PHÁP
MÔN
Trì Danh Niệm Phật, Vãng Sanh Cực Lạc
Tác giả:
Huỳnh Lão cư sĩ
Hải Huyền
Viên Giáo
dịch
PL. 2545
---o0o---
CHƯƠNG I
(3)
9. NĂM GIỚI
Năm giới là giới
điều rất cơ bản của bốn chúng đệ tử Phật. Không luận là xuất gia hay tại
gia đều phải tuân thủ. Người tu hành “ năm giới không giữ, dứt đường nhân
thiên”.
Năm giới, mười thiện
nghiệp là tiêu chuẩn đạo đức nhân loại, mỗi điều giới luật đều là “chẳng
làm các ác” biện chứng thống nhất “vưng làm các thiện”. Ðạo đức Phật giáo
là một đường lối rất chú trọng động niệm và hiệu quả, bất luận người khác
nói như thế nào và làm như thế nào đều là một lối. Ngược lại, như riêng
tư, tự lợi, tạp niệm nảy sinh, thì bất luận người khác nói nhiều, đẩy đưa
nhún nhường động tiếng thế nào cũng đều là giả, đây là nguyên tắc cơ bản
của đạo đức Phật giáo cân lường.
Năm giới, mười thiện
nghiệp của Phật giáo là cùng với luân lý xã hội và pháp luật Quốc gia gần
giống nhau, cho nên vấn đề lý tánh nhân từ thuần khiết, là tập trung tinh
hoa đạo đức xã hội loài người, mọi người có thể làm được năm giới, mười
thiện nghiệp của Phật giáo cũng có thể đạt đến tư tưởng đẹp, hành vi hay,
thế nầy quan hệ người và người cũng sẽ hoà mục và an khang. Ðạo đức Phật
giáo, chủ yếu là vưng làm năm giới, mười thiện nghiệp, khiến cho hoàn
thành một con người tốt lương thiện.
Năm giới là: không
sát sinh - trộm cắp - không tà dâm - không nói vọng - không uống rượu.
KHÔNG SÁT SINH
Luận Ðại trí Ðộ nói:
“Trong các tội nghiệp, sát nặng nhất; trong các công đức, không sát thứ
nhất”. Ðộng vật bay lên trời, bơi trong nước, có bản năng sinh tồn của
nó, có tự do sinh tồn của nó; Con người tại sao tự tàn sát nhau? Hoặc vì
miệng thèm giết nó để ăn, tạo thành “oan oan tương báo” thời gian không
thể không kết.
“Không tranh giành”
thì chẳng thể sát sinh, lấy tâm bình đẳng mà đối đãi với chúng sinh thì
chẳnh thể tranh giành; nếu khởi lên cái niệm ta mạnh hơn người, ta làm hơn
người, ta lớn hơn người thì sát sinh cũng là nhân ở nơi tâm tranh chấp mà
tác quái, một khi tranh chấp thì sẽ mày chết tao sống... chết và bị thương
vô số.
KHÔNG TRỘM CẮP
Trong kinh Lăng
Nghiêm, đức Phật dạy rằng: “A Nan! lại nữa thế giới, sáu đường chúng
sinh, tâm không trộm cắp, thì không nuôi lớn sự tương tục sinh tử. Ông tu
Tam Muội vốn ra khỏi trần lao, tâm trộm nếu không trừ thì trần lao không
thể ra. Dù có đa trí và thiền định trong hiện tiền nếu như không dứt trộm
cắp, thì quyết phải rơi vào tà đạo”.
Của không cho chẳng
lấy, là nói chẳng chuyên chỉ trộm cắp tài vật của người khác, tức là ở nơi
tâm hành sự có loại giống như trộm cắp ấy, cũng gọi là trộm cắp: như lời
nói và việc làm dối trá khác là: Phỉnh dụ mê hoặc người không biết, mong
lấy lợi dưỡng, tổn người lợi mình, cậy thế lấy tiền của, dùng kế mưu của
v.v...
“Không tham” thì
không thể trộm cắp, vì sao phải trộm cắp tiền của người khác? Tức là do vì
tham. Nếu người không có tâm tham, thì kể ra người ta cho anh, anh cũng
không cần, cho nên cần phải đem tâm tham mà trừ bỏ mới không thể trộm cắp.
KHÔNG TÀ DÂM
Ðức Phật chế cho
hàng đệ tử tại gia, nếu không phải là vợ chồng hợp pháp thì tuyệt đối nam
nữ không thể hành dâm – chẳng dâm, là chẳng riêng chỉ hành dâm mà nói, lại
còn bao quát niệm dâm khởi lên trong tâm, lời dâm ở nơi miệng nói. Vì dâm
là cội rễ của vạn vật sinh tử. Người học Phật tu hành thì cần phải đoạn
dứt dâm! dâm không đoạn thì Phật đạo không thành!
“Không cầu” thì
chẳng thể có tâm dâm, tâm dâm dục tức là cầu cái sở hữu, nữ cầu người yêu
nam, nam cầu người yêu nữ đều là cầu khác tính không chỉ rịêng cầu lại còn
“truy” cầu; Giả như không cầu thì dâm thế nào?
Trong kinh Lăng
Nghiêm nói “dâm” là giới đầu; Người tu hành không thể đoạn trừ tâm dâm và
việc làm dâm, thì không cách nào đoạn trừ cội rể sinh tử. Nhân đây không
luận người ta tinh tấn tu hành như thế nào, tuyệt đối không cách nào ra
khỏi ba cõi. Dẫu người nầy khéo nói pháp yếu, có biện tài, hiện tiền thiền
định hữu lậu, anh ta vẫn là qua lại với ma quỷ, không những Tam muội chân
thật (định) không thể hiện tiền, ngược lại lấy trí thiền nuôi giúp tâm dâm
khiến dâm tăng trưởng lẫy lừng, rốt rồi khiến mình rơi vào ma đạo. Kinh
nói rằng:
“Cho nên A Nan!
nếu không đoạn dâm, tu hành thiền định, như đem cát đá muốn nấu thành cơm,
trải trăm nghìn kiếp, chỉ là cát nóng. Bởi vì sao vậy? Chẳng phải gốc cơm,
mà là cát đá thành vậy. Ông lấy thân dâm, cầu diệu quả Phật, dù cho được
ngộ, đều là rễ dâm, cội rễ thành dâm luân hồi ba đường quyết chẳng ra
khỏi: Như Lai niết bàn, đường nào tu chứng? Phải khiến thân tâm, cơ dâm
đều dứt, tánh dứt cũng không, Bồ đề chư Phật có thể cầu mong. Lời ta nói
đây, gọi là Phật nói, không như đây nói, tức Ba tuần (Ma vương) nói”.
Trên đây là đức Phật
đối với người không như pháp, không như luật mang lấy dâm mà tu hành, vốn
mong tu chơn, ngược lại thành ma nghiệp, sau khi mệnh chung, ắt phải rơi
thứ nhứt ma đạo mà Ngài dạy răn phải sáng suốt xét nét thanh tịnh. Bốn
chúng Phật tử muốn cầu thành tựu đạo nghiệp đối với lời dạy răn của đức
Phật, lý phải tin thọ phụng hành, như vậy mà tu hành.
KHÔNG NÓI VỌNG
Lời nói rỗng vọng là
nói mà không có tin, không xuất phát từ hư vọng vậy. Nếu thấy nói không
thấy, không thấy nói thấy: lấy hư làm thật, lấy thật làm hư: lấy có làm
không, lấy không làm có: Phàm là tâm và miệng không tương ứng nhau, muốn
lừa dối với người, đều là như vậy cả.
Kinh Lăng Nghiêm,
Ðức Phật nói rằng:
“A Nan, như vậy
thế giới sáu đường chúng sanh, tuy thân tâm không có báo của sát – đạo –
dâm, ba hành nghiệp đã mãn, như nếu đại vọng ngữ, tức là “Tam ma đề” không
được thanh tịnh, thành thọ kiến chấp ma, mất đi hạt giống Như Lai”.
Thế nào gọi là đại
vọng ngữ? Là tự mình chưa đựơc Bồ đề vọng nói tự mình đã được Bồ đề, mình
chưa chứng niết bàn vọng nói đã chứng niết bàn. (chưa được nói là được,
chưa chứng nói là chứng), giả Phật lộn xộn mê hoặc chúng sinh đời sau,
hoặc giả được quả vị Bồ tát... đó là ma ba tuần, là tạo đại vọng ngữ.
“Không tư riêng” thì
không thể dấy lên lời nói vọng. Mọi người nói vọng cũng nhân vì sợ mất đi
lợi ích của chính mình, tâm riêng tư tác quái cho nên nói dối lừa người,
muốn khiến người không nhận biết mình.
KHÔNG UỐNG RƯỢU
Các loại rượu một
ngụm cũng không nên uống, uống một ngụm thì sẽ có ngụm thứ hai, rồi tiếp
ba, bốn... khói cũng không nên hít, đồ độc cũng không nên ăn dùng.
Uống rượu là một
phương thức giao tế của người hiện đại, nhân uống rượu mà sự việc lầm lạc
so ra đều như thế, từ rất sớm hơn hai nghìn năm trăm năm trước trong kinh
điển Phật cũng đã rõ ràng nêu chỉ chỗ xấu của uống rượu, ngày nay xem ra
chỗ nói đó không phải hư rỗng. Uống rượu xong mà niệm Phật tụng kinh,
ngang với không tụng không niệm, không thể không biết.
“Không tư lợi”, thì
chẳng thể phạm giới rượu. Người ta vì sao phải uống rượu? Tức là muốn mê
loạn thân tâm mình, làm cho nó mơ mơ màng màng, làm cho tự mình thành
tiên, thành thần, tiêu diêu ở trên trời. Uống rượu say sẽ chửi người cho
rằng là việc muốn làm, lại tăng trưởng dâm dục, lại muốn dùng rượu để giúp
cho huyết khí lưu thông nhanh một chút, uống rồi quên đi tất cả, như hít
vào rồi chẳng phải mạng khác mà một kiểu phiêu phiêu. Ðây đều là tâm tự
lợi tác quái, cho nên không uống rượu.
Ðức Phật nói: “Ba
nghiệp thân - miệng - ý làm ác, chỉ rượu là căn bản”. Uống rượu say
loạn, tâm không chừng mực, dùng phung phí vô độ vậy. Ðó là cửa của các
bệnh, gốc của đấu tranh. Cho nên các loại rượu đều không nên uống.
