Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


......... .

 

TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm
Soạn thuật
---o0o---

CHƯƠNG III

 

TIẾT VII

 

GIẢI-THÍCH VỀ:

BÀI KỆ TÁN-THÁN PHẬT A-DI-ÐÀ

VÀ CỬU PHẨM LIÊN-HOA.

 

A.  Câu thứ nhất:

                   A-DI-ÐÀ PHẬT THÂN KIM SẮC,

                      (Thân Phật DI-ÐÀ vàng rực-rỡ).

 

THÂN PHẬT DI-ÐÀ:  Tức là thân của đức A-DI-ÐÀ PHẬT.

           - Vậy "THÂN CỦA PHẬT" khác với thân của chúng-sanh trong 9 giới như thế nào ?

           Từ trước đến nay chư Phật-tử lễ PHẬT, học PHẬT, tu theo PHẬT, hành lời dạy của PHẬT vv... nhưng chưa hiểu rõ thế nào là thân của PHẬT.  Nơi đây xin được chú-giải riêng về "THÂN" của chư PHẬT mà thôi.  Các phần còn lại như KIM-SẮC (vàng rực-rỡ) xin xem lại nơi các phần giải-thích trước.

 

           - TẤT-CẢ CHƯ PHẬT (nói chung) và riêng cho đức A-DI-ÐÀ Như-Lai (ở nơi câu kệ tán-thán lên NGÀI, trong phần kinh-văn trên đây) - Có tất-cả là 3 loại thân - Và DUY chỉ ở ngôi PHẬT-BẢO mới có được đầy-đủ 3 thân nầy mà thôi - (Từ chư Ðại Bồ-tát trở xuống hàng Thanh-văn, Duyên-giác đều không có đủ).

           Sau đây là "ba thân" của PHẬT:

 

1.  THANH-TỊNH PHÁP-THÂN (TỲ LÔ GIÁ-NA) hay còn gọi là TỰ-TÍNH THÂN hoặc là PHÁP-THÂN, CHƠN THÂN vv... đầy-đủ vô-lượng công-đức.  Thân nầy là thân vô thủy (không có khởi đầu), vô-chung (không có kết cuộc), lìa hết thảy tất-cả "tánh-tướng", dứt hết mọi hí-luận (luận bàn), tròn đầy (viên-mãn) cùng khắp, không có bờ mé và lặng im, thường-trụ (còn mãi-mãi).

           Ðây là thân "ÐẠI ÐOẠN ÐỨC" của PHẬT, tức là đã đoạn-trừ hết tất-cả phiền-não trói-buộc vv...  Ðầy-đủ đạo Niết-bàn vô-thượng.

           Tất-cả chư PHẬT đều đồng có THANH-TỊNH PHÁP-THÂN nầy.

 

2.  THỤ-DỤNG THÂN hay còn gọi là BÁO THÂN, TỰ THỤ DỤNG THÂN:

           - Ðây là thân do tu đầy-đủ vô-số hạnh trong vô-lượng, vô-biên A tăng-kỳ kiếp, viên-mãn Thập-địa, Ðẳng-giác, vv... mà thành.

           Thân nầy là thân hữu-thủy (có trước) nhưng vô-chung (không có kết cuộc), thọ-mệnh tùy theo sự mong muốn, kiếp-số không có hạn-lượng.  Như thân của Phật A-DI-ÐÀ được đức THÍCH-CA Như-lai diễn-tả trong kinh VÔ-LƯỢNG THỌ (có trích ra nơi phần chú-thích trước) đó chính là THỤ-DỤNG THÂN, là BÁO-THÂN (TỰ THỤ-DỤNG THÂN) của PHẬT A-DI-ÐÀ vậy.

 

           BÁO-THÂN nầy ở nơi chư PHẬT đều đồng nhau (vì cùng đầy-đủ vô-lượng công-đức tu-tập) - Ngoại trừ phương-tiện biến-hóa thì không kể.

           - Khi muốn giáo-hóa các hàng Bồ-tát, thì PHẬT dùng loại "THA THỤ DỤNG THÂN" (Tức là thân làm lợi-ích, thành-tựu, cho chư đại Bồ-tát).

           Cho nên thân THỤ-DỤNG (thứ hai) nầy của Phật, được chia ra làm 2 loại thân khác nữa, ấy là:  TỰ THỤ DỤNG THÂN và THA THỤ DỤNG THÂN (1).

 

           Ðây là thân "ÐẠI TRÍ-ÐỨC" của chư PHẬT, chơn-thường, vô-lậu.  Thân nầy ở nơi tất-cả chư PHẬT (trong 3 đời quá-khứ, hiện-tại, vị-lai) đều đồng nhau không khác.  Sỡ-dĩ gọi là thân "ÐẠI TRÍ-ÐỨC" là vì đã hoàn-toàn phá hết tất-cả các mê-lầm, đầy-đủ đại-trí bất tư-nghì của một bậc Thế-tôn vô-thượng.

           Cái "ÐẠI-TRÍ THÂN" nầy có đầy-đủ hết tất-cả bốn loại đại-trí, ấy là:

           a.  Ðại-Viên cảnh-trí:  do chuyển Dị thục thức (thức A lại Da thứ 8) mà thành.

           b.  Bình đẳng tánh-trí:  do chuyển Mạt na thức (thứ thứ 7) mà thành.

           c.  Diệu-quán sát-trí:  do chuyển Ý thức (thức thứ 6) mà thành.

           d.  Thành-sở tác-trí:  do chuyển 5 thức Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, mà thành.

           (Xem lại phần chú-thích trước).

 

3.  BIẾN-HÓA THÂN còn gọi là ỨNG THÂN, HÓA-THÂN (gọi tắt là ỨNG, HÓA-THÂN):

           Ðây là thân mà Phật dùng thần-thông biến-hóa ra - Tùy theo vô-lượng căn-cơ cao, thấp, hoặc thượng, trung, hạ, của chúng-sanh mà PHẬT hóa ra vô-lượng thân hình khác nhau, hầu dễ-dàng cho sự hóa-độ.

           Như đức THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT, ẩn cái thân TỰ THỤ-DỤNG (BÁO THÂN) của NGÀI, mà ứng-hiện ra nơi xứ ẤN-ÐỘ cách đây 2539 năm về trước:  - Màu da và chủng-tộc vv... thảy đều giống y như người Ấn-Ðộ, nhưng thân cao một trượng sáu (cao hơn tất-cả mọi người dân trong nước thời đó. - vì NGÀI là PHẬT),

           Thân một trượng sáu nầy gọi là ỨNG-THÂN của Phật THÍCH-CA Mâu-ni.

           Vậy, sao gọi là ỨNG THÂN và HÓA-THÂN ?

           - ỨNG-THÂN:  Là thân ứng-thế, dựa theo phong-tục của nhơn-gian, tức là cũng có cha, mẹ, giòng-họ, thân-tộc, sanh ra, già, bệnh, chết và để lại xá-lợi cho đời sau thờ-cúng (như Phật Thích-Ca vậy).

           - HÓA-THÂN:  Là thân biến-hóa, tự thinh-không mà đến, không ai biết là nguyên gốc ở đâu, không cha, mẹ, thân-thuộc, giòng-họ.  Tóm lại, "hóa thân" là thân mà khi ÐẾN không ai biết (gốc tích), khi ÐI cũng chẳng ai biết là về đâu.  (Tự-nhiên đến, tự-nhiên đi - không có chết và cũng không có lưu lại xá-lợi gì hết).

 

B.  Câu thứ hai:

                       TƯỚNG HẢO QUANG-MINH VÔ ÐẲNG LUÂN.

                    (Tuyệt-vời xinh-đẹp tướng trang-nghiêm).

 

           Trong câu kệ tụng trên đây ta thấy có hai phần:

           1.  Tướng-hảo vô-đẳng:

           Tức là nói đến các nét-tướng đẹp trên báo-thân "TỰ THỤ DỤNG" của Phật A-DI-ÐÀ, cực-kỳ siêu-đẳng, không có PHẬT nào hơn được.

           2.  Quang-minh Vô-đẳng:

           Tức là nói về hào-quang của Phật A-DI-ÐÀ thì cũng không có hào-quang của (báo thân) Phật nào hơn được cả.

           a.  Tướng hỏa Vô-đẳng:

           (Xin xem lại các lời giải-thích trước, nơi phần quán-tưởng về báo-thân của đức A-DI-ÐÀ Thế-tôn nơi cõi CỰC-LẠC...)

           b.  Quang-minh Vô-đẳng:

           Như trước đã có giải-thích về hào-quang của đức A-DI-ÐÀ Như-lai rồi.  Nơi đây, xin bổ-túc thêm về cái tính-chất "Vô-đẳng" (Siêu-đẳng) trong ánh quang-minh của Phật VÔ-LƯỢNG QUANG (nói riêng)(chung) cho tất-cả chư PHẬT.

