PHÁP
MÔN
Trì Danh Niệm Phật, Vãng Sanh Cực Lạc
Tác giả:
Huỳnh Lão cư sĩ
Hải Huyền
Viên Giáo
dịch
PL. 2545
---o0o---
CHƯƠNG III
(2)
PHƯƠNG PHÁP
PHÁP MÔN TU TỊNH ÐỘ
(Trì danh Niệm
Phật)
- Phát tâm: Phát
bồ đề tâm.
- Tín - Nguyện -
Hạnh đầy đủ. Thiếu một thì chẳng thành.
- Chấp trì danh
hiệu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, một lòng chuyên niệm, chí thành khẩn thiết,
hàng ngày niệm, hàng giờ niệm, đến lúc lâm chung có Phật, nhất tâm bất
loạn.
Phần sau đây là phần chung, không luận bất cứ pháp môn nào, đều phải
biết rõ ràng để ra sức tu hành:
- Tin về luật nhân
quả một cách sâu xa.
- Tư tưởng và hành
vi nên tuân theo “Bát chánh đạo” mà hành trì.
- Rõ thế nào là ác
(chẳng làm các việc ác), rõ thế nào là thiện, (vưng làm các việc thiện),
rõ tâm như thế nào mới có thể thanh tịnh (tự tịnh nơi tâm ý).
- Nhẫn nhục.
- Tinh tấn.
- Ăn toàn chay.
- Làm được công
đức nên hồi hướng.
- Phạm lỗi cần
phải sám hối.
Tu trì pháp môn
trì danh niệm Phật tức là mấy câu nói như thế nầy sao? Quá đơn giản; Thế
nhưng không nên coi nhỏ những câu nói nầy! Nhìn thì giống như đơn giản,
mà làm thì biết rồi, nếu chẳng cố gắng công phu thích đáng, thì thật
không dễ gì làm cho thông suốt! Vì người đời nhiều kiếp vốn quen, lại
thêm căn tánh kém cỏi nặng nề, tập khí (tâm bệnh xấu xa) lại nhiều. Niệm
Phật! Có người niệm lại thành ra “cầu ông thần tài”; Có người ra công
gấp rút để việc lợi đến gần, thấy không có cảm ứng thì chẳng niệm nữa,
trước thì siêng năng sau thì sa đọa; Có người cho là mười niệm hoặc sớm
tối chỉ niệm một niệm tức là đã niệm Phật, thì có thể vãng sanh Cực Lạc,
mà chẳng chịu niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật; Có người đã tu
được mấy mươi năm, mà còn bị chuyển bỡi hai cảnh thuận - nghịch, bị vây
khổn vì tình, bị trói buộc vì ái, ngay cả một chữ “tham” cũng tu hành
không thông!
Phàm là học tập
một việc gì, cũng cần phải rõ ràng mấy điểm sau: 1- Mục tiêu là gì? 2-
Thế nào là có phương pháp hiệu quả? 3- Những nổ lực đã trải qua kia, từ
việc người có phương pháp hữu hiệu, đã được thành quả thế nào?
Mục tiêu của pháp
môn tu trì danh niệm Phật là vãng sanh thế giới Cực Lạc - thành Phật!
Chấp trì danh hiệu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, cùng với trì giới, bố thí,
thanh tịnh, tự tâm, nhẫn nhục, tinh tấn, ăn toàn chay là phương pháp hữu
hiệu; Trong “Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục” đã chép thuật sự tích của các bậc
cao Tăng Ðại đức vãng sanh, đó là thành quả, hơn bốn mươi tám năm - tại
Ðài Loan - đã xuất bản quyển “Niệm Phật Cảm Ứng Kiến Văn Ký” cũng là
chứng minh cho thấy.
TÍN – HẠNH –
NGUYỆN
Trì danh niệm Phật,
Tín - Nguyện - Hạnh, là ba món tư lương (lương thực để nuôi sống) rất quan
trọng và rất cần thiết của vấn đề vãng sanh, thiếu một thì chẳng được!
Chẳng có “Tín” thì không thể lập “Nguyện”, chẳng có nguyện thì không thể
tuân hành lập “hạnh”. Chẳng có “Hạnh” thì không thể chứng “Tín”, mà đầy đủ
được “sở nguyện”.
à
TÍN, tức là “tín tâm” (chân tướng tín), tin cõi Ta bà là biển khổ, đời
người là khổ, khổ nhiều vui ít, tin lời Phật chẳng luống dối hư huyễn, tin
chắc chắn có thế giới Cực Lạc, tin chắc chắn có Phật và Bồ tát, tin rằng
ta chí thành chuyên nhất niệm Phật, thì lúc mạng chung Ðức Phật A Di Ðà
nhất định sẽ đến tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ngay nơi tin thì
chẳng được sinh nghi (lơ là), ngay nơi nghi thì không thể vãng sanh! Tín
tức là thái độ cung kính chân thành và niềm tin tuyệt đối; Nếu như vừa
muốn được lại vừa hoài nghi, thế thì không có hiệu quả. Tín tâm có bốn ý
nghĩa:
1 - Tin Phật có công
đức lợi ích bất khả tư nghì.
2 - Thường để tâm
đối với Phật pháp.
3 - Thường hằng tư
duy đạo tu hành, có thể tô bồi thêm lên đức tốt tự lợi, lợi tha.
4 - Học tập đến nơi
đến chốn đạo lớn của Phật đà.
“Tín tâm” là căn bản
của Phật đạo, suối nguồn của đức tốt, nơi có thể làm tăng trưởng tất cả
thiện hạnh, đoạn trừ tất cả mê chướng, ra khỏi dòng lớn ham muốn; Vững
chắc tín tâm, phát nguyện niệm Phật. Cầu sanh về thế giới Cực Lạc, tín tâm
cần phải kiên cố, chẳng nên lay động tín tâm. Không luận là gặp tà kiến
ngoại đạo, hay bất cứ tông phái nào, nếu vui về ngũ dục, đều chẳng nên để
cho bị nó làm lay động tín tâm.
Tín tâm vững chắc
không dời đổi, thì nên xem xét tâm mình có đơn thuần hay không? Tâm càng
đơn thuần thì càng có thể hoàn toàn tiếp nhận được Phật pháp của Ðức Phật
dạy bảo chúng ta. Trong kinh nói rằng:
“Phật pháp như biển
lớn, tin là có thể vào, trí là có thể độ”.
Như vậy đủ để chứng
minh rằng nếu thiếu tín tâm, thì không thể vào được pháp Phật. Có rất
nhiều người qui y Tam bảo, cũng trì danh niệm Phật, song niềm tin của họ
lại tôn sùng ngoại đạo - loại tín tâm nầy là “Bất chánh” (không chánh
tín).
à
NGUYỆN, là “chơn nguyện”, ưa thích Cực Lạc, nhàm chán Ta bà, nguyện mau ra
khỏi thế giới khổ nầy, nguyện mau sanh về thế giới Cực Lạc kia, nguyện
tuân theo sự chiếu rọi của pháp Phật, tin chịu vưng làm. Nếu còn tham
luyến các việc: giàu có, danh tiếng, quyền thế, người thân, vật chất hưởng
thụ... như thế không phải là nhàm lìa thế giới nầy, mà là tham luyến thế
giới nầy.
à
HẠNH (hành), là tu trì pháp Phật, tin thọ phụng hành, đừng để niệm tạm
quên, tu hành tận sức, chẳng gấp cầu lợi, nửa đường bỏ cuộc, chẳng nhìn
khác nghĩ lệch, thấu suốt mà làm. Hạnh thì cần phải làm, chẳng phải niệm
nói suông là ta học Phật tu hành mà thôi, tức là phải tu dưỡng bằng công
phu. Nếu không như thế, thì cũng giống như: Bánh vẽ mà no được đói, trông
trái mơ mà đỡ được khát sao?
Do đó, niệm Phật cần
phải phát tâm lâu dài, rời xa tất cả tâm tạp nhiễm, tâm nghi ngờ, tâm kiêu
xa... cố gắng ráng sức tu hành như thế, vãng sanh Cực Lạc là lẽ đương
nhiên, là điều phải đến.
Tín - Hạnh - Nguyện,
nếu như có tín mà không có nguyện, là biết có chỗ đến tốt mà không nguyện
đến, cũng là uổng vậy. Có nguyện mà không có hạnh, cũng như phiếu chi mà
không có đầu, chẳng giúp được gì đối với công việc. Ba việc Tín - Hạnh -
Nguyện, là lấy tín và nguyện để lập hạnh (hành), lấy hạnh để thực hiện tín
và nguyện.
Người thực hành niệm
Phật, tu tập thiện pháp không được sinh nghi, nếu không tín tâm thì nguyện
và hạnh không từ đâu khởi, tức là thiếu mất một sức lực tinh thần mạnh mẽ
để tiến thẳng về trước. Người nghi ngờ, bị sự nghi che tâm, ở trong các
pháp không được tín tâm, vì không có tín tâm nên ở trong sự niệm Phật thật
không được gì.
Một người có “nghi
kiến” (thấy nghi ngờ), tức đối với chân lý chắc thật sinh lòng hoài nghi
do dự. Chúng ta có thể tin chắc niệm Phật tức là nhân duyên phước đức
thiện căn rất nhiều. Chúng ta phải nên đừng tin tà kiến, chẳng nghe tà
thuyết, cần khởi chánh tín để chế ngự tâm nghi, bỡi nghi là cấu uế, là mờ
mịt, là chướng ngại.
Niệm Phật đối với
lúc lâm chung, người xưa đã đưa ra ba nghi cần phải đoạn dứt:
1 - Nghi rằng đời ta
tạo tội rất nặng, hàng ngày tu hành cạn cợt, e rằng không được vãng sanh.
2 - Nghi tâm nguyện
của ta chưa rõ và tham - sân - si chưa dứt, e rằng không được vãng sanh.
3 - Nghi rằng ta tuy
niệm Phật, lúc lâm chung, Phật chẳng đến đón ta.
Nếu có một trong ba
nghi nầy, thì nhân nơi nghi mà sinh chướng, mất đi chánh niệm, chẳng được
vãng sanh.
Nay đây đưa ra cách
trừ ba nghi, để mà tham khảo:
1 - Gốc của nghiệp
luống mê muội, tâm tịnh thì được rỗng rang, nghiệp nặng bất tất nghi ngờ
vậy.
2 - Tình cũng như
mộng huyễn, ngủ thức dậy đâu còn? Tự chịu dừng nghỉ, thì tham sân si dứt,
bất tất nghi ngờ.
3 - Chấp cái gì mà
sinh phiền não? Tất cả chúng sinh chấp trước các pháp thế gian là có thật,
đâu biết rằng các pháp xưa nay đều là hư vọng, như hoa đóm giữa hư không,
trăng trong nước, cảnh trong mộng, như bóng như huyễn, đều chẳng thật. Qua
sông thì dùng bè, đã đến bờ kia, vát bè làm gì? Tức là phải bỏ đi! Sau khi
đã tin chẳng nên nghi ngờ trở lại.
Ngày nay thời mạt
pháp, chướng duyên đặc biệt nhiều, chính là lúc quần ma múa may, người
thực hành niệm Phật phải mọi lúc thường xuyên đề cao cảnh giác - Cổ đức đã
chỉ bày, lược nêu ra mấy cách để tham khảo:
1 - Tin không hết
lòng; Lòng tin sâu xa rất là trọng yếu, tất có thể sinh năng lực hành đạo,
chánh tín niệm Phật, lìa khổ được vui, đồng thời cũng cần hiểu biết chân
chánh, chẳng dao động, chẳng sinh nghi hoặc, tâm thanh tịnh không nghi
không cấu uế.
