ đại bi.
Ngài không làm trụ trì, vì
trách nhiệm của trụ trì quá lớn, giống như Hiệu trưởng vậy. Sứ mạng là
giáo hóa dân chúng cả một vùng, Ấn tổ có khả năng không ? Ngài có khả
năng, nhưng không có người cấp dưới có thể hợp tác. Như một người hiệu
trưởng không có người đồng tâm hiệp lực, không thể xây dựng tốt một trường
học.
Cho nên làm trụ trì của một
chùa không phải là chuyện đơn giản, một người trụ trì tốt, tối thiểu phải
có thêm ba người chấp sự chính yếu tốt, giống như trường học, ngoài hiệu
trưởng tốt, cần có người giáo vụ tốt, người tổng vụ tốt và người huấn đạo
tốt, thêm vào đó cần có giáo viên tốt nữa thì trường học mới tốt được. Ấn
tổ thật sự không dám đảm nhận vì không có người có thể hợp tác với ngài.
Cho nên chúng ta hãy nghĩ xem muốn xây dựng một đạo tràng tốt còn khó làm
được, huống hồ hiện giờ trường Ðại học muốn đẩy mạnh công tác xây dựng hòa
bình, an định xã hội trên toàn thế giới, thật không phải là chuyện dễ
dàng.
Ngày hôm qua tôi nói với những vị giáo sư phụ trách về môn học này và vị
Viện trưởng của trường Ðại học Queensland rằng: “Muốn thực hiện công
tác này, điều khó khăn nhất là tìm đâu ra người thật sự chịu hy sinh, sẵn
sàng phụng sự và cống hiến”.
Ðây là điều kiện tiên quyết
của thế và xuất thế gian pháp, cho nên quan trọng nhất là do ở con người.
Không có nhân sự cho dù nguyện vọng, lý tưởng có tốt như thế nào đi nữa
cũng không thể thực hành. Nhân sự là quan trọng nhất.
Thật tình mà nói hiện giờ
chúng ta có đầy đủ về mọi mặt, duy chỉ thiếu nhân sự. Chúng tôi hy vọng
những vị Viện trưởng, các vị giáo sư phát tâm chân thành, nguyện cầu Phật,
Bồ tát, hy vọng Phật, Bồ tát, Thánh thần thật sự phái Bồ tát, phái sứ giả
đến. Ngoài phương pháp này ra không còn cách nào hơn.
Khởi tâm động niệm, không
nên vì cá nhân ta, phải hết lòng tình nguyện sống một cuộc sống khổ cực
nhất để vì mọi người. Ta sống khổ một chút thêm một phần phước báo cho
người khác. Ta hưởng thụ thêm một chút thì người khác phải chịu khổ thêm
một phần. Ta sớm một ngày thành tựu, chúng sanh sẽ sớm một ngày được
phước. Ta trễ một ngày thành tựu, chúng sanh sẽ bị khổ nhiều hơn. Phải có
tư tưởng, nguyện vọng như thế mới được. Người như vậy biết tìm đâu ra bây
giờ ?
Người Trung Quốc thời xưa thường nói: “có thể gặp mà không thể cầu”.
Tuy nhiên, hiện nay trường Ðại học mở môn học này, “đã có hơn một trăm
người tự động đến ghi danh” đây là lời nói của những vị giáo sư tổ chức
nói với tôi.
Tôi tin tưởng trong số hơn một trăm người của hai trường học đó chắc chắn
là có người do thừa nguyện tái lai đến để cứu vãn tai nạn của thế giới.
Ngày hôm trước chúng tôi đến thăm trường Ðại học Griffith, gặp cả hai vị
Viện trưởng của hai trường Ðại học Griffith và Queensland. Hai vị này đều
vô cùng nhiệt tâm với nền giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa.
Tôi nói: “Tôi không bì được với hai ông, quý ông thật sự phát tâm làm
công việc này. Tôi sẽ tận lực, tận tâm để hợp tác”.
Trong quý vị những người xuất gia ở đây, chưa có người thành tựu, tôi tin
rằng, trong số học sinh tình nguyện ghi danh của hai trường Ðại học đó rất
có thể có Phật, Bồ tát tái lai. Tôi rất vui khi nhìn thấy tinh thần nhiệt
thành của hai học viện này. Họ tự động đến tìm tôi, không phải tôi đi tìm
họ. Tôi còn biết hiện nay trên thế giới có tám trường Ðại học đã có cùng
một lý tưởng, quan niệm vì nền hòa bình của thế giới và đang hướng về mục
tiêu này đẩy mạnh.
Tôi nói: “Ðây chính là cội
nguồn ánh sáng của thế giới”.
Nghe xong họ gật đầu khẳng
định. Thật sự đây là luồng ánh sáng của thế giới, bởi vì thế giới vẫn còn
có thể cứu vãn. Cho nên tôi thường khuyên quý vị đồng tu, có phải lần này
chúng ta đến thế gian đây để ứng kiếp? Nghĩa là trong đại tai kiếp của thế
giới này. Chúng ta đến đây tham gia hủy diệt và hưởng ứng với đại tai nạn
đại tai kiếp để cùng nhau đi đến chỗ tận diệt ? ! Hoặc là quý vị đến thế
gian này để cứu vãn tai kiếp? Nếu như nói rằng có khả năng cứu vãn tai
kiếp.
Vấn đề không phải là có khả
năng hoặc không có khả năng, phải xem quý vị có phát tâm hay không? Phàm
Thánh khác nhau chỉ trong một niệm, một niệm xả kỷ vị tha tức là chuyển
phàm thành thánh, còn như không chịu vứt bỏ tánh ích kỷ, không chịu sửa
đổi thói hư tật xấu, thì quý vị chính là người đến đây để hưởng ứng tai
kiếp, không thể tránh thoát tai nạn.