           Sở-dĩ quang-minh của chư PHẬT được gọi là "VÔ-ÐẲNG LUÂN" là bởi vì quang-minh ấy chẳng thể nghĩ bàn được.

           Tại-sao thế ?

           Bởi vì quang-minh của chư PHẬT là do:

           - Từ nơi vô-lượng giới-tụ phát-sanh ra.

           - Từ nơi đẳng-trì tụ phát-sanh ra (2)

           - Từ nơi Huệ-tụ, giải-thoát tụ, giải-thoát tri-kiến tụ phát sanh ra.

           Tóm lại:

           - Quang-minh của chư PHẬT là do từ nơi vô-lượng, vô-biên công-đức chứa nhóm và tạo thành, cho nên tất-cả các loại ánh-sáng khác chẳng thể nào so-bì được.

 

           Kinh dạy:

           - "Nầy Xá-Lợi-Phất, nay ta vì ông mà nói ví-dụ - Những người có trí nhơn nơi đây mà được hiểu rõ thêm về quang-minh của PHẬT.

           Ví như có người đem cõi Ðại-thiên thế-giới nầy nghiền nát ra làm vi-trần, bỏ vào trong tay áo, rồi đi qua phương Ðông quá số thế-giới nhiều bằng số vi-trần đó mới bỏ rơi xuống một hột vi-trần.  Lần-lượt đi mãi cho đến khi nào bỏ rơi hết tất-cả số vi-trần đó mà cũng vẫn chưa hết được số-thế-giới ở phương Ðông.

           Các phương còn lại như Nam, Tây, Bắc, Ðông-Nam, Tây-Nam, Ðông-Bắc, Tây-Bắc, Thượng-phương, Hạ-phương, cũng thảy đều đi qua và điểm vi-trần xuống y như vậy.

           Nầy Xá-lợi-Phất, có người nào có thể biết được biên-tế (bờ mé và số-lượng) của số các thế-giới ấy không ?

           Ngài Xá-lợi-Phất thưa:

           - Bạch đức Thế-tôn, không ai có thể biết được cả.

           Ðức PHẬT phán:

           - Nầy Xá-lợi-Phất, bao nhiêu ánh-sáng có được trong các số thế-giới ở 10 phương đó họp lại ắt-nhiên là sáng vô-lượng, vô-biên, khó thể nghĩ bàn được.  Ấy vậy mà ánh-sáng của Như-Lai cũng vẫn là đệ-nhứt hơn hết.

           Lấy tất-cả ánh-sáng của các thế-giới ấy nhập lại rồi đem so-sánh với ánh-sáng của Như-lai thì nó chẳng bằng một phần trăm ... cho đến chẳng bằng một phần "Ưu-ba-ni sa-đà" (3), toán số ví-dụ chẳng thể nào so-bì được cả ...

           ... Ánh-sáng của đức Như-lai không có gì làm chướng-ngại được.  Bao nhiêu là tường, vách, cây cối, núi non, núi Tu-di, núi luân-vi, núi đại luân-vi, núi Càn-đà ma Ðạt-na, núi Mục chơn lân-đà, núi đại Mục chơn lân-đà, núi Tuyết-sơn, hắc-sơn (4) ... đều chẳng che-chướng được ánh-sáng của Phật....

           ... Hoặc có chúng-sanh thấy ánh-sáng nơi thân của PHẬT chiếu ra chỉ có một tầm (khoảng 3 thước tây), hai tầm, ba tầm ...  Người có đại-trí (từ A-la-hán trở lên) có thể thấy ánh-sáng của Như-lai chiếu khắp cõi Ðại-thiên ...

           ... Ðại Phạm-Thiên vương, chúa cõi Ta-bà, có thể thấy ánh-sáng của Như-lai chiếu khắp trăm ngàn thế-giới...

           ... Bậc Pháp-Vân địa Bồ-tát có thể thấy ánh-sáng từ nơi thân Như-lai chiếu khắp vô-lượng, vô-biên thế-giới...

           ... Ðức Thế-tôn muốn làm cho sáng-tỏ lại nghĩa ấy nên nói kệ rằng:

                   ... Giả-sử vô-lượng Nhựt,

                   Hiệp làm một mặt nhựt,

                   Sáng chẳng bằng tia sáng.

                   Một lỗ lông của PHẬT.

                   Giả-sử bảy vạn ức.

                   Na do tha thế-giới.

                   Mặt nhựt ngang rộng bằng,

                   Chiếu sáng vô-lượng cõi.

                   Các mặt nhựt lớn ấy.

                   Số nhiều như hằng-sa.

                   Hiệp chung lại thành một,

                   Tia-sáng bằng Tu-di.

                   Chiếu khắp 10 phương cõi,

                   Ðem so ánh-sáng PHẬT,

                   Luốt mất như than đen.

                   Ánh-sáng của mặt nhựt,

                   Chẳng thấu qua lá cây.

                   Núi sông và vách đá,

                  Ðều có thể chướng-ngại.

                   Ánh-sáng của Như-lai,

                   Tất-cả núi Tu-di,

                   Núi Thiết-vi, Kim-cương,

                   Tất-cả các loại núi.

                   Chiếu thấu qua không ngại.

                   .................

                   Ai thấy quang-minh PHẬT,

                   Mà chẳng phát đại-tâm.

                   Chỉ trừ kể bất-tín ...

                   .....................

 

           Trên đây là chỉ nói phần sơ-lược về quang-minh của PHẬT.  Vì thế cho nên trong kinh-văn và kệ tụng mới nói rằng:

           - "QUANG-MINH VÔ-ÐẲNG LUÂN"

chính là như vậy.

 

 

C.  Giải-thích câu:

              BẠCH-HÀO UYỂN-CHUYỂN NGŨ TU-DI

                    (Năm Tu-di uyển-chuyển bạch hào)

 

a.  Bạch-Hào:

           - Tức là "Bạch-hào tướng quang" (Tướng lông trắng giữa chặn mày) của PHẬT.

           Ðây là một trong 32 tướng "đại nhơn" của một đấng THẾ-TÔN.

           Tướng bạch-hào nầy gồm có:  - Một sợi lông dài màu trắng như tuyết, rỗng ruột, nằm trong một hình bát-giác nhỏ giữa khoảng hai đầu chân mày của PHẬT, từ nơi sợi lông nầy chiếu ra ánh quang-minh sáng-rỡ, (mà không chói mắt) dịu-dàng.

           Sợi lông nầy nếu như kéo dài ra thì chấm đến mặt đất, còn bình thường thì cuộn tròn lại và nằm giữa chặn mày, uyển-chuyển xoay về bên hữu của PHẬT.

           Ánh sáng từ nơi "Tướng bạch-hào" nầy chiếu suốt khắp 10 phương.

           Mỗi khi PHẬT muốn nói kinh "ÐẠI THỪA" để giáo-hóa chư đại Bồ-tát cùng các bậc Nhị-thừa thánh-nhơn thì trước hết NGÀI phóng ánh-sáng tốt đẹp, vi-diệu từ nơi tướng bạch-hào nầy ra, chiếu sáng khắp tất-cả quốc độ để hiển thị ...

 

           Như trong kinh PHÁP-HOA nói:

           - " ... Lúc bấy giờ, đức PHẬT từ nơi tướng lông trắng giữa chặn mày phóng ra luồng hào-quang, chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương Ðông.  Dưới thì chiếu đến địa-ngục A-tỳ, trên suốt thấu đến trời Sắc Cứu-cánh ...

           ... Lúc bấy giờ ngài VĂN-THÙ SƯ-LỢI Bồ-tát nói với ngài DI-LẶC đại Bồ-tát cùng các vị Ðại-sĩ Bồ-tát khác rằng:

           - Các đại Thiện-nam tử, như chỗ ta xét nghĩ, thời nay đức THẾ-TÔN muốn nói pháp lớn, mưa pháp lớn, thổi Pháp-hoa lớn, đánh trống pháp lớn và diễn pháp nghĩa lớn.

           Chư đại thiện-nam tử,

           - Ta từng ở nơi các đức PHẬT quá-khứ thấy được điềm lành nầy.  Chư PHẬT ấy cũng phóng hào-quang giống như đây, sau đó liền nói pháp lớn.  Cho nên ta biết chắc rằng ngày hôm nay, đức PHẬT hiện ra hào-quang kia cũng lại y như vậy.  PHẬT vì muốn cho chúng-sanh đều được nghe, biết pháp-mầu mà tất-cả trong đời khó tin theo, cho nên trước hết hiện ra điềm-lành nầy"...

 

           - Tất-cả chư PHẬT hoặc quá-khứ, hiện-tại, vị-lai đều cùng có "bạch-hào tướng-quang" đồng đẳng như nhau cả.

           - Chư đại Bồ-tát cũng có tướng bạch-hào nầy, nhưng thua kém PHẬT rất xa.

