Ngược Dòng
逆 流
Nguyên tác Anh Ngữ: Against the Stream
Tác giả:
Beachcomber (Abhinyana)
Việt dịch: Minh Thiện
( 明
善
鄭
整)
–-o0o–-
Trang i. Ngược dòng thời
gian năm 1984, tôi viết quyển sách đầu tiên ‘Chìa Khóa cho người Tỵ Nạn’
dành cho những người tỵ nạn Đông Nam Á, giúp họ giữ vững niềm tin và
hiểu biết tường tận hơn về tôn giáo của mình để đối đầu với các hành
động có hậu ý của các nhà truyền giáo Ki tô muốn họ cải đạo. Sau đó vài
năm, tôi viết thêm vài mục với lời tựa mới là ‘Thực Tiễn’. Bây giờ sau
10 năm, quyển sách lại được ‘tái sanh’ lần thứ ba với tựa mới ‘Kẻ Sống
Lang Thang trên Bờ Biển’. Tôi đã thay tên mới, tên mà tôi cảm thấy thích
hợp hơn cả. Từ trước đến nay, tôi luôn thích đi bộ dọc theo bờ biển nhìn
sóng biển đưa vào đủ thứ thập vật: vỏ sò, đá cuội, gỗ mục, v.v.. . Đây
là một lối nhìn khác về cuộc sống, mở ra cho thấy những điều không ngờ
tới, rút ra được những bài học, tự hỏi ta có thể biến thành hữu dụng,
những gì mà người khác cho là vô dụng.
Nói chung, chúng ta là những người may mắn nhất trong
lịch sử, những người đang ở trong thời biến hóa không tiền khoáng hậu
nầy. Chúng ta giống như đang ở trên triền núi nhìn xuống phía dưới chúng
ta với người là người. Trông họ như đàn kiến hay như những hạt cát trên
đồng. Chúng ta không biết cũng như không thể biết họ là ai nhưng chúng
ta có thể nghĩ được rằng nếu không có họ ở đó từ lâu thì chúng ta cũng
không có sự hiện diện ở đây như bây giờ. Sở dĩ ta hiện hữu hôm nay là vì
họ đã có từ lâu. Nếu không có sợi dây tương tục đó, ta không thể hiện
hữu.
Tự mình ta khó có thể hoàn thành được gì cả. Và nếu hoàn
thành được là nhờ nhân duyên hỗ trợ của vô số kẻ khác, còn sống hay đã
chết. Ngay cả ngôn ngữ đã giúp cuộc sống ta phong phú và có ý nghĩa. Nó
không phải là của ta mà nó đến từ nhiều người khác. Không một cái gì có
thể cho rằng là của riêng ta. Ta hiện hữu là hiện hữu với tập thể, nó là
một phần của cái gì đó to lớn hơn mỗi cá nhân ta.
Trang ii. Do sự thấy được
có rất nhiều người ở phía dưới giúp ta nhận thức rằng ta còn nợ rất
nhiều người. Nhìn lên trên ta thấy đỉnh núi còn cao lắm, còn mây mù rất
khó thấy. Bạn và tôi sẽ khó mà đạt tới đỉnh. Giống như những người đi
trước, ta may mắn đạt được một số bước đi trước rồi ta còn phải giúp
những kẻ khác theo sau mình. Rồi ta cũng sẽ chết. Nếu sống có mục đích,
ta sẽ chết một cách toại nguyện khi biết rằng ta đã hết sức cố gắng giúp
người khác leo cao hơn ta. Nếu ta nghĩ đến mình một cách riêng rẽ, tách
rời thì cuộc đời không còn ý nghĩa nữa.
Cái ta đang làm là muốn có một con đường tâm linh tức là
sự chủ ý quay lưng lại với các đường lối thế gian, tức (lội) Ngược Dòng,
và đây là tựa đề của quyển sách. Đây là cách chọn lựa có ý thức của
mình. Đây không phải là sự chọn lựa nửa vời. Và cũng không phải là ta
ngoảnh mặt làm ngơ với thế sự rồi vào hang động ở như là ẩn sĩ. Ngược
lại đó là chúng ta đã quyết định cố gắng giữ giáo pháp của đức Phật là
trung tâm của đời sống và chung quanh nó là các hoạt động của mình. Đây
không phải là chuyện làm bán thời.
Vài bài ở đây được đổi chút ít từ quyển Thực Tiễn, những
bài khác được thêm thắt ít nhiều. Có bài hoàn toàn mới. Cũng có một số
lỗi lầm tôi chưa thấy được nhưng cũng có một số lỗi là do sự chủ ý của
tôi. Chỉ là để xem có ai nói ra cho tôi biết hay không. Tôi cũng viết
bằng chữ nhỏ không phải là để tiết kiệm giấy, mặc dầu nó cũng là một lý
do. Mục đính là để người đọc phải cố gắng một chút. Tại sao tôi phải làm
vậy mà không làm cho dễ dàng hơn? Tôi xin hỏi tại sao ta phải chìu lòng
người lớn với lối cư xử con nít vậy; cưng chìu như vậy có làm hư đốn họ
thêm không? Tôi biết có người sẽ than phiền là chữ nhỏ quá. Nếu vậy thì
tôi sẽ hỏi họ là khi đọc báo họ phải làm sao?
Trang iii. Nếu lưu tâm
muốn đọc, ta vẫn dùng kiến phóng đại để đọc. Và tôi bảo đảm rằng khi có
sự lưu tâm đúng mức, bạn sẽ đắc chút ít cái gì sau đó. Tất
cả tùy thuộc vào bạn. Mục đích của tôi vẫn là quay bạn trở lại với chính
bạn.
Beachcomber. Mã lai, 1998
* * *
TIN THÌ KHÔNG THẤY
Trang 1. Lòng tin là chính yếu và cần thiết
đối với các tôn giáo Hữu thần và dựa vào Thượng đế; không có ‘lòng tin’,
họ sẽ không hiện hữu. Đây là một trong những điểm chính mà đạo Phật (đạo
Khổng, đạo Lão) khác với các tôn giáo khác. Vì không dựa vào Thượng đế
nên họ không cần có Lòng tin (tuyệt đối).
Tại
sao vậy? Bởi vì ta có thể thấy được cho chính ta. Chính ta, nếu luôn cố
gắng cầu tiến, nó sẽ dạy ta. Khi ta chỉ cần tin mà thôi thì đầu óc ta đã
bị đóng khung rồi. Làm sao ta khám phá ra chân lý được nếu đầu óc ta đã
đóng khung sẵn rồi. Ta phải rộng mở, phóng khoáng, không thành kiến và
sẵn sàng học hỏi chứ không đóng khung, hẹp hòi và giáo điều.
Đức
tin là một chướng ngại cho việc tìm ra chân lý. Chúng ta Tin khi không
Biết; đã Biết rồi thì không cần Tin! Thấy là Biết còn chỉ Tin thôi thì
không Biết. Tin thì còn thay đổi. Thấy Biết thì không. Chẳng hạn ta biết
rằng lửa thì nóng và nước thì ướt; bây giờ cũng vậy, trước đây nó cũng
vậy và sẽ luôn luôn như vậy; nó không phải là chuyện để tin.
‘Tin’
buộc ràng đầu óc ta còn chặt hơn dây xích cột chặt thân ta. Hầu hết
chúng ta là tù nhân của lòng tin dưới hình thức nầy hay hình thức khác.
Ngay cả người có tánh ‘không tin’ cũng là một tù nhân. Chính sự kiện mà
họ cho rằng họ không tin cũng chứng minh điều nầy vì ‘Không Tin’ là mặt
trái của ‘Tin’. Ta không thể nào Không Tin trừ phi trước đó ta đã Tin.
Nếu chúng ta được Thấy sự việc một cách rõ ràng thì chúng ta sẽ bỏ qua
một bên sự Tin cũng như sự Không Tin.
Cách đây hàng trăm năm, người châu Âu tin rằng Trái đất
của chúng ta là trung tâm vũ trụ cùng với Mặt trời và tất cả những hành
tinh quay chung quanh nó giống như những gì mà Giáo hội Cơ đốc đã dạy.
Nhưng sau khi quan sát bầu trời qua một viễn vọng kính mới phát minh của
mình, khoa học gia người Ý tên là Galileo (1564-1642) khám phá ra rằng
nó không phải như vậy mà ngược lại Trái đất quay chung quanh Mặt trời.
Khi công bố điều này ra liền có sự phản đối. Giáo hội lúc đó vì quyền
lực trùm khắp mọi lãnh vực nên không sẵn sàng chấp nhận sự kiện nầy, bèn
đem ông ra tòa. Bị đe dọa bỏ tù hoặc phải chết, Galileo bị buộc ký nhận
là mình đã sai lầm. Cũng không bằng lòng, Giáo hội bắt quản thúc cho đến
hết đời ông. Đáng lẽ ông phải đoán được điều nầy mà giữ kín về sự khám
phá của mình. Nhưng như vậy thì sự thật chắc phải mất một thời gian lâu
mới được công bố.
Trang 2. Mãi đến năm 1980,
vâng 1980 chứ không phải 1580, một Ủy ban thuộc Giáo hội họp tại La mã
để tái cứu xét vị trí Trái đất đối với Thái dương hệ, và sau khi thảo
luận đề tài trong nhiều ngày, đồng ý với Khoa học cho rằng Trái đất quay
chung quanh Mặt trời, và vì thế Galileo mới được cho là đúng! Rồi đến
năm 1983, Giáo Hoàng John-Paul II chủ tọa một buổi họp gồm các vị quyền
cao chức trọng của Giáo hội, các sử gia và khoa học gia, công khai nhận
lỗi của Giáo hội và tuyên bố Galileo vô tội. Quả thật là sự mất mặt cho
một Giáo hội được xem là không bao giờ sai lại phải mất một thời gian
quá lâu để thú nhận lỗi lầm nầy. Cuối cùng, một Galileo đáng thương đã
được trắng án. Nhưng phải mất 350 năm kể từ ngày ông chết! Và lương tâm
của Giáo hội có một chút nào đó được khuây khỏa! Thế là Chân lý cuối
cùng đã thắng nhưng quá trễ đối với Galileo.
Chúng ta đã thích nghi mau lẹ và tuyệt vời với các tiến
bộ kỹ thuật vượt bực; chúng ta đã hiện đại hóa và có đầy kỹ năng. Tuy
nhiên về phương diện tâm linh thì hầu hết chúng ta khá lạc hậu. Quả thật
rất không quân bình. Hạnh phúc chúng ta mong cầu đã thoát khỏi tầm tay
mình; chúng ta không hiểu rằng chính phẩm chất tinh thần chứ không phải
vật chất mới là quan trọng.
Rất là cần thiết phải quân bình cuộc sống bên ngoài với
cuộc sống bên trong; khá nhiều rắc rối vẫn tồn tại vì chúng ta thất bại
trong việc quân bình đó. Đời sống ngoại vi, tức mặt kỹ thuật và vật
chất, chúng ta đã tiến bộ vượt bực trong vài thế kỷ sau nầy, đặc biệt là
thế kỷ nầy. Nhưng về mặt tinh thần thì chúng ta không theo kịp. Quả thật
là tinh thần của chúng ta sống trong hang động còn xác thân thì an nghĩ
trong nhà cao cửa rộng. Đây là vấn đề.
Trang 3. Nếu chúng ta không
thực tế mà loại bỏ bớt sự quá tiện nghi của đời sống thiên về vật chất
như hiện nay và vẫn không ‘cập nhật hóa’ cái đầu của mình với ‘chánh
kiến’ và ‘chánh mạng’ (tức thấy biết cho đúng và sinh sống sao cho phù
hợp với cái thấy biết đó) sao cho việc sống chung với nhau được hòa hợp
hơn. Nếu không thể hay không chịu sống như vậy, chúng ta sẽ bị xâu xé
giữa hai thế giới: cũ và mới, sơ khai và hiện đại.
Có người trong chúng ta sống với các tìêu chuẩn cũ chỉ
có hiệu quả trong quá khứ, từ khước các sản phẩm hiện đại hóa. Điều nầy
không được thực tế. Cái ta cần là con đường thực tiễn. Nó sẽ giúp ta
sống thích nghi với hiện tại mà không cảm thấy bị xa rời, cô lập. Có Con
Đường đó hay không? Muốn tìm ra nó, chúng ta phải xét đến lịch sử và cơ
cấu các tôn giáo và các hệ thống triết học, chứ không phải chỉ có ‘tin’
là đủ. Nếu làm được như vậy, ta có thể thấy được một số sự việc chỉ có
bề ngoài mà thôi, giống như đề mục giới thiệu phim ảnh, hoặc những gì
thích hợp cho loại sách thần thoại và các chuyện thần tiên. Bạn có
thể cho chó gặm xương không có thịt trong một thời gian ngắn; chúng gặm
đỡ cho vui nhưng không được lâu đâu!
Tôn giáo, qua các thời đại, đã tạm giúp cho qua các nỗi
khổ đau của con người và cho niềm hy vọng về một cuộc sống sau khi chết.
Nhưng một số tôn giáo chỉ là xương mà không có thịt–nó không được chứng
minh rõ ràng, nó chỉ tùy thuộc vào lòng tin. Đạo của bạn là ‘đạo theo’
hay là đạo chính bạn chấp nhận. Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao mình theo
Đạo nầy, tại sao mình chọn Đạo nầy; Đạo nầy chỉ có xương mà không có
thịt, một bộ xương được lộng kiếng hay đây là Đạo tạo sự sinh động? Hãy
thành thật tự hỏi mình mà không chút sợ phiền: ‘‘Tôn giáo tôi cho tôi
cái gì?’’ Nó chỉ cho bạn những lời giải thích theo lối mòn xưa cũ và
những giáo điều không hợp lý? Nó có cung cấp cho bạn được một thế giới
quan phù hợp với các điều kiện hiện tại và thay đổi không ngừng hay
không? Nó có giúp tâm bạn được bình an trong một thế giới loạn động có
thể dẫn tới diệt vong hay không? Nó có giúp bạn thấy được cái giống nhau
trong vô số cái khác nhau không? Nó có giúp bạn cảm thấy một phần của
mình trong nhiều phần khác không? Nó có cho bạn một chỗ đứng cùng với sự
liên hệ với các thành phần khác không? Nó có cho bạn thấy được sự quan
trọng của bạn hay chỉ xoay chuyển bạn phải chịu lệ thuộc vào nó mà không
có ý nghĩa?
Trang 4. Khi tất cả những gì
họ ném cho bạn là những lời hứa hẹn được cứu rỗi và được lên thiên đàng
nếu bạn tin họ (còn nếu không tin thì có những lời đe dọa) ngoài ra
không còn gì để thấy mà chỉ là những dấu hiệu của sự phá sản tâm linh.
Còn phải mất bao lâu nữa để chúng ta tiếp tục bị lừa dối bởi những người
chuyên lừa đảo đóng vai trò người thầy!
Cái cốt lõi của vấn đề là sự Sợ hãi: Chúng ta sợ chết và
ngay cả sống cũng sợ. Nếu chúng ta tìm thấy cái ý nghĩa của cuộc sống,
nếu cuộc sống của chúng ta không quá nông cạn và rỗng tuếch thế thì
chuyện sợ chết hay sợ sống hay cả những gì xảy ra sau khi chết sẽ giảm
bớt. Chúng ta không cần nhiều lý do hay động cơ để sống cho hay cho giỏi
ngay Bây-giờ và Ở-đây mà cần làm cái gì cần phải làm mà không tham cầu
đến kết quả.
Nếu chúng ta chân thật với cuộc đời thì cuộc đời sẽ chân
thật với ta. Không có trò chơi nào mà không có luật chơi. Nhận ra luật
chơi càng sớm, ta càng có khả năng chơi mà không bị thua mãi.
Nếu xét đến các niềm tin của mình một cách khách quan,
chúng ta có thể thấy biết chúng có giá trị hay không. Chấp nhận lời của
những người khác hay tin vào những gì được viết ra trong sách thật ra
chưa đủ; tại sao ta không cố gắng thêm để tự mình thấy biết cho chính
mình? Chúng ta sống trong một thời đại khai sáng (‘enlightened’
chứ không phải ‘ennightened’ thưa quí vị!). Tại sao lại phải bằng
lòng với nhãn hiệu ‘con của Phật’, ‘người của Ki tô’, cái nầy cái kia,
chỉ vì do cha mẹ ông bà ta đã theo như vậy nên ta theo đạo (hay ‘đạo
theo’)? Chúng ta có cuộc đời của riêng chúng ta. Phải có khả năng chọn
lựa một hướng đi cho mình. Khi đi sắm hàng, ta chọn những gì mà mình
muốn trong vô số đồ vật. Thay vì mua món gì đến trước thì mua ngay. Ngày
hôm nay đối với hầu hết mọi người, ta đều có thể học bất cứ cái gì ta
muốn; không có kiến thức bí mật nào dành riêng cho nhóm đặc biệt nầy hay
nhóm ưu tú nọ; khả năng đọc tuyệt vời sẽ mở ra được cánh cửa của Tòa nhà
Kiến thức. Nếu các vấn đề Hạnh phúc và Sự thật thực sự là điều quan
trọng với mình thì chắc chắn là chúng ta sẽ tìm thấy ở rất nhiều nơi, và
nó không làm cho chúng ta bị đóng khung trong các ý kiến tư tưởng của
những người chung quanh mình.
Trang 5. Tin hay không tin
chỉ là 2 mặt của một đồng tiền. Chúng đi đôi với nhau không rời nhau,
giống như đen và trắng, ngày và đêm; cái nầy ngụ ý cái kia. Chỉ khi nào
chúng ta bỏ 2 cái đó qua một bên, chúng ta sẽ có khả năng thấy biết thực
sự.
Buồn thay, lừa đảo người dễ hơn khai sáng người? Chỉ có
những kẻ lười biếng mới tin những gì người khác nói, và rất dễ bị lừa
đảo bởi những người gian manh và vô lương tâm trên thế giới. Có thể họ
là những kẻ đi gõ cửa bán hàng từng nhà: chính trị gia, người truyền
giáo, hoặc những kẻ thuần túy nói dối và ăn cắp!
Một số niềm tin của nhiều tôn giáo không chịu đựng nỗi
với sự khảo sát chặt chẽ và nghiên cứu tận tường, vì nó không được đặt
trên căn bản sự thật. Dĩ nhiên là chúng ta có thể giải thích làm sao chỉ
cần hợp lý cho mình trong khi nó không chút hợp lý nào cả; chúng ta
thích chơi trò ú tim, chơi mãi như vậy đã từ lâu đến độ ta quên đó là
trò chơi và xem nó như thiệt, vì vậy bị lạc đường mà không hay. Hoặc
chúng ta ngủ, ngủ một giấc rất dài cho đến khi nào có một chuyện gì đó
làm đau đớn và khó chịu đến với chúng ta làm phiền giấc mơ của mình rồi
lại đưa ta trở lại con đường cũ.
Ít khi nào ta tự thấy với con mắt và cái tâm riêng của
mình mà thường qua những người khác: gia đình, bạn bè, lãnh tụ, nhà văn,
nhân vật nổi tiếng–đôi khi với con mắt của kẻ thù với mình nữa! Chúng ta
chấp nhận các tiêu chuẩn của người khác: họ nói đẹp nói xấu, nói hay nói
dở...ta cũng nói theo. Ta rất dễ bị khai dụng và kiểm soát. Nếu chúng ta
dùng đôi mắt và tâm riêng của mình, chúng ta có thể biết để tự thấy sự
việc rõ ràng hơn và sâu sắc hơn; chúng ta sẽ trở nên thức giác hơn về
các môi trường kỳ thú cũng như cái đẹp của chúng. Tự nhìn rồi sẽ thấy
khác!
Ở đây tôi không khuyên bạn là không theo quan điểm của
tha nhân mà là nên nhìn theo nhiều góc cạnh khác của một sự việc chừng
đó chúng ta sẽ có một bức tranh rõ ràng hơn. Không, chúng ta không nên
tự cho phép mình bị ảnh hưởng một cách thái quá bởi những người khác
trong việc chấp nhận quan điểm của họ mà không xem xét cẩn thận. Chúng
ta có khả năng suy nghĩ, phải không các bạn? Đây là yếu tố chính yếu để
phân biệt chúng ta với các loài vật cấp thấp chỉ biết sống bằng bản năng
và có rất ít sự chọn lựa cách sống riêng cho mình. Chúng ta có
thể suy nghĩ, chúng ta có thể chọn lựa và quyết định, chúng ta
có thể thay đổi cuộc sống của mình–nếu chúng ta thực sự muốn.
Trang 6. Đa số nghĩ rằng từ
bỏ niềm tin là mất tất cả; điều nầy không thể có được. Có thể nào sống
mà không cần lòng tin về tái sanh, thiên đàng, v.v... Có thể nào nghe
người khác, chẳng hạn như một người truyền giáo, cha, thầy, lãnh tụ...mà
không cần vội tin, để sau đó ta có thể khám phá xem những gì họ nói là
có thật hay không? Tôi xin nói: ‘‘Vâng, có thể được!’’ Và cũng xin đừng
tin tôi vội. Cố gắng đi các bạn. Hãy tự mình tìm hiểu cho mình.
Tại sao lại phải bằng lòng với
mấy khúc xương cũ? Hãy đòi hỏi thực tế ngay bây giờ?
* *
Nếu nó sai, hãy vứt nó
đi!
Trang 7. Cách đây nhiều năm,
truyền hình Anh quốc có phát thanh một chương trình có tên là Catweazle
nói về một người phù thủy từ thời vua Arthur trong thần thoại. Vì một
trong những thần chú của người phù thủy nầy bị thất bại, xảy ra không
đúng như ý muốn nên ông bị chuyển đổi vào thời thập niên 1960’s. Hãy
tưởng tượng sự ngạc nhiên với những sự việc xảy ra chung quanh ông: bóng
đèn điện làm mê hoặc ông mà ông tưởng như ‘mặt trời trong cái chai’;
điện thoại viễn liên (chúng ta ngày nay sử dụng thoải mái không phải suy
nghĩ tại sao lại có) mà ông gọi là ‘bộ xương biết nói’ (vì quả thật nó
giống như bộ xương). Cũng có các sự việc buồn cười khác trong câu chuyện
của vị phù thủy nầy nhưng bây giờ thì tôi đã quên.
Giả thử bây giờ chúng ta hãy đem máy truyền hình trở
ngược lại 500 năm và trình bày cho con người thời ấy xem: bạn nghĩ là họ
sẽ nghĩ sao? Chắc chắn sẽ có người cho rằng đây là trò yêu thuật hay của
đám ‘Ma quỉ’ và sẽ cố gắng phá hủy nó. Cũng có kẻ cho đây là phép lạ và
biến nó thành một thứ tôn giáo mới với các các giáo sĩ phụ tá điều hành
và dùng nó để khuất phục người khác. Lại cũng có người không nhận đây là
sự thật mà cho đó là ảo tưởng là trò lừa đảo. Cũng có thêm một loại
người sẽ tìm hiểu tại sao quá nhiều người nhiều vật lại tập hợp được hết
vào trong một cái hộp nhỏ như vậy. Các phản ứng quả thật là khác nhau.
Nhưng liệu có ai hiểu được điều nầy không?
Đến ngày nay thì truyền hình được xem là chuyện quá
thường, chẳng ai buồn hỏi tại sao. Thì thấy nó như vậy là như vậy chẳng
cần biết là nó đã xuất hiện được bao lâu rồi. Và có mấy ai hiểu được
ngay cả việc vận hành của chiếc máy truyền hình! Có người cho đó là dụng
cụ của bọn ‘Ma quỉ’ (ngay khi tôi viết các dòng nầy, báo chí đã cho biết
nhóm Hồi giáo chính thống kiểm soát chính quyền tại nước A phú hãn tức
nhóm Taliban đã ra lệnh cho người dân ở đó hủy bỏ các máy truyền hình và
máy chiếu cá nhân trong vòng 15 ngày vì họ cho rằng nó là người gốc của
sự mất đạo đức. Có người cho đó là một phép lạ (trong một ý nghĩa nào đó
thì quả thật là như vậy). Và như các bạn đã thấy có nhóm dùng nó al2 một
thứ tôn giáo. Phần đông mọi người chỉ vặn lên và xem chẳn thắc mắc gì.
Trang 8. Cái ý mà tôi muốn
nói ở đây là: dám nhận ra mình dại tức là mình đã khôn hơn ra. Những
người có lương tâm-tức những người chân thật muốn tìm ra đâu là sự thật,
không bằng lòng theo người khác hoặc phải chấp nhận các thuyết lý đã
được trao truyền từ quá khứ- đều can đảm từ bỏ các tư tưởng sai lầm, vô
ích và có hại khi họ biết rõ như vậy; họ không hỗ thẹn mà nhận rằng họ
không biết khi họ biết chắc rằng họ không biết, vì chính nhờ nhận ra sự
vô minh của mình tức có nghĩa là trí tuệ họ đã tăng trưởng. Thật vậy,
người ta đã cho là Đức Khổng Tử đã nói: ‘‘Tự nhận rằng mình không biết
những gì mình không biết, chính người đó đã biết, đã có trí tuệ; Đức
Phật cũng có nói: ‘‘Dại, biết mình là người dại tức là người khôn được
một chút rồi đó; kẻ dại mà nghĩ rằng mình khôn tức anh ta là kẻ dại
thật!’’
Tại sao Tôn giáo và Khoa học lại cách xa nhau thế? Hễ là
Tôn giáo thì phải đầy các điều dị đoan, lễ nghi và các tín điều ngu
xuẩn? Có thể nào có một tôn giáo mà nó không mâu thuẫn với Khoa học–-một
Tôn giáo có tính cách khoa học hay một Khoa học có tính cách tôn giáo?
Chúng ta có thể nào xem xét các sự vật một cách khách quan và đầy khoa
học hay không? Các khoa học gia luôn sẵn sàng thay đổi các lý thuyết của
họ khi họ thấy không còn áp dụng được nữa; nhờ vậy mà Khoa học đã tiến
bộ khá xa và tiếp tục tiến bộ. Nếu Tôn giáo cũng được tinh tấn theo cùng
một mức độ như vậy thì chúng ta đã tiến bộ, thế giới sẽ không ở trong
tình trạng mờ mịt, mơ hồ. Thực tế là vẫn còn nhiều người ‘sống trong
hang’ nếu nói theo nghĩa của tôn giáo, họ không sẵn sàng cũng như không
thể cập nhật hóa trong lãnh vực nầy. Vì vậy thế giới hiện này vẫn còn
trong tình trạng được gọi là mâu thuẫn ‘tôn giáo’ và chiến tranh, và
điều nầy có thể đưa đến sự bùng nổ Thế Chiến Thứ Ba.
Có hai loại Biết (Kiến thức): Loại Biết Trực tiếp và
loại Biết Gián tiếp. Hầu hết các loại Biết (Kiến thức) của chúng ta
không phải là của chúng ta mà là ‘sản phẩm đã xài rồi’. Chúng đến với ta
từ những nguồn như sách vở, truyền hình, người khác, nghe nói
v.v...Chúng tuy có ích trong nhiều lãnh vực nhưng chắc chắn không đủ.
Ngược lại, chúng ta Biết khá ít từ chính chúng ta. Với những cái Biết
Trực tiếp do tự chúng ta khám phá thì không có gì thay thế. Chúng ta
phải tự kinh nghiệm lấy với Sự Thật và với Thực Tế, giống như ta có kinh
ngiệm với lửa: ta Biết lửa thì nóng và cháy chứ không phải chỉ Tin nó mà
thôi.
Trang 9. Biết về máy móc, máy
vi tính, nghề mộc, nghề in, v.v...là điều quan trọng vì nó có thể giúp
chúng ta không chỉ kiếm ăn sinh sống mà cũng là để cải thiện thế giới
chúng ta đang sống. Tuy nhiên đời sống không phải chỉ để kiếm ăn sống
còn vì đó là cuộc sống bên ngoài. Còn cuộc sống bên trong nữa thì sao?
Chúng ta cũng phải xét đến việc cân bằng hòa hợp giữa 2 mặt đó sao cho
nó không mâu thuẫn với nhau. Phương Tây đã tập trung phần lớn và những
việc bên ngoài và đã tiến bộ vượt bực trong lãnh vực nầy; nó đã sản xuất
ra nhiều thứ có lợi cho toàn thể thế giới nhưng nó cũng đã gây ra nhiều
thiệt hại khủng khiếp, như võ khí hoá học và vi trùng, v.v...Nó đã thờ ơ
với tinh thần bên trong và chỉ để ý đến vật chất bên ngoài. Vì vậy hiện
nay đã có sự mất thăng bằng và khủng hoảng khắp mọi nơi. Chuyện xảy ra
như vậy cũng là thường thôi; chúng ta đong đưa từ thái cực nầy sang thái
cực khác, giống như quả lắc đồng hồ. Đến một lúc nào đó bất cân xứng
không còn hòa hợp và đau khổ thì quả lắc không còn hoạt động nữa.
Thế giới ngày nay đầy những ý tưởng sai lầm và điên rồ.
Không có một thực thể hay thực tế nào được gọi là Thế giới; tự chúng ta
chế nó ra; nó chỉ là ý tưởng, và ý tưởng thì phải chịu sự thay đổi, thay
đổi rất mau! Nếu chúng ta hiểu được điều nầy, ta sẽ có thể thay đổi các
ý tưởng sai trái và điên rồ trở nên tốt đẹp hơn; không có lý do gì để
chúng ta không làm được chuyện nầy.
Trang 10. Đức Phật đã nói:
‘‘Có hai thứ không có giới hạn của nó: Không gian và sự Dại dột của Con
người’’. Làm sao cái quả khổ có thể giảm bớt nếu cái nhân gây ra quả khổ
đó tiếp tục thắng thế? Chính những tư tưởng điên rồ–tức vô minh–đã gây
ra đau khổ cùng tất cả những tội ác trên thế giới. Không phải vì ta xấu
xa và tội lỗi mới làm những việc không hay, mà chính vì ta mù quáng và
dại dột. Có người có lúc mù dại, cũng có người luôn luôn mù dại. Không
lẽ ta cứ phải chịu mù quáng và dại dột hoài như vầy sao? Nếu có là tại
ta Muốn như vậy mà!
Nếu nói về mặt hiểu biết thì ta có 4 loại người?: 1.
Người hiểu mau; 2. Kẻ hiểu chậm; 3. Người không hiểu; 4. Kẻ hiểu lầm.
Và nếu bạn biết là sai thì tốt hơn không nên hiểu. Hiểu
sai và Biết sai chỉ làm cho người ta đau khổ.
Có bao giờ bạn nghĩ đến là tại sao chúng ta luôn luôn
nghĩ rằng mình đúng và kẻ khác sai không? Dĩ nhiên là ta nghĩ rằng sai
và đúng là thuộc về con người: Ông Đúng, Bà Sai. Quả thật chúng ta không
cần nhìn thật sâu ở đâu cả. Đúng và Sai không phải thuộc về Con Người,
không phải tôi, không phải bạn và nếu chúng ta chỉ cần ngừng lại và xét
đến Cái Gì sai Cái Gì đúng, thay vì Ai sai Ai đúng, nhiều vấn đề sẽ biến
mất ngay. Xin bạn cứ thử đi rồi sẽ thấy ngay!
Học và tập
Trang 11. Học và tập (to
learn) là một cái gì khác với học hỏi, nghiên cứu (to study). Học Tập là
căn bản và nó liên hệ đến kinh nghiệm của chúng ta, và vì vậy nó không
có cái gì có thể thay thế nó được. Trái lại học hỏi nghiên cứu là khoa
bảng và thường là những gì đã được biết rồi, được người khác cho biết,
được cắt sẵn và khô khan, giống như cỏ khô.
Một em bé không ngồi xuống và nghiên cứu tập đi đứng từ
sách vở, mà học tập từ kinh nghiệm riêng của nó, và sau nhiều thất bại,
chán nản, đau khổ và nước mắt. Ngay cả những em bé mù cũng phải học cách
đi; nó không phải chỉ do bắt chước mà được. Nó là Đạo, là Con đường.
Nếu muốn Học-Tập, bạn không nên chú ý đến cá tánh hay
diện mạo của người thầy, những việc ấy không phải là chuyện của bạn. Chỉ
nghe những gì ông nói, suy nghĩ kỹ để xem chúng có thật hay có ích hay
không. Nếu bạn thích hay không thích người thầy đó thì cái nhìn của bạn
sẽ bị che mờ.
Giữa ‘chicken’ và ‘kitchen’ có khác nhau không? Giữa
‘teacher’ và ‘cheater’? (Tôi đã được nghe những người học tiếng Anh lẫn
lộn về hai chữ nầy). Rất có nhiều người lừa đảo giả dạng làm thầy: ta
nên cảnh giác và cũng đừng vội tin hoặc phản bác họ ngay.
Vị ‘thầy’ chỉ quan trọng khi những gì họ nói là sự thực
và thích đáng. Thầy không nên làm cho chúng ta tùy thuộc họ như một vị
thuốc không có không được. Họ giúp ta học và hiểu rằng mọi người mọi vật
đều là người thầy. Đây là bổn phận của một người thầy.
Một vị vua trong dịp đi thăm một vùng cai trị của ông,
có các quan hầu cận. Trên đường đi, ông thấy trong vườn xoài có cây sai
trái có cây không. Vì thích xoài nên ông nghĩ: ‘‘Bận về, sau khi xong
chuyện ta sẽ bảo hái xoài cho ta’’ và ông tiếp tục đi. Các quan hầu cận
thì lại nghĩ khác. Họ cũng thích xoài nhưng không thể nào đợi chờ nên
lén nhà vua hái xoài bằng cây hoặc ném bằng đá. Kết quả là nhiều nhánh
cây bị gãy.
Trang 12. Sau đó, vua trên
đường trở về định bụng ăn xoài nhưng kết quả là xoài dập hư rất nhiều.
Là bậc hiền trí, ông không vội giận mà suy nghĩ rằng: ‘‘Đây là điều ta
để ý: cây sai trái thì bị gãy dập, cây không có trái ngon thì không hề
hấn gì. Quả thật đây là bài học cho ta. Có nhiều đau khổ nhiều, có ít
đau khổ ít. Với tâm thức nầy, nhà vua trở về hoàng cung, gọi người con
trưởng, đặt vương miện lên đầu người con và nói: ‘‘Từ hôm nay con là
vua. Hãy cai trị nước nhà một cách hiền trí.’’ Rồi ông thay áo mão nhà
vua bằng bộ quần áo khất sĩ, rời hoàng cung, sống trong rừng. Có người
tình cờ gặp ông hỏi: ‘‘Ai là người thầy của ông,’’ ông đáp: ‘‘Người thầy
của ta là cây xoài.’’
Chúng ta không nên ỷ lại vào sự chỉ dạy hoàn toàn của
người thầy mà phải luôn luôn tưới tẩm một tinh thần học hỏi chuyên cần
không ngừng. Tự học-tập luôn luôn có kết quả tốt đẹp nhiều hơn là được
chỉ dẫn. Tất cả những sự chỉ dạy trên thế giới sẽ vô dụng nếu chúng ta
không cần học.