Ðức Phật nói:
“Người uống rượu có sáu việc tổn thất: tài vật dể tổn thất, dễ sinh bệnh,
ưa thích đấu tranh, chuốt bày tiếng xấu, dễ giận dữ táo bạo, càng lúc càng
không có trí tuệ”.
Kinh Ưu Bà Tắc nói
rằng: “Nếu lại có người ưa uống rượu, người đó hiện tại thường mất của,
thân tâm nhiều bệnh, thường thích đấu tranh, tiếng xấu nghe xa, tản mất
trí tuệ, bị xấu nhan sắc và sức lực, chỗ làm đáng trách tất cả, người ta
không ưa gặp, không thể tu thiện, đó gọi là báo ác hiện đời của người uống
rượu.”
10. MƯỜI THIỆN NGHIỆP
A. PHẬT NÓI KINH “THẬP THIỆN NGHIỆP”
Tín đồ Phật giáo báo
ân hoằng pháp cần phải từ mười thiện nghiệp bình thường làm lên. Mười
thiện là tôn chỉ lớn, hạnh môn của Phật giáo. Chúng sinh thăng trầm nơi
sáu đường, đã thấy sự nhẹ nặng của thiện ác để mà xét đoán: Thánh hiền
trải qua ở tam thừa cũng lấy sự cạn sâu tu thiện diệt ác làm chổ quyết
định. Do đây thấy rằng pháp “mười thiện nghiệp” là sự cân nhắc thánh phàm
cao thấp, kim chỉ nam cho cuộc sống của Phật tử.
Ðạo mười thiện
nghiệp, đã là căn bản của tất cả thiện pháp, thì bất luận làm người hoặc
sinh ở cõi trời, thậm chí cần quả thánh ba thừa xuất thế, đều phải lấy
mười thiện nghiệp làm cơ sở, nhiên hậu từng bước từng bước tiến lên, thì
có thể đạt đến quả Phật tối cao.
Gốc làm người ở nơi
mười thiện, nguồn thiện cũng ở nơi mười thiện, và cơ sở của năm thừa cũng
ở nơi mười thiện.
Chúng ta cần phải
làm việc thiện, tốt nhất có thể hiểu rõ định nghĩa của thiện, như mà đối
với chân nghĩa của thiện không rõ, thì có lúc điểm xuất phát là thiện,
nhưng kết quả ngược lại việc làm ra và thiện trái nhau, thực tại nầy thật
là không sửa đổi được.
“Thiện” căn cứ sự
chỉ bày của Ðức Phật cho chúng ta, định nghĩa đó có thể từ ba phương diện
nói ra:
1/ Từ sự động niệm của tâm mà nói:
Sự thuần khiết và
không thuần khiết của hoạt động tâm lý. Hoạt động tâm lý thuần khiết là
không có phiền não xen lộn ở bên trong mà chỉ cùng với thiện tâm: không
tham, không sân, không si, tàm và qúi tương ứng, tức là việc thiện. Ngược
lại mà nói, hoạt động tâm lý tạp nhiễm không thuần khiết, thường cùng với
các phiền não: tham, sân, si, mạn, tà kiến, không tàm, không quí trói buộc
nhau, tức là ác; phân biệt thiện – ác, hoàn toàn là xem sự thanh tịnh hay
không thanh tịnh của nội tâm.
2/ Từ sự ảnh hưởng của hành vi mà nói:
Chúng ta biết rằng,
giữa người và người đều có sự tương quan, nhơn sự biểu hiện của bất cứ
hành vi nào đều sẽ ảnh hưởng đến các người khác, từ ảnh hưởng tốt hoặc xấu
đó, thì có thể phân biệt thiện hoặc ác. Cho nên sự thiện ác của hành vi
chủ yếu là sự lợi hại của ảnh hưởng xã hội mà phân biệt.
3/ Từ sự trước sau của thời gian mà nói:
Người đời một số chỉ
coi trọng hiện thực, nắm lấy hiện thực, nhưng Phật pháp giảng rằng: Không
những có thời gian hiện tại mà còn có thời gian vị lai, làm người không
thể nhìn ngắn ngủi chỉ có hiện tại thôi. Nên còn phải nghĩ đến vị lai, như
một khi nghĩ đến vị lai, thì hành vi hoạt động của hiện tại cũng không dám
tùy tiện. Hành vi hoạt động của chúng ta là chẳng những đối với hiện tại,
mà vị lai cũng đều có lợi ích. Như vậy tức là thiện. Giả sử cho rằng chỉ
đối với hiện tại có chỗ tốt đẹp, nhưng đem phương pháp không chính đáng
cầu được sự đầy đủ trên cuộc sống hiện tại, mà đối với sinh mạng sống mới
của vị lai không những không có chổ tốt đẹp mà ngược lại cảm đến sự đau
khổ rất lớn, tức là ác.
Nghiệp tức là hành
vi, tức là ước nói động tác của thân tâm, song mỗi một động tác của hành
vi thân tâm sau khi qua đi, không phải qua đi thì nói xong, ắc còn có sự
lưu giữ lại năng lực; Phật pháp nói là “nghiệp lực”. Cho nên chữ “nghiệp”
nầy, ở trong Phật pháp là ước giảng hai phương diện: một là ước nói ở ngay
nơi hoạt động, hai là ước nói sau khi hoạt động chỗ lưu lại lực dụng.
Nghiệp dụng lúc động làm, trở thành quá khứ rất mau; nghiệp lực giữ lại,
trải qua trăm nghìn kiếp đều không mất. Ðưa ra ví dụ để nói, như tôi đánh
anh một cái, hoặc chửi anh một câu; hoặc đánh hoặc chửi đều là một món
nghiệp dụng, đem năng lực đánh chửi này lưu giữ lại, lại là nghiệp lực.
Nghiệp lực cũng giống như chủng tử (hột giống) mà người ta nói, chủng tử
trước lúc chưa bại hoại, không luận đến lúc nào, chỉ cần có trợ duyên
(đất, nước...), tự nhiên sẽ phát sinh ra mầm; “nghiệp” của chúng ta thu
chứa ở trong đó, gặp được nhân duyên nào đó, tất nhiên cũng sẽ cảm thọ
riêng một mạng sống mới.
Do đây, chúng ta đối
với hành vi sở hữu của mình, đều phải tự mình gánh vác trách nhiệm, không
phải bởi vì làm rồi thì tính rồi, nếu anh tự cho là xong rồi, nghiệp lực
có thể không chịu tha thứ cho anh, đến lúc tương đương, nhất định sẽ tính
sổ với anh, quyết không thể dễ dàng buông tha.
Nghiệp, không phải
là túc mạng luận, tuy nhiên đối với hiện tại có chỗ ảnh hưởng, ngược lại
không thể chi phối. Nghiệp, cũng giống là hạt giống (chủng tử), một ngày
kia phát mầm thành thục, thì ắt phải kết quả. Ðạo lý của nghiệp rất đơn
giản, tức là “phép tắc nhân quả” mà thôi.
Cung kính ghi chép
(trích) từ trong “Kinh Phật nói đạo mười thiện nghiệp”:
“Pháp này tức là đạo mười
thiện nghiệp. Thế nào là mười? Nghĩa là có thể trọn xa lìa: sát sinh, trộm
cắp, tà hạnh, nói vọng, hai lưỡi, miệng ác, lời nói chiều uốn, tham dục,
sân nhuế, tà kiến (ngu si).”
Từ sát sinh đến tà
kiến, thông thường gọi là mười ác, hoặc con đường mười ác nghiệp. Nay đây
trên mỗi ác nghiệp, lại thêm hai chữ vĩnh ly (vĩnh viễn rời xa), tức là
vĩnh ly sát sinh... đến tà kiến, đó tức thành là mười thiện. Cho nên trong
đoạn kinh văn này, chúng ta cần phải biết hai chữ rất trọng yếu đó là
“vĩnh ly”. Ðương nhiên, vĩnh ly kiểu này là bậc thánh mới có thể làm được,
không phải chúng ta một hạng phàm phu có thể làm được. Tuy là như vậy, chỉ
cần chầm chậm học, thường thường tu, từ nay không làm việc sát sinh... cho
đến tà kiến, tóm lại có làm thì có một ngày “vĩnh ly”.
B. THẬP THIỆN NGHIỆP
Không
sát sinh
- Không trộm cắp
Không tà dâm.
Không
nói vọng
_ Không nói hai chiều
Không nói ác
Không nói thêu dệt
- Không tham dục
Không sân nhuế
Không tà kiến (ngu si)
Thế nào gọi là sát
sinh? Cắt đứt mạng sống là sát, có tình gọi là sinh; dứt đi sinh mạng của
loài hữu tình gọi là sát sinh. Phàm là động vật có sinh mạng: bay trên
không trung, chạy trên đất, bơi trong nước, bất luận là lớn hay nhỏ, trên
từ chúng ta, dưới từ côn trùng nhỏ nhít, đều không thể có ý sát hại, hoặc
khiến sảy thai, tự sát, cũng là sát sinh. Bất luận là dùng phương pháp
công cụ nào, dù trực hay gián tiếp đến nỗi khiến cho sinh mạng của loài
hữu tình tử vong gọi là sát sinh.
Thế nào là trộm cắp?
Của vật công cộng, của vật riêng người, không luận là nhiều hay ít, lớn
hay nhỏ, không được xâm chiếm, chưa trải qua sự đồng ý của họ, không cho
mà tự lấy, gọi là trộm cắp. Vấn đề trộm cắp trên xã hội, có khi trực tiếp,
có lúc gián tiếp, có hình thức hoặc không hình thức. Thí như ăn trộm, ăn
cắp, cướp giật là trực tiếp; tham ô nhận hối lộ, chiếm dụng của công,
riêng nuốt tiền của của người khác là gián tiếp; trói buộc dối gạt lấy,
mạo phạm nhờ đỡ công việc là có hình thức; giả công giúp tư, “nuớc đục thả
câu” là không hình thức. Tóm lại, không cho mà tự lấy, hoặc dùng thủ đoạn
không chánh đáng mà đoạt lấy tiền bạc của cải, đều là trộm cắp.
Thế nào là tà dâm?