           - Chư thánh-nhơn trong hàng nhị-thừa Thanh-văn, Duyên-giác thảy đều không có được tướng bạch-hào nầy.

 

b.  TU-DI:

           Tức là núi TU-DI, còn có tên khác nữa là núi DIỆU-CAO (Diêu cao sơn).  Ðây là loại "núi chúa" trong tất-cả núi của một "TIỂU THẾ-GIỚI".

           (Xem lại phần giải-thích về Tiểu thế-giới / Ðại-thiên thế-giới).

           Núi Tu-di nầy an-trụ trên lớp KIM-LUÂN (tức là phần cứng chắc của một tiểu thế-giới)

 

(Phụ-giãng:

A.  Lớp KIM-LUÂN (để cho núi Tu-di an-trụ) nầy, về:

           a.  Bề dầy (đo được):

           - 3 lạc xoa lẻ 20,000 do-tuần.

           (Lạc-xoa là con số Ức.  Có 4 loại số Ức Là:  một trăm ngàn, 1 triệu, 10 triệu, 100 triệu do-tuần - không biết là trong kinh nói đến số Ức nào, nhưng theo ý của người giải-thích thì chắc là nói đến số 100 triệu do-tuần, vì phải dầy như thế mới đủ sức chịu nổi được trọng-lượng của núi Tu-di).

           - Do-tuần (yojana) - Có 3 loại do-tuần là:  16 dặm, 32 dặm, 60 dặm - Có lẽ là PHẬT nói đến loại 60 dặm thì phải hơn).

           b.  Bề rộng (đo được):

           - 12 lạc-xoa lẻ 3450 do-tuần.

(Trên lớp KIM-LUÂN nầy có thêm lớp ÐỊA-LUÂN (Ðất) bao-phủ nữa, chiều dầy và rộng của lớp nầy gần tương đồng như lớp KIM-LUÂN).

 

B.  LỚP THỦY-LUÂN:

           - Bao-bọc và duy-trì cho lớp KIM-LUÂN cùng ÐỊA-LUÂN nầy là lớp THỦY-LUÂN (nước) lớp nầy có:

           a.  Bề dầy (đo được):

           - Tám (8) lạc-xoa du thiện na (8 lạc-xoa x do-tuần).

           b. Bề rộng (đo được):

           12 lạc-xoa lẻ 3450 du thiện-na (do-tuần).  (Theo luận "Khởi Thế Nhân-Bản", thì THỦY-LUÂN khi còn là hơi nước chưa được gió thổi đông-đặc lại, thì có bề dầy là 11 lạc-xoa lẻ 20,000 du thiện-na (do-tuần).

 

C.  LỚP PHONG-LUÂN:

           - Bao-bọc, duy-trì và che đở cho lớp THỦY-LUÂN nầy là lớp PHONG-LUÂN (gió) trùm phủ bên ngoài.  Lớp PHONG-LUÂN nầy có bền dầy là:

           - 16 lạc-xoa du thiện-na.

           - Bề rộng vô-số du thiện-na.

Ngoài lớp PHONG-LUÂN nầy là khoảng hư-không rộng-rãi, bao-la, vô-biên tế (không có giới-hạn).

 

GHI-CHÚ:

           - Các sự đo-lường nầy là do nơi "Phật-nhãn" tròn suốt của PHẬT thấy biết nói ra, chớ người thế-gian không hiểu thấu được.  Chư đọc-giả chỉ nên lấy lòng tin-tưởng tuyệt-đối vào nơi lời dạy của PHẬT mà thôi).

 

I.  HÌNH THỂ NÚI TU-DI:

           Như trên vừa nói:  - Núi Tu-di là trái núi lớn nhất của một "Tiểu thế-giới" cấu-tạo bằng 4 chất báu là:  Vàng, bạc, lưu-ly, pha-lê hợp thành.  Núi nầy đứng giữa làm trung-tâm điểm.  Có hình-thể như một cái chày đâm thuốc, trên dưới rộng ra, chính-giữa eo lại, vuông góc bốn cạnh.

           - Bề cao của núi từ mặt biển "Hương-thủy" trở lên đo được 84,000 do-tuần.  (5 triệu lẻ 40,000 dặm cao).

           - Phần chìm xuống nước (từ mặt biển trở xuống đến lớp KIM-LUÂN cũng đo được 84,000 do-tuần.  (5 triệu lẻ 40,000 dặm chìm).

          (Như vậy thì núi Tu-di từ chân (gốc) lên đến đỉnh là:  16 vạn 8 ngàn do-tuần (168,000 do-tuần), tức là khoảng chừng 10,080,000 (10 triệu 80,000 dặm cao).

 

           II.  NÚI TU-DI VÀ CÁC QUYẾN THUỘC:

           Xin đại-lược như sau:

 

           1.  Chung-quanh chân núi Tu-di có một vòng biển nước thơm (thứ nhất) gọi là HƯƠNG-THỦY hải bao-bọc - Chiều ngang của biển rộng 80,000 do-tuần.

 

           2.  Kế lớp biển nầy là một lớp núi vàng (thứ nhất) tên là TRÌ SONG SƠN (kinh dịch là DU-KIỆN ÐẠT-LA (Sudassana) bao-bọc chung-quanh, bề cao của núi từ mặt biển trở lên là 40,000 do-tuần, phần chân chìm xuống biển và an-trụ trên lớp KIM-LUÂN được 84,000 do-tuần.

           - Chiều ngang (rộng) của núi đo được 40,000 do-tuần.

 

           3.  Ngoài lớp núi TRÌ SONG SƠN nầy lại có thêm một vòng Hương-thủy hải (thứ hai) bao-bọc - Bề rộng của biển là 40,000 do tuần.

 

           4.  Kế vòng biển nầy là một lớp núi vàng (thứ hai) tên là TRÌ TRỤC SƠN (kinh dịch là Y-SA ÐÀ-LA (Isadhara) bao-bọc chung-quang.  Núi nầy, từ mặt nước trở lên cao 20,000 do tuần, phần chìm sâu xuống biển an-trụ trên lớp Kim-luân được 84,000 do-tuần.

           Bề rộng của núi là 20,000 do-tuần.

 

           5.  Ngoài lớp núi vàng TRÌ-THỤC SƠN nầy lại còn có thêm một vòng Hương-thủy hải (thứ ba) bao-bọc.  Bề rộng của biển là 20,000 do-tuần.

 

           6.  Kế vòng biển nầy là một lớp núi vàng (thứ ba) tên là CHIÊM-MỘC SƠN (kinh dịch là KHÊ ÐỊA LẠC-CA - Nemindhara) bao-bọc chung quang, bề cao của núi từ mặt biển trở lên là 10,000 do-tuần, phần chân chìm dưới mặt biển của núi và an-trụ trên lớp KIM-LUÂN là 84,000 do-tuần.

           Chiều ngang (rộng) của núi đo được 10,000 do-tuần.

 

           7.  Ngoài lớp núi vàng CHIÊM MỘC SƠN nầy là một vòng biển "Hương thủy hải" (thứ tư) bao-bọc, chiều ngang rộng 10,000 do-tuần.

 

           8.  Kế vòng biển "Hương-thủy hải" nầy là một lớp núi vàng (thứ 4) tên là THIỆN KIẾN SƠN (kinh dịch là Tô Ðạt-lê Xá-Na - Assakanna), bề cao của núi từ mặt nước trở lên là 5,000 do-tuần, phần chìm dưới nước và an-trụ trên lớp KIM-LUÂN là 84,000 do-tuần.

           Chiều ngang (rộng) của núi đo được 5000 do-tuần.

 

           9.  Ngoài lớp núi vàng THIỆN KIẾN SƠN nầy là một vòng "Hương thủy hải" (thứ 5) bao-bọc, chiều rộng là 5000 do-tuần.

    

           10.  Kế vòng biển Hương-Thủy hải nầy là một lớp núi vàng (thứ 5) tên là MÃ-NHĨ SƠN (kinh dịch là Nghạch-phạ Yết-noa.  Karavika) bề cao của núi từ mặt nước trở lên là 25000 do-tuần, phần chìm dưới nước và an-trụ trên lớp KIM-LUÂN là 84,000 do-tuần.

           Chiều rộng (ngang) của núi đo được 2500 do-tuần.

    

           11.  Ngoài lớp núi vàng MÃ-NHĨ SƠN nầy lại có thêm một vòng biển "Hương thủy hải" (thứ 6) bao-bọc, chiều rộng của biển là 2500 do-tuần.

 

           12.  Kế vòng biển nước thơm nầy là một lớp núi vàng (thứ 6) tên là "TƯỢNG-TY SƠN" (Kinh dịch là TỲ-NA ÐÁT-CA - Sanadhaca), bề cao của núi từ mặt nước trở lên là 1250 do-tuần, phần chìm dưới mặt nước và an-trụ trên lớp Kim-luân là 84,000 do-tuần.

           - Bề ngang (rộng) của núi là 1250 do-tuần.

 

           13.  Ngoài lớp núi vàng thứ 6 nầy lại có thêm một vòng biển Hương thủy hải (thứ 7) bao-bọc, chiều rộng của biển là 1250 do-tuần.

 

           14.  Kế vòng biển nước thơm nầy là một lớp núi vàng (thứ 7) tên là TRÌ-BIÊN SƠN (Kinh dịch là NI-DÂN ÐẠT-LA - Nidandaca), bề cao từ mặt nước trở lên là 625 do-tuần, phần chìm dưới mặt nước là 84,000 do-tuần.

           Bề rộng của núi là 625 do-tuần.

 

Tóm lại:

           Như vậy thì có tất-cả là 8 lớp núi báu, ấy là:

           1.  Núi Tu-di (ở giữa) cao 84,000 do-tuần, bằng 4 chất báu vàng, bạc, lưu-ly và pha-lê (hợp thành).

           2.  Trì-song Sơn, cao 40,000 do-tuần, bằng vàng.

           3.  Trì-trục Sơn, cao 20,000 do-tuần, bằng vàng.

           4.  Chiêm-mộc Sơn, cao 10,000 do-tuần, bằng vàng.

           5.  Thiện-kiến Sơn, cao 5000 do-tuần, bằng vàng.

           6.  Mã-nhĩ Sơn, cao 2500 do-tuần, bằng vàng.

           7.  Tượng-tỵ Sơn, cao 1250 do-tuần, bằng vàng.

           8.  Trì-biên Sơn, cao 625 do-tuần, bằng vàng.

 

và:

           2.  Bảy (7) vòng biển "Hương-thủy hải" - Nước trong các biển Hương-thủy nầy rất thơm, đầy-đủ 8 đặc-tánh là: ngon-ngọt, mát-mẻ, nhẹ-nhàng, trong-sạch, nhu-nhuyễn, trơn-nhuần, thơm tho, uống vào trừ được bệnh-hoạn và đói khát.

         

           Trên đây (tức là 7 lớp núi vàng (không kể núi Tu-di) và 7 vòng biển hương-thủy), là nơi cách-biệt hẵn với nhơn-gian, người thường (phàm-phu) với nhục-nhãn và thân tứ-đại thô-phù, không thấy và không sao đi đến được.

           Ðây là nơi cư-trú của các bậc "ngũ thông" tiên nhơn (5), sách thế-gian gọi tên là "BỒNG-LAI TIÊN-CẢNH".

 

           Ngoài vòng núi vàng thứ 7 (là TRÌ-BIÊN SƠN) có một vòng biển nước mặn bao-bọc giáp vòng, gọi là ÐẠI HÀM THỦY-HẢI.  Bề rộng của biển nầy là 84,000 do-tuần.

           - Trong biển nầy:

 

           1.  Về phương Ðông thì có châu "Ðông thắng thần" (Kinh dịch là Phất Bà-Ðề, hoặc là Tỳ đề ha = Purvavideha) rộng độ 9,000 du thiện-na (do-tuần) - Hình dạng như bán-nguyệt.

 

           2.  Về phương Nam thì có châu "Nam Thiện-bộ" (Kinh dịch là Diêm phù đề - Jambudvika), chu-vi rộng độ 7,000 du thiện-na -Hình dạng như trái lê (trên phương Bắc) rộng, dưới (phương Nam) hẹp (Ðây tức là quả địa cầu của ta đang ở).

 

           3.  Về phương Tây thì có châu "Ngưu-hóa" (Kinh dịch là CÙ ÐÀ-NI - Aparagodaniya), chu-vi rộng độ 8,000 du thiện-na.  Hình dạng như mãn-nguyệt (trăng tròn).

 

           4.  Về phương Bắc thì có châu "Bắc Câu-Lư" (Kinh dịch là UẤT ÐAN-VIỆT - Uttarakuru.)  Chu-vi rộng độ 10,000 du thiện-na.  Hình dạng như tứ-giác (hình vuông).

           Cả bốn châu nầy đều nổi ở trên mặt biển "Ðại-hàm thủy hải", chung-quanh đều có hai trung châu và tiểu châu nhỏ khác nữa vây bộc chung quanh.

 

           - Riêng về châu BẮC CÂU-LƯ, về y-báo chánh-báo đều thắng-diệu so với ba châu kia (là Nam Thiện-bộ, Tây Ngưu-hóa và Ðông thắng-thần).

 

           1.  Về y-báo (cảnh vật) tại châu Bắc Câu-lư nầy thì:

           - Non sông, cảnh trí tú lệ (thanh-tú, mỹ lệ), cây cỏ thanh-u, nhiều ao-hồ trong mát, cây cối đầy hoa-quả, đủ màu-sắc tốt-tươi.  Các loài chim như:  Chim hồng, bạch-nga (ngỗng), nhạn, oanh, oan-ươn vv... kêu hót, giao-hòa khắp nơi.

           - Khí hậu quanh năm mát-mẻ, trong lành, không có gai-gốc, ruồi, muỗi, rắn-rít, độc-trùng.

           - Các thứ lúa gạo thơm (tám cánh) tự-nhiên sanh ra, đầy-đủ vị ngon-ngọt.

 

           2.  Về chánh-báo (Loài người):

           a.  Châu nầy toàn là người da trắng, khỏe-mạnh sống lâu (đều đồng nhau là 1000 tuổi) thân-hình cao lớn, xinh-đẹp.

           b.  Khi muốn ăn, họ lấy gạo thơm để trong nồi vàng, bạc vv... phía dưới nồi đặt một hột hỏa-châu tên là "DIỆM QUANG MA-NI", trong giây phút ánh sáng hỏa-châu tắt, thì cơm liền chín.

           c.  Lúc muốn cần dùng y-phục hoặc vật-dụng, thì họ đến cây "HƯƠNG-THỌ" hái trái chín, trái nầy tự-nhiên nứt ra, trong ấy có đủ thứ y-phục tốt đẹp, hoặc đồ dùng, hoặc thức ăn.

           d.  Lúc muốn nghỉ mát, họ đến dưới cây "KHÚC CUNG", cây nầy cành lá dầy, đặc, xanh-tươi, nắng mưa không lọt, họ có thể nằm ngủ dưới đó mà không lo-ngại chi cả.

           e.  Khi muốn dạo chơi, họ xuống thuyền vàng, bạc vv... bơi nhẹ theo sông, hồ, đàn, sáo du-dương, lời ca, tiếng nhạc hòa lẫn với nhau, âm-thanh du-dương, trong-trẻo, vi-diệu, nhiệm-mầu.

           f.  Khi vầy đoàn tắm gội, họ xếp y-phục để trên bờ hồ, ai lên trước hễ gặp cái nào thì mặc ngay cái đó, không cần phải kiếm y-phục riêng của mình.  Mặc vào xong thì cũng hóa ra vừa-vặn, xinh-đẹp như y-phục cũ.

           g.  Người ở châu Bắc Câu-lư tướng-mạo đồng nhau, không có ai cao, thấp, không có tật, bệnh.  Tóc chỉ rủ xuống đến chân mày, màu xanh biếc.

           h.  Khi nghĩ đến việc vợ-chồng giao-hợp, thì người Nam chăm-chú nhìn người Nữ.  Nếu như người Nữ đồng ý, thì họ cùng nắm tay nhau đưa đến vườn cây KHÚC-CUNG.

           Nếu như Nữ-nhơn với Nam-nhơn vốn là thân-thuộc (bà con, hoặc anh, chị, em) thì tàn cây KHÚC-CUNG không rủ xuống, mỗi bên tự tản-mác đi.

           Còn nếu như không phải là thân thuộc, thì tàn cây KHÚC-CUNG tự-nhiên rủ xuống che kín-đáo lại.  Hai bên tùy-ý ân-ái với nhau từ một ngày cho đến bảy ngày rồi phân-tán.

           Người Nữ mang thai độ bảy, tám ngày liền sanh-nở.  Lúc sanh ra thì dù là con trai hay con gái, cũng đem đến để ở nơi ngã tư đường, mỗi người đi qua đều đến đưa tay vào miệng em bé, từ trong ngón tay họ tuông ra chất sữa ngọt.  Hài nhi liền được no-đủ.

           Như thế đến ngày thứ bảy, đứa bé cao lớn như người thường.  Hễ con trai thì đi theo đoàn người Nam, còn con gái thì đi theo đoàn người Nữ.

           i.  Ðất-đai ở châu Bắc Câu-lư nầy mềm-mại, mịn-nhuyễn, dân-chúng khi bước đi đến đâu, nơi đất ấy tự-nhiên êm-dịu, bằng-phẳng.  Lúc người cần đại, tiểu-tiện ... (đi tiêu, tiểu), đất tự-nhiên nứt ra ...  khi xong rồi thì đất cũng tự-nhiên khép lại ...

           j.  Người ở châu Bắc Câu-lư thọ số đều đồng nhau là 1000 tuổi.  Không có bệnh-hoạn, chết yểu.  Vì thế nên khi chết không có ai khóc-lóc, thương-buồn, điếu-tang chi cả.

           Người chết được đồng bọn gói kỹ thi-hài lại, đem để nơi đường vắng.  Liền đó, có một loại chim to tên là “ƯU-UẤT THIỀN-GIÀ" bay đến gắp lấy thây, đem đi bỏ xa ở nơi khác ...

           Tóm lại:

           - CHÚNG-SANH nơi đây sở-dĩ được phước-báu như thế là vì CÓ TU THẬP THIỆN NGHIỆP ở trong đời trước.

 

III.  NÚI TU-DI VÀ CÁC THIÊN-XỨ (CÕI TRỜI) TRỰC THUỘC.

           Như trước đã nói:

           - Núi Tu-di cao 84,000 do-tuần (từ mặt biển trở lên).  Vuông gốc 4 mặt - Cấu-tạo bằng 4 chất báu là vàng, bạc, lưu-ly và pha-lê.  Hình-dạng hai đầu nở ra, khoảng giữa eo lại (như chày đâm thuốc).

           Chu-vi của núi rộng 84,000 do-tuần.

           Từ mặt nước (biển Hương-thủy) lên đến giữa núi Tu-di (42,000 do-tuần) có bốn tầng cấp như sau:   (Mỗi tầng-cấp cách nhau 10,500 do-tuần).

           1.  Tầng-cấp thứ nhất bao vòng quanh núi, de rộng ra ngoài 16,000 do-tuần.  Ðây là chỗ ở của thần KIÊN-THỦ (giống như Sơn-thần giữ núi vậy).

           2.  Tầng-cấp thứ hai cũng bao vòng quanh núi, de rộng ra ngoài 8000 do-tuần.  Ðây là chỗ ở của thần TRÌ HOA-MANG (Còn gọi là trời TRÌ-MẠN).

           3.  Tầng-cấp thứ ba cũng bao vòng quanh núi, de rộng ra ngoài 4000 do-tuần.  Ðây là chỗ ở của thần "HẰNG KIỀU DƯỢC-XOA".

           (Ba tầng-cấp nầy thống-thuộc quyền cai-trị của cõi trời TỨ-VƯƠNG chớ không có THIÊN-ÐẾ riêng)

           4.  Tầng-cấp thứ tư cũng bao vòng quanh núi, de rộng ra ngoài 200 do-tuần.  Ðây là trụ-xứ của 4 vị Thiên-Vương, gọi là Trời "TỨ-VƯƠNG".

           Bốn vị THIÊN-VƯƠNG nầy thống lãnh các Thiên-binh, thần tướng cùng với các bộ quỷ-thần, ủng-hộ và cai-trị 4 đại bộ châu.

Như sau:

           A.  Phương Ðông, là chỗ ở của "TRÌ-QUỐC THIÊN-VƯƠNG" (Kinh gọi là Ðề đầu Lại-Tra Thiên-Vương) và chư thiên tùy-thuộc.  Thiên xứ nầy thuộc về vùng "Bạch-ngân" (Bạc), nên cung-điện đa-số đều bằng bạc.  Có khu đại thành là nơi của THIÊN-VƯƠNG ngự tên là "THƯỢNG-HIỀN".

           TRÌ-QUỐC THIÊN-VƯƠNG thống-lãnh các bộ quỷ-thần là:

                   - Càn thát-bà.

                   - Tỳ xá-xà.

           Cai-trị và ủng-hộ châu "ÐÔNG-THẮNG THẦN".

           B.  Phương Nam, là chỗ ở của "TĂNG-TRƯỞNG THIÊN-VƯƠNG" (Kinh gọi là Tỳ lâu lặc-xoa Thiên-Vương) và chư Thiên tùy-thuộc.

           Thiên-xứ nầy thuộc về vùng "Thanh lưu-ly" nên đa-số cung-điện đều bằng chất lưu-ly xanh.  Có một khu đại-thành là nơi của THIÊN-VƯƠNG ngự tên là "THIỆN-KIẾN".

           TĂNG-TRƯỞNG THIÊN-VƯƠNG thống-lãnh hai bộ quỷ, thần là:

                   - Cưu bàn-trà,

                   - Tịch-hiệp đa.

cai-trị và ủng-hộ châu "NAM THIỆN-BỘ" (Quả địa-cầu của ta).

           C.  Phương Tây, là chỗ ở của QUẢNG-MỤC THIÊN-VƯƠNG (Kinh gọi là Tỳ-lâu Bắc-xoa Thiên-Vương) và các chư-thiên tuỳ-thuộc.

           Thiên-xứ nầy thuộc về vùng hoàng-kim (vàng) nên đa-số cung-điện đều bằng vàng.  Có một khu đại-thành là nơi của THIÊN-VƯƠNG ngự tên là CHÂU-LA.

           TĂNG-TRƯỞNG THIÊN-VƯƠNG thống-lãnh hai bộ quỷ, thần là:

                   - Long-thần (Rồng),

                   - Phú đơn-na.

cai-trị và ủng-hộ châu "TÂY NGƯU-HÓA".

           D.  Phương Bắc, là chỗ ở của ÐA-VĂN THIÊN-VƯƠNG (Kinh gọi là Tỳ Sa-môn Thiên-Vương) và chư Thiên tùy-thuộc.

           Thiên-xứ nầy thuộc về vùng Pha-lê, nên đa-số cung-điện đều bằng pha-lê (thủy-tinh).  Có 3 khu đại-thành là nơi THIÊN-VƯƠNG ngự tên là:  Khả-Úy, Chúng-Quy và Thiên-Kính.

           ÐA-VĂN THIÊN-VƯƠNG thống-lãnh hai bộ quỷ, thần là:

                   - Dạ-xoa,

                   - La-sát.

ủng-hộ và cai-trị châu "BẮC CÂU-LƯ".

 

(Phụ-giảng:

           1.  Tất-cả các loại quỷ-thần (Thiên-long Bát-bộ) và thành quách, cung-điện của họ ... đều thuộc quyền cai-quản của bốn vị Thiên-Vương nầy.

           2.  Trừ ra có một số ít các vị Thiên-vương nguyên gốc là người thế-gian trước kia, do nhờ tu-phước mà thành - Phần nhiều còn lại là do các bậc Bồ-tát thuộc giai-vị SƠ-ÐỊA (trong hàng THẬP-ÐỊA) tức là HOAN-HỶ ÐỊA, hiện thân ra làm "Thiên-Ðế" của cõi trời TỨ-VƯƠNG nầy (mới có đủ đạo-lực để cai-quản và giáo-hóa chư Thiên được).

 

           Từ cõi trời TỨ-VƯƠNG đi lên 42,000 do-tuần nữa (đỉnh núi Tu-di) là trụ-xứ của Trời ÐẠO-LỢI (Kinh gọi là TAM THẬP TAM THIÊN).

           Ðịa-thế nơi đây rộng-rãi, tốt-đẹp, chu-vi được 84,000 do-tuần.  Cõi "Ðạo-lợi thiên" nầy, về các "Y-BÁO" và "CHÁNH-BÁO" như sau (sơ-lược):

           1.  Ở Bốn góc của đỉnh núi Tu-di nơi Thiên-xứ có bốn tòa núi nhỏ, mỗi núi cao 500 do-tuần.  Có thần Ðại Dược-Xoa tên là KIM-CƯƠNG THỦ ở để tuần-thị (A Tu-La) và hộ-vệ cho chư THIÊN.

           2.  Chính giữa đảnh núi Tu-di có một khu đại-thành tên là "THIỆN-KIẾN".  Ðây là Ðế-đô của trời ÐẠO-LỢI, chu-vi rộng 10,000 do-tuần.  Thành nầy có 1000 cửa.  Giữa thành nầy lại có thêm một tòa thành-quách khác nữa, chu-vi rộng 1000 do-tuần, toàn bằng vàng tử-kim kết-tạo, có 500 cửa.

           Ðất nơi đây cũng toàn bằng vàng tử-kim, nhu-nhuyễn, mềm-dịu như nệm, khi bước chân đi tự-nhiên lún xuống, không làm đau chân.

           Thành nầy là nơi của THIÊN ÐẾ-THÍCH KIỀU THI-CA (Kinh gọi là THÍCH-ÐỀ HOÀN-NHƠN) cư-ngụ, nơi đây lầu-các nguy nga, tráng-lệ, tuyệt-vời, toàn bằng các khối trân-bảo quý-giá nơi cõi Trời kết thành.