Các câu trả lời cho hầu hết các vần đề của chúng ta
không được tìm thấy trong các sách vở. Nếu chúng ta dựa vào sách để giải
quyết tất cả vấn đề thì chúng ta sẽ luôn luôn chạy vào thư viện để tìm
câu trả lời. Đây không phải là chúng tôi bác bỏ sự hữu ích của sách vở
vì có vô số sự việc chúng ta cần đến nó; sẽ là sự dại dột nếu chúng ta
làm như vậy. Tuy vậy, hiểu được Phật Pháp, điều mà chúng ta có thể tìm
từ kinh sách, sẽ đem chúng ta đi xa hơn là những gì trong kinh sách có.
Đồng thời nó cũng giúp đỡ và khuyến khích chúng ta phát triển được cái
trí tuệ cần thiết để tìm ra các câu trả lời.
Trang 13. Muốn theo Con Đường
(Đạo), chúng ta phải là những người học tập chứ không phải là những kẻ
học theo (tức như những người khoa bảng). Điều đó có nghĩa là, với những
điều không biết, sẵn sàng thành thật nhìn nhận sự không biết của mình.
Giả dối về chuyện nầy và che dấu qua kinh nghiệm bằng cấp đại học là một
chướng ngại lớn. Có người vì lòng tự hào đã khiến cho họ không nhìn nhận
những điều không biết của mình. Do vậy, việc nói dối đó lại khiến cho họ
vô minh lần thứ hai. Lòng tự hào là một trở ngại hơn là một đức tánh. Đã
có người viết: ‘‘Hãy khiêm cung và càng khiêm cung hơn khi bạn đắc được
Trí tuệ.’’
Tôi có hơi buồn khi có người phê bình các buổi nói
chuyện của tôi: ‘‘Tôi học được gì nơi ông ấy?’’ Tôi buồn là buồn
cho họ chớ không phải cho tôi, là vì: họ có thể đúng, nhưng không phải
là vì không có gì để học mà là đầu óc của họ đã đầy ấp sự chấp thủ không
còn chỗ trống để chứa vào đâu cả. Nếu bạn biết cách học tập, bạn có thể
học cái gì đó từ mọi việc và mọi người. Khi muốn cầu tiến, chúng ta sẽ
không phiền khi phải chọn học ai.
Để chứng minh điều nầy, tôi xin kể lại một câu chuyện
nhỏ về một bác sĩ tại đất nước Mã lai Á.
Trong khi phục vụ tại một bệnh viện nọ thuộc Ban Đánh
Thuốc Mê, Bác sĩ Tân thường gặp phải khó khăn đối với các máy móc đã quá
cũ kỷ. Khi gặp như vậy, một nhân viên bệnh viện tên Muniandy được gởi
tới sữa vì anh ta là nhân viên độc nhất biết sữa loại máy đó cho nó chạy
trở lại. Viên bác sĩ vừa phục nhân viên nầy vừa buồn là sao chỉ có một
mình anh nầy có khả năng sữa máy mà không có ai khác. Vị bác sĩ nầy
quyết định học cách sữa.
Trang 14. Khi Muniandy được
yêu cầu chỉ dẫn, anh rất đổi ngạc nhiên vì nghĩ mình không được học
nhiều sao một vị bác sĩ lại đi hỏi chuyện cái máy nầy. Anh khiêm nhượng
từ chối. Bác sĩ vẫn một mực yêu cầu và giải nghĩa rằng nếu tự biết sửa
kịp thời thì ông có thể cứu được mạng người nếu máy hư. Muniandy hiểu ra
và rồi cắt nghĩa tận tình cho vị bác sĩ cách vận hành và cách sửa chiếc
máy đó. Bác sĩ hiểu ngay những gì Muniandy trình bày vì đây chỉ là những
gì do kinh nghiệm chứ không phải là trong lý thuyết.
Khi chuyển qua một bệnh viện khác, bác sĩ Tân gặp phải
một chiếc máy mới nhập cảng từ Đức quốc với các tờ chỉ dẫn cách sử dụng
nó bằng tiếng Đức. Tuy nhiên nhờ đã biết được cách sử dụng máy cũ nên
bác sĩ Tân nắm rõ sự phức tạp của chiếc máy mà không cần phải xem tờ chỉ
dẫn nhiều. Ông luôn nhớ những lời chỉ dẫn của Muniandy khi tiếp cận
chiếc máy.
Vài năm sao đó, khi bác sĩ Tân bắt đầu mở phòng mạch
riêng, Muniandy, lúc đó đã về hưu, đến thăm ông. Họ kể lại thời gian làm
việc chung với nhau và khi nhắc đến chuyện cái máy cũ, nước mắt Muniandy
lưng tròng. Anh nói: ‘‘Trong 35 năm làm việc tại bệnh viện, ông là người
duy nhất hỏi tôi về cách thức sửa chữa chiếc máy. Đó là những lúc vui
sướng nhất của tôi!’’
Có ai trên đời nầy mà biết tất cả không? Chúng ta không
có lý do gì để tự hào rằng tôi không biết hoặc không thể nói, ‘‘Tôi
không biết’’. Chỉ khi nào nói được với tất cả sự thành thật và khiêm tốn
thì lúc đó mới nói được rằng chúng ta đã tiến bộ trên con đường tâm
linh.
Trong mọi trường hợp, dù thích hay không thích, đều là
cơ hội để học hỏi. Các sự việc, dù đau khổ hay không thích thú thế nào
đi chăng nữa, đều có những điểm tốt để học. Một con muỗi chẳng hạn. Nó
giúp chúng ta: chế phục sự sợ đau, luyện tâm, thực hành sự kiên nhẫn và
nhất là lòng từ bi cao đẹp. Sao lại một ‘con muỗi’–một con vật tầm
thường và bị ghét cay ghét đắng–lại giúp ta được nhiều chuyện như thế?
Trang 15. Vâng, dĩ nhiên
không ai thích bị muỗi cắn, nhưng vì sợ đau nên chính cái sợ đó bị
khuếch đại khiến cái đau đó lớn hơn bình thường, đủ làm cho người ta có
thể thức nhiều giờ trong đêm, lo lắng con vật nầy tuy nhỏ nhưng gây
phiền toái, đang bay kiếm thức ăn chiều cho chúng. Bạn có thể tự trắc
nghiệm tâm lý chính mình. Để một con muỗi nào đó đậu trên da bạn. Nó hút
máu bạn, bạn không đuổi đi mà cố quan sát. Chỉ tốn 5, 10 phút thì nó đầy
bụng. Yên lặng nhìn tiến trình hút máu của muỗi đồng thời tự xét phản
ứng của mình. Không giận không sợ. Bạn sẽ cảm thấy là cái đau không lớn
lắm trong khi nếu bạn sợ thì nó có vẻ lớn hơn nhiều. Muỗi sau khi no nê,
cứ để cho nó bay đi. Dĩ nhiên là không giết nó. Đầy bụng, nó sẽ khó khăn
di động để bay thoát đi. Ta biết rằng chỉ có muỗi cái mới cắn và hút máu
để nuôi trứng đẻ. Đấy là việc tự nhiên, loài muỗi không có cách chọn lựa
nào khác.
Riêng chúng ta là loài người không cần phải chọn theo
các bản năng ác nghiệp đó. Chúng ta không cần phải hút máu các sinh vật
khác (mặc dầu có những kẻ chế tạo khí giới và những người hiếu chiến có
vẻ họ đã sống trên xương máu của đồng loại). Chúng ta có thể chọn cách
sống không bạo lực, không phá hủy hoặc sống yên bình và sáng tạo. Không
ai bắt buộc chúng ta phải hành động như những dã thú.
Sau khi muỗi bay đi, bạn cố gắng bình tĩnh (chánh niệm)
và quán sát sự mong muốn gãi ngứa ngay vết muỗi cắn; tự hỏi nếu không
gãi thì có sao đâu. Khi quán sát tức là bạn đang kiểm soát tâm thức bạn.
Bạn sẽ cảm thấy rằng mức độ muốn gãi chỉ bằng phân nửa mức độ nếu bạn
không quán sát nó. Đây chỉ là vấn đề ‘tinh thần trên vật chất’ mà thôi
và quả thật là nó có hiệu quả.
Trang 16. Trong một vài
phút, cái ngứa sẽ biến đi, trong khi nếu gãi nó sẽ kéo dài hơn. Tôi đã
từng thấy con người đầy vết thẹo trên cánh tay và chân do vết muỗi cắn
mà vì họ đã gãi đến chảy máu khi họ còn trẻ.
Tất cả các sinh vật đều muốn vui mà không muốn khổ, ai
cũng vậy. Chúng ta không thích những người khác đến làm phiền, làm tổn
thương hoặc sát hại ta. Đây là luận chung cho tất cả. Là con người,
chúng ta nên thường xuyên nhớ đến điều nầy. Ngay cả vi trùng nhỏ nhất
cũng oằn xéo, phản ứng nếu có một giọt ắc xít đổ lên trên nó. Sự không
thích khổ phổ biến khắp mọi nơi.
Người cứu mạng có giá trị hơn người sát hại. Ai cũng có
thể sát hại được, không cần phải thông minh để sát hại vật khác. Nhưng
muốn chữa lành và cứu mạng thì không dễ dàng. Nó cần lòng lòng từ, ý
nghĩ tốt và sự cố gắng. Nếu không giúp được thì không nên làm hại.
Các Phật tử nhìn các giống vật thấp kém hơn và các loài
khác như là em út của họ. Sự hiện hữu của chúng không phải để dùng chúng
trong các trò chơi thể thao hay thức ăn, dù cho ai nói hay sách vở nói
sao đi chăng nữa. Chúng hiện diện ở đây là để sống cuộc sống riêng của
chúng, để trả hết cái định mạng của chúng, để biến hóa và lớn lên, để
leo trèo tuy chậm chạp và đau khổ lên ngọn núi Toàn Hảo, nơi đó không có
sanh và tử. Nơi đó, chúng sẽ không khác chúng ta. Nếu không thích chúng,
chẳng hạn như không thích các con muỗi kia, chúng ta có thể chọn lựa tùy
theo ý thích của mình vì đó là do các cá tính khác nhau của con người mà
thôi, không có gì ngạc nhiên. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, ra ngoài cái bản
ngã ‘cận thị’ nông cạn của mình, ta sẽ thấy Tình Thương không phải là sự
chọn lựa mà là sự bảo bọc tất cả mọi người một cách bình đẳng; điều nầy
không có liên quan gì đến ‘anh’ và ‘tôi’, đến sự ‘thích’ với ‘không
thích’, vì điều nầy không phải là ‘ngã’. Cái ‘ngã’ là trung tâm của hầu
hết các hành động của chúng ta. Tình Thương thì không và vì thế không có
chuyện lòng vòng và cũng không có giới hạn. Chúng ta có thể hiểu được
Tình Thương dù chúng ta chưa giác ngộ bằng cách biết cái giới hạn của
cái ‘ngã’ đồng thời bước lên trên nó một bực. Như vậy không phải là đã
Giác Ngộ rồi sao?
*
Mong nhiều khổ nhiều (Cầu
bất đắc khổ)
Trang 17. Nếu đến nước Ấn
độ, có dịp đi vào các vùng quê, bạn sẽ nhận thấy rằng đời sống diễn ra
giống như đời sống cách đây cả trăm năm, có thể cả đến hằng ngàn năm.
Nhiều làng mạc vẫn không có điện, truyền hình, điện thoại, đường tráng
nhựa, nước vòi. Người dân vẫn dùng cày bừa theo lối cổ truyền do bò hay
trâu kéo, nước thì múc hay kéo từ giếng, nấu nướng bằng lửa phân bò, v.v
...
Trong các điều kiện như vậy, ta mới có thể dể dàng hình
dung đức Phật đi chân không từ nơi nầy đến nơi khác để làm vị khất sĩ
hành đạo. Áo cà sa của ngài hẳn phải chịu bụi trần bẩn thỉu và có thể
đôi khi không giặt kịp. Cũng có thể ngài không cạo râu tóc kịp như chúng
ta hiện nay. Hẳn ngài không phải luôn luôn có một định hướng trong đầu
và chắc ngài cũng không vội vã hấp tấp mà ngài tiêu pha thời giờ với
những người muốn tìm học đạo hoặc những người mà ngài nghĩ có thể hướng
dẫn được. Với trí tuệ bát nhã, ngài có thể nói cho người khác Nghe Hiểu
Thấy Biết. Bạn có thể thấy Ngài là một bậc Thầy vĩ đại như vậy được
không? Một vị Thầy, một con người chứ không phải Chúa, không phải Thượng
đế, không phải Đấng Cứu thế. Bởi vì Phật tử bác bỏ cái ý niệm cho rằng
người nầy có thể cứu được người kia nhờ kết quả của việc họ làm.
Trong quyển sách ‘Ảo Tưởng’ hay ‘Cuộc Phiêu Lưu Bất Đắc
Dĩ Của Một Đấng Cứu Tinh’ của Richard Bach, có một câu chuyện khá vui về
một vùng đất của các sinh vật sống ở dưới một lòng sông. Trọn đời chúng
sống bám vào các hòn đá và rong rêu dưới sông. Có một lần, một trong
những sinh vật đó buồn chán vì phải bám hoài vào một tảng đá, đã nói
rằng nó sẽ chết vì buồn chán nếu cứ phải sống như thế nầy. Chú ta bèn
quyết định rời tảng đá để xem dòng nước sẽ mang chú đi đâu. ‘Đồ khùng’,
các chú khác nói với chú như vậy, ‘Chưa ai làm như bạn vậy! Bạn sẽ bị
dập vào các tảng đá khác và rồi sẽ chết mau hơn là chết vì buồn chán!’
Nhưng chú ta bất kể các lời khuyên. Chú cứ hành động theo ý chú và tức
khắc bị dòng nước cuốn phăng đi.
Trang 18. Đầu tiên, chú quả
thực bị dập vào các tảng đá khác nhưng không chết. Thay vì chống lại với
làn nước chảy phăng phăng, chú cứ để cho dòng nước đưa chú đi đâu thì
đi. Chẳng bao lâu dòng nước đưa chú lên trên mặt nước không đá không cỏ
rêu.
Các sinh vật khác ở dưới khi thấy chú chuyển được lên
trên, thốt lên sự ngạc nhiên. ‘‘Xem kìa, chú kia cũng như mình vậy mà
chú bay dược! Chú là đấng ‘Cứu Độ’ chúng ta! Đấng Cứu Thế! Đấng Cứu Thế!
Chú la lên, ‘‘Không, ta không phải là đấng Cứu Độ mà chỉ là một trong
các ngươi thôi. Chính ta đã xả ly, đã tự để cho dòng nước đưa đẩy ta.
Nếu các ngươi cũng tùy duyên để cho dòng nước đưa đi, các ngươi cũng
thành như ta!’’. Họ không nghe chú nói và nhất quyết bỏ qua lời chú và
đồng la lên: ‘‘Đấng Cứu Rỗi! Đấng Cứu Rỗi!’’. Chú được nước cuốn đi ra
khỏi tầm mắt các bạn, các sinh vật kia vẫn bám chặt vào những chỗ mà họ
đã được sinh ra, truyền miệng về câu chuyện Cứu Rỗi của chú.
Mặc dầu đức Phật đã nói rõ rằng không ai có thể cứu ai
nổi mà là mỗi một người phải tự độ mình, nhiều Phật tử cũng vẫn còn
trông chờ người cứu rỗi giùm họ, cầu nguyện chư Phật và chư Bồ tát tha
thứ cho tội lỗi của họ, tẩy trừ ‘nghiệp tội’ v.v... giùm họ. Đôi khi họ
cũng mong thấy các vị sư là kẻ siêu phàm, không muốn coi sư sãi là con
người thường chút nào cả. Họ kính trọng quá đáng sư sãi, đặt họ lên trên
quá cao đến độ muốn nhìn viễn vọng kính để tìm họ trên không trung! Lúc
đó nếu người anh hùng của họ làm điều gì không phải hoặc họ không còn
thích nữa, họ trở nên thất vọng và các thầy không còn được tôn quí nữa.
Tại sao họ thất vọng? Có phải tại vì các thầy làm sai không? Hay tại vì
đại chúng ‘cho họ lên’ quá? Nếu mong đợi càng nhiều thì thất vọng lớn sẽ
nằm chờ kế bên. Và nếu các thầy tự để mình được nâng cao quá, làm sao họ
có thể sống theo nổi với sự đề cao quá đáng đó. Cố gắng sống theo tức tự
chuốc lấy sự tai hại, bởi vì mặc dầu chúng ta muốn được giải
thoát nhưng việc mong muốn với cái thực tế (có thể thoát được hay không)
là hai việc khác nhau. Dĩ nhiên, chúng ta muốn được giải thoát nhưng
muốn mà thôi thì không đủ mà chúng ta phải tìm kiếm, giành lấy và nhất
là chúng ta phải sẵn sàng.
Trang 19. Kế đến, trong khi
đề cao các vị sư sãi, chúng ta đồng thời tự hạ mình xuống rất thấp nghĩ
rằng có thể là họ sẽ được miễn trừ khỏi giới luật. Họ dùng các vị sư làm
một cái cớ để làm những việc họ biết là họ không thể làm. Một lần có một
người đến nói với tôi là họ thấy một tu sĩ hút thuốc và nói rằng hút
thuốc đối với một tu sĩ là điều rất xấu. Tôi đồng ý với ông nhưng nói:
‘‘Sao bạn nói với tôi về một tu sĩ hút thuốc mà bạn lại vừa hút thuốc
vừa nói chuyện với tôi?’’Anh ta cải lý rằng ‘vì không phải là tu sĩ nên
anh hút thuốc là không sao’’. Nghe như vậy có hữu lý không các bạn?
Chúng ta hãy xét đến cái ‘lý’ của một ý nghĩ như vậy.
Bản thân là tu sĩ, tôi đã thấy được cả ‘hai phía của một
hàng rào’ vì vậy tôi tự cho là có thẩm quyền để nói rằng Con Đường của
Phật (Phật Đạo) ngược lại với những gì các Phật tử nghĩ về các Tăng Ni
và những người sống trong chùa chiền hay tu viện. Cửa chùa rộng mở cho
bất cứ ai mong muốn thực sự theo học đạo. Không hiểu được điều nầy,
nhiều Phật tử trong việc không hiểu biết và lười nhác, mong muốn những
người khác làm mọi thứ cho họ. Để chữa được tật nầy, ta nên nói công
khai rằng không có Hai thứ Luật của cuộc Đời, một cho các Tu sĩ và một
cho các người lương, mà chỉ có một. Và Luật Nhân Quả không phân biệt với
người cạo tóc với không cạo tóc, với người mặc áo tràng hay mặc thường
phục, với người ở tu viện hay người có gia đình. Không có thiên vị,
không có ưu đãi. Nếu tu sĩ cầm nắm cục than đang cháy ông ta sẽ bị
phỏng, người lương cũng bị vậy thôi. Tu sĩ bệnh, già và chết, lương nhân
cũng vậy. Tu sĩ không được miễn trừ các chuyện đó.
Trang 20. Theo đức Phật, có ý
định (tác ý) là yếu tố mạnh mẽ nhất trong việc tạo thành nghiệp. Ngài
nói: ‘‘Tác ý, các Tỳ kheo, ta tuyên bố đó là nghiệp’’. Bạn nhận cái quả
từ nghiệp của bạn. Tôi hái cái quả từ nghiệp của tôi. Tôi
không nhận cái quả từ nghiệp của bạn và bạn cũng không hái cái quả từ
nghiệp của tôi. Nếu có chuyện chuyển được nghiệp của chúng ta sang người
khác thì kẻ thù của ta sẽ tẩy trừ tất cả các bất thiện nghiệp của họ
sang cho chúng ta để cho ta chịu đựng hết cái quả của các hành động
không tốt của họ–thế có phải là rất tiện lợi cho họ hay không? Tuy vậy,
làm sao được như vậy? Và cũng như vậy, làm sao có thể chuyển hết các
nghiệp thiện của chúng ta sang cho người khác? Là Phật tử, lý do chúng
ta được khuyên phải làm phước cho người khác, nếu chúng ta dám giả thử
rằng chúng ta thực sự có đức để làm phước, là vì nó mở rộng ra cái tâm
cái lòng của người làm việc đó. Đây là một hành động công đức, phải
không quí bạn?
Có khi phải quán tưởng (hoặc quán tượng) ngay đức Phật
để có thức giác liền để thành một con người luôn nghĩ đến kẻ khác. Tán
thán Phật như nhiều người đã làm và cầu đến Ngài để nhờ hộ trì và cứu
giúp là một lầm lẫn lớn, vì Ngài không bao giờ bảo rằng phải tin và cầu
nguyện Ngài mà phải tự tìm ra Sự Thật từ đó mới Giác Ngộ và Giải Thoát.
Giác Ngộ là Phật giác ngộ, không phải là ta giác ngộ. Phần công đức cũng
vậy. Ta phải tự đạt lấy phần riêng cho ta mà không phải cầu xin. Ta sẽ
luôn trong Luân Hồi nếu ta chỉ dựa vào việc cầu xin để được cứu độ.
Chư Thánh như các bậc A la hán và Bồ tát ngày nay rất
hiếm; khó mà tìm thấy trong các chùa chiền và nhà thờ và nếu mong tìm họ
ở các nơi đó, chúng ta chắc chắn sẽ thất vọng. Và chúng ta có nên đổ lỗi
cho ai về sự việc nầy không? Có lý hay không khi ta đổ lỗi cho các tu sĩ
hay giáo sĩ đã không sống theo sự mong đợi của ta để trở nên thần thánh
như ta muốn hay không? Ta đổ lỗi cho ai nếu không phải là ta mong đợi
quá nhiều? Việc phải đi theo con đường Đạo là việc quan trọng nhất.
Chẳng có gì thay thế được. Chẳng có ai làm cho ta giống như chẳng ai ăn
giùm cho ta được. Nếu không gieo hạt giống sẽ chẳng gặt hái được gì cả.
Không tạo nhân thì chẳng bao giờ có quả. Tuyệt đối chẳng có ích lợi gì
khi than phiền rằng chư Phật, chư Bồ tát hay các tu sĩ đã không cứu độ
chúng ta nổi. Hãy xem tu sĩ là thầy của con đường Đạo, còn việc họ có
theo con đường Đạo đó hay không là chuyện của họ; chuyện quan trọng nhất
vẫn là chính chúng ta Học Tập, Học Tập và Học Tập. Và khi nó quan trọng
đến độ cần thiết cho ta, ta sẽ không cần để ý đến việc ta học từ ai (hay
từ đâu).
Trang 21. Ở trường, khi học
sử địa, ta có cần người thầy dạy các môn đó phải đích thân đến các địa
danh hay phải là chứng nhân các sự kiện lịch sử mà họ mô tả, chỉ dạy hay
không? Và bạn nghĩ sao nếu các tu sĩ giảng về chư Phật, các bậc A la
hán, Niết bàn, Thiên đàng, Địa ngục, v.v...bạn nghĩ là họ nói từ kinh
nghiệm cá nhân họ hay từ những gì họ nghe hoặc họ đọc? Cũng có thể họ
nói thật từ kinh nghiệm riêng của họ nhưng cũng có thể là không? Nếu có
thật, chuyện đó cũng không thật cho bất cứ ai, mà ta phải tự chứng thật
cho mình (LND: và đó mới thật là Tự-Do [Do: noi theo; Tự: từ
mình; tự do là theo mình, do mình; như vậy mới đúng nghĩa của chữ tự
do). Chỉ đến lúc đó thì ta mới sẽ biết. Đây là lý do tại sao Phật ‘cổ
vũ’ chúng sanh không nên tin những gì Ngài nói mà phải ‘‘Chứng
nghiệm Pháp của ta giống như thợ kim hoàn thử vàng bạc của họ’’.
Có lần có người cho tôi biết một vị sư nổi tiếng nào đó
(vị nầy thành lập một tông phái đặc biệt của Phật giáo Việt nam mà người
ấy theo): ‘‘Thầy là bậc A la hán chắc chắn 100%’’! Tôi hỏi sao ông
chắc như vậy trong khi ông không được gặp mặt thầy ấy và ông cũng không
phải là A la hán mà! Bạn muốn biết một người đã đắc A la hán hay không
thì bạn phải là A la hán. Bởi vì đối với một vị A la hán, A la hán thật
và Bồ tát thật, không phải như các người giả hiệu ngày nay, sẽ khó mà đi
phô trương và tự tuyên bố như vậy. Chúng ta chỉ có thể nói, như tôi đã
nói về (Ngài) Thích Quảng Đức và Mẹ Theresa, rằng chúng ta Suy Nghĩ
người nầy là A la hán, người kia là Bồ tát; đó chỉ là ý kiến cá nhân của
chúng ta mà thôi chứ chẳng có quan hệ gì với việc người ấy có thực như
vậy hay không; ý kiến suy nghĩ không làm cho các vị ấy trở thành bậc nầy
bậc nọ.
Trang 22. Cách đây vài năm,
tôi có nói chuyện với một nhóm Ki tô giáo trong một chùa Phật ở thủ đô
Manila; họ đi truyền giáo trong một số nước có đa số là Phật tử và cũng
muốn biết về Phật giáo. Trong bài nói chuyện, tôi trích một số giáo lý
trong Thánh kinh Ki tô để nhấn mạnh một vài điểm giảng và so sánh. Bài
nói chuyện chấm dứt và đến giờ giải đáp thắc mắc, một nữ tu nói: ‘‘Chúng
tôi nghe ông trích Thánh kinh ra mà nói (ý nói Thánh kinh Ki tô, như thể
là chỉ có Thánh kinh nầy là độc nhất trên thế giới được xem là ‘thánh
kinh’) ông có được phép nói như vậy không’’ Tôi trả lời: ‘‘Kim cương là
kim cương không cứ gì nó phải từ đâu ra’’. Chúng ta không mong tìm ra Sự
Thật chỉ ở trong kinh sách và chắc chắn không phải chỉ từ kinh sách
Phật. Sự thật không phải chỉ có giới hạn như vậy, và nếu chúng ta hiểu
những gì Phật đạy, chúng ta có thể thấy được Pháp Phật không cứ phải từ
giáo lý của các tôn giáo khác, mà là trong tất cả mọi vật, mọi nơi. Pháp
(Phật) ở trên Danh (Tâm) và Sắc (Vật) và không có giới hạn.
Tuy mẹ Theresa là một nữ tu Ki tô giáo, nhưng bà không
màng đến việc tiếp xúc với người bị bệnh, kẻ cùng đường hoặc người hấp
hối dù họ là người Ấn độ giáo hay Hồi giáo. Bà không dùng sự giúp đỡ của
mình làm phương tiện để mong họ cải đạo theo Ki tô giáo. Ý tưởng làm như
thế có thể không bao giờ ở trong tâm thức của bà! Có lẽ bạn cũng biết
chữ ‘Ki tô’ có 2 tự loại, một là danh từ, hai là tính từ. Khi được dùng
làm danh từ, ta có thể nói ‘Người nầy hay người kia theo Ki tô’, có
nghĩa là tín đồ Ki tô giáo. Nhưng nếu được dùng làm tính từ như khi ta
nói rằng người kia ‘có quan điểm Ki tô giáo’, nó có nghĩa là ‘đại chúng,
tự do, rộng rãi, rộng mở’. Tôi nghĩ mẹ Theresa theo ‘Ki tô giáo’ với
nghĩa của tính từ hơn là với danh từ. Nếu người ta gọi bà là thánh (như
nhiều người đã làm) và cũng có thể là gọi quỉ!, điều đó có làm thay đổi
bà chút nào được không? Lòng bác ái và vị tha tạo bà thành chức thánh và
cái đó là của bà; phong thánh bà sẽ là chuyện thừa. Không cần thiết sơn
một đoá hoa hồng!
Trang 23. Không lạ lùng gì
khi Phật giáo dạy về Vô ngã–có nghĩa là một cái ngã hay một linh hồn
riêng biệt tách rời chỉ là một ảo tưởng–mà vấn đề ‘cá tánh’ lại trở nên
quá quan trọng đối với các Phật tử. Chúng ta thường quan tâm đến cá
tánh của người thầy hơn là những điều chỉ dẫn của ông, và điều nầy là
một chướng ngại lớn. Thường chúng ta hay nghe người ta chỉ trích các tu
sĩ và nói rằng họ thích thầy nầy chứ không thích thầy kia trong khi
không để ý gì về Phật Pháp cả. Cái loại ‘giác ngộ’ nầy để lộ ‘cái tôi’
và do đó nó bị giới hạn và dễ dàng đưa đến mê lầm. Tuy chưa giác ngộ
nhưng chúng ta cũng không cần phải luôn luôn vướng vào cái giới hạn của
cái tôi nầy và hành động theo cách vị kỷ đó. Ta có thể vượt lên trên nó
bằng cách tự nhắc nhở rằng Pháp Phật, chứ không phải ‘cái tôi’, nên là
trung tâm điểm của việc hành xử của ta đối với kẻ khác.
***
‘‘Giá trị của một người nên được xét đến những gì người
ấy cho chứ không phải những gì người ấy nhận.
‘‘Động cơ quan trọng nhất cho việc làm và trong trường
học và trong cuộc đời là sự thích thú làm việc, vui với kết quả của nó
và trong cái nhận thức giá trị của một cộng đồng, Trong sự tỉnh giác và
củng cố của các yếu tố tâm lý trong con người trẻ, tôi thấy rằng cái
công tác quan trọng nhất vẫn là được trường học tặng cho. Một nền tảng
tâm lý như vậy chỉ một mình nó thôi cũng dẫn đến sự vui thích đến các sở
hữu cao nhất của con người: kiến thức và tính làm việc nghệ thuật.
Albert Einstein: Out of My Later Years.
***
Tìm vui tránh khổ
Trang 24. Thật là buồn cười
nếu ta thấy ai đó trèo lên một cây táo để bẻ chuối, phải không các bạn?
Nhưng chuyện nầy kể cũng không lạ lùng lắm đâu bạn. Tìm hạnh phúc ở
những nơi không thể có hạnh phúc thì nó lại càng lạ lùng hơn và vô lý
hơn là đi bẻ chuối từ cây táo.
Cách đây vài năm, tôi được mời nói chuyện với một số học
sinh Phật giáo Á châu tại một trường nọ ở Sydney. Tôi quan sát thấy các
em loạng quạng đi vào lớp trễ, không quan tâm, không chú ý và đã mất–hay
từ bỏ– cung cách và sự tự trọng của truyền thống Á châu.
Để gây sự chú ý, tôi hỏi các em, con người trên thế giới
hiện nay muốn gì. Vì chúng hầu hết là các con em của người Việt nam hay
Căm pu chia tỵ nạn nên nhiều em nói là ‘Tự Do’. Tôi nói lại là nhiều
người đã có nó rồi và vì vậy không muốn tìm nó; quả thật, có người đã có
quá nhiều tự do và không biết phải làm gì với nó, lại lạm dụng nó và phá
hủy nó thay vì trân trọng nó như là bảo vật. Dĩ nhiên điều nầy có nghĩa
là họ không sẵn sàng để nhận cái đó; tự do sẽ bị phí phạm đối với những
người không hiểu, không chịu hiểu hoặc không trân quí nó. Nó phải là cái
gì tự mình tìm kiếm chứ không ai cho mình, bởi vì nếu chúng ta không cố
gắng tự tìm nó, chúng ta sẽ không biết giá trị của nó và vì vậy nó sẽ dễ
dàng bị phí phạm và đánh mất đi.
Có em bảo là ‘Tiền Bạc’. Mặc dầu có nhiều người, nếu
không muốn nói là hầu hết đều đi tìm nó; và mặc dầu tiền bạc, chắc chắn
là ‘tôn giáo’ đối với hầu hết mọi người trên thế giới nhưng không phải
người nào cũng đi tìm nó. Có một số ít đã có tiền nhưng không tìm thêm.
Lại có em bảo là ‘Tình Thương’. Vâng, hẵn bạn cũng biết,
dù rằng từ nầy được dùng khá nhiều đến nỗi gần như ‘vô dụng’. Tình
Thương, cái phẩm chất của nó vẫn là một cái gì tất cả chúng ta đều cần,
cách nầy hoặc cách khác. Câu trả lời mà tôi muốn là ‘Phúc Lạc’. Tôi hỏi
chúng: ‘‘Nếu các em hạnh phúc trong quốc gia mình ở trước đây thì các em
có vượt biển làm người tỵ nạn không?’’ Câu trả lời là: ‘‘Không, chắc
không’’ Vậy các em trốn thoát khỏi quốc gia của mình là vì không có phúc
lạc ở đó và vì cuộc sống nơi đó quá khó khăn’’.
Trang 25. Tôi đã đi đến gần
40 quốc gia và đã thấy rằng mặc dầu có các sự khác biệt giữa con người,
các căn bản chính yếu vẫn là: mọi người đều muốn phúc lạc, không ai muốn
khổ đau. Tôi tiếp tục nói: ‘‘Vì vậy, phúc lạc phải là một cái gì rất
quan trọng, phải không? Các em trả lời: ‘‘Dạ’’ -‘‘Vậy thì tôi hỏi các
em, cái phúc lạc đó rất quan trọng, thế họ có dạy các em về chuyện đó ở
trường học hay không?’’ Tất cả đều đồng thanh la lên ‘‘Không, không bao
giờ!’’.
Phúc lạc là một việc rất quan trọng vậy mà nó nó đã bị
xao lãng hoàn toàn ở trường học! Tại sao lạ vậy? Tại vì nó không thể dạy
được mà phải tự tìm lấy hay khám phá ra do chính mỗi cá nhân? Hay vì
không thể được hay không nên nói về nó? Hoặc nó đã bị bỏ qua một bên vì
nó ‘rất cảm tính’, nên ném vào thùng rác để nói cái gì đáng nói hơn, thí
dụ như sự ‘thành công, thắng lợi’?
Riêng tôi, tôi xem hệ thống giáo dục ngày nay là Kẻ Thù
Chung Số Một, vì nó khắc sâu vào tâm não con người nhiều đặc tính mà thế
giới hiện nay cần ít hơn thay vì nhiều hơn, và nó đã dẫn trực tiếp đến
sự xung đột: đua tranh, thô bạo, ích kỷ, tự hào, tham cầu, đố kỵ, tọc
mạch, vô tâm đối với người khác,v.v...
Có người cãi lại rằng nếu không có đua tranh chúng ta sẽ
không tiến bộ. Nếu vậy thì tôi không đồng ý vì chúng ta vẫn tiến bộ được
mà vẫn không đua tranh hơn thua nếu chúng ta học cách hợp tác với nhau
cho lý tưởng chung. Và tôi tin rằng chúng ta có thể được chỉ dẫn
và phô bày từ những giai đoạn đầu tiên cách hợp tác nhau.
Thế Chiến thứ II–chỉ là một ví dụ điển hình cho sự xung đột vô nghĩa
nhất–gây ra chết chóc cho 50 triệu người, làm thiệt hại và tàn phá nhiều
thứ mà chúng ta không thể được biết và không so sánh được. Nhưng chúng
ta vẫn không học được bài học đó: thế kỷ 20 là thế kỷ đẩm máu nhất. Ngay
hiện nay, đã có vô số xung đột với các tầm mức khác nhau trên thế giới
và sẽ là một điều cực kỳ may mắn nếu chúng ta thoát khỏi được Thế Chiến
thứ III!
