NGÀY THỨ NHẤT
Núi non đêm ngày thanh tỉnh,
Danh hiệu Phật rửa sạch trần tâm
1.- Trời cao không phụ
công lao người khổ nhọc
Chư vị về chùa Linh Nham tu Phật thất, ngày
nay chỉ là ngày đầu tiên của khóa tu, chư vị biết niệm Phật rất tốt, song,
trong khi niệm Phật cần phải giữ nhịp độ ổn định, không nên niệm cao quá,
sẽ tổn hao thần lực, cũng không niệm nhỏ quá, sẽ bị hôn trầm. Nhịp độ niệm
phải vừa phải, không nhanh cũng không chậm. Vì thời gian chúng ta còn dài,
chúng ta niệm Phật làm sao phải như dòng suối tuôn chảy, êm đềm mà không
gián đoạn. Có như thế thân tâm mới có an tịnh, nghiệp chướng mới tiêu trừ,
phước đức mới tăng trưởng. Nếu có thể niệm niệm không gián đoạn thì đạo
nghiệp nhất định sẽ mau thành tựu.
Cách dụng công niệm Phật phải như thế nào?
Chúng ta phải có thời gian, công phu tu tập phải trường kỳ khổ nhọc, thì
mới có thể thành tựu, cho nên tục ngữ có câu: “Trời cao không phụ người
khổ nhọc” ý là thế. Đây là ngày khởi điểm của khóa tu, chư vị phải dụng
công cho tốt, có như thế những ngày còn lại mới có kết quả. Điều đáng sợ
nhất của người tu niệm Phật là không có tâm thành kính.
2.- Trong cung kính ngoài mới chí thành
Phật pháp có thành tựu hay không cũng ở tâm chí thành, cho
nên người xưa có nói: “Trong cung kính, ngoài mới chí thành”. Nội tâm nếu
có thành kính sẽ biểu hiện ra bên ngoài sự cung kính. Hiện tại, chư vị
đang chắp tay nghe khai thị, hành động chắp tay là hành động biểu hiện cho
sự cung kính của nội tâm. Nếu chư vị có tâm thành kính, không bảo chư vị
chắp tay, chư vị cũng tự nhiên chắp tay, không bảo quý vị quỳ, quý vị cũng
tự quỳ. Chắp tay là hành động thể hiện cho sự cung kính. Nếu chư vị thấy
chắp tay là việc khó nhọc thì tạm thời có thể bỏ xuống. Hiện tại, chúng
tôi nghiêm khắc bắt chư vị chắp tay, là muốn cho chư vị có hành động cung
kính. Hành động chỉ là biểu hiện của thân, chẳng những thân cung kính, mà
miệng phải niệm niệm rõ ràng, tai nghe rõ ràng, tâm cũng thấu suốt rõ
ràng, tâm miệng nhất như. Nếu chư vị mặc niệm, tuy miệng không niệm, tâm
phải luôn luôn niệm, tai cũng nghe rõ ràng. Tai và tâm nhất như, niệm Phật
một thời gian dài, thân tâm sẽ an nhiên, lúc đó chư vị sẽ không còn thấy
chắp tay là việc khổ nhọc nữa.
Chắp tay chỉ là phương tiện, song trong khi ngồi công phu,
nhất định mọi người cần phải ngồi xếp bằng, tối thiểu nhất là phải ngồi
được bán già, vì sao? Vì chân không chịu đau được thì thời gian công phu
sẽ ít, dẫn đến công phu tâm lực không tương ưng, tâm khó an định. Vì thế,
chư vị phải nhẫn nhịn chịu đau một thời gian thì công phu mới có thể tiến
bộ vào sâu được, sự nhẫn nhịn đó cũng phải xuất phát từ tâm thành kính.
Vạn sự khởi đầu nan. Ban đầu chư vị thấy khó chịu thế nhưng dần dần sẽ
quen thôi, điều quan trọng chúng ta có ý chí quyết tâm hay không đó mới là
quan trọng.
3.- Người học đạo như kẻ chèo
thuyền ngược nước
Người tu đạo thuận duyên không có, thế nhưng chướng duyên
lại nhiều. Đơn giản nói về thân thể thôi, nếu không được khỏe một tí, công
phu tu hành đã bỏ bê, ngồi thiền một chút đã không chịu được, hà huống là
làm công việc gì lớn, đó là do nghiệp chướng của chúng ta từ vô thỉ đến
nay. Nghiệp chướng thì dày, trong khi thiện căn lại mỏng. Chúng ta đã tạo
tác nghiệp chướng rất nhiều. Song, người có thiện căn, tuy biết dụng công
tu hành là khổ nhọc, biết nghiệp chướng tuy nặng, thế nhưng họ lại không
sợ chướng ngại mà lại còn phát tâm tu hành, để tiêu trừ nghiệp chướng,
hạng người này rất có hy vọng. Ngược lại, người biết nghiệp chướng của
mình đã nặng rồi, thấy tu hành khó khăn, lại nản chí, dù có gặp được thiện
duyên đi chăng nữa, cũng khó phát tâm tu hành. Do đó, chúng ta phải xét
lại mình là người có thiện căn hay không, phải dùng trí tuệ chiếu soi lại
chính mình. Đã biết mình là người có nghiệp dày phước mỏng, nếu không phát
tâm tu hành nghiệp chướng khó mà tiêu trừ được, nghiệp chướng không tiêu
trừ làm sao dám nói đến việc liễu sinh thoát tử. Chư vị! Cần phải nỗ lực
tinh tấn quyết tâm hạ thủ công phu, thì không có việc gì khó. Trong thế
gian không có việc gì là khó, mà sợ lòng người không có quyết tâm. Cho nên
tục ngữ có câu: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì
lòng người ngại núi e sông”.
Giống như học sinh, cùng học một bài văn, thế nhưng đứa có
trí thông minh, đọc hai, ba lần, thậm chí nghe qua liền thuộc. Còn đứa
không có thông minh thì phải đọc đi đọc lại ba bốn mươi lần mới có thể
thuộc. Người dụng công niệm Phật cũng như thế.
Phật pháp giảng nói ba đời nhân quả. Nếu đời trước chư vị
là người nghe pháp nhiều, tu hành nhiều, thiện căn dày, tu hành phước báo
nhiều, mà đời nay không gặp được Phật pháp, thậm chí sinh ra một xứ sở
hoàn toàn không có Phật pháp thì thiện căn của các bạn cũng không bao giờ
bị thối chuyển, cũng không tạo tác việc ác. Các bạn chỉ cần nhìn cảnh mùa
Xuân trăm hoa đua nở, mùa Thu lá vàng rơi lả tả, thấy được cảnh sinh diệt
vô thường của vạn vật, các bạn có thể khai ngộ, hay minh tâm kiến tính
liền. Giống như thời Phật còn tại thế, các vị nghe Phật giảng pháp, rồi y
theo pháp thập nhị nhân duyên mà ngộ được đạo, gọi là “Duyên Giác”. Còn có
một số vị sinh ra đời không gặp Phật, không được nghe pháp, thế nhưng họ
nhờ vào việc quán sát sự thay đổi vô thường của vạn vật mà ngộ được, gọi
là “Độc Giác”, những người này có thiện căn không thể nghĩ bàn mới được
như thế.
Người có thiện nghiệp dày, ác nghiệp mỏng, tu hành rất
thuận lợi. Thế nhưng, chúng ta ở đây toàn là những người có phước mỏng
nghiệp dày, cho nên con đường tu của chúng ta, như khách lữ hành chèo
thuyền ngược nước, nếu chúng ta không vững tay chèo, không có nỗ lực tinh
tấn, chắc chắn bị nước cuốn trôi. Vì thế, cổ đức có nói: “Người tu đạo như
người chèo thuyền ngược dòng, không tiến sẽ bị lùi”. Chúng ta phải dụng
công hết mình, thậm chí phải dùng hết sức mình họa may mới không bị trôi
theo dòng sông sinh tử. Người thế gian, đa phần là buông mình theo dòng
sinh tử, nên đối với họ không còn gì phải nói. Chúng ta là người tu đạo,
là người đang lội ngược lại dòng sinh tử, cho nên khó khăn rất nhiều, do
đó xin chư vị hãy dụng công, vào đây niệm Phật rồi không nên lãng phí thời
giờ.
4.- Gia công tinh tấn tiêu nghiệp chướng
Người có phước đức nhân duyên, nếu gia công tu hành tốt, dễ
dàng được cảm ứng, cho nên họ xưng niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Cầu tài được
tài, cầu con được con, cầu tam muội được tam muội, cầu Bát Nhã được Bát
Nhã, nói chung cầu chi được nấy. Cho nên nói: “Có cầu ắt sẽ có ứng” là
vậy. Song, đối với người không có phước đức dù cầu nguyện bất cứ điều gì
cũng không có cảm ứng. Nói như vậy Quan Âm Bồ Tát có thiên vị không?. Xin
thưa! Là không, bạn cầu nguyện cũng có cảm ứng. Vậy cảm ứng cái gì? Cảm
ứng nghiệp chướng tiêu trừ, một khi nghiệp chướng của bạn tiêu trừ hết
rồi, thì bạn cầu gì đều được nấy. Bằng ngược lại, nghiệp chướng chưa tiêu
trừ thì dù bạn có cầu nguyện đến đâu cũng không có cảm ứng, một khi nghiệp
chướng được tẩy sạch, bạn không cần cầu cũng tự nhiên có cảm ứng.
Những người lần đầu tiên vào đây dụng công tu hành, tâm lý
có loạn động, liền nghĩ: “Không hiểu tại sao ở nhà bình thường mình niệm
Phật ít thấy có vọng tưởng, tâm lý lại được định tĩnh, thế nhưng vào đây
niệm Phật, cứ một khi khởi niệm Phật lại thấy vọng tưởng quá nhiều, tâm lý
lại không an, nguyên nhân đó xuất phát từ đâu? Chỉ vì ở nhà niệm Phật
không có tập trung, niệm Phật một cách mơ mơ hồ hồ, vọng tưởng suy nghĩ
cái này, nhớ nghĩ việc kia, vọng khởi triền miên, lại thêm ngoại cảnh ồn
ào, nhộn nhịp nên khó nhận thấy được vọng khởi. Vào đây thì cảnh núi non
yên tĩnh, nương nhờ ánh sáng từ bi của chư Phật, tâm cảnh được sáng suốt,
trí tuệ phát sinh, tự nhiên nhận thấy được vọng tưởng tạp niệm nhiều. Chư
vị nhờ vào đây mới có cảm nhận như vậy, nếu nói ở nhà niệm Phật tốt hơn,
là chư vị không có lương tâm rồi.
5.- Phải cầu diệu pháp xuất thế
gian
Như trên vừa nói, người niệm Quan Âm Bồ Tát cầu tài được
tài, cầu làm thân trai được thân trai, cầu thân gái được thân gái… Như
vậy, chúng ta là người học Phật có phải cầu tài không? Xin thưa! Là có,
nhưng tài ở đây là công đức pháp tài. Lại nữa, có nên cầu thân trai hay
thân nữ không? Cũng có, nhưng cầu trí tuệ phước đức của người nam, cầu
tướng đoan chính của người nữ, thế nhưng quan trọng hơn hết vẫn là cầu
pháp xuất thế gian.
Như Phật Đà “ba kỳ tu phước đức, trăm kiếp mới có tướng
đoan nghiêm”. Do đó, chúng ta phải có trí tuệ, có phước đức mới có thể độ
chúng sinh được. Có trí tuệ, có phước đức, lại phải có tướng tốt; tướng
nếu không tốt, mọi người nhìn thấy khó mà khởi tâm cung kính. Như thời Đức
Phật còn tại thế, mọi người một khi được nhìn thấy ba mươi hai tướng tốt
trang nghiêm của Ngài, tự nhiên liền sinh tâm cung kính, Ngài rất dễ dàng
hóa độ. Cho nên người học Phật cũng có cầu nguyện, nhưng cầu nguyện ở đây
phải cầu nguyện thật tướng diệu pháp xuất thế gian, chứ không phải cầu
nguyện pháp hư vọng đối đãi của thế gian.
6.- Lìa tướng tu tất cả thiện pháp
Mọi người cần phải chú ý! Tuy nói chúng ta cầu nguyện,
song, phải cầu như thế nào cho hợp với Phật pháp đây? Phải cầu với nhận
thức không có tướng ngã, tướng nhân và tướng chúng sinh. Tuy là không
tướng, nhưng phải tu tất cả thiện pháp, nếu ngộ nhận rằng, đã không có
tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, từ đó không chú trọng đến nhân
quả, xả bỏ tu sự mà chuyên tu lý thì có hại cho bản thân bạn vô cùng.
Cần phải biết, Phật pháp giảng nói lý nhân quả sự lý cần
phải phối hợp hài hòa. Nếu thiên lệch về lý mà phế bỏ nhân quả, không tu
sự tướng nhân quả thì không thể nào đạt được chân lý thực tiễn của Phật
pháp. Tuy là không có tướng ngã, tướng nhân, lìa tất cả pháp, lìa tất cả
tướng, nhưng đứng trên mặt sự tướng cần phải tu tất cả các pháp. Muốn tu
được tốt, chúng ta phải có tinh tấn, thành khẩn tha thiết, trong tương lai
chúng ta sẽ cảm ứng quả báo vô vi. Quả báo vô vi thì không sinh, không
diệt, đó mới chính là Phật pháp thiết thực. Nếu lấy tâm hữu tướng tu hành
tất cả các pháp thì sẽ cảm ứng quả báo hữu vi. Tất cả quả báo hữu vi đều
là vô thường, sinh diệt. Tu thiện cảm ứng quả báo thiện, một khi hưởng hết
rồi lại hoàn không. Tạo ác nghiệp phải thọ ác báo, quả khổ thọ rồi cũng
trở nên không. Tất cả đều vô thường sinh diệt.
Chánh nhân vô thường, cho nên “sinh” vẫn mãi mãi sinh,
“chết” cũng vĩnh viễn chết. Chánh nhân đã như vậy, sinh không ngừng, chết
cũng không đoạn, sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, mãi mãi chịu khổ không
cùng tận. Chúng ta phải tu hành thôi, tại sao phải tu? Chỉ có tu thì chúng
ta mới có trí tuệ Bát Nhã thấu rõ các pháp vốn không có sở hữu, tuy không
có sở hữu, nhưng phải luôn tu hành sự tướng cho viên tròn, tôi không bảo
chư vị phải lìa xa chúng sinh trong thế gian để mà tu, vì Phật pháp vốn
không xa lìa thế gian. Đức Phật Bổn Sư cũng là chúng sinh, từ chúng sinh
mà thành tựu đạo quả. Do đó, chúng ta không thể xa lìa chúng sinh trong
thế gian mà tu hành được. Ngược lại còn phải rộng kết thiện duyên với họ
mới có thể độ được họ. Chư vị có hiểu không?
7.- Có không trong mộng đều là hư
giả
Phật pháp giảng “vô ngã” có thật là vô ngã không? Nếu tất
cả các pháp đều là vô ngã rồi thì tu hành làm gì? Nếu đã là vô ngã, thì
tạo nghiệp ác ai là người thọ khổ địa ngục? Nếu quả thật vô ngã, tu phước
tu thiện ai là hưởng thọ? Cho nên nói “hữu ngã” mới có thể thông được, nếu
nói “vô ngã” Đức Phật giảng nhân quả “nhân” ai tạo, “quả” ai hưởng?
Như vậy làm sao giảng cho chư vị tiếp thọ được đạo lý vô
ngã đây? Vì đây là đạo lý không dễ dàng gì nghe qua có thể hiểu được. Nay
xin đơn cử thí dụ cho bạn hiểu được. Chư vị! Chúng ta ai cũng có nằm mộng.
Trong mộng tất cả chúng sinh hữu tình, đại địa vô tình, chung quy có hay
là không? Nếu có thì không thể nói là không được. Tuy nói có, song tất cả
là hư giả, huyễn hóa không có thật. Nếu tất cả trong mộng đều là thật, khi
nằm mơ bạn thấy mình mua vé số trúng, khi tỉnh dậy, bạn có phát tài hay là
không? Trong mộng vui không có, khổ cũng không. Trong giấc mơ bạn thấy
mình bị rắn cắn, sợ quá liền thức dậy, bạn thấy thân thể mình có bị rắn
cắn hay không? Trên giường có con rắn nào không? Đó chẳng qua tự ý thức
của bạn khởi vọng tưởng mới thấy có thật, nói theo góc độ Duy thức học thì
những hình ảnh đó hoàn toàn do Độc Đầu Ý Thức tạo nên, tất cả đều là hư
giả không có thật, như vậy bạn làm sao nhận cái giả cho là thật được? (Lời
chú giải của người dịch: ý thức là thức thứ sáu trong tám loại thức tâm
vương, thức này tác dụng rộng sâu hơn năm thức trước và làm chủ năm thức
trước. Thức này duyên với các tâm sở, căn bản phiền não và tùy khởi phiền
não mà tạo nên nghiệp. Vì nó có tác dụng suy đoán, phân biệt và quyết định
đưa đến thể hiện hành động cụ thể của thân và miệng, hoặc bằng hành động
tình cảm như: yêu ghét, tham muốn… Về suy nghĩ làm việc phải thức này đứng
đầu, còn tính toán tạo việc ác thức này cũng hơn các thức còn lại. Cho nên
trong Duy thức có nói: “Công vi thủ, tội vi khôi”, chính là nói đến hoạt
dụng của thức này vậy. Thức này có đủ ba tính: thiện, ác và vô ký. Khi nó
duyên với 51 món tâm sở thì nó được chia thành hai loại: Độc đầu ý thức và
Ngũ câu ý thức. Ý thức độc đầu là ý thức hoạt động độc lập, không có cộng
tác với năm thức trước. Ý thức độc đầu lại được chia thành năm loại: 1. Ý
thức tán vị: là ý thức phát khởi trong trạng thái phân tán. 2. Ý thức
trong mộng: là hoạt động trong trạng mê ngủ, hoặc nằm chiêm bao. Vì trong
mộng mị, người ta thường nghĩ rằng thế giới trong mộng là thế giới có
thật, thật ra những cảnh tượng đó chỉ là những phát hiện của chủng tử độc
ảnh trong kho chứa A Lại Da thức. 3. Ý thức cuồng loạn: là ý thức phát
khởi khi điên loạn. 4. Ý thức trong định: là ý thức trong trạng thái thiền
định, ý thức này chỉ có những người tu thiền định mới có kinh nghiệm. 5. Ý
thức tán loạn: là ý thức bị loạn động phát khởi. Chúng ta làm việc quá
sức, cũng gọi là trạng thái lơ đãng, hoảng hốt… Hòa thượng Diệu Liên đang
nói đến loại thứ hai của ý thức độc đầu).
Theo bạn, những cảnh tượng trong mộng có hay là không? Nếu
nói có thật, thì trong mộng có sợ hãi, lúc tỉnh dậy tâm cũng vẫn còn sợ
hãi, trong mộng vui sướng lúc tỉnh lại tâm cũng còn vui sướng, như vậy cứu
cánh có hay là không? Kỳ thật “chẳng có cũng chẳng không”. Nói có nói
không đều rơi vào biên kiến, không còn trung đạo. Từ góc độ tục đế mà nói
thực tại của vạn vật vừa có lại vừa không. Nhưng đứng từ góc độ chân đế,
phải xa lìa thực tại, lìa ngôn ngữ thì đó mới là cứu cánh. Nếu chư vị có
thể hiểu được bản chất thực tại, lý giải được tính không hữu thật tướng
của vạn pháp, trì danh với cái nhận thức như thế chắc chắn vãng sinh
thượng phẩm.
Phật pháp nói tất cả đều vô ngã, là muốn nói tất cả vạn vật
không có tướng hay một cái ngã cố định, vì bản chất của vạn vật là duyên
sinh, do nhiều yếu tố hợp lại mà có không có gì gọi là thật ngã. Nếu bạn
không có hiểu được đều đó thì chứng tỏ bạn là người kém phước đức trí tuệ.
Vì vậy, bạn phải tu phước và trí tuệ, một khi phước trí viên mãn bạn sẽ
nhận thức được vạn vật là hư giả, thế gian là mộng huyễn. Trong kinh có
nói: “Vô ngã thì không có người tạo và người thọ, nghiệp thiện nghiệp ác
cũng đều không”. Do đó, kính khuyên chư vị đối với Phật pháp hãy đọc
nhiều, nghe nhiều, suy tư cho sâu, siêng năng lễ bái, và niệm Phật cho
nhiều thì nhất định đến một ngày nào đó quý vị tự nhiên sẽ đại ngộ.
8.- Cuộc sống Ta bà tất cả đều là mộng
Chư vị! Khi chúng ta ngủ nằm mộng liền sực tỉnh, khi tỉnh
rồi thì những cảnh mộng không có thật nữa. Song, hằng ngày tuy chúng ta
thức nhưng tất cả đều như nằm mộng, có lúc nào là thật sự tỉnh đâu! Thật
thương thay cho chúng ta, đã bao kiếp sống như mộng, mà cứ ngỡ mình đang
tỉnh, khổ đau chúng ta thọ nhận không ngừng mà vẫn chưa có ngày nào sực
tỉnh. Nói thì như vậy, thế nhưng là người tu hành chúng ta không nên sợ
khổ đau, mà phải luôn luôn dụng công niệm Phật. Một khi chúng ta được vãng
sinh đến thế giới Tây phương rồi, đến lúc đó chúng ta mới thật sự là tỉnh.
Thế giới Ta Bà tất cả vốn là giả danh, mộng huyễn, bản lai của nó vốn
không có khổ vui, mà khổ vui đó do chúng ta tạo nên rồi trở lại thọ nhận
lấy nó. Do vui khổ mà chúng ta đã tạo ra biết bao nhiêu tội chướng. Đến
một lúc nào đó chúng ta tỉnh ngộ rồi mới nhận được tất cả đều không có.
Chúng ta phải thấy tất cả mọi vật trên thế gian không có
cái gì trường tồn bất diệt, không có gì là có ngã, tất cả như mộng như
huyễn. Có nhận thức như thế mới có đầy đủ nhân duyên thành Phật. Nếu thấy
tất cả đều là thật thì mãi mãi chịu khổ đau. Tại sao? Vì thấy tất cả vạn
vật trên thế gian đều là thật, tất nhiên là thấy không biến đổi, không dao
động thì làm sao có thể dụng công tu hành và cũng làm sao có thể thành
Phật được. Đó là đạo lý quan trọng mà mọi người cần phải giác ngộ. Hiện
tại, chúng ta đã biết và đang tu thì làm sao chúng ta phải chứng được đạo
lý vô ngã đó. Có như thế mới có thể phóng hạ vạn duyên thành tâm niệm
Phật, cầu phước đức chân thật. Không nên nhàn rỗi, tán gẫu, suy nghĩ tà
vạy, chỉ thêm mang nghiệp chứ không có lợi ích gì. Phải giác ngộ vạn pháp
là vô ngã, chân thật dụng công tu niệm Phật, có như thế đời nay mới mong
được giải thoát. Cổ đức có nói: “Thân này đời nay không độ, biết có khi
nào độ được thân”.
NGÀY THỨ HAI
Trí tuệ Bát nhã đủ phước đức,
Niệm Phật vãng sinh trọng trì danh.
1.- Vô tướng là chân thật tướng
Mọi người đến đây dự Phật thất, chủ yếu là niệm Phật. Có
bốn phương pháp niệm Phật: Thật Tướng Niệm Phật, Quán Tưởng Niệm Phật,
Quán Tượng Niệm Phật và Trì Danh Niệm Phật. Tu Thật tướng niệm Phật phải
có trí tuệ Bát Nhã và sự hỗ trợ của phước đức. Thật tướng là vô tướng, vô
tướng là thật tướng. Vì phàm phu chúng ta có sự nhận thức mâu thuẫn, cho
vô tướng là không có gì, đã không có làm sao nói là chân thật được. Ví như
nhà bếp không có gạo làm sao nấu cơm, trong nồi không có cơm thì những
người hành đường lấy cơm ở đâu châm thêm cho các bạn? Phàm phu chúng ta
cho rằng, đã là vật có sự tướng thì nhất định là có thật, nói như vậy là
mê lầm. Phật pháp chân thật là không, vạn pháp tuy là giả tướng, song, bản
thể cứu cánh của nó là bất khả đắc, không thể thông qua hình tướng mà có
thể nhận thức được, phải trải qua quá trình văn, tư, tu mới có thể hội
nhập được, không niệm Phật, không giữ giới thì không thể lãnh hội được. Đó
là một điều xin chư vị cần phải chú ý!
2.- Y theo lời Phật dạy mà tín thọ phụng
hành
Bản thể của Phật pháp vốn thậm thâm vi diệu không thể nghĩ
bàn, nếu không có học hỏi nghiên cứu cho thấu đáo chắc chắn sẽ có sự nhận
thức mâu thuẫn. Đối với hạng người thế trí biện thông trong thế gian, họ
không thể nào tiếp nhận được Phật pháp. Thế trí biện thông là chỉ cho
những bậc học giả, hoặc những người có địa vị chức quyền, giàu sang phú
quý. Đối với những người này họ chỉ ưa luận bàn những triết lý sâu xa, cái
hiểu biết của họ không có dính dáng gì đến đời sống của họ. Họ là những
học giả có kiến thức uyên thâm về thế gian pháp. Nên khi nghe Phật pháp có
thể sinh ra hủy báng, hay chê bai, cho Phật pháp là cao xa, là huyễn hoặc,
là mê tín, là bi quan yếm thế, chán đời, chỉ toàn nói đến khổ đau. Đối với
hạng thế trí biện thông này, là người con Phật, chúng ta nếu có gặp họ
cũng không nên luận bàn, hay tranh biện làm chi cho vô ích. Vì sao? Vì từ
xưa đến nay, họ đâu có được phước duyên nghe Phật pháp như chúng ta. Từ
chỗ không nghe, không hiểu biết nên trong tàng thức của họ không có hạt
giống Phật pháp. Cho nên đối với họ, việc chê bai chánh pháp là điều không
thể tránh được. Hãy thương yêu họ vì họ không thể lãnh thọ được Phật pháp
để tu hành như chúng ta.
Người có thiện căn, mặc dù có nghe Phật pháp không hiểu
được, thế nhưng đối với họ vẫn đủ niềm tin để tiếp thọ Phật pháp, vẫn có
nhận thức Phật pháp vốn là điều chân thật, không phải là lời nói hư dối.
Họ vẫn khẳng định rằng, những lời Phật nói, tôi vẫn đủ đức tin và vẫn thực
hành. Tuy nhiên, nếu lý tôi không thể hội nhập được, tôi vẫn tin kiên cố y
theo sự để thực hành. Đối với hai hạng người trên, chúng ta nên nương theo
hạng người có thiện căn với Phật pháp để học hỏi và tu tập, không nên học
theo người thế trí biện thông mà bị dính mắc vào sở tri chướng, để rồi
muôn kiếp phải luân hồi sinh tử. Chỉ nên nương theo lời Phật dạy mà thực
hành.
3.- Mượn giả tu chân cần phải hiểu
lý
Tu trí tuệ Bát Nhã phải từ tướng hư giả mà khởi tu, từ
tướng hư giả mới có thể đạt đến tướng chân thật. Giả tướng là pháp hư
vọng, làm sao có thể đạt đến tướng chân thật được. Từ tướng hư giả bạn
phải liễu giải được tính duyên khởi “không” của vạn pháp. “Không” tức là
chân thật tướng. Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có nói: “Nếu thấy các tướng
là chẳng phải là tướng, tức thấy Như Lai”. Như Lai tức là chỉ cho thật
tướng pháp thân.
Chúng ta đắp tượng Phật nhằm mục đích gì? Nhằm giúp chúng
sinh nương nơi tướng tốt của Phật mà phát khởi tâm cung kính tu hành, nếu
không mượn tượng Phật hư giả thì chúng sinh nương ở đâu, lấy cái gì lễ bái
cúng dường, làm mô phạm cho chính mình. Tất cả đều phải từ tướng hư giả mà
khởi tu hành. Nói duyên khởi là hư giả, thế nhưng không thể xa lìa tướng
hư giả mà tu đạo xuất thế được.
Vì vậy, chúng ta cần phải phát tâm tu tập theo sự tướng.
Phải liễu giải được, thật tướng sự tướng của vạn pháp vốn là không, sự
tướng vốn là vô tướng, vô tướng chính là phước Bát Nhã, phước vô tướng.
Phước Bát Nhã vô tướng là gì? Đó là loại phước khi chúng ta tạo, mà không
có sự chấp trước. Ví như, khi làm phước, bạn còn thấy mình là người cho,
thấy người nhận, và chấp trước vào công đức đó, đó là bạn dụng tâm thế
gian tu thiện để cầu phước báo rồi. Phước báo của việc làm đó đương nhiên
là có, có gieo nhân tất phải có quả. Song, phước báo đó chỉ là phước báo
của trời người, là Đệ nhị nghĩa đế. Nếu bạn lấy phước đó mà mong liễu sinh
thoát tử, muốn thành Phật thì không thể nào có được. Như vậy, chúng ta
phải tu phương pháp nào mới có thể liễu sinh thoát tử? Chúng ta phải lấy
vô ngã tướng, vô nhân tướng và vô chúng sinh tướng, mà tu tất cả thiện
pháp, thì mới có thể thành tựu việc liễu sinh thoát tử.
4.- Tu thật tướng phải nương vào
trí tuệ
Như thế nào mới là thật tướng niệm Phật chân chính? Đứng về
phương diện duyên khởi mà nói, như đã nói ở trên, hư tướng là không có
tướng chân thật, tất cả đều do nhân duyên hợp lại mà thành. Bản thân của
nó không có tướng chân thật. Y theo lý duyên khởi nhất tâm chỉ quán. Đó là
niệm Phật thật tướng. Dù bạn có lý giải như thế nào đi chăng nữa, tuy
nhiên hư giả vẫn là hư giả. Thế nhưng vẫn phải tu cái chân thật, nếu nói
hư giả không có tu, thì hoàn toàn sai lầm, nếu không từ sự mà khởi tu thì
làm sao có thể nhập được thật tướng niệm Phật. Bạn không thâm nhập thật
tướng niệm Phật, làm sao có thể liễu đạt đến chỗ chân thật “phàm những vật
có hình tướng, tất cả đều hư vọng” (Kinh Kim Cang). Như khi bạn ăn cơm,
nếu bạn thấy cơm là hư giả, không chịu ăn, thì làm sao bạn có thể giữ gìn
thân để tu hành vãng sinh được. Tuy cơm là duyên sinh, là vô ngã, là giả,
nhưng nó có thể nuôi dưỡng thân xác của bạn. Bạn có thân thể khỏe thì mới
có thể tu hành tự lợi, lợi tha, và làm tất cả các việc. Cho nên, tuy là hư
giả nhưng nó cũng có công năng; nếu bạn cho nó là hư giả rồi không ăn, bạn
không ăn chắc chắn sẽ chết. Phật pháp giảng “không” là muốn cho bạn nhận
thức được nguyên lý chân thật. Nói có là muốn cho bạn tu tập tất cả các
thiện pháp, không xa lìa sự tướng. Do đó Tổ Huệ Năng có nói: “Phật pháp
tại thế gian, không lìa thế gian mà giác ngộ”. Chúng ta phải ở tại thế
gian mà tu hành mới có thể thành tựu các pháp.
Nếu nói các pháp xuất thế gian là hư vọng, nhưng thế pháp
của phàm phu có hư vọng hay không? Đương nhiên là càng thêm hư vọng. Chúng
ta cần phải chú ý: “Phàm những vật có hình tướng đều là hư vọng”, nếu bạn
có thể “thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức thấy Như Lai”. “Không”,
không phải là không có, cũng không phải lìa sự tướng mới là không. Bạn
phải liễu đạt tất cả các pháp chỉ là một khối duyên sinh giả tướng, không
có tính chân thật, như vậy mới là liễu giải được tính không. Tuy là không,
nhân ngã là giả tướng, thế nhưng phải y theo nhân quả mà tu hành, thuận
theo nhân quả mà tạo tác. Có nhân tất phải có quả, làm ác phải đọa tam đồ.
Vì vậy, lý sự cần phải hiểu rõ mới có đủ trí tuệ để tu niệm Phật thật
tướng. Trong thật tướng có vô tướng, trong vô tướng có thật tướng. Không
là Chân đế, có là Tục đế. Muốn hiểu rõ Chân đế, chư vị phải dụng công
nghiên cứu tu hành, mới có thể thấu hiểu được.
5.- Đệ nhất nghĩa đế cứu cánh là không
Nếu y theo đệ nhất nghĩa đế mà nói, thật tướng chân như cứu
cánh là không. Nói nhiều thì lại càng sai, nói đúng hơn “tâm suy nghĩ tức
là sai”. Tâm phải không có một mảy may trụ chấp vào bất kỳ một pháp nào,
ngay cả danh từ “không” cũng không trụ, cũng phải bỏ đi, đó mới gọi là
niệm Phật thật tướng, niệm đệ nhất nghĩa đế không, cũng là niệm mà vô
niệm, mọi người nghe qua khó mà hiểu được. Học Phật pháp điều đáng sợ nhất
là không hiểu, vì không hiểu sẽ đưa đến hiểu lầm, rồi sinh ra hủy báng.
Nhưng chúng ta nghe dần dần sẽ liễu giải được thôi. Nếu không giảng, thì
mãi mãi chư vị sẽ không thể hiểu được. Hiện tại trong khóa tu, chúng ta
không dùng phương pháp thật tướng niệm Phật, mà chỉ chú trọng trì danh
niệm Phật thôi. Niệm Phật thật tướng là chuyên nhờ vào tự lực, trong khi
đó căn cơ chúng ta ở đây còn thấp kém nên chỉ chú trọng trì danh niệm Phật
là chính, vì trì danh niệm Phật là nhờ vào tha lực. Thời đại mạt pháp ngày
nay, nếu không nhờ vào tha lực sẽ không bao giờ có ngày liễu sinh thoát
tử, chư vị nên chú ý điều đó!
Phật pháp giảng bản thể muôn vật không. Song, tất cả hiện
tại sự vật là có, giống như hư không, bản chất của nó vốn là không, song,
trời đất, sông núi, tất cả các tinh cầu, nhân vật đều trụ trong hư không,
từ hư không mà lưu xuất. Bản thể hư không, không có cái gì nên gọi là
không. Chính vì bản thể vốn là không đó, nó mới có năng lực chứa tất cả
các pháp. Không có một pháp nào mà không trụ trong hư không, nếu lìa
“không”, sẽ có pháp gì nữa không? Chúng ta hằng ngày theo tập quán, chỉ
cho rằng “không” là không có gì cả. Song, “không” không phải là không có
gì. Như chư vị xem, hiện tại trong niệm Phật đường này, bản chất là không,
nếu không có “không” thì làm sao có thể dung chứa được tượng Tam Thánh?
Làm sao có thể chứa đựng được những thứ trang nghiêm khác? Lại nữa, làm
sao có chỗ cho chúng ta niệm Phật, lạy Phật? “Không” chính mới có thể
dụng, “không” có không thì không có thể dụng. Do đó, chư vị nghe qua trí
tuệ có thể phát khởi rồi, hy vọng từ đây chư vị không còn ngộ nhận cho
“không” là không có gì nữa. Xin chư vị hằng ngày cứ lấy hư không quán sát
làm thí dụ, chắc chắn trí tuệ sẽ phát sinh. Một lúc nào đó, chư vị sẽ liễu
giải được nghĩa lý vi diệu chân không của Phật pháp. Chúc chư vị thành
công!
6.- Vô thường biến các pháp thành
không
Phật pháp giảng vạn pháp là vô thường. Thế giới có thành,
trụ, hoại, không; con người có sinh, lão, bệnh, tử; tâm có sinh, trụ, dị,
diệt, tất cả các pháp đều là vô thường. Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác, Phật
có dạy cho chúng ta rằng: “Quốc độ hư giả, mạng sống vô thường”. Quốc độ
thuộc về khí thế gian, con người thuộc về hữu tình thế gian. Tất cả vũ trụ
là khí thế gian, hữu tình thế gian đều ở trong vũ trụ. Vũ trụ dung chứa
tất cả vạn pháp, song vạn pháp thì không thường trụ, niệm niệm biến diệt,
từng giây từng phút sinh diệt không ngừng. Thân thể con người chúng ta,
các tế bào cũng sinh sinh, diệt diệt biến đổi trong từng sát na. Một người
không phải sống đến tám mươi, chín mươi tuổi chết rồi mới gọi là diệt, mà
ngay cả những khi còn nằm trong bào thai cũng đã sinh diệt không ngừng
rồi.
Chẳng những hữu tình là vô thường, mà tất cả vạn vật trong
vũ trụ, chỉ là giả danh tạm thời, không có thường trụ chân thật. Niệm niệm
biến diệt, đều là vô thường, đến một lúc nhất định nào đó cũng phải tiêu
diệt. Bạn thử tìm xem có một vật nào là trường tồn bất diệt không? Không
có một vật nào trên thế gian này trường tồn bất diệt cả. Tất cả đều biến
đổi không ngừng, bản chất của chúng thay đổi trong từng sát na. Trong một
phút thôi, thân thể của bạn, không hoàn toàn giống một phút trước đó nữa,
mà các tế bào nó biến đổi không ngừng. Tế bào này chết, tế bào khác lại
sinh, cứ luân phiên nhau thay đổi không có lúc nào dừng nghỉ. Vì thế, Phật
mới dạy cho chúng ta, thế gian này không có gì gọi là trường tồn cả, mà
ngược lại tất cả đều bị luật vô thường chi phối. Tất cả vạn vật đều phải
chịu quy luật tự nhiên đó là sinh, trụ, dị, diệt, hoặc thành, trụ, hoại,
không. Đối với chúng hữu tình thì phải chịu quy luật sinh, lão, bệnh, tử.
Do bản thể các pháp vốn là vô thường nên nó vốn là không, không có thật
ngã mà tất cả đều là vô ngã, là duyên sinh thôi.
Bản tính của chúng ta vốn thanh tịnh như thái không, nhưng
chỉ vì hiện tại chúng ta khởi nhiều vọng tưởng nên mới bị phiền não, khổ
đau, luân chuyển trong biển khổ phàm phu. Một khi còn ở địa vị phàm phu,
chúng sinh chắc chắn không thể nào tránh khỏi tạo nghiệp luân hồi. Còn nếu
chúng ta nhớ Phật, niệm Phật tức là chúng ta đang đi trên lộ trình tiến
đến quả vị Phật. Như vậy, tại sao cần phải niệm Phật? Vì niệm Phật là đình
chỉ vọng tưởng. Vọng tưởng dừng tâm liền thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì ba
nghiệp thanh tịnh. Ba nghiệp thanh tịnh, tức đồng Phật vãng sinh Tây
phương.
7.- Một câu Di Đà đầy đủ vạn đức
Bậc thiền giả tham thiền, cũng thuộc vô tướng. Mục đích của
người tham thiền là thể nhập được chân tính. Thông thường, họ lấy các câu
thoại đầu như: “Người niệm Phật là ai?”, “Trước khi cha mẹ chưa sinh ra,
ta là ai?”… Đứng về lý mà nói, tại sao cần phải tham thiền, hoặc tham
thoại đầu? Cổ đức có nói: “Vì căn tính con người vốn hạ liệt, không có đủ
trí tuệ, không có đủ năng lực thâm nhập được bản tâm, nên chư Tổ từ bi mà
lập ra các phương tiện như vậy”. Giống như người già cả, người bệnh hoạn
không thể tự mình nỗ lực đi một mình được, nên cần phải mượn cây gậy. Nhờ
vào cây gậy mới có thể đi được.
Hiện tại chúng ta đang niệm Phật, thì vốn “tâm là Phật,
Phật là tâm”. Thế nhưng, có một số người dám mạo muội cho tâm là Phật, vì
thế họ không cần phải niệm Phật hay tu hành làm chi cho nhọc xác. Song,
tuy tâm là Phật, nhưng bạn phải biết chúng ta hiện đang là phàm phu nghiệp
chướng rất nặng nề, tâm còn đầy dẫy ô nhiễm, cho nên cần phải niệm Phật.
Vì danh hiệu Phật A Di Đà vốn đầy đủ vạn đức trang nghiêm. Phật thường an
trụ trong pháp thân thanh tịnh, tất cả các nghiệp ác và tội chướng của
Ngài đều đã tiêu trừ, tất cả các công đức tu hành đều đã viên mãn. Nếu có
người nào dám mạo muội tự xưng họ đã là Phật rồi, chứng tỏ người này không
có thiện căn. Hạng người này dù có gặp được nhân duyên tốt cũng không thể
nào tu tập được, vì không có chủng tử của Phật pháp.
Chúng ta không cần phải lý luận làm gì sâu xa, mà chỉ cần
luôn biết an phận, lão thật niệm Phật. Cứ niệm Phật giống như đứa bé chăm
chú mớm sữa mẹ, ngày qua ngày đứa bé sẽ lớn dần. Cứ niệm Phật như ăn cơm.
Có ăn thân thể mới có sức khỏe để làm việc. Việc niệm Phật cũng như vậy.
Chúng ta không cần phải lý luận làm gì cho mất thời gian, chỉ cần có tin
sâu, nguyện thiết, hành chuyên, chắc chắn sẽ dần dần đạt được nhất tâm bất
loạn, tâm bất loạn, liền được vãng sinh. Kính thỉnh chư vị hãy chí thành
mà niệm Phật.
NGÀY THỨ BA
Chấp trì Thánh hiệu nhất tâm,
Đời nay quyết định không lầm vãng sinh.
Có người hỏi: “Chấp trì Thánh hiệu có thể
đạt được nhất tâm hay không? Niệm Phật có chắc chắn được vãng sinh hay
không?”. Trong Kinh A Di Đà yếu giải có nói: “Tán loạn xưng danh gieo
giống Phật, chấp trì danh hiệu đăng bất thối”. Bạn phải biết rằng Phật có
công đức không thể nghĩ bàn, danh hiệu A Di Đà Phật cũng có công đức không
thể nghĩ bàn. Nếu bạn niệm Phật tâm bị tán loạn sẽ tạo thành chủng tử. Như
trong Kinh Pháp Hoa có nói: “Nếu người tâm tán loạn, đi vào trong bảo
tháp, nhất tâm xưng niệm Nam Mô Phật, đều được thành Phật đạo”. Do đó có
thể biết, lấy tâm tán loạn mà xưng niệm danh hiệu Phật công đức còn thù
thắng, hà huống gì là chấp trì danh hiệu Phật được nhất tâm bất loạn, công
đức lớn lao biết dường nào!
Kỳ thật, có được vãng sinh Cực Lạc hay
không, tất cả đều phụ thuộc nơi bạn. Nếu bạn có hỏi tôi: “Tôi có thể vãng
sinh hay không?”. Tôi cũng xin thành thật trả lời với bạn rằng: “Điều đó
hoàn toàn phụ thuộc nơi bạn”. Chỉ cần bạn chân thật nhận thức và có quyết
tâm: “Thân này đời nay không độ, đời sau làm sao độ được thân”, đồng thời
tin sâu, nguyện thiết, cầu vãng sinh Tây phương thì nhất định đời nay
quyết định được vãng sinh. Cho nên, bạn không cần phải phân vân tán tâm
hay nhất tâm, chỉ cần bạn thường biết an phận, xưng niệm danh hiệu Phật
cho thành tâm là tốt rồi.
1.- Thường hằng chấp trì
đăng bất thối
Tóm lại, bạn chỉ cần “chấp trì” danh hiệu
Phật không quên là tốt rồi. Thế nào gọi là “chấp trì”? Giống như việc bạn
nắm một vật quý giá trong tay, chẳng những bạn phải nắm giữ cho chắc, mà
tâm phải trông chừng nó không cho nó rơi rớt, nếu rớt e rằng sẽ bị bể. Cho
nên đòi hỏi bạn phải chú ý, tập trung gọi là “trì”. Nói tóm lại, chấp trì
chính là “niệm niệm tương tục không gián đoạn”. Trước ngọ cũng niệm Phật,
sau ngọ cũng niệm Phật; ngày nay niệm Phật thì ngày mai cũng niệm Phật, đó
chính là chấp trì. Bình thường phải niệm, đến khi có bệnh hay gặp khó khăn
cũng phải niệm, cứ niệm Phật cho đến khi nào giải thoát hết mọi khổ nạn
mới dừng.
Nếu bạn không niệm Phật, tham, sân, si,
trong tâm của bạn sẽ khởi lên. Song, trong tâm bạn có niệm Phật thì tham,
sân không thể nào khởi lên được. Vì bản chất của tam độc không phải là
chân hữu, mà chúng chỉ là pháp huyễn tưởng, hư vọng mà thôi. Duy chỉ có
niệm Phật mới là công đức chân thật. Những pháp hư huyễn làm sao có công
đức được. Vì vậy, bạn không cần phải quan tâm đến việc tán tâm hay nhất
tâm, mà chỉ cần bạn tin sâu, nguyện thiết, chấp trì một câu A Di Đà Phật.
A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật… không kể là đi, đứng, nằm, ngồi,
hoặc may vá hay ăn uống. Từ sớm đến chiều, một câu Phật hiệu không cho
gián đoạn, dù có bệnh khổ hoành hành, hay dù gặp việc bất như ý, chỉ có
một lòng niệm Phật, bạn cần gì phải lo sợ có được vãng sinh hay không.
Như thế nào mới là người chân chính chấp trì
danh hiệu? Giống như có người khen bạn tốt, bạn đáp “A Di Đà Phật”, hoặc
có người đến phá hoại bạn, hoặc chửi bới bạn, bạn cũng đáp lại “A Di Đà
Phật”. Không kể gặp thuận cảnh hay nghịch cảnh, cứ một câu A Di Đà Phật
bạn chấp trì đừng cho gián đoạn, thì không bao giờ bị hoàn cảnh dẫn dắt,
lại giữ được chánh niệm vãng sinh Tây phương.
Không những bạn phải bảo trì mà còn phải
nhậm trì nữa. Nhậm tức là chỉ cho trạng thái tự nhiên, để tâm tự nhiên mà
niệm Phật. Lúc bình thường bạn chấp trì, dần dần lâu ngày sẽ tự nhiên trở
thành nhậm trì, tức là không niệm mà niệm. Chấp trì danh hiệu là “nhân”,
vãng sinh Tây phương là “quả”. Một khi bạn được sinh Tịnh độ rồi thì không
còn sợ thối chuyển nữa. Vì vậy, nếu có người nào hỏi tôi: “Tôi có được
vãng sinh hay không?”. Tôi cũng xin hỏi lại bạn: “Bạn có niệm Phật hay
không?”. Nếu bạn có niệm Phật thì có vãng sinh, bằng ngược lại không có
thì không được vãng sinh. Định luật nhân quả quy định rõ ràng như vậy.
2.- Có chí thành
tức có thể nhất tâm
Một câu Thánh hiệu chỉ cần bạn chấp trì
không gián đoạn. Tán loạn mặc cho tán loạn, cái tột cùng là tự nhiên có
thể đạt đến nhất tâm bất loạn. Nếu bạn không chấp trì Thánh hiệu, làm sao
có thể nói đến nhất tâm? Không có gieo nhân làm sao có quả cảm ứng? Có
người một khi niệm Phật liền muốn nhất tâm, điều đó làm sao nói dễ dàng
như vậy? Nếu bạn không gieo nhân dụng công niệm Phật thì làm sao cảm quả
nhất tâm? Điều đó chẳng qua là vọng tưởng mà thôi. Tôi nói như thế sẽ có
nhiều người dị nghị rằng, tôi không dạy quý vị niệm Phật nhất tâm. Nếu tôi
không dạy bạn niệm Phật nhất tâm là trái ngược với kinh điển, trái ngược
với lòng từ bi của cổ đức. Tôi dạy nhất tâm là có từng lớp.
Đứng về phương diện lý mà nói, phàm phu muốn
nhất tâm là phải có tâm tàm quý, có tâm chí thành. Nếu không có hai loại
tâm trên không nên nói đến nhất tâm làm gì cho vô ích. Trong Kinh Di Giáo,
Phật có dạy: “Người có hổ thẹn là có thiện pháp, người không có hổ thẹn
cùng với loài cầm thú không khác chút nào vậy”. Nếu bạn không có tâm hổ
thẹn và chí thành, đối với việc thế tục khó mà thành tựu, hà huống gì nói
đến việc xuất thế gian. Một người cần phải làm gì để đối trị ba độc phiền
não? Chỉ cần người đó dụng tâm chí thành và hổ thẹn mà niệm Phật, lạy
Phật. Con người chúng ta một khi khởi niệm đã là vọng tưởng rồi. Do đó,
chúng ta thời thời, khắc khắc phải có tâm cảnh giác. Một khi tham, sân, si
và các phiền não khởi lên, không nên tùy trước theo nó mà tạo nghiệp, cần
phải tức thời tỉnh ngộ, phát tâm hổ thẹn. Chớ nên đem tâm phiền não đối xử
với người, mà tự mình cần phải từ bi tha thứ cho người. Bạn phải nghĩ
rằng: “Bản thân mình đã không thể giúp người liễu sinh thoát tử, sao còn
lại tạo nhân đưa người vào tam đồ ác đạo?”. Chỉ cần bạn có suy nghĩ như
thế thì cũng đủ giúp bạn không tạo thêm ác nghiệp rồi.
3.- Thánh hiệu A Di Đà
diệt ngũ dục
Thế giới Ta Bà này là cả một thế giới đầy
dẫy ma quỷ. Những loại ma quỷ đó không phải là loại ba đầu sáu tay, lưỡi
dài, móng sắc… Ma quỷ tôi muốn nói đây chính là ma ngũ dục: tài của, danh
lợi, sắc đẹp, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm loại ngũ dục này được ví như rắn độc,
hổ dữ. Thế nhưng, rắn độc hay hổ dữ cắn chúng ta thì chúng ta chỉ có chết
một đời này thôi, còn nếu bị ngũ dục dắt dẫn thì chẳng những làm chướng
ngại cho việc vãng sinh, mà chúng còn khiến chúng ta mãi mãi đọa lạc trong
tam đồ ác đạo. Đây là một điểm mà mọi người cần phải đặc biệt lưu ý, không
thể không cảnh giác được. Hiện tại, chúng ta tu hành là đang cùng ma quỷ
giao chiến, là đang chiến đấu lại ma ngũ dục. Nếu chúng ta không anh dũng,
không quyết tâm hạ thủ nó, chắc chắn nó sẽ dẫn dắt chúng ta đi vào tam đồ.
Bình thường, đối với người cần phải từ bi.
Song, đối với thất tình lục dục không nên tùy thuận theo nó mà bị dẫn dụ.
Nhất là người học Phật tại gia, rất đáng thương, vì sống giữa trần lao,
nhìn trước ngó sau đều bị ngũ dục bao vây chi phối. Thảo nào trong kinh Ưu
Bà Tắc Giới Khinh, Đức Phật có nói: “Có hai hạng Bồ Tát: Bồ Tát tại gia tu
hành thì khó, Bồ Tát xuất gia tu hành thì dễ”. Bạn xem, hiện tại bạn về
đây tu tập, nhất cử nhất động đều an trụ trong câu niệm Phật, lại được
nhất tâm tu hành. Nếu có phạm oai nghi tế hạnh, hay nội quy hoặc phạm
giới, đều được người khác nhắc nhở. Chẳng những không tạo ác nghiệp mà còn
gieo thiện duyên nữa. Ngược lại, sống giữa đời thường, một khi bạn sai
lầm, có ai ở cạnh bạn để nhắc nhở đâu?
Người tại gia tu hành, thuận duyên thì ít mà
ác duyên lại nhiều. Do đó, bạn là Bồ Tát tại gia phải tự mình nỗ lực tu
hành. Đồng thời phải cúng dường Tam Bảo, rộng làm các phước lành. Nếu bạn
là người có gia đình thì trách nhiệm cũng lớn. Bạn phải cần tận lực hiếu
thuận, lại hành từ bi, mọi việc trước sau, trên dưới cần phải chu toàn.
Một khi mắc phải lỗi lầm, được người nhắc nhở nên vui vẻ đón nhận, không
nên oán trách. Đối với mọi việc cần phải nhẫn nhục, chịu thương chịu khó
mới có thể thành tựu được công đức.
Tôi thường nói, người xuất gia tu hành là
người đại trượng phu. Thế nhưng, nếu người tại gia chân chính tu hành cũng
là một người đại trượng phu, vì hằng ngày phải đối diện với ngũ dục,
chướng duyên khó khăn vô cùng. Vậy bạn phải làm gì để có thể thắng được ma
ngũ dục? Không gì tốt hơn là niệm Phật. Cứ một câu A Di Đà Phật, bạn chấp
trì không cho gián đoạn, không luận là tán tâm hay nhất tâm, chẳng những
tiêu trừ được ngũ dục mà bạn lại còn thành tựu đạo nghiệp, được vãng sinh
Tây phương nữa.
4.- Tình không trừ,
sinh tử khó thoát
Con người và trời đất gọi là tam tài. Người
xuất gia tu hành là Tăng. Phật, Pháp, Tăng được gọi là Tam Bảo. Con người
thuộc hạng cao quý nhất. Thế nhưng chỉ vì vọng tưởng điên đảo mà trở nên
thấp kém, quên mình vốn cao quý. Khi có người lôi kéo bạn làm ác, hoặc tìm
bạn làm phiền, việc đó không quan trọng, chỉ cần bạn niệm A Di Đà Phật,
mọi việc trở nên vô sự. Song, việc đáng sợ nhất là mọi người đối xử với
bạn tốt, từ đó phát sinh tình cảm luyến ái, luyến ái một khi phát sinh rồi
thì khó mà đoạn trừ được.
Vì vậy, phàm phu chúng ta nhất định phải phá
bỏ quan hệ tình cảm. Nếu không phá bỏ khó mà liễu sinh thoát tử được. Căn
bản sinh tử là ô nhiễm. Ô nhiễm cái gì? Đó là ngũ dục. Học Phật là việc
lớn của người đại trượng phu. Đối với quan hệ tình ái nam nữ, phải dùng
kiếm trí tuệ Bát nhã mà chặt đứt nó đi, có như vậy mới có thể liễu sinh
thoát tử. Nếu chỉ còn một mảy may tình cảm cũng vẫn còn bị trói buộc. Thế
nhưng, ai là người trói buộc bạn? Chính bạn chứ ai.
Tình cảm ở đây không đơn thuần là tình cảm
nam nữ. Nếu bạn chân thật muốn cầu giải thoát sinh tử, hành Bồ Tát đạo
không có chướng ngại, tôi thành thật bảo với bạn rằng, ngay cả quan hệ cha
mẹ, anh em cũng phải đoạn trừ. Đạo xuất thế gian hoàn toàn khác với đạo
thế tục. Thế tục người ta lấy tình cảm luyến ái làm trọng, chính sự luyến
ái đó là căn bản của sinh tử. Đạo xuất thế gian hoàn toàn ngược lại, là
con đường liễu sinh thoát tử, cho nên ái dục cần phải đoạn trừ. Đó là
“chân lý vô tình”, mọi người cần phải chú ý.
5.- Đạo Bồ Tát đại nhân
đại nghĩa
Đứng về phương diện thế tục mà nói, làm con
nhất thiết phải vâng lời cha mẹ, vì cha mẹ là người có công dưỡng dục. Bổn
phận làm con là phải hiếu thuận. Cha mẹ sai bạn làm gì bạn phải vâng làm
cái đó, có như vậy mới đúng với lời dạy của thiên kinh. Song, bạn muốn tu
hành để liễu sinh thoát tử thì đối với quan hệ gia đình bạn nhất định cũng
phải cắt đứt, bạn mới có thể hành đạo Bồ đề, đạo nghiệp mới viên thành
được. Bạn có độ cha mẹ phước tuệ viên mãn, mới là đại hiếu chân chính.
Bằng ngược lại bạn không có quyết tâm, một khi bạn đến chùa xuất gia, họ
sẽ tìm mọi cách đưa bạn trở về thế tục. Vì vậy, đòi hỏi bạn phải có ý chí
của kẻ xuất trần thượng sĩ, phải dũng mãnh cắt đứt tình cảm luyến ái đó,
mong ra mới có thể liễu sinh được.
Bạn phải suy nghĩ rằng, tự mình sinh tử là
việc nhỏ, cha mẹ bị sinh tử mới là việc lớn. Hơn nữa, không những cha mẹ
hiện đời của bạn bị sinh tử, mà còn cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp, đang chờ
đợi bạn đến độ cho họ. Do đó bạn phải có chí, phải có trí tuệ tư duy của
người xuất thế gian, không nên chỉ vì chướng ngại của cha mẹ hiện đời mà
làm ảnh hưởng đến việc liễu sinh thoát tử của cha mẹ nhiều kiếp. Tạm thời
hiện đời, bạn phải nhẫn nhục, chịu khổ chịu cực thì tương lai mới có giải
thoát. Nếu bạn không nỡ xa rời cha mẹ, thì bạn đã cắt đứt con đường Bồ đề
của chính mình, lại làm cho cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp tiếp tục chìm đắm
trong sinh tử. Bạn tha thiết liễu sinh thoát tử, phải chí thành mà niệm
Phật, phải xuất gia, đồng thời cắt đứt mọi quan hệ tình ái thì mới mong có
ngày ra khỏi sinh tử.
Mọi người về đây tham dự Phật thất, tất cả
đều có nghiệp chướng nặng nề, đều bị quan hệ tình cảm làm chướng ngại. Cho
nên, các bạn muốn trừ nó không gì hơn là câu A Di Đà Phật, niệm cho chí
thành khẩn thiết, nhất định nghiệp chướng sẽ tiêu trừ, lại thành tựu việc
vãng sinh Tịnh độ.
NGÀY THỨ TƯ
Sinh đại tàm quý phát tâm chí thành,
Như vậy niệm Phật mới đạt nhất tâm.
1.- Tâm
chúng sinh đầy đủ bảo tạng
Mọi người về đây tham dự Phật
thất. Sớm, trưa, chiều đều được nghe khai thị. Nói đến khai thị thật là hổ
thẹn, vì tôi không có đủ trình độ, chẳng qua lấy kinh nghiệm tu hành của
chính mình mà nói cho chư vị nghe thôi. Nếu chư vị thấy được thì giữ lấy,
không được thì bỏ đi. Đương nhiên nếu có sai lầm, xin chư vị chỉ giáo cho.
Hai chữ “khai thị” nghĩa là
gì? “Khai” nghĩa là mở, là hiển bày, hiển bày cái gì? Đó là hiển bày bản
tâm vốn thanh tịnh nơi mỗi người, mà bản tâm này cùng với chư Phật vốn
không khác. Người người trong tâm đều có bảo tạng, không phải chỉ riêng
Phật mới có. Chỉ vì bản tâm chúng ta bị trói buộc bởi tham sân, phiền não,
nên bảo tạng không thể chiếu soi được. Tuy nó không được phát hiện, nhưng
nó vẫn ẩn chứa trong tâm của mọi người, không bao giờ hư hoại. Điều đó
thật đáng tiếc cho chúng ta.
Đức Phật có vô lượng trí tuệ.
Ngài biết chúng sinh cũng có bảo tạng như Ngài, biết rằng chúng sinh không
thể biết được bảo tạng quý báu đó, do đó Đức Phật vì muốn cho chúng sinh
khai thị, ngộ, nhập Phật tri kiến nên từ trong Thường Tịch Quang mà hạ
sinh đến thế gian, từ bi “khai thị” cho chúng sinh, chỉ cho chúng sinh
thấy được bảo tạng quý giá của chính mình. Mỗi chúng sinh trong tâm đều có
đầy đủ gia tài quý báu đó, không cần tìm kiếm bên ngoài. Song, phải tự mỗi
người thâm nhập, phát huy bản tâm diệu dụng đó. Đức Phật không thể thay
thế cho chúng sinh làm hiển lộ chân tâm được.
Chúng ta hiện tại, tuy là
chúng sinh đang khổ não, song, chúng ta phải biết rằng bảo tạng của Phật
với mình vốn giống nhau. Đức Phật là người đã đạt được bảo tạng, mà tại
sao chúng ta vẫn chưa đạt được? Nói ra thật hổ thẹn, chỉ vì chúng ta quá
giải đãi, quá lười biếng, không có quyết tâm giải quyết sinh tử, cho nên
nói “ông tu ông đắc, bà tu bà đắc” là vậy. Nếu bạn không tu thì lấy gì để
đắc. Chúng ta ngày nay, có đủ thiện duyên nghe được Phật pháp rồi, đã hiểu
được lý đạo rồi, cần phải theo đó mà tu hành thì sự hiểu biết Phật pháp
mới có lợi ích. Chỉ có tu là tốt, nếu bạn không tu sẽ bị ác nghiệp làm
chướng ngại. Cho nên có nói “nghiệp lực không thể nghĩ bàn” là vậy. Song,
bạn cần phải biết bên cạnh nghiệp lực đó có Phật lực, lại càng không thể
nghĩ bàn hơn. Mọi người niệm Phật không nên sợ nghiệp chướng nặng. Chỉ cần
mọi người có tâm thành khẩn tha thiết mà niệm Phật, lão thật lễ lạy, đến
một lúc nào đó công phu thành tựu, nhân duyên đầy đủ, quả báo sẽ thành tựu
viên mãn.
2.-
Chuyển tâm phàm phu thành tâm Phật
Chư vị về đây đả thất, cần
phải khéo dụng hoàn cảnh thanh tịnh mà tinh tấn dụng công niệm Phật, không
nên như người thế tục quanh năm suốt tháng chỉ sống say chết ngủ trong
vòng giả danh mộng huyễn, cũng không nên quá yêu thương, chăm sóc cho thân
thể này. Tại sao? Chỉ vì lo cho nó mà chúng ta đã tạo biết bao nhiều tội
lỗi. Chính nó mà cha mẹ chúng ta đã khổ nhọc biết bao để thành tựu như
ngày nay, chúng ta phải mượn nó tinh tấn dụng công niệm Phật, để báo đáp
công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ. Hy vọng mọi người phóng hạ thân tâm, tập
trung dụng công niệm Phật. Có như thế công phu mới thành tựu, mới không
phụ công sức của chư vị bỏ hết việc nhà về đây niệm Phật.
Chúng ta tham dự Phật thất
cần phải khắc kỳ thủ chứng. Trước tiên, thân và tâm cần phải giữ gìn không
cho nó loạn động cũng không nên nói chuyện tạp, chuyện thị phi thế gian,
phải giữ gìn thân tâm, có như thế bảy ngày mới có thành tựu. Sở dĩ gọi là
“đả thất”, đứng trên mặt văn tự mà giải thích, “thất” là bảy, là chỉ cho
thức thứ bảy, nghĩa là chúng ta phải đem thức thứ bảy mà chuyển thành
“Bình Đẳng Tính Trí”. Vì sao? Vì thức thứ bảy là cội gốc của chấp ngã, là
đầu mối của tham, sân, si. Giả như bạn muốn bố thí, chính thức này sẽ cản
trở bạn, không cho bạn làm phước. Thức thứ bảy chấp vào kiến phần của thức
thứ tám là thức A Lại Da làm ngã. Ngoài ra, phải chuyển Tiền Ngũ Thức
thành Thành Sở Tác Trí, thức thứ sáu thành Diệu Quan Sát Trí, chuyển thức
thứ tám thành Đại Viên Cảnh Trí. Vì thế, tác dụng của Phật thất là chúng
ta đem tám thức mà chuyển thành bốn trí. Có như thế, mới biến đổi tâm phàm
phu thành tâm Phật được. Bạn niệm Phật chính là đang chuyển tâm phàm phu
của chính mình thành tâm Phật vậy.
Như thế nào là tâm Phật? Tâm
Phật chính là tâm thanh tịnh, tâm không thanh tịnh chính là tâm phàm phu.
Cho nên tâm Phật và tâm chúng sinh vốn không hai, chỉ có khác nhau ở chỗ
là thanh tịnh hay không thanh tịnh mà thôi. Tại sao tâm chúng ta không thể
thanh tịnh? Chỉ vì chúng ta không có tâm hổ thẹn và tâm chí thành mà thôi.
Một người làm việc ác như sát sinh, trộm cắp, tà dâm… toàn thân đều có tội
chướng. Song, chỉ cần người đó tâm sinh đại hổ thẹn, chí tâm sám hối, phát
tâm đại chí thành, nguyện không tái phạm, đồng thời ra sức làm việc thiện
thì tội chướng liền tiêu trừ. Cho nên nói: “Ngày ngày hướng phía Đông,
quay đầu là hướng Tây” hay “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Vì thế,
phát tâm đại hổ thẹn, đại chí thành chính là nương vào giới. Công đức niệm
Phật thật vô lượng, có thể khiến cho tội chướng tiêu trừ, một khi tội
chướng tiêu trừ tâm trở nên thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ khiến lục căn
được viên minh, biến thành lục thông tự tại. Nếu bạn có thể phát tâm đại
tàm quý, đại chí thành mà dụng công niệm Phật nhất định có thể vãng sinh
Tây phương, viên thành quả Bồ đề, rộng độ chúng sinh đồng vãng sinh Tịnh
độ
3.-
Vãng sinh Tây phương viên chứng tam bất thối
Vãng sinh đến thế giới Cực
Lạc có một điểm rất tốt là chứng tam bất thối: 1. Vị Bất Thối, 2. Hạnh Bất
Thối, 3. Niệm Bất Thối. Tức là một khi được vãng sinh đến Tây phương liền
chứng một lần ba loại Tam Bất Thối. Không giống như một số kinh điển nói
rằng chứng tam bất thối phải có thứ lớp.
Hành giả tu tập tại thế giới
Ta Bà phải phá trừ ngã chấp, đoạn phiền não kiến tư hoặc, chứng quả A la
hán, liền dự vào dòng Thánh, không còn rơi lại địa vị phàm phu đó là Vị
Bất Thối. Người chứng được sơ quả nhất định sẽ chứng được quả A la hán.
Chứng được sơ quả thì không còn rơi vào ba đường ác mà chỉ luân hồi trong
hai cõi trời và người mà thôi. Những người này tu chậm nhất là bảy đời mới
có thể thoát khỏi tam giới, tuy nhiên, nếu tinh tấn tu hành thì không nhất
định là bảy đời mà có thể ba hoặc năm đời. So sánh giữa họ và phàm phu
chúng ta, phàm phu chúng ta đáng thương vô cùng, vì chỉ lui tới trong sáu
nẻo luân hồi, nếu người nào làm ác, phạm giới thì lại rơi vào ba đường ác.
Người muốn chứng được Hạnh
Bất Thối cần phải phát tâm đại Bồ Tát, hành Bồ Tát đạo, đồng thời phải
đoạn trừ kiến tư hoặc và trần sa hoặc, trên cầu Phật đạo dưới độ chúng
sinh thì mới được xem thành tựu Hạnh Bất Thối. Người muốn chứng Niệm Bất
Thối thì niệm niệm phải an trụ trong thanh tịnh chân như, phải phá trừ vô
minh, đồng thời chứng được pháp thân thì mới đạt được Niệm Bất Thối.
Người được vãng sinh Tịnh độ,
không nhất định phải đoạn trừ nghiệp cảm, chỉ cần người đó có tin sâu,
nguyện thiết, nhất tâm niệm Phật, chỉ mười niệm tâm không vọng tưởng thôi
cũng được đới nghiệp vãng sinh. Một khi vãng sinh Tịnh độ người đó được
sống chung với các bậc thiện nhân và chư đại Bồ Tát, người đó nhất định sẽ
không còn bị duyên xấu lôi kéo, cho nên chứng được Vị Bất Thối. Lại nữa,
người được vãng sinh Tịnh độ do nhân duyên được gần chư Thánh nhân, nên
ngày ngày được nghe Phật pháp để tu tập, công phu ngày càng cao nên không
còn bị chướng duyên làm trở ngại nữa, liền chứng được Hạnh Bất Thối. Người
được đới nghiệp vãng sinh Tịnh độ, hóa sinh trong hoa sen, một khi hoa nở
liền thấy Phật, do nhân duyên được thấy Phật nên niệm niệm tâm mong cầu
thành Phật, do đó không có chướng duyên làm thối tâm hướng về quả Bồ đề vô
thượng nữa, người này liền chứng được Niệm Bất Thối. Thật vậy, khi người
nào được vãng sinh Tịnh độ sẽ chứng được tam bất thối, được vào hàng nhất
sinh bổ xứ, thật thù thắng vô cùng.
4.- Trì
niệm Phật Thánh hiệu Tất cánh bất thối
Trong kinh chỉ có đề cập đến
tam bất thối, chớ không có nói đến Tất cánh bất thối. Tất cánh bất thối là
gì? Đó là chỉ cho việc chuyên trì danh hiệu, viên mãn vô ngại, không thể
nghĩ bàn. Không luận là định tâm niệm, hay tán tâm niệm, có niệm hay không
niệm, chỉ cần bạn niệm tai nghe rõ ràng. Mặc dù bạn không niệm, nhưng danh
hiệu Phật cũng tự nhập vào tàng thức của bạn làm thành chủng tử không bao
giờ mất. Giả như đời nay bạn không được liễu sinh thoát tử, trải qua vạn
kiếp về sau, đến một lúc nào đó chủng tử này sẽ thành thục, chắc chắn bạn
nhờ vào công đức niệm Phật đó cũng được liễu sinh tử và thành Phật.
Niệm Phật công đức không thể
nghĩ bàn. Thí như vào thời Phật còn tại thế, một hôm Phật ở tại tịnh xá
của trưởng giả Cấp Cô Độc, có một ông già không biết từ đâu đến xin vào
gặp Phật để xin xuất gia, lúc đó đệ tử lớn của Phật là ngài Xá Lợi Phất
liền nhập định quan sát thử ông này trong vòng tám vạn đại kiếp trở lại có
nhân duyên lành gì để xuất gia hay không. Sau khi nhập định xong, ngài
liền bảo với ông già: “Ông không có thiện căn gì làm sao có thể xuất gia
được?”. Nghe xong ông già buồn bã, khóc lóc van xin thảm thiết. Phật nghe
được tiếng khóc, liền hỏi chúng đệ tử có việc gì mà ông già khóc lóc như
thế. Sau khi nghe chúng đệ tử trình bày sự việc, Đức Phật liền nói: “Ông
có thể xuất gia, vì tám vạn đại kiếp về trước ông có thiện căn”.
Thiện căn gì? Trước tám vạn
đại kiếp về trước, ông là người tiều phu chuyên đốn củi trên núi. Một ngày
nọ, ông bị cọp rượt, trong lúc nguy nan, vội leo lên cây, chỉ niệm “Nam mô
Phật”. Từ đó trải qua vô lượng kiếp, nay nhân duyên của ông đã thành thục
và có thiện căn để xuất gia, đồng thời về sau cũng có thể chứng được quả A
La Hán. Điều đó trong Kinh Pháp Hoa cũng được Phật nói đến: “Nếu có người
tâm tán loạn, đi vào trong bảo tháp, chỉ niệm Nam mô Phật, cũng được thành
Phật đạo”. Thật vậy, người trong thế gian cũng thế, tuy họ không có tin
Phật, thế nhưng khi gặp thiên tai, hoặc nguy hiểm, miệng niệm “A Di Đà
Phật” hay “Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát”. Chỉ cần niệm danh hiệu Phật một lần
cũng đã có chủng tử rồi, trải qua vô lượng kiếp và đến một ngày nào đó
nhất định thiện căn của họ thành thục, cũng có thể thành Phật như mọi
người, đó chính là Tất cánh bất thối.
Hiện tại chúng ta về đây tham
dự Phật thất, mỗi ngày có ít nhất là mười hai tiếng công phu, niệm Phật
tối thiểu là mấy vạn câu, lễ Phật năm trăm lạy, công đức không đó thể vãng
sinh được hay sao? Nhất định chúng ta được vãng sinh! Không cần phải niệm
đến nhất tâm bất loạn mới được vãng sinh. Trong kinh có đề cập đến hai
loại nhất tâm bất loạn. 1. Lý nhất tâm, 2. Sự nhất tâm. Người chứng được
sự nhất tâm tức được Vị Bất Thối, sẽ sinh vào Phương Tiện Hữu Dư Độ. Chứng
được lý nhất tâm tức được Niệm Bất Thối, sẽ được sinh vào Thật Báo Trang
Nghiêm Độ. Phàm phu chúng ta hiện tại không thể đạt đến cảnh giới sự và lý
nhất tâm. Song chỉ cần chúng ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” là đã được Tất
Cánh Bất Thối, sớm muộn gì chúng ta cũng được vãng sinh Tây phương. Do đó,
mọi người chỉ cần thành tâm mà chấp trì danh hiệu là có thể vãng sinh rồi.
Vì thế, không cần phải sợ mình niệm Phật có được vãng sinh hay không, tâm
tán loạn làm sao có thể vãng sinh? Quan trọng nhất là bạn có chấp trì danh
hiệu hay không, có đầy đủ tín, nguyện để niệm Phật hay không. Nếu bạn có
đầy đủ tín, nguyện thì nhất định bạn được vãng sinh. Được vãng sinh hay
không do nơi bạn vậy.
5.-
Thánh hiệu Di Đà là nước cam lồ
Thế gian thường nói: “Chính
thắng tà”. Song, cũng có lúc tà thắng chính. Giống như thời đại mạt pháp
hiện nay, tà thuyết của ngoại đạo rất thịnh hành, lắm lúc người học đạo
lấy giả làm chân, nhận chân cho là giả. Thế nhưng, tà thì luôn có giới
hạn, nó không thể nào thắng chân được. Tại sao? Tục ngữ có nói: “Thiện như
thân tùng, ác như loài hoa, hoa nở tùng không động, một ngày sương tuyết
đổ, thấy tùng không thấy hoa”.
Chúng ta là người biết đạo,
giống như nước nhất định sẽ tưới tắt được lửa, nhưng nếu nước chỉ có một
bát làm sao có thể dập tắt được một xe củi đang cháy. Thời đại mạt pháp
hiện nay, tà thuyết ngoại đạo rất thịnh hành, trong khi chúng sinh thiện
căn lại kém cỏi, nghiệp chướng lại sâu dày, lấy một ít nước thiện căn làm
sao dập tắt được ngọn lửa ác nghiệp sâu dày của nhiều đời. Vì thế, mọi
người khi niệm Phật mới có vọng tưởng, lúc lạy Phật mới có tạp loạn, đau
lưng.
Tuy là như vậy, song nhiều
nơi lửa rất lớn, nước không thể dập tắt được, chỉ có dùng nước cam lồ mới
rưới tắt được lửa lớn. Cũng vậy, khi chúng ta niệm Phật, có vọng tưởng tạp
loạn không nên sợ nó. Chỉ cần bạn niệm một câu A Di Đà Phật, A Di Đà Phật…
cứ câu này nối tiếp nối câu kia không cho gián đoạn, vọng tưởng làm sao
khởi lên. A Di Đà Phật chính là dòng nước cam lồ thanh tịnh, có công năng
tiêu trừ vọng tưởng trần cấu cho chúng sinh, giúp chúng sinh tiêu trừ tội
chướng từ vô thỉ cho đến ngày nay.
Mọi người về đây tham dự Phật
thất, cần phải dụng công tinh tấn mà niệm Phật, hãy dùng dòng nước cam lồ
A Di Đà Phật mà tưới tắt hết tất cả phiền não tham sân. Lửa có thể đốt ở
phạm vi sơn hà đại địa, chớ không đốt được hư không, cho nên chung quy
chánh luôn thắng tà là vậy. Tà có thể thắng một thời chớ không thể tồn tại
lâu dài được. Thiện giống như cây tùng, ác như loài hoa. Tùng tồn tại bốn
mùa, hoa chỉ nở được trăm ngày rồi cũng rụng. Cho nên, người làm ác không
bao giờ tồn tại lâu dài, gieo nhân ác rồi cũng gặt quả ác. Chúng ta là
người tu hành phải xót thương cho họ, vì bản tâm của họ vốn cũng có thiện
căn như chúng ta, chỉ vì một niệm vô minh, bất giác mà tạo ra tội ác như
vậy. Nếu có thiện duyên trợ giúp, chung quy họ cũng giác ngộ, xả bỏ tà mà
quay về chánh.
6.- Một
đời nhất tâm niệm Thánh hiệu có thể thành Phật đạo
Chư vị nghe qua mười phần
cũng đã có lòng tin được một phần. Nếu như biết mình thiện căn kém cỏi,
nghiệp chướng sâu dày, không có phước báo, nhất định phải niệm Phật cho
nhiều, tinh tấn mà dụng công thì nghiệp chướng mới có thể tiêu trừ, mới có
an vui được. Duy chỉ có niệm Phật cho nhiều nghiệp chướng mới tiêu, phước
tuệ mới tăng trưởng, một bát nước làm sao có thể dập tắt được một xe củi
đang cháy? Chúng ta cần phải có lòng tin kiên cố, tin rằng “chỉ xưng Nam
mô Phật, đều có thể thành Phật đạo”, quyết định đời nay vãng sinh để được
thọ hưởng vui sướng. Có nên cầu đời sau vãng sinh không? Một đời chúng ta
đã chịu biết bao thống khổ hà huống gì là phải trải qua tám vạn đại kiếp
như lão già Tu Bạt Đà La. Thọ sinh nhiều đời phải chịu nhiều khổ não. Vì
thế, chúng ta phải quyết định đời nay vãng sinh thôi, nhất định Phật A Di
Đà từ tôn sẽ tiếp dẫn, kính thỉnh chư vị phải tự mình quyết tâm vậy.
Mọi người mỗi ngày niệm Phật
đều có đọc hai câu kệ “Bốn mươi tám nguyện mong độ chúng, hoa sen chín
phẩm rước lên ngôi”. Vãng sinh Tây phương được chia thành ba hạng là
thượng, trung, hạ. Mỗi hạng lại chia thành ba phẩm, cộng lại tất cả là
chín phẩm. Do sự dụng công của chúng sinh có khác nhau nên mới có cảm quả
vị không đồng. Người niệm Phật được lý nhất tâm thì được vãng sinh thượng
phẩm, được sự nhất tâm thì sinh vào trung phẩm. Người niệm Phật tuy chưa
đạt nhất tâm, cũng có thể vãng sinh hạ phẩm. Người phạm tội ngũ nghịch,
thập ác, nếu có thể thành tâm niệm Phật sám hối, cũng có thể vãng sinh hạ
hạ phẩm. Đó là nhờ vào nguyện lực của Phật A Di Đà và đới nghiệp vãng
sinh, đó cũng là một điểm rất đặc biệt của pháp môn Tịnh độ. Đối với chín
phẩm, cũng được gọi là người gieo một phần nhân thì hưởng một phần quả.
Cũng như trong thế gian, người có tiền ít thì mua đồ rẻ, có tiền nhiều thì
mua đồ đắt, nếu có tiền ít mà muốn mua đồ dùng cao cấp làm sao có thể mua
được? Cho nên, người giải đãi nếu có thể tinh tấn niệm Phật đến nhất tâm
cũng được sinh thượng phẩm, đạo quả bồ đề viên mãn cũng có thể thành Phật
như Phật.
Do đó, mọi người cần phải chí
tâm lạy Phật, niệm Phật, thì có được vãng sinh hay không? Chẳng những được
vãng sinh mà còn được sinh ở phẩm vị cao nữa. Nên biết “thân này đời nay
không độ, biết đến khi nào độ được thân”. Hy vọng chư vị tinh tấn dụng
công mà niệm Phật, cầu sinh Tây phương.
NGÀY THỨ NĂM
1.-
Dừng tâm cầu phú quý, chỉ cầu Vô thượng đạo
Trước khi vào vấn đề xin chư
vị niệm tình tha thứ cho! Vì thời đại ngày nay là thời đại mạt pháp, cách
Phật diệt độ rất xa. Hiện tại Phật Di Lặc vẫn chưa đản sinh, nên chúng ta
hiện đang kẹt trong bát nạn. Thế nhưng, chư vị ngày nay được nghe đạo vô
thượng, gặp được pháp môn Tịnh độ để tu tập, lại gặp được đạo tràng thanh
tịnh như thế này, chứng tỏ chư vị là người đã có gieo nhân lành trong vô
lượng kiếp.
Chúng ta học Phật, điều quan
trọng nhất là phải có chánh tri kiến, người không có chánh tri kiến học
Phật cũng không có lợi ích thiết thực gì. Chánh tri kiến như kim chỉ nam
định hướng cho chúng ta con đường đi đúng đắn. Mọi người đã là người biết
đạo, là người niệm Phật tu hành, không nên giống người trong thế tục chỉ
cầu giàu sang phú quý, thăng quan phát tài, mà mục đích chúng ta học Phật
là cầu giải thoát khổ đau, thoát ly luân hồi sinh tử. Nếu người học Phật
với mục đích chỉ cầu phú quý thì chẳng khác nào ngoại đạo. Nói như thế,
Phật pháp có giảng cầu phú quý không? Đương nhiên, Phật pháp cũng có nói
đến việc cầu phú quý, song, cầu xuất thế gian mới là chân thật phú quý.
Giàu sang phú quý của thế
gian thường làm chướng ngại cho đạo nghiệp, chúng ta phải xả bỏ nó. Trong
kinh thường nói: “Giàu sang học đạo là khó”. Người giàu sang có tiền tài,
phú quý, có danh vọng. Tài và danh là hai loại trong năm thứ ngũ dục.
Chúng giống như hai sợi xích trói buộc con người, đưa con người vào đọa
lạc. Người có tài, có danh vọng thật khó xả bỏ để tu hành. Do đó, người tu
hành chúng ta chỉ cần thân thể mạnh khỏe, ăn mặc vừa đủ là được rồi. Nếu
như ăn mặc không đầy đủ, đương nhiên sẽ khó mà tu hành, vì ăn mặc không đủ
dẫn đến thân thể bất an, thân thể không an thì tâm khó an định, thân thể
không có an làm sao tu hành được.
Chúng ta sinh vào thời đại
ngày nay, phương tiện ăn mặc của chúng ta không đến nỗi thiếu thốn gì.
Chúng ta sinh được vào hoàn cảnh tốt như thế này, không cần phải tranh
danh đoạt lợi rồi. Vì cầu danh tranh lợi ắt hẳn làm chướng ngại cho việc
tu hành. Mọi người nhất định phải xả bỏ cái tâm mong cầu giàu sang phú quý
thì mới có thể học đạo được.
Trên sự thật, người giàu sang
phú quý đa số là làm ác, tạo nghiệp nhiều. Chúng ta cứ quan sát xem, người
giàu sang phú quý có được mấy người chân chính cống hiến cho xã hội, cho
đất nước? Có được bao nhiêu người giàu sang mà không kiêu ngạo, không mê
muội? Một người đã giàu sang rồi khó mà tránh khỏi sự tham đắm ngũ dục.
Tài, sắc, danh, thực, thùy là chỗ y cứ cho địa ngục, cho nên chúng ta
không nên có tâm mong cầu phú quý trong thế gian.
Phật pháp giảng nói điều cao
quý nhất là gì? Tu lục độ vạn hạnh là giàu sang nhất, giải thoát khỏi Nhị
tử là phú quý nhất. Nhị tử bao gồm những gì? Đó là Phân đoạn sinh tử và
Biến dịch sinh tử. Sinh sinh, tử tử trong lục đạo luân hồi gọi là Phân
đoạn sinh tử. Phàm phu tu đạo chứng được quả A la hán, tức được giải thoát
khỏi Phân đoạn sinh tử, chứng quả A la hán lại phát Bồ Tát tâm hành Bồ Tát
đạo, lại phá trừ vô minh chứng được pháp thân, Phật đạo viên thành, đó là
giải thoát khỏi Biến dịch sinh tử. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà,
cùng vô lượng chư Phật là những vị đã giải thoát khỏi Nhị sinh tử, tự do
tự tại qua lại trong chín giới cứu độ chúng sinh, đó mới là cao quý nhất.
Đức Phật được gọi là Thế Tôn,
là thầy của trời người, là do người thế gian tôn quý Ngài mà gọi tên như
vậy. Vì Ngài có đại từ bi, đại trí tuệ, có thể cứu khổ chúng sinh thoát
khỏi khổ não, đạt được an lạc giải thoát. Chúng ta thử xem người giàu sang
trong thế gian có bao nhiêu người làm được vậy? Chúng ta là người học
Phật, phải noi gương Phật mà học tập, phải hướng tâm cao thượng cầu đạo
xuất thế gian, đó mới là phú quý chân thật nhất, mới là người Phật tử chân
chính.
2.-
Tận tình thọ trì, chí thành xưng niệm
Mọi người học tập, tu pháp
môn Tịnh độ, trước tiên phải có đầy đủ tư lương tín, nguyện, hạnh. Trong
Kinh A Di Đà yếu giải, có nói: “Không có tin thì không thể phát nguyện,
không có phát nguyện thì không có thực hành”. Chúng ta tham dự Phật thất
niệm Phật bảy ngày chú trọng là thực hành. Phương pháp dụng công niệm Phật
phải như thế nào? Bình thường có bốn phương pháp niệm Phật. Hiện tại, tôi
xin đơn cử nói đến phương pháp được nhiều người thực hành nhất, một phương
pháp dễ thực hành, lại dễ thành công nhất, đó là phương pháp Trì danh niệm
Phật. Trì danh, thế nào là trì danh? Là trì niệm danh hiệu A Di Đà Phật
vạn đức hồng danh. Đương nhiên, trì niệm danh hiệu của các Đức Phật khác
công đức cũng không thể nghĩ bàn. Vậy thì tại sao Đức Phật Thích Ca lại đề
cử Phật A Di Đà là tôn quý nhất trong vô lượng chư Phật? Tại sao Ngài lại
khuyên chúng ta thành kính mà niệm danh hiệu Ngài? Vì Phật A Di Đà có
nguyện lực rất lớn, Ngài phát bốn mươi tám lời nguyện, độ tất cả chúng
sinh. Do đó, chúng ta không cần phải trì niệm bất cứ một danh hiệu Phật
nào nữa, để dễ chuyên tâm. Vì thế, cổ đức có nói: “Chuyên tu thì vạn người
tu vạn người được” là vậy.
Chúng ta khi dụng công niệm
Phật, không kể là niệm bốn chữ hoặc sáu chữ, phải niệm sao cho từng câu
từng chữ rõ ràng. Danh hiệu phải lưu xuất từ tâm thành kính, tai phải nghe
từng câu từng chữ rõ ràng, tâm phải lưu xuất chú ý vào danh hiệu. Một câu
danh hiệu niệm như vậy, nghìn câu vạn câu cũng niệm như vậy, ngày nay niệm
như vậy, ngày mai cũng niệm như vậy, năm này niệm như vậy, năm tới cũng
nên niệm như vậy, cho đến trăm năm cũng niệm như thế. Điều quan trọng là
tâm phải thường hằng, không được ngày nay niệm ngày mai lại phế bỏ, tâm
không chuyên nhất khó mà được vãng sinh, lại phí công sức nữa.
Chúng ta nên niệm bốn chữ hay
sáu chữ? Kỳ thật, niệm bốn chữ hay sáu chữ công đức đều giống nhau, không
phải niệm sáu chữ là tốt hơn bốn chữ. Trong kinh điển thường gọi người
chấp trì “A Di Đà Phật”, song, tại sao cần phải niệm thêm hai chữ “Nam
mô”? “Nam mô” có nghĩa là quy mạng, là quy y, cũng có ý nghĩa là “nhất
tâm”, chúng ta nhất tâm quy mạng A Di Đà, nếu bạn muốn niệm chậm thì niệm
sáu chữ, muốn niệm nhanh thì trì niệm bốn chữ, cái nào cũng tốt.
Chúng ta niệm Phật cũng phải
như ăn cơm vậy. Mỗi ngày đều phải ăn, từ khi lọt lòng mẹ đã ăn rồi, hiện
tại ngày nào cũng phải ăn. Vậy đến khi nào mới ngừng ăn? Chỉ có khi nào
Diêm vương đến rước bạn mới ngừng ăn thôi. Chúng ta niệm Phật cũng phải
giống như vậy. Phải niệm cho rõ ràng, niệm đến khi nào Phật A Di Đà đến
tiếp dẫn mới thôi niệm. Không nên cho rằng niệm một ngày, hai ngày, hoặc
một Phật thất, hay hai Phật thất là được, mà phải niệm Phật, niệm đến lúc
nào thành thục mới thôi. Giống như một em tiểu học, học thuộc lòng văn
chương, học một lần không thuộc, lại học hai lần, ba lần vẫn không thuộc
thì phải đọc đến trăm lần, học đến khi nào thuộc mới thôi. Chúng ta niệm
Phật cũng phải như vậy, niệm đến khi nào Phật A Di Đà đến tiếp dẫn mới có
thể dừng nghỉ được.
Chúng ta một khi được vãng
sinh rồi thì không còn lo sợ không thành Phật nữa. Phàm phu sinh đến Tây
phương, đầu tiên là tạm trú tại cõi Phàm Thánh Đồng Cư, sau đó lại đến ở
tại Phương Tiện Hữu Dư độ, Thật Báo Trang Nghiêm độ, sau cùng là tiến nhập
vào Thường Tịch Quang Tịnh độ mà thành Phật. Chúng ta tại sao cần phải
niệm Phật? Vì muốn được thành Phật, thành Phật để làm gì? Vì độ chúng
sinh. Do đó chúng ta cần phải phát Bồ đề tâm mà niệm Phật, hành Bồ Tát đạo
mà niệm Phật, có như thế mục đích mới chính xác. Nếu bạn xả bỏ tâm Bồ đề
mà niệm Phật tức là kim chỉ nam của bạn đã sai hướng rồi, một khi vãng
sinh Tịnh độ rồi cần phải trở lại Ta Bà để độ chúng sinh, độ chúng sinh
đến khi nào mới dừng nghỉ? Đến khi nào chúng sinh hết, giác hạnh viên mãn
mới thôi.
3.- Bối
trần hợp giác hướng Phật đạo
Chúng ta niệm Phật cứu cánh
là niệm cái gì? Cái được gọi là “tâm tức là Phật, Phật tức là tâm”, tâm
chúng ta niệm Phật A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm chúng ta. A Di
Đà Phật ở thế giới Tây phương, thế giới Cực Lạc cũng đều ở trong tâm chúng
ta, thậm chí ngay cả thế giới pháp tạng, hư không cũng là trong tâm chúng
ta. Hư không là không có giới hạn, tâm chúng ta cũng chính là vũ trụ hư
không. Vũ trụ là gì? Trên dưới, phải trái, bốn phương gọi là vũ, tức là
chỉ cho không gian, từ xưa đến nay gọi là trụ, tức là chỉ cho thời gian,
nói tóm lại vũ trụ tức là chỉ không gian và thời gian. Chúng ta nói tâm
bao trùm cả thái hư, tức là chỉ cho sự vô biên, vô thủy vô chung của tâm.
Vì vậy, tâm không phải do duyên sinh, nếu tâm do duyên sở sinh, thì cũng
phải tùy duyên mà diệt, tức là không chân thật rồi. Chân tâm chúng ta, tức
là chỉ cho tâm thanh tịnh, tâm này vốn cũng là Phật, vừa là chúng sinh, là
tâm chân thật không sinh, cũng không diệt.
Phật A Di Đà là người đã đoạn
trừ hết tất cả phiền não, không còn tạo nghiệp, thanh tịnh vô vi giải
thoát tự tại, chẳng những tự lợi đã viên mãn, mà công đức lợi tha của Ngài
cũng đã viên mãn. Nói tóm lại, phước tuệ của Ngài cứu cánh viên thành, đã
chứng được pháp giới tàng thân, cũng đã chứng được bản tâm thanh tịnh.
Thật ra, tất cả chúng sinh vốn có đầy đủ bản tâm thanh tịnh, cũng có năng
lực chứng được pháp giới tàng thân. Song, chỉ vì chúng ta không có ý chí,
không phát tâm tu hành, nên khiến cho bản tâm thanh tịnh của chính mình
không hiển phát được, chớ nào phải do một đấng thượng đế có quyền hạn
giáng họa cho chúng ta như vậy. Mà chỉ vì chúng ta không nỗ lực tu hành,
chỉ vì chúng ta quá ư giải đãi mới ra nông nỗi như thế.
Thân của Đức Phật là thân
được tạo nên từ các công đức thanh tịnh, còn thân chúng ta là thân do tạo
ác nghiệp mới có. Vì Phật là người bối trần hợp giác, tu tất cả các pháp
thanh tịnh, phàm phu chúng ta, ngược lại bối giác mà hợp trần, mê muội
trong trần lao. Trần ở đây chính là ngũ dục, là tài, sắc, danh, thực,
thùy, nh