2 - Nguyện chẳng
thiết tha; Phát nguyện thì nên nhất niệm thành khẩn, phát tâm vô thượng,
tâm độ chúng sinh, hạnh phước chư Phật là “lục độ vạn hạnh”, thảy đều hồi
hướng mà cầu sanh về thế giới Cực Lạc.
3 - Hạnh không mạnh
mẽ; Do tín nguyện phát ra phối họp với lực hạnh, lúc niệm Phật giống như
chiến đấu với ma, tinh thần phải mạnh mẽ, có sức bền chí và có thể siêng
năng khổ nhọc.
4 - Mặc niệm lơ là;
Niệm Phật quan trọng hàng đầu là nhắc bảo cố gắng siêng năng, mới được lực
niệm; Giả sử tâm không chuyên chú, thì lực không đầy đủ, khó địch lại
“nghiệp tập khí” từ nhiều đời, cho nên ở trong mỗi niệm chẳng quên công
đức đại nguyện thành Phật.
5 - Tâm duyên việc
đời; Việc đời như dây trói buộc, cho nên nói tình đời bàn một phần, Phật
pháp tự có một phần đắc lực, nên lần lược mà cải tiến; Nói rằng tuổi trẻ
dễ đi qua, năm tháng không ở lại, đừng lãng phí thời gian, nên tự mình
củng cố, muôn duyên đều buông rời.
6 - Yêu ghét chẳng
trừ; Phàm phu phân biệt, tập khí nặng nề, cần nên đọc nhiều “Cao tăng
truyện”, để mở mang trí tuệ, vì hai tâm yêu - ghét đều là nhơ, không yêu
thì không tham, không ghét thì không sân.
7 - Phân tâm; Mỗi
người đều có sự hứng thú và tự hào, dễ chuốt lấy sự phân tâm, chẳng thể
chuyên nhất, là điều đại kỵ cho người tu hành, ngay nơi niệm sinh tử, như
cứu lửa cháy đầu, chuyên niệm A Di Ðà Phật khiến thành tam muội, lúc lâm
chung chánh niệm, quyết định vãng sanh, gặp Phật được “Vô sanh pháp nhẫn”,
trở lại ba cõi cứu độ chúng sinh.
8 - Ðề cập kinh điển
trong ngoài; Chúng ta nghe có nhiều nhà lý luận tự cho là tài học của mình
phong phú, thật thì lúc lâm chung niệm Phật vãng sanh không họp như sự
hiểu biết, hoặc người khinh mạn thì tâm nhơ vẫn vậy, tạp nhiễm lăng xăng
tâm chẳng an ổn, không thể liễu thoát sinh tử.
9 - Nghe các lời tạp
loạn; Ðây là bệnh chung của mọi người, nên biết lời vô nghĩa là hí luận,
cho đến những chuyện nhân – ngã, phải - quấy, toàn bộ phát ra những lời
lung tung, hoặc những lời búa rìu loạn xạ, sao chẳng làm tổn thương người
ư? - Nên cẩn thận!
Pháp môn tịnh độ -
Trì danh niệm Phật, khó tin nhưng dễ làm, lý khó giải; Kinh “Phật Thuyết A
Di Ðà” nói rằng:
“Niệm Phật pháp
môn là pháp khó tin của thế gian”.
Có thể nói rằng phát
tâm niệm Phật cũng chẳng phải là đơn giản, ứng với tín và nguyện gọp lại
để tiến bộ, niệm niệm là Phật, để mà thoát sinh tử. Niệm Phật lấy TÍN tâm
làm NHẤT tâm, có NGUYỆN thì bèn có được định HƯỚNG mục tiêu, thì HẠNH có
LỰC; như thế không sợ khốn khó, mặc cho người nào châm chọc coi thường, vì
sao vậy? Vì lúc nầy tâm niệm Phật, chẳng bị cảnh chuyển, danh hiệu Phật
chẳng dứt, chỉ cầu nhất tâm bất loạn, tâm và Phật đồng ở một nơi, mỗi việc
làm (mỗi công hạnh) đều niệm Phật, như thế có thời gian đâu mà để ý đến sự
chua ngọt, lạnh nóng!
Người sơ tâm học
Phật, thì còn tâm nghi tà kiến, tập khí của tánh tình. Nếu bỏ tà liền được
chánh, bỏ nghi liền được chơn, chỉ như thế nầy mới có thể thành tựu được
tín - nguyện, khắc phục tánh sa đọa tức có thể khổ nhọc, diệt tập khí tức
ngược lại là thanh tịnh; Là chơn, siêng năng, thanh tịnh, như thế thành
lập tín tâm. Nếu cầu sinh về tịnh độ Cực Lạc ở phương tây, Tín - Nguyện -
Hạnh mà thiếu một thì không thể được. Vãng sanh hay không, chỉ cần hỏi
rằng có Tín - Nguyện hay không? Phẩm vị cao thấp, thì nhìn ngay nơi công
phu (hạnh) niệm Phật sâu hay cạn?
CHẲNG TƯƠNG ƯNG: Bỡi tín tâm chẳng vững, lúc còn lúc mất, chẳng chắc
chắn.
TÍN TÂM CHẲNG CHUYÊN NHẤT: Bỡi không có sức quyết định, chẳng chịu dốc
lòng hết sức mà hạ quyết chí công phu.
TÍN TÂM CHẲNG LIÊN TỤC: Bỡi tâm tưởng bị gián đoạn, niệm Phật bị gián
đoạn.
TÍN TÂM CHẲNG CHÁNH: Thay đổi bất thường, gặp sao hay vậy, đã cần tham
Thiền, lại muốn học Mật, muốn gom chung hết vào một điểm mới chịu; Hoặc bị
tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngủ dẫn dắt, nếu người để ở trong lòng,
thì lập tức sai lầm.
Pháp môn niệm Phật
không có gì đặc biệt diệu kỳ tốt đẹp bằng, chỉ cần ba món tư lương: tin
sâu, nguyện thiết tha, ra sức công hạnh được đầy đủ, thì lúc mạng chung
tâm sẽ không thể điên đảo, tức được Ðức Phật A Di Ðà hiện thân tiếp dẫn
vãng sanh Cực Lạc, liễu thoát sinh tử, chóng thành Phật đạo. Chúng ta nếu
quả phát tâm niệm Phật đầy đủ ba món tư lương (tín - nguyện - hạnh), thì
có thể ba nghiệp thanh tịnh - lúc niệm Phật, mỗi niệm chấp trì một câu
danh hiệu Phật, niệm trụ một chỗ, lấy một niệm mà đình chỉ muôn niệm, tức
ý nghiệp thanh tịnh; Hai nghiệp thân và miệng đều theo ý nghiệp dắt dẫn
sai khiến, ý nghiệp tịnh thì thân không làm vọng, tức thân nghiệp tịnh;
Miệng niệm hiệu Phật tức miệng thanh tịnh, Chúng ta đã vì phát tâm tu
hành, trì danh niệm Phật, muốn rõ thoát sinh tử thì chắc chắn phải đầy đủ
ba món tư lương: tín - nguyện - hạnh.
Phật pháp chú trọng
giảng nghĩa rốt ráo, nêu lý thì cần sự thấu đáo rõ ràng, luận sự thì cần
phải triệt để không nên lấp lửng một nửa. Giảng nhân quả nếu chẳng rõ ràng
lý nghiệp báo luân hồi, thì không thấu rõ; Giảng Từ bi nếu chẳng phổ cập
việc chúng sinh thì chẳng triệt để; Mà vả lại hành thiện bỏ ác nếu chỉ nói
suông lẽ đương nhiên của nghĩa, chẳng tin sự thật quả báo luân hồi, tâm
ngăn ngừa, sợ sệt, cẩn thận, nếu không có, chẳng thể chân chánh thiết tha
mà làm việc, thì khó tránh khỏi việc phô bày tự khi dối.
Học Phật tu hành cần
phải như pháp mà phụng hành, cần phải khởi lên từ gốc rễ tâm địa sự tiêu
trừ nhân ác.
Phật pháp tu hành
như thế nào? Nói một cách đơn giản là: Chế phục mình, làm theo lễ, lòng
nhân từ, yêu thương vật, chỉ cần thành khẩn là thật lòng, thật làm, chẳng
được phô diễn dối gạt chính mình.
Học Phật tu hành do
khởi tín mà vào cửa, quí ở chỗ thực hành; Như giới sát là việc cần thiết
thứ nhất của người học Phật, mới học chưa thể dứt tuyệt, thì cũng nên mỗi
ngày ăn ít một chút, lần hồi mới có thể dứt được, chẳng tham theo khẩu vị,
trong nhà không sát sinh mà lấy tiền mua sắm, cũng khiến cho lò mổ sát
hại, cũng nên hỏi lòng không thể nào chẳng chia ra gánh vát lỗi đó. Lại
học Phật chú trọng khả năng bố thí; Bố thí một là có thể nuôi lớn tâm từ
bi hỷ xả. Hai là có thể phá trừ thói quen (tập khí) phiền não tham lam keo
kiệt. Cần phải được sự lợi ích thực tế của Phật pháp, nếu chẳng trừ tham -
keo, tâm so đo chấp lấy sẽ nổi lên hừng hực, thì tâm từ bi chắc chắn là
không chân thật. Mà vả lại tham muốn là gốc khổ của sinh tử, cội nguồn của
phiền não. Nếu muốn tìm cách tránh hung, lìa khổ được vui, mà không gắng
sức trừ bỏ hai chữ “tham muốn”, thì không có thể giải quyết được! Nếu muốn
trừ bỏ tâm tham muốn, trước nhất từ sự bắt tay làm việc bố thí. Bố thí là
chế phục mình quên đi công lao của mình, và thí nghiệm tâm đại bi; Nếu tâm
Từ bi thiết tha, chế phục mình mà bố thí, là bỡi chúng sinh, thì thân cũng
còn có thể xả bỏ. Ðâu có thể sát hại sinh mạng để mà khoái miệng mình! Ðâu
chịu lấy tiền bạc của vật uổng phí để vui cho ý mình! Ðâu chịu keo kiệt để
giữ vật cho mình chẳng dùng để giúp người, thì đâu chịu cung phụng cho
thật hậu hĩ, coi thường người khổ! Cho nên công phu thực hành, trước nhất
là phải xét nét trên việc bố thí, nếu ở đây mà làm mang tính cách phô
diễn, thì khó mong có được thành tích tốt. Kinh Phật nói rằng: “Nhân
nếu không chơn, thì quả chuốt lấy bị cong vạy”. Công đức của bố thí
nguyên chẳng phải là ở chỗ lớn - nhỏ, nhiều - ít, mà toàn là nhìn vào lúc
phát tâm, ngày thường như thế nào giữ tâm? Sự liên quan nầy cần phải thành
khẩn. Nếu ngày thường tham lận phóng túng, cho đến trong nhà có bệnh khổ
nguy cấp, nhằm lúc ấy lạy Phật hứa nguyện, quyên tiền thí giúp, cầu bệnh
mau tiêu tai, những việc bố thí nầy không có chút nào phát ra từ tâm chân
thật Từ bi, làm sao có thể có được sự cảm ứng.
TU HÀNH KHÔNG
ÐƯỢC DO DỰ
Người đời nghiệp
ngày trước tạo ra có thiện có ác, thiện ác lộn xộn nhau không rõ ràng; Có
lúc sinh khởi thiện tâm, có lúc lại sinh ra ác niệm. Do từ vô lượng kiếp
đến hôm nay đây bỡi những vấn đề thiện ác nầy, nên ngay lúc tu hành cũng
chẳng dễ dẹp thoát được nghiệp báo; Bỡi vậy có lúc muốn tu hành, có lúc
lại nói rằng cuộc sống hiện tại tốt đẹp, có lúc muốn tu hành, có lúc lại
phải nhiễm ô, đây đều là do niệm sinh ra ở ngày trước, mà đời nầy kết lấy
quả nầy. Niệm trước muốn tu hành, niệm sau lại cần cầu phú quí vinh hoa,
phước báo trời người, cuộc sống hiện tại có ý nghĩa; Như vậy thì làm thế
nào? - “Lựa việc thiện mà theo, chẳng thiện thì sửa đổi”. Cần phải từng
lúc mà đề cao cảnh giác, như đi vào vực sâu, như đi trên băng mỏng, cần có
tâm cẩn thận như thế nầy để tu hành. Cho nên tu hành là: “Cử động hành vi
tự quản lý, đi đứng ngồi nằm chẳng lìa niệm”. Cần nên mỗi niệm đều thanh
tịnh, mỗi niệm đều sáng suốt, không nên mỗi niệm nhiễm ô và tối tăm. Chúng
ta mỗi một niệm đều cần phải rất là cẩn thận, mỗi một niệm thiện thì sáng
suốt rất nhiều, nhưng nếu là niệm ác, thì càng niệm càng tối tăm. Trên đầu
người thiện có luồng “bạch quang”, trên đầu người ác có luồng “hắc khí”;
cho nên làm thiện làm ác, tự nhiên sẽ hiện ra hình tướng, ta cũng có thể
nhìn thấy được người, nhưng nhìn không rõ bằng chư Phật, Bồ tát và quỉ
thần.
Không luận là người
xuất gia hay tại gia, không nên không chỉ có chẳng lập công ở trong Phật
giáo, mà ngược lại tạo nghiệp tội, cần phải biết vì sao từ vô thỉ kiếp đến
nay, tóm lại là không thể thoát lìa được cái khổ luân hồi, vẫn là bị mờ mờ
mịt mịt! Lại tính toán hồ đồ không trong sáng, thị - phi lộn xộn, nửa nầy
nửa nọ thanh tịnh và ô nhiễm (cho đến nỗi có lúc bình thường tu hành mà
mất niệm - muốn niệm Phật cũng chẳng được - thậm chí có người khác ở trong
thời gian niệm Phật mà anh cũng không biết niệm cùng họ), cho nên không
vượt được luân hồi. Chúng ta nếu chân chánh tu hành, muốn sinh thế giới
Cực Lạc, thì trước khi chưa vãng sanh, nhất định cần phải tinh tấn mạnh
mẽ, không nên biếng nhát, phô bày, tản mạn, đối phó cho qua việc.
Tu hành, là mọi
người cần phải làm cho được sự nuôi dưỡng bằng phẩm hạnh và đạo đức, không
chỉ là không thể thiếu việc nổ lực hướng thượng, mà còn là việc phải thực
hành của một số người trong nẻo mê. Tu dưỡng phẩm hạnh đạo đức, có thể
khiến cho tư tưởng cân bằng, hành vi được sửa đổi, tâm hướng thiện, hướng
về sự tốt đẹp. Ngược lại nếu lúc bình thường không chú trọng việc tu thân
và lề lối chính mình, thì sẽ dẫn đến thành một con người có hành vi tùy
tiện, chỉ chăm vào việc tự lợi riêng tư, không thèm để ý đến sự sống chết
của kẻ khác; Do đó sửa đổi hành vi một con người, hoàn toàn ở tại tâm -
TÂM TỊNH - có thể nói rằng cảnh giới cao nhất thăng tiến tinh thần, cũng ở
ngay nơi người đời. Ðối xử với sự cạnh tranh, cuộc sống, ham muốn nhiều ở
trong xã hội, lại cần có sự tu sửa hành vi như thế nầy; Nó có thể khiến
cho người ta không tìm cầu mù quáng, chẳng khởi tà niệm, ít dục vọng, biết
vừa đủ là đầy đủ, trong vui vẻ giúp người cứu người. Nhưng tu dưỡng tâm
cảnh nầy thật chẳng phải là dễ làm được, cần phải chính mình trong cuộc
sống ngày thường tu trì nhiều mặt, không được hư ngụy, chẳng cố tình làm
ra vẻ, trong ngoài một mối, mỗi lúc làm được việc gì thì lại tuần tự dần
đưa vào cảnh tốt đẹp.
Nhưng ở quá trình tu
trì, quyết cần phải lấy sự quyết tâm không so tính, chắc chắn và nghị lực,
để khắc phục tất cả nghiệp chướng, như các thói quen xấu ác: ham vật dụng,
mê hoặc lợi dưỡng, tham lam, sân hận, lòng dạ hẹp hòi v.v... Pháp luật dạy
chúng ta cần đình chỉ việc ác mà hãy làm việc thiện, tâm giữ niệm thiện,
tuân làm những việc đạo đức cơ bản làm người, thì cư xử người cần phải
được tròn đầy, hài hòa, để mà đạt được mục đích hỗ trợ.
Thời đại mạt pháp
hiện tại, tà ma ngoại đạo (tà ma là có ý nghĩa hại người; Ngoại đạo chẳng
qua là sự hiểu biết, thấy hiểu của người khác không phải là chánh đáng,
phàm là việc không họp với sự tu hành Phật pháp, đều gọi là ngoại đạo) dẫn
dụ con người đi vào đường mê, hạng người nầy rốt cuộc đều như thế, căn cơ
của những người nầy đều là rất cạn cợt, như thế sẽ đạt được Phật pháp chân
chánh chăng? Ngay ở trong một đời nầy tu thành công chăng? - Ðức Phật đã
nói rồi, tức là thời kỳ mạt pháp có ức ức người tu hành, cũng khó được một
người có thể tu thành công; Chỉ có niệm Phật cầu sanh về thế giới Cực Lạc,
mới có thể khỏi được khổ luân hồi sanh sanh tử tử nầy. Cho nên ngoài pháp
môn niệm Phật nầy, cầu sinh về thế giới Cực Lạc, bất luận dùng phương pháp
nào, nếu ở trên một đời nầy tu thành công, trọn không thể được. Nếu là chờ
đến đời sau, thì tính xem lại có thể sinh lại làm người không? Hơn một nửa
là mê mất, chẳng những chỗ mong đều thành bánh vẽ, vả lại có tạo nghiệp
phước nhân, đời sau cũng có nỗi lo đọa lạc!
TU HÀNH CẦN BỀN
LÒNG KHÔNG BIẾN ÐỔI
Cây thì lớn lên từng
ngày, ta tuy không nhìn thấy sự sinh trưởng của nó, nhưng trong sự không
biết không hiểu, nó vẫn lớn lên, cho đến mười năm trăm năm, thì biến thành
vật liệu hữu dụng. Cây như vậy, chúng ta tu hành cũng như vậy, không nên
gấp rút, chúng ta muốn ngày nay tu hành ngày mai sẽ khai ngộ, không nên
như thế; Quyết cần phải tu hàng ngày, tu hàng năm, cũng nên xem nó có tiến
bộ gì không, nếu không lui bước thì ta tiến bộ; Chẳng nên cầu mau, chỗ gọi
là: “Việc mà gấp tiến tới thì lui cũng mau”. Ngược lại quyết cần phải dùng
tâm bền bĩ thường hằng (hằng tâm) để tu hành, hàng ngày cầu sám hối, sửa
đổi lỗi lầm; Chỗ gọi là: “Một ngày không có lỗi để sửa đổi, tức là một
ngày không có công trạng để tạo”. Cho nên chúng ta tu hành tức là cần diệt
tập khí, cải đổi tâm bệnh, bỏ tư tưởng bẩn thỉu, hiện ra ánh sáng quang
minh vốn có, trí tuệ xưa nay. Những trí tuệ quang minh nầy là người nào
cũng đều vốn đủ có, tiếc rằng bị vô minh ngăn che, không thể khéo dùng trí
tuệ quang minh của mình. Vô minh đã ngăn che thì sẽ phải chìm đắm; Nếu ta
bừng phát trí tuệ thì sẽ vươn lên. Cho nên tu hành chẳng phải một sớm một
chiều, mà là ở ngay nơi niệm, hàng ngày hàng năm đều tu thế nầy hằng
thường không biến đổi. Thời gian lâu rồi sẽ mới có thể nuôi thành trí tuệ
Bát nhã của chúng ta. Không nên một ngày ráo riết, một ngày nguội lạnh,
thế nầy thì vĩnh viễn cũng chẳng thể có công phu, chúng ta tu hành nên học
sự trưởng thành của cây cối lớn lên từng ngày, từng ngày thành tâm để tu.
ÐÁNH MỞ SỰ KẾT
BUỘC NƠI TÂM
“Phiền não không
tìm, không thể có phiền não”. Mỗi người đều có phiền não. Phiền não của
chúng ta, cũng giống như sự kết buộc ở trên tâm, tâm kết mà mở không được,
vĩnh viễn sa đọa trong vực sâu của phiền não, không cách nào tự vượt ra
được. “Nghi Tọa Thiền” chép rằng: - có một lần, Ngài A Nan, đệ tử của Ðức
Phật, lúc phiền não không dừng được, bèn đến thỉnh giáo Ðức Phật, Phật mới
đem một chiếc khăn tay ra gút lại nhiều gút, hỏi A Nan rằng: “Ðây là cái
gì?” Ngài A Nan đáp rằng: “Ðây là gút”. Ðức Phật nhân cơ nói đạo: “A Nan,
ở trong tâm ông cũng giống như gút lại nhiều gút như đây, chỉ cần mở ra
từng cái một, ông có thể giải tiêu được phiền não của ông”. A Nan nghe
xong lập tức khai giải được tâm ý.
Chúng ta là “Bát địa
phàm phu”, rất khó mà giải ngộ ngay được, huống chi nói đến chứng ngộ.
Nhưng ở trong sự khai thị cao minh mà đơn giản cần yếu của Ðức Phật, chúng
ta rất ít lãnh ngộ trên những thứ lớp nào đó cần có; Một, tâm chúng ta xưa
nay giống như chiếc khăn tay bằng thẳng không có nếp nhăn, thế thì có gút
nào tồn tại? Hai, do ở nơi tưởng vọng làm vọng của chúng ta, mới có sự kết
buộc của phiền não, kết buộc nầy là tự chúng ta gút lấy; như mới tu hành
vài năm thì đã muốn khai ngộ rồi. Ba, chỉ cần chúng ta bắt tay vào tâm gút
kết, chia ra hai bên, gút bèn có thể mở được. Như mà dùng sức kéo đuôi
gút, chẳng những mở không được, mà ngược lại càng kéo càng bền chắc. Bốn,
quyết cần ra tay từ cái gút - phiền não căn bản - phía trên, cái gút phía
dưới sẽ lần lượt được mở. Năm, gút buộc ở tâm được mở, phiền não cũng sẽ
không tồn tại lại nữa.
Biện pháp đơn giản
nầy có thể làm chẳng đi tìm, chẳng thể có phiền não, nhưng một khi đã có
phiền não, cần phải dùng pháp Ðức Phật dạy dẫn A Nan: “Ðem cái gút trong
tâm, từng cái một mở ra”. Tức là đơn giản như thế nầy, như đây mà thôi.
KHÔNG NÊN BỊ MẮT,
TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN DẪN DẮT
Gặp được tốt, nhìn
được đẹp, nghe được hay thì cao hứng; Ăn ngon, mặc đẹp, ở sang thì vui vẻ;
Người nhà mọi việc thuận ta thì vui lòng thõa ý; Gặp xấu, xem xấu, nghe dở
thì nhàm ghét; Ăn sai một chút thì thế nầy không thích ăn, thế kia không
muốn ăn, không họp thời trang về đồ mặc thì rầu rầu không vui; Việc nghịch
lại thì giận, oán hận; Cả ngày phân biệt ở nơi tốt - xấu, được - mất, khổ
- vui, cứ lòng vòng... Ðây tức là bị chuyển theo cảnh! Bị mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý dẫn dắt! Chẳng được tự tại. Tốt - xấu, được - mất, vui -
buồn, thuận - nghịch, đều chẳng khởi tâm động niệm; Ngay khi khởi tâm động
niệm thì đều bị cảnh chuyển, sẽ tạo nghiệp.
VẠN MA KHÔNG
ÐẨY LÙI ÐƯỢC
TÂM BỒ ÐỀ
Càng ở trong chỗ khó
thì càng tinh tấn, khắp tất cả những việc nghịch ý xen nhau dẫn đến đều
vẫn thư thái, chẳng oán trời, chẳng trách người.
“Càng học tốt thì
oan nghiệt tìm; Cần thành Phật thì trước tiên phải bị ma”. Nếu không
muốn tốt thì oan nghiệt không thể đến tìm; Càng muốn tốt thì oan nghiệt
càng tìm, mong muốn tính toán cho xong nợ trần. Bỡi vì từ vô lượng kiếp
đến nay, nghiệp thiện - ác đời đời kiếp kiếp đã tạo ra, nó lộn xộn không
rõ ràng, do vậy một ngày muốn tu hành, các chủ nợ vốn có đều đến để đòi
nợ. Cũng giống như anh từ trước đến giờ là người bình thường, mượn rất
nhiều tiền, không rõ là bao nhiêu. Trước lúc anh chưa phát tài những chủ
nợ nầy biết anh không có tiền, cho nên không thể đến đòi nợ. Nhưng ngay
khi một ngày nào đó anh phát tài, thì những chủ nợ nầy lập tức đến tận nhà
để đòi nợ. Vì sao? Bỡi vì anh đã có tiền, nếu chẳng cần đến anh, thì không
có thời gian để người ta phải quay lại. Cho nên trong việc tu hành mà gặp
nghịch cảnh, thì nên càng tinh tấn mạnh mẽ mà hướng về phía trước, không
được lui mất tâm bồ đề. Lúc chủ nợ đến đòi nợ thì trả cho họ. Tức là đem
công đức mình có được, hồi hướng cho bọn chủ nợ - cả kẻ oán lẫn người thân
- khiến họ được công đức, mà lià khổ được vui, liễu thoát sinh tử, chúng
ta không nên gánh nợ mà không trả!
Vô lượng kiếp đến
nay, do mỗi nhân duyên không đồng nhau, đời đời kiếp kiếp không biết đã
làm bao nhiêu việc. Thế thì lấy đời nầy nói, chín chắn mà nghĩ, chúng ta
đã giết bao nhiêu sinh mạng, đã làm bao nhiêu việc chẳng công bằng? Ðối
với những chúng sinh khác mà nói, hoặc dẫu không sát nhân, sinh mạng lớn
(trâu ngựa, heo, gà, vịt, chó v.v...), nhưng có thể sát sinh mạng nhỏ
(muỗi, mòng, kiến, trùng nhỏ v.v...), cũng có thể trong tâm anh đã có ý
niệm sát được tồn tại. Giống như có một lúc, vì không biết, mà đã sát rất
nhiều động vật nhỏ, hay một ngày nào đó anh đoạt lấy và làm tổn thương
sinh mạng của chúng sinh; Nếu anh muốn tu hành, thì chúng nó đều sẽ đến
đòi nợ, nợ nầy không phải là một hai món, mà là không thể tính kể hết, đời
đời kiếp kiếp được tích lũy qua nhiều ngày tháng, nợ nầy nói cũng không
thể xong. Cho nên chúng ta chẳng thể không nói đến lẽ chung, nói ta đã tu
hành, mà chẳng nhận có nợ oan nghiệp. Nếu như có cách nghĩ như đây, thì
vĩnh viễn chẳng thể thành đạo, bỡi vì trong tâm chẳng công bằng, trong tâm
nếu công bằng thì cần nhận rõ, trả nợ thì đã không có việc gì rồi. Cho nên
nói là: “Cần học tốt thì oan nghiệp nhiều”. Cũng giống như một người mới
phát tài, cho nên bạn nghèo của người đó đều đến nhà để tìm, đều muốn được
một chút lợi ích.
Ma, có nội ma và
ngoại ma. Thiên ma và tất cả Quỉ được tôn sùng là: “ngoại ma”; “Nội ma”
tức là các phiền não và vọng tưởng ở trong tâm, cho đến tất cả những lo
buồn khổ não đều là nội ma. Do những cái nầy hay chướng ngại tu hành cho
nên gọi là MA. Ngoại ma so ra dễ khắc phục. Nội ma rất khó mà hàng phục;
Có thể hàng phục được nội ma, tức ngoại ma cũng chẳng có thể làm hại được.
Cho nên tu hành chủ yếu là “hàng phục nội ma”. Nội ma được hàng phục tức
tâm thanh tịnh, được mở trí tuệ lớn, có trí tuệ thì có thể dứt được hoặc
nghiệp, tức là thành đạo.
“Cần thành Phật thì
trước tiên phải bị ma”. Phật được sự trợ giúp của ma mà thành đạo, nếu
không có ma thì không có Phật. Ma là để khảo nghiệm ta, khiến ta càng tiến
bộ. Cho nên nói là: “Muốn nhìn thấy đến ngàn dặm, lại phải lên một tầng
lầu”. Ðây cũng là muốn xem thử nội công của anh đã đủ hay chưa? Nếu đủ,
thì bất động không lùi trước ngàn vạn ma quân; Tâm bồ đề không thối
chuyển. Càng ở nơi chỗ khó thì càng tinh tấn, tất cả những việc nghịch ý
xen nhau dẫn đến đều đối xử rất là thư thái. Phải công bằng, chẳng oán
trời, chẳng trách người, có thể cái nghịch đến mà ta tùy thuận thọ lãnh,
tu nhẫn Ba La Mật, nên có công phu nầy; Cho nên ma chướng đã đến, thì
chẳng đối địch với ma, tự mình nuốt một chút thiệt thòi cũng chẳng sao, tự
mình nên phát nguyện độ ma, khiến nó qui y Tam bảo, phát tâm bồ đề. Ðối
với ai cũng đều chẳng nên giận, oán hận, như thế có thể hóa hung thành
cát, hóa chiến thành hòa, hóa thù thành bạn. Nếu nói rằng tìm chỗ tốt đẹp
ở phương diện ngược lại (làm mà có chỗ không được, thì cầu ngược lại cho
mình), chẳng nên làm luật sư biện hộ cho mình, không luận là việc gì:
“chơn thật nhận mình lỗi, chẳng bàn cái quấy của người, “đồng thể” gọi là
đại từ. Ðồng thể, cũng là bao trùm cả ma; Ma cũng là một phần của tự tánh.
Nếu tự tánh có ma, thì sẽ dẫn đến ma bên ngoài. Nếu tự tánh không ma, ma
bên ngoài sẽ không thể tiến đến. Thế nào là ma của tự tánh? Là tham, sân,
si... có câu rằng: “Nếu không có bát mèo ăn, thì nhà không có ruồi”. Ma
biết được anh có chút ít béo bở, nó có thể “thừa nước đục thả câu” để kiếm
chút ngon, cho nên đến quấy rối anh, mà hiện ra việc ma của nó. Cho nên
nhất cử nhất động của chúng ta, một lời nói một hành vi cần phải cho chắc
chắn. Nói phải trung tín, làm phải thật kính, chẳng được nói lời vọng. Nếu
sợ nhận sai của mình, là rốt cuộc che dấu lỗi lầm, đây chẳng phải là hành
vi của người tu hành. Nên phải thành thật mà công bố ra, làm việc rất là
thẳng thắng và khảng khái, vốn được chiếu rọi từ lương tâm đạo đức và ý
nghĩa để làm việc. Nếu có chỗ chẳng họp với lương tâm đạo đức, thì dứt
khoát không được làm.
Phàm người tu cần
phải đầy đủ trí tuệ. Trí tuệ chân chánh, tức là không khen chê người khác;
Nói: “Anh xem tôi đây này, tôi là số một, tôi thanh cao nhất, mà ngược lại
họ thấp hèn như thế”. Phàm là người tự khen thì đã không có tiền đồ, tuy
là đang sống, nhưng kỳ thật đã chết rồi, bỡi vì họ đã đi ngược với đạo đức
lương tâm, nhìn không được người khác, chỉ biết có mình, đây là người rất
không được sự khen vui của Phật và Bồ tát. Nếu muốn được sự vui khen và
yêu giúp của chư Phật và Bồ tát, thì lời nói và việc làm một mối, “Nói
phải nhìn việc làm, làm phải để ý lời nói”, chẳng mâu thuẩn với nhau.
Chẳng nên thường khoe mình tốt như thế nào, đến khi làm việc thì xấu.
Người tu hành không nên có tâm riêng tư, tâm tự lợi, cần có lợi ích cho
người khác, chẳng nên ráng sức làm thương tổn người để lợi ích cho mình,
hoặc nhìn không rõ được người khác, mỗi người nên “hồi quang phản chiếu”
(quay lại soi rọi xét nét chính mình), xét coi việc quá khứ, việc hiện
tại, lại chiếu xét đến tương lai. Có thể niệm đây ở tại đây (giữ niệm hiện
tại), thời khắc không quên lương tâm đạo đức, thời gian lâu rồi, thiện căn
tự nhiên tăng trưởng, tâm bồ đề phát lớn, thời sẽ làm đạo Bồ tát, lợi ích
chúng sinh, đây là sự quan hệ liên đới.
Người chẳng nên sợ
ma, mà thối lui tâm bồ đề, ma chướng chỉ là để xét nghiệm. Cũng như học
sinh vừa mới bắt đầu học, cảm thấy bài khóa giáo trình rất khó, nhưng thời
gian lâu rồi, học đã nhập môn thì sẽ cảm thấy không còn khó khăn nữa. Từ
bắt đầu học tiểu học, trung học, rồi đến đại học, đều có những tình hình
nầy phát sinh. Cho nên nói rằng: “Chẳng trải qua một phen lạnh buốt xương,
thì làm sao hoa Mai tỏa ngát hương” hay “Mười năm song lạnh không người
hỏi, một sớm thành danh thiên hạ hay”. Lúc tu hành chẳng nên cố mong tự đề
cao. Người tu hành còn cầu danh cầu lợi, ham muốn lung tung là việc rất
không cần. Chúng ta sau khi tu hành, nhất định cần nhận chân được thực tế
rõ ràng để tu hành, vun bồi sửa sang gieo trồng hạt giống phước huệ. Tu
phước thì cần phải lợi ích chúng sinh, tu huệ thì cần phải niệm Phật
nhiều, nghiên cứu tụng đọc kinh điển, thường làm việc lợi ích chúng sinh,
thì sẽ sinh ra phước đức. Có người hỏi là có nên dùng tiền tài để làm công
đức hay không? - Chỉ cần bảo tồn tâm thiện; Làm mười nghiệp thiện, không
có tâm ác; Chẳng làm mười nghiệp ác, đây đều là vun bồi chỗ phước đức,
thật ra chẳng phải là nhất định cần dùng tiền làm công đức mới là công
đức. Cho nên nói là: “Miệng Từ bi, lưỡi phương tiện, có tiền không tiền
đều làm được công đức”. Chúng ta nên mọi chỗ mà tiếc phước, mọi nơi không
bỏ phước, đâu đâu cũng tu phước huệ. Tu phước huệ chẳng phải một sớm một
chiều được thành, mà năm nầy tháng nọ đều cần phải làm liên tục. “Chẳng
nên một ngày dồn dập, một ngày nguội lạnh”, chúng ta nếu là thế nầy, vĩnh
viễn chẳng thể có tiến bộ. Cho nên chúng ta cần nhận định “tôn chỉ”, mạnh
mẽ tinh tấn, chẳng nên lùi về sau, đây là điều kiện mà mỗi người tu hành
nên có.
NHỎ NHẸ KHIÊM
TỐN
Gọi là “nhỏ nhẹ
khiêm tốn”. “nhỏ nhẹ” tức là tâm rỗng rang (khiêm tốn) không kiêu ngạo,
không tự đại, chẳng cố tự đóng chặc bước tiến; “khiêm tốn” là dằng tiếng
nuốt khí, là trên thái độ biểu thị “ta ở dưới người”, người khác đều mạnh
hơn ta, đều tốt hơn ta. Bỡi vì tâm rỗng rang không có thành kiến, mới có
thể hoàn toàn xét nghĩ khách quan, mà có thể tiếp nhận được kiến nghị của
người khác. Cho nên cần phải nhỏ nhẹ khiêm tốn ở nơi việc người, ở trên sự
tu hành lại cần phải nhỏ nhẹ khiêm tốn, chẳng vậy - vĩnh viễn không thành
tựu. Nên biết rằng Ðức Phật giảng bình đẳng, tất cả chúng sinh đều bình
đẳng, nam nữ già trẻ, phú quí bần tiện, đều một lẽ bình đẳng, chẳng phân
đây - kia, đối với họ đều một lẽ khiêm tốn và hài hòa, ở bất kỳ tình huống
nào, vẫn tâm bình khí hòa, chẳng sinh bực mình, nhẫn nại đợi chờ, đây mới
là nội công tốt đẹp nhất. Chẳng thể nhỏ nhẹ khiêm tốn, như gà cồ thét gáy,
có đấu được rồi, công trước bỏ hết, già chết bất thành; việc phàm việc
Thánh đều như thế nầy, mong nguyện những người đồng tu cùng cố gắng.
THÀNH TỰU
Chẳng nên tu một
thời gian ngắn thì muốn có sự thành tựu ngay, sự thành tựu không phải là
việc dễ dàng như thế. Như chúng ta học muốn được học vị bác sĩ (tiến sĩ),
thì cần phải trải qua: tiểu học, trung học, đại học, thạc sĩ, rồi mới có
thể được bác sĩ, trong những khoảng thời gian đó lại trải qua nhiều lần
thi cử, nếu có một lần mà thi qua không được, thì học vị bác sĩ cũng mất
hy vọng mà thôi, chỉ biết “Nhìn biển bao la mà than dài!”. Niệm Phật tu
hành cũng là như đây, nếu chỉ niệm có mấy năm như thế mà muốn có thành
tựu, dẫu là người căn khí bậc thượng cũng chẳng có thể mau như vậy đâu!
Người tu tự lực mới bàn đến việc “thành tựu”; Bỡi vì người tu tự lực nếu
không có “Thành tựu” thì ra không khỏi ba cõi! Cho nên cần có sự thành
tựu, mới bàn đến thành tựu. Tu tự lực không nhẹ nhàng thoải mái giống như
niệm Phật. Ta chỉ nhìn đến người tu tự lực có sự thành tựu, mà không thấy
được sự ăn uống khổ sở, công phu phải ra sức của người tu tự lực. Cũng bỡi
vì dễ được như thế, người niệm Phật chẳng bàn đến sự thành tựu, cũng không
có thành tựu để bàn, vì khỏi được cái nhân cần có là “Thành tựu”, hễ thêm
một việc ở nơi tâm là chướng ngại một việc. Người niệm Phật, lúc mạng
chung, biết trước được giờ chết mà chánh niệm luôn được duy trì, tâm không
điên đảo, niệm Phật vãng sanh tức là thành tựu!
Chẳng nên tu mới mấy
bữa đã mong có sự thành tựu, trước nhất phải xem thử sự dụng công của ta
đã được bao nhiêu? Xem thử sử dụng sau khi tu hành, thì biết được công phu
tu hành của ta có sâu nhiều chăng! Chẳng ngại làm việc kiểm tra như sau
đây:
- ẤN CHỨNG DÙNG
BƯỚC ÐẦU:
1 - Sau khi phiền
não khởi, chớp mắt đã tiêu mất, rất là dễ chuyển.
2 - Thói quen sâu xa
ngày thường hãy còn ưa chuộng, chợt dứt đi mà sửa đổi (Như: chẳng phải do
áp lực từ bên ngoài đến, mà chợt tự động ngăn ngừa thuốc, rượu, thịt
v.v...), tự động ăn chay.
3 - Gặp việc không
đi vào chỗ bế tắc, mà thường từ chỗ siêu việt để nghĩ tưởng.
4 - Gặp việc thường
phán đoán quán sát trên nhân quả, tùy duyên, nhân đó mà thích ứng, ở đó mà
được thư thái, tâm được - mất đều bình an và điềm đạm.
5 - Ngay lúc gặp gỡ
những việc phi lễ (vô lễ) và sỉ nhục, cũng chẳng dễ gì giận dữ và oán hận
như ngày trước.
6 - Ít oán trách, ít
so kể, ít tranh chấp, ít lao xao rộn ràng, ít phân biệt.
- BƯỚC KẾ TIẾP:
1 - Ðối với người có
chỗ thân yêu, chỉ là soi xét chỗ thích ứng để mà dẫn dắt, giúp họ có sự tự
lập, tự cường, tự trị, mà chẳng phải cả ngày cõng vát chẳng thôi, lo nầy
nghĩ kia, phập phồng lo lắng, cả ngày buông không rời.
2 - Ðối với sắc đẹp,
sự hiển vinh tôn quí, cừu thù ở đời, kẻ vô lại, người tà đạo, lúc ứng phó
tâm không thành kiến, dùng tâm bình đẳng bình thường để đối đãi nhau.
3 - Ðối với sự vật,
tiếp tục, sự ưa chuộng rất là yêu vui, có thể biết đó là vô thường, yêu mà
không chấp giữ thì chẳng bị lụy vì nó, dẫu mất đó cũng chẳng cảm thấy khó
chịu, chẳng làm nô lệ cho sự vật.
4 - Ðối với danh
lợi, quyền thế, chuyên môn sở trường, của báu, phạm vi mình có, nên biết
là huyễn mà không dính mắt, tùy duyên lấy bỏ, được không vui, mất không
buồn, biết phân định đó là vô thường.
5 - Lúc đối đáp giao
tiếp, lúc vui hết mình, lúc kinh sợ, lúc lo lắng, lúc cô quạnh... có thể
chịu nổi không bị bức bách, nhân sự thích ứng mà tự như vậy, hoặc dứt bỏ
buông rời, mảy may không quái ngại.
6 - Ðối với hoàn
cảnh chẳng tốt đẹp, công việc không thuận lợi, chỗ ở không thích nghi, bề
mặt không tốt đẹp... các cảnh nghịch; Ðều nên phá bỏ tâm trói buộc, tùy
cảnh gặp, nhân đó mà thích ứng, mà an ổn, không lấy việc khổ vui thế tục
mà làm khổ vui.
- LẠI BƯỚC KẾ
TIẾP:
1 - Nên tự sửa đổi
tính cách, như bỏ lìa: đa nghi, keo kiệt, gấp gáp, thô tháo, khéo tính
toán, khéo tranh luận, khéo hư vinh, khéo bài xích người khác... những cái
riêng của ta cố chấp kết nhóm khó lìa, từ sự câu chấp mà dẹp thoát, mà hào
phóng, mà siêu vượt, mà viên thông, mà tự tại.
2 - Gặp lúc thiên
tai, nhân họa, bệnh tật, khổ nạn nặng nề v.v... thì biết tất cả sinh diệt
vô thường, nguồn gốc không huyễn, nên không buồn không sợ, xử sự thư thái,
tùy duyên mà “Nhậm vận”, tự tại vô ngại.
3 - Tuy biết phân
biệt nhưng không trụ ở hai tướng, chẳng vì so lường mà sinh vọng tưởng,
chẳng vì thương ghét mà sinh phiền não, vào ở “trí không phân biệt”.
4 - Ðối với ranh
giới thị - phi, chánh - tà thì hoàn toàn rõ chăng? Có tròn đầy rỗng không
hay chăng? Lòng dạ có rộng rãi hơn trước hay chăng? Vọng tưởng, phiền não,
chấp trước có giảm ít cho đến không có hay chăng? Ðối với nghĩa chân thật
tự ta thì đã có rõ ràng không nghi ngờ hay chăng? Ðược “Pháp hỷ” hay
chăng? Pháp hỷ thì tinh thần no đủ, không mỏi mệt dễ dàng, thời gian ngủ
nghỉ ít đi, tu hành không biếng nhác. Có tinh thần là từ trong pháp hỷ.
Muốn biết công phu
tu hành của mình sâu được bao nhiêu? Ðức hạnh của mình có được bao nhiêu?
(Ðã đủ đức hạnh, thì chỗ ở không đóng cữa ngõ mà ruồi muỗi hay các loài
trùng nhỏ... chẳng thể tiến vào); Các phần trên, nếu có thể tự ta khẳng
định, thì là thành tựu của anh.