Trang 26. Với hệ thống giáo
dục hiện nay, thực tế là mẫu hệ thống Hoa kỳ, chúng ta có thấy phúc lạc
không? Chắc còn xa! Chúng ta đã biến thế giới thành một đám rừng đầy các
thú vật hoang dã và tàn độc, nơi đó không có sự an toàn khi đi đêm ra
ngoài phố, đôi khi cả ban ngày ở một vài nơi! Thật là lạ phải không quí
bạn? Tại sao trong khi phóng người lên được cung trăng và gửi người
xuống dưới đáy biển mà chúng ta không dạy được con trẻ–vì đây là nơi mà
chúng ta bắt đầu–cách sống chung với những người khác trong sự hiểu biết
và yên bình.
Những cách chúng ta mưu tìm hạnh phúc thì vô số. Tìm
sướng tránh khổ là những theo đuổi chiếm phần lớn cuộc sống chúng ta.
Chúng ta có thể nói một cách tổng quát là ai cũng muốn phúc lạc và tránh
đau khổ; tất cả chúng ta đều có chung mong muốn nầy. Nhưng có bao nhiêu
được phúc lạc? Đôi khi phúc lạc thì có, người nầy có phúc lạc hơn người
kia thì có, nhưng bạn có biết ai được luôn luôn phúc lạc hay không?
Riêng tôi thì không biết ai.
Có người tìm phúc lạc bằng những cách không hại người
khác; có kẻ sẵn sàng làm tổn thương người khác để được phúc lạc, họ giết
chóc, trộm cướp, nói dối, lừa đảo, v.v..., nếu họ nghĩ nó sẽ cho họ phúc
lạc, họ sẽ tìm trong sự phẫn giận. Nhưng họ có phúc lạc không? Có thể là
chút ít và ngắn ngủi và khi hành động họ chín muồi, thì phúc lạc của họ
ở đâu? Có nhiều công thức để tìm phúc lạc. Công thức thông dụng nhất là:
tiền bạc=phúc lạc. ‘‘Phải chi tôi giàu tôi sẽ hạnh phúc’’ họ nghĩ như
vậy. Dĩ nhiên nếu gia đình ta đói hoặc không có nhà cửa thì sẽ khó mà
hạnh phúc, nhưng giàu tự nó không giải quyết được các vấn đề và không
đem lại phúc lạc.
Các công thức khác là : ‘‘Nếu tôi có một người bạn trai
đẹp trai (hay một người bạn gái tuyệt đẹp) tôi sẽ hạnh phúc’’ ‘‘Nếu tôi
trẻ trở lại (hoặc mạnh khoẻ, có quyền lực, nổi tiếng, có nhiều bạn,
v.v...) tôi sẽ có hạnh phúc’’. Nhưng hạnh phúc có thể kế hoạch hóa được
không? Ta hãy thử dừng lại một chút và tư duy về cái lòng luôn luôn chạy
vội đi tìm phúc lạc của con người.
Trang 27. Hạnh phúc (và bất
hạnh) không thể nào tìm được và thấy được, bởi vì nó là kết quả từ cái
cách ta sống. Thực vậy, chính sự Mưu tìm hạnh phúc mới là Trở
ngại lớn nhất cho việc có nó, thường chúng ta không thấy điều nầy
chỉ sau khi chúng ta đã tìm đến lúc mệt lã người!
Có người đã nói: ‘‘Phúc lạc là nước hoa bạn không thể
rưới lên người khác mà không nhỏ một vài giọt lên mình’’. Đây là điểm
quan trọng: hãy quên mình và giúp người khác. Chúng ta nên làm thế chỉ
vì chúng ta có cơ hội và khả năng làm được như vậy, chứ không phải nghĩ
là làm như vậy thì sẽ được đền trả. Vì nếu nghĩ như vậy thì cũng như là
đi tìm nó và kết quả là thường bị thất vọng.
Tại sao ta phải đi tìm hạnh phúc? Nếu ta đã có hạnh phúc
rồi lại không có đau và khổ thì không cần thiết phải đi tìm nó! Vì không
có hạnh phúc, vì có thể bị đau khổ nên ta mới tìm nó.
Đau là gì? Đó là phản ứng đối với một các nguyên nhân
hay các điều kiện (nhân duyên) nào đó; đấy là kết quả của các nguyên
nhân giống như mọi thứ khác, và nếu có thể khám phá và hiểu ra được các
nguyên nhân, chúng ta có khả năng tránh được các hậu quả của nó.
Có hai loại đau: đau (bệnh) thân thể và đau (khổ) tinh
thần. Ta có thân thể, bệnh là việc dĩ nhiên. Dù có thể tránh được vài
trường hợp nếu ta chăm sóc thân thể kỹ hơn, nhưng có nhiều bệnh ta không
thể tránh được thì đây cũng là chuyện dĩ nhiên vì thể xác phải càng ngày
càng suy thoái giống như máy móc một ngày nào đó nó sẽ hư. Đây là lý do
tại sao ngài Lão Tử đã nói: ‘‘Chấp nhận sự rủi ro xem nó như là chuyện
đau thân thể; nếu không có thân thì đâu có rủi?’’
Trang 28. Khổ tinh thần ngược
lại không phải là không tránh được vì ta có thể nắm quyền kiểm soát tâm
thức của ta dễ hơn. Chúng ta không thể ngăn thân xác ta không già và
không chết nhưng cái tâm trí ta thì ta kiểm soát được nếu ta muốn. Chúng
ta không cần phải bị đau khổ vì lo lắng, buồn rầu, tuyệt vọng hay giận
dữ; chúng ta không cần phải đố kỵ, trả thù, đe dọa hay tự hào; tâm trí
ta không cần phải chất đầy sự tham muốn, ghét bỏ hay ngu muội. Nhưng
chúng hay tới với chúng ta, phải không các bạn? Chúng ta đau khổ nhiều
vì sự hiện diện của những cảm tính tiêu cực, nguy hại nầy; chúng gây cho
chúng ta đau khổ ngay cả bình diện vật chất hay thân thể qua cái tâm tác
ý lên trên thân xác. Quả thật là có nhiều rắc rối gây ra chỉ vì cái
tâm!
Không có ai, ít nhất đối với những người không điên
khùng, thích đau khổ. Hầu hết mọi người tránh khổ, ghét khổ và sợ khổ
nhưng ít ai muốn tìm hiểu nó, lắng nghe nó và chịu nghe nó nói. Quả thật
cái khổ nó muốn nói lắm. Khổ là sự tự nhiên, nó muốn nói lên có cái gì
sai trái, không còn thăng bằng, cần phải chú ý. Thực sự không phải nó là
kẻ thù như ta nghĩ, bởi vì nếu chúng ta lắng nghe nó và học hỏi từ nó,
điều đó sẽ ích lợi và có thể xem nó như là một người bạn, một người
thầy, dù rằng mặt mày của nó trông xấu xí. Từ cái đau khổ của mình, ta
có thể hiểu được cái đau khổ của người khác. Điều nầy nẩy sinh lòng từ
bi, một đức tính đáng quí. Lòng từ bi là những gì bắt buộc đức Phật phải
chỉ ra con đường Đạo cho những người sẵn sàng muốn thấy. Nếu chính chúng
ta không bao giờ đau khổ, sẽ khó mà cảm thông với những người khác.
Thế giới của chúng ta thật buồn phiền, dù rằng nó thường
được che dấu sự đau khổ qua lớp mặt nạ. Cứ phải thường trực đương đầu
với đau khổ khiến chúng ta phát điên. Đôi khi nếu chúng ta nhạy cảm, ta
sẽ cảm nhận có một sự buồn phiền vô tận trong thế giới ngày nay, và nếu
không biết gì về Luật Nhân Quả, chúng ta sẽ dễ dàng bị tràn ngập bởi
phiền muộn. Nếu biết rằng trong Vũ trụ không có chi là tình cờ ngẫu
nhiên mà mọi sự mọi việc đều có nguyên nhân của nó sẽ giúp ta phấn khởi
là ta không bất lực và có thể làm được chút gì đó.
Trang 29. Có hai loại
đau khổ: đau khổ tự nhiên và đau khổ nhân tạo. Nhờ tri thức tăng
theo tuổi tác nên ta có khả năng làm giảm bớt đau khổ gây ra bởi
Thiên nhiên. Ta có thể tiên đoán và đề phòng các trận động đất, bảo
tố, núi lửa, sóng thần, v.v...Ta có thể làm dịu bớt hậu quả các nạn
lụt lội, hạn hán; lại có thể diệt trừ hoặc kiểm soát nhiều bệnh tật
gây tử vong và chắc chắn chúng ta sẽ làm được nhiều hơn nữa. Tuy
nhiên, hầu hết các đau khổ, các sự tàn ác trên thế giới ngày nay như
chiến tranh tôi phạm và sử dụng thuốc kích thích thì không không
phải là điều do thiên nhiên gây ra mà do chính con người gây ra và
chính trong lãnh vực nầy mà chúng ta có khả năng dùng sự thông minh
và từ bi nhân ái để đạt được thành công. Và đây có lẽ là điều quan
trọng nhất mà tôi phải nói trong quyển sách nầy: Mỗi một người trong
chúng ta đều có khả năng gia tăng hay giảm thiểu sự đau khổ trên thế
giới. Có thể ta không làm được nhiều lắm nhưng ta vẫn có thể làm
theo phần của mình và chính những phần nhỏ đó có công dụng của nó.
Thế giới nầy là của chúng ta. Quí bạn sẵn sàng tham gia chứ?
Đạo đức không thể áp đặt từ bên ngoài vì nếu từ bên
ngoài (thì đến một lúc nào đó) nó sẽ nổi lên chống lại. Nó phải đến từ
bên trong do sự hiểu biết (giác ngộ). Một cá nhân cần được cho cơ hội,
tự do và khuyến khích để hiểu biết chính người đó.
Xã hội bao gồm nhiều cá nhân. Con người sống trong các
chế độ độc tài như chế độ Cộng sản bị tước đoạt mất tự do; tội ác và sự
chống báng xã hội sẽ xảy ra khi cái nắp đè ép bị bật lên.
Chúng ta phải học cách tự sửa vì ta đã có tự do để trở
thành những cá nhân có sống thực thay vì chỉ là kẻ tiêu thụ đầy tham
muốn.
***
T THA THỨ
Trang 30. Chúng ta nhọc nhằn
và loanh quanh với cái gánh nặng tội lỗi mà không biết làm sao buông bỏ
nó. Là người thì ai cũng lầm lẫn, làm những việc không nên làm và không
làm những việc phải và đáng làm. Rồi tiếc nuối hối hận cứ theo ta mãi từ
quá khứ đến hiện tại. Tuy phải nên cảm thấy hối hận vì lỗi lầm của mình
nhưng chúng ta phải tiếp tục sống trọn vẹn hơn vì đời sống tự nó là tiếp
tục. Ta không thể sống trong quá khứ vì nếu cứ ‘bị’ sống với quá khứ nó
chỉ ngăn trở ta mà thôi. Làm sao ta có thể quẳng gánh lo nặng nề của quá
khứ đó đi và tiến bước với tấm lòng nhẹ nhàng thơ thới?
Nhiều người tin rằng tội lỗi phải được tha thứ bởi một
‘Đấng Toàn Năng’, có kẻ lại tin là ta phải được cứu rỗi bởi một siêu
nhân nào đó, nếu không ta sẽ bị đọa vào Địa ngục. Lại có người thấy
chuyện niềm tin là những kỹ thuật tâm lý mà từ đó ta có thể tìm được sức
mạnh để đỡ đần trách nhiệm và chấp nhận các hậu quả của các việc làm của
mình và tiếp tục sống. Chúng có giá trị vì nếu không có chúng, nhiều
người sẽ cảm thấy cuộc sống sẽ khó chịu đựng và sẽ chắc có nhiều trường
hợp tự tử hơn bây giờ. Nhưng nếu một kỹ thuật mà không hiểu được tường
tận mà trở thành một giáo điều không thể nào thay thế được thì đấy là sự
trói buộc thay vì là một phương tiện để giúp ta. Đây là lý do tại sao
các kỹ thuật mới phải được liên tục tìm kiếm trước khi những kỹ thuật cũ
trở nên cứng nhắc và vô nghĩa.
Rõ ràng là việc ‘Xưng tội’ của phái Thiên Chúa trong đạo
Cơ đốc đã được chấp nhận trong thời đại Dương lịch là từ đạo Phật, cùng
với các sự việc khác; tuy nhiên nó đã trở thành giáo điều của đạo Chúa,
và rất ít người biết đến ý nghĩa thực sự của nó. Hầu hết tín đồ đạo Chúa
tin rằng khi họ xưng tội trước linh mục, vị nầy sẽ quở trách họ và có
thể làm vài việc giúp họ tự hối lỗi và rồi thế là hết tội và họ
có thể bắt đầu trở lại với một lý lịch sạch sẽ tức là tội cũ đã được bỏ
qua. Các tín đồ đạo Tin lành, những người cũng không hiểu rõ ràng về
việc xưng tội, chế nhạo tín đồ đạo (Thiên) Chúa về việc nầy; thật vậy,
một trong những lý do khiến cho Martin Luther, một trong những người
thành lập chánh thức phái Tin lành, tách ra khỏi nhánh Thiên chúa La mã
là phần nghi lễ để bán chứng- chỉ - tha - thứ, được biết dưới từ ngữ là
‘Xá tội’. Có thể ông không chống chính các chứng chỉ đó mà chống công
việc làm ăn sinh lợi của họ; kẻ giàu có thể được tuyên án vô tội bằng
cách nầy trong khi người nghèo thì không được. Các thầy tu nói rằng họ
là ‘người được Chúa lựa chọn’, họ có khả năng và quyền hạn để tha tội,
dĩ nhiên là với một số tiền.
Trang 31. Tại sao chúng ta có
thể mua bán vấn đề tội lỗi được? Chắc chắn đồng tiền không thể mua được
chuyện nầy. Bằng cách xưng tội nói lỗi của mình cho một người khác là
bước đầu tiên để thấy rõ hiểu rõ được chúng để những lần về sau nầy khi
phạm những lỗi nhỏ nhặt hay to lớn chúng ta có thể khắc phục chúng.
Phật giáo dạy rằng ta bị trừng phạt bởi tội lỗi
của mình chứ không phải vì chúng như các tôn giáo khác; nếu ta
gieo hạt và nếu chúng nẩy mầm và phát triển, ta sẽ có quả chứ
không phải người khác có quả. Phật tử không tin có ‘Chúa’ hay một ai hay
bất cứ thứ gì khác ban ân hay quở phạt ta; khi chúng ta thoát khỏi hay
được tự do ra khỏi (vọng) tưởng đó, chúng ta sẽ có khả năng làm được một
cái gì đó cho cuộc đời riêng của mình, và có thể có khả năng kiểm soát
cách sống của chúng ta.
Phật tử tụng ai, niệm cái gì? Chắc chắn, chúng ta tụng
kinh không phải cho đấng ‘Chúa’ nào, và cũng chẳng phải chúng ta tụng
niệm đức Phật vì Ngài chẳng những không bao giờ yêu cầu người ta làm
chuyện đó mà trái lại cảnh báo chống lại chuyện nầy. Ngài nói với mọi
người là nên học Pháp Phật rồi tự tìm con đường giác ngộ riêng cho mình.
Đức Phật không tuyên bố Ngài là người cứu rỗi dưới bất cứ hình thức nào;
chỉ có Sự Thật hay Pháp Phật mới cứu và giải thoát ta chứ không phải
Phật hay ai khác. Khi hiểu được điều nầy rồi chúng ta sẽ tức khắc tránh
được cái bẫy của các sự vật thuộc nhân thế vì nó là cái bẫy chộp bắt rất
nhiều người trong chúng ta.
Trang 32. Nhưng có nhiều
người thực sự cầu nguyện đến đức Phật, phải không quý bạn? Vâng, ta có
thể nói như vậy. Mặc dầu việc nầy không sai trái tuy có thể làm ngăn trở
trên đường học Đạo, nhưng nó không hẵn là sai. Bạn cũng biết là nhiều
người không có ai để giải bày tâm sự hay vấn đề rắc rối của họ. Rất ít
người có các bạn ‘thiện tri thức’ (nói theo Phật và Phạn ngữ là
Kalyanamitta) chịu lắng nghe một cách cảm thông mà không phê phán,
những người nầy sẽ giúp đỡ và đưa ra lời khuyên hay phê bình khi cần.
Nếu thiếu những người bạn nầy thì các khúc mắc sẽ bị ngăn trệ, trở thành
mối lo sợ và không thể cũng như không muốn diễn bày với ai. Các khúc mắc
đó trở thành nội kết gây nhiều căng thẳng và khốn khổ, lại càng
ngày càng lớn hơn và mạnh hơn cho đến một lúc họ phải tìm cách ‘thoát
ra’.
Thông thường, nếu chúng ta không tự buông bỏ hoặc được
giải bày các khúc mắc khó khăn của mình, chúng sẽ tích tụ và gia tăng
mạnh mẽ cho đến khi bất thình lình không kiểm soát được chúng sẽ nổ tung
ra như núi lửa và có thể rất nguy hại. Chúng ta cần tìm cách thoát khỏi
cái khúc mắc của mình hầu khả năng phá hủy của chúng được giảm thiểu. Vì
vậy mặc dầu việc cầu nguyện chư Phật không đúng hẵn theo hình tượng hay
ảnh Phật nhưng nó có thể tác dụng như là một cách để thoát khỏi sự căng
thẳng hay lo sợ bớt bị áp lực tích tụ. Với kỹ thuật nầy nó có thể hữu
hiệu. Ta không nên để ý đến những kẻ phê bình và chỉ trích ta là ‘lạy tạ
ảnh tượng’ mà hầu hết đều phạm phải chuyện phê bình không đúng đắn đó.
Tín đồ đạo Ki tô cầu nguyện ‘Chúa’ chỉ là cái cách tạo ra hay phóng ra
hình ảnh tinh thần vì mặc dầu họ cho rằng ‘Chúa tạo ra Người’ bằng hình
ảnh riêng của Chúa nhưng thực sự nó là sự ngược lại: Người tạo ra Chúa
theo lối riêng của Người tùy theo niềm hy vọng, mối sợ hãi hay sự suy
tưởng do con Người mong muốn!
Trang 33. Tuy nhiên, trong
một vài trường hợp, chúng ta phải nhận rằng sự kết án nầy là đúng: có
một số Phật tử quả thật thờ phượng, cầu nguyện các hình
tượng như là các bậc trên trước của họ đồng thời mong cầu được ưu đãi
giúp đỡ, v.v...Nhưng nếu người ta hiểu rõ những gì đức Phật dạy thì họ
sẽ không cầu nguyện hình tượng. Các hình tượng và tượng thánh chỉ là
những biểu tượng mà nhờ vào đó ta tập trung định tâm để nâng cấp mức độ
tâm thức của ta lên trên các tầng thiền cao hơn.
Không ai biết đức Phật ra sao? Kinh sách cho ta biết
Thân Phật có một số dấu ấn đặc biệt. Nhưng tôi nghĩ rằng các dấu ấn nầy
chỉ được nhận ra bởi những người tu tập thần thông đến mức độ nào đó như
những người tiên tri hay thấu thị có nghĩa là có khả năng thấy được
những sự vật mà nếu không có nó thì không thể nào ‘thấy’ chẳng hạn như
các quỉ thần... Trong các kinh sách, có một số trường hợp trong đó người
ta đã gặp Phật mà không nhận được ra Ngài. Chắc chắn, nếu các dấu ấn đặc
biệt, chẳng hạn như phần nổi lên trên đỉnh đầu, đôi dái tai dài, vòng
hào quang chung quanh đầu Ngài, được mọi người nhận ra thì Ngài hẵn sẽ
được biết đến một cách phổ biến và bất cứ ai gặp sẽ có thể nhận ra Ngài
ngay!
Năm 326 tr.T.l., tức sau 200 năm sau khi đức Phật tịch
diệt, A lịch sơn Đại đế (Alexander the Great) đã chỉ huy đoàn quân của
mình qua các đèo núi chập chùng thuộc nước A phú hãn ngày nay lại xuyên
qua các cánh đồng của xứ Ấn độ. Đại đế chưa từng bại trận nhưng lần nầy
ông bị lực lượng của Hoàng đế Chandragupta tức ông nội của A-dục Vương
bắt phải dừng chơn tại sông Beas và không cách nào tiến thêm được nữa. A
lịch sơn mất tại nước Ba tư trên đường trở về xứ Hy lạp tuy vậy một số
ít quân của ông đã định cư tại Ấn độ. Vì có thiên hướng về nghệ thuật và
triết học nên người Hy lạp rất ngưỡng mộ Pháp Phật mà họ tiếp cận trong
khi sống tại Ấn độ và chính họ là những người đầu tiên tạc tượng đức
Phật từ những hang đá dưới hình dạng giống như thần Apollo của họ đại
diện cho Ánh sáng và Lý trí. Nhiều tượng tráng lệ từ những ngày đầu tiên
hiện nay vẫn còn ở một số các bảo tàng viện.
Trang 34. Các tượng Phật có
nhiều dạng: dạng Trung hoa, dạng Ấn độ. dạng Tây tạng, v.v...thời nay ta
cũng thấy các dạng tượng mà mắt của Ngài được sơn xanh, tóc Ngài màu xám
trông giống Anglo-Saxons! Việc nầy không thành vấn đề mà chúng ta nên
hiểu mục đích của các hình tượng nầy thì hơn.
Mọi người biết rằng các tượng, ảnh đều được bắt
đầu từ tâm ý của con người giống như tất cả mọi thứ do người tạo ra. Mọi
người cũng biết ảnh, tượng của Phật không phải là đức Phật và
cũng biết hình tượng Phật sẽ không đưa tay ra lấy trái cây cúng
Ngài mà dùng. Vật cúng dường đặt trước hình tượng là tượng trưng cho sự
trân quí để tưởng nhớ đến Ngài là bậc Thầy dẫn đường; vì vậy vật cúng
dường là tượng trưng cho cái phước của người cung dưỡng nếu họ làm với
tâm trí hoàn toàn thanh tịnh. Nó giống như cái cách mà các tín đồ Ki tô
giáo đặt hoa lên trên các ngôi mộ thân nhân mình. Họ làm như vậy là để
biểu lộ sự kính quí và yêu thương người quá cố chứ không phải họ thờ
phượng các ngôi mộ!
Bạn có bao giờ thấy hình tượng Phật với một gương mặt
buồn hay có nét đau khổ không? Có thể là bạn đã thấy cũng có thể là
không, nếu người tạc tượng có lòng và khéo tay. Nhiều người mộ đạo và có
đức tin muốn tạc hay vẽ hình tượng Phật nhưng thiếu kỹ năng nên thường
tạo ra hình tượng không được đẹp đẽ nên gây các cảm giác khó chịu trong
thời gian dài. Nếu không làm được ta không nên tạo ra các ấn tượng không
hay không đẹp; tạo ra một hình ảnh Phật thô xấu là hành động xúc phạm
chứ không phải là kính trọng và đó là cơ hội để cho một số người có ác
tâm cười đùa. Một hình tượng thô xấu, không may là có khá nhiều tượng
như vậy, đã ngăn trở mục đích tốt đẹp của một hình tượng mà đúng ra là
để làm phấn khởi chúng sanh với cảm giác an bình, bất thối chuyển và để
gợi lên cảm tưởng siêu hình bên trên của một gương mặt tươi cười: đó là
Giác Ngộ, Trí Tuệ và Từ Bi.
Bạn hãy ngồi yên lặng và nhìn bất động vào hình hay
tượng Phật đẹp đẽ trang nghiêm trong một khoảng thời gian. Để tâm buông
xả các mong cầu, ít nhất là tạm thời. Rồi bạn có thể sẽ cảm thấy được
một sự yên bình cho chính mình và một nụ cười giống như Phật sẽ như một
đợt sóng êm ả trước mặt bạn, sau đó có thể thấm sâu vào trái tim bạn và
lúc đó bạn không còn cảm thấy phải bận tâm với bất cứ cái gì cả.
Trang 35. Hình tượng Phật chỉ
là một phương tiện, một kỹ thuật chứ không phải là một cứu cánh. Chắc
chắn chúng ta không nên bị ràng buộc hình tượng quá đến độ để nó làm trở
ngại cho chúng ta và chúng ta cũng không nên cúi đầu trước một ảnh tượng
do sợ hãi hay do hy vọng muốn được phước. Khi cúi đầu đảnh lễ Phật,
chúng ta làm như thế là do sự tôn kính, lòng tôn kính từ ái chứ không
phải sự tôn trọng do sợ sệt. Ta làm như thế là do lòng biết ơn Người đã
chỉ ta con Đường đúng đắn để sống trong một thế giới hỗn độn và khó hiểu
hiện nay. Không ai chỉ cho ta biết Sự Thật một cách rõ ràng như đức Phật
chỉ; hơn thế nữa, Ngài chỉ dẫn như vậy mà không bảo người nghe phải tin
hay theo Ngài, mà Ngài chỉ nói thêm là phải tự khảo nghiệm chúng để tìm
ra cùng một tình trạng giác ngộ như Ngài đã chứng ngộ.
Hình tượng Phật là để phản ảnh gương mặt thật của chúng
ta giống như cái gương và cũng là để gợi lên các đức tánh hay đạo hạnh
giống như Phật trong chúng ta ngõ hầu tìm lại được cái tánh giác (tánh
phật) ở trong mỗi người chứ không phải ở trong tượng đá.
Nếu ta định nói về ‘thờ phượng thần tượng’, ta phải nhìn
gần hơn là tượng hay ảnh. ‘Thần tượng’ phổ biến và mạnh mẽ nhất, mà mọi
người ở mọi nơi và mọi thời đều thờ phượng- và từ đó tất cả các thần
tượng khác, tượng ảnh khác cũng như vậy-dĩ nhiên chính là cái Tôi
của họ, và mọi thứ được dùng trong việc thờ phượng nầy bao gồm cả tôn
giáo! Bằng cách nghĩ và nói rằng chỉ có tôn giáo của họ là tôn
giáo thật và rằng tất cả tôn giáo khác là không thật-như nhiều
người đã nghĩ và nói như vậy-họ muốn nói là cái Tôi nhỏ bé riêng tư là
trung tâm của tôn giáo của họ, giống như con nhện là trung tâm của mạng
lưới của nó, khai dụng mọi sự mọi việc theo các cách riêng của nó. Tôn
giáo của họ vì vậy trở thành một lối nới rộng cái ngã hay cái tôi của họ
và củng cố nó thay vì làm yếu nó đi. Có phải đây là mục đích của tôn
giáo không?
Trang 36. Hãy xét đến tôn
giáo của bạn xem ai hay cái gì là trọng tâm, nếu bạn cảm
thấy mình tự được ‘đăng quang’ hay mình tự ‘tấn phong’ mình, trường hợp
nầy bạn là người ‘thờ phượng thần tượng’ và cái ngã của bạn là thần
tượng!
Tuy nhiên trong khi việc lễ lạy đức Phật không phải là
chuyện xấu mà là một kỹ thuật để làm giảm bớt căng thẳng thì chúng ta
phải tĩnh thức và không để nó trở thành một thói quen đến nỗi phải bị
‘ghiền’ nó. Nó nên dùng đến chỉ khi nào bị căng thẳng, cũng giống như
một người bị đau chân đi không được phải dùng cặp nạng để giúp anh ta
đi. Xa hơn nữa ta có thể phát triển tính tự lập để hiểu biết rằng dù
chứng nghiệm thế nào đi chăng nữa nó chỉ là kết quả của các nguyên nhân
và vì thế nên chấp nhận nó là như vậy: chấp nhận, quán xét và
đánh giá để thấy những gì đã tạo thành nó và nó sẽ đi tới đâu.
Nếu bạn cầu nguyện trước hình tượng Phật, thổ lộ vấn đề
của mình và khẩn cầu để được giúp đỡ, cái hình tượng vẫn cứ ngồi đó, với
một cái cười không thay đổi trên gương mặt, không nói một lời nào, cũng
không chuyển một bắp thịt nào. Nếu bạn hỏi các số may để chơi xổ số hay
nhờ giúp đỡ ý kiến cho một cuộc phỏng vấn tìm việc, hình tượng Phật sẽ
không thầm thì để cho bạn biết số nào là số may: ‘‘Mua số nầy nầy. .
.’’; nó cũng không nói: ‘‘Đừng lo, ta sẽ tính dùm cho’’. Câu trả lời cho
các lời cầu nguyện của bạn, nếu quả thật có câu trả lời, phải là từ
chính bạn, và điều nầy tùy thuộc vào sự tự buông bỏ và tự tháo gỡ của
chính bạn. Thường là trong khi nói lên vấn đề của mình, chúng ta lại tự
tìm được câu trả lời cho mình. Đó là lý do mà nhiều thầy dạy trong nhiều
môn học đã tự học được những gì do chính mình dạy. Cái nỗ lực nói lên và
làm sáng tỏ vấn đề đã đem lại thêm sự hiểu biết cho người thầy, để có
lúc ông ấy (hay bà ấy) đôi khi có thể tự ngừng lại giữa câu, suy nghĩ:
‘‘Mình đang nói cái gì đây? Ta đã nói chuyện nầy nhiều lần trước đây rồi
nhưng ta đã không bao giờ hiểu nó tường tận như hiện nay!’’
Vì thế, cầu nguyện với đức Phật, nói với hình tượng, nếu
bạn không có ai để tâm sự, thì đó là phương thức trị liệu tốt cho bạn.
Tuy nhiên, hãy nên nhớ: tượng chỉ là bằng đá hay bằng gỗ và đức Phật
không phải là người cứu rỗi hay là một văn phòng thông tin mà là người
Thầy cho những lời khuyên thực tế trong cuộc sống. Cũng vì vậy bạn nên
học Pháp của Ngài chỉ dẫn, cố gắng áp dụng vào đời sống để tránh được
tất cả các khó khăn và cuối cùng nó sẽ được tiến hành với trí tuệ thay
vì với sợ hãi.
Trang 37. Để tạo được tiếng
tăm cho tốt không phải là một điều dễ dàng, tốn thời gian lâu, mất nó
lại rất mau. Cũng vậy trong khi khó làm phai nhòa được tiếng xấu thì
tiếng tốt bị mất đi chỉ cần trong chốc lát.
Nhiều người trong chúng ta sống ở đời thường hay tranh
cải hoặc bất đồng với tha nhân và không bao giờ cố gắng giải quyết các
việc đó. Nếu không thể tránh hoàn toàn sự mâu thuẫn cùng việc tranh cải,
ta nên cố gắng giải quyết chúng càng sớm càng tốt hầu giúp chúng không
đặc cứng lại giống như bê tông cốt sắt; trong khi bê tông còn ướt ta có
thể làm cái gì đó để thay đổi nó, khi nó kết chặt lại rồi khó mà làm suy
suyển nó. Chúa Giê su ở Nazareth khuyên mọi người nên làm hòa với kẻ
thù trong khi họ vẫn còn ở cạnh với chúng ta, lúc đó ta có cơ hội làm
cái gì đó, trong trường hợp kẻ thù tố cáo ta ra tòa. Vì tính ương ngạnh
và chấp thủ của con người, khá nhiều trường hợp dại dột được đem ra tòa
án mà lẽ ra có thể và nên thanh thỏa trước; đó cũng là chỉ vì tính tự
hào và mức độ dại dột chẳng ai sẵn sàng nhận lỗi mình. Đôi khi có người
hận hiềm những mối buồn giận cũ cả năm nên không tha thứ và quên lãng vì
thế chúng cứ nung nấu luôn trong lòng luôn. Nó mất rất nhiều năng lượng
để giữ mối mâu thuẫn và ghét bỏ ấy trong lòng; có đáng
để nó hủy hoại ta không. Như Đức Phật đã nói: ‘‘
‘Nó lăng mạ tôi, đánh đập tôi, phá hoại tôi, cướp đoạt tôi’ ;những ai
còn ôm ấp tâm niệm ấy thì sự oán hận không thể dứt (LND: Câu 3, Kinh
Pháp Cú). ‘Nó lăng mạ tôi, đánh đập tôi, phá hoại tôi, cướp đoạt tôi’,
ai bỏ được tâm niệm ấy thì sự oán hận tự dứt’’ (câu 4, KPC). Tốt
hơn là phải tập buông bỏ nó, nên nghĩ rằng người ta làm tổn thương nhau
là do sự không sáng suốt (vô mình) chứ không phải vì họ thực sự là xấu?
Là Phật tử ta nên biết điều nầy, vì ta đã học và biết
rằng mọi người đều có tánh giác (Phật tánh) và có thể giác ngộ. Với lòng
Từ Bi, chúng ta có thể khắc phục mối ác cảm với tha nhân, dứt khỏi sự
độc hại của lòng sân ghét và đến được gần với sự Giác Ngộ.
Trang 38. Trong quyển sách
nổi tiếng ‘Đức Phật và Phật Pháp’ của Ngài Ananda đã ghi lại rằng
khi giảng pháp về Lòng Rộng lượng (Bố thí) đã nói với vị trưởng giả
Anathapindika (tức Cấp Cô độc, một cư sĩ giàu có, người đã dâng Tinh xá
Jetavana, tức Kỳ viên, cho Ngài) rằng của cúng dường cho Tăng chúng cùng
với Phật là rất được phước báo; và còn phước báo hơn nữa là xây được tự
viện cho Tăng chúng dùng; lại phước báo hơn nữa là Qui Y Tam bảo; còn
phước báo hơn thế là sự trì giữ ngũ giới; lại phước báo hơn nữa là việc
thiền quán vào tính Từ Bi và phước báo hơn cả là phát Huệ khai Tâm thấy
rõ được sự huyễn hoặc của các sự vật (tức các pháp).
Ngài Nalanda tiếp tục nói: ‘‘Rõ ràng trong bài pháp nầy
Bố thí là giai đoạn đầu tiên của lối sống của người học Phật. Quan trọng
hơn nữa là sự giữ giới để tu sữa lời nói và hành động. Lại quan trọng
hơn và có ích hơn nữa là sự tu sữa các đức hạnh cao quí như Từ Bi, điều
nầy dẫn đến Thiền định. Quan trọng nhất và lợi lạc hơn cả là sự chuyên
cần tinh tấn để đạt đến trình độ hiểu biết sự vật một cách chắc thật.
(LND: Dịch giả không biết tác giả có ý phát triển phần tu
Lục độ (Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định, Trí tuệ) hay
không, xin độc giả cho ý kiến. Cảm ơn)
Để kết luận, việc khắc phục lỗi lầm và nhược điểm phải
bắt đầu bằng việc nhận ra chúng, từ bỏ chúng và thành thật sám na
hối quá. Đó là ta đã tự mình an tâm cho mình.
Hãy biết tự
tha thứ mình và Tiếp tục cuộc sống
***
CON CHIM SẮT
Trang 39. Một số Phật tử
hãnh diện là Phật tử vì sự kiện là máu đã không đổ vì lý tưởng Phật
giáo. Họ hãnh diện chỉ vì họ so sánh lịch sử Phật giáo với các lịch sử
tôn giáo khác. Quả thật, lịch sử một vài tôn giáo trên thế giới đã được
viết bằng máu. Phật giáo không bao giờ gây chiến tranh, cũng không bao
giờ thực hành sự hy sinh nào bằng máu, lại cũng không hành hình ai do
bất đồng chánh kiến với mình. Thật ra cũng không đáng gì để hãnh diện là
vì không hợp lý chút nào khi phải đổ máu cho một tôn giáo; tôn giáo là
để chữa lành, để cải thiện, để đoàn kết với nhau trong sự hiểu biết,
không phải để làm tổn thương và gây chia rẽ.