Tình nhiễm phóng đãng, giao cấu ô uế gọi là “hạnh bất tịnh”. Ngoài vợ
chồng chính thức ra, có bất kỳ hành vi dâm uế nào, làm loạn quan hệ nam
nữ, phạm hạnh bất tịnh, thì gọi là tà dâm. Ðồng tính cẩu thả giao hợp, tự
an ủi cũng thuộc về tà dâm, niệm dâm trong lòng khởi lên, miệng nói lời
dâm cũng là tà dâm.
Người tu hành có nam
có nữ, thì cần phải đoạn dâm, sự liên tưởng đều không nên nghĩ đến, vợ
chồng chia phòng mà ngủ. Tu hành như vậy không dứt được dâm, thì phẩm vị
vãng sanh cực lạc cũng không thể cao được.
Không dâm dục, là
người tu hành có niệm đầu không dâm dục, như có mảy mún niệm tưởng dâm
dục, thì không thể vượt khỏi ba cõi, mà vẫn ở trong luân hồi chịu lấy sinh
tử. Ý niệm dâm dục này, tức là cội rễ của sinh tử. Nếu có thể đoạn được
nó, bèn ra khỏi ba cõi mới có thể chứng quả thành Phật.
Một bệnh sắc dục
cũng đã nêu lên bệnh chung của người đời. Chẳng riêng gì người trung căn,
hạ căn bị sắc mê hoặc, mà người thượng căn nếu không tự giữ gìn chiến đấu,
thiếu cẩn thận ở niệm, thì khó khỏi bị sự mê hoặc. Thử xem từ xưa đến nay
bao nhiêu hào kiệt vượt trội, cố gắng làm thánh hiền, chỉ do phá không
được cửa này, trở lại làm kẻ hạ ngu thấp hèn, lại còn vĩnh viễn rơi vào
đường ác, bởi vì khó thắng số. Người tu hành vốn là ra khỏi sinh tử, nếu
không gắng trừ bệnh này, thì cửa sinh tử khó ra khỏi. Tức là pháp môn niệm
Phật, tuy mang nghiệp vãng sanh, nhưng nếu tật dâm kết chặt thì là cách xa
với Phật, khó ở việc “cảm ứng đạo giao” vậy. Phải cố gắng trừ sạch tập khí
ác nghiệp, mới có thể có phần tự do.
Người tu hành không
nên có tư tưởng tình ái, càng không thể có hành vi tình ái, đối với bất kỳ
người nào không nên sinh ra tâm tình ái; có tình ái thì rễ khổ không dứt,
có tình ái thì sinh tử không thể mất. Có người nói “Con người là động vật
có tình cảm, cho nên có tính dùng sắc chất”. Bởi do thế này nên cần tu
hành.
Giả như anh có thể
buông bỏ một cách triệt để tất cả sắc dục, như thế thì một cái xong tất cả
đều xong. Anh hùng hảo hán trong thiên hạ cho đến kẻ tu hành, không biết
bao nhiêu đều bị cửa sắc đẹp làm mê. Những vấn đề trên thế gian và phiền
não cũng gốc là ở đây.
Ðối với việc sắc
tình, chưa thấy thì không nên nghĩ, thấy thì không nên tưởng, đã thấy thì
không được loạn. Nếu xem, nghe, nghĩ, tưởng, tâm niệm khởi lên, tánh hiền
xung động, vượt qua nghĩ tưởng và xung động, thì lửa dục đốt thân, muốn
không phạm giới cũng không thể được. Cho nên chưa thấy thì không nên nghĩ,
thấy rồi, nghe rồi thì không nên tưởng, càng không được có động tác, nếu
tâm niệm khởi lên tức liền quở trách, thì không muốn vào chỗ si quấy. Nếu
sinh lý xung động, thì nghĩ tưởng lúc tức giận hiện tướng hung ác, lúc
bệnh hoạn hiện tướng suy bại, lúc chết hiện tướng khó nhìn, từng việc quán
sát chắc chắn. Như thế chỉ cần cấu uế đờm tửa, lông tóc răng móng, xương
thịt máu mủ, mọi thứ gớm nhờm giống như tử thi, dơ như nhà xí; ai đối với
vật này mà sinh tham ái? Tham ái đã dứt, niệm dục tiêu mất, tâm địa thanh
tịnh; không nên nghĩ tới sắc đẹp của nó, chỉ nghĩ đến chỗ xấu xa của nó,
như vậy tánh dục không thể xung động được.
Dâm dục dễ sinh ra
sự đố kỵ, chê bai người khác, chiếm hữu, vướng mắc, ân oán, tranh giành
quấy rối... những tranh chấp và phiền não, ngăn ngừa thì đẩy lùi đi được
nhiều phiền phức, vui được yên ninh. Dâm dục dễ phát sinh quan niệm gia
đình, gia quyến; từ đó sinh ra niệm quan hệ, riêng tư, trói buộc, gánh
vác, kết tình, làm phương hại cho việc tu hành. Ở thế giới này, dục lạc là
cội rễ luân hồi của chúng ta nhập thai.
Thế nào là lời vọng?
Miệng phải mà tâm trái, dối gạt không thật, điên đảo trắng đen, lộn xộn
thị phi, nói chung đều là lời nói vọng.
Thế nào là lời nói
ác? Ðem lời thô bạo, ác độc, tổn thương người, khinh người, làm khốn đốn
người, hơn người, lời ô uế... để chửi mắng nhục mạ người, làm tổn thương
lòng người, lời trù yếm rủa quở, khiến người phát sinh áy náy lo lắng
trong lòng, không thoải mái, sanh giận đều là ác khẩu. Ðối với súc sinh
cũng không nên chửi nó.
Thế nào gọi là nói
lưỡi hai chiều? Tạo lời bịa đặt sinh sự, xúi dục thị phi, khiêu khích ly
gián, ly gián cảm tình giữa người và người, khiến người kia – đây không
hòa, gây chuốt oán; đó gọi là nói lưỡi hai chiều (đâm bị thóc, thọc bị
gạo).
Thế nào gọi là lời
nói thêu dệt? Nói lời dâm đãng tầm thường, nhơ uế không chánh, khêu gợi
tình cảm, lời không ra gì, lời không ý nghĩa, lời ngon tiếng ngọt, cái
đáng phê bình ngược lại khen đẹp, cái việc tốt đẹp lại đem phỉ báng, mỗi
nơi một khác không hợp với nghĩa, những lời như thế đều gọi thêu dệt. Ba
bốn người bạn tụ lại một chỗ, cao hứng bàn luận, vui cười đắc ý rất dễ
phạm phải lời thêu dệt, phải nên cẩn thận.
Con người rất dễ bị
phạm về nghiệp miệng. Cho nên đối với chúng sinh có lời làm tổn thương hại
người, ngược đãi, ô uế, thô bạo, ác độc, nói lời dối gạt, nói khoác lắm
lời, miệng tâm trái nhau, đều không nên nói; dẫu bị người cho là kẻ câm,
cũng không nên làm tổn hại đến khẩu nghiệp.
Thế nào gọi là tham
dục? Tham dục còn gọi là tham ái tham luyến. Chúng ta không chỉ yêu thương
thân thể sinh mạng chính mình, mà còn yêu thương các món tài sản quyền
thế, danh dự, người thân của mình, tham luyến không xả được. Không có muốn
cho có, có rồi lại càng muốn có nhiều càng tốt; tại sao đều muốn có? Tại
sao đều không đủ? lòng tham không bao giờ đủ, đó là tham dục. Vì thoả sự
ham muốn chính mình, chỉ cần đạt được mục đích, bất chấp thủ đoạn, công lý
thế nào, nhân tình thế nào quên hết.
Tâm tham khởi lên, ở
ngay nơi lúc khởi tưởng về trước không có nó, không phải là sống tốt đẹp
sao, vì sao quyết phải phí sức tranh cầu? Nghĩ vậy tâm sẽ tiêu mất.
Thế nào gọi là sân
nhuế? Sân nhuế là phát giận, thịnh nộ, oán hận. Có chút ít không như ý thì
phát giận, não phiền không thoải mái, trong lòng ôm lấy điều không vui,
oán đây hận kia. Ðối với người, sự việc, vật, lúc mà gặp mặt tất cả nghịch
cảnh không như ý, thì sự giận ở bên trong phát ra bên ngoài, đó gọi là sân
nhuế. Sân nhuế đối với người tu hành có chướng ngại chẳng nhỏ, có câu
rằng: “Một việc ác phá chín việc thiện”.
Ðang lúc gặp việc
không như ý phải biết lúc cơn giận nổi lên, không nên nói, cũng chẳng ức
chế, cũng không nên phát tiết ở trên thân người khác. Còn nói, giải quyết
không xong vấn đề; ức chế thì sẽ làm tổn thương đến thân thể; phát tiết
trên thân người khác thì tìm cái nhỏ mọn đối với anh, phát tiết trên thân
thể họ, tức là anh làm tổn thương đến họ, đối với mình thì cũng chuốc lấy
điều không tốt. Phẫn nộ là chất độc, thân thể cần phải chuẩn bị kháng cự,
trong máu mủ đầy cả chất độc, nếu không được phát tiết ra ngoài, như thế
sẽ chịu khổ, vì sự phẫn nộ đó tồn tại mà chẳng thể giận! Nay đây xin đưa
ra một phưong pháp: Chầm chậm hít dài một hơi, ngước lên trời từ từ thở
ra, như vậy làm vài lần, hoả khí liền tiêu mất; hoặc tìm một chỗ, một tay
nắm cú đánh một cái, hoặc vẽ trên miếng giấy, hoặc vào trong phòng đánh bị
bông, hoặc cái gối... để tiết lần khí giận. Phương pháp tốt nhất là: coi
như gió bên tai, coi như đang biểu diễn ca múa, như nó đang tự chửi mắng
nó, không nên lý sự với nó, không khởi tâm động niệm, khí sẽ không sinh
khởi (không giận) được.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Một niệm tâm sân khởi, trăm ngàn cửa chướng ngại mở”, “Lửa sân nhuế có
thể đốt cháy rừng công đức”. Có thể chẳng sợ sao?
Thế nào gọi là tà
kiến (ngu si)? Ngu si không phải là ngu thật, là có một chút thông minh
nhỏ; bởi vì tư tưởng lầm lạc (tà kiến), tất cả kiến giải hoặc tập tánh
không hợp lý, dẫn đến sự điên đảo trên hành vi, không rõ biết phải quấy,
mặc tánh vọng làm, không rõ đạo lý, không tin chánh đạo, không tin nhân
quả báo ứng, không tin Phật, Bồ tát, thần quỷ. Tự cho là phải, cuồng vọng
tự đại, trong mắt không có người, kiêu căng ngạo mạn đó là ngu si.
Thập thiện nghiệp - không
trái phạm, mới là thập thiện nghiệp (mười nghiệp thiện); trái phạm rồi thì
là thập ác nghiệp (mười nghiệp ác). Tóm lại, phàm là việc tổn hại chúng
sinh thì thân không nên làm, miệng không nên nói, ý không nên nghĩ.
Sau khi biết đạo lý
của mười thiện nghiệp, thì không nên giống như kiểu trước kia làm việc
theo chỗ muốn của tâm, ưa gì làm nấy; trước khi làm việc hay nói cần phải
nên nghĩ là có tổn hại đến chúng sinh hay không, có vi phạm đến mười thiện
nghiệp hay không?
Người tu hành phải
tin Tam Bảo, biết nhân quả, giữ năm giới, làm mười nghiệp thiện và nhẫn
nhục, đây là việc người tu hành quyết cần phải đầy đủ. Ðức Phật do đó dạy
bảo cho tín chúng cái việc hợp tình nhập lý, trừ phi người không muốn làm
điều tốt, những việc này làm tiêu chuẩn phép tắc mới thành sự răn ngừa của
con người.
Chúng ta làm con
người không thể không nói đến luân lý, đạo đức và lương tâm. Mà mổ xẻ đạo
đức hay không cũng là ở trên sự đoan chánh hay không của hành vi. Người có
hành vi đoan chánh thì làm mười nghiệp thiện, người không có hành vi đoan
chánh thì làm mười nghiệp ác. Một cái hành vi của nhân dân tốt là đoan
chánh, huống chi chúng ta là Phật tử, là người tu hành.
Xa lìa vĩnh viễn
mười nghiệp ác, nhất định sẽ được công đức rất nhiều.
Kinh chép rằng:
“Này Long Vương, nếu lìa SÁT
SINH, tức thành tựu được mười pháp lìa não phiền. Thế nào là mười? 1. Ðối
với các chúng sinh khắp ban cho sự không sợ sệt. 2. Vì chúng sinh khởi tâm
đại từ. 3. Vĩnh viễn xa lìa tất cả tập khí sân nhuế. 4. Thân thường không
bệnh. 5. Thọ mạng dài lâu. 6. Thường được phi nhân thủ hộ. 7. Không có ác
mộng ngủ thức vui vẻ. 8. Diệt trừ oán kết, các oán tự giải. 9. Không sợ
đường ác. 10. Mệnh chung được sanh lên trời, đó là mười việc.
“Lại nữa Long Vương, nếu lìa
TRỘM CẮP tức được mười món tín pháp có thể giữ gìn. Thế nào là mười? 1.
Tài sản chứa đầy, vua, giặc, nước, lửa không phải là con yêu, không thể
làm tản mất. 2. Nhiều người yêu thích. 3. Người không khinh rẻ. 4. Mười
phương khen ngợi. 5. Không buồn tổn hại. 6. Tiếng lành đốn khắp. 7. Ở
trong chúng không sợ. 8. Tiền tài, sinh mệnh, hình sắc, sức lực đều an
lạc, biện tài đầy đủ, không khuyết thiếu. 9. Thường ôm lòng bố thí. 10.
Mệnh chung được sanh lên trời; đó là muời.”
“Lại nữa Long Vương, nếu lìa
TÀ HẠNH, tức được bốn món đức trí đáng ca ngợi. Thế nào là bốn? 1. Các căn
điều hòa và thuận nhau. 2. Vĩnh viễn xa lìa ồn ào. 3. Người đời ngợi khen.
4. Vợ chẳng lấn quyền. Ðó là bốn.”
“Lại nữa Long Vương, nếu lìa
NÓI VỌNG tức được tám pháp chư Thiên khen ngợi. Thế nào là tám? 1. Miệng
thường thanh tịnh thơm mùi hoa Ưu Bát. 2. Làm các điều thế gian tin phục.
3. Phát lời nói chân thành chứng thật, trời người kính yêu. 4. Thường dùng
ái ngữ (lời khả ái) an ủi chúng sinh. 5. Ðược vui thù thắng nơi ý, ba
nghiệp được thanh tịnh. 6. Lời nói không sai lầm, tâm thường hoan hỉ. 7.
Phát lời tôn trọng, trời người phụng hành. 8. Trí tuệ thù thắng, không có
thế lực nào chế phục. Ðó là tám.”
“Lại nữa này Long Vương, nếu
xa lìa LƯỠI HAI CHIỀU, tức được năm pháp không thể hại. Thế nào là năm? 1.
Ðược thân bất hoại, không thể hại được. 2. Ðược quyến thuộc bất hoại,
không thể phá hoại. 3. Ðược niềm tin bất hoại, thuận với gốc vậy. 4. Ðược
phép hành bất hoại, sở tu kiên cố vậy. 5. Ðược thiện tri thức bất hoại,
không đảo điên vậy. Ðó là năm.”
“Lại nữa Long Vương, nếu lìa
ÁC KHẨU, tức được tám món thịnh nghiệp. Thế nào là tám? 1. Nói không trái
với chừng mức. 2. Nói đều là lợi ích. 3. Nói ắt hợp với lý. 4. Nói từ ngữ
hay tốt. 5. Lời nói được thừa lệnh. 6. Nói ra thì được tin dùng. 7. Nói ra
không cần bàn cãi. 8. Lời nói đều được yêu thích. Ðó là tám.”
“Lại nữa này Long vương, nếu
lìa LỜI NÓI THÊU DỆT, tức được thành tựu ba món quyết định. Thế nào là ba?
1. Nhất định làm cho người trí yêu thích. 2. Nhất định có thể dùng trí như
thật để trả lời. 3. Nhất định có oai đức tối thắng đối với người – trời,
không có hư vọng. Ðó là ba.”
“Lại nữa này Long Vương, nếu
lìa THAM DỤC, tức có thể thành tựu năm món tự tại. Thế nào là năm? 1. Ba
nghiệp tự tại, các căn đầy đủ. 2. Tài vật tự tại, tất cả oán tặc không thể
cướp đoạt. 3. Phước đức tự tại, từ tâm ưa muốn, vật đều đầy đủ. 4. Vương
vị tự tại, của báu cũng như vật, đều phụng hiến dâng. 5. Vật có được hơn
cả mong cầu hơn cả trăm lần thù thắng do lúc xưa không lẫn tiếc vậy. Ðó là
năm.”
“Lại nữa này Long Vương, nếu
lìa SÂN NHUẾ, tức được tám pháp vui tâm. Thế nào là tám? 1. Không có tâm
tổn hại não phiền. 2. Không có tâm sân nhuế. 3. Không có tâm giành giật.
4. Có tâm nhu hòa chất trực. 5. Ðược tâm từ của bậc thánh. 6. Thường làm
lợi ích, an được tâm chúng sanh. 7. Thân tướng đoan nghiêm. 8. Vì bởi hòa
nhẫn nên mau sinh cõi phạm hạnh (thanh tịnh). Ðó là tám.”
“Lại nữa này Long Vương, nếu
lìa TÀ KIẾN, tức được thành tựu mười pháp công đức. Thế nào là mười? 1.
Ðược ý vui chân thiện, bạn bè chân thiện. 2. Tin sâu nhân quả, dẫu có hy
sinh thân mạng quyết không làm điều ác. 3. Chỉ quy y Phật mà không phải
các trời nào khác. 4. Trực tâm, chánh kiến, trọn xa lìa tất cả lưới nghi
tốt xấu. 5. Thường sinh về nhân thiện, không quy về các đường ác. 6. Vô
lượng phước huệ lần lữa tăng trưởng thù thắng. 7. Trọn lìa tà đạo, làm nơi
Thánh đạo. 8. Không khởi thân kiến, xả các nghiệp ác. 9. Trụ nơi vô ngại
kiến. 10. Không đọa lạc ở các nạn. Ðó là mười.”
“Thập thiện nghiệp”
nên cùng với “luật nhân quả” và “sám hối” đồng thời tu hành, sau khi rõ
biết luật nhân quả thì không thể phạm mười thiện nghiệp; nếu phạm mười
thiện nghiệp tức phải dùng sám hối càng giúp cho tâm linh sau khi phạm sai
lầm mở được nỗi đau.
Giữ miệng, nhiếp ý,
thân không phạm, như vậy hành giả được độ sinh.
Có thể nương nơi
phương pháp mười thiện nghiệp thực tiễn là sáu pháp “Ba La Mật”, tu được
sáu pháp Ba La Mật, mới càng thù thắng hơn.
11. SÁU PHÁP BA LA MẬT VÀ BỐN PHÉP NHIẾP
Ngoài ba học là:
Giới - định - huệ, cộng thêm: bố thí - nhẫn nhục - tinh tấn, hợp thành sáu
độ, cũng gọi là sáu độ Ba La Mật (sáu pháp Ba La Mật).
Chữ Ba La Mật là
tiếng Phạn, nghĩa là “Ðáo bỉ ngạn” (đến bờ bên kia). Người qua sông cần
phải nương nơi thuyền bè mới vượt qua giữa dòng để tới bờ bên kia; người
học Phật ở bờ sinh tử luân hồi, vượt qua dòng ở giữa là phiền não, đến bờ
bên kia tịch tịnh Niết Bàn. Sáu pháp Ba La Mật thì có thể vượt qua biển
khổ sinh tử luân hồi, đến được bờ bên kia giải thoát: Niết Bàn.
Hàng Bồ Tát của Ðại
thừa Phật giáo vì thành tựu Phật đạo tối hậu, quyết cần phải thực tế bước
lên sáu pháp Ba La Mật. Mỗi một người tu hành học Phật, đều cần phải phát
“tâm Bồ Ðề”, đầu tiên đều cần phải tự mình đầy đủ thực tế, tích cực làm
cho được hành vi: “tạo phước cho nhân loại, lợi ích cho chúng sinh”, mới
có thể đạt được đầy đủ cho chính mình, chỉ muốn ngóng trông tìm cầu thì
phiền não, thất vọng, đau khổ càng nhiều. Vì cần đạt được dục vọng chính
mình, tự nhiên sẽ bất chấp mọi thủ đoạn đối với bên ngoài để tham cầu tất
cả, do đó, cũng tạo nên nghiệp ác rất là nhiều, dẫn khiến phiền não, thất
vọng, đau khổ tiếp tục đến; tóm quy một câu nói: đều là vì danh lợi hư
huyễn không thật, phiền não thống khổ mang lại, cội gốc sanh tử mang lại.
Song pháp môn “Lục độ Ba La Mật”, chính là Ðức Phật vì chúng sinh giải
thoát phiền não thống khổ, khiến con người đạt được cảnh giới lý tưởng an
lạc: Niết Bàn; Ðồng thời khiến con người thẳng đến thăng hoa cuộc sống
tinh thần; Pháp môn này tu hành viên mãn sáu món, tự lợi lợi tha, thành
công sự nghiệp.
Sáu pháp Ba La Mật:
Bố thí - trì giới - nhẫn nhục - tinh tấn - thiền định - trí tuệ.
Bố thí có thể giải
thoát độ được tâm “xan tham” của thân tâm. Trì giới có thể giải thoát độ
được “tà hạnh” của thân tâm. Nhẫn nhục có thể giải thoát độ được “sân hận”
của thân tâm. Tinh tấn có thể giải thoát độ được “giải đãi” của thân tâm.
Thiền định có thể giải thoát độ được “tán loạn” của thân tâm. Trí tuệ có
thể giải thoát độ được “ngu si” của thân tâm. Khiến người đạt được cảnh
giới giải thoát “thật tướng vô tướng”. Cũng tức là: 1. Vô ngã tướng; không
phải ngã là một cá nhân rất sai lạc và cứng cỏi, không phải chỉ biết có
ngã mà không biết tâm trạng của người khác. 2. Vô nhơn tướng; trong cuộc
sống hằng ngày, không có quan niệm cảm giác điểm đối lập người và ta. 3.
Vô chúng sinh tướng; trong quá trình sinh hoạt, không thọ trở lại các món
ái dục, dục vọng mê mờ, si ám, trói buộc, tạo các món nghiệp ác, thọ các
món khổ, mà cuộc sống an ninh tự tại. 4. Vô thọ giả tướng; không đem sinh
mạng ngắn ngủi tạm bợ hiện thời cho là vĩnh hằng, không đem sinh mạng vô
thường hiện đời cho là thế giới trường cửu. Tìm đến mà phá trừ “ngã chấp,
pháp chấp” của con người, đạt được cảnh giới: từ - bi - hỉ - xả, ngã -
pháp cả hai đều không.
A. BỐ THÍ (vưng làm các điều thiện)
Trong đại thừa Phật
pháp, vì sao bố thí được kể là đầu của sáu pháp Ba La Mật? Bởi vì bố thí
là một hành vi có thể thăng hoa nhân tính, nó có thể phát sinh năng lực
của sự vượt qua (gọi là ÐỘ); đem sự nhỏ mọn, cố chấp đóng kín, tật đố, bi
quan mà vượt qua, đến bờ bên kia của sự nhiệt thành, thoải mái, rộng rãi,
tri túc và giàu có.
Bố thí tức là phát
tâm Bồ Ðề, rộng lợi ích tất cả chúng sinh, giải thoát khổ nạn của chúng
sinh, giúp cho chúng sinh an lạc.
Mục đích của bố thí:
thương xót chúng sinh, vì khiến chúng sinh an lạc. Không ở việc mong cầu,
không mong báo đáp, không ở nơi rộng thu lấy tiếng tốt xa bay.
Bố thí (làm thiện)
cần phải thành tâm, không được phân chia đối tượng, oán thân, kia đây, ôm
lòng nặng đây nhẹ kia, bố thí thế này thì không phải là bố thí.
Bố thí không khó,
khó ở chỗ đạt được cảnh giới “thể của ba luân đều không”. Ba luân đều
không là: không có cái “ta” bố thí; không có “người” thọ của bố thí; cũng
không có “vật” được thí.
Bố thí tức là “thí
xả”, vấn đề thí xả có nhiều phương diện, và chẳng cuộc hạn ở nơi nắm tiền
bạc tài vật mà đưa ra. Tức là dùng trí huệ, học vấn, hoặc thể lực, năng
lực của mình tuỳ thời tuỳ chỗ đều có thể giúp đỡ cho người cần chịu giúp
đỡ.
Bố thí chia ra: tài
thí, pháp thí và vô uý thí.
Bố thí tài (tài thí), đem năng lực tài sản của mình mà thí cho.
Không chỉ là đem ra một ít tiền quyên giúp chùa chiền hoặc nhà nghèo khó,
mà là cần phải ở trong sinh hoạt hàng ngày, mỗi niệm mỗi niệm vì người
khác, không phải vì tự kỷ.
Bố thí pháp (pháp thí), đem Phật pháp giáo hoá dẫn dắt chúng sinh,
khiến nhân đó mà được độ. Phàm là người khác muốn biết, muốn học tập, chỉ
cần ta biết, ta có thể, thì nhiệt tình dẫn dạy họ. Không điều kiện, không
kể trả công; nếu là có giá thay thế, thu phí dụng... như thế không phải là
bố thí. Cho nên bố thí pháp không nhất định giảng kinh, nói pháp.
Bố thí không sợ sệt (vô uý thí), cứu độ khổ nạn cho chúng sinh, nên
lấy tinh thần an ủi giúp đỡ, khiến họ xa lìa lo lắng, không sợ không hãi,
trừ khỏi sự bất an.
Lúc thân tâm ở chúng
sinh bất an, sợ sệt, lo âu, có thể giúp họ tiêu trừ được sự lo sợ, bất an
của họ.
Bố thí là giữ thiện
tâm, làm thiện hạnh. Thế nào là thiện? Tức là tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi,
làm việc hợp với luân lý đạo đức của xã hội, luật pháp của quốc gia, không
làm tổn hại đến tất cả chúng sinh, tâm giữ công chính, vui đối với việc
giúp đỡ người, tức là thiện.
Giữ tâm làm thiện
cần có tâm lợi ích chúng sinh, tâm ý cần chân chính thiết thực, lượng sức
mà làm, bố thí bởi lòng từ tốt đẹp. Giả như nói ta không có trí tuệ lại
không có năng lực, càng không có của tiền vật chất, làm sao mà thí? Ở nhà
hiếu thuận cha mẹ, bên ngoài tôn thầy kính lão, hiếu đễ trung tín, kính
trên hòa dưới, tâm giữ chân thành, hiền hậu, lấy sự ôn hòa nhẹ nhàng, nhân
từ đáng mến, diện mạo hòa vui, thái độ cởi mở đãi người tiếp vật, rất ít
xem đến thành công của người ta, hoặc làm việc thiện có thể sanh khởi tâm
tuỳ hỉ, khen ngợi người khác, nhà người có việc xấu cần nên an ủi họ, đối
với kẻ mất chí hướng nên nói lời khích lệ, đối với người buồn đau nói lời
an ủi, như ở trên đường bắt gặp vỏ cây giấy vụn... kiểm tra nó, những việc
này chịu khó động tay, kịp thời phục vụ lạc quan, đều có thể làm, không
phải là thí cho bao nhiêu tiền, bao nhiêu vật mới là làm thiện. Chỉ cần
giữ tâm thiện mới là thiện, không phải là làm được bao nhiêu thiện mới là
thiện.
Chỗ làm được ít trên
tiền tài, có thể mỗi tháng bố thí mười phần trăm chỗ được; chỗ làm được
nhiều thì có thể bố thí nhiều, làm việc cúng dường tam bảo, in (giúp) kinh
sách, phóng sinh, cứu giúp nạn gấp, kẻ nghèo, người bệnh, người cần giúp
đỡ.
Ðối với việc thí xả
tài vật (hành thiện) cho người, đừng còn có một chút tâm hư vinh dứt không
được, ôm giữ lấy tâm kiêu mạn, tự đại, tật đố, phải hoàn toàn phát tâm
chân thành, đồng tình từ nội tâm. Như anh bố thí được một vạn đồng, có
người khác chỉ bố thí được một trăm đồng, như thế anh sẽ cảm thấy chính
anh so với người kia, người bố thí một trăm đồng, anh rất là to lớn. Có
tưởng pháp kiểu này sẽ sinh ra tâm lý kiêu mạn tự đại, việc làm thiện của
anh sẽ cùng với sự kiêu mạn xen lộn với nhau rồi. Ngoài việc bỏ tiền ra
rồi, chúng ta phải chăng cũng nên xét nét hiểu động cơ tâm lý thái độ lúc
làm thiện của chúng ta, có phải là chân chính có thể phát sinh ra công
năng của “Ba La Mật” hay không? Hay là khiến cho việc làm thiện của mình
ngược lại mà trở thành một cái duyên nhiễm, bất tịnh, tâm tham danh cầu
công đức của thế tục đó là “nhiễm”, khiến cho người bố thí và người thọ
thí đều không cách nào được đại lợi ích chân thành.
Sau khi bố thí lại
sinh tâm hối hận, hoặc khoe việc làm thiện của mình, đây không phải là bố
thí tốt nhất. Sau khi bố thí hoan hỉ trong lòng, vả lại không đem việc thí
xả của mình để mà nhận lấy đối tượng thí xả, và đồ vật được thí dính mắc
trong lòng, đây mới là bố thí đỉnh cao.
Chỉ cần lấy sự bố
thí của tâm chân thành, dẫu là mười đồng, cũng hơn là công dức của trăm
vạn đồng mà không chân thành. Bố thí không có tâm chân thành là vì cầu lấy
công đức hoặc được danh tốt rộng rãi, dù cho bố thí mấy mươi vạn đồng cũng
chẳng được công đức mấy mươi đồng.
Ðại phàm nghĩ thiện
làm thiện, người thường phần nhiều biết làm, muốn làm, nhưng nếu chẳng thể
“tịnh không” ngã kiến, ngã chấp, ngã tham, ngã hận, ngã dục, ngã tư
(riêng)... chứa nhóm thành kiến, thì gặp việc thường tình thấy trước mắt
nhất là tâm riêng tư (ngã tư) làm trọng, nhân đầu mối tình cảm dấy động mà
việc làm và chí nguyện trái nhau, nhân tu dưỡng chẳng đủ mà xử trí không
thoả đáng, cái biết và việc làm khó đem mà phối hợp, chứa nhóm lại thường
sanh khốn đốn buồn lo, ham muốn riêng tư thường trở ngại việc thiện, vọng
niệm tăng thêm phiền não, cho nên nhờ “không quán” giúp cho việc tu dưỡng.
Niệm Phật cần tịnh
tâm tịnh ý, xử sự cần phải tịnh tâm, đương nhiên mục đích của bố thí cũng
phải cần từ trong tâm xả mà cầu tịnh tâm, xả được thì tịnh, không thể xả
được thì nhiễm. “Chấp trước” là kẻ địch lớn của sự tu hành. Sau khi bố thí
anh nên “tướng lìa tâm lìa”, không nên ôm giữ trong lòng sự tình đó, tâm
mới có thể lìa, đây mới là ‘bố thí của vô tướng”. Nếu như anh làm việc bố
thí nhiều năm, ở trong tâm vẫn còn một mực chấp trước công đức, như thế
thì nên phải cẩn thận kiểm thảo trạng thái của tâm này.
Làm thiện, trong
trăm việc thiện “Hiếu” là trước nhất, không hiếu thuận với cha mẹ, không
thể nói là làm thiện. Làm người, con trai hay gái, phải nên phụng dưỡng
kính thuận cha mẹ. Hiếu thuận cha mẹ mà chỉ lấy cơm áo, tiền bạc để lo là
chưa đủ đâu. Hầu hạ mẹ cha cần phải cung kính, phải nhẹ nhàng, một lời nói
một việc làm đừng khiến cho cha mẹ phải thương tâm khó lòng, cần phải làm
cho cha mẹ sinh tâm hoan hỉ, việc chính đáng cha mẹ làm không nên ngỗ
nghịch, cha mẹ dè răn không được trái ngược, dắt dẫn cha mẹ tin Phật, học
Phật tu hành mới là báo đáp ơn cha mẹ chân chính.
Bỏ người nhà cuộc
sống gian khổ, không đoái hoài mà đi làm thiện, chẳng được công đức.
Tu thiện như thế
chia ra có: Chân thiện - giả thiện, dương thiện - âm thiện, thị thiện -
phi thiện, bán thiện - mãn thiện, đại thiện - tiểu thiện, nan thiện - dị
thiện.
Những món thiện này
mỗi cái đều có mỗi đạo lý, ắt cần phải tiến tới mà giải rõ, chẳng như vậy,
làm thiện mà không rõ lý, thì tự khoe mình làm được việc thiện, làm được
công đức gì, như thế biết rằng không phải làlàm việc thiện, mà kỳ thật tạo
hành vi xấu, uổng phí khổ tâm, không được chút tốt đẹp nào!
Thế nào gọi là
chơn thiện – giả thiện?
Phàm làm việc có ích
đối với người tức là chơn thiện (thiện chân chánh); chỉ cần làm lợi riêng
mình, làm thiện như vậy tức là giả thiện (thiện giả dối). Làm thiện mà
không có sở cầu, thiện mà lợi người mới là chơn thiện, như thế sợ rằng
chửi người đánh người cũng kể là chơn thiện. Giả như chỉ vì lợi ích chính
mình,tức khiến cho anh cung kính người khác, lễ nhường người khác, dùng
của tiền thí cho người khác, giúp đỡ người khác cũng gọi là giả thiện. Cho
nên gọi là loại người cố ý nói tốt, tạm gượng, dèm xiểm dối lừa đó vậy.
Tu hành trọng yếu
nhất là xuất phát từ sự chân thành mà không có sở cầu, giữ tâm lợi ích xã
hội quốc gia, làm cho tất cả chúng sinh tạo phước, làm thiện không cần báo
đáp, không lộ bày dấu vết, việc thiện như thế là “chơn thiện”; làm việc
thiện vì đại chúng xã hội, tất cả chúng sinh tạo phước mà mình còn muốn sự
báo đáp tương đương, hoặc mục đích lợi ích nào đó, mưu đồ có chỗ được, đây
là trong cái thiện có xen lộn với cái ác (thiện không thuần chất), không
phải là chơn thiện. Thiện mà muốn người thấy biết, không phải là “chơn
thiện”, ác mà sợ người biết mới là “đại ác”.
Thông thường con
người là phàm phu mắt thịt, tục tình và tâm địa của họ không sạch sẽ, tức
là vọng tưởng chấp trước còn rất nhiều, không có huệ nhãn, Phật nhãn, nhìn
không rõ sự thật chân tướng. “Nhận thiện là ác, cho ác là thiện”, thiện ác
đảo điên, đây cũng gọi là mê hoặc điên đảo, người thế này ở thế gian lại
rất nhiều. Thế nào là chơn thiện? Chúng ta cần phải khảo sát cho rõ ràng
từ tong tâm địa, mới biết mình hành thiện hay không. Thiện ác ở tâm địa,
chứa thiện nhiều, lập công to đều là tu trên tâm địa, thuần tuý là lợi cho
người giúp cho đời, không có lợi cho mình hay tâm riêng tư.
Thế nào gọi là
dương thiện - âm thiện (Thiện bày ra ở bên ngoài - thiện ẩn ở bên trong)?
Phàm làm việc thiện
mà người ta biết, thì là dương thiện; làm thiện mà không bị người ta biết
thì gọi là âm thiện. Việc thiện của anh làm mọi người đều biết, người
người nhìn thấy khen anh tốt, thì chỉ có thể rộng thu loại tiếng khen
(danh dự), Khen tốt tức là phước, chính phủ biểu dương (anh là người tốt,
làm được rất nhiều việc tốt), quả báo đều báo rất rõ ràng. Cho nên chư vị
nên hiểu rằng, không luận là làm bao nhiêu việc thiện, bất tất phải để cho
người khác biết, thì việc thiện vĩnh viễn chứa ở trong đó, mà không cầu
báo hiện khởi, gọi là “tích đức”. Người khác biết rồi, thiện sẽ không chứa
được, làm bao nhiêu thì báo trả bấy nhiêu, về sau quả thiện không còn chút
nào, ngược lại tạo rất nhiều ác. Hành thiện mà không bị người khác biết,
“âm đức’ trời ắt ban cho đức dày. Do đó dương thiện và âm thiện thì chỉ
chia phân giữa sự sáng suốt và ám độn thôi.
Thế nào gọi là
thị thiện - phi thiện (thiện phải - thiện quấy trái)?
Ðã làm việc thiện
tại sao lại có việc phân ra “thị thiện” và “phi thiện”? Phàm người làm
thiện không luận sự hiện hành mà luận sự dẫn đến cái xấu, không luận nhất
thời mà luận dài xa, không luận một thân mà luận thiên hạ. Trước mặt thấy
là thiện, trên thực tế chẳng là thiện. Ðối với một người là thiện, đối với
nhất thời là thiện; mà đối với quốc gia xã hội là phi thiện, đối với đời
sau là phi thiện. Cho nên đối với thiện – ác không thể chỉ xem hiện hành
trước mắt, cần phải hiểu được ảnh hưởng đối với quốc gia xã hội, đối với
hậu thế lâu xa về sau, là mặt chính hay là mặt trái. Hiện hành giống như
thiện, kỳ thật kết quả đủ để hại người, thời in tuồng là thiện mà thật thì
phi thiện, kết quả đó có ích cho đại chúng, thì tuy là chẳng phải thiện mà
thật là thiện.
Nêu lên một ví dụ có
thể hiểu thông, như không nên khoan dung tha thứ được, khen ngợi người
khác quá đáng, vì giữ tín nhỏ mà sai lầm đại sự, sủng ái con cái mà dung
dưỡng đại hoạn... đều gấp mong chúng ta lắng tịnh kiểm thảo mà cải tiến.
Thế nào gọi là
bán thiện - mãn thiện (thiện một nửa - thiện đầy đủ)?
Bố thí trăm nghìn
vạn đồng, nhưng tâm ý ngược lại không chân thành; Bố thí một hai chục
đồng, nhưng tâm ý chân thành; Lấy đây làm thí dụ, thì là trăm nghìn vạn
đồng kia là “bán thiện”, một vài chục đồng đó là “mãn thiện”. Thí như đem
của tiền mà giúp đỡ cho người khác, không phải ở nơi tiền nhiều hay làm
nhiều, mà là thành ý nơi chân tâm, hết lòng hết sức mà làm, tức là mãn
thiện; Nếu bố thí của tiền mà lòng xót xa, thi ân mong báo đáp, hoặc có
mưu đồ, thí tiền mà không quên được, như thế dẫu cho thí trăm nghìn vạn
đồng, cũng chỉ có một nửa thiện mà thôi!
Thế nào gọi là
đại thiện - tiểu thiện?
Lập chí làm việc
thiện lợi ích cho chúng sanh, quốc gia xã hội, thì thiện tuy nhỏ mà công
đức lớn, nếu chỉ vì lợi ích cho mình hay gia đình, như thế tuy lớn mà cũng
là nhỏ.
Thế nào gọi là
nan thiện - dị thiện (Thiện khó làm - thiện dễ làm)?
Cũng giống như tu
thân khắc kỷ, cũng cần khắc phục từ chỗ khó khắc phục, thì lỗi lầm nhỏ
cũng không thể phạm. Như mười năm tích góp nhịn ăn nhịn tiêu, trả nợ thay
cho người khác, cứu sống vợ con người ta, ở trên nói việc dốc túi giúp
nhau, nghĩ tưởng người khác, vì việc người khác nghĩ tưởng, đây là vấn đề
tốt có thể nói là khó xả mà có thể xả, việc thiện này rất khó làm mà rất
đáng quý, mà phước cũng rất là hậu. Người có tiền tài thế lực, làm việc
thiện rất là dễ, dễ mà không chịu làm, tức là thiện dễ làm mà không làm
thì giàu mà bất nhân.
Bàn về cái thiện,
lấy “chủ nghĩa công lợi” là điểm xuất phát, làm bất kỳ việc thiện nào,
trước tiên xét cái gốc thành công hiệu quả tác dụng, quả báo và danh
lợi..., xác nhận sự thu hoạch được, rồi mới làm; hạng người này không phải
bình thường vô cớ cho anh của tiền, họ nhất định có mưu đồ rồi.
Thiện - thương người
như mình; do hạng người này đã phá trừ được “ngã chấp”, cho nên có thể
quên mình, mà đạt đến cảnh giới thương người như mình, nhưng vì họ chưa
phá trừ “pháp chấp”, cho nên lúc làm việc thiện, trong tâm vẫn còn có quan
niệm trừu tượng, vì họ mang lấy danh - tướng, cho nên chưa làm được sự tự
tại tuyệt đối.