Ở thời gian tu hành,
gặp bất cứ cảnh giới nào, dù duyên thuận hay nghịch, đều phải cư xử thư
thái, thuận nghịch đều phải tinh tấn, xem tất cả muôn sự muôn vật thành là
vì chúng ta mà nói pháp, nếu chúng ta rõ biết muôn sự muôn vật đều ở tại
thuyết pháp, thì có thể biết chỗ kỳ diệu chẳng thể nói được; Nếu có thể rõ
ràng rồi, thì có thể biết bản lai diện mục, là đi trở về nhà, mượn pháp
thế gian mà tu pháp xuất thế, chẳng bị muôn pháp mê hoặc, ngay khi tất cả
cảnh giới đến, đón tiếp mà hiểu biết, không bị nó chướng ngại, thời gian
thế nầy lâu rồi, Phật tánh của chúng ta sẽ hiển hiện; Nguyên nhân không
hiển hiện, tức là chúng ta chẳng tiến về trước, gặp thiện duyên thì do dự
không cương quyết, gặp ác duyên thì chạy với nó, do đó mà bị dừng giữ lại
ở trong đời hiện tại. Cho nên xem không rõ, buông không rời, tóm lại chẳng
được tự giải thoát, hồ đồ sinh ra rồi hồ đồ chết đi, chung qui là điên
điên đảo đảo, tìm không ra đạo lý như vậy. Ðời người nầy tức là đời người
hồ đồ, tóm lại cho là mình có thành tựu lớn, có của cải giàu, có sự nghiệp
lớn, có danh vọng nhiều, mọi người khen ngợi, vâng làm, trọng đãi, phô
trương nhiều! Hiển hách nhiều! Ở trên đời người thế là thành công rồi; Ðâu
chẳng biết rằng thành công trên đời người, tức là thất bại trên sự tu
hành! Ra không khỏi luân hồi! Cho nên cần đưa ra sự tính toán đặc biệt rõ
ràng, làm một con người tu hành chân chính minh bạch, đánh phá cửa sinh
tử, vượt thoát vòng luân hồi, thế nầy mới là người tu hành chân thật.
TRONG SẠCH TÂM
ÍT HAM MUỐN – TRỪ PHIỀN NÃO
Mỗi người đều có rất
nhiều phiền não, đây là nguồn gốc dẫn dắt mê hoặc và đau khổ. Người đời
muốn thoát ly sự trói buộc của phiền não, quyết cần phải tiến tu năm
phương pháp:
1 - Cần có chỗ thấy
chính xác. Ðối với muôn sự muôn vật trên thế gian, cần nên giữ lấy cái
nhìn chính xác, bày rõ quan hệ nhân quả, tin xác thực tất cả cội nguồn của
khổ đau, đều khởi từ phiền não trong tâm ta, một ngày kia phiền não đã
tiêu trừ, thì khổ đau sẽ tự nhiên không từ đâu sinh khởi. Người đời bỡi do
chỗ thấy không chính xác, cho nên mới đối với “muôn sự muôn vật” và “Ngã”
đã sinh khởi cái chấp có thật, hơn nữa do không rõ phép tắc sự tuần hoàn
nhân quả của việc đời, mà luống tự tăng trưởng mê hoặc. Bị trói buộc ở nơi
quan niệm sai lầm nầy, phiền não đương nhiên sẽ không có cách nào tiêu
mất, sự đau khổ cũng sẽ theo thời gian mà tăng trưởng. Cho nên nói: Chỗ
thấy chính xác là nguyên nhân chủ yếu nhất để tiêu trừ khổ đau.
2 - Cần khắc phục
dục vọng. Người đời nếu có dục vọng thì nhất định có phiền não. Cho nên
cần phải lấy tâm thanh tịnh để giữ gìn dục vọng sinh khởi từ sáu căn là:
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, cần dứt trừ cội nguồn phát sinh phiền não.
3 - Chẳng bị nô lệ
vật bên ngoài. Vạn vật ở thế gian là ứng với sự nhu cầu của con người mà
sinh, mục đích của mặc y phục là ngăn che và tránh lạnh, cho đến bao lấy
những cái xấu hổ bên trong; Mục đích của ăn uống là đủ no và nuôi dưỡng
đời sống, để tiện việc tu tập, chẳng được tham lam hưởng lạc, mà chẳng
biết đủ đầy. Nếu có thể giữ được cách nhìn chính xác nầy, chẳng bị vật bên
ngoài sai sử, thì phiền não không từ đâu mà sinh khởi.
4 - Tâm nhẫn nại
phải nên bồi dưỡng cao độ. Không luận là hoàn cảnh hiểm ác bao nhiêu, nếu
nhẫn nại khiêm nhường, tất cả phiền não tranh chấp sẽ bị tiêu diệt ở nơi
vô hình. Quá nóng, lạnh giá, đói rét, khô khát đều cần nhẫn nại; Gặp bị
nhục mạ, chê bai, cũng cần nhẫn nại bình tâm tĩnh khí, quên hết những nỗi
bận tâm, lo âu, lửa phiền não không cách nào nổi dậy, cũng sẽ chẳng cách
nào thiêu hủy tự thân được.
5 - Xa lìa sự mê
hoặc dẫn dụ của cảnh xấu (ác). Chính như người hiền chẳng tiếp gần các
loại như: Ngựa chứng, chó điên; Người tu hành cũng chẳng nên tiếp gần hoàn
cảnh đầy dẫy hiểm ác, hoặc chỗ ở gần, bạn bè, sách vở v.v... những điều có
hại đối với mình, người tu hành nếu xa lìa sự mê hoặc dẫn dụ của các việc
hiểm ác, lửa phiền não tự sẽ bình yên dứt mất.
Các món dục vọng của
thế gian, tóm lại chẳng ra ngoài năm việc: Ðồ vật được thấy ở mắt, âm
thanh được nghe ở tai, mùi hương được nghe ở mũi, vị được thưởng thức ở
đầu lưỡi, cảm giác được chạm xúc ở nơi thân; Năm cơ quan mắt, tai, mũi,
lưỡi và thân nầy tìm cầu cảm giác khoái thích và hấp dẫn, bèn là năm việc
ham muốn (ngũ dục).
Con người, hầu hết
đều vì dục vọng của bản thân bị hấp dẫn mà chìm đắm trong đó, không xét
hiểu được kết quả đam mê ở nơi ham muốn của bản thân thì sẽ phát sinh nhẫn
đến tai hại đáng sợ.
Cũng vậy, nếu người
ta có thể tu luyện tâm mình, chẳng bị mê hoặc bỡi năm dục, thì không luận
là hiện tại hay vị lai, đều có thể không phiền não, không khổ đau, được
hạnh phúc mà vui vẻ.
Một con người tham
cầu không nhàm chán sự giàu có, danh tiếng, quyền thế, sắc đẹp, thế thì
phiền não sẽ không cách nào dẹp thoát được.
Tâm người là nhu
nhược mười phần, rất dễ lay động, một chút mà không giữ thần giữ ý, thì sẽ
hướng lệch lạc đến ở trong dục vọng đầy những tập khí nặng nề. Ví như xem
được, nghe được, muốn được sự vật vui thích, thì sẽ sinh khởi tâm THAM.
Xem được, nghe được, gặp được sự vật chẳng thuận ý mình, thì sinh khởi tâm
SÂN. Xem được, nghe được, gặp được sự vật đáng sợ, thì sẽ sinh khởi tâm sợ
hãi. Trong tâm nếu thường xuyên ở trong cảnh tham, thì tâm tham sẽ tăng
mạnh. Nếu thường nghĩ tưởng cảnh sân hoặc cảnh sợ hãi, thì tâm sân và tâm
sợ hãi cũng sẽ mạnh mẽ lên từng ngày.
Cho nên cần phải đem
mình mà nghiêm túc giữ gìn, phá trừ tất cả niệm tà ác, triệt để dẹp bỏ tâm
tham, sân và hại (sợ hãi); Bồi dưỡng tâm chẳng tham, chẳng sân và chẳng
hãi sợ. Nếu như tâm chẳng thanh tịnh, hành vi sẽ có mối tệ; Hành vi có mối
tệ, thì không thể tránh khỏi phiền não. Do đó, nên thanh tịnh nội tâm, cẩn
thận lời nói và việc làm.
PHƯƠNG PHÁP
ÐOẠN TRỪ PHIỀN NÃO
1 - Không nghĩ quá
khứ, hiện tại, vị lai, tốt xấu, đắc thất, vinh nhục, khổ vui.
2 - Giữ gìn nhãn căn
của mình, dùng pháp “bất tịnh” mà quán sát, nếu dùng pháp tịnh mà quán thì
sinh ra các món phiền não; Năm căn khác cũng như vậy.
3 - Xa lìa tất cả
các việc ác, như sự dụ dẫn mê hoặc của tri thức, bạn bè, ở hàng xóm v.v...
4 - Ở việc ăn mặc,
chẳng phải là sự lợi dưỡng tự thân, hay là để cống cao ngã mạn; Ðó chỉ là
nhiếp phòng cho mạng căn, khiến cho thân được yên ổn; Hai cảnh thuận
nghịch cần nên nhẫn; Ðói, khát, lạnh, nóng, muỗi, ruồi... bức xúc, tiếng
ác đập gõ cũng nên nhẫn, thân thể gặp các bệnh rất là khổ đau, còn có các
việc không vui cũng đều nên phải nhẫn.
Người tu hành nếu
sinh niệm ham muốn, chẳng chịu trừ bỏ, sinh tà kiến chẳng chịu xả trừ, thì
phiền não khởi, chỉ duy lấy chánh kiến, chánh tư duy mới có thể đoạn trừ
phiền não.
NGÃ CHẤP
Chấp trước: Chấp là
giữ cứng; Trước là dính chắc; Vọng tưởng là lầm lỗi; Chấp trước là giữ
chặc lấy lầm lỗi.
Phàm là chấp trước:
thân ta, tâm ta, tri kiến ta, khả năng ta, ta lợi hại, ta yêu ghét v.v...
đều thuộc về “Ngã chấp”. Chính con người thường lấy NGÃ làm trung tâm, lúc
tranh sĩ diện, tranh hư vinh, tranh ý khí, tranh được mất từ công việc,
tức là lúc biểu lộ ngã chấp.
Ðời người nguyên là
vô ngã và chẳng có kiến chấp ngã, ngay khi người ở yên tịnh, lúc chẳng
ghét chẳng cầu, không ân không oán, vốn không gọi là ý thức ngã và phi
ngã; Kiến chấp về ngã bỡi do phân biệt so đo mà sinh, ý thức vun bồi mà
thành, thói quen đã chứa khó sửa đổi mà chấp.
Người thường hoặc
dùng thân thể làm “Ngã”, hoặc dùng sự thấy hiểu của tư tưởng làm “Ngã”,
hoặc dùng hành vi tạo tác làm “Ngã”, hoặc dùng danh dự - giàu có - quyền
thế làm “Ngã”, thậm chí dùng cái thuộc sở hữu làm “Ngã”; Chỗ gọi là “Ngã”
ấy, bất quá là một món giả định trên quan niệm mà thôi.
Sợ sệt đời người, lo
lắng xã hội, chỉ duyên chúng sinh chấp trước ngã kiến (kiến chấp về ngã),
thói quen chứa nhóm riêng tư, người người đều cố tham chấp “cái ta” nầy,
bài trừ những cái chẳng phải ta, vì mưu lợi cho “cái ta” nầy, bèn đưa mình
lên và ức chế người khác xuống, ở việc đó mưu tính hại nhau, nhiễu nhương
không dứt, thành ra tranh chấp, ghét hận, oán cừu, đánh nhau, tàn hại
v.v... rất là buồn khổ.
Chấp trước hư vinh,
tranh hơn ghen ghét, ỷ mạnh tranh thắng, kích động tổn thương người. Si mê
danh lợi, cam chịu làm tay sai, dốc lòng dựa dẫm leo cao, chẳng trừ thủ
đoạn, mưu tính hại nhau, trở trái vô thường, bán bạn cầu vinh, làm phản
cướp lợi, vì riêng tư mà làm rối, che dối thiện lương, vì quấy làm tồi,
tán tâm cuồng bệnh. Tham lam, tranh bá, đoạt lấy, tàn hại, đấu tranh, giết
chóc, kết oán.