Trong lịch sử hơn 2500 năm, Phật giáo không bao giờ phát
triển bằng bạo lực và đàn áp mà bằng phương tiện Lý Trí; đại chúng hành
theo là do sự hiểu biết mà không phải do sức mạnh ép buộc. Tuy Phật giáo
ở Á châu đã già nên mệt mõi và suy thoái nhưng ở phương Tây nó đang
chuyển mình và phát triển, làm tròn các lời tiên đoán cổ xưa. Thí dụ
cách đây 1200 năm ngài Padma Sambhava vị thầy Phật giáo người Ấn
nổi tiếng đã giúp phát triển Phật giáo qua xứ Tây tạng và người Tây tạng
tôn sùng vị thầy nầy là Guru Rimpoche (Người Thầy Cao Quí),
đã nói rằng:
Khi Chim Sắt bay và ngựa kéo xe, dân Tây tạng sẽ phân
tán như kiến trên khắp trái đất, và những Lời Dạy của đấng Thế Tôn sẽ
lan đến Miền Đất của Người Da Đỏ.
Cách đây 1200 năm chưa có phi cơ và xe hơi. Châu Mỹ tức
Miền Đất của người Da Đỏ chưa được người châu Âu khám phá. Trong nhiều
thế kỷ, Tây tạng là miền đất bị cô lập và có tên là ‘Vùng Đất Cấm’.
Nhưng sau khi Cộng sản Trung hoa chiếm lãnh nó vào năm 1950, dân Tây
tạng và vị Đạt lai Lạt ma thoát khỏi đất nước nầy làm dân tỵ nạn, đem
theo văn hoá và tôn giáo của mình; đồng thời họ cũng định cư ở nhiều
nước trên khắp thế giới như Ấn độ, Hoa kỳ, châu Âu, và châu Úc. Phương
Tây đã được những gì phương Đông mất; nhiều người phương
Tây đã học và hành Phật Pháp từ những người Tây tạng nầy. Họ đã thành
công rất nhiều trong việc phổ biến Phật giáo cho phương Tây.
Trang 40. Có những người khác
cũng đã đem Phật Pháp qua phương Tây nhưng lại gây thảm kịch. Nhiều
người phương Tây hiện nay công khai tuyên bố rằng họ không có tôn giáo.
Điều nầy không có nghĩa là họ không phải là những người không tôn giáo.
Trong nhiều trường hợp, nó có nghĩa là họ không còn chấp nhận được nữa
các giáo điều và các tôn giáo vô lý đòi hỏi lòng tin vào các pháp mà
không có sự chứng minh thực sự; nhiều giáo lý tuyền tôn giáo với hình
thức sống bằng những nguyên tắc chỉ quan trọng đối với họ. Nếu họ nghe
được Giáo pháp của đức Phật cắt nghĩa một cách rõ ràng và có tình có lý,
nhiều người sẽ chấp nhận và sẽ thực hành theo.
Chúng ta phải trình bày Phật Pháp sao cho ta có khả năng
phân biệt Phật Pháp khác với các phong tục và truyền thống đã phát triển
trong vùng châu Á, vì Phật Pháp không phải là cái gì có giới hạn thuộc
địa phương hay từng vùng mà là nó có tính cách phổ quát. Phương Tây sẽ
không bao giờ chấp nhận toàn thể văn hóa châu Á; phương Tây có nền văn
hóa riêng và những đị đoan riêng của nó. Pháp Phật nên được thông lưu
vào phương Tây bằng những cách thích hợp và dễ chấp nhận hơn, nên thoát
ra khỏi các loại tích lũy văn hóa và dị đoan càng xa càng tốt. Các hình
thức Phật giáo ở phương Tây sẽ hình thành và phát triển theo thời gian;
chúng ta cần cái Tinh túy tức Pháp Phật để gieo truyền và tăng cường sức
phát triển.
Tất cả các tôn giáo đều có các yếu tố của các phép lạ
hay thần thông. Phật giáo cũng không ra ngoài ngoại lệ ấy. Có các câu
chuyện về cuộc đời của đức Phật quả thật là khó tin. Theo truyền thuyết,
khi Thái tử Tất đạt đa còn bé nhỏ, ngài đưa một tay lên trời một tay
xuống đất và nói: ‘‘Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn! Đây là kiếp
cuối cùng của ta, Ta sẽ thoát khỏi Biển Sanh Tử’’. Ngài cũng được cho
biết là đã bước đi bảy bước, và cứ mỗi bước một đóa hoa sen lại nở ra.
Trang 41. Vẫn có người tin
những việc nầy đã thực sự xảy ra, nhưng chuyện họ tin hay không thì rất
không chắc. Dĩ nhiên, chúng ta không thể có bằng chứng về chuyện họ
không tin hơn là chúng ta có thể có bằng chứng là họ tin, nhưng chắc một
điều là họ đã thêm vào những lời kể lại bởi những người có lòng tin
nhiều hơn là trí tuệ để tán thán đức Phật, để ‘mạ vàng hoa sen’. Theo
như vậy thì câu ‘Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn’ và cả câu chuyện
‘Phật biết nói ngay khi mới được sanh ra’ được gán cho Ngài khi còn nhỏ
nghe có vẻ rất tự phụ và khó tin. Ngài cho biết Ngài là một người có một
cuộc đời giản dị, khiêm tốn và khó ai nhận ra hay biết mặt. Tuy nhiên
trong Phật giáo những câu chuyện như vậy không được xem là quan trọng và
Phật giáo được đứng vững hay bị ngã đổ không phải vì những câu chuyện
thuộc loại ấy; Nó được xây dựng trên những nền móng vững chắc hơn là
những câu chuyện thần thông không thể thẩm tra hay kiểm chứng.
Phật giáo gồm hai phần: phần thuộc quá khứ với những lời
tường thuật lại không thể thử nghiệm được hay chứng minh bằng những kinh
nghiệm cá nhân, một số trong đó lại càng gây nghi ngờ, giống như câu
chuyện trên; phần hai thuộc hiện tại, cái Ở-đây và Bây-giờ. Đây là Giáo
Pháp mà ta có thể tự chứng ngộ và nhờ đó có các kết quả của nó, giống
như đức Phật đã nói là ta nên: ‘‘Thử chứng lời dạy của ta giống như thợ
kim hoàn thử vàng vậy’’. Các lời dạy nầy không đòi hỏi lòng tin mà là
‘‘được thông hiểu bởi những người hiền trí tự chứng ngộ’’.
Thường thường chúng ta nghe người ta kể cái cách mà
‘Chúa’ cứu họ khỏi bệnh hay thoát được hiểm nguy, v.v...Nhưng còn những
người không được cứu? Nếu ‘Chúa’ quả thực có cứu họ thì theo nghĩa ngược
lại, chúa cũng không được quên cứu những người khác. Tuy nhiên, những
người có lòng tin đó tự tiện không cần để ý đến vế sau.
Trang 42. Nhiều Phật tử nghĩ
đến đức Phật và các Bồ tát như là các vị ‘cứu rỗi’, nhưng nếu như vậy
chứng tỏ họ là những người có đầu óc yếu đuối. Đức Phật chẳng có một
chút gì liên hệ đối với cuộc sống và cái chết của chúng ta mà hoàn toàn
là chuyện của chúng ta! Và nếu chúng ta biết những gì thực sự đức Phật
dạy thì chúng ta sẽ hiểu được điều nầy.
Trong kinh Pháp Cú, câu 11 và câu 12 của chương đầu,
chúng ta thấy đức Phật nói:
11. Không thật tưởng là thật, Thật lại tưởng là không
thật;
Cứ tư duy một cách sai trái, Người như thế không thể đạt
đến Chơn thật.
12. Thật biết là thật, Không thật biết là không thật;
Cứ tư duy một cách đúng đắn, Người như thế mau đạt đến
Chơn thật.
Chơn
Thật (Tinh túy) quan trọng hơn Danh và Sắc.
*
Đừng theo sau
tôi
Trang 43. Một người hỏi:
‘‘Tôi là đệ tử của ông thầy đó, anh nghĩ sao về ông ấy?’’ Câu hỏi nầy
đặt tôi vào một tình trạng khó xử chỉ vì tôi đã viết một bài nói về ông
ấy và tôi biết rằng người hỏi tôi đã đọc nó. Tôi không muốn làm tổn
thương ông nhưng đồng thời tôi phải thật với tôi vì tôi không muốn nói
ngược lại với các nguyên tắc của tôi.
Tôi nói với anh ta là tôi đã mới vừa nhận một bức thư từ
một người ở nước Úc đại lợi hỏi xem tại sao tôi không bao giờ in hình
mình trên các quyển sách. Trong thư trả lời tôi nói là vì tôi thích xem
nhẹ cá tánh tôi (hình sắc tôi) và đặt nặng về Pháp Phật, giúp nó nổi bật
thành điểm trung tâm. Các bức hình của tôi có ích lợi gì? Có nhiều thứ
tốt đẹp hơn thế! Tôi muốn cho con người những điều tốt, những điều có
thể giúp cho họ tự mình đứng vững mà không lệ thuộc vào tôi, những điều
thật hiển nhiên rõ ràng, những điều mà ta có thể sử dụng được luôn mà
không bao giờ bị mất gíá trị. Đừng bận nghĩ gì đến tôi, đến cá tánh tôi
(tức cái tôi), nếu bạn muốn cho Pháp Phật luôn được trưởng dưỡng.
Quay qua người Phật tử đã hỏi tôi, tôi hỏi lại anh ấy là
đã học được những gì nơi người thầy của mình để dùng chúng luôn luôn
trong suốt cuộc đời của anh. Anh suy nghĩ một hồi trước khi buồn mà nhận
rằng anh không thể nghĩ đến gì ngay lúc đó nhưng thêm rằng anh cảm thấy
tốt khi tham dự các buổi lễ nghi với ông thầy anh. Tôi không có ý kiến.
Suy nghĩ một hồi nữa, anh nói: ‘Tôi hiểu’. Anh ta đã trả lời cho chính
câu hỏi của anh.
Tôi biết một vài điều tôi viết và nói có thể gây tranh
luận và dễ gây khích bác. Tôi có ý như vậy, thưa quí vị. Quả thật có
người đã hỏi: ‘Ông không sợ vì việc nầy nó sẽ làm mất tiếng tăm của ông
sao?’
Tôi trả lời: ‘Giống như mọi người, tôi cũng thích mọi
người thích tôi, việc nầy bình thường thôi. Nhưng đối với tôi nó có một
cái gì quan trọng hơn thế, tức có nghĩa là những gì tôi nghĩ là đúng.
Nếu cái giá cho việc nầy là chuyện mất lòng hay mất tiếng tăm của tôi,
thì cứ để thế. Và người ta nên cảm ơn rằng đã có người sẵn sàng nói lên
những điều nên nói, vì đó là ý kiến cho bạn chứ không phải cho cái tôi
của bạn.
Trang 44. Tiện đây, tôi xin trích lại bức thư mà tôi đã
viết cho tờ ‘New Straits Times’ [Tân Thời báo ở Eo biển
(Malacca)] ở Mã lai Á, phát hành ngày 17-8-1998:
Cách đây vài ngày, tôi có kinh nghiệm rằng tôi cảm thấy
nên được đem ra công chúng: tôi đang ở trên một xe buýt có gắn máy lạnh
từ...đến..., và ghế tôi ngồi ngay phía sau ghế tài xế.
Khi đi được một tiếng đồng hồ, chiếc xe buýt ngừng tại
một địa điểm ăn uống bên vệ đường. Ngay sau khi ngồi xuống ghế, tài xế
không bỏ điếu thuốc đang hút dở. Tôi yêu cầu anh đừng hút thuốc nhưng
anh không để ý đến lời yêu cầu của tôi mà ngược lại ném cho tôi một cái
nhìn không thân thiện và vẫn tiếp tục hút. Tôi không nói gì hết cho đến
khi anh ta lại đốt thêm một điếu nữa; một lần nữa anh ta đã phớt lờ sự
phản đối của tôi dù rằng tôi đã chỉ bảng ‘Cấm hút thuốc’ phía trên anh
ta đang ngồi. Tôi nói tôi sẽ báo cáo anh. Quả thật không ai than phiền
chuyện nầy nhưng điều đó không thay đổi được sự kiện là nó đi trái với
luật định. Đây là quyền lợi của tôi để phản đối việc nầy và đòi hỏi rằng
phải theo đúng luật lệ. Tôi là hành khách đi xe có trả tiền vé và tài xế
phải tôn trọng quyền lợi của chúng tôi. Giả thử xe buýt chở đầy những
người không hút thuốc như tôi thì thái độ của tài xế có thể khác đi chút
nào không?
‘‘Có thể giận vì đã bị phản đối chuyện hút thuốc của
mình nên anh ta đạp ga thêm mà tốc độ có thể làm nguy hại đến tánh mạng
của mọi người trên xe buýt; vào lúc nầy thì xe đang chạy vòng trên núi
và anh ta đang quẹo vào một khúc cong rất gắt và lấn vào phần chạy ngược
chiều bên kia; may mà không có xe đi ngược chiều! Không muốn tỏ ra mình
là người hay than phiền, tôi cố gắng đè nén không nói gì cả cho đến khi
có một hành khách trẻ đi đến phía trước yêu cầu tài xế giảm tốc độ. Biết
được rằng tôi không phải là hành khách duy nhất lo lắng về lối lái xe
khá bất cẩn của tài xế nên tôi lên tiếng nhưng anh ta vẫn không giảm tốc
độ. Lúc tôi lên tiếng với người phụ tài xế yêu cầu giảm tốc độ thì anh
ta đạp thắng thật gấp đến nổi mùi cháy khét của bánh xe bay vào trong
xe.
Trang 45. ‘‘Anh tài xế đứng lên. Quay ra đàng sau và bắt
đầu mắng mỏ tôi, gọi tôi là ‘Đồ ngu’ và nói bằng tiếng Mã lai nên tôi
không hiểu được (tôi là hành khách đến từ Úc). Tôi cũng gọi anh ta là
‘Đồ ngu’, nhưng tôi muốn nói rằng, vì không có lý do gì để anh ta gọi
tôi như vậy nên tôi mới gọi lại như thế.
‘‘Kế đến anh ta bảo tôi xuống xe, nói là sẽ trả tiền xe
lại. Anh ta có quyền gì mà bảo như vậy? Tôi chẳng làm gì sai trên xe.
Cái mà tôi làm là quyền lợi không những cho tôi, cho mọi người mà là nói
lên cái gì chính đáng và hợp pháp. Dĩ nhiên tôi không xuống xe. Anh ta
la lớn lên: ‘‘Tốt, vậy thì lái đi!’’
‘‘Tuy nhiên các hành khách khác có vẻ sẵn sàng để chết
hay chịu tai nạn hơn là phản đối, bởi vì khi tôi quay qua và hỏi: ‘‘Các
ông bà có đồng ý với tôi không?’’ thì người duy nhất trong xe là anh
thanh niên trước đó đã yêu cầu tài xế cho xe chạy chậm lại nhỏ nhẹ nói
‘‘Đồng ý’’; còn những người khác thì im lặng. Nghĩ lại về phản ứng của
họ, tôi, cả lúc ấy và hiện nay, cảm thấy khá lạ về họ! Làm sao ta làm
giùm cho người khi người không muốn tự làm gì hết?!
‘‘Như tôi đã nói trước, tôi đã báo cáo anh. Ngay sau khi
gởi đơn than phiền lên hãng xe bằng cách nhờ một người bạn, tôi đã nhận
điện thoại trả lời của giám đốc công ty hãng xe, cám ơn tôi về bức thư
báo cáo và rất xin lỗi về những gì đã xảy ra. Ông nói đã có nhiều thư
phản đối về người tài xế đặc biệt nầy và hứa sẽ có hành động về anh ta
theo như tôi đòi hỏi.
‘‘Tôi viết cho ông ngày hôm sau, và cho ông biết với
thái độ tích cực, lịch sự và thành thật của ông, mặc dầu tôi vẫn còn có
ý định viết một bức thư cho báo chí về sự vụ nầy, nhưng tôi sẽ bỏ qua
cái tên của công ty và tuyến đường có liên hệ và thêm rằng nếu tôi lại
phải đi trên tuyến đường đó, tôi sẽ không tẩy chay công ty nầy.
Trang 46. ‘‘Vài ngày sau, ông giám đốc gọi lại tôi lần
nữa, cảm ơn bức thư thứ hai và thông báo cho tôi biết là người tài xế
phạm lỗi nặng đó đã chấp nhận lỗì lầm và đồng thời xin lỗi nhưng xét đến
mức độ nghiêm trọng của vụ việc nên ông đã sa thải anh ta. Tôi nói với
ông rằng việc tôi cáo giác anh tài xế không phải là do sự muốn trả thù
và tôi tiếc là anh ta phải bị đuổi việc, mà đây chỉ là việc phải làm mà
thôi vì đó là chuyện lợi ích cho công chúng. ‘‘Phòng bệnh hơn là chữa
bệnh’’, nếu có thể ta chữa được bệnh; đặc biệt làm sao ta chữa được bệnh
trong trường hợp đã vong mạng rồi!
‘‘Nếu sự phản đối của tôi chỉ cần cứu một người khỏi
chết hay khỏi bị thương nặng thì nó cũng đáng cho việc ‘gây sự’ của tôi.
Tôi đã từng thấy và nghe quá nhiều người bỏ mạng hoặc bị chấn thương
trên đường. Tôi thực sự có lo chuyện đó!’’
Khi phản đối hay nói cho một điều gì, chúng ta hãy thấy
nó rõ ràng trong đầu óc của mình rằng đây không phải là để cho mình mà
cho người khác và điều đó phải đúng. Chúng ta có thể và phải nên chịu
đựng với khá nhiều khó chịu cho riêng mình nhưng câu chuyện nó sẽ khác
đi khi có những người khác liên hệ vào; việc tự chế và im lặng có thể nó
sẽ không đúng. Nói về chuyện xe buýt ở trên: Nếu chiếc xe buýt ấy đâm
vào lề hoặc tệ hơn nữa đụng phải một chiếc xe khác khiến cho một số
người thiệt mạng và một số khác bị thương tích, hàng trăm người hoặc
hàng ngàn người sẽ phải bị ảnh hưởng nặng nề chứ không phải chỉ những
người chết và người bị thương. Mẹ, cha, chồng, vợ, con, thân nhân, bạn
bè, chủ nhân, công nhân...sẽ cũng phải chịu lây vì những người chính
thức gặp nạn nầy. Chắc chắn tất cả sẽ phải đồng ý rằng tai nạn có nhiều
cách xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau và rằng nếu có ai đó hoặc cái
gì đó ngăn nó không cho xảy ra thì điều nầy sẽ là một phước báo lớn lao.
Ông giám đốc đã rất sáng suốt khi biết được giá trị của việc than phiền
của tôi, vì đây cũng là mối quan tâm của ông; ông có thể bị tiêu tán đi
việc kinh doanh, địa vị và tài sản nếu chiếc xe buýt bị gây tai nạn. Và
chính người tài xế lầm lỗi cũng có lợi dù rằng anh bị mất việc do tôi
viết thư cáo giác: Anh cũng có thể bị mất mạng hoặc bị thương do kết quả
bất cẩn của anh và vợ con thân nhân bạn bè anh cũng có thể bị đau khổ
theo. Nếu không làm những gì tôi phải làm có thể tôi không còn sống để
nói lại chuyện nầy. Làm sao tôi có thể im lặng không phản đối không nói
gì hết?
Trang 47. Xin nói ở đây là
tôi không tự phụ cũng không nghĩ tôi là một anh hùng trong việc ngăn
ngừa các tai nạn rất có thể xảy ra mà tôi chỉ làm công việc của một con
người bình thường, dù rằng tôi chỉ làm một mình không có sự hỗ trợ của
ai ngoại trừ một tiếng đáp ứng nhỏ ‘đồng ý’ từ một người trẻ.
(Hãy thử tưởng tượng một chuyện khác). Hai người đang ở
phía sau một chiếc tàu đang bị nước vô, nhìn những người khác ở phía
trước tàu đang tát nước như điên. Một người nói: ‘‘May cho mình là nước
tràn vô phía của họ chứ không phải chảy vào phía sau của mình!’’
Rất nhiều người trong chúng ta giống như họ vậy. Trong
khi cảm thấy có quyền hưởng lợi của xã hội, ta thường cảm thấy vô trách
nhiệm trong việc đóng góp cho nó. Chúng ta chỉ muốn nhận nhận nhận. Mù
quáng, miển cưỡng tham dự vào các vấn nạn trong xã hội để giúp giải
quyết chúng, khiến cho sự việc càng lúc càng tệ hơn và chúng ta phải
nhận một phần lỗi cho sự sa đọa và sự hủy diệt của nó. Chúng ta mong đợi
người khác làm và dưỡng chúng ta giống như các trẻ em. Chuyện buồn cười
là mặc dầu chúng ta cũng có thể bị kéo theo sau trong chuyện tàu xã hội
vô nước nầy nhưng chúng ta không thể hoặc không chịu thấy sự kiện nầy
cho đến khi quá trể.
Nếu bạn ghét xã hội hay không muốn các sự ràng buộc hay
trách nhiệm của một thành viên trong xã hội, việc có lương tâm nhất là
hãy từ bỏ các lợi lộc do xã hội đem lại và đi vào rừng hay hải đảo để
sống một mình một chỗ nào đó. Nếu bạn không bằng lòng làm việc nầy, cố
gắng hiểu xem cái ý nghĩa cũa một thành viên trong xã hội để hiểu xem
bạn hưởng lợi như thế nào dưới nhiều hình thức. Cố gắng yêu thương nước
bạn hay cái nơi mà bạn tình cờ sống trên đó và cố gắng làm hết sức mình;
nó không cần phải là nơi bạn sanh ra mà nó là một phần của thế giới nầy,
bất cứ chỗ nào miễn là nó hỗ trợ bạn sinh tồn. Và nếu bạn không có gì để
có thể làm cho nó tốt đẹp hơn thì đừng nên làm cho nó tệ hại hơn. Nếu
bạn không làm gì để nó tốt đẹp hơn mà chỉ ngồi trên hàng rào, lạnh lùng
nhìn cuộc sống trôi qua và chỉ mong đợi lợi lộc tới thì chính là bạn
đang làm cho nó tồi tệ hơn đấy. Vì thế khi bạn bị nạn hay đau khổ thì
xin đừng than phiền hay phàn nàn.
Trang 48. Bạn cũng biết ý
niệm Nhân Quyền là điều rất hay và quan trọng tuy nó chỉ là một ý niệm
và bạn có bao giờ dừng lại để suy nghĩ nó có là từ đâu? Ý niệm nầy tương
đối khá mới, nó chỉ có mới đây sau khi tổ chức Liên Hiệp Quốc thành hình
và mặc dầu nó ở trên đầu môi chót lưỡi và đôi khi đã gây sự nhạo báng
hoặc bị coi thường ở bất cứ nước nào (được) áp dụng. Các cuộc nói chuyện
về nhân quyền về lãnh tụ độc ác Pol Pot khi anh ta còn nắm quyền tại Căm
pu chia thường dẫn đến cái đầu của người nói rời khỏi thân xác! Các cuộc
biểu tình phản đối về vấn đề vi phạm nhân quyền ở Việt nam và ở những
nơi khác sẽ làm cho họ được một chỗ ở trong ‘trại cải tạo’. Vì thế ở
phương Tây mặc dầu các cuộc bạo động có tính cách tội ác có gia tăng và
xã hội đang phải chịu sự khủng bố cũng có chiều hướng gia tăng và các sự
bất công cùng với sự tàn ác của cảnh sát không phải là chuyện hiếm có
nhưng chúng ta vẫn còn khá nhiều may mắn và cần phải cảm ơn việc nầy.
Chúng ta cần phải duy trì các việc tốt lành trong xã hội trong lúc chúng
ta được chúng vì chúng có thể dễ dàng bị mất và khi chúng mất thì chúng
không còn là của ta để ta bảo vệ nữa.
Khi bị cúp điện hoặc cúp nước, chúng ta than phiền và la
oái lên nhưng đó không phải là lúc chúng ta ngạc nhiên. Trái lại, lúc
đáng ngạc nhiên là lúc có nước, có điện, vì khi mất thường
dễ dàng hơn là khi được. Có được là chuyện ta thấy quá quen thuộc vì nó
đã được cung cấp sẵn và do vậy mà nó che mờ cái trí vốn sáng suốt của
mình; ta xem chúng như chuyện bình thường và luôn luôn mong các sự việc
là của mình, chỉ cần bấm nút là có ngay, vì vậy khi mất lúc đó mới tiếc
và mới thấy đau khổ.
Thiên nhiên không biết gì về ‘Nhân quyền’ và nó cũng
không cần biết xem ta sống hay chết. Đời sống không phải là một quyền
lợi mà là một phần thưởng từng ngày một và chúng ta không nên xem đó là
chuyện bình thường như ta thường xem như vậy; một ngày nào đó ta sẽ mất
thân mạng nầy một cách bất ngờ mà không có sự báo trước chút nào cả.
Trang 49. Thỉnh thoảng ta
cũng nên đi đến những nước nghèo như Ấn độ, Bangladesh hay các nơi như ở
châu Phi để xem họ sống như thế nào. Đây là một điều tốt. Nó sẽ giúp
chúng ta nhận ra được một điều là chúng ta, những người phương Tây, đang
được may mắn. Chúng ta đã được hưởng một mức độ cao về văn minh vật
chất, còn cao hơn những vị vua chúa và hoàng hậu của các thời đại xa
xưa. Tôi tưởng tượng rằng Nữ hoàng Cleopatra trong xứ Ai cập nóng bức và
bụi bặm sẽ ghen tỵ với chúng ta trong thời đại nầy với các tiện nghi về
các phòng ốc có gắn máy điều hòa không khí. A lịch sơn Đại đế hay Nã
phá Luân cũng sẽ rất vui với các loại xe tầm thường như Toyota hay Ford
dù rằng là loại xe đã xài rồi!
Rất nhiều người trong chúng ta thường quen với lối suy
nghĩ về những việc đã tốt đẹp trong đời sống là nó đương nhiên và luôn
luôn sẽ đi lên từ tốt đến tốt hơn. Nhưng đời trần thế không phải là như
vậy nếu ta nhìn sơ qua về lịch sử thì chúng ta sẽ thấy; rất nhiều các
triều đại lớn và các nền văn minh đã có thời hưng thịnh, tồn tại một
thời gian và suy vong sau đó. Trần đời có lên thì có xuống giống như
sóng nước của đại dương, chẳng có gì gọi là vĩnh cửu. Nếu chúng ta thấu
biết sự việc nầy rõ rệt hơn chúng ta sẽ thấy và nhận cái khổ đau một
cách nhẹ nhàng và có trí tuệ hơn.
Nói tóm lại, đây là Chìa khóa: Đừng nghĩ gì nhiều về
những mất mát của mình, vì nó không còn là của bạn để nghĩ về nó. Suy tư
về những gì mà bạn vẫn còn có được và Cẩn Trọng (Take Care) với nó.
$
Sợ sệt hay Ham thích cuộc-đời-sau-khi-chết không làm băn
khoăn nhiều đối với những người mà họ đã hoan hỉ đóng góp một cách có ý
thức cho sự tiến bộ của Nhân loại, đã tích cực cống hiến những phần
riêng tư của họ vào tài sản chung của Nhân loại, đã học hiểu những gì từ
lỗi lầm, khổ đau, vui thỏa, thiếu khôn ngoan và các khám phá được cái
mới trong cái cũ.
$
S THẬT
Trang 50. Nói chuyện về Sự
Thật thì ai cũng nói cũng nghe. Hầu hết các tôn giáo đều tự cho rằng,
chỉ một mình tôn giáo họ, một mình sỡ hữu nó (nếu không thì làm sao họ
chứng minh được sự hiện hữu hay sự sống còn cho họ để nhờ thế mà họ có
được và kềm giữ được tín đồ?) Nhưng ai chứng minh được cái Sự Thật đó?
Khi được hỏi về chuyện nầy, họ luôn nói rằng chúng ta phải tin trước khi
chúng ta thấy nó.
Rất nhiều các giáo phái thuộc Cơ đốc giáo đang bị mâu
thuẫn không những đối với những người không thuộc tín hữu với họ mà ngay
cả chính các tín đồ với nhau về việc thế nào là ‘đúng’ thế nào là ‘sai’.
Thiên chúa La mã, Tin lành, phái Mormons (LND: có từ năm 1830 tại Hoa
kỳ), Hội Giám lý (LND: Methodists, thế kỷ 18), v.v...tất cả đều cho rằng
chỉ có mình họ là Thật và đúng (vậy thì tại sao lại có quá nhiều giáo
phái) trong khi các phái khác thì không. Ai đúng đây? Có phải tất cả đều
là đúng, hay tất cả đều sai? Hay họ một phần đúng một phần sai? Làm sao
ta có thể biết được? Có thể chúng ta được biết bằng cách cố tìm
cái gì đúng thay vì ai đúng?
Đầu tiên, Sự Thật phải là điều phổ biến cho mọi người,
nếu không nó sẽ không phải là Sự Thật, phải không các bạn? Thí dụ, nước
thì ướt và lửa thì nóng; điều nầy đã đúng, đang đúng và sẽ đúng; không
thể tranh cãi được. Thứ hai, vì nó có ở khắp nơi, nó không thể được nắm
lấy hay độc quyền bởi tay chân; cũng không được tuyên bố bởi các đầu óc
quá thiển cận như đối với các loại sở hữu vật chất. Nó quá tầm tay đối
với những gì ta có thể nói đến bởi các sỡ hữu từ ‘tôi’, ‘của
tôi’...Không có cái hộp nào, hàng rào nào, bức tường nào hay tên tuổi
nào giữ nó được. Chữ ‘Sự Thật’ cũng vậy, nó không phải là ‘Sự Thật’.
Đức Phật đã nói như thế nào về ‘Sự Thật’? Ngài nói rõ
như thế nào về tất cả sự vật, từ viên sỏi đến một vì sao trong vũ trụ
bao la nầy đề phải chịu tùy thuộc vào các quy luật. Cái quy luật bao gồm
tất cả và trọng đại nhất trong số các quy luật là luật Nhân và Quả.
Không có một vật gì, hữu tình hay không hữu tình ở ngoài quy luật nầy.
Theo như khoa học hiện đại ngày nay đã cho thấy là mọi thứ đều ở trong
‘tình trạng luân lưu luôn thay đổi và bất định’, nó luôn trở thành cái
gì khác với nó.
Không có các chuyện rủi ro hay ngẫu nhiên (tức không có
việc gì xảy ra do tự thân chúng) trong Vũ trụ nầy; mọi thứ là kết quả
của các nguyên nhân, hằng hà vô số nguyên nhân. Hãy nghĩ đến một hạt cát
trên biển và các nhân tạo ra chúng. Hãy nghĩ đến một hạt cát biển và
những gì nó liên hệ; việc nầy dẫn đến việc kia như các mắc xích; nó
không phải chỉ thuần là một hạt cát. Nếu bạn cố gắng tìm hiểu cội gốc
(hay căn để) của nó, bạn sẽ thấy toàn thể Vũ trụ liên quan đến nó mà vẫn
không đạt được cái bắt đầu của nó. Phật giáo nói rằng Vũ trụ có thể được
tìm thấy từ một hạt cát và tất cả mọi thứ cũng như vậy!
Trang 51. Điều nầy có nghĩa
là mọi sự mọi việc đều có liên hệ nốì kết với nhau và bằng một cách nào
đó mà mọi thứ đều tùy thuộc với những cái khác mặc dầu chúng ta thường
không thấy nó vì nó đòi hỏi một trí tuệ sâu sát, thâm nhập và rõ ràng.
Chúng ta có thể so sánh Vũ trụ với cái lưới cá: lấy được một nút, một nơ
thế là bạn lấy được cả lưới. Mọi sự đều là một phần, dù nhỏ hay lớn, của
cái Nguyên thể, giống như các thành tố của nguyên tử lần lượt bao gồm
các hạt điện tử, hạt điện dương và hạt năng lượng tương đương và chúng
đều di động không ngừng nghĩ. Do vậy, những gì chúng ta gọi là ‘thể đặc’
thực ra nó không đặc chút nào mà nó chỉ là năng lượng (khí); không có gì
hiện hữu ở bên trong hay tự nó và vì thế mọi thứ đều có tánh không.
Tuy nhiên đây là điều mà hầu hết chúng ta không muốn
chút nào cả; cái họ muốn phải là một cái gì đó cầm nắm được, sở hữu được
và nói là ‘của tôi, không phải của anh’; họ mong có thể loại trừ tha
nhân ra khỏi ‘Sự Thật’ của họ; vì thế mới có sự hiện hữu của quá nhiều
giáo thuyết về ‘Sự Thật’.
Biết hay không biết, thích hay không thích, tin hay
không tin, đó là điều không quan trọng; chúng ta tất cả đều phải chịu lệ
thuộc vào quy luật, sẽ bị cuốn tới trước và sẻ trở thành cái gì khác.
Hơn thế nữa, các quy luật nầy không linh thiêng; các lời cầu nguyện với
chúng để được thương yêu hay tha thứ sẽ không thay đổi được gì; sẽ không
có câu trả lời. Khi hiểu chúng và học cách dùng chúng, làm việc với
chúng thay vì đi nghịch lại với chúng, chúng ta sẽ biết cách đem vài
hướng đi vào trong đời sống mình; chúng ta sẽ đặt bàn tay mình vào tay
lái.
Để thấy sự vận hành của các quy luật nầy, ta không cần
lòng tin nào cả bởi vì nó luôn ở chung quanh ta và cứ tiếp tục như vậy.
Nếu cứ làm ngơ, điều mà hầu hết chúng ta đã và đang làm, và giả trá nói
ngược lại, đó không phải là lỗi của cái đó mà là do sự còn non nớt của
riêng ta.
Trang 52. Nói về vô số người
tự cho là đã biết Sự Thật (hay những người kể chuyện về Chúa, về Thượng
đế), đức Phật có cho một dẫn chứng, Ngài nói: ‘‘Giả thử có một người nói
là anh ta đã yêu được một người đàn bà đẹp nhất thế giới, nhưng hỏi ai
nói và tên của người đàn bà đó là gì thì anh ta nói không biết. Khi được
hỏi thêm nơi nàng ở, cha mẹ cô ta là ai, tuổi tác nàng, màu tóc màu da,
v.v...anh ta cũng nói không biết. Từ các câu hỏi và câu trả lời trên cho
ta thấy rằng cái người đã nói rằng anh đã yêu được người đàn bà đẹp nhất
thế giới mà chưa thấy nàng, không biết nhiều về nàng chỉ là nói chuyện
vô nghĩa, tầm phào.
Người ta thường giả sử khi nói thì nhiều nhưng biết thì
lại rất ít. Những gì viết trong sách thì cao như núi nhưng chẳng bao giờ
có những bằng chứng một cách xác quyết về Sự Thật vì Sự Thật cần phải
thực chứng trực tiếp bởi chính cá nhân đó. Thiền (Zen), tuyệt đỉnh của
Phật giáo, đã dạy: ‘‘Không tùy thuộc vào Kinh sách hay quyền lực bên
ngoài mà phải thấy trực tiếp vào trong lòng người!’’ Ai cũng có thể viết
sách, chẳng hạn như quyền sách nầy, nhưng nội dung của nó có chứa ‘Sự
Thật’ không?
Phật giáo tiếp cận cuộc đời bằng sự quán sát xem sự vật
như thế nào chứ không phải do lòng tin hay giả thiết. Nó không tìm cách
cắt nghĩa nguồn gốc sự vật mà chỉ cười những ai làm chuyện đó vì không
ai biết cũng chẳng bao giờ có thể biết. Hơn nữa, nó xem việc cố gắng tìm
hiểu đó là vô ích và phí thì giờ, vì cái đầu tiên của các sự vật thì
không thấy được. Phần cuối của một sự việc luôn luôn là phần đầu của một
việc khác, việc nầy đổi thành việc kia và vì thế mới nói ‘không có thủy
cũng không có chung’. Vì quá khứ thì đã qua, cái thời gian còn lại là
Bây Giờ, tức nhấn mạnh vào cái đang sống của cái hiện tại, chứ không
phải cái hiện hữu.
Tìm tòi đi tìm Sự Thật quả là sự nghịch thường, giống
như đốt cây nến lên để tìm Mặt Trời. Bộ Mặt Trời không chiếu sáng nếu ta
không tìm nó à? Tại sao chúng ta lại cất công làm chuyện bí mật đó? Sự
Thật không phải là một ý niệm; các ý niệm về Sự Thật thì không phải là
Sự Thật. Mỗi một người đều có các ý niệm về Sự Thật, thô tháo hay vi tế,
nhưng chúng thường là chủ quan, là những sự tưởng tượng của việc tự xem
mình là trung tâm.
Trang 53. Sự Thật phải có mặt
khắp nơi, trong mọi sự mọi vật, nhưng chúng ta không thấy nó bởi vì ta
tìm nó không đúng chỗ của nó và bởi vì thực sự ta không có mặt.
Đầu óc ta thường là ở đâu đâu chứ không có mặt ngay lúc hiện tại, hay
nghĩ suy về quá khứ hoặc về tương lai, lo nghĩ về Sự Thật, về Giác Ngộ,
về Thiên đàng, về Địa ngục. Và có thể chúng ta không muốn thấy Sự Thật
vì nó có thể không phù hợp với các ý nghĩ của ta về nó. Vì vậy ta quay
lưng lại với nó và tìm Sự Thật khác, Sự Thật khác, Sự Thật khác và ta
không bao giờ tìm ra được nó.
$
Đạo Cơ đốc có được nhiều tín đồ là phải biết ơn các thủ
đoạn chính trị của các tín hữu Cơ đốc chính thống. Họ thành công trong
việc chuyển đạo Cơ đốc từ một tiểu giáo phái bị ghét bỏ thành một tôn
giáo chính thức của Đế quốc La mã. Mục tiêu của họ là, theo như Giám mục
Irenaeus nói, ‘‘một giáo hội phổ biến và phân tán khắp nơi trên thế
giới, ngay đến tận cùng ngõ ngách của nó’’. {LND: theo từ điển Macquerie
của nước Úc đại lợi thì chữ catholic (chữ c không
hoa): 1. thuộc toàn thể Giáo hội Cơ đốc; 2. liên hệ đến tất cả, được sự
quan tâm của tất cả; 3. có tình cảm với mọi người, có tư tưởng rộng rãi
khoáng đạt, tự do; thí dụ: to be catholic in one’s tastes, interests,
etc., từ chữ gốc Hy lạp katholikós (theo nghĩa số 2)}. Để đạt
được cứu cánh đó, họ đã dùng gần như mọi phương tiện. Họ viết lại những
gì được viết về đạo Cơ đốc, thích nghi hóa các nguyên tắc của họ để biến
đạo họ được chấp nhận dễ dàng hơn. Họ chìu đãi và thỏa mãn các giới chức
La mã. Họ hợp tác với các kẻ ngoại đạo. Phái Cơ đốc Chính thống chống và
kêu gọi chính quyền sửa đổi lại là không cần phải là một tôn giáo khuyến
khích giác ngộ, hiểu biết tâm linh mà chỉ cần là tôn giáo đem lại trật
tự và sự tuân thủ của mọi người đối với Đế quốc (La mã) đang bị sụp đổ
dần. Chánh quyền La mã cung cấp cho Giáo hội Chính thống những đặc quyền
chưa có từ trước đến nay giúp Giáo hội có quyền uy độc đoán tuyệt đối mà
Chúa Giê Su đã chống lại việc nầy ngay từ đầu.
Helen Ellerbe: Mặt
Trái Tối tăm của Cơ đốc giáo.
&
Ta đã được gì?
Trang 59. Phá hại hay bóp méo
thì dễ, sáng tạo hoặc làm sáng tỏ thì khó. Đây là lý do tại sao các tôn
giáo, qua nhiều thời đại đã mất đi sự trong sáng và sinh khí của nó.
Phật giáo cũng không ra ngoài ngoại lệ đó; nó đã có thêm nhiều thứ mà từ
đầu nó không có và lại thường bị làm biến dạng đi. Lấy các phim võ công
kung-fu được sản xuất hàng loạt từ bộ máy điện ảnh Hồng kông làm
thí dụ. Những phim nầy có thể có một vài giá trị được xem là để giải
trí. Nhưng thường thì chúng mô tả một cách sai trái về Phật giáo và
triết học Trung quốc. Vì thế, khi có một cố gắng thực sự để truyền bá
Phật giáo thì chúng ta trước hết phải đương đầu với những sự vô lý vô
nghĩa ấy đối với những người dễ tin đã xem các phim có nói đến Phật
giáo. Nó cũng giống như phải làm sạch cỏ, dọn đá và rác rưởi trên một
mảnh đất trước khi trồng trọt.
Cách đây vài năm, tôi có xem một phim Nhật bản nói về
Phật giáo, nhưng nó rất không chính xác, dài dòng và gây chán đến độ tôi
ngủ trong rạp mà không thể chờ xem đến hết phim. Kế đến là phim chùa
Shaolin của Trung quốc, chiếu các tu sĩ ăn thịt chó, uống rượu, đánh
giết nhau, những thứ hoàn toàn trái ngược với đời sống bình thường của
giới tu sĩ. Một phim khác rẽ tiền nói về đức Phật, chiếu cảnh Ngài bị ma
quỉ kéo ra khỏi nơi ngồi thiền dưới cây bồ đề, nhờ một thần khỉ da trắng
đánh bại quỉ vương bằng sức thần thông và võ kung-fu! Thật là cực kỳ ngu
xuẩn và đáng chán nhất là có sự đánh giá cao bởi người tu sĩ mà tôi gặp
tại một chùa ở San Jose, Mỹ quốc! Tại sao các người làm phim lại vặn vẹo
sự việc một cách quá đáng như vậy!
Có các bộ phim nầy là do nhu cầu trong dân chúng? Chúng
có phản ảnh thực sự thị hiếu của con người thời nay chăng? Nếu vậy tại
sao con người lại quá ư vô ý thức vậy? Chúng ta được học hành được giáo
dục nhiều hơn bao giờ hết (mặc dầu chưa chắc là thông minh hơn) vậy mà
chúng ta lại chịu giải trí với loại vô giá trị vậy? Không lẽ đời sống
ngày nay buồn chán nhiều đến nỗi chúng ta phải chạy trốn để tìm những
chuyện không đâu và dại dột như vậy? Ngoài phần y phục và cấu trúc, các
phim nầy xem vừa chán vừa thiếu thuyết phục; bố cục thay đổi rất
ít; các cảnh đãu võ kung-fu diễn ra quá lâu, các vai đấu đá nhau ít khi
bị thương, không thấy mõi mệt và dơ bẩn; các phép thần thông thì quá khó
tin, âm thanh thì thuộc hạng rẽ tiền. Đức Phật hoặc Bồ tát Quan thế Âm
được chiếu trông không trang nghiêm, ngồi quay tròn như chong chóng, hoa
sen lẫn trong các đám mây đủ màu sắc, đức Phật thì có kiểu tóc dị
thường, v.v...Các việc làm nầy có phải cố ý để phỉ báng và làm giảm giá
trị của Phật giáo không? Nếu vậy thì chúng đã khá thành công. Những
người không biết về Phật giáo có cảm tưởng hay cảm giác như thế nào khi
xem các phim nầy?
Trang 60. Nếu bạn có ý mua
nhà thì nếu khôn, bạn phải nhờ người đánh giá nó trước, nếu không thì
sau đó bạn sẽ cảm thấy là bạn đã trả ‘lố’ căn nhà ấy rồi. Cũng vậy, đối
với tôn giáo và triết lý của cuộc đời, bạn cũng nên biết đánh giá chúng.
Bạn có dám làm như vậy không? Tôn giáo của chúng ta ngày nay có chịu sự
thẩm xét chơn thực hay không? Tại sao nhiều Phật tử bỏ Phật giáo và theo
các tôn giáo khác? Đó có phải chăng là vì được phần vật chất hay, là
người tỵ nạn, được bảo lảnh? Họ có tìm được sự tốt đẹp nào hơn không? Và
họ có hiểu biết cái đạo mà họ cải qua không? Chúng ta nên thực sự sẵn
sàng hỏi những câu hỏi như thế chứ đừng nên mù quáng cải đạo, nghĩ rằng
‘‘đạo của ta hay hơn các đạo khác’’ như thông thường mọi người đều nghĩ
như vậy. Nếu được hỏi tại sao chúng ta nghĩ tôn giáo của mình hay và cao
hơn các tôn giáo khác liệu chúng ta có thể trả lời được không?
Chúng ta có thể thấy rằng riêng về việc phục vụ xã hội
thì Phật giáo cho đến nay đứng ở phía sau mà phía sau khá xa, xa đến nổi
không thấy đâu! Về lễ nghi thì các tôn giáo còn lại cũng không khác với
Phật giáo. Những gì khiến cho Phật giáo khác biệt và tại sao nó tiếp tục
hiện hữu trên thế giới nầy 2500 năm nay? Và tại sao nó lại không đi theo
con đường bị lãng quên của các tôn giáo Hy lạp và La mã mà chúng chỉ còn
lưu trữ tại các bảo tàng viện và trong sách vở về môn thần thoại học?
Phật giáo có cung cấp được cho con người chút nào không, khi họ không
thể tìm thấy ở các tôn giáo khác? Nếu chúng ta sợ bị hỏi những câu hỏi
đó tức có nghĩa là chúng ta đã không hiểu và không thực sự có lòng tin
nơi những gì đức Phật dạy. Chúng ta không nên nghĩ rằng, nghi ngờ hay
hỏi han là không kính quí bởi vì đây là những gì đức Phật đã khuyến
khích hỏi để học chứ không phải chỉ có lòng tin mà thôi. Khi Ngài sắp
tịch diệt, Ngài hỏi các đệ tử của Ngài xem có chuyện gì còn nghi ngờ hay
thắc mắc không. Chư vị im lặng. Ngài lại nói rằng nếu họ không thích hỏi
chỉ vì kính trọng Ngài quá thì họ nên nhờ bạn bè họ hỏi dùm. Vẫn không
có câu hỏi và đức Phật biết rằng đấy là vì họ đã hiểu rõ và không có gì
nghi ngờ chứ không phải vì họ sợ sệt hay nhát nhúa.
Trang 61. Không giống như các
tôn giáo khác, Phật giáo không phát triển từ một nhánh tôn giáo nào đã
từng hiện hữu trước đó mà do sự Giác Ngộ và Giải thoát của đức Phật. Vì
thế Phật tử nói rằng nó được căn cứ vào những sự kiện có thể kiểm chứng
được và không đòi hỏi các người theo đạo phải chấp nhận và tin tưởng nó
mà không được không nghi ngờ.
Trong Phật giáo cũng có sự kiện về các phép lạ (thần
thông) so với các tôn giáo khác tuy có vài tôn giáo đặt nặng vấn đề nầy.
Nhưng Phật giáo không nhấn mạnh hay xem chúng là quan trọng vì chúng khó
kiểm chứng được và phần đó là phần quá khứ trong khi phần quan trọng là
phần hiện tại tức cái Bây-Giờ và Ở-Đây có tính cách Chơn Thường. Ngay
ngày hôm nay có người với những thần lực siêu nhiên có thể thi triển các
phép lạ. Người Phi luật tân nổi tiếng với các nhân vật chữa tâm bệnh hay
tâm linh những người đã nổi tiếng là có thể làm được các cuộc giải phẩu
với tay không mà vẫn có hiệu quả. Nước Ấn độ đã có vô số vị Du già và
Thánh nhân, nhiều người trong số nầy đã có được rất nhiều thần thông.
Thần thông nổi tiếng nhất là Sai Baba, vị mà nhiều người đã thấy là ông
cho ra nhiều vật khác nhau từ trên không. Điều nầy không thể bàn cãi; có
một số vấn đề mà hầu hết mọi người kể cả các khoa học gia không thể biết
được. Chẳng hạn các khoa học gia không thể cắt nghĩa làm sao mà con
người có thể đi trên lửa mà không bị phỏng thế mà chuyện nầy không phải
là hiếm ở các nước châu Á.
Phật giáo đánh giá sự quan trọng về ‘phép lạ huyền diệu’
bằng một giai thoại nói về đức Phật. Một bữa nọ, trong khi đi dọc theo
sông Hằng, Ngài gặp một ẩn sĩ. Sau khi trao đổi lời thăm hỏi với vị đạo
sĩ khổ hạnh với râu tóc dài, Ngài hỏi thăm về sự tập luyện của ông. Vị
đạo sĩ trả lời rằng ông đã ngụ nơi đó rất nhiều năm, tu luyện khổ hạnh
để có thể khinh công trên mặt nước và cuối cùng thì bây giờ các cố gắng
của ông đang có kết quả. Đức Phật cười, có thể có hơi một chút thương
hại ông, và nói: ‘‘Ông không biết là trên kia có một người lái đò có thể
chở ông qua sông mà chỉ tốn hai xu sao?’’
Trang 62. Quyền năng về tâm
linh được cho biết rằng bất cứ người nào chịu thực hành một vài loại tu
luyện thiền định đều có thể có được nhưng đức Phật cho rằng , nếu các đệ
tử của Ngài đã có được các loại quyền năng tâm linh ấy (tức các thần
thông), họ phải giữ đừng phô bày ra bên ngoài. Kinh sách nói rằng chính
Ngài đạt được thần thông, và thực sự đã có những lời tường thuật
về Ngài phô triển các phép lạ như tạo ra các ảo ảnh về mình dưới muôn
hình thức để cho người khác thấy, tạo ra lửa và nước từ thân thể Ngài,
biến mất ở một nơi, xuất hiện tại nơi khác. v.v...Nhưng các thứ nầy
không được xem là quan trọng. Điều kỳ diệu thực sự của Phật giáo là sự
Khai sáng, Giác ngộ, sự Tĩnh Thức đối với Thực Tại và chúng được mở ra
cho tất cả mọi người. Đức Phật không độc quyền Sự Thật (Chơn Đế) nầy;
Ngài nói rằng bất cứ ai cũng có thể tìm được những gì mà Ngài đã tìm ra.
Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), người em họ với Đức Phật mặc dầu chỉ là tu sĩ
thường và luyện được thần thông như bay trên không trung, đi xuyên qua
bức tường, khinh công trên mặt nước, v.v... nhưng vẫn không đạt được mức
Giác Ngộ; ngược lại chính các khả năng quyền biến đó đã gây chướng ngại
cho Ông tự phụ tự đắc, thối nát hủ bại và Ông đã qua đời trong trạng
thái đau khổ.
Vâng, Phật giáo đã và vẫn còn là Con Đường giúp (ta)
sống trong Thế giới nầy với sự Tĩnh Thức. Đó là những lý
do tạo thành sự tồn tại của Phật giáo; Phật giáo thực sự có một cái gì
đó cống hiến cho thế giới nầy; một thế giới dù có những tiến bộ phi
thường về khoa học công nghệ và kỹ thuật, nhưng vẫn còn đầy các vô minh,
mê tín, sân hận, sợ hãi, cố chấp, tối tăm và đau khổ. Là Phật tử, chúng
ta phải tái khám phá di sản của mình, lau chùi bụi bặm gia tài của mình
và đem chúng ra cho mọi người đều thấy. Nhiều người đang chờ những gì
được cống hiến; ta có nên giữ riệt chúng không? Tuy nhiên khi cho tha
nhân, chúng ta phải hiểu và quí chúng trước rồi sau đó biết rằng chúng
đáng cống hiến cho người khác.
Trang 63. Muốn tiếp cận Phật
giáo, chúng ta phải có Tín ngưỡng và Trí Tuệ; cả hai phải cân xứng nhau.
Nếu có quá nhiều Lòng Tin nhưng không đủ Trí Tuệ, sự việc sẽ bị sai
trái. Ta có thể xem các kết quả ở các tôn giáo bạn: họ trở nên ngây thơ
và không thực tế, dị đoan như trong thời Con Người còn bán khai. Lại nữa
các tôn giáo mất cân bằng nầy thường cho thấy tính cố chấp, cuồng tín,
khủng bố, xung đột, chiến tranh. Tại sao con người không chịu nhìn sâu
hơn vào các vấn đề thay vì chỉ thấy trên bề mặt rồi tin vào?
Đức tin là gì? Vâng, nhiều người đánh đồng Đức tin với
Tin tưởng. Thực ra chúng có khác. Ta có khuynh hướng Tin tưởng những
người mà ta kính trọng hay vui thích dù rằng ta không có bằng chứng hay
hiểu biết đối với những gì họ nói là có thật hay không; chúng ta thường
tự bị lừa bằng cách nầy. Tin thì có nhưng thiếu hiểu biết vẫn có thể có.
Thí dụ, hầu hết mọi người sẽ trả lời là ‘Có’ nếu được hỏi là họ có tin
ma quỉ hay không dù rằng họ chưa bao giờ thấy quỉ ma. Và nếu bạn bảo
những người trả lời ‘Không’ đi theo bạn đến các nghĩa trang vào ban đêm
thì họ có thể sẽ từ chối, điều nầy chứng tỏ rằng họ thực sự có tin. Tin
hay Không tin thường đi đôi với nhau và chúng ta thường thấy rằng cái
nầy là cái kiếng soi của cái kia. Còn Lòng (Đức) Tin ít có liên hệ đến
sự tin tưởng, vì Đức Tin có được là do có sự hiểu biết. Chẳng hạn bạn đã
thấy quảng cáo phim Kodak; các nhà chế tạo bỏ ra một số tiền rất lớn để
quảng bá chúng; có thể bạn đã bị ảnh hưởng phải mua phim Kodak bởi chính
sự quảng cáo đó. Tuy nhiên bạn chỉ tin nó vậy thôi. Chỉ đến khi nào bạn
mua, dùng và có kết quả tốt thì lúc đó bạn sẽ có Lòng Tin và rồi bạn sẽ
mua nó nữa. Nếu hình rửa không đẹp, bạn sẽ mất lòng tin và không sẽ
không bao giờ mua nữa. Vì vậy, Lòng (Đức) Tin nẩy sinh từ kinh nghiệm
trực tiếp và thay vào chỗ tin tưởng. Khi chúng ta có Lòng Tin, Đức Tin
hay Tín nhiệm nơi cái gì đó thì chúng ta không cần tin tưởng chỉ vì
chúng ta biết rồi.
Trang 64. Hai người bày bán
hàng hóa trong chợ. Một người đậy đồ lại, lớn tiếng rao mời kẻ qua người
lại mua hàng, nói rằng nếu họ để mất dịp mua nầy họ sẽ hối tiếc suốt
đời. Người bán đòi hỏi người mua tin những gì mình nói mà không
có gì để chứng minh. Người kia bày hàng của mình ra cho mọi người thấy
và xem xét, không ‘hù’ cũng không hứa hẹn; nếu ai muốn mua thì mua; nếu
không thì cũng chẳng sao. Người nầy giống như đức Phật, Người chẳng bao
giờ kêu gọi người ta phải tin và theo Người, chỉ nói rằng nếu chịu làm
họ sẽ tự cứu và lên cõi thiên khi qua đời (nầy), nếu không thì vào các
cõi ngục ác.
Còn Trí Tuệ là gì? Trí Tuệ là khả năng phân biệt giữa
cái Chơn và cái Giả, cái Đúng và cái Sai, khả năng thấy các sự vật đúng
như tánh tướng của chúng chứ không phải như ta muốn chúng phải như thế
nào theo ý ta. Và đó là cái khả năng sống duyên theo sự thấy biết và sự
hiểu biết đó. Nhờ vậy nó dẫn đến Giác Ngộ, điều mà ngay cả một người mù
cũng có thể nói: ‘‘Ồ, vâng, tôi thấy rồi, tôi hiểu rồi!’’. Người ca sĩ
mù Stevie Wonder đã từng nói: ‘‘Tôi muốn giúp người thấy được cái đẹp
chúng quanh ta!’’ Thấy mà không có đôi mắt? Vâng đúng vậy! Trí Huệ là
thấy. (Ta gọi là Huệ Nhãn. M.T.) Nhiều người có đôi mắt tốt nhưng không
có nhiều Trí Tuệ, vì vậy họ thấy và hiểu rất ít.
Thế giới nầy cùng với mọi sự mọi việc đổi thay và trôi
lăn; tất cả các công trình của chúng ta, tốt hay không tốt, rồi sẽ tan
thành cát bụi. Phật giáo cống hiến sự Giác Ngộ và Giải thoát
(Enlightenment: 1. Khai Sáng; 2. Lòng khoan dung và thoát khỏi định
kiến). Không ít hơn không nhiều hơn.
@@@
Vua Canute xét lại
Chơn thành và không khiêm tốn một cách giả dối
Tôi phải nói rằng tôi thích được (người ta) thích tôi
Giống như mọi người
Nhưng không phải đến độ để các ý kiến về tôi làm tôi tê
liệt
Và ngăn tôi không cho nói những gì mà tôi cảm thấy phải
được nói.
Vì ai sẽ thay vào chỗ của tôi khi tôi qua đời?
%
Có người ‘ỷ’ là bạn tôi, có thói quen ‘lải nhải vào tai
tôi’ cả giờ, lại tâng bốc tôi thái quá, nói đủ thứ về tôi mà tất cả
không phải là đúng sự thật. Tôi không biết tại sao anh làm như vậy và
muốn gì khi làm như thế, riêng tôi thì tôi không thích; chắc anh ta cho
tôi là anh chàng dại dột! Cũng may là tôi biết về tôi rõ hơn là anh ta
biết tôi và nhờ vậy mà các lời khen rỗng tuếch của anh không vào trong
đầu tôi được. Tôi muốn kể cho anh ta một câu chuyện về vua Canute.
Canute là người Đan mạch mà lại làm vua nước Anh, người
của ông đã chinh phục được một nước Anh không phòng thủ và chưa văn minh
vào thế kỷ thứ 8th và 9th. Triều đình ông, mặc dầu chưa phải là trung
tâm của văn minh, cũng có những kẻ nịnh hót và nhũng người tìm sự ưu
đãi. Tuy nhiên, Canute không phải là người dại nên không muốn để các câu
chuyện bợ đỡ làm mờ tối lương tâm ông. Sau đó khi các miệng lưỡi ngọt
lịm đó đã đi quá sức của chúng đến độ bắt đầu ‘ca’ các quyền năng siêu
nhiên của Canute, tuyên bố rằng ông ‘thần thông’ đến độ gió và sóng biển
phải vâng lời ông, ông quyết định đây là lúc ông phải dạy nó một bài
học.
Ra lệnh cho ngai vàng ông được mang và đặt ra ngoài bờ
biển, ông chờ cho đến khi thủy triều lên rồi ngồi đó và ra lệnh sóng
biển không được đánh vào bờ nữa. Các kẻ tâng bốc ông đứng đó có vẻ thấy
không ổn, biết rằng họ sắp bị khiển trách. Sóng biển càng lúc càng đến
gần cho đến khi tràn lên chân ông, chẳng để ý gì tới lệnh của ông. Khi
vương bào bị ướt vì nước biển, ông mới nói với họ: ‘‘Các ngươi thấy các
lời khen rỗng tuếch và vô nghĩa của các ngươi chưa? Trong tương lai, cố
tự chế cái lưỡi, nếu không chính các ngươi sẽ bị làm cho dừng lại’’.
Trang 66. Nếu phải chi tôi
may mắn hơn khi còn trẻ được ai cắt nghĩa cho về những sự việc mà tôi
nói cho người khác biết như hiện nay; tôi có thể đã hiểu biết hơn và tự
giúp tôi tránh được nhiều rắc rối và đỡ mất nhiều thì giờ hơn.
Nhưng thôi, cũng không trể lắm nếu muốn tu sửa hay chuộc
lỗi những thứ mà tôi bây giờ hối tiếc và tôi cố gắng chuyển các lỗi lầm
và dại dột của tôi, biến chúng thành những gì tích cực hơn. Có thể ai đó
sẽ học được từ những kinh nghiệm của tôi và nếu họ làm được như vậy thì
các lỗi lầm của tôi sẽ không phải trở nên vô ích.
Theo Con Đường (Đạo) thường là cuộc tranh đấu vất vả, dĩ
nhiên, vì chúng ta phải đương đầu và chạm trán với những nhơ bẩn, ô uế
của tâm thức ta. Hầu hết mọi người cũng không muốn biết chuyện nầy và
thích sống một cách bất cần, phí đi cái phần quí giá tái tạo của con
người (Tạng ngữ), rất dễ đi vào con đường chậm tiến lạc hậu. Nhưng
mặc dầu thực sự có khó khăn nhưng cũng có phần cấu trúc tinh thần nó ở
bên cạnh ta và giúp chúng ta trong hành trình hướng thượng; chúng ta gọi
đó là Lương Tâm hay tiếng nói của nội tâm. Tuy đôi lúc nó làm cho ta cảm
thấy khó chịu nhưng đó là vì lợi ích cho ta, là ‘cổ phần’, là quyền lợi
của ta.
Đã khởi hành theo Con Đường (Đạo) không có nghĩa là
chúng ta sẽ không sai trái; chúng ta chỉ mới bắt đầu, vì thế dĩ nhiên ta
có thể hành động sai giống như bao nhiêu người khác không biết gì về
Đạo. Sự khác biệt giữa ta và họ là ta sẽ không bao giờ
quên nó. Việc làm sai trái của chúng ta khiến ta sẽ bị phiền não và sẽ
không để cho ta sống trong sự an bình. Ta hoặc sẽ hối hận hoặc sẽ cố
gắng tu sửa lỗi lầm của mình, hoặc sám hối hay ‘thú tội’ với một người
nào khác và với cách nầy ta sẽ để chúng lại đằng sau và xem đó là một
phần của tiến trình học tập. Nó có thể xem như là một chỉ dấu cho sự
tiến bộ trong việc học Phật Pháp: ta có thể làm sai nhưng đừng ‘vô tàm
vô quý’ mà cho là hay về việc dám ‘can đảm’ nói ra.
Trang 67. Tôi không cần phải
nói ra điều nầy và tôi cũng không khoe là đã dám nói ra. Tôi xin ‘sám
hối’ ở đây một chuyện mà tôi đã làm đã khiến cho tôi phiền não từ lâu.
Làm như vầy tôi mong sẽ giúp những người khác tránh được vết xe đi
trước.
Năm 1998 tại Kathmandu, tôi có đến một tiệm bán sách cũ.
Theo phong tục địa phương, tôi cũng trả giá như ai về giá của một quyển
sách, chỉ trả 300 rupees thay vì 400 theo như giá đề trên sách và với sự
tin tưởng là sẽ được lấy lại được phân nửa số tiền nếu tôi trả sách lại.
Vài ngày sau tôi trả sách lại nghĩ rằng sẽ lấy lại được 150 rupees.
Người bán sách hôm ấy không phải là người hôm trước. Thấy sách ghi giá
400 rupees, anh hỏi có phải đó là cái giá mà tôi đã trả hay không, tôi
tiếc là tôi đã trả lời chỉ một chữ ‘Đúng’. Vì vậy anh trả lại cho tôi
200 rupees, mà đúng ra là tôi chỉ được nhận lại 150 mà thôi. Tôi bước ra
và suy nghĩ, ‘‘Ừ, thì anh ta cũng đã lời 150 rupees rồi và không có lỗ
lã gì với mình’’.
Vâng, anh ta có lời. Tôi không gây đau khổ cho ai trừ
cho chính tôi! Tôi đã dại đột. Tôi đã làm mất tôi. Nghĩ rằng tôi đã được
lợi 50 rupees (tức 80 xu Mỹ) nhưng thực sự tôi mất nhiều hơn và tôi chỉ
mong được hành động trở lại và quên hết những chuyện mình đã làm; nó làm
tôi băn khoăn hoài và tôi quả thật là hổ thẹn về chuyện nầy.
Kể lại chuyện nầy, hầu hết mọi người đã hiểu và đồng ý
với tôi, nhưng có một phụ nữ ngạc nhiên lắm và nói: ‘‘Ông là một tu sĩ!
Tại sao mà ông lại làm được một chuyện như vậy!’’ Tôi trả lời: ‘‘Vâng,
tôi là một tu sĩ, nhưng làm tu sĩ không có nghĩa là tôi không sai trái.
Và tôi đã kể chuyện nầy để chứng minh cho bà biết, bên cạnh sự Giác Ngộ,
ta vẫn có thể làm sai. Hơn thế nữa, tôi muốn cái nhược điểm của tôi, xin
bỏ qua không nói đến cái ưu điểm của tôi, sẽ là cái nguồn sức mạnh cho
những người khác. Đây là món quà của tôi cho bà, và nếu bà không lắng
nghe hay để ý nó theo đường hướng đó thì bà sẽ không được lợi lạc gì
cả!’’ Bây giờ thì bà đã hiểu chứ, Khơi-dậy-từ-Đống-tro-tàn?
Trang 68. Tôi không có thói
quen làm những việc như thế; thực ra tôi đã viết loại chuyện nầy ở mục
khác nữa, (Mục ‘Không phải chỉ có trong tâm trí’) và tôi cố gắng tu tập
những gì mà tôi thuyết pháp. Tôi nói là ‘cố gắng’ có nghĩa là
không phải luôn luôn tôi thành công, đó là lý do tại sao tôi viết mục
‘Đừng Theo Tôi’. Tôi ý thức được nhược điểm của tôi và tôi không muốn
tha nhân dính đến chúng, đó là vì họ cũng có đủ ưu nhược riêng của họ để
tự tranh đấu lấy. Nhưng tôi cảm thấy rằng quả là điều ích lợi để biết
rằng tất cả chúng ta đều cùng thuyền cùng hội và không phải là ở vị trí
‘chĩa’ tay ra xỉa xói vào người khác và cảm thấy mình là kẻ cả. Có đôi
lúc ta cảm thấy nhu nhược nhưng chính từ sự nhu nhược mà cương cường mới
nẩy sinh ra. Tôi không muốn tự hào về các thành công của tôi nhưng tôi
có chút ít về chúng. Xin nói thực nếu tôi không có chúng mà chỉ có toàn
thất bại thì chắc tôi đã không hiện diện ở đây nói chuyện về nó. Tôi
đang thú nhận là có sai sót có lầm lẫn chứ không phải là hãnh diện về
các thành công của tôi.
Mặc dầu chúng ta có khả năng ‘phản quan tự kỷ’ và tự
kiểm nhưng nó nên được khách quan và công bằng mà không cần phải tự hạ
mình quá. Ta thường mong muốn ở tha nhân nhiều quá cũng như quá nhiều về
mình nên ta thường thất vọng. Tuy vậy điều nầy không có nghĩa là ta
không nên có lý tưởng theo đuổi mà ta nên chấp nhận sự có thể có thất
bại và không nên quá thất vọng khi thất bại xảy ra. Nó nên được xem là
một cơ hội để tiếp tục cố gắng tinh tấn hơn và sau cùng đạt đến thành
công thay vì lấy cớ để chịu thua rồi tự trách mình hoặc tuyệt vọng.
%
Có Có Không Không, Đúng Đúng
Sai Sai ...
Trang 69. Khi nói ‘Có’ hay
‘Không’ hoặc ‘Đúng’ hay ‘Sai’, ý chúng ta thế nào? Đây là câu hỏi đàng
hoàng, nghiêm túc chứ không phải chớt nhã không đúng mực như nhiều người
trong chúng ta thường xem nhẹ chuyện đưa ra lời ăn tiếng nói của mình.
Chúng ta tạo ra cái hẹn nhưng lại không cố gắng giữ đúng cái hẹn đó, nói
‘Đúng’, lúc ta không nghĩ nó là thật đúng và cả lúc ta nghĩ nó là ‘Sai’
nữa.
Hãy chịu khó nhìn kỹ một chút, bởi vì nhìn kỹ có thể
giúp chúng ta tránh những khó khăn không cần thiết và nếu được như vậy
thì chắc chắn sẽ ích lợi và tốt đẹp.
Tại sao chúng ta coi nhẹ chuyện ăn nói mà không chịu xét
xem những hậu quả của chữ nghĩa ta dùng? Tại sao ta phải đạo đức giả? Ta
có cần như vậy không? Ta có vui theo cách thức như vậy không? Bộ ta
không có cách nào khác? Hãy nhìn cách ngoắc đuôi của con chó: với cái
tâm của nó, một cách thành thật. Tại sao ta ít thành thật hơn thay vì
phải thành thật hơn loài chó?
Chắc chắn chúng ta được chọn lựa, không nhiều như ta
nghĩ nhưng chắc chắn là có. Chúng ta không phải là những nạn nhân không
có sự giúp đỡ hay không tự lo liệu được trừ phi là ta tự cho mình bị như
vậy và ta tin rằng mình phải làm sao cho phù hợp với chúng; cái đó được
gọi là ‘hoàn thành sự mong muốn’. Nó có là từ những tâm hồn yếu đuối và
vô minh.
Nếu có ai hẹn với bạn và bắt bạn chờ, bạn cảm thấy ra
sao? Chắc bạn không vui lòng lắm dù rằng có thể có nhiều lý do xảy ra
cho những người thực sự muốn giữ đúng hẹn. Nhưng ngày nay có rất ít
nguyên cớ vì ta vẫn có thể gọi cho hay trước là không đúng hẹn và xin
lỗi. Và nếu chúng ta hiểu được như vậy thì chúng ta cũng có thể hiểu họ
cảm thấy như thế nào nếu chúng ta không giữ đúng hẹn với họ; nó có hiệu
quả hai chiều và chúng ta có trách nhiệm phải thấy như vậy chứ không
phải là cái quyền được hưởng như vậy.
Chúng ta nên biết có loại người mà chữ Đúng hay Sai hoặc
Có hay Không không phải là chỉ dấu cho những gì họ nói ra. Hoặc là họ
yếu đuối và không dám nói những gì họ muốn nói (có thể họ muốn lịch sự
do sợ hay không muốn làm phiền lòng người), hoặc họ không có nguyên tắc
và không có khả năng đưa ra một câu trả lời rõ ràng hoặc họ có các động
lực kín đáo không nói rõ ra. Chúng ta có thể không thích Maggie Thatcher
chẳng hạn nhưng chắc chắn bà đã ‘phất ngọn cờ’ dùm ta cho mọi người thấy
và không để cho người nào nghi ngờ khi bà nói ‘Không’ là không. Ít nhất
bà cũng đáng đặt niềm tin. Anh chàng Billy dại khờ thua xa trình độ bà
rồi!
Trang 70. Tận trong tâm khảm,
mỗi người chúng ta đều có những ý kiến thế nào là đúng thế nào là sai;
phê bình người nào làm sai chứng tỏ rằng chúng ta đã biết. Tuy nhiên,
khi thực hành chúng ta thường có tính cách thiên kiến thiên vị và hay
‘đổ thừa’ kẻ khác những việc mà chính mình thường có tội. Đó là lý do
tại sao tôi cho là đạo đức giả. Chúng ta có phải cần như vậy không, đến
độ ghét ngay cả chính mình nữa? Chúng ta hy sinh sự chính trực nhất
thống của mình và sẵn sàng nói và làm những việc mà sau đó chúng ta hối
tiếc, chỉ vì phải giữ thể diện và sợ không muốn làm mất lòng người khác;
đời sống của chúng ta là sự ‘trình diễn’, là trò chơi ngớ ngẫn, là dối
trá. Không ngạc nhiên khi chúng ta không hạnh phúc, không gần gũi và
không toàn vẹn vì lúc nào ta cũng sống để gây ấn tượng cho người khác.
Cũng đã nhiều năm tôi được biết giữa anh và người vợ anh
ít có tình yêu, khi anh đến và bảo với tôi rằng vợ anh đã bỏ anh đi lấy
người khác thì chính là anh đã tiết lộ mặt kia của anh. Anh nhờ tôi cho
lời khuyên làm thế nào để xử trí với một hoàn cảnh như vậy nhưng rõ ràng
là anh chỉ muốn gây ấn tượng với tôi về nhân sinh quan của anh chứ thực
tình anh không tìm lời khuyên. Anh ta cho rằng anh chàng kia có trách
nhiệm ‘làm đổ vỡ gia đình tôi’. Tuy nhiên, tôi không có ý kiến vì mặc
dầu tôi chưa được gặp vợ anh nhưng tôi biết chị ấy cũng có câu chuyện
riêng của chị. Tôi nói với anh như vậy, và hỏi anh có nghĩ rằng sở dĩ
chị rời anh để tới với người kia là vì chị không còn sự chọn lựa nào
khác. Nếu anh cảm thấy anh kia đã ‘bắt cóc’ vợ anh ngược lại với ý muốn
của chị, anh nên nhờ luật pháp và đem anh ta ra tòa. Nhưng vì chị đi ra
theo ý riêng của chị, điều nầy là điều phải để ý đến và anh nên tự hỏi
với mình là chị có lý của chị khi rời anh không? Những gì chị sẽ được
khi chị không ở với anh?
Trang 71. Anh kiên quyết
tuyên bố là mình đã bị vu khống và muốn trả thù nên càng hỏi tôi cái
cách phải làm như thế nào. Lúc đó thì tôi mới hỏi là anh có chuyện tình
ái riêng tư của anh không (xin đừng quên cũng trong một bài của quyển
sách nầy tôi đã đóng vai trò ‘Người biện hộ cho quỷ dữ). Anh thú nhận là
có nhưng hỏi lại ‘‘Vậy thì sao? Điều nầy không liên hệ gì tới nó cả’’.
Tôi nói: ‘‘Nó có liên hệ nhiều chứ. Tại sao anh làm chuyện ngoại tình
được mà vợ anh không làm được? Cũng một chuyện mà anh thì đúng mà chị
lại sai. Anh liệu nói được như vậy ở toà án hay không? ’’
Đây là, như các bạn đã thấy biết rõ ràng, thế giới của
nam nhân, trong đó nữ giới luôn luôn bị phân công sẵn vào vị trí thứ hai
và hầu như nữ giới phần lớn phải chấp nhận phục tùng nam giới. Như vậy
nó có lý do đúng đắn và hợp lý hay không? Martin Luther, vị sáng lập
nhánh Cơ đốc Thệ phản đã viết năm 1533: ‘‘Con gái bắt đầu nói được và
đứng lên được sớm hơn con trai bởi vì cỏ dại luôn mọc lên sớm hơn là mùa
màng.’’ (Trích từ bài sưu tập của Tama Starr ‘Sự Rụt rè Nhút nhát Tự
nhiên của Phụ nữ’, Nữu Ước, Nhà Xuất bản Poseidon, 1991). Có phải đây là
thành kiến thuần túy hay không?!
Ở Trung hoa và Ấn độ, nam giới thường được xem trọng hơn
nữ giới và việc giết con gái từ khi còn sơ sinh là chuyện phổ biến; do
vậy tỷ lệ nam nữ hiện nay là một vấn đề.
Ở Ấn độ, hầu như mỗi ngày đều có báo cáo về cái gọi là
‘Chết vì của hồi môn’. Vì do lòng tham quá đáng, những người vợ trẻ bị
chồng hoặc mẹ chồng tưới xăng rồi đốt sống lấy lý do là bếp bị nổ trong
khi nàng đang nấu nướng và áo quần bị bắt cháy. Các cơ quan công quyền
lại thường chấp nhận lý do nầy! Một vài chuyện sát nhân nầy cũng có khi
bị tố cáo và được đem ra tòa án, người chồng được tự do rồi tái giá và
lại được của hồi môn.
Chuyện buồn nhất về tội ác ghê gớm nầy cũng như là khó
hiểu nhất là mẹ chồng, người được xem là thủ phạm chánh đã xúi con mình
làm chuyện gớm ghê nầy, cũng đã từng làm dâu, vì vậy bà hẳn phải đau khổ
như thế nào mà bà lại nhẫn tâm không thương cảm dâu của mình! Thường
chính phụ nữ là những người chống đối và làm chậm trể luật pháp cải cách
quyền lợi của phụ nữ trong khi đáng lẽ họ phải là người đi đầu! Họ đã
phản bội giới tính của họ.
Trang 72. Điều nầy lại làm
sôi sục lên vấn đề vô mình và dị đoan. Nam giới tốt đẹp hơn nữ giới ở
điểm nào? Có những sự việc đàn ông làm được mà giới kia không làm được
nhưng các trường hợp ngược lại cũng vẫn xảy ra. Hầu hết đàn ông cho rằng
họ yêu thương một người nữ, hay vài người nữ và đặc biệt là vợ họ (xin
lỗi cho sự hay hoài nghi của tôi), nhưng cách xử trí của họ đối với đàn
bà (thay vì họ tự bảo vệ) là sự mâu thuẫn, trái ngược với những gì họ
nói. Đàn ông đối xử tệ bạc với người đàn bà như thế nào? Có phải vì họ
sợ khả năng đặc biệt của nữ giới về việc sản sinh ra sự sống hay không ?
Hay vì không muốn thấy ‘thua’ khi nhận ra rằng anh ta phải tùy thuộc vào
người đàn bà? Nếu vậy thì thực sự không cần phải làm như vậy bời vì anh
ta không thể thay đổi được trừ phi anh chịu làm nhân giống vô tính hay
giải phẩu để anh có khả năng sinh sản và vui thú.
Ai chịu sống trong một thế giới chỉ có nữ giới hoặc chỉ
có nam giới? Vâng, dĩ nhiên sẽ có người chịu, nhưng hầu hết thì không
muốn. Vì thế chúng ta nên cố gắng nhìn sự việc với một triển vọng rõ
ràng hơn và thừa nhận rằng chúng ta không tự cung cấp cho mình đầy đủ
được và rằng chúng ta không thể làm mà không có người khác. Nói một cách
thành thật và cởi mở là ‘‘Tôi cần bạn’’ không có nghĩa là mình yếu đuối
và không làm nhẹ thể mình mà đó chỉ là nói lên một hành động hiển nhiên.
Thực vậy, dám nhận sự thật mới chứng tỏ sự mạnh mẽ và can đảm. Ai có thể
làm được?
%
Phòng chống tốt hơn gây chiến
Trang 73. Dân số thế giới
hiện nay khoảng 6 tỷ và vẫn đang tăng dần. Trong những nước nghèo điển
hình như Ethiopia và Somalia, nạn đói và thiếu ăn đã gây ra cho cả triệu
người và rất dễ thấy rằng nó sẽ lan rộng khắp nơi. Tuy vậy, dù thấy thực
trạng nầy, con người vẫn tiếp tục sản sinh không kiểm soát, không ngăn
chận sự thôi thúc mù quáng nầy để đảm bảo cho sự sống còn của loài
người.
Bất cứ giải pháp nào về vấn đề môi trường toàn cầu phải
được thi hành trùng hợp với sự kiểm soát và giảm bớt dân số. Theo nhà
môi trường học David Suzuki, một bé sơ sinh được sinh trong một quốc gia
tân tiến gây tai hại hơn là sinh 50 em trong một nước chưa phát triển
như Bangladesh chẳng hạn. Chính dân chúng trong các quốc gia tân tiến
sản ra một khối lượng lớn chất thải độc khí gây ra nạn Hiệu ứng Nhà
kiếng và làm giảm tầng ozone.
Nạn tăng dân số gây sự khốn đốn dưới nhiều hình thức:
đói kém, ô nhiễm, phá rừng, thiếu nước, đất đai cằn cỗi và chiến tranh.
Người nào chống đối việc kiểm soát dân số tức có ý ủng hộ chiến tranh,
vì chiến tranh là một trong những kết quả của dân số đông đúc. Chúng ta
chỉ cần nhìn lại lịch sử để xem những gì đã xảy ra khi dân số của một
nước trở nên quá mức chịu đựng: dân chúng sẽ không chịu nằm dài trên
đường phố và chịu chết vì đói nếu họ biết và thấy được đất nước bên cạnh
họ đầy đủ thức ăn. Chúng ta có thể thấy được chuyện đó trong thế giới
loài vật như thỏ, chuột và châu chấu chẳng hạn. Chúng chẳng biết ngừa
thai và nhìn xem chúng những gì xảy ra với chúng!
Giáo Hoàng John-Paul II gây tai tiếng vì chống đối ngừa
thai và tuyên bố điều nầy. Lập trường của ngài là một dẫn chứng cổ xưa
của người Cơ đốc, đặc biệt là đã chống chẳng những Khoa học mà chống cả
Lương tri trải qua nhiều thời đại. Tại sao ông lại hành xử với một cung
cách không có trách nhiệm và đáng gây phẫn nộ như vậy? Chúng ta không
nói về vấn đề Phá thai ở đây, điều mà Phật giáo, Ấn giáo và Kỳ na giáo
cũng chống đối vì Phá thai là sát nhân; đời sống bắt đầu ngay lúc tạo
thai khi ba yếu tố tinh cha huyết mẹ thần thức con
hợp lại với nhau. Về vấn đề ngừa thai là sự ngăn ngừa không cho sự thụ
thai xảy ra: nó không phải liên quan đến sát nhân. Và ngày hôm nay, với
vô số hình thức ngừa thai sẵn có, các chánh phủ có thể và phải có đủ
quyền trong việc kiểm soát chương trình ngừa thai; tốn phí cho nó ít hơn
so với tốn phí dân số gia tăng.
Trang 74. Được biết Giáo
Hoàng đã nói rằng ngừa thai là không đúng với tự nhiên. Vâng, đúng là
trái với tự nhiên; không ai chối cải điều đó. Nhưng tại sao lại chỉ đơn
cử chuyện ngừa thai để kết tội khi các chuyện khác cũng trái với tự
nhiên thì sao? Nếu ngài dùng chuyện nầy là lý lẽ cho việc kết tội nó thì
ngài không nên thay đổi và không nên sống trong dinh thự nào, cũng không
nên dùng hình thức chuyển vận nào, cũng không nên ăn đồ ăn nấu sẵn và
không mặc quần áo. Ngài cũng không nên dùng nhà vệ sinh mà chỉ nên làm
công việc bài tiết của cơ thể khi bất cứ chỗ nào và lúc nào cơ thể ngài
muốn làm chuyện đó, giống như các loài vật vậy. Có thể ngài trở lại với
thời của Thánh kinh khi Chúa bảo ‘Adam và Eve’ (Genesis 1:28): ‘‘Gây quả
và nhân nó lên’’. Vâng trong những ngày tiền sử đó, sự sản sinh là điều
cần thiết vì mức tử suất rất cao và đời người thì rất ngắn; nhưng ngày
nay thì lại không phải như vậy nếu không muốn nói là phải nói ngược lại:
không tăng mà phải giảm! Các sự cổ vũ hay khuyến khích như vậy; phải
được hiểu theo thời đại khác nhau và không áp dụng cho sự vĩnh cửu.
Nhưng nếu vì phải theo Thánh kinh mà ngài Giáo hoàng phải chống việc
ngừa thai thì tại sao ngài lại độc thân? Cách thức Giáo hội Thiên chúa
La mã tu tập cho tu sĩ độc thân là lấy từ đâu? Do thái giáo không bao
giờ làm như vậy. Tôi không nghĩ được ở bất cứ đoạn nào trong Tân Thánh
kinh ngài Giê su lại có nói thẳng về sự độc thân hay khuyến khích chưa
nói chi tạo thành một điều luật cho các tín đồ của ngài {trừ một đoạn
nói về hoạn quan, (Matt. 19:12)}. Có thể đây là một trong nhiều ảnh
hưởng của tư tưởng Ấn độ đối với Cơ đốc giáo trong thời kỳ đầu tiên.
Cũng có một số Giáo hoàng ngày đó không độc thân mà công khai có nhiều
vợ và nhiều con. (Lịch sử về chức vị Giáo hoàng giống như lịch sử Cơ đốc
giáo là một chuỗi rrấấtt đđáánngg đọc!)
Trang 75. May thay các Giáo
hoàng trong thời đại chúng ta không đủ quyền hành đối với đời sống của
dân chúng so với các Giáo hoàng thời trước đã có. Nhiều người Ki tô hiện
nay không còn để ý gì đến các ý kiến của Giáo hội về vấn đề kiểm soát
sanh đẻ, và người ta hy vọng rằng họ sẽ lắng nghe hơn Tiếng nói của Lẽ
phải thay vì Tiếng nói của Giáo điều La mã. Hiện nay có một điều chắc
chắn là phải đối diện với nó nếu chủng tộc loài người muốn tránh sự tự
diệt hoặc chuyển thành một tình trạng thoái hóa, thấp kém hơn. Chúng ta
không còn bị tự cách ly bởi vô minh và dị đoan trái lại chúng ta phải
thấy cái cách từng người một trong chúng ta đóng góp và đương đầu với
các vấn nạn của Toàn thể Nhân loại. Cái Toàn thể có được là do từng phần
nhỏ, và từng phần nhỏ đó là con người, giống như bạn và tôi. Chúng ta
phải nhận trách nhiệm, trước khi muốn làm thì đã quá trể. Ta không sống
một mình trên thế giới nầy; thế giới không phải là của riêng của ai mà
thuộc về tất cả chúng ta, ít nhất trong một đoạn thời gian; ta chia xẻ
nó với tha nhân như hiện nay và sẽ truyền thừa lại cho những người đến
sau chúng ta. Vậy thì đây không phải là quyền lợi để chúng ta nghĩ đến
và chăm sóc chúng hay sao?
Các giải pháp cho những vấn đề mà ta phải đối diện không
chỉ nằm trong khoa học mà nó cũng có với tôn giáo, một ảnh hưởng rất
mạnh vào đời sống con người. Albert Einstein viết: ‘‘Tôn giáo tương lai
sẽ là Tôn giáo vũ trụ. Nó sẽ vượt lên trên cái gọi là Chúa cá thể và
tránh giáo điều và thần học. Bao gồm cả phần
Vũ-trụ-với-tất-cả-hiện-tượng-của-nó và phần Tâm linh, nó phải nên được
đặt trên một ý nghĩa tôn giáo của tất cả mọi sự vật, tức 2 phần kể trên
như là một Toàn thể có Ý nghĩa’’ (Albert Einstein: Out of My Later
Years). Ông cũng viết như sau:
Trang 76. ‘‘Mặc dầu tôi đã
xác nhận rằng, sự mâu thuẫn chính đáng giữa khoa học và tôn giáo thực sự
không thể nào hiện hữu được nhưng tôi cũng phải hạn chế sự xác nhận đó
một lần nữa vào một điểm rất chính yếu, đó là điểm lịch sử của các tôn
giáo. Sự việc nầy có liên hệ đến ý niệm về Thượng đế. Nói về sự tiến hóa
tinh thần của loài người trong thời kỳ đầu tiên, chính trí tưởng tượng
của họ đã tạo ra các thượng đế theo hình tượng riêng của họ, và ý chí
hoạt động tính toán mổ xẻ của họ cộng với bất cứ ảnh hưởng nào đó để họ
quyết định thế giới hiện tượng bên ngoài. Con người cũng tìm cách thay
đổi quyền-lực-sắp-xếp-mọi-việc của các thượng đế nầy theo ý muốn riêng
của con người bằng các phương tiện như phép lạ và cầu nguyện. Ý niệm về
thượng đế hiện nay được dạy trong các tôn giáo đã được lý tưởng hóa từ
quan niệm các thượng đế xưa cũ. Chẳng hạn Thuyết Hình Tượng cho rằng Con
Người có thể tiếp cận với Thánh Thần bằng cách kêu gọi Đấng Thiêng Liêng
trong các lời cầu nguyện và xin được toại nguyện trong các lời mong cầu
của họ’’.
Einstein thêm: ‘‘Lý do chánh cho việc mâu thuẫn trong
các lĩnh vực hiện nay giữa tôn giáo và khoa học nằm ở chỗ ý niệm về một
Thượng đế. Khoa học nhằm thiết lập các luật chung quyết để nối kết các
liên hệ hỗ tương giữa các sự vật và các biến cố trong thời gian và không
gian. Những luật nầy đòi hỏi phải có hiệu lực tuyệt đối mà không cần
chứng minh. Nó phải lập chương trình và trên nguyên tắc chỉ nên tin là
có thể thành công một phần mà thôi. Nhưng khó tìm ra ai từ chối những
thành công một phần nầy mà họ cho là do sự tự lừa dối của con người.
Trên căn bản của những luật nầy, việc mà ta có thể đoán trước được sự
vận hành tạm thời các hiện tượng trong một số lĩnh vực nào đó với sự cực
kỳ chính xác và chắc chắn, thực sự dính chặt vào trong tâm thức của con
người thời nay, dù rằng anh ta nắm bắt rất ít nội dung những luật nầy.
Anh ta chỉ cần xem xét rằng con đường đi của các hành tinh trong hệ
thống thái dương hệ có thể được tính toán trước với sự thật chính xác
đặt trên căn bản của một số nhỏ của các luật giản dị nầy. Cũng vậy, mặc
dầu không cần chính xác, ta cũng có thể tính trước sự vận hành của một
động cơ điện tử, một hệ thống truyền tin hay một bộ máy không dây, ngay
cả việc sắp xếp thành một quyển tiểu thuyết.
Trang 77. Để cho chắc chắn,
khi tất cả các yếu tố thành hình trong một mớ hiện tượng phức tạp trở
nên quá lớn, thì trong nhiều trường hợp, phương pháp khoa học không giúp
ta được gì. Chỉ cần nghĩ đến thời tiết, việc tiên đoán một vài ngày
trước thôi cũng không thể được. Tuy nhiên không ai nghi ngờ rằng chúng
ta phải đương đầu với mối quan hệ nhân quả trong đó nhìn chung thì chúng
ta đều biết các thành phần của chúng. Các sự việc xảy ra trong lãnh vực
nầy vượt lên trên sự tiên đoán chính xác vì sự vận hành của các yếu tố
khác nhau chứ không phải vì thiên nhiên thiếu trật tự.
Einstein nói thêm: ‘‘Người càng đắm chìm với sự cân đối
có thứ tự của tất cả sự kiện thì người ấy sẽ càng tin có cái kiến chấp
là không còn chỗ nào thêm vào được nữa. Đối với anh ta luật của con
người hay luật của thánh thần sẽ không thể hiện hữu thành một nguyên
nhân độc lập của các biến cố tự nhiên. Vì vậy chắc chắn là thuyết về một
Thượng đế ‘riêng biệt’ cho một tôn giáo thường làm cản trở các sự kiện
tự nhiên sẽ không bao giờ bị bác bỏ được bởi khoa học bởi vì thuyết nầy
luôn luôn ở trong các lĩnh vực đó mà tri thức khoa học vẫn chưa có thể
đặt chân vào.
‘‘Nhưng tôi tin rằng chuyện làm ấy nói riêng về tánh
chất đại diện cho tôn giáo sẽ chẳng những không đáng mà còn hại nữa. Đối
với một giáo thuyết có thể tự duy trì không làm cho sáng sủa mà chỉ làm
cho tối tăm sẽ làm mất đi sự ích lợi cho loài người và làm hại vô kể cho
sự tiến bộ của nhân loại. Trong việc tranh đấu cho cái Chơn, các vị đạo
sư phải dám từ bỏ cái Thượng đế riêng biệt đó có nghĩa là từ bỏ cái
nguồn sợ hãi và hy vọng mà trong quá khứ nó đã cho quyền hạn bao la
trong bàn tay của các giáo sĩ. Họ phải cố công tự tạo cái khả năng vun
trồng cái Chơn Thiện Mỹ cho nhân loại. Chắc chắn đây là một nhiệm vụ khó
khăn nhưng nó rất xứng đáng không thể nào so sánh được. Sau khi các đạo
sư hoàn thành tiến trình được như vậy tức họ sẽ hoan hỷ xem nó là một
chơn tôn giáo đã được thần thánh hóa và sẽ làm cho tri thức khoa học sâu
sắc hơn.
Trang 78. Ông nói tiếp: ‘‘Đây là một trong những mục
tiêu của tôn giáo để giải thoát con người xa lánh trói buộc của tham
dục, sợ hãi càng tốt; đó là lúc luận lý của khoa học giúp cho tôn giáo
thêm một ý nghĩa mới nữa. Mặc dầu mục tiêu của khoa học là khám phá ra
các qui luật giúp cho sự liên kết của các sự kiện cũng như đoán trước
được chúng. Đó là sự thật nhưng không phải là mục đích chính. Nó còn tìm
ra sự giảm thiểu các sự nối kết và phân tách ra từng thành phần nhỏ nhất
nhưng độc lập nhau nếu có thể. Chính trong nỗ lực hợp lại làm một từ cái
đại thể mà nó đã thành công lớn lao dù rằng chắc chắn cố gắng nầy sẽ gây
ra nguy hiểm cũng lớn lao, đó là nó có thể trở thành cái mồi của ảo
tưởng. Nhưng bất cứ ai đã được cái kinh nghiệm thành công lớn lao trong
lĩnh vực nầy đều được tôn kính. Bằng sự hiểu biết, người ấy đã hoàn
thành sự giải phóng có tầm mức cao từ cái gông cùm của hy vọng và lòng
dục cá nhân và do thế đã đắc được một thái độ tinh thần khiêm tốn đối
với sự hiện thức vĩ đại của lý trí trong một chiều sâu sâu xa nhất mà
con người khó đạt tới. Tuy nhiên đối với tôi thái độ nầy làm cho khoa
học không chỉ làm thuần khiết cái xung động bề ngoài thần thánh rẻ tiền
của tôn giáo mà nó còn đóng góp cho tính tâm linh hoá của tôn giáo có sự
hiểu biết cuộc đời hơn.
‘‘Tiến trình tâm linh của con người càng vượt bực thì
tôi nghĩ chắc chắn là con đường của một tôn giáo thực chất không nhắm
vào sự sợ hãi đời sống, sợ hãi cái chết hay tin tưởng mù quáng mà là cố
gắng theo đuổi cái tri thức hợp lý. Trong chiều hướng nầy tôi tin rằng
các giáo sĩ phải trở thành thầy dạy nếu họ muốn thực hiện công lý trong
nhiệm vụ giáo dục cao cả của họ’’.
[Tôi trích dẫn lời của Einstein khá dài là để chia xẻ
chút nào tư tưởng của ông với nhiều người, chỉ sợ rằng họ không được
biết đến.]
Con người thời nay càng lúc càng biết rằng quả Địa cầu
của chúng ta vận hành không riêng rẽ và chịu ảnh hưởng bởi tất cả các
sinh vật, đặc biệt là loài người, một loài có tiềm năng phá hủy cao.
Trong quá khứ, không có nhiều người lo lắng về nạn ô
nhiễm, phá rừng hay giết hại các loài thú đến độ tận diệt chúng trong
nhiều trường hợp. Ngày nay thì vì thấy được thực tế là tất cả chúng ta
đều trực tiếp liên hệ với những gì đang xảy ra nên con người bắt đầu ý
thức hơn về sự thiếu tỉnh thức và ơ hờ của mình. Họ nhận ra rằng nếu tàu
chìm thì tất cả đều chìm theo. Tuy nhiên sẽ phải mất thêm nhiều nữa để
giữ được sự tỉnh thức ấy đồng thời gây sự hứng khởi để họ tham gia tích
cực hầu đương đầu với các hậu quả của việc lạm dụng và xao lãng hằng mấy
thế kỷ nay. Bây giờ chúng ta phải thấy lên trên cái hàng rào mà ta đã
dựng, phải hiểu cái (tổ) ấm loài người (human-ness=human nest) mà chúng
ta có chung với nhau, phải hướng đến một Tôn giáo Vũ trụ mà Einstein đã
phác họa; cần khẩn cấp để làm chuyện nầy!
$
‘‘Nếu bạn tạo được nội lực, nội lực sẽ giúp bạn;
Nếu bạn không tạo được nội lực, nó sẽ hủy hoại bạn.’’
(Từ sách Phúc âm của Giáo phái theo thuyết Trực quan,
theo Thomas)
$
Không
phải ‘AI’ mà là cái ‘GÌ’
Trang 80. Bất cứ chỗ nào có
con người là có chuyện. Đủ thứ chuyện. Chuyện kế hoạch sản xuất đồ ăn và
các món cần thiết khác cho sự sống. Những chuyện mà dù sắp xếp giản dị
hoá đến đâu cũng không thể hoàn hảo được. Nhưng tôi không muốn đề cập
các chuyện đó ở đây. Những chuyện tôi nói là có thể tránh được. Chỉ cần
dùng một chút trí tuệ của mình mà tự suy nghĩ thôi.
Bạn thích khổ không? Dĩ nhiên chắc bạn nói ‘Không!’.
Nhưng chắc có một chút tính ác nào đó trong mỗi chúng ta, nếu không thì
taị sao ta chịu trả tiền xem các phim ghê rợn gây sợ hãi để tự gây nhiều
đêm ác mộng chập chờn? Hoặc các tay quyền Anh được trả cả triệu cho vài
hiệp đánh nhau mặt mày bầm dập máu me chỉ để giải trí và thỏa mãn cho
một số người dự khán và vỗ tay khen tính bạo động đó? Có cái gì bên
trong chúng ta có thích khổ. Nếu không phải là bạn thì là người
khác. Lạ, phải không bạn?
Mỗi người nhìn thế giới theo thị kiến riêng của mình.
Điều nầy chẳng phải là sự bất thường. Nhưng có rắc rối là vì ta nghĩ
rằng xã hội phải giống hệt như ta nhận thức nó mà không nghĩ rằng tha
nhân có thể thấy nó khác tùy theo quan điểm riêng của họ. Bám chặt vào
cái thấy riêng của mình, không nhìn sự vật từ cái thấy của người khác
dẫn đến sự không khoan nhượng, tin mù, cuồng tín và đem đến sự căng
thẳng, xung đột, rắc rối từ nhỏ đến lớn.
Thế giới chúng ta là thế giới mà các văn hóa và các tôn
giáo đan kết với nhau, không giống như trong các thế kỷ trước, khi các
quốc gia có rất ít sự tiếp xúc hay buôn bán với nhau. Lại rất ít hiểu
(nếu hiểu thì phần nhiều là hiểu lầm) các văn hóa vá tôn giáo khác. Bây
giờ nhìn lại, chúng ta đã trực tiếp gây ra rắc rối và đau khổ là bởi ý
niệm ‘người được Chọn và kẻ Tôi đòi’ trong suốt dòng lịch sử. Đến lúc
nào ta phải xem lại cung cách của mình để nhìn lại các sự vật? Xin nhắc
chúng ta đang bước vào thế kỷ thứ 21 (dùng niên đại Ki tô giáo mà toàn
thể thế giới bị ‘kẹt’ phải dùng)
Trang 81. Có điều buồn là
trong khi trí tuệ của thế giới ngày nay với các phương tiện được dành
sẵn cho mọi người biết đọc và biết viết trong các hiệu sách hoặc thư
viện (báo chí, tạp chí...) thì lại có nhiều người sung sướng trong sự vô
minh của họ giống như loài heo vui sướng với bùn lầy của chúng hoặc bằng
lòng sống như ‘ếch ngồi đáy giếng’, nghĩ và nhìn toàn bộ sự vật theo lối
riêng của họ là toàn bộ của cuộc sống. Thật ra để cho họ như vậy thì
cũng được thôi nếu họ chịu để cho người khác dám không giống với họ;
đằng nầy họ lại muốn kéo người khác xuống vũng lầy tối tăm với họ. Điều
nầy không thể và không nên không chống lại. Xã hội cần nhiều ánh sáng
thay vì bóng tối.
Chúng ta có thể–đúng vậy, rất có thể–nhìn sự vật từ các
quan điểm của người khác mà không cần thiết phải đồng ý hay thích chúng
và nếu làm được như vậy, chúng ta sẽ tự làm giàu cho mình. Càng nhìn một
sự vật từ nhiều mặt, ta càng thấy hình ảnh rõ nét hơn. Cố thử ngay bây
giờ đi rồi sẽ thấy. Không đưa cái đầu đi đâu trong khi đọc câu nầy, nhìn
bất cứ vật gì gần bạn: cái truyền hình, cái tủ lạnh, cái xe hơi hay ngay
cả một con người. Cái thấy của bạn về nó, cái ý tưởng của bạn về nó chỉ
là một vật hai chiều, giống như bạn xem truyền hình. Bạn có thể lái xe
hai chiều, ngồi trên ghế hai chiều, ăn một bữa ăn hai chiều, hay ôm một
người hai chiều? Nếu đi mua xe, bạn sẽ không xem nó một lần, nhìn nó một
lần rồi mua liền, phải không? Bạn sẽ phải đi vòng chiếc xe, nhìn bên
dưới nó, ngồi vào trong, xem xét các thứ và lái thử nó.
Cũng như vậy, sẽ là điều ích lợi cho chúng ta và cho cả
cộng đồng thế giới nếu chúng ta xét các quan điểm của tha nhân một cách
khách quan. Ta không cần thích họ hay dồng ý với họ mà ta có thể đồng ý
về sự khác biệt và không cần tiêu diệt nhau. Không sẵn sàng làm được
chuyện nầy chứng tỏ có sự bất ổn sâu xa đối với quan điểm riêng của một
người. Nó cũng thường hạ thấp ta thành người có lòng tin mù quáng hoặc
cuồng tín hay la hoãng lên rằng: ‘‘Tôi đúng, anh sai’’,
hoặc trên mức độ cá nhân hay ở mức độ cao hơn như ‘gia đình tôi’, ‘bộ
lạc tôi’, ‘nước tôi’, ‘chủng tộc tôi’, ‘tôn giáo tôi’, v.v..Có phải
chúng ta thường chỉ nghĩ đến ‘con người’ đối với mọi thứ; biến các sự
vật như ‘tốt’ ‘xấu’, ‘đúng’ ‘sai’...cũng thành con người. Lần sau xin
hãy coi chừng khi tranh cãi với ai ta có bao giờ đế ý đến ‘Anh
đúng và tôi sai’ không? Nếu ta nghĩ được như vậy, sẽ chẳng còn
cái gì để tranh luận, phải không các bạn? Luận bàn thường xảy ra và tiếp
tục kéo dài chỉ vì mỗi người tự cho mình là đúng và kẻ khác sai. Ta có
thể làm được chuyện gì về vấn đề nầy không? Chắc chắn là được. Cố gắng
xem xét điều nầy:
Cái quan trọng là
cái gì đúng chứ không phải
ai đúng.
%
Trong nhiều thế kỷ, các hiệp sĩ châu Âu mở ra nhiều cuộc
thập tự nhân danh Thượng đế chống lại ‘kẻ ngoại đạo’ Thổ Nhĩ Kỳ đang
chiếm Thánh Địa. Nhưng các đoàn truyền giáo nầy đi giết người chứ không
phải là để giúp cải đạo. Hành trình khát máu nhất được lãnh tụ Godfrey
thuộc dòng Bouillon đáp ứng lại theo lời khẩn cầu của Giáo hoàng Urban
đệ nhị. Ông nầy tố cáo người Thổ Nhĩ Kỳ đã khủng bố Thiên chúa giáo ở
Trung đông. Năm 1097, lực lượng Godfrey bao vây thành phố Antioch nước
Syria trong 7 tháng. Cư dân Thổ ở đó chịu đầu hàng nhưng họ đều bị tàn
sát. Rồi quân đội giáo phái Phúc âm nầy tiến đến Jerusalem. Các tháp cao
lớn bao vây chung quanh đã giúp họ tràn ngập những lỗ châu mai và bắt
đầu thêm một đợt giết người không kiềm chế. Dân Do thái nào muốn tìm chỗ
tôn nghiêm trong các giáo đường của họ đều bị thiêu sống. Sử gia Salomon
Reinach viết: ‘Người ta nói rằng 70,000 người đã chết không đầy một tuần
để chứng thực cho cái đạo đức ưu việt của lòng tín ngưỡng Ki tô’!
%
Thầy Sa môn và cây Bồ đề
Trang 83. Ngày xưa có một vị
Sa môn tên là Sakyamuni đã đắc quả Giác ngộ dưới một cội cây mà các Phật
tử hay gọi là cây Bồ đề hay cây Tĩnh Giác. Không khó tìm cây ficus
regiosa (tên La tinh) tức cây Bồ đề ở châu Á. Hạt giống cây bồ đề
thường ở các chỗ nứt hay đường nứt, mọc rất dễ và rất mau, có khi làm vỡ
những tảng đá lớn.
Có sa môn nọ chọn tàn cây vừa vặn, mát mẽ và ngồi xuống.
Thời gian trôi qua, chẳng có gì xảy ra. Ông bắt đầu thắc mắc có gì sai
trái đây? Sao mình lại chưa thấy được gì?
Ông quay nhìn cây bồ đề không hiểu cái Giác ngộ ở đâu,
không có ở thân cây, không thấy ở các nhánh cây cũng không hiện ở các lá
cây. ‘Cái giác ngộ ở đâu?’ ông tự hỏi. ‘A...có thể...ờ...có thể ở phía
trong’. Vị sư đứng dậy, kiếm cây búa và bắt đầu chặt cái cây, hy vọng
tìm thấy giác ngộ ở phía trong. Nhưng với nhát búa cuối cùng khi cây
ngã, một con quỉ dữ nhảy xổ ra và xé tan tứ chi ông!
Đức Phật không phải đạt quả vị Giác ngộ nhờ ngồi dưới
cây nào đó nhưng nhờ cái quả của Trí Tuệ mà Ngài đã khai thị hoàn mãn.
Sau khi Phật giác ngộ rồi, cái cây mới trở thành ‘cây Bồ đề’ như chúng
ta biết đó là nơi mà Ngài đã đắc quả. Ta tôn quí nó vì lý do nầy chứ
không phải vì nó tốt đẹp hơn các loại cây khác. Cũng có thể là Ngài ngồi
dưới các cây khác như cây xoài, cây thông hay cây sồi. Ngài chỉ ngồi một
lần một cây giống như bạn và tôi ngồi vậy!
Thức giác không tùy thuộc vào loại cây nào, đẹp hay tốt
như thế nào. Giống như ngày nào cũng giống nhau, đêm trăng tròn hay
không. Trăng tròn không liên hệ gì đến sự Giác ngộ của đức Phật. Nó có
thể xảy ra vào bất cứ đêm nào không cứ gì phải là đêm trăng tròn. Chúng
ta hay mắc kẹt một cách vô lý vào các vật tầm thường mà cứ tưởng là nó
trọng đại.
Trang 84. Có khoảng 300.000
tu sĩ Phật giáo ở Thái lan hầu hết đều đi khất thực mỗi ngày. Có lúc
nhiều chúng tăng quá nên không đủ ăn là vì không có đủ người cho hay vật
cúng. Riêng vào những ngày rằm hay mùng một thì dễ có thức ăn hơn vì có
nhiều người xem những ngày nầy tốt hơn nên dâng cúng cho chư tăng nhiều
hơn. Họ nghĩ rằng sẽ được nhiều phước đức hơn. Dĩ nhiên là không đúng.
Không có ngày nào tốt hơn ngày nào. Khác thì có nhưng tốt hơn thì không.
Chắc chắn sẽ có phước đức hơn nếu ta cho những người lúc họ bị đói kém
hơn là lúc họ no đủ. Việc cho như vậy do động lực muốn được một cái gì
đó trả lại mà không phải để tự nhiên quả sẽ theo nhân, trái sẽ theo hạt.
Thực sự là họ cho họ chứ không phải cho người.
Cách đây vài năm, khi người Tây tạng trốn thoát khỏi
nước của họ làm dân tỵ nạn, các tổ chức truyền giáo Ki tô đi thăm các
trại tị nạn ở Nepal, cố ý cải đạo họ. Họ cho biết sẽ được cứu trợ nếu ai
chịu cải đạo qua Ki tô giáo. Nhưng người Tây tạng là những Phật tử rất
vững vàng, thuần thành; lòng tin của họ không ‘bị bẫy’ bởi những đồ cho
nhỏ mọn vặt vãnh. Họ bảo thẳng với các nhà truyền giáo rằng nếu ‘đồ cứu
trợ’ của họ được dùng để ‘câu mồi’ thì tốt hơn họ nên mang tặng vật đi
chỗ khác. Không bắt được con cá nào, các tổ chức truyền giáo thất vọng
đi nơi khác. Xin tán thán các người Tây tạng! Phải chi các Phật tử khác
(như nhiều người Việt nam và Căm pu chia đã không chịu nổi áp lực ‘ăn
gian’ của các nhóm ‘dụ’ họ cải đạo) cũng vững tin, cương quyết thay vì
tự để cho mình bị chao đảo và lừa bịp!
%
Hãy
suy tư
Tôi biết một vài ý kiến của tôi có thể mới lạ và khác
thường. Tôi sẽ không viện cớ hay hối tiếc vì chúng. Có ích gì khi viết
một cuốn sách mà chẳng có gì khác lạ hơn những cuốn khác?
Ngày nay, ít nhất ở các quốc gia phương Tây, chúng ta đã
được tự do điều tra mọi sự. Không có gì bất khả xâm phạm và ở trên sự
khảo sát chân thật nữa, không giống như thời Trung cổ, thời mà con người
nếu có ý kiến hơi khác hơn những gì được dạy bởi Giáo hội La mã sẽ bị
‘dán nhãn’ là phù thủy hay tà đạo và thường bị tra tấn khủng khiếp có
khi phải bị thiêu sống. Chúng ta đã có tiến bộ, vậy ta nên dùng sự thuận
lợi và tự do về tri thức nầy mà điều tra rõ ràng và cũng nên bảo vệ nó
hầu ta có thể phá vỡ xiềng xích của vô minh và mê tín.
Vâng, một vài ý tưởng của tôi có thể hơi là lạ
nhưng tôi không yêu cầu tin tôi; trái lại tôi xin các bạn đừng tin tôi
vội mà hãy giữ đầu óc rộng mở để suy nghĩ kỹ và rõ về chúng. Bạn có sẵn
sàng cho một ‘ý kiến lạ’ nữa hay chưa?
Có người đôi lúc sẽ thấy lạ khi tôi nói tôi gần Chúa Giê
su hơn Phật Thích ca. Tôi có thể nghe được những người đó suy nghĩ:
‘‘Ổng nói gì kỳ vậy?’’ Ông ta là tu sĩ Phật giáo! Sao ổng lại có thể nói
được như thế!?’’ Vâng, bạn cũng biết là trong kinh điển Phật giáo không
có chỗ nào ghi lại là đức Phật tỏ lộ ra sự giận dữ, lo sợ hay buồn rầu.
Trong tiến trình biến hóa tâm thức của tôi với một đầu óc chưa hoàn
toàn, tôi phải nhận rằng tôi không thể nào hiểu được một tình trạng như
vậy mặc dầu tôi cũng muốn đạt được tình trạng như vậy. Và Thánh kinh Ki
tô giáo theo như tôi đã đọc và hiểu biết được thì chúa Giê su đã giận,
sợ và có lúc buồn. Chính điều nầy làm tôi nói là tôi gần Chúa hơn Phật
vì tôi cũng có những cảm tính nầy! Còn các bạn? Ở đây tôi không muốn nói
là tôi khoan dung hay đồng ý với các cảm tính đó. Tôi muốn thành thật và
thực tế.
Trang 86. Những người biện hộ
cho Ki tô giáo sẽ nói (họ luôn luôn giải thích và tìm cớ cho các sự việc
nầy, dù rằng chúng rất ít thuyết phục được ai, đôi khi lại làm cho vấn
đề càng mờ tối hơn) rằng chúa Giê su cố ý để lộ sân giận, buồn rầu và lo
sợ để cho ‘những người bình thường’ như bạn và tôi có thể nhìn thấy Chúa
sẵn sàng hạ mình xuống một mức độ nào đó để giúp chúng ta hiểu biết và
chấp nhận ngài là ‘người cứu rỗi của riêng từng người’. Nói cách khác,
theo lời giải thích, ngài không buồn, không giận, không sợ mà ngài chỉ
giả vờ như vậy!
Giống như tôi bây giờ, chúa Giê su đã chưa qua khỏi các
cảm tính nầy và vì vậy mặc dầu không nghi ngờ gì là ngài đã tinh tấn
trên con đường Đạo hơn tôi, tôi vẫn có thể thấy và hiểu ngài rất rõ,
trong khi đó cái tâm của đức Phật đối với tôi ngay bây giờ thì sâu thẳm
quá. Đó là lý do tại sao tôi cảm thấy gần Giê-su hơn là gần với Phật.
Đức Phật đã thoát khỏi Biển Sinh Tử trong khi đó thì chúa Giê-su vẫn còn
trên con đường đến đó, vẫn còn đi trên mặt nước, một chỗ nào đó giữa
Phật và tôi.
Những điều dạy của hai người Thầy nầy tuy nhiên lại là
một vấn đề khác, một cái gì đó không phải thuộc về cá tính hay cái ngã.
Nếu hai ngài phải hiện diện hôm nay thì thật khó so sánh họ, bởi vì
trong ít nhất hơn 20 thế kỷ qua đã có quá nhiều thời giờ và cơ hội sửa
đổi thêm thắt và thay đổi họ. Chúng ta không thể giả dụ một cách hợp lý
rằng hai ngài đến với chúng ta hôm nay giống hệt như hai người Thầy ngày
xưa đã nói và đã dạy cách nay quá lâu. Phật Pháp được ghi lại vẫn khá rõ
ràng dù rằng chắc chắn đã có phần thêm vào. Còn Giáo Lý Ki tô thường là
tối nghĩa, nước đôi, mơ hồ, mâu thuẫn, thiếu từ bi và cực kỳ khó tin.
Điều nầy tôi nghi ngờ là của những người kiểm soát, biên soạn, sưu tập
các kinh sách của Tân Ước hơn là của chúa Giê su thực sự nói. Có khá
nhiều điều đã được gán cho là Giê su nói, bởi những người với quyền lợi
bất di bất dịch của họ, mệnh danh là theo chúa Giê su.
Có thể chúng ta sẽ không bao giời biết chúa Giê su thực
sự đã nói gì vì các tài liệu đã bị sửa đổi bóp méo rất nhiều; sách Tân
Ước có thể nói là một trong những quyển sách bị thêm bớt nhiều nhất trên
thế giới. Và một khoảng thời gian trống không đến 18 năm, giống như một
sự cố ý xóa bỏ, trong cuộc đời của chúa, từ lúc 12 tuổi cho đến 30 tuổi.
Tôi thường không biết tại sao những tín đồ Ki tô giáo không tìm ra hay
phát kiến các sự việc để điền vào chỗ gián đoạn đầy bí ẩn và rành rõ nầy
trong khi họ rất hay về khả năng giả mạo mọi sự. Có thể nào chúa Giê su
lại không nói gì cả cho các tông đồ thân thiết về các hoạt động của mình
trong 18 năm phát triển quan trọng nhất nầy. Có thể là, giống như vụ bê
bối Watergate trong đó Nixon và các cộng sự viên đã bôi xóa và tiêu hủy
các bằng chứng buộc tội họ về việc tự ý dội bom bí mật vào xứ Căm pu
chia, một nhóm người họp lại và quyết định tẩy xóa những gì mà theo họ
là có thể ‘không thích hợp’ cho số đông quần chúng. Các việc làm như vậy
được mọi người biết là ‘hiệu đính’ hay ‘kiểm duyệt’
Trang 87. Khoảng thời gian
trống trong cuộc đời chúa Giê su cho ta một cơ hội lớn lao để phỏng đoán
về những gì chúa đã làm trong 18 năm nầy. Theo một ý tưởng hiện nay là
chúa đã đi Ấn độ để học hỏi nghiên cứu cái trí tuệ cổ đại ở đó. Đó là lý
đo tại sao giáo lý của ông có phần hương vị của Ấn độ. Nhưng chúa không
cần phải đi đâu xa để học hỏi tư tưởng Ấn độ, vì những con đường của các
đoàn-lữ-hành-tập-họp-nhau-để-vượt-qua-các-vùng-nguy-hiểm-ở-phương-Đông
đến Ai cập đều phải chạy ngang qua Palestine. Và trước khi Giê su ra đời
250 năm, hoàng đế A dục (Ashoka) đã gởi các đoàn Phật giáo đến nhiều nơi
ngoài biên địa của ông cai trị, bao gồm Damascus ở Syria và Alexandra ở
Ai cập, là những nơi mà họ phải đi ngang qua Palestine. Vì vậy, giáo
pháp của đức Phật đã được biết đến một phần nào trên thế giới trước khi
chúa Giê su ra đời. Đã có một thắc mắc là pháì Essenes, mà các tài liệu
của họ tức Cuộn Sách Cổ ở Biển Chết (Dead Sea Scrolls) được tìm thấy vào
năm 1947 tại một hang động gần bờ biển có tên đó, đã được hình thành từ
các phái đoàn của A-dục vương. Phái Essenes là những nhà khổ hạnh đã
sống trong các cộng đồng ở sa mạc, theo chế độ ăn uống rau quả và trong
một số trường hợp, sống độc thân, một điều mà đạo Do thái chính thống
xem là xa lạ và không biết đến. Người ta cũng biết chúa Giê su là một
thành viên của phái Essenes.
Trang 88. Bây giờ, lý do mà
tôi muốn đưa ra ở đây là để cho thấy có một số cách để nhìn thấy sự việc
khác hơn là những cách được chấp nhận theo thói quen từ xưa tới nay bởi
đa số quần chúng. Những cách nầy không kém giá trị hơn của họ, nếu không
muốn nói là có giá trị hơn và hợp lý hơn.
Tôi tự xem tôi là người Ki tô giáo nhưng đó là chuyện đã
lâu, lâu lắm rồi. Bây giờ, sau khi tìm hiểu sưu tầm về lịch sử đạo Ki
tô, tôi xem đạo nầy là đạo lừa bịp lớn nhất mà nó đã phạm phải đối với
nhân loại. Nhưng điều nầy không ngăn tôi mất sự kính trọng chúa Giê su.
Ngài đã không kiểm soát được những gì mà các tín đồ của ngài đã làm với
những điều dạy của ngài sau khi ngài mất. Tôi đã nói rằng tôi hiểu ngài
rất nhiều rất rõ và rất tôn kính ngài. Ngài là một con người, giống như
các bạn và tôi dù rằng ngài đã phát triển tâm linh rất cao. Tội nghiệp
cho các tín hữu của ngài không bao giờ hiểu ngài như vậy; khó có ai theo
chân được một vị thánh thiện, nhưng có thể theo chân một con người, phải
không các bạn? Nếu người ấy đã thành thì tất cả cũng có thể sẽ thành, đó
là lời Phật nói.
Không lẽ ý kiến nầy quá khác lạ đến độ ta không thể làm
được?
%
‘‘Trong việc tạo dựng Hiến pháp và Luật Nhân quyền, các
Cha Ông Sáng Lập Hiệp chủng quốc đã bác khước lý thần học của Cơ đốc
Chính thống giáo. Năm 1797, Thượng viện Hoa kỳ đã chính thức chuẩn y,
‘‘Chánh phủ Hiệp chủng quốc trong mọi trường hợp không đặt nền tảng vào
Ki tô giáo.’’
(Trích từ Helen Ellerbe: Mặt Tăm tối của của Ki tô
giáo, trong đó bà dã trích câu trên từ‘Các Thỏa ước và các Đạo
luật Quốc tế khác của Hoa kỳ’, do Hunter Miller hiệu đính, Quyển 2.
1931)
%
Đa diện
Trang 89. Có lần tôi đã kể
cho một ai đó là trên thế giới có bốn hạng người: Hạng đẹp ở ngoài không
đẹp ở trong; Hạng không đẹp ở ngoài nhưng đẹp ở trong; Hạng đẹp cả hai;
Hạng không đẹp cả hai.
Người được tôi nói hỏi tôi làm sao phân biệt được khi mà
bên ngoài đâu phải luôn luôn do ở bên trong mà ra. Nhờ anh hỏi nên tôi
mới nhận ra và thú nhận là những gì tôi nói với anh không phải rõ ràng
như một với một là hai. Tôi phân loại là để cho dễ dàng thôi. Loài người
sống cực kỳ phức tạp và khó đoán, không giống như loài vật sống phần lớn
theo bản năng. Tuy sự thực là thường làm việc theo thói quen nhưng chúng
ta có thiên hướng thay đổi hơn loài vật. Hôm nay ta làm một việc theo
một cách, ngày mai ta làm cùng một việc nhưng theo một cách khác, tùy
theo thọ cảm của ta lúc làm.
Tất cả các tôn giáo cho biết sự mâu thuẫn giữa Tốt và
Xấu, Thiện và Ác, một mâu thuẫn xảy ra bên trong và bên ngoài ở mỗi
chúng ta. Hầu hết chúng ta ‘theo phe’ hoặc ‘bị lôi kéo’ khi gặp mâu
thuẫn nhưng vì đầu óc con người thay đổi không ngừng nên có lúc theo phe
nầy có lúc ta theo phái kia. Không ai tốt cả, không ai xấu cả. Ta là một
hỗn hợp, không biết phải đứng ở đâu hôm nay, ở đâu ngày mai.
Nếu được hỏi: ‘‘Bầu trời màu gì?’’, hầu hết sẽ nói:
‘‘Màu xanh’’. Vâng, đúng vậy, bầu trời xanh nhưng nó không phải luôn
luôn xanh, phải không các bạn? Có lúc nó xám, trắng, đen có khi lại
vàng, hồng, đỏ. Cũng vậy có thể áp dụng khi nói về một người: ‘‘Anh ấy
là người xấu’’, thì mặc dầu người ấy có lúc xấu nhưng chắc chắn cũng có
lúc anh ấy không xấu.
Trang 90. Đây là một câu
trong sách Quần đảo ngục tù của nhà văn Nga Alexander
Solzhenitsyn: ‘‘Có những người xấu ác gây tội lỗi ở nơi nào đó, ta cần
phải ngăn cách họ với ta để trừ họ. Nhưng lằn ranh giữa thiện và ác chạy
vào tâm của mỗi người khác nhau. Ai sẵn sàng trừ mảnh ác đó trong tâm?’’
Loài người là một chủng loại vẫn còn đang tiến hóa,
nhưng tiến hóa từ đâu tới đâu thì ta không biết. Ngày nay với sự cải
thiện thông tin và chuyển vận, con người thuộc các văn hóa và tôn giáo
khác nhau đã và đang hòa lẫn cùng nhau cho đến khi các ranh giới không
còn rõ nữa. Thời đại chúng ta là thời đại chuyển hóa thật mau, hậu quả
là sẽ có nhiều mập mờ và mâu thuẫn. Nếu chúng ta không vội vàng cẩu thả
mà tự chế không hủy hoại mọi thứ vì sự không kiên nhẫn, nhiều điều tốt
sẽ sinh ra. Giống như loài bướm biến hóa từ con nhộng, chúng ta sẽ biến
hóa từ đó để thành loài người trung hòa, khoan dung và khôn ngoan hơn.
Chắc chắn tất cả chúng ta sẽ cần tự dàn xếp trong giai đoạn chuyển tiếp
nầy. Không dễ, nhưng ta đã sinh tồn cho đến ngày nay được thì đây là
bằng chứng hùng hồn cho cái khả năng đó.
Đây là thời đại ‘tốc độ ánh sáng’, thời đại mà ta đã thu
góp qua nhiều thế hệ. Ta có thể bỏ đi cái lỗi thời và không cần thiết mà
vẫn giữ cái tinh yếu của các kinh nghiệm đó, những thứ có giá trị và hữu
ích trong bất cứ trường hợp nào. Giống như cùng đi trên chiếc tàu tỵ
nạn, chỗ thì ít, đồ tế nhuyễn không nhiều: trước khi đi ta phải quyết
định những gì ta đem theo: Chỉ những thứ thật cần yếu. Nếu cần, như mọi
người tỵ nạn đều biết, chúng ta có thể tới đích với rất ít phương tiện.
Trang 91. Phật tử hay nói
rằng các sinh vật hữu tình đều có ‘Phật tánh’, nghĩa là khả năng có thể
Giác ngộ, tuy rằng đây không phải là Giác ngộ của thú vật như loài cá,
loài chim v.v..., mà là Giác ngộ sau bao nhiêu đời bao nhiêu cõi rồi
cuối cùng là một con người sẽ tĩnh thức cái Thực Hữu. Điều kiện để trở
thành con người vì vậy được xem là rất may mắn. Có thể là chúng ta có
Phật tánh nên chúng ta nhận ra rằng, song song với khả năng có thể Giác
ngộ, chúng ta cũng có các thiên hướng khác, tối tăm hơn, tệ hại và đau
khổ hơn. Và trong hầu hết chúng ta, thôi thúc thấp hèn lại mạnh hơn xung
động hướng thượng, giống như bóng tối mạnh hơn ánh sáng. Có người có thể
không đồng ý và nói rằng bóng tối và ánh sáng bằng nhau như đêm dẫn tới
ngày hoặc ánh sáng mạnh hơn bóng tối. Vâng, tất cả chúng ta đều biết đêm
dẫn tới ngày, đêm không kéo dài vô tận. Nhưng vì chúng ta đang đề cập
tới Bản Chất của Con Người ở đây nên tôi vẫn muốn nói rằng bóng tối mạnh
hơn ánh sáng. Ta hãy suy nghĩ xem: ta đâu có trả tiền ‘bills’ cho sự tối
tăm vì nó miễn phí, dù ta muốn có nó hay không. Ngược lại ta phải trả
‘bills’ điện vì nó cung cấp cho ta ánh sáng!
Vâng, có thể chúng ta thực sự có ‘tánh Phật’, nhưng
chúng ta cũng có ‘tánh thú vật’, ‘tánh quỷ đói’ và ‘tánh tham dục’. Bạn
hỏi ‘tánh quỷ đói’ là gì? Vâng, kinh sách Phật nói rằng, do nghiệp quả
đã làm trong những kiếp trước, các ‘quỷ đói’ là những sinh vật khốn khó
không bao giờ thỏa mãn nên đói khát thường xuyên vì bao tử to lớn, miệng
bằng lỗ kim và cổ họng, tay chân rất nhỏ trông giống như nhánh cây con.
Vâng, tôi không biết có các con vật như vậy hay không vì tôi chưa bao
giờ thấy nhưng tôi biết có nhiều người quần áo và sắc diện đẹp đẽ nhưng
hành động như loài Quỷ Đói. Cái tham muốn sở hữu của họ không thể thỏa
mãn hay dập tắt được. Đây mới là cái nghĩa của ‘Quỷ Đói’!
Trang 92. Hầu hết chúng ta
đều biết chuyện ngụ ngôn ‘Ngỗng Đẻ Trứng Vàng’ nhưng tôi cũng xin kể lại
ở đây, nghĩ rằng không hại gì vì nó chứng minh rất đúng.
Ngày xưa có một cặp vợ chồng nọ có nuôi một con ngỗng
đặc biệt đẻ Trứng vàng đặc mỗi ngày. Nghĩ lại cái may mắn của mình nên
vợ chồng rất hạnh phúc và vừa ý. Ai lại không vậy, phải không các bạn?
Nhưng vì ngỗng cứ đẻ trứng vàng mỗi ngày như vậy nên vợ chồng tưởng cái
may mắn của họ là một quyền lợi và vì thế xem cái phước nầy là chuyện
bình thường. Người chồng không còn hỏi vợ: ‘‘Ngỗng có đẻ trứng hôm nay
hay không?’’ mỗi khi về đến nhà như mọi bữa. Vì thế họ xem chuyện lạ nầy
là quá tầm thường.
Dĩ nhiên, sau đó không lâu chuyện nầy trở thành lòng
tham, lòng tham đó lớn dần lớn dần giống như bệnh ung thư. Bệnh tham
cũng như vậy. Một bữa nọ, chồng nói với vợ: ‘‘Xem nầy, ngỗng chỉ đẻ mỗi
ngày có một trứng, không hơn không kém. Chắc nó phải có cả kho vàng
trong nó nên nó mới sản xuất được như vậy. Nếu chúng ta giết nó và mỗ
ruột nó ra, ta sẽ có tất cả vàng trong một lần thay vì phải chờ đợi từng
ngày một’’. Nghe qua có vẻ hợp lý, người vợ bèn kiếm cây dao. Hỡi ôi!
Sau khi con ngỗng vắn số bị giết và mỗ ruột, chẳng có vàng trong đó! Sự
buồn tủi và hối hận thật vô cùng nhưnh đã quá trễ. Vì lòng quá tham, họ
đã hủy hoại cái phước của họ!
Mỗi người trong chúng ta đều có một nghiệp đời riêng để
sống. Vậy tại sao ta không nghĩ cho ta và quyết định cái ta muốn thực
hiện cho cuộc sống của ta và con đường nào mà ta nên đi? Có thể đây là
chuyện bơi ngược dòng như nhiều người không có đầu óc cho riêng
họ và hành động giống như người mơ ngủ hoặc là người tỏ ra không có sức
sống, thụ động hoàn toàn không có suy nghĩ độc lập. Nếu ai muốn theo con
đường của các con Quỷ Đói thì đĩ nhiên đó là tùy họ nhưng như thế có
nghĩa là ta cũng phải làm như vậy sao?
%
Vòng vòng
Trang 93. Tất cả chúng ta có
thể thấy một cách rõ ràng là sự Thay Đổi, hay Vô Thường là Qui Luật của
Đời sống. Căn nhà mới của ta không phải mới được luôn, chiếc xe mới sẽ
bị trầy, móp, hư, mòn, cũ; ta rồi sẽ già, già từ lúc mới sanh ra và cuối
cùng sau một thời gian thay đổi với từng cá nhân một, sẽ chết.
Đồng hồ kiểu cũ cần vặn mới chạy nhưng khi ‘dây thiều’
mất đi tính đàn hồi, đồng hồ sẽ chạy chậm và ngừng hẵn. Với đồng hồ kiểu
mới, một cục ‘pin’ nhỏ cũng đủ làm cho nó chạy được độ một năm; hết
‘pin’ đồng hồ hết chạy đúng theo qui luật vô thường. Tất cả sự vật một
khi đã ‘có’, chúng sẽ hướng về ‘không’; gặp nhau cuối cùng rồi sẽ chia
tay, tạo rồi hủy, sanh rồi tử. Có thể không thích sự thật nầy nhưng ta
không làm sao hơn, không làm sao ngăn chận hay thay đổi được. Tuy thế ta
có thể chấp nhận và cố gắng hiểu nó. Phiền lòng hay tranh đấu mù quáng,
yếu ớt chẳng giúp được gì mà chỉ làm cho tệ hơn thôi.
Phật giáo dựa trên nền tảng triết lý ‘Vô Thường’ cũng
không ra ngoài biệt lệ ấy. Cứ xem cái Đại Đạo Giải Thoát đức Phật đã nói
cách đây 2.500 năm nó đã phế vong dần rồi trở thành một vòng tròn. Nhiều
tu sĩ đã trở thành giáo sĩ (có người tự cho như vậy) giống như những
người Bà la môn trong thời Phật hiện tiền, người đã xem và dạy rằng họ
cách nhau một giai cấp, giai cấp cao nhất trong 4 giai cấp trong đó hệ
thống Bà la môn thống lãnh. Cho rằng họ được sanh từ miệng của Phạm
thiên, Thượng đế tối cao của họ, nên họ lấy tên đó làm tên giai cấp ‘Bà
la môn’ cho mình. Giai cấp thứ hai là Sát-đế-lợi tức vọng tộc, lãnh
chúa, sĩ phu, nhà tướng, những người mà họ tin rằng họ được sanh từ tay
của Phạm thiên (Thái tử Sĩ đạt ta được sanh trong hàng vọng tộc
Sát-đế-lợi; cha ngài là tiểu vương, nên ta nói rằng Thái tử Sĩ-đạt-ta
được sanh từ nách phải của mẹ ngài thay vì được sanh bình thường). Giai
cấp kế là Phệ xá tức giới làm thương mãi, nhà nông và thợ khéo; người Bà
la môn nói người Phệ xá sanh từ hông Phạm thiên. Cuối của 4 giai cấp là
Thú đà la, những người được cho rằng sanh từ bàn chân của Phạm thiên và
chỉ được phép làm công việc tay chân như quét dọn, làm nhà vệ sinh, đổ
rác v.v...Nhưng Thú đà la cũng không phải là những thành viên thấp nhất
trong xã hội. Thấp nhất là giai cấp cùng khổ, mạt chủng, (tức giai cấp
Chiên đà la (Candala) hay Ba-lỵ-a (Pariahs). M.T.). Ngay cả việc người
thuộc cấp nầy vô tình chạm đến người của cấp Bà la môn, họ cũng phải đi
tắm hoặc thay quần áo mới. Xã hội được chia thành nhiều từng bậc.
Trang 94. Người Bà la môn,
qua nhiều thế kỷ bắt nạt và hiếp đáp, đã làm cho người ta tin rằng họ có
sự độc quyền về tôn giáo. Cho rằng mình có ‘chìa khóa của cõi trời’, họ
dạy rằng bất cứ ai muốn được sanh lên đó đều phải qua ảnh hưởng và lễ
nghi trung gian của họ, không cần phải nói đó là phải tốn phí. Cũng
giống như những người Ki tô ngày nay cho rằng, dù không một bằng chứng
nhỏ nhoi nào để chứng minh, phải qua chúa Giê su thì một người mới được
‘cứu rỗi’ để lên thiên đàng sau khi chết, người Bà la môn dạy rằng lễ
nghi và sự hy sinh của họ là cần thiết cho sự tái sanh vào cõi trời.
Không khó thấy tại sao điều nầy dẫn đến mọi thứ tham ô và quá đáng. Họ
càng giàu có và kiêu ngạo qua việc lợi dụng tính dễ bị lừa của quần
chúng thất học và dị đoan.
Đức Phật không phải là người độc nhất trong việc muốn
hóa giải hệ thống giai cấp nầy. Cũng có nhiều cá nhân có tâm phản đối sự
bất công như thế. Nhưng chính đức Phật là người đã chống lại nó với sự
rõ ràng nhất và hiệu quả nhất. Nó bị lật tung dưới cái tâm đầy trí
tuệ và lòng đầy từ bi của ngài. Lúc nào người Bà la môn dạy
rằng giai cấp là vấn đề của giai cấp và không bao giờ trong trọn một
kiếp người thay đổi giai cấp được thì đức phật nói: ‘‘Không phải vì sanh
ra mà người ta mới thành giai cấp cao hay thấp mà chính là những hành
động của người ấy họ mới thành như vậy’’.
Trang 95. Đức Phật dùng cả
cuộc đời ngài đi hết nơi nầy đến nơi khác, kiên nhẫn giáo huấn và giải
nghĩa bất cứ cho ai chịu khó lắng nghe. Ngài thuyết cho số đông cũng như
cho từng nhóm nhỏ cho đến từng cá nhân hướng họ chứng đắc Giác ngộ và
Giải thoát. Ngài không bao giờ cử hành lễ hay tham gia vào các nghi thức
như những vị Bà la môn làm. Quả thật, Ngài nói rõ vướng mắc với lễ nghi
hoặc các nghi thức là một trong những cái còng (kiết sử) phải được cắt
bỏ để một người chứng đắc quả vị Dự Lüu tức Tu đà hoàn (Sotapatti).
Vậy thì tại sao chùa chiền lại có quá nhiều lễ nghi,
nghi thức trong khi đó ít dạy Pháp. Tại sao các tu sĩ lại xuất hiện
nhiều trong các buổi nghi thức thay vì phải làm thầy dạy Đạo? Có đúng
không khi nói: ‘‘Bây giờ là thời mạt pháp’’?
Không lâu sau khi đắc quả vị Phật, đức Phật tập hợp các
đệ tử, lúc đó chỉ có khoảng 60 vị, tất cả đã đắc quả Giác ngộ bằng cách
lắng nghe Pháp Phật. Ngài nói: ‘‘Này các Thầy Tỳ kheo, vì cái thiện phúc
của nhiều người, vì lòng từ bi cho xã hội, vì cái thiện lành, lợi lạc,
phúc đức của trời và người, Pháp Phật viên mãn từ đầu cho đến cuối, cả ý
lẫn lời. Hãy công bố Đời sống Linh diệu, Hoàn mãn và Thanh tịnh. Có
những người chỉ với một chút bụi trong mắt, không nghe Pháp, sẽ ngã
xuống. Sẽ có những người hiểu được Pháp Phật’’.
Ngài
không nói: ‘‘Này các Thầy Tỳ kheo, xây nhiều chùa, khuyến khích người ta
cúng dường chư tăng và tu viện’’, giống như các người Bà la môn nói.
Chúng ta có thể nói: ‘‘Vâng, các tu sĩ đã đắc quả A la hán, chúng ta thì
chưa’’. Bạn có thể thấy cách chúng ta thoát được các vấn đề? Nếu chúng
ta chờ đến khi mình đắc đạo trước khi làm được cái gì hoặc ngồi đó chờ
người đắc đạo đến dạy ta, hẵn chúng ta sẽ chờ rất lâu. Thời nay có rất
ít người đắc đạo và cũng không thể gặp họ ở một góc đường nào đó hay tu
viện nào đó. Nhưng vì giác ngộ, giống như hàn thử biểu, có nhiều độ
nóng, là điều không đúng khi nói rằng nhiều người trong chúng ta đã đạt
được một trình độ nào đó, có thể đã đạt đến gần 0 độ nhiều hơn là 100
độ. Nếu chúng ta biết chút ít, ta có thể chia xẻ nó với người khác; nếu
chúng ta biết nhiều, ta vẫn chia phần được; chúng ta không cần phải 100
% đắc quả, hoặc phải khoe chứng chỉ A la hán quả hay Phật quả, mà vẫn có
thể chia xẻ Phập Pháp với tha nhân. Ta có thể biết rất ít trong khi có
thể có người biết nhiều hơn ta nhưng cũng có vô số người biết ít hơn ta
và tăm tối hơn ta.
Trang 96. Có một câu của Phật thường nói:
‘‘Trong tất cả các thứ để cho, cho Pháp là tốt nhất’’. Vì vậy, tại sao
ta ơ hờ lưỡng lự về chuyện cho nầy? Pháp Phật bị xem là ít quan trọng
hơn ở các chùa, nơi mà chuyện giảng Pháp nói Pháp thuyết Pháp là chuyện
đặc biệt thay vì phải xem nó là một tiêu chuẩn mẫu mực. Điều đó cho thấy
rằng chúng ta thực sự không xem Pháp là bảo vật mà, nói phải tội, có
Phật tử coi đó là thứ bỏ đi! Hoặc trong những năm lạm phát và kinh tế
bất an, ta tích trữ chờ cho giá cả tăng lên rồi đem ra bán.
Phật
giáo đầu tiên là Con Đường Để Sống, con đường thoát khỏi dị đoan và tối
tăm (vô minh) nhưng nó lại trở thành ‘con đường tử’ đặt trọng tâm vào
các nghi thức cho người chết, một con đường nô lệ tùy thuộc vào các tu
sĩ. Nhiều Phật tử cảm thấy rằng không có các tu sĩ để làm lễ cho các
nghi thức là không được. Như vậy các tu sĩ giống như thuốc men mà con
người trở nên bị ghiền thuốc vậy, bệnh ghiền tu sĩ! Tôi đã nhìn
nó với cả hai phía của một hàng rào, và vì thế có thể nói là không có gì
một tu sĩ làm mà một cư sĩ không làm được nếu người cư sĩ ấy muốn. Chính
là con người chúng ta chứ không phải giáo pháp gây phân biệt giữa tăng
ni và thường dân cư sĩ
Trang 97. Cách đây vài năm khi tôi ở một chùa
có dân đông và giàu tại Manila, vị trụ trì phàn nàn tôi vì tôi không
nhập chúng với các tu sĩ để tụng niệm trong các nghi lễ mà lại đi vào
trong tù với ‘‘những người xấu’’ (ông ấy gọi họ như vậy). Tôi im lặng để
ông nói hết những gì ông muốn nói. Kế đó tôi trả lời: ‘‘Tôi cũng có thể
đọc tụng và làm nghi lễ cho người chết được nếu tôi muốn nhưng cái cách
tôi làm là cho người sống nhiều hơn là cho người chết. Tôi không nghĩ là
tôi giúp được cho người chết nhiều nhưng tôi có thể giúp được cho người
sống’’. Ông không nói gì được khác với tôi lúc đó nhưng chẳng bao lâu
sau ông ngưng phụ cấp tôi. Tuy nhiên, không ai có thể làm cho tôi im
được vì $10 một tháng! Tôi không thể bị bán rẻ như vậy!
Nếu
mua một hộp nước ngọt bạn mua hộp hay mua nước? Phật giáo là một tôn
giáo có tổ chức với chùa chiền, tu sĩ, người làm công quả, nghi thức, lễ
bái, các tông phái, v.v...giống như cái hộp chứa đồ. Không may ít Phật
tử biết đến điều nầy và cũng không biết nó đựng cái gì. Chính là Pháp
của Phật tức nội dung chứa đựng quan trọng hơn cái hộp chứa nó.