Thiện - rất hoàn mỹ;
làm thiện không những không cầu đáp trả, mà còn không phân biệt người và
ta, thậm chí cũng không gánh vác bất kỳ một danh – tướng nào. Tâm từ bi
của hạng người này là không có điều kiện mà không có hạn lượng. Vì lúc họ
hành thiện, ngay cả một chút danh tướng mang lấy cũng không có, cho nên
rất chân thành, rất tự nhiên, cũng rất là vui vẻ, đây tức là cả ba vòng
cái thể đều KHÔNG (tam luân thể không).
Người bước đầu học
Phật hành thiện, thì khó tránh khỏi sẽ có chấp trước, đợi sau khi công phu
tu dưỡng thuần thục, thì có thể vượt qua sự trói buộc và dẫn dắt của danh
tướng.
Lớn hay nhỏ của
thiện nghiệp đều xem nơi gốc trình độ trong sạch chân thành của tâm con
người mà định. Như tâm có thể chân thành trong sạch đến cực điểm (tức là
dừng ở nơi chí thiện), không có một chút cặn bã, tức là đại thiện. Nếu tâm
không trong sạch, dừng ở nơi tính toán gọi là tiểu thiện. Ví như người
giàu có bố thí tiền làm việc thiện, hết sức xuất ra mấy trăm vạn đồng, nếu
có một chút ơn huệ bố thí nào mong được báo đáp dù là tiếng khen, tâm cầu
phước làm công đức đó, nhân thiện cũng không chân thành thiết tha, như có
một người khác, của tiền ít ỏi, chỉ có thể thí vài mươi đồng, thuần tuý
phát ra từ tâm từ bi, không xen lộn mảy may một ý niệm khác, thiện nghiệp
của người này so với người kia, người mà xuất ra mấy trăm vạn đồng, thì
người này lớn hơn nhiều. Nhưng cái tâm rất chân thành thanh tịnh này nói
đến rất khó. Cho nên tâm thiện chơn thiết, một việc làm có thể muôn việc
thiện.
Thiện mà có tướng
tức chẳng phải chí thiện. Cho nên nói rằng người dừng được ở nơi chí
thiện, vô niệm vô tướng, mà từng giờ từng phút vẫn không lìa tâm đại bi,
không xen lộn tâm tư kỷ, tức là “không giữ ở nơi tướng, như như chẳng
động” ở trong kinh đã nói.
Hơn muôn việc hành
trì của Ðức Phật dạy, lấy bố thí làm thứ nhất. Thí tức là xả, tức là làm
thiện; người hiền minh ở trong xả sáu căn, ở ngoài xả sáu trần, tất cả đều
có thể xả, thông thường con người đương nhiên làm không được cảnh giới
này, thế thì làm thiện không nên mong muốn làm lợi mình mà phải mong
muốnvì lợi người, lợi chúng sinh thì bên trong có thể bỏ trừ căn tánh hạ
liệt so kè riêng tư, bên ngoài có thể giúp người nạn gấp, thì đem công vốn
có đối với việc làm thiện mà tu trì. Tuy nhiên ban đầu sẽ cảm thấy miễn
cưỡng, nhưng lần lần thì sẽ cảm thấy tâm lý yên ổn.
Nói rõ bố thí là
giúp đỡ người khác, thật ra vì mình, bởi vì anh làm cái gì thì thu hoạch
cái ấy. Của tiền anh bố thí càng nhiều, chính anh cũng càng có thể thăng
hoa cuộc sống tinh thần, “chánh nhân” là làm việc thiện bố thí rồi, do đây
chỗ được mới là giàu có chân chánh (chánh quả); cho nên nói là bố thí có
phước hơn thọ dụng, tiến đến mới có thể hiểu rõ một cách thuận lợi và “trì
giới” một cách thực tiễn.
Cái mà anh giao ra
có hình hay vô hình mà sự thu hoạch nhìn không thấy; anh bố thí rồi một
khoảng thời gian, như con cái trái lời, thì đã ít phiền anh, nhà người
cũng lễ độ đối với anh, làm việc cũng dễ dàng nhiều... Anh nói: tiền của
tôi không đủ xài lấy đâu bố thí? Nếu như anh có thể tiết kiệm một chút,
tính nhập để mà xuất, lấy một gia đình mà dự toán, trừ những phí dụng tất
yếu trong sinh hoạt ra, cái gì đang dùng thì dùng, phải nhón gọn lại thì
nhón gọn, không phải là những khoảng phí tổn tất yếu mà không được dùng,
như là không có việc gấp ra ngoài nên đi xe buýt, chẳng nên đi taxi... Như
vậy không những có tiền để bố thí, mà còn dư tiền để cất giữ! Anh bố thí
mấy trăm đồng, số mục tuy nhỏ, nhưng đây là tiền nhịn ăn nhịn dùng, công
đức đó lớn hơn đại phú ông quyên giúp hơn mấy trăm vạn đồng. Thông thường
con người không có khả năng có thể có nhiều tiền để bố thí, nhưng có thể
giữ thái độ xử thế “chớ vì thiện nhỏ mà không làm”, thiện trong một niệm
tức là tu hành. Con người, không có tâm bố thí, tức khiến giàu có trở lại
cũng chưa chắc thấy được khả năng bố thí. Không thể xả được, nắm đưa ra
một phần của tiền cho người khác, vật ngoài thân, đều xả không được cho
người, cần bàn gì đến Bồ tát tâm!
Có người thường nói:
“Ðợi lúc ta có tiền mới bố thí làm việc thiện”. Bố thí không hạn cuộc ở
nơi cầm tiền đưa ra, tức là dùng trí tuệ hoặc thể lực của mình, tuỳ thời
đều có thể giúp đỡ người cần giúp đỡ, mà tuỳ duyên bố thí. Bố thí ở nơi
tâm thương xót, tâm đồng tình và tâm cung kính.
Tài thí có thể độ
người khốn đốn ách nạn, không thể độ người thoát ly sinh tử. Pháp thí có
thể độ huệ mạng của người, có thể siêu xuất luân hồi. Lúc bố thí tâm giữ
bình đẳng, lúc tài thí nên giữ tâm cứu độ, không nên giữ tâm thi ân; lúc
pháp thí, phải giữ tâm giúp đời, không nên giữ tâm danh lợi.
Bố thí cũng tức là
giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt; phàm không có tâm, lời, việc lợi
ích chúng sinh, đều không giữ, không nói, không làm.
B. TRÌ GIỚI (không làm các việc ác)
Tu hành trọn dứt
sinh tử, ngoài vấn đề trì giới ra chẳng có thể nói lời dứt sinh tử, dứt
sinh tử thì phải giữ gìn cấm giới cửa Phật! Trì giới trước tiên cần phải
biết nhân quả, thì mới biết vì sao cần phải trì giới? Trì giới tức là
khiến hành vi không vượt qua quy củ, không tạo các món ác nghiệp.
Ý nghĩa của giới tức
là “dừng ác sinh thiện”, dừng mà trừ bỏ tội ác của mười ác, năm nghịch,
giúp lớn thiện pháp gọi là nghĩa giới.
Ðức Thích Tôn lúc
sắp Niết Bàn, ngài A Nan thưa hỏi Ðức Phật lúc còn tại thế, tôn Phật làm
thầy, sau khi Phật nhập diệt lấy gì làm thầy? Ðức Phật dạy rằng: “Lấy giới
làm thầy”.
Cho nên chúng ta là
đệ tử của Phật, hành trì giới luật, mới có “đạo sư”, nếu không có giới
hạnh, cũng như không có thầy truyền.
Trong luật tạng của
Phật giáo, liên quan đến giới tướng của luật học rất nhiều, tại gia có:
ngũ giới, bát quan trai giới, thập thiện giới... xuất gia có tỳ kheo
giới... Tóm lại,đều lấy năm giới làm căn bản mà trì cho được tịnh thì
những cái nhánh cành (chi mạt giới) cũng dễ hành trì vậy.
Công đức của trì
giới, thế tục nói rằng: “Thọ giới dễ, trì giới khó”, xác định là có lý.
Nhưng cũng ở nơi thiện căn của chúng ta mà có cạn - sâu, quan hệ nghị lực
của tín tâm có hay không? Nếu như đệ tử của Phật giới luật nghiêm tịnh,
thì ai chẳng kính ngưỡng? Chư Phật, Bồ Tát hãy còn hộ niệm, huống gì trời,
rồng quỷ thần và con người? Luật Tứ Phần nói “trì giới có mười món công
đức”:
1.
Ðầy
đủ chí nguyện, có thể giữ gìn cấm giới, thì thân tâm thanh tịnh, huệ tánh
sáng suốt, tất cả trí - danh - thệ - nguyện, không món nào là chẳng đầy
đủ.
2.
Như
Phật mà học, Ðức Phật lúc ban đầu tu hành, lấy giới làm gốc, mà được chứng
quả, hay trì giới kiên cố, đó cũng là học như Phật.
3.
Trí
không huỷ hoại, giới hạnh thanh tịnh, thân miệng không lỗi, phàm người có
trí vui ưa khen ngợi, mà không chê bai.
4.
Thệ
nguyện không thối lui, kiên trì cấm giới, cầu chứng bồ đề, thệ nguyện tinh
tấn, được bất thối chuyển.
5.
An
trụ hạnh chân chính, kiên cố giữ cấm giới, cầu chứng được Bồ Ðề, ba nghiệp
thường thanh tịnh, mà ở nơi chánh hạnh, an trụ không xả bỏ.
6.
Xả
bỏ sinh tử, thọ trì cấm giới, thì không sát, đạo, dâm, vọng các nghiệp, có
thể lìa xa sinh tử, trọn thoát quả khổ luân hồi.
7.
Ưa
thích Niết Bàn, kiên trì cấm giới dứt các vọng tưởng, cho nên nhàm chán
khổ sinh tử, ưa thích vui của Niết Bàn.
8.
Ðược
tâm không trói buộc, giới đức được tròn sáng, tâm thể được trong sạch, tất
cả nghiệp duyên phiền não thảy đều giải thoát, không có hoạn trói buộc.
9.
Ðược
tam muội thù thắng, trì giới thanh tịnh, tâm không tán loạn, thì được
thành tựu tam muội, định tánh hiện tiền, siêu các hữu lậu.
10.
Không
thiếu của cải tín tâm, trì giữ giới luật, đối với Phật pháp đủ tâm chánh
tín, thời có thể sinh ra tất cả công đức, pháp và tài không hết.
Phải biết rằng giới
của Phật không thọ thì thôi, thọ thì không nên huỷ phạm, không phạm thì
thôi, phạm thì rốt cuộc đoạ lạc. Cho nên người trì giới không nên vì
“danh” mà động, không bị “lợi” dụ, không vì uy vũ khuất phục, thân này có
thể nát, giới này không nên phá, cho nên gọi là: giữ giới như đỉnh cao núi
thái, đứng một mình chót vót mà không thể động, đây mới là trì giới.
“Giới”, là một quy
luật, cách luật; trong Phật giáo có giới luật, cũng có thể nương pháp mà
làm; trì giới vốn là phần trọng yếu của tín đồ Phật giáo tu hành, cho nên
gọi “giới là gốc của Bồ Ðề vô thượng”. Lúc Ðức Phật còn tại thế, ngài dẫn
dạy hàng đệ tử rằng: “lấy giới làm thầy, giới còn thì pháp còn”. Nói rõ
tánh trọng yếu và địa vị “giới”. Trì giới là duyên tăng thượng. Giới như
trăng sáng lớn, hay tiêu tối tăm của đêm dài. Lấy giới làm thầy, nên cần
tôn kính giới, cần siêng hộ giới, tôn trọng chánh pháp, làm các việc
thiện.
Giới, giúp cho chúng
ta tu thành thiện pháp, phòng ngăn việc quấy, dừng dứt cái ác, là đạo ngăn
cấm cho thân tâm, khiến thân tâm không làm việc tổn hại chúng sinh, cũng
tức là nghĩ ác, làm ác của mỗi kiểu, mỗi loại từng chút đều không nên có,
không nên làm.
Cần được tất cả
thiện pháp, thì quyết phải cần trì giới, vì tất cả thiện pháp thanh tịnh
chỗ có, đều ắt phải bắt đầu từ giới luật. Cho nên trì giới chỉ là một thủ
đoạn, phương tiện mà thôi, không phải là mục đích. Song nguyên nhân của
trì giới chính là thông qua mình lề lối trang nghiêm, mới có thể đả phá,
bỏ trừ được tất cả tậc chứng của bản thân, triệt để mở bày giải thoát mê
hoặc của tất cả ngoại cảnh, mà đạt đến Niết Bàn. Giới cũng giống như pháp
luật của quốc gia. Quốc gia có pháp luật, mọi người tuân thủ pháp luật, xã
hội mới có thể tốt đẹp, hòa bình, an lạc. Cho nên nói rằng “giới mà không
giới”.
Giới là dẫn dạy
chúng ta tránh sao để khỏi phạm lỗi lầm, và cảnh tỉnh chúng ta nếu vượt
qua phạm vi giới luật, phải chịu sự báo ứng của nhân quả. Giới không phải
là dùng để trói buộc người tu hành. Là giống như pháp luật của quốc gia,
là muốn chúng ta chẳng nên phạm, nếu phạm rồi, thì sẽ phải chịu sự khống
chế, khiến cho anh phải chịu sự báo ứng của thân hiện tại.
Giới, không những
biểu hiện quy củ mô phạm của hành vi tình cảm đối với con người mà còn
biểu hiện quy củ mô phạm của sự thật và tư tưởng đối với con người.
Cuộc sống ngày
thường của chúng ta tuỳ tiện một câu nói, một việc làm có thể khiến chúng
ta cao hứng, cũng có thể khiến chúng ta giận dỗi, đều là do người khác nắm
giữ chúng ta, ngay cả ưa, giận, buồn, vui cũng đều không có cách nào đối
trị, tu hành làm sao có sự thành tựu!
Ðệ tử Phật cần phải
khéo hộ giữ giới luật, không như vậy thì ở nơi giới pháp tức khiến có sự
rò rỉ mà lọt mất, cũng có thể khiến cho hành giả trở lại nơi biển khổ sinh
tử đoạ lạc luân hồi không thôi, đây là tánh trọng yếu của giới luật, người
có tâm học Phật tu hành không thể không xem trọng giới luật.
Giới, là đình chỉ
cái ác, thì tại sao là ác? Phàm là bồng bột ở nơi luân lý xã hội và lương
tâm đạo đức, trái phạm pháp luật quốc gia, tức là ác; tư tưởng, ngôn ngữ,
hành vi làm tổn hại chúng sinh, tức là ác, trái phạm mười thiện nghiệp tức
là ác.
Trì giới lấy sự
“nhiếp tâm” làm gốc, thân và miệng tuy không phạm giới mà tâm buông lung,
chẳng gọi là trì giới, ắt cần phải thu nhiếp tâm ý, thân và miệng cố không
phạm, vọng niệm cũng không sinh, mới gọi là trì giới. Trì giới tức là thủ
phép, giữ quy củ, giữ trật tự. Không chỉ là giữ năm giới, mười nghiệp
thiện.
Nhiếp tâm không động
như gió ngừng sóng lặng. Nghe được thấy được cái gì tốt, cái gì xấu đều
không mong muốn. Một khi muốn thì tâm liền động, chẳng thể yên tịnh, không
tịnh thì chẳng thể định, không định thì huệ không phát.
Người bước đầu nghe
Phật pháp, phần nhiều sanh tâm sợ sệt, nói rằng: “ái ái da, Phật pháp
nghiêm quá! Thế này cũng phạm giới, thế kia cũng phạm giới!”; cho nên hãi
sợ, chẳng chịu thọ giới, chẳng chịu trì giới. Nếu trong lòng không giữ tâm
riêng tư tự lợi, không giữ niệm tâm tổn hại chúng sinh, có gì mà sợ lắm
vậy! Pháp luật quốc gia nhiều như thế, anh không phạm luật, pháp quan làm
gì được anh, anh không phải là sống tự do tự tại sao? Trì giới, thọ giới,
có gì mà sợ lắm vậy? tức là sợ anh không muốn làm người tốt, nên mới sợ
thọ giới! Cách thường nói, sáu đường chúng sinh là đồng đẳng đối đãi cũng
còn tốt, tức là khổ – vui không phải một kiểu; nếu học Phật mà không trì
giới, một khi mất thân người, rơi rớt trong ba đường ác chịu khổ, thế mới
đáng sợ! Trì giới chính là “thuốc kim đơn” cứu pháp thân huệ mạng của
chúng ta. Nếu hiểu rằng sinh tử có số phần đã định, đó là con ma cháu ma.
Nếu không cam tâm đoạ lạc trong ba đường ác, thì nên cẩn thận trì giới!
Giới vốn không dễ trì, vì không chạy theo thế tục, nên phát không được tâm
trì giới. Trì giới cũng giống như rèn sắt, nung rồi nung, đập rồi đập, bỏ
những sái vụn (sái vụn tức là tập khí) thường thường đưa vào lửa, thường
thường đập rèn... đâu phải làm một cái là xong sao? Ngồi dưới tam bảo của
Như Lai, đều không ăn thịt, ngay lúc ban đầu không phải là không muốn ăn
đâu! Nhưng tập lâu rồi không ăn được. Nếu tâm niệm một khi sinh ra tức
liền quở trách, như rèn sắt đánh hết những sái vụn. Tất cả đều là từ từ mà
mài luyện, thọ không được miễn cưỡng thọ, trì không được miễn cưỡng trì,
chẳng sợ trì không được mà chỉ sợ không phát tâm. Chư Phật, Bồ Tát đại từ
đại bi, đưa chung ra không phải e dè chúng ta phạm giới, nhưng các thần hộ
giới, họ thì không dung cho người phạm giới. Phạm nhiều không bằng phạm
ít, phạm ít không bằng chẳng phạm. Chư Phật, Bồ Tát từ bi với chúng ta, tự
chúng ta không từ bi với mình.
“Thọ được giới”, thì
cần phải nhận rõ vấn đề “trì giới”. So như anh không sát sinh, anh muốn là
không thọ giới, anh không sát sinh thì là không tạo lỗi xấu, đành vậy,
nhưng anh cũng chẳng tạo công đức gì khác, anh lại không cứu người, anh có
công đức gì? Những việc anh thọ năm giới, anh không sát sinh, anh cũng có
công đức trì giới. Ngược lại mà nhìn, nếu là người không thọ giới, giết
người rồi tức là một tội báo, anh thiếu người ta một mạng, tương lai sẽ
phải trả người ta một mạng. Anh giết con vật mà ăn, tương lai người ta sẽ
đem anh ra giết thịt để mà ăn, đây là bình đẳng; nhưng không có tội phá
giới. Nếu là thọ giới rồi, sau khi anh bắt vịt để giết thịt ăn rồi, đời
sau anh bị biến thành vịt bị người ta giết ăn, ở đây anh còn thêm một tội
phá giới. Tội phá giới thì càng lớn nhiều, cho nên trì giới tức là thế
này, anh trì được ổn định, công đức rất là lớn.
Trong vấn đề phạm
giới, điều rất tệ hại là phỉ báng pháp. Ví dụ như Phật pháp là giả, vấn đề
huỷ báng này chúng ta chẳng nên, nhưng chúng ta vẫn cứ huỷ báng. Anh nói
theo người khác, nói kinh điển nào là giả, hiểu rõ người nào là thiện tri
thức, có người chê bai người khác, anh theo nơi cái nghe phụ hoạ nói người
khác là thiếu công đức; đây đều thuộc về vấn đề huỷ báng. Khoe khoang
không khác gì là tăng thêm sự huỷ báng, giữ trong lòng không nói ra là
giảm ít sự huỷ báng, tội của sự huỷ báng rất là nặng.
Ðối với giới, người
thọ giới rồi nếu làm việc xấu thì thảm hại hơn nhiều so với người chẳng
thọ giới. Cho nên chúng ta thọ giới rồi không thể không hiểu rõ về giới.
Cần giữ gìn không phạm. Giới bị phá rồi, anh cũng như vật bị lủng lọt. Như
cái bát bị lủng, đổ nước vào một hồi sẽ chảy mất hết. Cho nên “kiên trì
giới luật”mấy chữ này phải ráng ghi nhớ lấy trong lòng.
Không giữ cấm giới,
thì chẳng thể giữ tâm, không tu trí tuệ, buông lung ý niệm, chỉ cầu danh
tốt, không thuận lời dạy đạo, chẳng chịu siêng năng ưa chuộng nghĩa độ
đời.
Nhưng mà giới luật
của Phật giáo rất nhiều, như là Tỳ kheo giới, Tỳ kheo ni giới