           Biệt-điện của Thiên-Ðế ở tên là TỲ THIỀN-DIÊN, chung-quanh biệt-điện nầy có 101 tòa lầu-các nhỏ hơn bao-bọc, gồm có tất-cả là 10,770 phòng - Trong mỗi phòng có 7 người thiên Ngọc-nữ ở, mỗi thiên Ngọc-nữ có 7 thiên thể-nữ hầu-hạ (tức là có 75,390 thiên Ngọc-nữ + 527,730 thiên thể-nữ hầu-hạ).

           Các thiên Ngọc-nữ nầy đều là CHÁNH-PHI của trời ÐẾ-THÍCH.

           Chánh-thân của "Thiên-đế ÐẾ-THÍCH" KIỀU THI CA thì ở chung với Chánh-hậu là XÁ-CHỈ NGỌC-NỮ, hóa-thân của ông thì ở với các bà-phi - (Bà XÁ-CHỈ Ngọc-nữ nầy nguyên là công-chúa, con gái của vua A Tu-la TỲ MA CHẤT-ÐA, được THIÊN-ÐẾ THÍCH KIỀU THI-CA cưới về làm vợ.

           Bà ấy có một phước-báu rất lạ-lùng, nên THIÊN ÐẾ-THÍCH KIỀU THI-CA rất quý-trọng.  Sau khi về làm vợ THIÊN ÐẾ-THÍCH rồi thì bà vào ngự nơi đại cung-điện trong khu vườn "Hoan-Hỷ", chung-quang mình bà có hằng trăm-ngàn thiên-nữ hầu-hạ.

           Bà XÁ-CHỈ Ngọc-nữ có nhan-sắc xinh-đẹp, thắng-diệu nhất trong hàng Ngọc-nữ nơi cõi trời Ðạo-Lợi.  Dung-nhan bà đẹp-xinh như hoa nở, đôi má như cánh sen hồng, gương mặt như màu hoàng-kim ...

           Bà Ngọc-nữ XÁ-CHỈ ấy mặc y-phục mịn, nhuyễn, tươi sáng, dùng hoa báu vi-diệu trên cõi Trời làm tràng trang-sức trên đầu, thòng xuống những chuỗi châu-báu, những chuỗi ngọc-bội, khi bà ấy đi thì các châu-báu ấy khua, lắc, lay-động vang ra những tiếng nhiệm-mầu.

           Trán của bà XÁ-CHỈ Phu-nhơn ấy rộng, cao, bằng, ngay thẳng, rũ che the lượt hoàng-kim.  Ðôi mắt bà dài, nhọn, như hoa sắp nở.  Toàn thân mình bà ấy vừa-vặn, chẳng mập, chẳng cao, chẳng ốm, chẳng lùn ...  Thể-chất thơm, sạch không có hôi xấu.

           Do phước riêng của bà nên thường có gió thổi đưa hoa báu cõi Trời đẹp đến, kết thành lọng hoa trời che trên đầu.  Bà ấy đối với Thiên-Ðế một lòng chơn-thành, vững-chắc, không hề giận-hờn, tranh-cãi.  Bà ấy cũng không hề có sự lo-lắng về thai-nghén.

           Bà XÁ-CHỈ phu-nhơn ấy say-mê ân-ái nặng hơn các Thiên Ngọc-nữ khác.  Tánh-tình bà ấy kiêu-căng, tự-hào còn quá hơn núi Di-lâu, núi Mạn-đà ...  Dầu vậy, nhưng mà bà phu-nhơn ấy rất hay biết phát-huy cái chủng-tánh PHẬT của mình) và làm lợi ích cho Phật-pháp.

           3.  Khoảng giữa thành "THIÊN-KIẾN" và thành "TỲ THIỀN-DIÊN" có 7 khu thị-tứ lớn là:  - Khu Mể-Cốc, khu Ẩm-Thực, khu Y-Phục, khu Chúng-Hương, khu Hí-Nữ, khu Công-Xảo, khu Hoa-Mang.

           Tại bảy khu nầy đều có người canh-gác (Thị-quan).  Các Thiên-tử, thiên-nữ khi đến dạo chơi, cũng bình-luận là món nầy mắc, món kia rẻ (như cách mua bán thế-gian), nhưng chỉ để chưng-bày thôi, chớ chẳng có ai bán và chẳng có ai mua hết.

           Thỉnh-thoảng như có ai cần dùng món gì thì có thể tự-ý lấy đem đi.

           Trong thành "THIỆN-KIẾN" cũng chia ra làm các Thiên-châu (tỉnh), Thiên-huyện (Quận), Thiên-thôn (làng) đầy khắp các nơi.

           Chung quanh (vòng ngoài) của thành Thiện-Kiến còn có 32 thiên-xứ nhỏ khác bao-bọc.  Mỗi thiên-xứ như thế đều có một vị Thiên-Vương quản-trị.  Ba mươi hai Thiên-xứ nầy cùng với trung-đô "THIỆN-KIẾN" thành của ÐẾ-THÍCH hợp lại thành ra 33 thiên-xứ - Vì thế nên gọ là "Tam thập tam thiên".

         

A.  BẢO UYỂN:

           Ngoài bốn phía thành THIỆN-KIẾN có bốn khu đại Viên-Uyển (Vườn hoa lớn) như sau:

           - Phương Nam có đại viên-uyển tên là THÔ-SÁP.

           - Phương Tây có đại viên-uyển tên là TẠP-LÂM.

           - Phương Bắc có đại viên-uyển tên là HỶ-LÂM.

           - Các chư Thiên-tử, ngọc-nữ khi đi du-ngoạn vào đến nơi vườn CHÚNG-XA thì tùy nơi phước-đức hơn, kém, liền có các thứ xe như-ý hoặc thắng (đẹp) hoặc liệt (xấu) hiện ra.  Mỗi vị đều ngồi lên trên cổ xe của mình mà tùy-ý dạo chơi khắp nơi ...

           - Khi chư Thiên sắp-sửa đánh nhau với A Tu-la, liền kéo nhau vào trong vườn THÔ-SÁP, nơi đây liền có các món giáp, trượng (khí-giới) tự-nhiên hiện ra dùng để đi đánh trận.  Cảnh-trí của vườn THÔ-SÁP nầy rất là tươi đẹp, nên mỗi khi vào đây du-ngoạn, chư Thiên cũng tranh nhau đi trước, đi sau, ngắm xem phong-cảnh, khen-ngợi, trầm-trồ ...

           - Vườn TẠP-LÂM là nơi rất đẹp, nơi đây có nhiều cung-điện nguy-nga, rừng cây, hoa-cảnh u-nhã.  Các Thiên Ngọc-nữ nơi cung TỲ THIỀN-DIÊN (chỗ của Thiên-đế Thích KIỀU-THI-CA ngự)  thường ra đây họp bạn với chư Thiên-chúng khác mà vui đùa, thọ ngũ-dục lạc ...

           - Vườn HỶ-LÂM (tức là vườn HOAN-HỶ - nơi bà XÁ-CHỈ Ngọc-nữ ngự) có một cảnh-sắc rất là đặc-biệt, lạ-lùng, chư Thiên khi vào du-ngoạn tại nơi đây, tự-nhiên đều sanh lòng hớn-hở, vui tươi.

           - Trong bốn khu đại Viên-Uyển nầy, ở mỗi khu vườn, nơi bốn góc đều có bốn hồ "Như-Ý", mỗi hồ rộng 50 do-tuần, trong ấy chứa toàn là nước bát công-đức.

           Trong mỗi hồ lại còn có thêm các thứ hoa trời tranh nhau đua-nở, phô-trương vẻ đẹp thần-tiên.

           - Lại nữa, trong bốn khu đại Viên-Uyển nầy đều có tháp lớn để thờ các di-tích, xá-lợi của PHẬT.  Như vườn CHÚNG-XA có một khu tiểu-viên, rất đẹp tên là CHIẾU-MINH, nơi đây có bảo-tháp thờ tóc của PHẬT (khi Phật cắt tóc xuất-gia, thì THIÊN-ÐẾ thỉnh tóc ấy đem về trời thờ).

           - Vườn THÔ-SÁP có bảo-tháp thờ Y của PHẬT.

           - Vườn TẠP-LÂM có bảo-tháp thờ BÁT của PHẬT.

           - Vườn HOAN-HỶ (Hỷ-Lâm) có bảo-tháp thờ RĂNG của PHẬT.

           Ngoài 4 khu đại Viên-Uyển nầy ra còn có nhiều khu "Tiểu Viên-Uyển" khác nữa, số nhiều có đến trăm, ngàn.  Vườn-tược, rừng cây đều được trang-nghiêm bằng các thứ châu-báu, liên-tiếp nối nhau khắp mọi chốn xa gần, như là:

           - Vườn Hoàng-diêm-thạch, vườn Ba-lộ-sa, vườn Ba-lê-gia, vườn Quang-thắng, vườn Hiệp-hôn, vườn Câu-la vv...

          

           (Riêng tại khu vườn Hiệp-hôn, có đại đệ-tử Thanh-văn của PHẬT là ngài "Ngưu-chủ KIỀU-PHẠM BA-ÐỀ" an-trụ nơi đó, ngài thuyết-pháp nói ra các Khế-kinh, Trường-hàng, Trùng-tụng vv... để giáo-hóa thiên-chúng.

           - Các Thiên-nữ dầu say-mê ái-dục, nhưng mỗi khi vào đến khu vườn nầy, trông thấy tôn-giả KIỀU-PHẠM BA-ÐỀ thì liền được sanh lòng thanh-tịnh và mang hoa sen đến dâng cúng-dường lên NGÀI.

           - Các Thiên-tử khác trên cõi trời Ðạo-lợi cũng đều đến vây-quanh, cung-kính nghe pháp và mang chất thiên cam-lộ cúng-dường.

           Tất-cả chư Thiên trên cõi "Tam-thập tam-thiên" nầy không ai là chẳng cung-kính Tôn-giả cả).

 

           Phía Ðông-Bắc của thành THIỆN-KIẾN có một bảo-thọ là cây BA-LỢI CHẤT-ÐA (Kinh dịch là HƯƠNG BIẾN THỌ - Paricitra) Ðây là cây quý báu nhất trên cõi trời Ðạo-Lợi.

           Cây cao 100 do-tuần, tàng rậm de ra cũng 100 do-tuần, rộng tròn như một cái lọng.  Ðây là một thắng-cảnh du-ngoạn được ưa-thích nhất của tất-cả chư THIÊN.

           Cây nầy hoa-nở liên-miên không dứt, mùi hương-hoa thanh-thản, nhẹ-nhàng và thắng-diệu theo gió bay xa.  Khi gặp gió thuận, mùi hương bay xa được 100 do-tuần.  Khi gặp gió nghịch, mùi hương cũng bay xa được 50 do-tuần.

           Cây BA-LỢI CHẤT-ÐA nầy có 7 đặc tánh thù-thắng sau đây:

           1.  Lúc lá cây chín thời có màu hoàng-kim rực-rỡ.  Chư THIÊN thấy lá vàng liền sanh lòng vui-mừng, hớn-hở ..., vì:

           2.  Lá vàng ấy không bao lâu sẽ rụng.  Chư Thiên thấy lá vàng ấy rụng, còn nhánh không thời sanh lòng mừng-vui nữa..., vì:

           3.  Những nhánh không ấy chẳng bao lâu sẽ đổi màu sắc.  Chư Thiên thấy các nhánh cây ấy đổi sắc, thời sanh lòng vui-mừng hơn nữa..., vì:

           4.  Nhánh cây ấy sau khi đổi màu xong, chẳng bao lâu thời sanh ra các nụ tròn.  Chư Thiên thấy các nụ hoa ấy thời lòng rất vui-mừng, ... vì:

           5.  Những nụ tròn ấy chẳng bao lâu sẽ trở thành dài và nhọn.  Chư Thiên thấy vậy càng thêm vui mừng ... vì:

           6.  Những nụ dài, nhọn nầy không bao lâu sẽ nở ra các hoa cực-kỳ xinh-đẹp, rực-rỡ không sao tả-xiết được, mùi hương theo gió bay xa đến cả trăm do-tuần.

           7.  Toàn thân của cây tỏa ra ánh quang-minh rực-rỡ, ánh sáng ấy chiếu xa đến cả 80 do-tuần.

          

           Vì cây "Ba-lợi chất-đa" nầy có 7 đặc tánh kỳ-diệu như vậy, cho nên nó sanh ra các sự vui-mừng bất-tuyệt cho chư THIÊN, các thiên-chúng đều cực-kỳ ưa-thích cây bảo-thọ nầy, cho nên thường tụ-tập, vui-chơi nơi dưới tàn cây, thong-dong, tự-tại, đàn hát, ca múa vui-vẻ ...

           Khi hoa-tàn thì lá lại đổi ra màu xanh bích-ngọc, trong suốt như "thanh lưu-ly".  Chư Thiên thấy lá nầy thời vui-mừng, vì không bao lâu lá xanh chín sẽ đổi ra màu hoàng-kim ...

           Và các đặc-tánh của cây nầy lại sẽ tiếp-nối nhau luôn không dứt.

           Chư Thiên cũng vui-mừng tiếp-nối nhau luôn không dứt...

 

 

B.  BẢO-ÐIỆN:

           Trên thiên-xứ nầy có vô-số bảo-điện (lầu các quý-báu) nghiêm-sức bằng các khối trân-bảo cõi Trời tráng-lệ, tuyệt-vời, nối-tiếp nhau khắp cả mọi nơi.

           Nhưng đặc-biệt nhất là về phía Tây-Nam của đại thành THIỆN-KIẾN có một ngôi ÐẠI BẢO-ÐIỆN tên là "THIỆN-PHÁP-ÐƯỜNG".

           Ngôi đại-điện nầy to rộng có đến bốn vạn tám ngàn (48,000) cây cột, làm toàn bằng những thứ như:  - Hoàng-kim, bích-ngọc, bạch-ngân, xa-cừ, mã-não cùng với lõi cây chiên-đàn (trầm-hương)..., khắp nơi của đại-điện đều có treo linh, lạc, gió thổi vang ra những tiếng nhiệm-mầu, làm vui đẹp lòng người nghe.

           Trong hội-đường THIỆN-PHÁP dùng toàn là "MA-NI bửu-châu" để trang-sức, mặt nền lót bằng ngọc lưu-ly, trong-sáng, nhuần-bóng, sạch-sẽ như gương, gió nhẹ thơm, mát, phảng-phất khắp nơi.

           Tất-cả những vật trang-trí trong hội-đường nầy thuần toàn là các khối báu vật trân-kỳ, hiếm có.

           Ngoài bốn phía hội-đường còn có những khu vườn rộng đến cả trăm do-tuần.

           Trong các khu vườn ấy đều có những hoa sen màu vàng hoàng-kim tươi đẹp, từ trong hoa sen ấy vang ra các tiếng nhạc, tiếng ca nhiệm-mầu làm cho mọi người nghe đến thảy đều sanh lòng vui đẹp ...

           Các Thiên-tử, Thiện-nữ sau khi dạo chơi khắp mọi thắng-cảnh xong rồi, thì đồng nhau tụ-hội về "Thiện-pháp đường" ấy để hưởng thọ các sự vui-sướng ...

           Ngoài ra còn có một hội-trường khác nữa tên là THIỆN-KIẾN, điện nầy có đến sáu vạn cây cột (60,000), trính, kèo, chói sáng lẫn nhau trùng-trùng, điệp-điệp.

           Giữa hội-trường có bày-trí một màng lưới lớn, kết-tạo bằng những hạt "Ma-ni châu vương" - Các hột bảo-châu ấy chiếu-sáng, giao-hòa lẫn nhau.  Gọi là "Ðế-Châu Ma-ni Linh-Võng".

           Trong lưới "Ðế-Châu" ấy ảnh-hiện lên hình-bóng của tất-cả các việc hoặc thiện, hoặc ác vv... của thiên, long, nhơn, quỷ-thần và A Tu-la vv... khắp trong bốn châu thiên-hạ và nơi núi Tu-di.  Thiên-Ðế Thích KIỀU-THI-CA chỉ cần nhìn vào trong đây liền biết rõ hết mọi việc của các Thiên-xứ thuộc quyền để (mà) tùy-cơ xử-đoán ...

 

           (Trong nghi-thức tụng-kinh, nơi phần "Tán-Phật, Quán-tưởng" có câu kệ-tụng sau đây:

           Lưới Ðế-châu ví đạo-tràng ...

           Chính là nói về cái lưới "Ðế-châu ma-ni linh-võng" nầy vậy).

 

           Trong hội-đường nầy lại còn có thêm 1000 vị Thiên Ngọc-nữ diệm-mạo đẹp-xinh như trăng tròn sáng, tuyệt-thế vô-song, trên mão trang-sức bằng vòng hoa thất-bảo, mặt che the chỉ hoàng-kim, trên thân đeo chuỗi trân-bảo chiếu ra ánh hào-quang rực-rỡ...

           Thiên-Ðế THÍCH ÐỀ HOÀN-NHƠN KIỀU THI-CA tay cầm chày Kim-cương, quanh mình có trăm ngàn Thiên Ngọc-nữ hầu-hạ, đều vào bảo-điện nầy thưởng-ngoạn, dạo chơi.

           Toàn thân của THIÊN-ÐẾ KIỀU THI-CA ấy cực-kỳ xinh-đẹp.  Cánh tay của Ngài suông-đuột, thòng xuống đến đầu gối tựa như vòi voi báu, toàn thân màu vàng hoàng-kim, sạch bóng.  Gân thịt kín đáo, rắn dẻo, xương cốt và các mạch máu đều ẩn kín không lộ bày dưới da.

           Ngực của THIÊN-ÐẾ tròn như ngực Sư-tử chúa, bụng chẳng vun cao, eo lưng bó nhỏ, trên đầu trang-sức bằng các loại bảo-châu xỏ bằng chĩ hoàng-kim lòng-thòng chiếu sáng, y-phục nhuyễn nhẹ, tiếng nói trong-trẻo, ăn uống toàn bằng chất cam-lộ cõi trời, ngồi trên lưng voi báu trắng 6 ngà tên là Y-BẠT ÐÀ-LA, sức mạnh của Ngài địch nổi chín ngàn con voi lớn.

           Sắc-thân và sức mạnh của THIÊN-ÐẾ KIỀU THI-CA nầy nguyên chẳng phải là do xương, thịt, thường hợp-thành mà thuần bằng các thứ bảo hoa kết-tụ lại.  Trên mình Ngài cũng có đủ 32 tướng tốt như Phật (nhưng kém hơn nhiều và không rõ-ràng như của Phật) toàn thân toát ra mùi thơm kỳ-lạ, hào-quang rực-rỡ có thể làm lu-lờ được khối hoàng-kim để ở gần.

           Chánh-hậu của NGÀI là bà XÁ-CHỈ Ngọc-nữ (xem lại phần giảng trước) có dung-nhan thắng-diệu hơn tất-cả các Thiên Ngọc-nữ khác.

 

(Phụ-giảng:

           Trừ một số ít các vị Thiên-đế nơi cõi Ðạo lợi là do người thế-gian tu phước mà thành (như Thiên-đế KIỀU THI-CA đây là một) - Còn đa-phần các vị ÐẠO-LỢI THIÊN-ÐẾ khác đều là do các vị Bồ-tát trong hàng Nhị-địa (Ly Cấu-Ðịa) hiện thân ra làm - mới có đủ đạo lực để cai-quản và giáo hóa chư Thiên được.)

 

C.  TẬP-HỢP, XỬ-ÐOÁN

1.  Tập-hợp nghe pháp:  Mỗi khi chư THIÊN nghe "Thiên-cổ" (trống trời) vang lên tiếng kêu gọi "thức-tỉnh" trước cơn mê ngũ-dục, thì đồng kéo nhau về Hội-trường của THIỆN PHÁP ÐƯỜNG tập-hợp.

           THIÊN-ÐẾ KIỀU THI-CA ngồi chủ-tọa trên tòa sư-tử ở giữa HỘI-TRƯỜNG, chư THIÊN-TỬ, THIÊN-NỮ vây quanh nghe THIÊN-ÐẾ thuyết-giảng lại kinh-pháp mà Ngài đã từng nghe, học từ nơi PHẬT và chư Ðại Bồ-tát khác ...

           Xong thời học PHÁP rồi thì chư Thiên đồng nhau tản-mác ra khắp mọi nơi, tiếp-tục vui chơi, dạo xem thắng-cảnh và thọ-hưởng ngũ-dục... cho đến khi nào nghe THIÊN-CỔ vang lên tiếng gọi "cảnh-tỉnh" nữa, thì lại quay về hội-trường và cùng nhau luận-bàn đạo-lý...

 

2.  Tập-hợp Xử-Ðoán:

           Ðại-khái có 2 loại Xử-Ðoán:

           1.  Xử-đoán các việc làm phi-pháp của A Tu-la ...

           2.  Xử-đoán và kiểm-soát các việc THIỆN-ÁC trong thế-gian.          

          Khi tập-hợp xử-đoán các việc nầy, thì THIÊN-ÐẾ KIỀU THI-CA ngồi trên tòa sư-tử ngay giữa trung-ương của hội đường THIỆN-KIẾN.  Hai bên tả, hữu của THIÊN-ÐẾ, mỗi bên đều có 16 vị THIÊN-VƯƠNG ngồi đối-diện nhau.

           Mỗi THIÊN-VƯƠNG như thế đều có hai Thái-tử và cũng là Ðại-Tướng của mình đứng ở phía sau mà hầu-hạ, thị vệ.

           Nơi vòng ngoài thì:

           a.  Ðông-phương TRÌ QUỐC Thiên-Vương cùng hàng đại-thần của NGÀI ngồi ở hướng Ðông.

           b.  Nam-phương TĂNG-TRƯỞNG  Thiên-Vương cùng hàng đại-thần của NGÀI ngồi ở hướng Nam.

           c.  Tây-phương QUẢNG-MỤC Thiên-Vương cùng hàng đại-thần của NGÀI ngồi ở hướng Tây.

           d.  Bắc-phương ÐA-VĂN  Thiên-Vương cùng hàng đại-thần của NGÀI ngồi ở hướng Bắc.

 

           Tứ đại THIÊN-VƯƠNG nầy lần-lượt tâu trình lên THIÊN-ÐẾ KIỀU THI-CA về các việc Thiện-Ác ở thế-gian, nơi châu của mình cai-trị.

           Chẳng-hạn như:

           - TRÌ-QUỐC Thiên-Vương thì tâu-trình các việc Thiện, Ác của chúng-sanh nơi châu "Ðông Thắng thần" của mình.

           - TĂNG-TRƯỞNG Thiên-Vương thì tâu-trình các việc Thiện, Ác của chúng-sanh nơi châu "Nam Thiện-Bồ" (Ðịa-cầu) của mình.

           - QUẢNG-MỤC Thiên-Vương thì tâu-trình các việc Thiện, Ác nơi châu "Tây-Ngưu-Hóa" của mình.

           - ÐA-VĂN Thiên-Vương thì tâu-trình các việc Thiện, Ác nơi châu "Bắc Câu-lư" của mình.

           Nếu THÍCH-ÐỀ HOÀN-NHƠN THIÊN-ÐẾ nghe nói ở thế-gian có nhiều người bố-thí, giữ-giới, tu thập-thiện thì NGÀI vui-mừng lắm, nói rằng:

           - "Như thế thì Thiên-chúng sẽ tăng thêm nhiều, A Tu-la sẽ bị kém bớt."

           Còn như nghe nói ở thế-gian không có nhiều người bố-thí, giữ-giới, tu thập-thiện thì NGÀI lộ sắc buồn, lo, mà nói rằng:

           - "Như thế thì Thiên-chúng sẽ lần-lần kém bớt đi, A Tu-la mỗi ngày càng thêm nhiều thế-lực và đông, mạnh."

 

Tóm-lại:

           Cõi Trời ÐẠO-LỢI  (tức là Tam thập tam thiên) nầy có tất-cả là:

           - Bảy lớp thành,

           - Bảy lớp lan-can,

           - Bảy lớp lưới báu,

Bên ngoài các lớp thành, lan-can, và lưới báu nầy lại có thêm:

           - Bảy lớp cây đa-la boa-bọc, nhiều màu-sắc xinh-đẹp.

           - Cứ mỗi lớp thành như vậy đều có nhiều cửa và lầu ngăn giặc (A Tu-la)....

           Nơi Thiên-xứ nầy không có mặt trời, mặt trăng, chỉ có ánh-sáng của cây-cối, cung-điện và hào-quang của chư THIÊN chiếu ra soi-sáng khắp toàn thiên-xứ mà thôi.

           - Khi hoa sen hồng khép lại, hoa sen xanh nở ra là ban đêm, Thiên chúng đều ưa ngủ-nghỉ.

           - Khi hoa sen xanh khép lại, hoa sen hồng nở ra, là ban ngày.  Thiên chúng lại thích dạo chơi.

           Chư Thiên trên cõi trời ÐẠO-LỢI đều do nhơn tu phước bố-thí, giữ-giới, và hành thập-thiện (lúc còn ở nhân-gian) mà cảm-báo được sanh về đây, họ đều vui-đắm theo dục-lạc mà quên mất thời-gian, ca múa nói cười, kéo nhau đi dạo chơi hết cảnh nầy qua đến cảnh khác ...

           Ðến khi phước Trời mãn rồi thì tướng "Ngũ-suy" hiện ra, sau 7 ngày mạng chung, thần-thức lại tùy theo nghiệp mà đi luân-hồi ở nơi sáu đường, ba cõi.

           Tiếp diễn không ngừng ....

 

           Trên đây đã giải-thích về hai chữ "TU-DI" (cùng với các thiên-xứ trực thuộc rồi).

           Nay kết lại câu:

                   BẠCH-HÀO UYỂN-CHUYỂN NGŨ TU-DI

như sau:

           - Bạch-hào tướng-quang của Phật A-DI-ÐÀ lớn dường như 5 hòn núi Tu-Di và uyển-chuyển xoay về bên hữu của NGÀI.

           Tất-cả chư PHẬT nơi khắp mười phương pháp-giới cũng đều đồng có tướng BẠCH-HÀO y nhau như vậy cả.

 

Giải-thích câu 4:

           HÁM MỤC TRỪNG-THANH TỨ ÐẠI-HẢI.