Thực tế mà nói, chúng ta
quyết định không cần phải trốn tránh tai nạn, đối với tai nạn chúng ta
không hề sợ hãi, chỉ có một nguyện vọng duy nhất là tận tâm tận lực giúp
đỡ những chúng sanh đang bị khổ nạn trên thế giới. Một nguyện vọng duy
nhất này thôi. Sự sống chết, tồn vong của chính mình đều đã buông bỏ hết,
hà huống là những thứ khác.
Con người sống ở thế gian,
nếu chỉ biết vì mình, quý vị sẽ bị nghiệp lực chi phối cả một cuộc đời của
quý vị. Hãy đọc sách Liễu Phàm Tứ Huấn sẽ tự rõ, ngược lại nếu biết vì
chúng sanh, lập tức sẽ chuyển nghiệp lực thành nguyện lực. Sự chuyển biến
này, trong Phật Pháp thường nói là thừa nguyện tái lai, nghĩa là ta cởi bỏ
được nghiệp lực, vì nguyện lực đã thù thắng.
Do nguyện lực mà sống ở thế
gian thì rất tùy duyên, chúng sanh có phước, ta vì họ phục vụ thêm ít
ngày, chúng sanh không có phước thì ta phục vụ họ ít đi vài ngày. Thời
gian trụ thế dài hay ngắn đã không còn liên quan gì với cá nhân ta nữa mà
tùy xem phước báo của chúng sanh. Ðối với Phật Pháp, Phật Pháp tự sẽ có
Phật Bồ Tát an bài chúng ta không cần phải bận tâm. Việc hưng thịnh của
Phật pháp chúng ta đã nhiều lần đọc kinh Hoa Nghiêm, biết đó là do chư
Phật Bồ Tát ứng hóa đến đây.
Chúng sanh không có phước,
muốn tạo đại tai kiếp, nên chư Phật Bồ tát tạm thời lánh đi, chờ khi tai
kiếp qua rồi, các Ngài sẽ trở lại, Phật, Bồ tát chiếu cố chúng sanh, thật
không sơ sót chỗ nào, trong Phật pháp thường nói :“Phật thị môn trung,
bất xả nhất nhân” nghĩa là “trong nhà Phật chẳng hề từ bỏ một ai”.
Cho nên tâm của chúng ta
phải tương ưng với tâm của Phật.
Thế nào là tâm Phật?
Chúng tôi học Phật đã được
nửa thế kỷ rồi, các vị giáo sư hỏi tôi dạy học đã được bao lâu?”
Tôi nói: “Ðã được 44
năm”.
Tôi
tổng kết tâm Phật lại thành mười chữ, đó là tâm: chân thành, thanh
tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi.
Quý vị nên nhớ, chẳng phải
Phật có năm cái tâm, chỉ có duy nhất một tâm, trong đó đầy đủ chân thành,
thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi. Ðây là tâm của Phật.
Còn hành vi của Phật là
nhìn thấu, buông xả, tự tại, tùy duyên, niệm Phật.
-Buông xả là gì? Là buông
bỏ những thói hư tật xấu của chính mình.
-Nhìn thấu là đối với thế
và xuất thế gian pháp như trong kinh Bát Nhã nói: chư pháp thật tướng
hoặc trong kinh Ðại thừa thường nói: Tính, Tướng, Sự, Lý, Nhân, Quả,
quý vị đều hiểu thấu gọi là nhìn thấu.
Chân tướng là gì? Trong
kinh Kim Cang nói rất rõ: ”Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”.
Phật nói rất hay, tất cả các tướng đều “vô sở hữu, tất kính không, bất
khả đắc” lời nói này hoàn toàn là sự thật.
Ngày hôm qua chúng tôi đến
thăm trường Ðại học Griffith, hôm nay họ mang tấm hình chụp đến cho tôi.
Tôi xem qua, liền thấy rõ “vô sở hữu, tất kính không, bất khả đắc”.
Quý vị xem trong một tích tắc chụp hai tấm ảnh, tấm ảnh sau, tuyệt đối
không thể là tấm ảnh trước, thời gian rất ngắn trong một tích tắc thôi,
một khi nó qua rồi chúng ta không thể kéo lại được, quý vị nói có thể
chiếm hữu nó được không? Chẳng được gì cả. Cho nên quý vị chỉ cần nhìn tấm
ảnh đã chụp, cũng có thể tự biết thức tỉnh khai ngộ và minh tâm kiến tánh,
biết nó là giả là không.
Ngày nay chúng ta bị mê, mê
ở chỗ nào ? Ở chỗ xem những hình ảnh nối liền nhau cho là thật, như vậy
mới bị thiệt thòi lớn, nên nhớ mọi vật chẳng có gì là thật cả, tất cả đều
“tất kính không, bất khả đắc”.
Quý vị một khi hiểu rõ được
đạo lý này rồi, còn gì mà không thể buông xả? Buông bỏ đi những ích kỷ,
những phiền não, thói hư tật xấu để thuận theo lời răn dạy của Phật vì tất
cả chúng sanh khổ nạn làm tấm gương tốt, được như thế thật là công đức vô
lượng. Chỉ có vô lượng công đức này quý vị mới có thể mang theo, ngoài ra
không có một thứ gì có thể mang theo được. Người thông minh nên tạo những
điều có thể mang theo, ngược lại thì không nên làm.
Chúng ta hãy nhìn xem, cái
bịnh nghiêm trọng nhất của xã hội đại chúng ngày nay là gì ? Con người
ngày nay thật là bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất