Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tịnh Độ


 

 

 

 

 

Những chuyện

NIỆM PHẬT VÃNG SANH LƯU XÁ LỢI

từ năm 1995 -2000

 

Tịnh Hải

(sưu tầm)

 

 

 

 

Tri Ơn Ấn Tống

 

Tịnh Hải
18132 S. Third St.
Fountain Valley, CA 92708
E-Mail: LuuXaLoi@Yahoo.Com

Kính gởi

The Corporate Body of The Buddha Educational Foundation
11 F Hang Chow South Road Sec-1
Taipei, Taiwan, R0C

Kính thưa quí vị,

Tôi là một cư sĩ, tuy không phải là tu sĩ, nhưng tôi đã dành suốt 12 năm còn lại của đời tôi, với mỗi ngày 12 tiếng đồng hồ để học hỏi, nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Trong 12 năm này, tôi hầu như chấm dứt sự giao thiệp với bạn bè, hội hè, không đọc báo chí, không xem Tivi và nghe radio.

Trước tiên, tôi theo đuổi Thiền Tông, sau nghiên cứu Mật Tông và sau cùng tôi hiểu được Tịnh Độ Tông là nơi chốn mà 1000 người tu theo một cách nghiêm cẩn, 1000 người sẽ đắc sanh Cực Lạc Thế Giới.

Hai năm gần đây, mỗi ngày tôi chỉ thuần niệm Phật, trừ khi ăn cơm và nói chuyện. Tuy tôi chưa được Nhứt Tâm Bất Loạn, nhưng nhờ hiểu được: chuyên tâm niệm sáu chữ Nam-Mô A-Di-Đà Phật, tâm tôi không còn nhiều vọng tưởng mà tôi thông hiểu được các bộ kinh lớn của Đại Thừa.

Nhờ sự gia hộ của chư Phật, Bồ-Tát, Thiên-Thần Hộ-Pháp, tôi căn-cứ vào Kinh Quán Vô Lượng Thọ soạn ra pháp tu Quán Phật Trì Danh Tịnh-Độ Thiền.

Viết xong pháp tu này, tôi đưa trình cho Hòa-Thượng Thích-Đức-Niệm xem, và Hòa-Thượng đã hiệu đính.

Hẳn quí vị cũng biết, Hòa-Thượng Thích-Đức-Niệm là một Tăng-sĩ Việt-Nam du học tại Đài-Loan, đã đậu hai bằng Tiến-sĩ Phật học.

Tôi không có in pháp tu Quán Phật Trì-Danh Tịnh Độ Thiền thành sách, nhưng một trung-tâm chuyên thâu âm kinh sách Phật, mang tên Lotus Productions đã thâu băng cassette và đã phát hành trên 5000 cuốn. Hiện nay mỗi kỳ lễ Phật đều có người ấn tống để biếu Phật tử.

* * *

Kính thưa quí vị,

Hôm nay, tôi xin gởi đến quí vị bản đánh máy một quyển sách dầy trên 700 trang với trên 20 trang hình mầu, tựa đề "Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật Sưu Giải".

Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật được Hòa Thượng Thích-Thiền-Tâm dịch từ Hán văn, vào thập niên 90 và được chùa Đức Viên tại Hoa Kỳ ấn tống đầu tiên vào 1997. Nay Hòa Thượng Thiền Tâm đã viên tịch. (Xin gởi kèm bổn kinh này).

Hiện nay rất ít Phật tử Việt-Nam biết đến Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật nầy. Lần đầu tiên đọc kinh này tôi đã mừng rỡ đến rớt nước mắt và coi như là kinh gối đầu giường của tôi. Đức Bổn Sư Thích-Ca dạy pháp tu Niệm Phật thành Phật ngay trong đời, chứng đắc Niết-Bàn tại thế. Và Ngài huyền ký kinh này sẽ lưu lại 50 năm sau cùng.

Tôi thiển nghĩ, Phật tử Việt-Nam cần biết rõ kinh này để mà học tu. Vì vậy tôi đến thỉnh ý Hòa-Thượng Thích-Đức-Niệm, được Ngài khuyến-khích việc sưu giải kinh này. Trong khi sưu giải kinh, gặp 2 lần bí nghĩa, tôi đến trước bàn Phật thắp nhang cầu nguyện; nhờ sự gia hộ của Chư Phật, Bồ Tát, v.v... sau giấc ngủ tôi đạt ngộ một cách không sao giải thích được. Tôi đã viết rõ điều ấy trong sách này.

Sau khi sách viết xong, tôi mang trình cho Hòa Thượng Đức Niệm, Ngài xem xong và chứng minh. Tôi cũng đã gởi một bổn sách đến Hòa Thượng Thích-Minh-Tâm, Chủ-tịch Giáo-Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống-Nhất tại Âu Châu, và lời giới thiệu của Hòa-Thượng Thích-Minh-Tâm được tôi đăng nguyên văn trong sách này.

Thưa quí vị,

Một người bạn của con tôi ở Đài Loan khuyên tôi nên nhờ một tu sĩ viết thơ giới thiệu cho quí vị. Tôi không muốn làm điều ấy. Ngày xưa, khi Ngài Cưu-Ma-La-Thập dịch kinh, Ngài có nguyện rằng, nếu kinh Ngài dịch không sai với chánh pháp thì khi Ngài chết đi, sau khi thiêu xin cho cái lưỡi của Ngài còn nguyên vẹn. Tôi là kẻ hậu học, không sánh với bậc Thánh Tăng. Nhưng tôi đã thầm vái với Đức Từ Phụ A-Di-Đà rằng: "Nếu sách của tôi hữu ích cho chúng sanh thời Mạt pháp" xin cho được sự tiếp sức ấn tống và phát hành rộng-rãi khắp nơi.

Kính thưa quí vị,

Với thư này, tôi chánh thức xin quí vị, nếu được sự chấp nhận cho in, thì xin in với số in tối thiểu là 50.000 cuốn. Từ lâu các chùa Việt Nam, vì quá nghèo chỉ in vài ngàn cuốn. Kinh sách in từ lâu chỉ đủ phát các Tăng Ni và một số người nhiều thiện duyên, do nhờ họ thường xuyên đến chùa. Còn đa số, Phật tử chẳng biết gì về kinh sách Phật. Tôi đã nguyện, nếu sách tôi được in, thì xin cho được in số nhiều khiến khắp Phật tử chúng sanh đều được đọc và học tu. Với con số 50.000, tuy khá lớn, nhưng vẫn không đáp ứng đúng nhu cầu của các từng lớp Phật tử. Sách in quí vị có thể chia làm nhiều đợt gởi đến cho chúng tôi, cứ 6 tháng cho một lần nếu quí vị chấp thuận. Tôi sẽ kêu gọi sự ủng hộ của Phật tử ở hải ngoại giúp cho sự phân phối khi sách quí vị gởi đến.

Và để mọi Phật tử tu theo pháp môn Niệm Phật biết sách này, tôi sẽ nhờ các trang mạng lưới điện toán toàn cầu (internet) đăng lên và nhờ Trung Tâm Lotus Productions thâu vào băng cassettes để phổ biến rộng rãi.

* * *

Và kính thưa quí vị,

Ngoài ra, tôi cũng xin trình bày thêm. Cuối quyển Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật Sưu Giải này có một phần phụ lục. Đó là những chuyện Niệm Phật Vãng Sanh Lưu Xá Lợi. Nhờ sự gia hộ của Chư Phật, Bồ Tát, khi viết sách này tôi được biết có nhiều vị tu niệm Phật (từ năm 1995 đến năm 2000) sau khi vãng sanh, làm lễ Trà Tỳ, tìm được vô số xá lợi, và tôi thu thập đầy đủ chứng liệu cùng hình ảnh. Cũng nhờ sự gia hộ mà tôi đã áp dụng kinh để chứng thấy sự đắc quả vãng sanh Cực Lạc của quí vị ấy. Trong số 7 vị này, có Ngài Tuyên-Hóa, cùng Sư Bà Đàm-Lựu và Sa-di Thích Minh Đạt. Cư sĩ có 4 vị, trong số này có 1 nam và 1 nữ cư sĩ Việt gốc Hoa.

Trong khi chờ đợi toàn bộ sách Sưu Giải được quí vị in, thân nhân của quí vị đắc vãng sanh có nhờ tôi lo việc in riêng phần phụ lục với kinh phí do các thân nhân và Phật tử đóng góp. Tôi đang lo phần in này 10.000 ấn bản với tựa riêng là: "Những Chuyện Vãng Sanh Lưu Xá Lợi".

Thân nhân của vị nam Phật tử người Việt gốc Hoa hiện ở Chicago cho rằng tuân đúng theo hạnh tu của quí vị được kể trong sách phụ lục, thì chắc chắn được vãng sanh, nên họ đang tìm người nhờ dịch sang Anh và Hoa văn để họ ấn tống. Bởi nghĩ đến sự hữu ích ấy, tôi xin gởi kèm theo đây, bản đánh máy quyển "Những Chuyện Vãng Sanh Lưu Xá Lợi" để tùy quí vị suy xét. Nếu quí vị chấp thuận và cho in bao nhiêu, chúng tôi cũng chấp nhận, dù là cả trăm ngàn quyển.

* * *

Trước khi dứt lời, Phật tử Việt Nam và tôi xin nghiêng mình kính phục trước việc làm cao cả vì Phật pháp của quí tổ chức. Công đức của quí vị quả thật không thể nghĩ bàn.

Trân trọng kính chào
Tịnh Hải

Phụ chú: Nguyên văn thơ này, tôi xin mạn phép đăng trong sách Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật Sưu GiảiNhững Chuyện Vãng Sanh Lưu Xá Lợi để Phật tử Việt-Nam hiểu rõ từ tâm của quí vị đã ban pháp thí cao cả đến cho họ.

 

Vào Đầu 

Những năm gần đây bỗng có nhiều tin (có thật) về Người Tu-Niệm-Phật, sau khi chết làm lễ hỏa táng thấy có Xá-Lợi. Quả là chuyện khó tin đối với nhiều người. Tại sao?

Vì từ hồi chúng ta còn ở quê nhà, nghĩa là trước thời kỳ lưu vong 1975, chúng tôi không từng nghe nói, Phật tử tu hành sau khi lâm chung lưu lại Xá-Lợi. Trong thành phần Tăng sĩ thì có, nhưng cũng rất ít. Như trường hợp Xá-Lợi của Đại sư Ấn-Quang (Tổ thứ 13 Liên Tông), sau khi Trà-Tỳ 32 cái răng còn nguyên, Xá-Lợi ngũ sắc được vài ngàn hột. Chuyện nầy được trích trong "Đường về Cực-Lạc" tập 1 của Hòa-Thượng Thích-Trí-Tịnh. Nhưng có một điểm đặc biệt là vào thời trước, những vị tu được vãng sanh đều được Phật A-Di-Đà và Bồ-Tát báo trước ngày giờ. Như trong quyển "Đường về Cực Lạc" tập 2 dày trên 300 trang, đăng toàn những trường hợp vãng sanh biết trước ngày giờ Tây Phương Tam Thánh đến đón, với hào- quang chói sáng hương thơm ngào ngạt.

Theo Kinh Đại-Bát Niết-Bàn lúc Đức Phật nhập Niết-Bàn, sau lễ Trà Tỳ Xá-Lợi của Phật đựng đầy 8 ché vàng. Mỗi ché là một hộc và được phân chia cho 8 nước đem về xây Tháp thờ.

Kinh Đại-Bát Niết-Bàn tập 3 trang 785, Đức Phật bảo ngài A-Nan: "Nầy A-Nan! Nếu thấy Xá-Lợi của Như-Lai là thấy Phật...."

Có lẽ do lời nói trên mà nhiều người cho rằng chỉ có Phật mới có Xá-Lợi. Sự thật chẳng phải vậy. Chẳng những Đức Phật có Xá-Lợi mà bất cứ ai tu tinh-tấn đạt được sức định tốt, dứt được phiền não là dứt được nghiệp quá khứ, đều có Xá-Lợi (chúng tôi sẽ trình bày điểm nầy ở phần cuối bài). Chúng tôi khẳng định như thế vì điều nầy được nói trong tập 3 trang 772 Kinh Đại-Bát Niết-Bàn. Tuy nhiên, riêng đối với Đức Phật, dù khi Ngài chưa nhập Đại Niết-Bàn, móng tay và tóc của Phật vẫn được coi như là Xá-Lợi.

Tương truyền, lúc Đức Thế-Tôn vừa thành đạo dưới cội Bồ-Đề, có hai thương-gia người Miến tên là Đề-Lê Phú-Bà và Bạc-Lê-Ca đang trên đường đi ngang qua chỗ Đức Phật ngồi. Trong đêm, một trong hai người được một vị Trời là quyến thuộc trong kiếp trước, mách bảo rằng: "Đức Thế-Tôn vừa đắc quả Chánh Giác đang ngồi dưới cội Bồ-Đề, hai anh mau lo sắm sửa đồ cúng dường. Phước báu nầy sẽ đem lại cho hai anh sự an vui hạnh-phúc".

Sau lễ cúng dường hai thương-gia Miến qui y Phật. Đấy là hai người quy y Phật đầu tiên. Đức Phật liền cắt tóc và móng tay tặng để lưu niệm. Về sau Phật-giáo Miến-Điện xây Tháp thờ tóc và móng tay Phật coi như là Xá-Lợi Phật.

Theo Đại Đức Thích-Quảng-Chơn, tương truyền ngọc Xá-Lợi của Phật có thể biến hóa từ ít thành nhiều, từ nhỏ thành lớn, từ đục thành trong và tỏa sáng hào quang. Sự biến hóa kỳ diệu này phải do sự thành tâm lễ bái chí-thành của người có đạo tâm ... Thầy Abhinyana, một vị sư người Anh từng giúp đồng bào tỵ nạn tại Phi-Luật-Tân, khi đến thăm các chùa Phật-giáo Việt-Nam ở Hoa-Kỳ thường cúng dường một viên ngọc Xá-Lợi của Phật. Tôi tò mò hỏi Xá-Lợi ở đâu mà thầy có nhiều thế. Thầy Abhinyana nói rằng trong thời gian tu tập tại Ấn Độ thầy chuyên tâm lễ bái các Tháp Xá-Lợi của Phật và các viên Xá-Lợi đã hiện ra trong bình bát. Thầy có dặn thêm là nếu thờ Xá-Lợi mà không lễ bái thì Xá-Lợi sẽ biến mất (Trích Kỷ yếu Sư Bà Đàm-Lựu).

Trong Đặc San Từ Ân, thầy Đức Viên viết về Xá-Lợi của cố Sa-Di Thích-Minh-Đạt có nói: "Ai ngờ, theo kinh-nghiệm của đạo Phật, chỉ có những bậc Bồ-Tát, thật mới có Xá-Lợi".

Điều nầy Đại-Đức Đức-Viên nói không sai. Người tu Đại Thừa, dù Tăng-sĩ hay Cư-sĩ, như đã nói, tu tinh-tấn dứt hết phiền não là dứt được nghiệp quá khứ, có Xá-Lợi sau khi lâm chung.

Tại sao chúng tôi dám cả quyết Tăng-sĩ lẫn Cư-sĩ tu tinh-tấn và chí thành Niệm Phật sau khi lâm chung có Xá-Lợi!

Bởi trong Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật (H.T. Thích-Thiền-Tâm dịch, chùa Đức-Viên San José ấn tống) Đức Phật dạy:

Phẩm Thứ Nhứt:

Đức Phật nói: "Không có pháp nào hơn pháp Niệm Phật (trang 17). Đây là môn tu Đại Bát Nhã, Đại Thiền Định ... giúp chúng sanh mau chóng vượt qua địa vị phàm phu và tự chứng Pháp Thân từng phần (trang 19)."

Theo Kinh Đại Bát Niết-Bàn phải tu đến bực Thập Trụ Bồ-Tát mới thấy Pháp Thân. Ở đây Đức Phật nói, tự chứng Pháp Thân từng phần, tức tự chứng Bồ-Tát bực thấp. Phẩm Thứ Hai Phật nói rõ hơn.

Phẩm Thứ Hai:

Đức Phật nói: "Nếu có chúng sanh nào chí thành xưng niệm danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật, thì năng lực bất khả tư nghị của danh hiệu khiến cho Tâm thể thanh tịnh mà chúng sanh ấy không hề hay biết, tự nhiên chứng Sơ-Phần Pháp-Thân (trang 29)."

Chứng Sơ-Phần Pháp-Thân là chứng được quả Sơ-địa Bồ-Tát tức bực Hoan-Hỷ-Địa Bồ-Tát. Với Người Tu Niệm Phật do chí thành xưng niệm danh hiệu Phật, tự nhiên chứng quả mà không hề hay biết. Đây là điều đáng lưu ý. Đây là chúng tôi dẫn chứng lời Đức Phật nói trong Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật để chứng minh cho bài viết của Đại Đức Thích-Đức-Viên đăng trong Đặc San Từ Ân nói về Xá-Lợi của cố Sa-Di Thích-Minh-Đạt.

Bà Huỳnh-Ngọc-Tuyết ở Dallas tu xưng niệm danh hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật, bà tu chí thành và ráo riết, buông bỏ mọi tình cảm thế gian trong thời gian 1 năm, khi lâm chung có hào quang Phật và Thánh Chúng đến tiếp dẫn, có hương thơm bay tỏa khắp nơi, sau khi làm lễ Trà Tỳ lưu lại nhiều Xá-Lợi, được Pháp sư Tịnh Không (người Trung Hoa) gọi bà Huỳnh-Ngọc-Tuyết là Bồ-Tát.

Bồ-Tát có hai hạng: một là Bồ-Tát Sơ-phát-tâm, người mới tu Bồ-Tát đạo; hai là Bồ-Tát hành đạo. Hành giả bắt đầu tu xưng niệm danh hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật, được Phật và Đại Bồ-Tát gọi là Bồ-Tát Sơ-phát-tâm.

Phẩm Thứ Tư:

Phổ-Hiền Đại Bồ-Tát nói: "Danh hiệu Phật như chiếc xe khổng lồ, vì có thể chuyển vận hết thảy Bồ-Tát Sơ-phát-tâm nhanh chóng tới Phật địa (trang 69). Danh hiệu Phật như hóa thân bất tư nghị, vì luôn hiện thân Phật ngay nơi thân và tâm người xưng niệm danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật (trang 71)."

Bồ-Tát Sơ-phát-tâm, tuy mới bắt đầu vào Bồ-Tát đạo, nhưng đối với hành-giả tu xưng niệm danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật thì con đường không quá gian nan, vì danh-hiệu Phật có nhiều uy lực, thần lực, nhiều diệu dụng trợ giúp Bồ-Tát Sơ-phát-tâm; vì danh-hiệu Phật là cỗ xe khổng lồ có thể chở tất cả Bồ-Tát Sơ-phát-tâm đến cõi Cực-Lạc. Nếu hành giả chí thành và chuyên tâm xưng niệm danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật trong một thời gian ngắn, từ Bồ-Tát Sơ-phát-tâm sẽ trở thành Bồ-tát hành đạo không khó khăn; vì hóa thân Phật A-Di-Đà luôn luôn hiện nơi thân và tâm của người niệm Phật.

Nếu khi xưng niệm danh-hiệu Phật, hành giả luôn luôn tin tưởng hóa thân Phật A-Di-Đà đang ở trong thân và tâm mình, thì hiệu quả không thể nghĩ bàn.

Phẩm Thứ Năm:

Quán Thế Âm Đại Bồ-Tát nói: " Các pháp ở thế gian đều như huyễn. Tiếp tục xưng niệm danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật mà không phóng tâm theo huyễn cảnh, huyễn sự ... đó là danh-hiệu Phật đang tuôn chảy liên miên bất tận thành một khối lưu ly sáng rực, vằng vặc ... tròn đầy chiếu suốt mười phương (trang 89). Nhờ cần mẫn xưng niệm Phật hiệu mà hành giả hiện bày Tự Tâm Quang Minh Hiện Lượng, chuyển phiền não dữ dội thành Bồ-Đề Thật Tướng, đưa hành giả thẳng vào cảnh giới Thánh Trí Tự Chứng ... niệm niệm tương ứng với Đại Địa Bồ-Tát (trang 90)."

Như nơi Phẩm Thứ Nhứt, Đức Phật nói tu niệm Phật là tu Đại Bát-Nhã, Đại Thiền-Định nên phải biết các pháp thế gian đều là huyễn, tất cả đều không thật. Khi niệm Phật, các sự việc, các cảnh xảy ra trước mắt đều đừng phóng tâm theo nó, tự nhiên biết đó là huyễn sự, huyễn cảnh, thì danh hiệu Phật trở thành một dòng tâm tuôn chảy liên miên bất tận trong thân tâm hành giả; lâu ngày trở thành một khối lưu ly sáng rực, vằng vặc. Từ đó hành giả đã có hào quang mà tự mình chưa thấy; những phiền não dữ dội của hành giả đã biến thành Bồ-Đề Thật Tướng (Bồ-Đề là giác, Thật Tướng của giác là Pháp Thân) đưa hành giả vào cảnh giới Tự Chứng của bực Thánh, tương ứng với Đại Địa Bồ-Tát tức Pháp-Vân-Địa Bồ-Tát thuộc bực thứ mười: Thập Trụ Bồ-Tát.

Trong Kinh Đại Bát Niết-Bàn (tập 3 trang 763) Tu-Bạt-Đà-La hỏi Đức Phật:

- Bạch Thế-Tôn! Thế nào là Thật Tướng?

Đức Phật trả lời:

- Nầy Thiện-Nam-Tử! Tướng vô tướng gọi là Thật Tướng!

Pháp Thân không có hình tướng, nên trong Chứng Đạo Ca, Huyền-Giác Đại sư nói: "Thân không huyễn hóa tức Pháp Thân". Đó là cái thân "tướng vô tướng". Đó là Bồ-Đề Thật Tướng vậy!

Tất cả chúng sanh đều có hào quang, nhưng bị Vô-Minh phiền não che mờ, bực giác ngộ hết phiền não hào quang hiện bày.

Khoa-học ngày nay đã chế được máy chụp hình hào quang. Cư-sĩ Minh-Giác Nguyễn-Học-Tài, khi còn sanh tiền, tu niệm Phật mười năm được người con rể dùng máy chụp hình hào quang 6000 do hãng The Progen chế tạo, thấy có hào quang trên đỉnh đầu.

Phẩm Thứ Sáu:

Đại Bồ-Tát Quán-Thế-Âm nói: "Bất cứ chúng sanh nào thậm thâm tin hiểu và hoan-hỷ thọ trì danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật hoặc một ngày, hoặc bảy ngày, hoặc nhiều lần của bảy ngày, thì sẽ đắc mười pháp quyết định bất khả tư nghị (trang 111)."

Trong mười pháp quyết định có pháp thứ chín, nói: "Quyết định hòa hợp thân và tâm vào Kim Thân của chư Phật" (trang 112). Kim Thân tức là thân màu sắc vàng ròng của chư Phật. Khi niệm Phật hòa hợp thân và tâm vào Kim Thân Phật là hành giả đắc Pháp-Vân-Địa Bồ-Tát, tức niệm niệm tương ứng với Đại Địa Bồ-Tát mà Phẩm Thứ Năm đã nói.

Đến đây hành giả được đầy đủ Bát Nhã và Thiền-định, chắc-chắn được đầy đủ Xá-Lợi. Nếu hành giả hành trì thêm Thần chú tức đắc thêm pháp Tổng Trì Đà-La-Ni thì thật hoàn hảo. (Sư bà Đàm-Lựu vừa trì chú vừa niệm Phật nên Sư Bà đắc được Pháp Thân).

A-La Hán Cũng Có Xá Lợi

Bực Thánh đều có Xá-Lợi. A-La-Hán cũng là bực Thánh, nên A-La-Hán cũng có Xá-Lợi như Bồ-Tát và Phật.

Kinh Đại Bát Niết-Bàn (tập 3 từ trang 753) Đức Phật kể chuyện ông Tu-Bạt-Đà-La, một Phạm Chí, (tức Bà-La-Môn xuất gia), năm 120 tuổi tu tới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng định. Vị nầy tu tới đây, kẹt lại đây, mà tưởng mình đã được Nhứt Thiết Chủng Trí, và tưởng sẽ đắc quả Niết-Bàn.

Lúc đó vào ban ngày, chỉ còn chờ tới nửa đêm là Đức Phật nhập Đại Niết-Bàn. Do duyên quá khứ, Đức Phật muốn độ Ông Tu-Bạt-Đà-La là người cuối cùng trước khi vào Đại Niết-Bàn nên sai A-Nan kêu Tu-Bạt-Đà-La đến.

Nghe Đức Phật nói pháp thậm thâm vi diệu, Tu-Bạt-Đà-La được pháp nhãn thanh tịnh bỏ tà kiến xin xuất gia. Đức Phật chấp nhận. Tu-Bạt-Đà-La vui mừng hớn hở, râu tóc tự rụng, thành tướng Sa-Môn, dứt hết phiền não được quả A-La-Hán.

Ngài Tu-Bạt-Đà-La dứt hết phiền não được quả A-La-Hán. Đây là Kinh Đại-Bát Niết-Bàn. Trong Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật Ngài Quán Thế Âm nói: "Chuyển phiền não dữ dội thành Bồ-Đề Thật Tướng" được Pháp Thân.

Phiền não quan trọng như vậy đó. Xin quí vị lưu ý chữ phiền não, chúng tôi sẽ trở lại ở đoạn sau.

Sau khi được quả A-La-Hán, Tu-Bạt-Đà-La xin Đức Phật nán lại đừng nhập Niết-Bàn. Đức Phật nín lặng chẳng hứa. Tu-Bạt-Đà-La bèn khóc thảm thiết và xin Phật cho được chết trước. Bạch xong Tu-Bạt-Đà-La liền ở trước Phật mà nhập Niết-Bàn.

Đức Phật bảo đại chúng: "Tu-Bạt-Đà-La đây đã từng cúng dường hằng hà sa chư Phật, đã trồng sâu căn lành, do sức đại-nguyện ... Đại chúng phải nên cúng dường thi hài của ông ấy và xây lập tháp miếu".

Đại chúng y lời Phật dạy, dùng gỗ thơm Trà Tỳ thi hài của Tu-Bạt-Đà-La. Trà Tỳ xong, đại chúng tìm thấy Xá-Lợi, dựng tháp cúng dường.

Tu-Bạt-Đà-La đã từng cúng dường hằng hà sa chư Phật, đó là nguyên nhân trước khi nhập Đại Niết-Bàn, Đức Phật ráng độ cho Tu-Bạt-Đà-La được quả A-La-Hán.

Dưới đây là chuyện những vị tu Niệm Phật, tại Hoa-Kỳ và Canada, sau khi lâm chung làm lễ hỏa táng, lưu lại Xá-Lợi trong thập niên 1990 đến năm 2000. Trong hàng Tăng-sĩ có Hòa-Thượng Tuyên-Hóa, Sa-Di Thích-Minh-Đạt và Sư Bà Đàm-Lựu. Cư sĩ có bà Diệu-Âm Huỳnh-Ngọc-Tuyết, bà Diệu-Hưng Nguyễn-Thị-Tân, cụ bà Quảng-Khánh Huỳnh-Thị-Dền và ông Chúc-Quý Lư-Nhiên-Phú.

Nhưng với người Việt-Nam-Tu-Phật, nói đến Xá-Lợi không ai có thể không nhắc đến viên Xá-Lợi độc đáo nhứt trong đạo Phật. Đó là Trái Tim Xá-Lợi Bất Diệt của Bồ-Tát Thích-Quảng-Đức.

Do vậy, chúng tôi xin cống-hiến cho quí vị về viên Xá-Lợi Đặc Biệt của Bồ-Tát Quảng-Đức, đó là Trái Tim Bất Diệt với tài liệu đặc biệt chưa từng công bố. Đây là chứng minh sự đắc quả của một bực chân tu

 

Sự tích Hoa Sen 
Ngàn Cánh Hoa Sen Ngàn Cánh

 

Hình chụp tại chùa Diệu-Thông, Cao-Hùng, Đài-Loan, lúc Hòa-Thượng Quảng-Khâm viên-tịch. Một đệ tử tại gia chụp hình lưu niệm, còn dư một phim, thấy ánh trăng liền đưa máy lên "chụp chơi". Khi rửa hình thì không thấy mặt trăng mà có hình hoa sen nhiều cánh như trên, chứng tỏ "HOA SEN của Ngài Quảng-Khââm đã nở".

HOA SEN thật độc-đáo, chỉ có HOA SEN nầy mới có thể ngồi vào khi vãng sanh cực-lạc.

Hình HOA SEN nầy được Tịnh-Trung Học Viện Dallas, Texas, biếu cho Phật tử. Trong lời chú-thích có sáu chữ "Phật Pháp Bất Khả Tư Nghị". Bên góc trái có ghi tên nhà in, địa chỉ và số điện thoại để bảo đảm giá trị; nhưng rất tiếc không thấy rõ chữ mà chỉ thấy số điện thoại: 02-9292-807 và 02-9248-720.

Theo sách Cẩm Nang Tu Đạo, HT Quảng Khâm viên tịch vào năm 1986, đại thọ 94 tuổi. Ngài theo Pháp Môn Thiền Tịnh Song Tu, từng ngồi Thiền nhập đại định và mỗi lần nhập định kéo dài nhiều tháng. Khi viên tịch Ngài ngồi giữa chánh điện, đại chúng đồng thanh niệm Phật, Ngài nhìn gật đầu mỉm cười, rồi nhắm mắt lại an nhiên theo tiếng niệm Phật mà ra đi.

 

Trái Tim Xá Lợi Bất Diệt
 của Bồ-Tát Thích Quảng Đức

Hòa-Thượng Thích-Quảng-Đức đi tu từ thuở nhỏ ở miền Trung. Ngài sống cuộc đời giản dị và hoằng pháp độ sanh bằng phương cách xây dựng nhiều chùa. Trong cuộc đời Ngài đã xây cất tất cả 31 ngôi chùa, gồm 14 chùa ở miền Trung và 17 chùa ở miền Nam.

Trong cuộc tranh đấu Phật Giáo chống chánh sách Kỳ thị Tôn Giáo và gia đình trị của chế độ Ngô-Đình-Diệm vào mùa Phật Đản 1963, là thời kỳ sôi nổi nhứt, Hòa-Thượng Thích-Quảng-Đức về ngụ tại chùa Ấn-Quang để tiện bề tham gia cuộc tranh đấu.

Ngày 30-5-63, Hòa-Thượng tham gia cuộc biểu tình tại công trường Lam Sơn trước Quốc Hội, tới 5 giờ chiều về chùa Xá-Lợi dự cuộc tuyệt thực. Dịp nầy Hòa-Thượng Thích-Quảng-Đức trình lên Ủy-Ban Liên-Phái Bảo Vệ Phật-Giáo một bức Tâm thư xin tình nguyện tự thiêu. Thư đề ngày 27-5-63. Ủy-Ban Liên-Phái không chấp nhận sự tự thiêu.

Nhưng đến ngày 10-6-63, tình hình không được sáng sủa, chẳng những vậy mà Phật giáo tại Huế đang bị lâm nguy. Lúc nầy Hòa-Thượng đang tụng Kinh Pháp-Hoa tại chùa Ấn-Quang. Vào 8 giờ tối 10-6-63, Thương-tọa Thích-Tâm-Châu và Thiện-Hoa đang họp ở chùa Xá-Lợi. Quí vị cho mời Đại Đức Thích-Đức-Nghiệp tới chùa để nhờ Đại Đức chuyển lời hỏi Hòa-Thượng Quảng-Đức về tâm nguyện tự thiêu nếu Hòa-Thượng không thay đổi thì tổ-chức ngay cuộc tự thiêu vào ngày hôm sau.

Hòa-Thượng Quảng-Đức trả lời Đại Đức Đức-Nghiệp rằng Ngài vẫn quyết tâm hy-sinh cho đạo pháp, tự thiêu để cúng dường Tam Bảo. Trả lời Đại Đức Đức-Nghiệp xong, Hòa-Thượng bình thản như không có chuyện gì, lúc ấy là 7 giờ 30 đêm 10-6-1963, Ngài lên chánh điện Chùa Ấn-Quang chủ lễ khóa Tịnh-Độ thường ngày. Buổi lễ cuối cùng ấy có Đại Đức Huệ-Thới đi chuông, Đại Đức Đức-Niệm đi mỏ.

Đại chúng hiện diện đều không ai biết một biến-cố quan trọng sắp xảy ra. Sau khi Phật tử về hết, tại giữa chánh điện, Hòa-Thượng Quảng-Đức mới tâm sự với hai Đại Đức rằng:

- Vì đạo pháp tôi xin hiến thân giả huyễn nầy để cho Pháp Nạn được giải thoát. Ngày mai nầy tôi sẽ từ giã cõi đời, hẹn gặp hai Thầy ở cảnh giới Cực Lạc của Đức Phật A-Di-Đà. Sau khi tôi tự thiêu để hiến dâng cho Phật Pháp, xin các Thầy lưu ý, vì tôi không thể trực tiếp nói điều này với các Ngài lãnh đạo:

Một là, sau khi thân tôi thiêu thành tro bụi sẽ còn lưu lại một vật gì đó cho đời, thì đó là kết quả tốt đẹp về lời Phát nguyện của tôi hiến dâng thân này cho Đạo Pháp và đó cũng là thành quả đời tu hành của tôi.

Hai là, khi tôi thiêu, nếu tôi chết trong tư thế nằm ngửa thì nguyện vọng Phật-Giáo sẽ thành công, các Thầy cứ tiếp tục tranh-đấu. Ngược lại nếu tôi chết nằm sấp thì quý Thầy nên tìm cách đi ra các nước Miên, Lào, Thái, v.v... để mà tu, nguyện vọng tranh đấu của Phật-Giáo sẽ không thành.

Ba là, ngày di quan tài của tôi, nếu các Thầy có cảm thấy triệu-chứng gì lạ lạ, có thể là ngủ mộng thấy, có thể là cảm giác hay triệu chứng gì thì nên đình chỉ ngay, dời việc di quan qua ngày khác.

Nghĩ lại ba điều Hòa-Thượng Quảng-Đức nói đêm trước ngày tự thiêu đều hiển ứng:

1. Thân thể Ngài thiêu thành tro, mà quả tim của Ngài vẫn còn đỏ hồng như trái xoài chín dưới sức nóng 4.000 độ; nóng đến nỗi lò thiêu An-Dưỡng-Địa đã phải nứt nẻ.

2. Khi ngọn lửa thiêu thân vừa lặn tắt, ba lần cuối đầu xá về hướng Tây, liền ngay khi đó, Ngài bật ngửa nằm im trên mặt đất giữa ngã tư đường Phan-Đình-Phùng và Lê-Văn-Duyệt trong tiếng niệm Phật vang dội của hàng trăm chư Tăng Ni đang ngồi vây quanh chấp tay thành kính. Tư thế viên-tịch đúng như Ngài huyền ký lại, làm cho Tăng tín đồ tin tưởng vào sự thành công nguyện vọng bình đẳng tôn giáo mà quyết tâm dấn thân hơn. Chung cuộc chánh nghĩa đã thắng.

3. Ai sống trong thời 1963, nếu có lưu tâm đến thời cuộc đều nhớ ngày di quan của Hòa-Thượng Quảng-Đức ra An-Dưỡng-Địa để thiêu. Theo chương trình là 10 giờ sáng. Dân chúng ở hai bên đường Phan-Thanh-Giản và đường Minh-Mạng lập hương án để tiễn đưa Ngài; nhưng mọi người đợi mãi đến hơn 12 giờ trưa mà vẫn chẳng thấy đâu. Sau đó mới nhận được thông báo của Ủy-Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật-Giáo cho biết dời ngày di-quan. Dân chúng lúc bấy giờ vô cùng bàng-hoàng kinh ngạc. Khoảng 2 giờ chiều hôm ấy, người ta thấy năm bảy người mặc sắc phục đen lặng lẽ từ dưới bờ ruộng bước lên gở những quả mìn đã được chôn từ lúc nào trên quãng đường đất dẫn đến lò thiêu của An-Dưỡng-Địa.

 

Sau 3 lần cúi sấp, nhục thân của Bồ-Tát Thích-Quảng-Đức đã bật ngửa ra sau đem đến niềm tin thắng lợi cho cuộc tranh đấu vì đạo pháp của toàn thể Tăng tín đồ Phật-Giáo.

*

Nói về Hòa-Thượng Quảng-Đức, người sống rất giản-dị thật bình dân. Lúc nào tay cũng lần chuỗi, niệm Phật với gương mặt thản nhiên và miệng luôn luôn như mỉm cười. Những ngày Ngài ở chùa Ấn-Quang để chờ cấp lãnh-đạo Phật-Giáo chấp thuận tâm nguyện tự thiêu, Ngài ăn cơm với Tăng chúng, chứ không ngồi ăn cùng bàn với Ban Giám-đốc Phật-Học Đường Nam-Việt Chùa Ấn-Quang, hay các vị lãnh đạo Phật-Giáo.

Nói như thế để chúng ta thấy rằng, người mang tâm nguyện Bồ-Tát vào đời hành đạo bao giờ cũng thể hiện đời sống bình dị, pháp tu đơn giản của Phật dạy. Pháp tu đơn giản mà chúng tôi muốn nói ở đây chính là Pháp môn niệm Phật. Có lẽ vì quá đơn giản mà người đời xem thường, từ tâm lý xem thường đưa đến khó tin vào năng lực của Pháp môn niệm Phật, như Kinh A-Di-Đà Phật nói: "Nan tín chi pháp" . Có nghĩa là Pháp môn niệm Phật vãng sanh Cực Lạc thật là đơn giản mà hiệu năng thì vô cùng. Vì vậy mà người đời khó tin!

Tưởng cũng nên nhắc lại, đến đêm 20-8-63, Ngô-Đình-Diệm lại phản bội những gì đã ký kết với Phật-Giáo, rồi cho lịnh tấn-công vào các chùa, bắt giam tất cả Tăng Ni toàn quốc, kể cả các vị lãnh đạo Ủy Ban Liên Phái Bảo vệ Phật Giáo Việt-Nam tại Chùa Xá-Lợi.

Trong đêm đó cảnh-sát của Diệm Nhu dự định đoạt lấy Trái Tim Xá-Lợi, nhưng một Thiếu Tá cảnh-sát đã nhanh tay cất giấu Trái Tim Xá-Lợi ấy, toán Cảnh Sát quýnh quáng tìm kiếm mà không ra. Sau khi tình hình yên ổn vị Thiếu Tá ấy - là một Phật tử – đem hoàn lại vật thiêng cho quý vị lãnh đạo Phật-Giáo tại chùa Xá-Lợi.

Sau nầy khi Cộng Sản chiếm Sàigòn, họ đã cưỡng đoạt chiếm lấy Trái Tim Xá-Lợi Bất Diệt của Bồ-Tát Thích-Quảng-Đức để làm quốc bảo đồng thời cũng để tuyên truyền cho chế độ.

Thường niệm Nam-Mô A-Di-Đà Phật: sẽ được đầy đủ Sáu Ba-La-Mật

Đại Bố Thí: Trong quên mình, ngoài quên cảnh.Đại Trì Giới: Không sanh lòng tham, sân, si. Đại Nhẫn Nhục: Chẳng chấp thị phi, nhân ngã.Đại Tinh Tấn: Niệm Phật không gián đoạn.Đại Thiền Định: Vọng tưởng không móng khởi.Đại Trí Tuệ: Không bị sư khác và pháp khác làm mê lầm.

 

Xá Lợi
của Đại Sư Tuyên Hóa

 

Hòa-Thượng Tuyên-Hóa không phải là một Tăng sĩ Việt-Nam, nhưng Ngài là người tu Phật giáo, vừa tu Thiền vừa Niệm Phật tức Thiền Tịnh Song Tu, khi lâm chung để lại Xá-Lợi nên chúng tôi nêu danh Ngài ở đây.

Ngài được sanh ra tại đất Mãn-Châu tức vùng Đông Bắc nước Trung-Hoa. Từ nhỏ Ngài đã có tâm tu, muốn xuất gia nhưng thân mẫu Ngài muốn khi bà chết hãy đi tu. Từ đó mỗi ngày Ngài lạy Phật, cha mẹ, trời đất.v.v... sáng 837 lạy, chiều 837 lạy.

Năm 19 tuổi mẹ chết, Ngài liền xuống tóc xuất gia. Rồi Ngài về nơi mộ mẹ cất túp lều tranh nhỏ, thủ hiếu ba năm. Suốt ngày Ngài tọa Thiền, tụng Kinh điển Đại Thừa và xưng niệm danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật.

Nhiều lần Ngài ngồi Thiền rồi nhập định liên tiếp nhiều tuần lễ. Một đêm nọ dân chúng quanh vùng hốt hoảng thấy nơi túp lều của Ngài hừng hực lửa đỏ. Họ tưởng lều Ngài cháy, nhưng đến nơi thì căn lều vẫn nguyên vẹn và lặng yên, còn Ngài thì đang nhập định.

Có lần Ngài đang tọa Thiền thì thấy Lục Tổ Huệ-Năng đến viếng dạy rằng "Tương lai Ngài sẽ đến Mỹ Quốc để độ sinh." Sau đó Ngài đi về hướng Nam nước Tàu, đến chùa Nam-Hoa, nơi Lục Tổ Huệ-Năng còn để lại nhục thân. Nơi đây Ngài gặp Hòa-Thượng Hư-Vân lúc ấy đã 109 tuổi, mà Ngài thì chỉ mới 28 tuổi. Đại lão Hòa-Thượng Hư-Vân ấn chứng Sở đắc của Ngài. Từ đó Ngài là thị giả của Hòa-Thượng Hư-Vân. Rồi Ngài chánh thức thành Tổ thứ chín của Thiền Tông Quy Ngưỡng và trở thành Viện Trưởng Viện Giới Luật của chùa Nam-Hoa.

Ngài chuyên ăn ngọ và ngủ ngồi.

Năm 1946, Ngài rời chùa Nam-Hoa sang Hong-Kong lập chùa giảng đạo. Năm 1962 Ngài sang Hoa-Kỳ thực hiện lời dạy của Lục Tổ Huệ-Năng.

Ngài đem chánh-pháp đến Bắc Mỹ, xây dựng nhiều chùa ở Hoa-Kỳ và Canada. Nhiều chùa của Hòa-Thượng Tuyên-Hóa có tầm vóc quốc tế như Vạn Phật Thánh Thành, Pháp Giới Thánh Thành. Ngài còn lập trường dạy chữ cấp Tiểu-Học và Trung-Học.

Sau cuộc lưu vong vĩ đại chưa từng có trên thế giới của mấy triệu người Việt-Nam, quí vị Tăng Ni Việt-Nam được kể là người đem Phật Giáo đến cho toàn thế giới; nhưng không ai quên được Hòa-Thượng Tuyên-Hóa, vì chính Ngài là người đơn thân độc mã đến Úc Châu và Mỹ Châu trước người Việt-Nam chúng ta, đúng như lời báo trước của Lục Tổ Huệ-Năng.

Ngài viên tịch tại Los Angeles ngày 7 tháng 6 năm 1995, đại thọ 77 tuổi. Lễ nhập quan cử hành tại Long Beach Thánh Tự vào 12 tháng 6 và Kim quan được cung thỉnh về Vạn Phật Thánh Thành vào 16-6-95. Thừa di-huấn của Ngài, tứ chúng đệ tử tại các đạo tràng đều chuyên tâm trì tụng Kinh Hoa-Nghiêm và Niệm Phật suốt 49 ngày.

Khi xuất gia Ngài theo Thiền Tông, nhưng từ lúc đến chùa Nam-Hoa, Ngài áp dụng Thiền-Tịnh Song Tu như Hòa-Thượng Hư-Vân. Ba mươi ba năm sống trên đất Mỹ, Ngài giảng Kinh Lăng-Nghiêm trong 96 ngày, rồi các Kinh Bát-Nhã Tâm-Kinh, Địa-Tạng, Pháp-Hoa, Pháp-Bảo Đàn và Hoa-Nghiêm Kinh.

Lễ Trà Tỳ được cử hành vào ngày 28/7/95, tức hơn 50 ngày sau khi Ngài viên tịch, tại Vạn-Phật Thánh Thành. Bồ-Tát Tuyên-Hóa đã lưu lại nhiều Xá-Lợi.

Trước khi tịch Ngài đã di giáo: "Khi tôi đến, tôi không có gì cả; Khi tôi đi tôi vẫn không có gì cả. Tôi không muốn để lại dấu vết gì trên thế gian. Tôi từ hư không đến. Tôi sẽ trở về hư không!" Vì vậy tất cả tro cốt của Ngài được rải khắp địa phận Vạn-Phật Thánh Thành bằng khinh khí cầu. Trừ những viên Xá-Lợi được chia thờ ở các Chùa!

 

Xá Lợi Sư Bà Đàm Lựu

Thị tịch ngày 26-3-1999

Đàm-Lựu vừa là tên cũng là đạo hiệu của Sư Bà. Sanh năm 1933 tại xã Thanh-Oai, Hà-Đông Bắc Việt, lúc hai tuổi được cha mẹ đem tặng cho Sư Cụ Đàm-Soạn nuôi, vì khó nuôi. Năm 16 tuổi Sư Bà thọ Sa-Di Ni Giới, 19 tuổi thọ Tỳ Kheo Ni Giới.

Năm 1952 theo Sư Cụ Đàm-Soạn vào Nam. Năm 1964 được đưa du học ở Tây Đức. Năm 1970 làm Giám-đốc Cô-Nhi-Viện Lâm-Tỳ-Ni tại Sàigòn.

Năm 1977 vượt biên tại Vũng Tàu. Năm 1980 lập chùa Đức Viên tại San José, California.

Năm 1984, để sáng lập một ngôi chùa mới rộng rãi khang trang hơn, Sư Bà bắt đầu gây quỹ để xây dựng ngôi Tam-Bảo, bằng cách hướng dẫn ni chúng và Phật tử trong chùa làm thức ăn chay bán vào các ngày rằm, mùng một, cũng như chủ nhựt hằng tuần và các ngày lễ lớn.

Để mọi người đều có thể gieo trồng thiện căn với Tam Bảo, Sư Bà kêu gọi và phát động việc thu nhặt lon nhôm, giấy báo, thùng cát-tông, ... Việc làm của Sư Bà được sự ủng hộ nồng nhiệt hơn từ đó.

Phạm vi bài nầy không chú trọng về tiểu sử mà muốn nói về Pháp tu của Sư Bà. Theo Kỷ Yếu của Sư Bà thì Pháp môn hành trì của Sư Bà là Trì Chú và Niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực-Lạc mà không lúc nào Sư Bà xao lãng.

Trong tập Kỷ Yếu có đăng một bài của nữ Phật tử tên Nguyệt-Chiếu Đoàn-Thúy-Nga viết một lá thư gởi về Thế-Giới Cực-Lạc cho Sư Bà. Lời lẽ trong thơ vô cùng trung thực và cảm động khi nói về Pháp-môn của Sư Bà. Lời lẽ rất cảm động chứa đựng tình trò đối với Thầy tha thiết, nồng ấm. Chúng tôi xin trích đăng vài đoạn:

Kính bạch Thầy,

Lần đầu tiên con viết thư đến Thầy, bởi Thầy giờ đây ở rất xa, cõi Cực-Lạc, mà theo như Đức Phật Bổn Sư dạy, nơi đấy cách xa Ta Bà hơn 10 vạn ức Phật Độ, và con giờ chưa thể đến thăm Thầy được.

Thầy dặn, ngày Thầy đi không được khóc, nhưng con vẫn không cầm được nước mắt giàn giụa vì mủi lòng thương nhớ, dù trong đầu con đang quán tưởng xem nhân duyên nào kết hợp để mối thương cảm tràn đầy đến độ như thế trong con ...

Con nhớ năm cuối của Thầy, con để ý thấy Thầy tụng Kinh thường ngừng quãng như yếu hơi. Khi con quan tâm hỏi, Thầy bảo chỉ cảm xoàng thôi. Hôm con thấy tay Thầy run run con hơi ngại, Thầy bảo già rồi nên thế. Từ đấy con yên lặng để ý đến Thầy, và thường xuyên thăm hỏi mỗi lần con gặp Thầy. Con hỏi nhiều quá đến độ Thầy phải bảo át đi là: "Con chỉ lo hão, có thân là phải yếu."

...

Thầy giản-dị, khiêm-cung, nhu-hòa, nhẫn-nhục, nhưng cương-quyết thực-hành chí nguyện độ sinh, luôn lấy câu niệm Phật cầu sinh Tây Phương nằm lòng. Biết bao lần con vui mừng vì cảm nhận: con được Thầy xem con như người bạn sen đặc biệt. Năm ngoái, khi Thầy Phước-Nhơn ở Úc sang. Thầy ân cần giới thiệu con với Thượng Tọa, con là người con của Đức Phật A-Di-Đà. Thầy thường cởi mở, chân thành, tha-thiết, tán-thán Pháp môn Niệm Phật, và thân thiết tâm sự với con về Pháp môn tu của Thầy: dốc lòng tu trì câu hồng danh A-Di-Đà và nguyện vãng sinh Cực-Lạc. Mỗi lần nói đến điều nầy với con, mỗi lần kể những phương tiện giúp người niệm Phật Thầy đều hoan-hỷ, khuôn mặt rạng rỡ vì niềm tin nơi Từ Phụ ...

...

Khi chánh điện hoàn thành, Thầy tổ chức lễ an-vị Tam Thánh Tây Phương, thân kim sắc cao lớn, tướng hảo thật trang nghiêm. Có lần chỉ có hai Thầy trò đứng ngắm Tam Thánh và Thầy vô cùng hoan-hỷ, niềm hoan-hỷ đặc biệt của những người mơ ước khi bỏ thân nầy được sinh trong nụ hoa sen nơi miền Cực-Lạc.

Cá nhân chúng tôi thích và quí trọng Sư Bà ở chỗ này. Vì Sư Bà y theo Kinh Quán-Vô-Lượng Thọ mà thờ tượng Tây Phương Tam Thánh. Đa số người tu Tịnh Độ thời nay thường niệm Phật nhiều mà ít có người sử dụng pháp quán tưởng, vì cho là khó tu. Thật ra thì hành giả tu Tịnh-Độ nên học biết về Tây Phương Tam Thánh. Và bất cứ lúc nào cũng tưởng nghĩ đến Tây Phương Tam-Thánh thì khi lâm chung có nhiều điều lợi. Chính vì lẽ đó chúng tôi đã ấn tống ảnh Tây Phương Tam Thánh và thâu băng Pháp-Tu Quán Phật Trì-Danh Tịnh-Độ Thiền.

Trong lá thư gởi Sư Bà của nữ Phật tử Nguyệt Chiếu có nhắc đến sự hoan-hỷ của Sư Bà đối với Tam-Thánh và danh-hiệu của hồng danh Nam-Mô A-Di-Đà Phật.

Trong Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật - quyển Kinh nầy do Sư Bà ấn tống đầu tiên năm 1997 tại Hoa-Kỳ - Đại Bồ-Tát Quán-Thế-Âm dạy: "Bất cứ chúng sanh nào thậm thâm tin hiểu và hoan-hỷ thọ trì danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật hoặc một ngày, hoặc bảy ngày, cho tới nhiều lần của bảy ngày, thì sẽ đắc mười pháp quyết định bất khả tư-nghị."

Nơi đây chúng tôi đăng trọn mười pháp quyết định, vì nó tối hệ trọng đối với người tu niệm Phật, như là:

1. Quyết định đời đời thọ sanh trong dòng giống Như Lai.

2. Quyết định vĩnh-viễn an trú trong cảnh giới vô lượng quang minh nghiêm sức của chư Phật.

3. Quyết định thấu triệt công hạnh, tâm nguyện của chư Bồ-Tát.

4. Quyết định an trú trong vô số Ba-La-Mật.

5. Quyết định tham dự trong những chúng hội đạo tràng của chư Như Lai.

6. Quyết định đủ năng lực hiện bày thể tánh và chủng tướng của chư Như Lai.

7. Quyết định an trú trong trí tuệ siêu việt, giải thoát của Như Lai, thâm nhập Bồ-Đề giác tánh của chư Phật.

8. Quyết định an trú trong bản nguyện vĩ đại của Đức Phật A-Di-Đà, chắc-chắn được Ngài tiếp dẫn

9. Quyết định hòa hợp thân và tâm vào trong Kim thân của chư Phật.

10. Quyết định hóa sanh tự nơi hoa sen báu, cùng một chỗ ở với chư Phật, chư Thánh Chúng.

Như chúng tôi từng nói, người đắc Mười Pháp Quyết Định chắc-chắn đắc quả Đại Địa hay Pháp Vân Địa Bồ-Tát tức Thập Địa. Trong thư Bà Nguyệt-Chiếu kính gởi Sư Bà cũng nguyện đạt đến quả vị Thập Địa Bồ-Tát, chúng tôi nghĩ bất cứ ai có thiện căn và quyết tâm đều sẽ được như nguyện.

Với một người tin hiểu và luôn luôn hoan-hỷ xưng niệm danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật như Sư Bà Đàm-Lựu, chắc-chắn đã đắc nhiều phần trong Mười Pháp Quyết Định mà Ngài Quán-Thế-Âm nói, khi lâm chung hẳn phải có điều lạ.

Bây giờ xin đọc tiếp bức thư của Phật tử Nguyệt-Chiếu:

"Thầy thường tâm sự là sở dĩ Thầy theo Tịnh Độ vì lòng tin sâu xa phát khởi khi chứng kiến Sư Phụ của Thầy chuyên trì câu A-Di-Đà và khi đi Sư Cụ biết trước ngày giờ, an nhiên tự tại... Và cách đây mấy năm một bà cụ già người Việt gốc Hoa ở Texas (ám chỉ bà Huỳnh-Ngọc-Tuyết - Lời người sưu giải) cũng chỉ nhất tâm niệm hồng danh A-Di-Đà, khi ra đi có hương thơm và để lại hoa Xá-Lợi ...

Kính bạch Thầy,

Thầy đã biết trước lúc đi, và đã an nhiên tự tại trong tiếng niệm Phật A-Di-Đà của Tứ chúng. Từ lúc Thầy thị hiện bịnh nặng đến cuối buổi Trà Tỳ, đạo tràng Đức-Viên đã vang rền câu "Nam-Mô A-Di-Đà Phật" không dứt hơn 3 tháng trời. Câu Nam-Mô A-Di-Đà Phật đã vang lên, tỏa rộng khắp nơi, vượt cả mấy từng trời, đúng như ước nguyện của Thầy đã từng kể cho con: "Nơi đây có đạo tràng Đức-Viên, giống như của chư Tổ Tịnh-Độ, mà tiếng Niệm Phật vang rền không ngừng nghỉ". Tín tâm của tứ chúng phát khởi và tăng trưởng, nhất là sau buổi Trà Tỳ, Thầy còn để lại vô số Xá-Lợi cho người sau. Một ông cụ thường Niệm Phật bảo con: "Bây giờ không tin cũng phải tin, đấy là chứng cớ hiển nhiên nhất".

Trước khi trở lại Xá-Lợi của Sư Bà, chúng tôi xin trích vài đoạn Nhật Ký của một thị giả của Sư Bà. Đọc Nhật Ký nầy quí vị sẽ thấy rõ đức hạnh tu của Sư Bà đối với Pháp môn Niệm Phật mà Sư Bà không một giờ phút nào xao lãng.

Trong Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật, Đại Bồ-Tát Quán-Thế-Âm nói: Bất cứ chúng sinh nào kiên trì, dũng mãnh, xưng niệm Nam-Mô A-Di-Đà Phật, như mũi tên bắn thẳng tới đích nhắm, thì thành tựu những pháp Tinh Tấn, nghĩa là không mỏi nhọc, nhàm chán. Chính Sư Bà đã thành tựu những pháp Tinh Tấn do niệm Phật không mỏi nhọc không nhàm chán. Sư Bà như là mũi tên bắn thẳng tới đích. Chắc-chắn Sư Bà đã đến cõi Cực-Lạc.

Và đây những đoạn Nhật Ký đáng đọc:

* Ngày 30/9/1998

Chiều nay là lớp Luật Tỳ-Kheo-Ni. Thầy dạy gọi Sư bác Viên-Diệu (thư ký của chùa) vào, và đổi lớp học bằng phiên họp "Bất thường". Thầy dạy rằng vô-thường có thể đến với bất kỳ ai và bất cứ lúc nào, Thầy muốn chúng tôi tập điều-hành công việc của chùa. Linh cảm có chuyện không hay, rồi nước mắt lặng lẽ rơi. Thầy chỉ định và chúng tôi tán thành Ban Điều Hành mới của Chùa.

* Đêm 25/12/1998

Từ chiều đến giờ Thầy thở không được, tay chân và bụng Thầy sưng khắp. Chúng tôi sợ quá nên đưa Thầy đi emergency ... Sáng hôm sau, Bác sĩ Kuo và một nhóm Bác sĩ cho biết họ không thể nào tap nước được bởi Thầy đang uống thuốc Coumadin. Càng nghe Bác sĩ giải thích bệnh trạng của Thầy, chúng tôi như thấy đất trời tối lại. Nhưng Thầy vẫn vậy, mặt không một nét thay đổi. Nhìn Sư già Nguyên run cả giọng để thông dịch cho Thầy, trong khi sắc mặt Thầy vẫn bình thản và còn hỏi thêm chi tiết khác ... Họ để Thầy xuất viện vì không thể làm gì hơn được, Sư già Nguyên cố nài nỉ họ tìm cách. Thầy an nhiên bảo: "Con vẫn chưa thành người lớn được".

* Mồng 9/1/1999

Hơn 2 giờ khuya, Thầy thấy chúng tôi không đi ngủ nên đuổi hết ra khỏi phòng với lý do: "Các con ra đi cho Thầy niệm Phật"... Sư già Nghiêm xuống đánh thức cả chúng dậy lên chánh điện niệm Phật cho Thầy, và đồng thời gọi Thầy Vĩnh-Nghiêm, Thầy Minh-Đức và quý Thầy bên Duyên Giác. Mặc dù đang trong trạng thái hôn mê, nhưng khi nghe tiếng Niệm Phật của đại chúng. Thầy lại tỉnh hẳn và kêu chúng tôi vào dặn: "Sau này Thầy đi rồi, chị em các con phải thương yêu lẫn nhau, phải tu học và sống theo chánh pháp". Rồi lại thở thật yếu và thiếp đi. Quý Thầy sang đến nơi, vào thăm Thầy. Quý Thầy cao thanh niệm Phật trong phòng, Thầy đang trăn trở bỗng nằm yên, chấp hai tay lên ngực và niệm Phật theo ... Khoảng 5 giờ sáng, khi đại chúng đang còn niệm Phật ngoài Chính Điện, Thầy ngồi dậy và dạy đi lấy áo lễ và y cho Thầy ... Thầy đến thẳng giữa Chính Điện lễ Phật ba lễ rất thành kính và mỉm một nụ cười hoan-hỷ. (Sau này Thầy bảo khi nghe tiếng niệm Phật ngoài Chính Điện, Thầy thấy vui quá nên mới ra lễ Phật).

* Mồng 10/1/1998

Thầy trở về căn phòng đơn sơ của Thầy dưới nhà chúng. Thầy bảo tất cả chúng tôi ra ngoài để yên cho Thầy niệm Phật. Chúng tôi lấp ló ngay ngạch cửa thì Thầy quở: "Thương Thầy thì phải để cho Thầy niệm Phật chứ"... Thầy trăn trở nhiều, nhưng vẫn nghe tiếng rầm rì niệm Phật của Thầy.

Thầy Vĩnh-Nghiêm đáp máy bay lên thăm. Thầy lại nằm yên, chấp tay lên ngực nghe Thầy Vĩnh-Nghiêm nói chuyện. Khoảng một giờ sau, Thầy Quang-Nghiêm, Thầy An-Tường, quý Thầy bên Duyên-Giác, Thầy Minh-Đức, Thầy Từ-Lực và nhiều vị nữa đã vân tập trong phòng. Thầy Vĩnh-Nghiêm cho gọi tất cả chúng tôi vào và dặn không được khóc. Quý Thầy bắt đầu niệm Phật vang rền trong phòng, chúng tôi niệm Phật nhưng vẫn khóc. Ba hôm nay Thầy trăn trở là vậy, vậy mà giờ này Thầy nằm thật yên, tay chấp ngang ngực, miệng nhẩm theo tiếng niệm Phật của quý Thầy và đại chúng. Khoảng một giờ sau, Thầy ra dấu đỡ Thầy ngồi dậy. Thầy dường như tỉnh hẳn lại, nói lời cám ơn quý Thầy.

* Ngày 11/1/1999

Chúng tôi đưa Thầy vào bệnh viện để "tap" nước. Mắt Thầy lúc này cứ hướng về một cõi xa xăm nào đó, Thầy nhìn mà như không nhìn vậy. Chúng tôi sợ quá nắm bàn tay Thầy, Thầy lại nhìn chúng tôi mỉm cười ... Có một em bé đợi mẹ em khám bệnh gần đó, chúng tôi chơi trò bắt cá bằng tay với em. Em bé vòi chơi với Thầy. Thầy đưa hai tay lên cho em bắt cá, rồi bỗng buông xuống, và mắt nhắm nghiền. Chúng tôi sợ quá gọi Bác sĩ Brophy đến. Sau khi thử máu Bác sĩ cho biết Thầy bị thiếu sodium trầm trọng và phải nhập viện ngay. Nhiều Bác sĩ đến khám bệnh cho Thầy trong kinh ngạc. Bác sĩ Đỗ cho rằng tất cả bệnh nhân nào ở mức sodium của Thầy thì đều bị hôn mê mãn tính hết rồi, họ không hiểu vì sao Thầy vẫn còn tỉnh táo, và chỉ bị mê trong đôi phút như vậy? Thầy mỉm cười bảo Sư già Nguyên thông dịch: "Con nói với họ là nhờ Thầy niệm Phật hằng ngày đó".

Lần này Thầy nhập viện khá lâu. Trên một tuần lễ ở bệnh viện chỉ để truyền sodium và calcium mà vein trên cánh tay Thầy chìm quá. Y tá phải lấy máu để thử mỗi ngày, họ đâm kim nhiều đến độ họ phải xót xa xin lỗi vì hai cánh tay Thầy giống như needle spin vậy đó. Vậy mà mỗi lần họ rút kim ra chỗ này để đâm vào tay tìm vein khác thì Thầy lại: "Cám ơn cô thật khéo tay". Chúng tôi đau lòng nên càm ràm đôi câu với họ thì Thầy lại quở: "Gớm, con xem thân Thầy như là bong bóng vậy. Có sao đâu, cứ để họ làm công việc họ cần làm. Tại tay Thầy khó chứ đâu phải họ dở mà con cứ nhăn". Rồi Thầy lại cười và "thank you" họ. Lần sau y tá đến, thì họ xin cúng dàng Thầy một vein để Thầy bớt đau. Thầy mỉm cười: "cô để mà dùng". Họ ngỡ ngàng, khi đoán được ý Thầy, họ ôm tay Thầy cảm động vì họ biết Thầy không đành để họ khổ, và chỉ chịu khổ một mình. Từ đó, mỗi lần Thầy vào bệnh viện, họ lại gọi Thầy là "Mama" (Mẹ).

* Ngày 11/2/1999

Vạn pháp lại trở thành tăm tối! Thầy lại không thở được và đau thật nhiều nơi lưng và hai cạnh sườn. Chúng tôi lại đưa Thầy đi cấp cứu ... Bác sĩ vào thăm, khi họ xem bụng Thầy thì Thầy cười bảo: "bụng tôi giống như biển cả!" Bác sĩ cấp tốc xin thuốc giảm đau cho Thầy rồi quay qua hỏi chúng tôi làm sao mà Thầy còn "vui đùa" được trong nỗi đau kinh hoàng đó. Chúng tôi lại một lần lặp lại lời Thầy, "nhờ Thầy niệm Phật hằng ngày thôi!"

* Ngày 28/2/1999

Suốt ngày Thầy chỉ nằm yên, hay ngồi yên thôi, không nói chi nhiều và hay nhìn thật xa xăm. Khi chúng tôi hỏi Thầy đang nghĩ gì, Thầy thẳng thắn đáp: "Thường thì Thầy niệm Phật, nhưng cũng có lúc suy nghĩ vớ vẩn đâu đâu ..." Thầy dạy chúng tôi đi mua máy cassette nho nhỏ về để băng niệm Phật 24/24 trên đầu giường Thầy.

* Ngày 15/3/1999

Sức khỏe Thầy suy sụp nhiều, Thầy dạy chúng tôi thỉnh chư Tăng về làm lễ cầu siêu cho Thầy. Chúng tôi khóc xin Thầy đừng đi, nhưng Thầy bảo Thầy không trì hoãn được nữa. Quý Ngài đến tụng Kinh cầu nguyện, chúng tôi đẩy xe đưa Thầy lên bạch Đại Tăng. Vẫn vậy, Thầy rất tự tại và thành kính yêu cầu quý Ngài tụng chú Vãng Sinh để cầu siêu cho Thầy. Thể theo lời thỉnh cầu của Thầy quý Ngài đã tụng chú Vãng Sinh và niệm Phật trên một giờ đồng hồ. Thấy chúng tôi buồn xo, Thầy dạy chúng tôi nên nhất tâm niệm Phật cầu nguyện cho Thầy tiêu hết dư nghiệp mà được vãng sinh.

* Ngày 23/3/1999

Bác sĩ của Thầy vào thăm Thầy, Bác sĩ hỏi Thầy có biết khi đi rồi thì Thầy về đâu không? Thầy khẳng quyết: "Về cõi Cực-Lạc chứ về đâu".

* Ngày 25/3/1999

...Điệp khúc: "Dậy, Dậy, cho Thầy dậy" bỗng trở thành thân thương đối với chúng tôi trong nửa tháng nay. Có lần đang đêm Thầy muốn dậy hoài, chúng tôi thưa:

- Bạch Thầy, bây giờ là ban đêm Thầy dậy làm gì ạ?

- Cho thầy dậy để Thầy làm bổn phận người tu.

- Bạch Thầy, người tu phải làm gì ạ?

- Là phải giữ chữ Tín. Là phải dậy trước trời sáng.

Bằng những câu thật ngắn, thật đứt đoạn. Thầy luôn nhắc chúng tôi phải niệm Phật. Thầy dạy: "Các con phải dõng mãnh, tinh tiến niệm Phật khi còn khỏe. Trừ hao đến lúc bệnh, thân tâm bì quyện, niệm Phật rất khó định tâm. Mê thì nhiều mà ngộ thì ít".

Sợ Thầy bị phân tâm Sư già Phước thưa: "Bạch Thầy, mê hay ngộ con thỉnh Thầy cứ tiếp tục niệm Phật". Thầy khẻ nhẹ vào Sư già và bảo: "Không phải dễ như chị nghĩ đâu chị hai, chín cảnh mê mới có một cảnh ngộ thôi". Với Thầy, việc hành trì phải nghiêm mật lắm mới được.

Phương pháp tu của Thầy đơn giản lắm, và chỉ có vậy, chỉ cần niệm Phật không gián đoạn, không phải chỉ nơi ý, mà còn phải nơi thân nữa.

Sư Bà chánh thức ra đi vào 21 giờ 27 phút ngày 26/3/99 thọ thế 67 năm, hạ lạp 48 năm.

Đọc phần nhựt ký, chúng ta thấy đức hạnh của Sư Bà quả là hơn người. Dù chứng bịnh ung thư hành hạ dữ đội nhưng Sư Bà vẫn không than van, lúc nào cũng lấy chữ nhân và tha làm đầu. Y tá chích nát gân tay vẫn không trách mà còn "cám ơn". Lúc nào Sư Bà củng cố gắng Niệm Phật không gián đoạn, mặc dù đôi khi cơn bịnh cũng làm cho ngưng trệ và không quên dạy các nữ đệ tử rằng: "Các con phải dõng mãnh, tinh tiến niệm Phật khi còn khỏe. Trừ hao lúc bệnh, thân tâm bì quyện, niệm Phật rất khó định tâm ..."

Trong Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật, Đại Bồ-Tát Quán-Thế-Âm dạy: "Bất cứ chúng sanh nào phục sức thân tâm bằng danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật thì sẽ đắc những năng lực giải-thoát không thể nghĩ bàn".

Niệm Phật không ngừng như Sư Bà chính là phục sức thân tâm bằng danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật, Sư Bà đã đắc những năng lực giải-thoát không thể nghĩ bàn. Sư Bà đã chứng được Pháp Thân như Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật đã nói, và khi ra đi đã lưu lại nhiều trăm viên Xá-Lợi cùng trái tim màu ngọc thạch và đồng vàng. Xin đọc một đoạn bài viết của Thầy Thích-Quảng-Chơn nói về Xá-Lợi của Sư Bà:

"Sư Bà để lại rất nhiều Xá-Lợi gồm có xương, răng, tim và ngọc. Xá-Lợi xương thì nhiều lắm, lớn nhỏ, hình dạng và màu sắc khác nhau. Có mảnh trắng đục như sữa, sắc óng như ngà; có mảnh nhỏ màu đục như đất; có mảnh màu vàng nhạt như vỏ trứng gà; có mảnh ánh màu xanh như cẩm thạch; có mảnh trắng như hoa tuyết; có mảnh tím hồng như màu Kiến sen; có mảnh vàng nhạt và có nhiều đoản xương màu như đồng vàng hay thép nung. Răng của Sư Bà còn tất cả 28 chiếc, có hai chiếc ánh màu kiến sen và một chiếc màu lục. Tôi ngạc nhiên nhất khi Sư cô nói là trái tim Sư Bà vẫn còn và chỉ cho tôi một khối màu nâu đỏ, như bàn tay nắm lại của một em bé vừa mới sinh. Hơn phân nửa diện tích bề mặt của trái tim được bao phủ một lớp màu xanh cứng như thạch nhũ, nâng trong tay thật nhẹ và có một cảm giác thanh thản như được an ủi và khuyến khích. Một cảm giác tâm linh phảng-phất bóng của một Ni Sư đức hạnh như in đậm ở trong đây. Ngọc Xá-Lợi của Sư Bà thì thật là nhiều, lớn nhỏ đến gần trăm viên. Có viên đen huyền óng ánh, có viên màu lục nhạt như hạt cẩm thạch, có viên màu trắng đục như hạt gạo, có viên màu trắng như hạt san hô. Những viên ngọc Xá-Lợi hình dạng khác nhau, có hạt tròn như hạt đậu dính chặt vào một mảnh xương, có hạt hình bầu dục, cũng có những hạt tròn nhỏ đính thành một chuỗi dài trên một mảnh xương như chuỗi ngọc trai.

Rất ngạc nhiên vì đây là lần đầu tiên tôi thấy Xá-Lợi của một vị Cao Ni. Trong đời tôi chưa bao giờ nghe hoặc thấy Xá-Lợi của một vị nữ xuất gia. Theo lịch sử truyền thừa Phật giáo rất hiếm các vị Cao Ni để lại Xá-Lợi. Trong Đại Chính Tân Tu quyển Tỳ Kheo Ni Truyện chỉ viết về hai vị Cao Ni có để lại Xá-Lợi. Nói như vậy không phải là thiếu các bậc Cao Ni đắc đạo, chứng thánh quả, hay ngộ được tinh yếu của giáo lý Đại Thừa. Nhưng rất hiếm thấy Xá-Lợi của các vị Cao Ni thờ ở các Chùa hoặc Tổ Đình. Lý do dễ hiểu là ngày xưa các vị tổ khai sáng một tông môn hoặc một tổ-đình lớn ở Trung Quốc cũng như Việt-Nam đều là các bậc Cao Tăng.

..........................................................................

Xá-Lợi của Sư Bà để lại cho Ni chúng và Phật tử như những viên ngọc quý, lời dạy của Sư Bà như đài gương sáng, như bản đồ chỉ đường cho Phật tử đi theo công hạnh của Người mà huân tụ giới đức, trang-nghiêm cõi Tịnh mà Sư Bà đã khai sáng.

...........................................................................

Thích-Quảng-Chơn

Đây đúng là Sư Bà Đàm-Lựu đã thăng hóa Tây Phương vậy!

Khi đứng, khi ngồi, khi quét, khi lái xe chở báo cũ, Sư Bà Đàm-Lựu đều niệm Nam-Mô A-Di-Đà Phật

 

 

Xá Lợi Của Sa Di Thích Minh Đạt

Nhâm Ngọc Hựu

Thị tịch rạng ngày 10/12/1997

 

Từ Ân, có nghĩa là cái "Ân" của lòng "Từ", là ngôi chùa "đơn côi, bất hạnh" ở vùng Ottawa, Canada. Chùa đã có, nhưng không đủ phước duyên để nghinh tiếp một vị Sư trụ trì. Chùa cần có người trông lo Kinh kệ và làm lễ cầu siêu cho những vong linh quá cố của chúng Phật tử.

Thu đi rồi đông tới. Người ta nói vắng lạnh như chùa Bà Đanh. Chùa Từ Ân tuy lạnh vào mùa đông, nhưng không vắng lạnh như chùa Bà Đanh, vì năm ấy 1997, Thầy Minh-Đạt chấp nhận đáp ứng sự mong chờ của chúng Phật tử Ottawa.

Thầy Thích-Minh-Đạt chỉ là Sa-Di, chưa thọ giới Tỳ Kheo, theo giới luật nhà Phật thì phải gọi là "Chú", chú Sa-Di Minh Đạt. Nhưng Phật tử chùa Từ-Ân biết rằng các pháp chỉ là giả danh. Tỳ Kheo, Đại Đức, Thượng Tọa hay Sa-Di, tất cả chỉ là danh tự. Danh tự chỉ là tên đặt ra để gọi, nên là giả-danh. Kinh Đại-Bát-Nhã đã dạy như vậy. Điều quan trọng là vị trụ trì phải có tâm tu và thực tâm hoàn thành vai trò của người xuất gia: lãnh đạo tinh thần của Từ Ân Tự, giảng dạy Kinh điển.

Thầy Thích-Minh-Đạt có đủ điều kiện nầy. Thầy đến chùa Từ-Ân như mang hơi nóng đến sưởi ấm lòng Phật tử vào mùa đông Canada lạnh lẽo.

Thầy Thích-Minh-Đạt đến chùa Từ Ân với ước mong hướng dẫn cho Phật tử: "Phước Huệ song tu và Tịnh nguyện cầu vãng sanh Cực-Lạc".

Trong Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật, tức Pháp tu Niệm Phật thành Phật, Đức Phật dạy: "Tất cả các loài chúng sanh chết ở nơi đây, rồi sanh sang nơi kia, sống chết nối nhau không dứt. Mỗi khi sắp mạng chung thì các loại nghiệp lành dữ trong một đời hiện ra rõ ràng. Chúng sanh nào sống thuần bằng tư-tưởng, thì bay lên hóa sanh, nơi các cõi Trời. Nếu trong sự thuần tưởng, lại gồm cả Phước Huệ và Tịnh Nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyện lực của mình mà sanh về Tịnh-Độ" (trang 15).

Tuy là Sa-Di, nhưng là một cựu sĩ quan Quân đội VNCH cấp bực Trung Tá, Ngài có đủ trí tuệ căn bản để tự học Kinh điển, và nhờ học Thiền nhiều năm nên có được định căn bản. Chúng tôi gọi Thầy Thích-Minh-Đạt bằng danh xưng tôn vinh "Ngài", vì thầy đã chứng đạo xứng đáng được gọi như vậy.

Quan điểm của chúng tôi tương đồng với quí vị Phật tử ở Ottawa. Chức vị không quan trọng, điều cần thiết là người đã xuất gia có chịu thực sự tu hành hay không mà thôi. Đức Phật nói trong Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật: (trang 17)

"Bất cứ Thiện-Nam-Tử, Thiện nữ nhân nào đủ lòng tin thì chỉ cần chuyên nhứt xưng niệm danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật, suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi, thì hiện tiền chiêu cảm được y báo, và chánh báo của Phật A-Di-Đà ở cõi Cực-Lạc. Lúc lâm chung cố giữ sao cho được mười niệm tiếp nối nhau, lập tức vào Phổ-Đẳng Tam-Muội của Đức A-Di-Đà được Phật tiếp dẫn về Tịnh Độ Tây-Phương. Vĩnh-viễn xa lìa các đường ác, không còn luân-hồi sinh tử. Đó gọi là quả vị Bất-Thối-Chuyển. Từ ấy nhẫn về sau, vượt qua Thập Địa, chứng Vô-Thượng-Giác.

Trong bài Tưởng Niệm Thầy Minh-Đạt, Phật tử Quảng Trí thuật lại khóa lễ đầu tiên khi Thầy Minh-Đạt được Ban Trị Sự giới thiệu Thầy với Phật tử, Thầy nói:

- Tôi nguyên là người lính trong quân đội VNCH, cấp bậc sau cùng là Trung Tá trong ngành quân nhu. Biến cố 30-4-75, tôi di tản sang Mỹ, sống đời tạm dung hơn 20 năm, giờ đây các con tôi đã trưởng thành, tôi xuất gia nương cửa Phật để tu hành đã hơn 1 năm qua. Chúng ta, hôm nay tụ hội về đây đều là anh em cùng một cha. Đó là đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật. Xin quí vị hãy tinh tấn tu học, hành trì giáo pháp của chư Phật để cầu vãng sanh, đạt giải thoát ngay trong hiện kiếp nầy. Chúng ta không chờ một sự cứu rỗi nào từ bên ngoài. Chính chúng ta quyết định đời sống tâm linh của chúng ta.

Với những lời ngắn, nhưng đủ chứng minh tinh thần quyết tâm tu, đạt giải thoát ngay trong hiện kiếp. Và trong một đoạn khác của bài Tưởng Niệm, viết:

Thầy Minh-Đạt chụp hình chung với Phật tử chùa Từ Ân

"Theo lời bác Từ Trang, người thân cận nhứt với Thầy trong thời gian lưu trú tại chùa Từ Ân: Mỗi ngày, từ khuya, Thầy đã thức dậy lễ Phật, tụng Thần Chú Lăng Nghiêm, tọa Thiền, thiền hành. Trong ngày thường chăm chú vào việc học hỏi Kinh điển. Hầu như hàng ngày "trú dạ lục thời" Thầy không giải đãi thiếu sót tụng niệm".

Thầy Thích-Minh-Đạt đã tự tu, tự độ như thế, nhưng vẫn không kém tự tha. Trong hơn hai tháng lưu trú tại chùa Từ Ân, Thầy đã tụng Kinh, niệm Phật và cầu siêu độ ít nhứt 3 vị tại Ottawa, một tại Montreal. Phật tử tại Ottawa kháo nhau: "Nếu cần một vị Tăng có giới đức thanh tịnh thì mời Thầy Thích-Minh-Đạt, còn nếu cần một vị Sư biết rập rềnh tang dẩu, tán tụng cho hay cái lỗ tai, múa may ấn quyết cho đẹp mắt, thì Thầy không có mấy thứ đó". Đặc biệt, Thầy không lấy tiền cúng dường của Phật tử.

Trong cơn bịnh hoạn nguy cấp, Thầy Minh-Đạt không từ chối việc hộ niệm cho người Phật tử sau cùng của Thầy là bà Bích-Hằng. Dù lúc ấy sức khỏe rất yếu mà Thầy không từ bỏ một khóa lễ nào. Lễ xong Thầy đi Bác sĩ, ở phòng mạch ra Thầy đi thẳng tới nhà quàn để kịp khóa lễ. Thầy lo độ cho người vừa chết, giúp cho hương linh được siêu thoát. Mỗi câu tụng là một cơn ho, nhưng Thầy lấy việc độ tha để trang-nghiêm cho hạnh Bồ-Tát của Thầy. Thầy Minh-Đạt độ người nên Phật độ Thầy.

Sau lễ hỏa táng cho bà Bích-Hằng, Thầy phải vào ngay bịnh viện. Rồi từ bịnh viện về chùa, Thầy lại lên chánh điện chủ lễ tụng niệm ngay. Thầy đã viết trên tấm bảng con treo trong phòng để tự nhắc nhở mình.

" Phải tinh tấn hôm nay

Kẻo ngày mai không kịp

Cái chết đến bất ngờ

Không thể nào mặc cả"

Đúng! cái chết đến bất ngờ không thể nào mặc cả. Thầy đã tinh tấn lo hôm nay kẻo ngày mai không kịp. Thầy đã tự độ và độ tha không ngừng nghỉ, không ngại mệt mỏi.

Đêm rạng ngày 10-12-1997. Thầy đi về cõi Phật, đắc Vô Sanh Pháp nhẫn được quả Bất-Thối-Chuyển theo như trong Kinh, Đức Phật nói. Cái chết của Thầy làm bất ngờ mọi người. Nhưng Thầy thì ra đi an nhiên tự tại.

Phật tử Chánh-Tâm-Hải viết:

Như thường lệ, sau khi ăn Thầy vào phòng nằm nghỉ. Ông Triệu về, đạo hữu Như-Hoa đến lúc 7 giờ tối, cửa phòng còn đóng, cô không dám gõ cửa, để Thầy nghĩ. Đến 12 giờ khuya, khi thức giấc thấy đèn còn sáng, bác Trang mở cửa vào. Than ôi! Thầy đã ngủ, hai mắt nhắm, hai tay chắp vào nhau để trên bụng trong tư thế thật an nhiên tự tại.

Thầy đã mãn nguyện!

Sa-Di Thích-Minh-Đạt đến nhận chức trụ trì ngày 23/9/97 và mất rạng sáng ngày 10/12/1997. Thời gian thật ngắn ngủi. Thầy thường nói, chỉ tiếc là tôi chưa làm gì được cho chùa Từ Ân.

Phật tử chùa Từ Ân đã trả lời câu nói của Thầy, được đăng trong Đặc San Đặc Biệt phát hành vào dịp Lễ Bách Nhật 15/3/98 rằng: Thầy đã để lại cho chùa Từ Ân một bảo vật vô giá là những Viên Xá-Lợi nhiều mầu mà mọi người đang kính cẩn chiêm ngưỡng. Cũng từ đây, chùa Từ Ân có cái phúc, bởi vì, sẽ là nơi được nhiều người biết, khi đến chiêm ngưỡng Xá-Lợi hay đến chiêm ngưỡng đức độ của Thầy và lấy đó để làm gương tu học.

Cũng với lời Thầy Minh-Đạt nói, chỉ tiếc là tôi chưa làm gì được cho chùa Từ Ân, Đại Đức Thích-Đức-Viên viết "Đôi Hàng Thành Kính Cảm Niệm Nhân Dự Lễ 49 Ngày Quá Vãng của Thầy Thích-Minh-Đạt", như sau:

"Quãng đời xuất gia của Thầy Thích-Minh-Đạt mà tôi có duyên may được gần gũi khiến tôi liên tưởng tới chuyện "Thoát vòng Tục Lụy", do Hòa-Thượng Quảng-Độ dịch, tả về vị Quốc Sư Ngọc Lâm:

- Khi còn trẻ được viên tể tướng mời vào dinh dự lễ đã bị cô hầu Thúy Ngọc không cho vào, chỉ vì vị Quốc Sư không có tướng Quốc Sư như cách nhìn của cô hầu...

- Khi Quốc Sư về già, lọm khọm bên sân tại một ngôi chùa cổ hoang tàn. Ngài xin tá túc với tâm nguyện dùng hơi thở cuối cùng của mình hiến dâng cho Phật pháp. Không ngờ vị Tri Khách lo sợ, tìm mọi cách khước từ: "Nếu Sư phụ không may mệnh hệ, chúng tôi không thể lo nổi!"

Nhà sư nói: "Tôi còn chiếc quạt và hai phong thư có thể bù đắp cho quí tự..."

Ai ngờ! Vài ngày sau, vị Quốc Sư viên tịch. Triều đình cho cử hành lễ Quốc Táng, và cho xây dựng lại một ngôi chùa khang trang.

Bồ-Tát Thích-Minh-Đạt đã để lại cho chùa Từ Ân những Viên Xá-Lợi giá trị. Thầy Đức-Viên nói: "Hy vọng những viên ngọc Xá-Lợi của Thầy là những tia sáng khai tâm cho hàng tại gia lẫn xuất gia". Bởi theo "thói thường" thiên hạ thường dùng cảm quan và sự hiểu biết chật hẹp của mình làm thước đo để đánh giá người khác. Tu hành ... không phải để đếm tuổi hạ. Không ai ngờ vị sư già Sa-Di, tướng cục mịch tu chưa đầy tuổi hạ mà trong nhục thân có chứa Xá-Lợi của bực Bồ-tát.

Thầy Minh-Đạt đã dùng cái "Ân" của lòng "Từ" để lại cho chùa Từ Ân những gì đáng giá hơn mọi người tưởng.

Thật ra chẳng phải chỉ thuần do công tu của những ngày xuất gia mà Thầy Minh-Đạt được như vậy, mà do cái nhân thiện căn, thiện nghiệp của Thầy đã gieo trồng từ kiếp quá khứ; kiếp này Thầy lại vun bón, tưới nước thêm, đủ duyên nên kết trái. Chúng ta không phải là bực Thánh nhơn không nhìn thấy căn lành ấy.

Bây giờ câu nói của Thầy Minh-Đạt trở thành lời vàng. Một Phật tử chùa Từ Ân, ông Tuệ-Đạt Nguyễn-Bá-Triệu đã đem lời khuyên của Thầy Thích-Minh-Đạt dùng làm phương châm xử thế, như sau:

"Ai mắng chửi, nguyền rủa anh, anh đừng giận. Anh hãy thành tâm niệm Phật và tôn người ấy làm sư phụ vì chính người ấy đã dạy anh một bài học nhẫn nhục".

Thật sự, Thầy Minh-Đạt đạt được sự chứng ngộ nhờ vào bài học "nhẫn nhục". Khởi đầu, Thầy đến một ngôi chùa ở bên Pháp xin xuất gia. Vị Hòa-Thượng chấp nhận đặt pháp danh là Minh-Trí. Nhưng sau đó một số tu sĩ lân cận Hòa-Thượng, chê Thầy già, tướng cục mịch, không có giọng tụng kinh tốt, cản trở không để Thầy thọ giới Tỳ Kheo.

Thầy Minh-Trí lặng lẽ ra đi, tìm đến một vị Thiền sư, nhưng vị nầy chỉ thu nhận với điều kiện, nếu có sự giới thiệu của Hòa-Thượng. Muốn tiếp tục tu và đạt thành chánh quả, Thầy Minh-Trí phải học tu nhẫn nhục. Trong nhà Phật, những người gây chướng duyên cho người khác có khi được coi là chứng duyên Bồ-Tát.

Như Đề-Bà Đạt-Đa luôn luôn phá hoại Phật pháp, làm hại Đức Phật, nhưng Đức Phật vẫn thọ ký cho Đề-Bà Đạt-Đa sẽ thành Phật. Nếu người tu hành được gặp may mắn luôn, thì làm sao học tập nhẫn nhục, tinh tấn để diệt cái ngã của mình? Nếu những ngày gặp khó khăn, Thầy Minh-Trí thoái Bồ Đề Tâm thì làm sao có thành quả của ngày hôm nay!? Có lẽ trên đường tu Thầy Minh-Trí đã âm thầm cám ơn những chướng duyên Bồ-Tát kia. Bởi vậy mọi việc chỉ nên nói tới đây.

Từ ngày lìa Âu Châu, Pháp danh Minh-Trí được đổi là Minh-Đạt. Minh là quang-minh, tức hào quang sáng chói; còn Đạt là chứng đắc quả. Thường thì danh-hiệu cũng ảnh hưởng đến sự-nghiệp của một người, dù là sự nghiệp tu hành. Tất cả đều do nhơn và duyên, và cuối cùng là quả.

Thầy Minh-Đạt tiền kiếp đã tu và hiện kiếp Thầy tên Nhâm-Ngọc-Hựu, từ hai mươi tuổi đã biết thương người. Nhơn thời kháng-chiến chống Pháp, một người bạn bị Tây bắn chết không quần áo chôn, Hựu đã lột quần áo cho bạn. Lớn lên Hựu đi lính, làm sĩ quan quân nhu, nơi đơn vị mà bao sĩ quan quân nhu khác làm giàu còn Hựu thì liêm-khiết trong sạch, sẵn-sàng giúp đỡ cho binh sĩ trực thuộc và bạn nghèo. Lúc Sàigòn sắp mất, Hựu cõng cha bị tê liệt chạy xuống tàu ra khơi theo làn sóng người lưu vong. Ở hải ngoại, nuôi nấng cho bảy đứa con trưởng thành, Hựu xuất gia để tự giải thoát. Có người xuất gia tu Thiền chủ trương không tụng kinh, không cầu siêu cầu an cho bá tánh; còn Hựu tức Thầy Minh-Đạt vì bá tánh quên mình, trong cơn bịnh hoạn không cần lo sự sống chết của chính bản thân mình, mà lo đi hộ niệm cho người sắp lâm chung. Hành động đó là hành động của bực Bồ-Tát; đó là Bồ-Tát hạnh vậy. Một bực tu như vậy, ắt là phải đắc quả.

Thầy Minh-Đạt kiếp nầy đầy đủ tứ ân. Đi quân đội là đền ơn đất nước; khi cõng cha lưu vong là đền ơn cha mẹ; lúc xuất gia là đền ơn Tam Bảo; lo hộ niệm cứu khổ chúng sanh là đền ơn đồng bào. Làm quân nhu không tham lam; đi tu bị từ chối thọ giới Tỳ Kheo mà không giận là không sân; xuất gia để tự giải thoát là không si, lại thêm đầy đủ bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ.

Tóm lại Thầy Thích-Minh-Đạt có đầy đủ Thiền-Tịnh Song Tu, đủ Tứ Ân và Sáu Ba-La-Mật, dứt được Tham-Sân-Si, cho nên dù tuổi hạ ít mà Thầy vẫn đạt đạo. Theo chúng tôi, sau khi lâm chung Thầy lưu lại Xá-Lợi là lẽ đương nhiên.

Trong "lời nói đầu" của tác phẩm Từ Người Lên Phật do chính tay Thầy Minh-Đạt viết, Thầy có trích lời Phật khuyên dân Kalamas rằng: "Chúng ta hãy dùng trí tuệ như một ống thí-nghiệm để soi nhìn nơi ta còn tham lam sân hận không? Khi tham lam sân hận không còn trong tâm ta thì niềm an lạc hạnh phúc hiện bày".

Chính Thầy Minh-Đạt không còn tham lam sân-hận nên Thầy được an lạc hạnh phúc và tự tại khi ra đi vĩnh-viễn. Đúng như lời Phật dạy. Đây chính là Niết-Bàn tại thế.

Bây giờ nói về Xá-Lợi của Thầy Thích-Minh-Đạt.

Xin hãy đọc bài của ông Chánh-Tâm-Hải, một Phật tử của chùa Từ Ân và cũng là người tìm thấy Xá-Lợi đầu tiên:

"Sau lễ Trà Tỳ, con và anh Nhâm-Trung-Quang, con trưởng nam của Thầy đến nơi hỏa táng lúc 12 giờ 10 để nhận tro mang về chùa. Nơi đây, Bác sĩ Lý-Văn-Kim (rể của Thầy Minh-Đạt, đang ngụ tại New York) cho biết khi hỏa táng, nhìn vào trong lò thiêu thấy Thầy nằm trong tư thế giang hai tay ra hai bên, một hiện tượng rất lạ mà người phụ trách hỏa thiêu chưa bao giờ thấy. Trước khi tro cốt màu trắng của Thầy được đưa sang máy nghiền, chúng con và nhân viên phụ trách cẩn thận nhặt hết những mãnh sắt vụn và than đen còn lẫn lộn trong đó. Con khấn thầm trong bụng mong Thầy cho con được thấy sự mầu nhiệm. Con rất vui mừng là người đầu tiên phát hiện một viên ngọc quý mầu xanh, sau đó anh Quang và Kim cũng phát hiện những miếng than xương hình thù khác nhau, to nhỏ đủ cỡ và đặc biệt nhiều màu khác nhau đủ cả xanh, tím, vàng và hồng, đỏ.v.v... Hết đỗi vui mừng trước sự kiện lạ nầy, tin vui được báo về chùa, gia đình và Phật tử rủ nhau xuống nơi hỏa táng để được chứng kiến hiện tượng lạ".

Hiện nay tất cả những đốt than xương có hình thù đặc biệt và mang nhiều màu sắc và tro cốt của Thầy Minh-Đạt được thờ tại chùa Từ Ân. Sau khi được Tăng đoàn xác nhận đó là Xá-Lợi của một vị tu hành đắc quả. @

Ngoài Tăng đoàn Việt-Nam (trong số này có cả Thượng-Tọa Thích-Như-Điển ở Đức mà chúng tôi biết tiếng và tin tưởng ở đức hạnh), còn có quí sư Tây Tạng (như hình trên đây) chiêm ngưỡng và công nhận Xá-Lợi của Thầy Minh-Đạt (ảnh trích trong quyển Từ Người Lên Phật của Thầy Minh-Đạt, được in lần thứ hai).

 

Xá Lợi Bà Diệu Âm Huỳnh Ngọc Tuyết
Vãng sanh ngày 28/2/1996

 

Bà Huỳnh-Ngọc-Tuyết, Pháp danh Diệu Âm theo chúng tôi biết, là nữ cư sĩ đầu tiên ở hải ngoại, sau khi lâm chung làm lễ hỏa táng lưu lại Xá-Lợi. Cái chết của bà Huỳnh-Ngọc-Tuyết có nhiều điều lạ lùng đáng được cho người chuyên tu Tịnh Độ tìm hiểu tường tận, để áp dụng cho mình, nếu thật sự người ấy quyết tâm vãng sanh Cực-Lạc.

Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật là Kinh Tịnh Độ sau cùng Đức Phật dạy pháp môn Niệm Phật thành Phật. Bà Diệu Âm Huỳnh-Ngọc-Tuyết thực hành đúng theo Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật, với lời dạy của Đức Phật: "Nếu có chúng sanh nào chí thành xưng niệm danh-hiệu Nam-Mô A-Di-Đà Phật, thì uy lực bất-khả tư-nghị của danh-hiệu khiến Tâm thể thanh-tịnh mà chúng sanh ấy không hề hay biết, tự nhiên chứng nhập Sơ-Phần Pháp-Thân, âm thầm ứng hợp với Bi-Trí Trang-Nghiêm của Phật".

Như vậy chắc-chắn bà Huỳnh-Ngọc-Tuyết đã chứng nhập chẳng những Sơ-Phần Pháp-Thân, được Phật và Thánh Chúng tiếp dẫn về Thế-Giới Cực-Lạc. Vì Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật có nói thêm:

"Chúng sanh nào sống thuần bằng tư tưởng, thì bay lên hóa sanh nơi các cõi Trời. Nếu trong sự thuần tưởng, lại gồm có phước huệ và tịnh nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở mà được thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyên lực của mình mà sanh về Tịnh Độ".

Như đã nói bà Huỳnh-Ngọc-Tuyết tu đúng với ý nghĩa thâm sâu của Kinh Niệm Phật Ba-La-Mật. Chẳng những bà sống thuần tưởng và còn dứt cả mọi tình cảm ở thế gian nầy.

Cái chết đau đớn của chồng!

Bà Diệu Âm Huỳnh-Ngọc-Tuyết qua đời để lại ba đứa con gái và ba đứa cháu ngoại. Cô con gái lớn của bà tên Huệ-Nghi đã kể lại với chúng tôi:

"Bà Huỳnh-Ngọc-Tuyết sanh tại Việt-Nam, người Hoa ở Chợ Lớn, chồng là Trần Hòa Bình, khi còn ở Việt-Nam cư ngụ tại đường Hai Bà Trưng, nguyên chủ trại chim bồ câu Đông Phương Thủ Đức và Công Ty Đông Phương Mật Ong. Vào năm 1979 ông Bình đưa vợ và 3 con gái sang Mỹ định cư theo diện di dân được sự bảo lãnh của em trai, và ngụ tại Dallas, Texas.

Ở Dallas, vài năm sau ông ta mở tiệm buôn bán, với kinh nghiệm sẵn có, ông đạt được thành tựu, nhưng không may mắn, vào một hôm buổi trưa tiệm ông bị cướp, ông bị giết tại hiện trường bởi con dao bé nhỏ đâm vào ngực. Ông Bình qua đời hưởng thọ 55 tuổi. Thế rồi từ đó vì cái chết đột ngột của chồng, bà Tuyết trở nên buồn chán. Rất đau khổ, bà ta không chấp nhận sự thật, và bà đi tìm câu hỏi tại sao thế gian này có nhiều đau khổ như vậy?

Sau khi an táng chồng, do sự giúp đỡ của Chùa Pháp-Quang. T.T. Thích-Trí-Hiền nhìn thấy cảnh đau thương của gia đình bà, Thầy tặng cho bà Tuyết và 3 đứa con gái mỗi người một quyển kinh "Địa Tạng" bằng Hán văn và khuyên đừng khóc nữa, hãy về đọc kinh và hồi hướng cho ông Bình. Từ ngày đó bà Tuyết bắt đầu tụng kinh thường xuyên, lần lần tâm sám hối bắt đầu trổ ra và tâm bố thí được mở rộng. Thế rồi bà thường lui tới những ngôi Chùa ở vùng phụ cận Dallas. Và cuối cùng bà quy y tại Chùa Tịnh Độ với Pháp sư Tịnh-Không được đặt pháp danh Diệu Âm.

Vào năm 1991 chùa Tịnh Độ tại Dallas chỉ là một tu viện rất nhỏ của người Đài Loan chỉ niệm Phật và tụng kinh Vô Lượng Thọ, nhưng bên trong tu viện là một kho tàng đựng nhiều sách kinh, đặc biệt chỉ cho không có bán. Được biết mỗi lần sách tới là được phân phát đi khắp mọi nơi trên toàn thế giới.

Hãy sống với chánh nghiệp

Và từ đó bà Tuyết bắt đầu vui vẻ, ăn chay trường, mỗi ngày đến chùa tụng kinh niệm Phật chung với các Sư, làm công quả cho chùa, cạo tóc giùm cho các cư sĩ, may vá cho các Sư. Khi Sư đau chăm sóc và đưa đi bác sĩ, nấu ăn chay cho bữa trưa, giúp thâu những cuốn băng thuyết pháp, đóng sách gởi đi, v.v..., có khi mãi đến tối mới về. Có một hôm tôi thắc mắc và hỏi mẹ: Ở chùa buồn quá có gì vui đâu, sau mẹ đi hoài vậy? Mẹ tôi trả lời nói rằng: "Bây giờ là lúc vui nhất, sống một cuộc đời có nghĩa, bố con vô lộn nghề rồi, con đọc kinh nhiều rồi sẽ thấy sự thật" và mẹ tôi khuyên 3 đứa tôi nên tụng kinh niệm Phật. Chị em chúng tôi nghe vì chiều mẹ cho vui thôi.

Trong khoảng thời gian đó, là năm 1991 cho tới năm 1996, nếu ai có đi chợ VN Market hay chợ Tàu, phố Tàu, những tiệm bán sách hay là tiệm bán bánh, ở trong tiệm sẽ thấy có kệ đựng sách kinh và những cuốn băng thuyết pháp được chất gọn với nhau để chúng sanh được thỉnh free về đọc, đây là một trong những công việc của mẹ tôi thường làm.

Quyển kinh Địa Tạng đầu tiên do Sư Thích-Trí-Hiền biếu, khiến cho tâm mẹ tôi được khai mở và từ đó về sau, mẹ tôi thường tới thăm Thầy, giúp Thầy những gì khi cần, ví như ấn tống tượng Phật, sách kinh, tu sửa Chùa, hay với những gì mà mẹ tôi học được ở Chùa Tàu mà cảm thấy có thể giúp ít được, hoặc là những cụ khí trợ duyên khi ngồi niệm Phật. Cái gì hay thì mẹ tôi sẽ kể cho các cư sĩ nghe để cùng nhau học hỏi chung.

Vào năm 1992 chùa Tịnh Độ được khai mạc tên là Tịnh Trung Học Viện, do sư Ua Sieng đảm nhiệm và Bà quản lý tên Hàn-Anh. Bà Hàn-Anh là người phụ trách đại sự của tu viện ở nội địa hay ở các nước ngoài, và bà cũng là người duy nhất hộ pháp cho pháp sư Tịnh Không đã hơn 30 năm qua. Mẹ tôi hợp với bà quản lý, mỗi lần bà về đây đều phải gặp mặt ăn cơm trò chuyện với nhau. Chắc là đồng cảnh ngộ quả phụ, và đồng tâm hướng về đạo pháp. Bà Hàn-Anh chỉ dạy mẹ tôi đủ thứ, cách dùng pháp khí, các phương thức khi làm lễ, nghi thức tụng niệm, và thường khuyên mẹ tôi hãy giúp đỡ các sư, cư sĩ, cùng nhau tu hành làm phước, tạo phước để vượt thoát luân hồi cùng vãng sanh chung. Được sự khuyến khích của bà Hàn-Anh, mẹ tôi thường ở lại tu viện. Mẹ tôi rất thông minh, chỉ học một lần là nhớ, ví dụ như cách dùng pháp khí khi tụng kinh, cái nào cần đánh cần gõ, trước hay sau; phương thức làm lễ Phật thất, đại lễ khai kinh, quy y; mẹ tôi đều nhớ hết cho nên bà Hàn-Anh thường kêu mẹ tôi làm giùm. Tịnh Trung Học Viện thời đó rất vui, vì sư và cư sĩ hòa đồng với nhau cùng đọc kinh, cùng làm Phật sự. Lúc bấy giờ chủ trì Ua Sieng, hướng dẫn niệm Phật cho những người lâm chung. Lần lần Tịnh Trung Học Viện tổ chức thành một "phái đoàn niệm Phật". Ai cần thì họ sẽ tới hộ niệm, trong đó có mẹ tôi. Nghe bà Âu Thục Anh thuật lại rằng: "mẹ của con có cái gan to lắm, tụi tôi thì nhát gan, khi mà tới hộ niệm thì mình phải đứng xung quanh người chết, rồi niệm A-Di-Đà Phật, cũng ớn ghê lắm chớ, tôi thì sợ lắm chỉ đứng ở đằng sau, mẹ của con luôn luôn được đứng hàng đầu, mẹ con nói sợ gì niệm Phật rồi một hồi sẽ quên thôi, cho nên ngày nay bác bạo hơn xưa nhiều, cũng chính nhờ mẹ con đó".

Bà Tuyết lâm bịnh ung thư

Huệ-Nghi kể tiếp:

Rồi một ngày kia, tự nhiên mẹ tôi bị xuất huyết, liền chở vào nhà thương, thí nghiệm xong, kết quả cho biết bị ung thư tử cung. Nhớ ngày đó, mẹ từ nhà thương gọi điện thoại về cho tôi biết, y bị ung thư, hai chữ ung thư tôi vừa được nghe tự nhiên nghẹn ngào không nói ra lời, tôi chỉ yên lặng tay cầm điện thoại, rồi nghe tiếng mẹ tôi khóc và nói: "Tuấn nó còn nhỏ quá, mẹ ráng sống cho tới ngày nó được đi học, để con đỡ khổ"

Sau khi mổ xong xuất viện được về nhà dưỡng bệnh, vài tháng sau, mẹ tôi lại trở về tu viện tụng kinh niệm Phật, làm công quả như những ngày cũ. Lần nầy mẹ tôi chỉ đi có 5 ngày ở chùa, còn 2 ngày kia thì đi làm việc xã hội từ thiện cho hội "tzu chi". Cháu Tuấn được 2 tuổi, không được theo ngoại đi chùa thường xuyên nữa, trong 1 tuần chỉ đi được hai ba bửa thôi. Tôi không muốn mẹ tôi cứ lo cho cháu hoài, vì tôi thường nghe Sư ông Tịnh Không thuyết pháp trong băng, nên tôi cũng hiểu được chút đỉnh, mặt khác vì sợ mẹ tôi yếu sức. Nhờ vậy chiều thứ năm nào mẹ cũng tới thăm và kể cho tôi nghe thật nhiều chuyện về hội từ thiện, mẹ đi theo những bà cụ già đã về hưu đến thăm viếng các nhà dưỡng lão, làm từ thiện hỏi thăm sức khỏe, vô trong bệnh viện viếng thăm bịnh nhân, đi xin người quen cho quần áo cũ đem về giặt rồi xếp lại để phát cho những người nghèo, đi quyên tiền cho nạn bão lụt, có khi mẹ tôi đi xuyên bang phát lương thực giùm cho các hội từ thiện, v.v... đủ thứ. Đôi lúc tôi n