Thân có:
Sinh, lão, bệnh, tử. Vật có: Thành, trụ, hoại, không. Tâm có:
Khởi, chấp, chuyển, dứt. Người có: Kết, họp, tản, lìa. Sự có:
Lập, hưng, suy, phế. Trời có gió mây bất trắc. Ðời có họa
phước ngày đêm, tùy thời gian chuyển biến, không có hằng thường, việc thế
gian không như ý ta ấy, thường thì tám – chín phần mười; người ta ở trong
sự chuyển biến không dứt nầy chỉnh đốn hoàn cảnh, chẳng nên đem một mảnh ý
thức riêng mình si chấp giằng co, ngoan cố không chịu biến đổi, hoặc “gọt
chân cho vừa giày” (làm sai những nguyên tắc đã có sẵn), si mê tự trói
buộc, cũng chẳng nên giữ gìn chấp lệch về một phía của riêng mình, rắp tâm
cưỡng cầu, cố sức đoạt lấy, hoặc cố ý bẻ cong sự thật, cố giữ ý phá hoại,
càng chẳng nên đối với cái không thích riêng mình mà trói buộc ở nơi tình,
phóng túng đường tình mạnh mẽ, ý khí tranh chấp, hoặc tìm cừu thù gây sự,
đánh nhau rất là hung ác. Ngược lại, quán sát cần nên thấu triệt, lý trí
sáng suốt, khi đã rõ ràng ra thì ôm lòng thương xót, nhìn thấu tâm cảnh,
nên rất là đạm bạc trong sự ham muốn riêng tư, đối xử với người tốt đẹp
hài hòa, sửa đổi công việc một cách tròn đầy bao dung. Chớ nên chấp cái
“nhân” của thói quen, chớ nên chấp “tri kiến” mà trói buộc, chớ nên chấp
“ngã” mà có sự riêng tư, chớ nên chấp “oán” mà có sự đấu tranh.
LÚC NIỆM PHẬT
VỌNG TƯỞNG NHIỀU
- Có những người
nói: Lúc ta niệm Phật, không hiểu duyên cớ vì sao, vọng tưởng ở trong tâm
ta khởi lên nhiều, do đó niệm Phật không thể chuyên tâm được, muốn trừ
vọng tưởng thật là rất khó?
Người ban đầu học
Phật, tâm còn thô tháo động loạn nhiều, định lực chẳng đủ, niệm trước dứt
niệm sau khởi, niệm niệm liên tục trong một sát na, trọn không dừng dứt.
Vọng tưởng tức là nghiệp chướng. Tâm có chơn có vọng, một mà hai, hai mà
một; Tâm phàm phu nhảy nhót dong ruổi, niệm niệm luân lưu biến chuyển,
chưa từng có một lúc dừng nghỉ, đây là vọng tâm vậy.
Chúng ta có thể lăng
xăng loạn động ở tâm tư, không lúc nào ngưng tâm nhứt ý niệm Phật là việc
rất tự nhiên, nhân vì chúng ta rốt cuộc còn phải trải qua thời gian ở trần
thế, gốc của phiền não vọng niệm đó là đã trói buộc lâu ngày chẳng buông
rời, nên bất tất phải tiêu diệt nó. Không có vọng niệm thì không thể phát
sinh ra chánh niệm, không có phiền não thì chẳng thể muốn thoát khổ. Mà
niệm Phật là chánh niệm, chúng ta còn phải niệm ra câu niệm không dứt
đoạn: “Nam Mô A Di Ðà Phật”, vọng tưởng không cách nào mọc rễ thì tự động
tiêu diệt, chẳng thể lâu dài trói buộc ở nơi chúng ta.
Niệm Phật có vọng
tưởng, là chúng ta dụng công niệm Phật soi rọi ngược lại ở trong tâm, do
đó mới biết có vọng tưởng, lúc trước không niệm Phật, trong tâm mất đi sự
quản lý, chính mình cũng có thói quen không suy xét; Chúng ta niệm Phật là
chèn ép vọng tưởng đi.
Hàng phàm phu chúng
ta, ban đầu niệm Phật, thì vọng tưởng lăng xăng, tâm không cách nào yên
tỉnh được, biện pháp duy nhất là chí thành khẩn thiết niệm chuyên tâm;
Vọng tưởng khởi lên không thể bỏ được, càng không thể muốn tiêu diệt nó;
Ta niệm Phật của ta, thuận với tự nhiên, thời gian lâu rồi, công phu đến
lúc, vọng tưởng sẽ tự nhiên giảm ít cho đến không còn; Nếu muốn vọng tưởng
không khởi thì vọng tưởng ngược lại càng nhiều. Có thể nhất tâm bất loạn
thì không có vọng tưởng rồi. Rất nhiều người thường xuyên đề cập, lúc niệm
Phật còn có vọng tưởng, chẳng qua là chút ít mà thôi. Không nên vì niệm
Phật có vọng tưởng nhiều mà sinh phiền não! Công phu của ta đến lúc nhất
tâm bất loạn, vọng tưởng sẽ không có.
Niệm Phật có vọng
tưởng nhiều, tâm khó qui nhất, phải nhất tâm chí thành khẩn thiết (chuyên
niệm - tập niệm thành thói quen sẽ dễ nhiếp tâm hơn), lâu ngày vọng tưởng
tự mất. Nếu khó qui nhất, tức nên dùng “Mười niệm nhớ số”. Gọi là mười
niệm nhớ số tức là ngay lúc niệm Phật, từ một câu đến mười câu, cần niệm
rõ ràng nhớ cũng rõ ràng. Ðến mười câu rồi, lại bắt đầu từ câu một niệm
đi... không được dùng chuỗi, chỉ nhờ tâm nhớ, nếu một lần nhớ mười câu khó
nhớ, có thể phân làm hai hơi, từ một đến năm, từ sáu đến mười làm hai lần
niệm; Nếu giữa chừng vọng khởi thì bắt đầu lại từ câu thứ nhất mà niệm.
Niệm được rõ ràng, nhớ được rõ ràng, nghe được rõ ràng, mỗi ngày niệm được
vài vạn, đều niệm như thế, lâu rồi tự được. Vọng niệm nặng nề thì chăm vào
câu niệm Phật vậy. Như lúc chẳng niệm Phật thì lăng xăng sóng dậy, vọng
niệm lao xao chẳng dừng, dù khoảng sát na, đâu có thể tỉnh giác được ư.
Như thế nào trừ được
tạp niệm? Chẳng tiêu trừ được, nhưng tự phấn chấn tinh thần, dùng một niệm
nầy hoàn toàn để nơi Phật, tạp niệm tức không có. Song tinh lực mệt yếu,
thì không thể khiến cho tạp niệm không có, lại phải như thế nào? Ðạo lực
chưa đầy đủ, nhiều những tán loạn, thì thu nhiếp sáu căn lần quay về thanh
tịnh. Ngay khi tạp niệm khởi, chẳng nên xử lý nó, cũng chẳng nên chuyển
theo nó, mà ta chỉ niệm Phật, sẽ tự nhiên không tạp niệm vậy. Nhưng lâu
sau tạp niệm lại khởi, thậm chí ràng buộc không mở được, bất tất phải nóng
nảy, chỉ lắng trong sự suy nghĩ của tâm, khiến sáu chữ Hồng Danh phát ra
từ tâm, thành tiếng từ miệng, nghe tiếng rõ ràng ở trong tai, trở lại lưu
xuất từ trong tâm niệm, xoay vần xâu nhiếp chẳng để gián đoạn, thì tạp
niệm tự sẽ không có.
CHẲNG NÊN VỌNG
CẦU CẢM ỨNG
Ðã từng có nhiều
người lần đầu nghe nói “Tịnh độ tông” - Pháp môn trì danh niệm Phật, kinh
ngạc đối với một tiếng “Nam Mô A Di Ðà Phật” chứa đựng sự thẳng tắt thành
Phật rất đơn giản, rất dễ dàng và rất rộng rãi, mà hiện ra nét mặt vui
tươi, trong lòng phát ra tâm tình rạng rỡ như là “Ta đã tìm được rồi”. Thế
là trên tay lần chuỗi, trong miệng niệm Phật râm rang, bất luận là đi,
đứng, ngồi, nằm đều niệm, chuỗi chẳng rời tay, miệng chẳng lìa câu danh
niệm Phật, một bộ dạng tu hành thật sự; Trải qua bao nhiêu thời gian, trên
kinh đã nói một tiếng niệm Phật diệt được hà sa tội, nhưng ta đã niệm vô
số tiếng rồi, mà cuộc sống cũng giống như không có sự thay đổi gì, việc
không như ý mà người thường thế tục gặp được, cũng mãi đổ trút trên đầu
của ta. Xem người niệm Phật ở trên “Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục”, mỗi việc đã
đầy đủ sự cảm ứng thần kỳ, không chỉ là Thần về thế giới Cực Lạc, thì cũng
là gặp thấy được Ðức Phật A Di Ðà, và Bồ tát Quán Thế Âm, sao ta không có
một chút cảm ứng nào? Một khi thất vọng thì chẳng chịu niệm nữa. Trạng
thái tâm lý gấp rút cầu lợi như thế thì cầu chẳng được, chỉ biết người
khác niệm Phật được cảm ứng thôi, ngược lại không biết họ niệm Phật đã bỏ
ra bao nhiêu là công phu? Ðã niệm Phật bao nhiêu năm? Lúc niệm Phật “Nhất
tâm bất loạn”. Anh niệm Phật đã được bao nhiêu năm? Lúc niệm Phật gió thổi
cỏ động anh đều biết đến, vọng tưởng tạp loạn lăng xăng, sáu căn chẳng
động - anh làm không được; Chỉ hỏi vấn đề thu hoạch, mà không hỏi vấn đề
cày bừa, vọng cầu cảm ứng có được hay không?
Có thể từ niệm Phật
mà đạt được chỗ tốt đẹp rất nhiều, là quyết định ở nơi tâm tình và nổ lực
niệm Phật của ta. Cũng vậy, người niệm Phật, có chỗ khác nhau rất lớn giữa
người có thể niệm và người không thể niệm. Người có thể niệm, rất dễ dàng
có thể niệm thoải mái trong lòng; Còn người không thể niệm rất dễ dàng rơi
vào sự gấp rút cầu lợi, khô khan, lãnh vực cơ giới hóa, mà mất đi sự hứng
thú của tín tâm. Nếu như hoàn toàn tin vào kinh điển, hoàn toàn tin vào
nguyện lực đại bi của Ðức Phật A Di Ðà, nếu như lấy lòng cảm ơn cảm tạ để
niệm Phật, cảm ơn có thể niệm Phật thì sao là vận may! Cảm tạ mình có thân
tâm niệm Phật, cảm tạ chư vị đại đức tổ sư nhiều đời truyền nên huệ mạng
Phật pháp... mà có thể niệm Phật, ắc cần người và việc cảm ơn cảm tạ rất ư
là nhiều rồi, ở trong lòng cảm ơn như thế nầy mà niệm Phật, thì tâm tình
rất là thoải mái; Nếu như lấy tâm tình vui vẻ để mà niệm Phật, chẳng hiểu
là anh được một việc vui vẻ hay không? Niệm Phật A Di Ðà, đời sau sanh về
thế giới Cực Lạc, có thể chẳng vui sao? Tức khiến không muốn niệm Phật có
chỗ tốt đẹp nhiều thế nầy, rõ ràng là bản thân niệm Phật thì có thể khiến
tâm lăng xăng vọng tưởng của ta được một đối tượng chuyên chú thanh tịnh,
thân tâm an ổn tốt đẹp, tự tại, cũng có thể khiến ta đã cảm được sự vui vẻ
rồi.
Chẳng nên đem tâm
tình gấp rút cầu lợi, buồn khổ, cầu tha thứ để mà niệm Phật, chẳng nên đem
Ðức Phật A Di Ðà xem như là Thần để cầu tài, cầu bình an, cầu tha thứ...
mà niệm Phật. Niệm như thế nầy, sẽ khiến cho niệm Phật là việc thưởng thức
nơi tâm và vui nơi mắt mà thôi!
Ðã trải qua bao
nhiêu thời gian... mà ta không có một chút gì cảm ứng? Cũng giống như đi
lên gò núi nhỏ, gian nan niệm Phật đã lâu, phát hiện ra không được một cái
gì, ở đó gấp rút đi trở lại, quay về điểm khởi đầu. Trải qua sự nổ lực
niệm Phật một thời gian, kết quả là bỏ cuộc giữa đường, bây giờ hồi tưởng
lại, cũng rất là gấp gáp cầu lợi, thế là rách việc rồi!
Nếu ta không gấp gáp
cầu lợi, chỉ là giống như nước chảy về phía trước một cách vô tâm, nước
chảy cuối cùng có lúc tập trung về nơi biển lớn; Tâm linh tịnh hóa không
hay không biết đó tóm lại cũng có một ngày sẽ xuất hiện trình độ tiến bộ
rõ ràng, có một ngày ta sẽ phát hiện ra chỗ tốt đẹp to lớn đến từ sự niệm
Phật, quyết định tâm tình niệm Phật đối với ta.
Nếu như ta giống với
cái ta quá khứ, cũng gấp gáp cầu lợi, đem trạng thái tâm ấy mà niệm Phật,
cũng có thể sẽ giống như ở trước là bỏ cuộc giữa đường, rõ ràng đã lãng
phí đi một pháp môn tiềm năng thâm hậu.
Nếu như ta đem sự
tin tưởng hoàn toàn vào kinh điển mà nói, hoàn toàn tin vào sự tốt đẹp vi
diệu của thế giới Cực Lạc, hoàn toàn tin vào nguyện lực Từ bi của Ðức Phật
A Di Ðà, ngay lúc ta dùng tâm tình nầy để niệm Phật, nghiệp chướng nhiều
đời khởi lên mạnh mẽ, cũng ngăn cản không được sự tiến đến giác ngộ dũng
mãnh của ta.
Nếu như Ðức Phật A
Di Ðà trong tâm trong mắt ta không chỉ là một tượng Phật được tôn trí trên
khám Phật cúng dường, mà là pháp thân biến khắp hư không, mười phương thế
giới chúng sinh chung một thể tánh; Ngay khi ta đem tâm tình thế giới nầy
để niệm Phật, tức khiến cho nghiệp tội sâu nặng đều giống như cục băng bộc
lộ sự tiêu tan mau chóng dưới mặt trời.
Trước lúc chưa được
nhất tâm, nhất thiết là không được nôn nóng trước vọng cầu cảm ứng; Vì sau
khi nhất tâm thì đương nhiên có sự cảm ứng. Tâm chưa nhất, mà cầu cảm ứng,
tức tâm cầu cảm ứng nầy sẽ là một chướng ngại lớn cho sự tu hành.
CUỘC SỐNG QUA
ÐI THÌ TỐT
Người đời vì lập
nghiệp, thành gia, sinh con, mua xe, mua nhà v.v... muôn điều bận rộn! Tu
hành học Phật không vì những việc thế tục nầy mà bận rộn! Cuộc sống qua đi
thì tốt, nếu có ít tiền gởi ở ngân hàng để sinh lợi tức, cũng có thể để
sinh sống, sự nghiệp không có thì ngại gì? Cần nên hướng đến việc niệm
Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
Tiền bạc chẳng phải
là vạn năng; Chẳng nên cho tiền bạc là vạn năng, có được tiền là mua được
quỉ đuổi được ma.
Tiền bạc nhiều thì
lo rầu nhiều; Ðã có tiền bạc nhiều thì luôn ở trong sự lo âu và sợ sệt.
Tiền bạc cố nhiên là
cần, thật ra chẳng có thể đầy đủ toàn bộ nhu cầu cho tánh tham con người.
Ví như sự: khẩn trương, lo rầu, sợ sệt, phiền muộn, rỗng tuếch; Hay là:
thoải mái, vui vẻ, tự tại, phấn chấn cũng chẳng thể dùng tiền bạc để đổi
lấy được.
Xác nhận tiền bạc ở
trong cuộc sống ngày thường là “vật phải cần”, ăn uống, mặc, giao thông,
vui vẻ... đều cần đến nó, cuộc sống của mỗi người cùng với tiền bạc rất
gần gũi tương quan, nhưng có một ngày lúc tiền sụt giá hay không có tiền,
thế thì không thể vui vẻ được.
Cơm hẩm áo thô, vui
thú rõ ràng như cũ; Nếu lo lắng lăng xăng không dừng, buồn lo họa hoạn
trói thân, thì dẫu mặc gấm ăn sang, cũng chỉ cảm thấy muôn điều sầu khổ.
Chờ khi tư tưởng
thông rồi, thấy rõ ràng rồi, thì ta nhiều tiền như thế, cũng chỉ là cái
rương! Sau khi tiền nhiều dư dũ, ngược lại bị gặp khổ não và rầu lo rất là
nhiều, cho nên đừng vì tiền nhiều mà bận rộn lăng xăng!
Áo mặc, cơm ăn, đến
đi, qua lại... những việc người đời đã tốt lại càng muốn tốt, đã nhiều lại
càng muốn nhiều, thậm chí dùng sinh mạng để đổi lấy. Nhưng thực tại có thể
hưởng dùng thì có hạn, ăn nhiều một chút thì đau căng bao tử, mặc nhiều
một chút thì nóng đổ mồ hôi, một thân chẳng thể ngủ hai giường. Vật ngoài
thân thì muốn càng nhiều càng tốt, thật ra có thể hưởng dùng được bao
nhiêu? Lúc chết đi mang theo được cái gì? Song thì con người rốt cuộc vẫn
là con người, cầu lấy trên cơ bản vật chất đầy đủ, mà đừng nên làm dày
thêm việc sai quấy; Nhưng nếu đảo lộn gốc ngọn, một khi mê muội tìm cầu
cho đầy đủ trên vật chất, rồi thì cho rằng tiền bạc là mục đích của đời
người, rồi tự cho là lẽ phải, học Phật tu hành như đây, muốn vãng sanh về
thế giới Cực Lạc ngược lại thì trôi mãi trong luân hồi.
Phấn chấn cầu tài,
lục đục vì danh, song, dẫu cho kiếm được tiền của rất nhiều, đối với việc
vị lai vẫn không hiểu được một chút nào, chẳng nắm chắc mảy may, rốt cuộc
mới phát hiện giàu có thật ra không phải mục tiêu của đời người, há chẳng
phải là một cuộc bận rộn rỗng không! Người xưa nói rằng: “Ruộng tốt vạn
khoảnh, ngày ăn một thăng, nhà rộng ngàn gian, tối lại cũng chỉ ngủ một
giường”. Thân ta thật ra sự nhu cầu chẳng nhiều, ngược lại sự xa xỉ
ham muốn chính ta và ăn mòn riêng tư, cho đến nỗi cả ngày chẳng thể nào
vừa ý, thật thoải mái được. Tuy trên vật chất là giàu có, song sinh mạng
ngược lại thiếu vị khô cằn. Ðứng về cuộc sống tinh thần mà nói, thì nghèo
thiếu không có gì cả.
Thảng hoặc chỉ vì
bận rộn, tranh danh đoạt lợi, vơ vét giàu có, thê thiếp đầy nhà, nghiên
cứu ăn ngon mặt đẹp, tâm say nơi tiếng tăm sắc dục, cuộc sống vật chất
mong cho cao cấp mới có sỉ diện, mới có phong độ, mới có hiển hách... bề
bộn bận rộn cả ngày vì danh vì lợi, chứa nhóm ý niệm nầy, tâm thần vì đó
mà tiều tụy, không có phút giây yên ổn, lo rầu nghĩ nhớ lớp lớp, mây sầu
giăng thảm, khổ não không thể tự tiêu cho đến chết, buồn nầy lúc nào mới
tránh khỏi!
Người đời lục đục,
hấp tấp bôn chôn, rộn ràng, nhộn nhịp, việc để tìm cầu không ra khỏi hai
chữ “danh - lợi”; Sự thật, sau khi thành danh được lợi, ngược lại thì đời
người ấy cái khoảng cách với hạnh phúc và khoái lạc rất xa; Bỡi vì danh
lợi trọn không có chỗ dùng, mà vả lại được thì khó, mất thì dễ; Chẳng
những là cần giữ lấy cái lợi ích ấy mà đã phải phơi lòng treo mật để có
được, còn đem sinh mạng để tìm cầu cho cao hơn một bực, do đó lại có chủ
định khổ nhọc trọn đời, không được yên ổn.
Làm quan to hay có
tiền nhiều mới có sỉ diện, làm công việc nặng nhọc thô kệch, ăn đạm bạc
đậu rau thì không có sỉ diện, bị người coi thường; Ðây tức là không thấy
rõ, tự chuốt khổ não. Kỳ thật, có sỉ diện, là tâm hư vinh làm điều quái
gở, cuộc sống đời người mãi mãi trôi chuyển trong sáu đường, tức là tham
ái dính mắc vấn đề “có sỉ diện” nầy.
Tiền bạc không phải
là ở nơi có nhiều, dùng hàng ngày đủ là được; Làm quan chẳng là phải lớn,
mà làm tốt trách nhiệm là được; Mạng sống chẳng phải ở chỗ dài lâu, mà
phải khỏe mạnh thì vui. Không tham bên ngoài thì thanh tịnh bên trong, vả
lại được nhiều phước; Tâm không xấu hổ thì khỏe mạnh và tuổi thọ nhiều. Có
hai việc: Phước - Thọ nầy thì sẽ tốt hơn nhiều so với: Tiền vàng nhiều, sự
nghiệp nhiều, con cháu nhiều. Ðã nhiều tiền thì sẽ bị chi phối không tốt,
là nguồn gốc của tội ác.
Tự ta say sưa, do đó
cũng chính ta khen thưởng cho ta, cũng tức là tự mình coi trọng mình.
Không có sự tự ti mặc cảm là không chú trọng sỉ diện, không coi trọng
mình, cũng có thể thu được cảm nhận đầy đủ và vui vẻ, thảnh thơi tự tại,
thân tâm tự nhiên khỏe mạnh thoải mái; Ðời người có cảnh giới nầy, lại cầu
gì để được người khen thưởng (có sỉ diện).
Sự nghiệp đã lớn, sự
tình đã nhiều, công việc đã nặng, ranh giới quan hệ của người lại phải ứng
phó cho tốt, việc nhiều tâm phiền, cả ngày bận rộn, khổ nhọc quấy động
tr