Nhiều
người chẳng bao giờ nghĩ đến hay tuyển trạch nó, cho rằng Phật giáo và
Phật Pháp là một. Biết được sự khác nhau rất hữu ích, đặc biệt thời nầy
là thời vật chất ngự trị. Tình trạng tôn giáo bị biến cách, xuống cấp
hiển lộ khắp nơi khiến con người mất lòng tin. Nếu hiểu rõ sự khác biệt,
lòng tin của ta sẽ vững chắc hơn thay vì yếu kém.
Phật
giáo bắt đầu vào một mốc thời gian rất đặc biệt. Đó là khi đức Phật bắt
đầu tổ chức đoàn Tăng già lúc Ngài 35 tuổi, gần ngay sau khi Ngài đắc
quả Phật. Nó có chỗ bắt đầu và vì vậy nó có chỗ chấm dứt. Hơn nữa trong
khi tồn tại, nó cũng phát triển, thay đổi, thích nghi, hấp thụ các thành
phần khác biệt trong khi tiếp cận nhau, các hình thức lễ nghi và các
tông phái biến hóa ra, cuối cùng thành lập một tổ chức cách đây rất lâu.
Không thể tránh được các sự việc đã được thêm bớt, sửa đổi. Trên một
hành trình dài ta có thể đoan chắc rằng bây giờ nó khá khác với ngày
xưa.
Trang 98. Đi sâu vào Phật học về phương diện
tôn giáo ta thấy được Giáo Pháp của Phật. Đây cũng là một cái hộp chứa,
một hộp lớn chứa một hộp nhỏ. Vì, sau khi đắc quả, đức Phật đã gắng công
thuyết lại những gì Ngài đã khám phá ra cho người khác biết. Dĩ nhiên
điều nầy khá khó, giống như muốn cắt nghĩa các màu sắc hay bông hoa cho
người mù. Ngài sắp xếp lại Giáo Pháp, gọi chúng là Trung Đạo, giải nghĩa
về khổ và nguyên nhân huân tập gây khổ, về cách diệt
khổ và con đường đạo dẫn tới sự tiêu diệt nó. Đức Phật gọi
đây là bốn điều chơn thật (thuyết Tứ Đế): Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Riêng con
đường (đạo) gồm tám bước tức Bát Chánh Đạo. Các điều dạy căn bản nầy
không thay đổi trong suốt cuộc đời hoằng pháp của ngài dù rằng ngài
trình bày có khác đối với từng người khác nhau.
Mặc
dầu sự trình bày có khác nhưng tựu trung Ngài cố gắng giảng cho tha nhân
thấy rõ ràng hơn. Những sự kiện đó (Pháp) tự nó đã hiện hữu ở đây rồi,
nó luôn luôn là như vậy, Ngài không phát minh mà là phát kiến. Mọi người
đều có thể thấy nó. Nó không tùy thuộc vào ngài. Có 3 bậc ta nên biết:
1. Phật giáo: một tôn giáo; 2. Phật Pháp: Lời Dạy của
Phật; 3. Pháp: các Sự kiện trong cuộc Đời. Được xem
là Phật tức là vị đã nhận thức, thấy biết tận tường Pháp
và tiết lộ cho xã hội loài người bằng Phật Pháp theo như Ngài
thấy được; còn Phật giáo là một tổ chức được phát triển từ Phật Pháp.
Bây
giờ sau nhiều thế kỷ, Phật giáo đã bị coi thường vì cũ kỹ, tầm thường và
mất dần đi tính nguyên thủy. Và không phải là không tự nhiên khi nó bị
bao vây bởi sự bệnh hoạn và biến dạng. Tại châu Á, nhiều chùa chiền đã
trở thành nơi làm ăn, chỗ ban phước, nhà tử vi, nhà đòn, bói quẻ, mật
chú, xua đuổi tà ma. Nhiều tu sĩ thành các nhà ảo thuật hay thầy thuốc,
thoả mãn lòng ham muốn của những người gần như không biết gì về Phật dạy
thay vì giúp họ hiểu biết. Có lẽ chẳng bao lâu nữa chúng ta phải làm đám
táng cho Phật giáo!
Trang 99. Sau khi thấy được tất cả Sự Đời
nầy, mà thực tình nó ít có liên hệ gì đến Phật Pháp, nhiều người đã đâm
ra chán nản và mất lòng tin nơi Phật giáo. Họ chọn tôn giáo khác hoặc
không muốn theo ai. Chuyện nầy ta phải hiểu và không thể trách họ. Thật
tội nghiệp là họ chỉ thấy cái hộp bên ngoài mà không thấy đến và thấy
được những gì trong ấy. Phần lớn vì hầu như không ai, kể cả các tu sĩ,
cố lo giúp họ thấy biết và vì chính họ lười và không muốn học tập.
Xe mới
tinh thì bóng láng, không trầy trụa. Chạy được hơn 50.000 cây số thì bạn
nghĩ nó còn sáng và nguyên như mới không? Vậy thì, dù bên ngoài ‘xế hộp’
không còn sáng bóng như xưa hay bụi bẩn, móp méo...chúng ta vẫn còn nợ
cái ơn đó. Nhờ nó nên những gì ở bên trong vẫn được giữ, qua nhiều thời
đại cho đến thế hệ hiện nay. Chúng ta có thể, với một chút cố gắng và
kiên nhẫn, rồi sẽ thấy cái Chứa bên Trong (Nội dung) qua lớp bụi bám vào
hộp. Đừng quá thất vọng nếu cái Hộp không còn sáng và bóng nữa, như
chiếc ‘xế hộp’ vậy.
Hộp bên ngoài không phải là Đồ
bên trong!
Phật giáo nhìn ở ngoài khác
với Phật Pháp ở trong!
Nhìn và Suy cho kỹ!
%
Đo thời gian
Ngày
hôm qua thì đã qua, như một giấc mơ;
Ngày
mai thì không bao giờ trở lại
Vậy ta
phải gọi cái giờ riêng của mình là gì?
Hiện
tại thì giống như bào bọt trên mặt nước:
Chụp
bắt nó, không được.
Trong
tay ta luôn luôn không có gì?
Bị
cuốn trôi hết, không ngừng.
Già
đi, không chống lại được:
Vậy
thì đi đâu?
Bạn có
‘chớp’ thời gian được không?
Suy
nghĩ đi:
Có lẽ
chính Thời gian ‘chớp’ bạn đó!
Trang 100. Chúng ta đo lường Thời gian bằng
nhiều cách. Đối với những việc hằng ngày phải liên hệ với tha nhân và để
cho tiện gọi, bạn tính giờ bằng đồng hồ. Nó chia ngày ra giờ, phút,
giây; tất cả là do người tạo ra tức sự chia phân nhân tạo; ta không thể
tìm ra trong Thiên nhiên, một giờ với 60 phút hay một phút với 60 giây.
Những phát minh nầy hữu ích nên mọi người đồng ý; nó giúp cho xã hội
‘chạy’ thông suốt; ta có thể đúng giờ đúng hẹn nhờ các biện pháp được
đồng ý chung.
Chúng
ta lại chia thời gian thành ngày, đêm, tuần, tháng, năm... Vâng những sự
phân chia nầy là những thực tế trên hành tinh nầy. Nếu chúng ta đi vào
Không gian, những cái ta gọi đó sẽ vô giá trị. Và ngay khi ta ở trên
hành tinh nầy thực sự chẳng có tuần, chẳng có 7 ngày. Một lần nữa đây là
do con người tạo ra và nó không tự nhiên; ta không thể quan sát một sự
phân chia tự nhiên thành 7 ngày. Thực vậy, một-tuần-bảy-ngày truy nguyên
có trong Thánh-kinh Ki-tô Do-thái và vì qua các cuộc xâm lăng và chinh
phục của châu Âu với thành phần hải tặc hoặc dân đi chiếm thuộc địa (và
tiếng Anh hiện nay là ngôn ngữ quốc tế) nên nó đã được toàn thể thế giới
chấp nhận mà không có một lý do nào khác.
Trang 101. Không gian thật bao la nên không
thể tính bằng dặm hay cây số, vì vậy ta thay bằng thời gian. Chúng ta
được biết rằng khoảng cách từ Trái đất lên Mặt trời độ 93 triệu dặm (tức
150 triệu cây số). Tốc độ ánh sáng mỗi giây là 186.000 dặm (298.000 cây
số) tức nó mất 8 phút để xuyên hết độ dài đó. Còn các hành tinh xa hơn
nữa thì được tính bằng cả trăm ngàn, có khi cả triệu năm ánh sáng mới
tới quả Địa cầu! Chúng ta không thể nào hiểu hết được cái bao la của vũ
trụ. So sánh với loại thời gian như thế thì tuổi thọ của chúng ta chỉ
bằng cái búng tay. Nhìn lên bầu trời ban đêm và thử suy ngẫm về sự nhỏ
bé của mình là một điều tốt; các rắc rối và lo lắng của ta sẽ được cảm
thấy khác đi và nhẹ hơn phần nào.
Ít có
người sống được đến trăm tuổi: so với tuổi thọ của bướm dĩ nhiên là ta
thọ nhưng so với loại cây đỏ ở bang California Hoa kỳ (thọ đến 3000 năm)
thì loài người chúng ta không thọ chút nào.
Hầu
hết chúng ta đo thời gian bằng cảm giác: nỗi buồn niềm vui, hy vọng thất
vọng...Một giờ trong chiếc tàu bị nước biển vào trên đại dương đầy sóng
gió dường như vô tận, trong khi một giờ vui sướng trôi qua trong nháy
mắt; dù dài bao nhiêu nhưng vui thì luôn cảm thấy ngắn ngủi còn buồn thì
giống như lê lết.
Nhưng
khi sự vật đã trôi qua, chúng dường như là một phần của một giấc mơ và
chúng ta không chắc là chúng có xảy ra hay không đôi khi tưởng răằg đó
chỉ là giấc mơ. Đây là lý do tại sao cuộc đời được nói đến như là cơn
mộng, cầu vồng, ảo ảnh; nó không phải của chúng ta, nó đến rồi đi, không
nắm bắt được. Nếu cuộc đời ta thực sự thuộc về ta, ta có thể nói: ‘‘Ta
sẽ không già, bệnh, chết’’. Vâng. Ta có thể nói, nói thì dễ mà. Nhưng
già thì nó cứ già, cứ bệnh và cứ chết.
Trang 102. Thời gian dù nó được ta đo tính
như thế nào thì nó là con đường một chiều. Ta chuyển từ quá khứ, qua
hiện tại rồi tới tương lai không bao giờ đi ngược chiều được. Từng ngày
mới quan trọng. Hãy trân quý từng ngày để không hối tiếc về chuyện mình
già đi mỗi ngày.
%
Đem sự mới lạ vào cuộc sống
Càng
học nghệ thuật nhiếp ảnh, tôi càng nhận rằng kỹ thuật không phải là chìa
khóa bí mật độc nhất cho những bức hình nổi tiếng. Nếu không có sự kích
thích của niềm hứng khởi, nhà nhiếp ảnh không hoàn thành những bức ảnh
nghệ thuật nhất của mình. Người ấy phải luôn tĩnh thức với những khám
phá bất ngờ chung quanh mình hoặc với sự thay đổi các mẫu ánh sáng, dấu
vết và hình thức.
Xin
cho tôi lấy thí dụ. Khi đi tản bộ trong vườn hoa của tôi cách đây không
lâu, tôi dừng lại trước một chùm hoa phi yến quen thuộc. Mặc dầu tôi đã
nhìn chúng cả trăm lần trước đây, lần nầy chuyện không ngờ đã xảy ra:
một chùm ánh sáng từ đâu đó thình lình chói rọi vào các đóa hoa, chiếu
thẳng vào tâm thức tôi với sức bộc phá mạnh mẽ của ánh sáng và màu sắc.
Nó giống như thể tôi thấy hoa phi yến lần đầu tiên vậy. Trong khi nhắm
máy hình để chụp, tôi biết rằng cuộn phim rửa sẽ cho tôi hình ảnh của
một vẻ đẹp hiếm quý. Trong khung cảnh thường nhật của vườn hoa mình, tôi
đã có một khám phá mới lạ tuyệt vời.
Edward
Steichen, nhiếp ảnh gia
%
Ngơ
ngáo
Trang 103. Người ta nói rằng Kinh điển Phật
giáo đầu tiên được viết lại từ năm 1 (niên đại Ki-tô). Trước đó nó được
truyền miệng từ người nầy qua người khác bằng cách học thuộc lòng. Thật
là tuyệt vời vì chắc nó phải nhiều lắm. Người Ấn độ nổi tiếng là có trí
nhớ.
Chúng
ta không biết là ai đã phụ trách công việc ghi lại bằng chữ viết nhưng
chắc là họ phải có được một trình độ cao về trình độ học vấn và rất
nhiều kiên nhẫn. Nghe thuyết pháp là một việc, viết ra những lời đó là
một việc khác, đặc biệt càng khó hơn khi Đức Phật đã tịch diệt cách đó
500 năm. Làm sao họ dám đảm nhận việc làm nầy? Năm trăm năm là một thời
gian dài. Tiếng nói của đức Phật không còn vang dội.
Khi
đọc được các dòng chữ của các học giả, ta có thể nghe tiếng nói và thấy
gương mặt của ngài được không? Chúng ta phải dùng trí tưởng tượng để đọc
nếu không chữ nghĩa đó chỉ là giấy trắng mực đen thôi. Ta có thể nào
biết được chỗ ngài ngừng, phần ngài nhấn mạnh hay giọng điệu sắc thái
ngài không? Ta có thấy được ngài cười, nhấp nháy đôi mắt khi nói ví von
khôi hài hay không? Ta thấy được cử chỉ, điệu bộ, cách nhướng mày của
ngài không? Dù luôn điềm tĩnh và thanh tịnh nhưng đức Phật không bất
động như một bức tượng, giọng nói cũng không như người máy hay đơn điệu.
Nó có thể rất có thần.
Có đôi
lần để thử nghiệm, tôi nhờ người đọc vài đoạn trong một quyển sách của
tôi cho thính giả nghe, kế đó chính tôi đọc đoạn đó để cho thấy sự khác
nhau về phương diện cảm thọ. Người đọc đoạn ấy không cách nào biết được
cảm nghĩ của tôi ra sao khi tôi viết; khi tôi đọc đoạn tôi viết là từ
trái tim tôi.
Chúng
ta phải nhớ là khi đọc kinh sách, những người được đức Phật nói đến thì
thường là những người quê mùa thất học, có cái nhìn về cuộc đời khác với
chúng ta ngày hôm nay. Đối với họ, quỷ thần, thánh thần mặc dầu vô hình,
nhưng có thật, giống như người và vật chúng quanh họ. Đức Phật hiểu được
các sự kiện nầy và vì vậy nói với họ theo trình độ của họ. Nếu ngài nói
thẳng và bác khước những chuyện nầy, nếu ngài nói với họ theo trình độ
của ngài thì sẽ có ít người chịu nghe ngài. Ngài nói cái ngôn ngữ cũa
họ, trình độ của họ và chẩm rải hướng dẫn họ. Ngài rất hay về chuyện
nầy. Nếu Phật hiện hữu ngày nay ngài sẽ đổi cách nói sao cho phù hợp với
thời đại chúng ta.
Trang 104. Tuy nhiên, nhiều người không có
khả năng nầy. Họ muốn thấy đức Phật là một nhân vật trong quá khứ giống
như vật hóa thạch cổ lổ. Họ xem các thứ trong kinh sách là có giá trị bề
ngoài. Một ‘đồng nghiệp’ của tôi, người tôi đã quen được 20 năm, là như
thế. Ông trở nên nguyên tắc trong sự tiếp cận, tin rằng sự việc được nói
đến trong kinh điển là phải có thật. Trong lúc nói và viết, ông thường
lấy kinh điển ra, gây ấn tượng người khác. Đây là thuật của con vẹt chứ
không phải từ kinh nghiệm riêng của mình. Trích ra hay lấy ra từ kinh
điển không được chấp nhận tại toà án và sẽ bị bác bỏ.
Mới
vừa đây, có người cho tôi biết là ông đã nói với một nhóm người trí thức
rằng việc thiếu nước ở Kualar Lumpur trong mấy tháng qua là do sự trừng
phạt của các quỷ thần vì là một thành phố tội lỗi. Vâng, sau khi nghe
ông nói những điều vô lý như vậy trong ba năm qua, tôi nhận ra đó là
kiểu cách của ông và không ngạc nhiên. Chỉ có một chuyện tôi cho là
‘lạ’ là chữ ‘tội lỗi’ mà ông đã dùng; có thể nó là một chữ khác đồng
nghĩa với chữ đó. Tôi hỏi người đã nghe ông nói có phản bác lại không,
anh trả lời: ‘‘Phản bác để chi?’’, tôi nói: ‘‘Tại sao không? Đây là điều
dị đoan trắng trợn; phải làm cái gì chứ ông ta không được cho phép thoát
khỏi sự sai lầm nầy!’’
Có
người, hiền lành nhưng ngây thơ, tin những điều như vậy chỉ vì ông ta là
một tu sĩ. Không thể để cho nó qua được. Chống dị đoan đã khó, lại càng
khó hơn nếu các điều dị đoan đó lại được truyền loan.
Trang 105. Quả thật là một lời cao ngạo! Cái
quyền gì cho ông ‘phán’ như vậy. Làm như ông biết hết tất cả, thấy hết
tất cả các nguyên nhân ảnh hưởng một thành phố 2 triệu dân! Lấy từ đâu
mà ông có những ý tưởng lạ lùng như vậy? Chắc chắn là ông lấy từ các
kinh điển, điều nầy chứng minh cái tánh dễ bị lừa của ông. Ông có thấy
các quỷ thần hay có biết họ nghĩ gì và tại sao không? Rõ ràng là tánh
nguyên tắc mà không để ý đến các lời giải thích về khoa học gần đây. Ảnh
hưởng El Nino vừa mới cho biết hiện tượng nầy. Nó đã có trong từ điển.
Chúng ta không biết là nó có xảy ra trong thời đức Phật hay không, có
thể là có. Tuy nhiên trong thời đó chưa có khoa học và khí tượng học.
Các nguyên nhân của các mẫu thời tiết khác nhau vẫn chưa được biết. Có
thể người ta gán chuyện sấm sét, giông bão, lục lội, v.v...cho các quỷ
thần và thánh thần; có người vẫn còn cho như vậy. Riêng tôi chọn sự giải
thích của khoa học. Tôi không còn thích những chuyện thần tiên chút nào
cả.
Chắc
chắn là có những kẻ tội lỗi trong thành phố Kualar Lumpur (thành phố nào
cũng vậy). Nhưng ta không thể nói chung như vậy để buộc tội toàn thành
phố. Phải có nhiều người tốt trong thành phố K.L. Gia đình ông ta ở
trong thành phố nầy vậy ông có tính chung vào không? Hay ông muốn nói:
‘‘Ác lai ác báo, nếu không thì bạn sẽ không bị! Sự thiếu nước nầy là một
hình thức của đau khổ nên các nguyên nhân của nó phải là như vậy!’’ Ông
quả thật là Giáo sư về môn Nghiệp Quả tức là tin tất cả những gì xảy ra
cho ta đều là do nghiệp quả! Sự thực không phải như vậy. Có những yếu tố
khác thực tế trong cuộc sống của chúng ta bên cạnh Luật Nhân Quả. Ta
phải thú thật và thành thật hơn là ở trình độ của mình, nó chỉ là một ý
niệm chứ chưa được chứng minh.
Cách
đây vài năm, ông ‘đồng nghiệp’ nầy gởi tôi một cuộn băng có bài nói
chuyện của ông ấy với lời ghi kèm ‘‘Nếu có gặp ai muốn nghe Phật Pháp
chưa bị sửa đổi, xin ông đưa cho họ băng nầy’’. Tôi thật sững sốt nhưng
cũng phải mất khá lâu tôi mới chịu nghe băng; tôi nghĩ Trái đất có thể
động đất hay gì gì đó, giống như nó đã làm khi đức Phật giảng bài Pháp
đầu tiên! Bài giảng không có gì đặc biệt ngược lại tôi lại thấy chúng
khô khan, lý thuyết, phân biệt nhỏ nhặt, đầy các dẫn chứng kinh điển:
‘‘Kinh số mấy, số mấy, cái nầy thuộc Kinh bộ, cái kia cũng vậy,’’
v.v...Nói theo lương tâm thì tôi không thể đưa nó cho ai; tôi không muốn
làm người khác sợ!
Xin
mọi người hãy rất cẩn thận với ý niệm nầy, chỉ sợ rằng nó làm hại bạn
hơn là giúp bạn. Hãy rất cẩn thận khi nghe tu sĩ giảng Pháp. Đừng tự
động nghĩ rằng họ có thẩm quyền rồi nghe và tin liền. Hãy chăm chú lắng
nghe và dùng trí tuệ để quyết định xem những gì họ nói là có thật và có
ích hay không. Đừng để giáo pháp làm ta ‘mắc cạn’, giống như cá voi mắc
cạn ở bờ biển vậy!
@
Albert
Einstein: Những Năm Sau cùng của Tôi
‘‘Đi
theo một quan điểm đạo đức con người không có nghĩa là chỉ nghiêm khắc
đòi hỏi từ bỏ một số niềm vui cuộc đời mà đúng hơn là phải có lòng thành
tâm về một hạnh phúc tốt đẹp hơn cho con người.’’
@
Trở về cội nguồn.
Trang 107. Có người thích làm súp tôn giáo
bằng cách bỏ một vài tôn giáo hay tất cả lại với nhau rồi trộn nó lên.
Đã có
đầy đủ các tôn giáo khác nhau và riêng biệt trên thế giới ngày nay rồi,
nếu không muốn nói là quá đủ. Có cần tìm lý do tại sao ta cần tôn giáo
như một số người đang làm không? Sự thôi thúc tôn giáo có từ đâu? Ta nên
đi từ điểm gốc của vấn đề hơn là chỉ bàn ‘hoa lá cành’.
Hãy
tưởng tượng trong thời tiền sử cách đây mấy ngàn năm lúc chưa có nhà
cửa, đường sá, thức ăn ngon bổ, quần áo thời trang; cũng chưa có dụng cụ
bằng kim loại! Con người nhặt nhạnh trái cây để sống, bẫy hay săn thú
với đá nhọn chĩa bén, mặc đồ bằng da thú và đi chân trần. Cuộc sống mong
manh, hiểm nghèo, ngắn ngủi, không dễ dàng, thiếu vui thú. Họ chịu đủ
thứ tật bệnh, không thuốc men; sống trong hang hay các nơi trú ẩn làm
bằng nhánh cây với cỏ. Họ săn thú nhưng thường bị thú ăn: cọp beo, chó
sói và các loài thú dữ khác sẵn sàng ăn thịt họ. Các loại thiên tai như
lụt lội, đói khát, hạn hán, động đất, núi lửa cũng tiêu hủy họ rất
nhiều; nhân loại còn tồn tại được là điều đáng ngạc nhiên.
Sao họ
lại cảm thấy bất an bởi thiên tai mà không có khả năng ngăn chận được?
Co cụm vì sợ hãi, họ bắt đầu nhân cách hóa và thờ phượng các sức mạnh
thiên nhiên; trong sự vô minh và sợ hãi các sức mạnh đó, họ tưởng tượng
ra là các đấng thần linh đã giận dữ, quỷ thần hay thượng đế hoạt động và
cảm thấy họ là đối tượng cho sự giận dữ đó. Nhằm làm vui lòng các đấng
nầy, họ bắt đầu cúng dường phẩm vật quan trọng như cho thức ăn, cúng thú
vật. Nếu động đất hay núi lửa bớt đi, họ cho là thần thánh đã vui lòng
với sự cúng đường đó (xem Genesis, Kinh thánh Cựu ước nói về sự hình
thành thế giới, chương 4, xin các bạn tự hỏi tại sao Thượng đế lại thích
máu nhiều quá?). Nhưng nếu thiên tai tiếp tục, họ cho là thượng đế
chưa vui, thế là họ tiếp tục cúng thêm, ngay cả việc hy sinh các trẻ em
vô tội. (Hy sinh tánh mạng, trong 2000 năm qua, là điểm chính của cái
tôn giáo lớn nhất và hung hãn nhất trên thế giới hiện nay. Các tín đồ
của tôn giáo ấy không thực hành nó nhưng kẻ thành lập nó là người đã hy
sinh tánh mạng thay, theo như họ nói như vậy! Họ thay thế lý Nghiệp Quả
mà họ không-thấu-hiểu-hoàn-toàn–-đã được Paul nói ra ở Galatians, 6:7
như sau: ‘‘Đừng để bị lừa dối; Thượng đế không phải là để chế nhạo; vì
những gì người gieo thì người cũng sẽ gặt’’–-với lòng tin cứu rỗi bằng
máu của người lãnh đạo bị đóng đinh (tức chuộc tội thay cho con
người!?). Tôn giáo bắt đầu từ điểm nầy, căn nguyên là phải đi trở
lại thời kỳ tiền sử. Rễ gốc của nó là Vô Minh, rễ con là Sợ Hãi, Tham
Vọng.
Trang 108. Sau đó, con người được chọn lựa để
trở thành giáo sĩ, linh mục, cha cố, thầy tư hay giáo chủ hoặc họ tự chỉ
định để làm như vậy, đặc biệt nếu họ thông minh hơn người khác hay biết
một chút gì đó về cách chữa bệnh. Giáo sĩ trở nên có quyền hạn nhất và
được kính trọng nhất trong các xã hội cổ đại.
Thời
gian trôi qua, phép tắc hiện, lễ bái vô nghĩa làm chủ. Điện thờ (chiến
sĩ trận vong) được xây lên, sau trở thành thánh đường; huyền thoại được
dựng lên và pha chế; tôn giáo càng lúc càng phức tạp và được tinh lọc.
Các thánh thần được cúng bái như là các đấng có thật, đại diện cho giông
bão, động đất, núi non, mặt trời v.v... được cho tên tuổi và hình thức
(danh và sắc), được đặt trong các đền thờ; thờ cúng trở thành các sinh
hoạt chánh thức; con ngươì không làm được gì, nếu đầu tiên không cầu
nguyện thần thánh họ, dù đi cấy trên đồng, chuyển đi nơi khác, đi săn
thú vật, gây chiến, v.v...Mỗi bộ lạc đều có riêng một vị thần của họ
cũng như các bộ lạc chánh cũng có trong vùng. Khi các bộ lạc tiếp xúc
nhau, sự dị biệt về lòng tin, nghi thức thường gây ra xung đột; dĩ nhiên
mỗi nhóm xem thánh thần của họ và cách thức thờ phượng của họ là hay
nhất tốt nhất, như con người hiện nay vẫn làm. Lịch sử cho thấy sự dị
biệt đó đôi khi dẫn đến ‘Thánh Chiến’ và buồn thay, ngay trong thời nầy,
sự điên khùng đó vẫn tiếp diễn, được bắt đầu và đổ dầu thêm bởi sự hiểu
lầm, lo sợ, bất nhượng và sân ghét.
Trang 109. Con người đã và đang sợ các thực
tế khổ đau của cuộc đời vì vậy mới sanh ta tưởng tượng hầu giúp họ thích
nghi với chúng, thế là các quan niệm khác nhau về những gì xảy ra sau
khi chết xuất hiện. Cố gắng muốn đem lại trật tự cho xã hội, mà cũng
muốn tăng quyền lực cho mình, các giáo sĩ chi tiết hoá Thiên đàng (Địa
ngục), thưởng (phạt) trong tái sanh cho những kẻ nào theo (hay không
theo) mệnh lệnh của họ. Tôn giáo trở nên càng lúc càng trở nên áp chế và
độc quyền.
Cách
đây 2.600 năm, so sánh với Bắc Âu và các vùng khác, Ấn độ đã khá văn
minh rồi. Dĩ nhiên phần lớn đó là nền văn minh nông nghiệp và dân chúng
sống hài hòa vui sống với ruộng vườn và thờ cúng thần thánh của họ.
Nhưng giai cấp giáo sĩ (Bà la môn) có quyền lực và tham nhũng, ép chế
dân chúng đóng góp, thâu thuế cho các nơi thờ tự, dạy về tính ưu việt
của cấp giáo sĩ, cho rằng tái sanh ở các cõi trời chỉ để dành cho những
người vâng lời họ, và rằng giai cấp thấp phải phục vụ cho giai cấp cao
hơn.
Dĩ
nhiên không phải mọi người đều chấp nhận hệ thống nầy. Có sự bất mãn
khắp nơi chống lại quyền lực của các giáo sĩ; Có người chống lại những
điều dạy của họ và tìm Sự Thật theo lối khác. Một trong những người
chống lại đó thuộc giai cấp quí tộc, tuổi 29, bị các hình ảnh thực tế
của cuộc sống chung quanh ám ảnh luôn, đã từ bỏ đời sống vương giả tiện
nghi tại cung điện và đi vào rừng để tìm Sự Thật. Sau 6 năm khổ hạnh, có
lúc tưởng phải chết, cuối cùng ông đã tìm được những gì mình muốn và
người được biết đến đó là đức Phật. Phật là một danh hiệu, không phải là
tên. Nó có nghĩa là ‘Bậc Giác Ngộ’ hay ‘Người Tỉnh Thức’. Sau khi Giác
Ngộ, Ngài trình bày rõ ràng chính xác các Lời Dạy của ngài theo những gì
ngài đã tìm thấy và nhận thức. Chúng không có nói gì tới một ‘Thượng đế
Tối thượng’ tạo ra mọi vật hay có ai kiểm soát cái gì hoặc thưởng phạt
tùy theo ai đó muốn; các hiện tượng thiên nhiên không nhân cách hóa cũng
không thần thánh hóa; con đường (Đạo) để Giác Ngộ được tuyên bố công
khai cho những ai có những cố gắng cần thiết. Con đường Đạo của ngài
không cần có các giáo sĩ hay trung gian. Mọi người được khuyến khích
sống ngay thẳng thiện lành, tập luyện hướng về sự cứu độ cho mình. Nó
không cần loại cầu nguyện hay cách thờ phượng nào. Thần thánh đã bị
truất ngôi.
Trang 110. Phật giáo được dựa vào các sự kiện
yếu tố mà chúng ta có thể tự chứng nghiệm, chứ không vào sự vô minh, sợ
hãi và dị đoan. Cội rễ của nó không bị dấu diếm trong sự mờ mịt của
thời gian, không bị che dấu và u tối trong các di tích hay đồ cổ xưa. Nó
bắt đầu vào lúc có một nền văn minh đã được phát triển rất cao (cách đây
khoảng 4800 năm, nền văn minh nầy kéo dài gần 1000 năm, chung quanh vùng
sông Indus, nay thuộc Hồi Quốc, Pakistan–-xin xem trang 14 quyển ‘The
Three of Enlightenment’ cùng tên người dịch, M.T.; hay của Thầy Thích
Tâm Quang). Nó trưởng thành từ sự Giác Ngộ của đức Phật, từ kinh nghiệm
trực tiếp và quán sát khách quan về những thực tế của cuộc đời, và vì
các thực tế đó không thay đổi nên những gì đức Phật tìm thấy và chỉ rõ
là (Bây giờ và) Ở Đây cho
bất cứ ai muốn chứng nghiệm. Ngài không đặt ra một ‘Thượng đế Sáng Tạo’
để cắt nghĩa các sự vật; Ngài cũng không nói rõ cái bắt đầu của mọi vật;
Ngài cho là phí thì giờ khi thắc mắc về những chuyện đó. Chẳng ai biết,
cũng chẳng ai có thể biết cách mà các sự vật bắt đầu. Quả thật, cái
không bắt đầu từ cái không; mọi sự vật đều do kết quả của nhiều nguyên
nhân; luôn luôn có một cái gì đó trước mọi sự việc.
Đức
Phật nhấn mạnh rằng cái quan trọng là Bây Giờ ( và
Ở Đây) , vì chỉ có nó là điểm thời gian mà ta có.
Bây Giờ là cái gì? Ta có bằng lòng với các sự việc như chúng hiển hiện
ngay Bây Giờ không? Nếu bằng lòng thế thì chẳng có lý do gì để tham
muốn, để thay đổi hay để thoát khỏi chúng; nếu không thì phải tìm cách
làm một cái gì đó. Đức Phật cho chúng ta cái cách đó: đầu tiên, quan sát
cái Bây Giờ là cái Gì, Hiểu biết nó và kế đó, tạo ra (các nhân mới) để
thay đổi các kết quả mà ta không thích. Không cần cầu mong với các đối
tác bên ngoài; chúng ta phải học tập cách dựa vào mình.
$
Bắc truyền
và Nam truyền.
Trang 111. Hai từ thường gây nhiều lẫn lộn
cho Phật tử, đó là Bắc truyền và Nam truyền (Đại thừa và Tiểu thừa). Tôi
xin đưa ra một cách nhìn khác về chuyện nầy. Nó liên hệ đến cách tiếp
cận của Phật giáo đối với cuộc đời nầy.
Đại
thừa, nghĩa đen là ‘Xe Lớn’ (cho việc Cứu thế, Cứu rỗi hay Tự do, Giải
thoát) giống như máy bay phản lực chở được nhiều người. Tiểu thừa là một
từ xúc phạm có nghĩa là’Xe Nhỏ’ (giống như giày trượt hay xe đạp) chỉ
chở được một người. Những người tự cho là theo Đại thừa đã dùng để chỉ
các tín hữu theo ‘trường phái Nguyên thủy’ hay ‘Trường Lão’. Họ tự cho
như vậy là họ đã qua được giai đoạn đầu rồi. Họ nói ‘người Tiểu thừa’ là
ích kỷ, chỉ nghĩ đến việc tự cứu mình mà thôi, thay vì như họ là cứu thế
gian, cứu chúng sinh. Có sự cực kỳ tự ngã trong câu nói nầy. Dùng chữ
Tiểu thừa là dùng sai từ. Nó không nên dùng để chỉ cho người chút nào
cả. Tôi sẽ nói sau đây ‘Đại thừa’ hay ‘Tiểu thừa’ không phải là các
trường phái của Phật giáo mà chỉ là quan điểm, thái độ hay thức của tâm.
Ngày
nay, Phật giáo là cái gì hơn tín ngưỡng nữa trong phần lớn châu Á. Đại
thừa đã suy thoái thành một hệ thống cầu nguyện và sùng bái nhiều vị
Phật và Bồ tát trong đó sự hy vọng, sự sợ hãi và tính dị đoan đã nhập cư
với Vũ trụ. Không (chịu) biết đến các điều dạy của Phật về Luật Nhân Quả
và sự quan trọng cho việc phát triển tinh thần tự lợi cho mình, những
người yếu tinh thần quay sang nhờ các đấng thần thánh giúp đỡ và cứu
rỗi. Chư Phật và chư Bồ tát được tưởng tượng là rất xa đối với họ, ở đâu
đó trên bầu trời, giống như các vị thần thánh của các tôn giáo khác vậy.
Chính vì vậy, họ đã mất đi điểm chính yếu của Phật dạy: ‘‘Tự mình tinh
cần với mình’’. Giác Ngộ là cái kinh nghiệm bên trong và thân thiết với
mình, không phải là cái gì đến với ta từ bên ngoài.
Tất cả
Phật tử, không phân biệt các tông phái, nhận cái lý tưởng Bồ tát là con
đường cao nhất, vì nó là con đường của Bồ tát hạnh.
Trang 112. Sau khi đạt được mục tiêu và trở
thành một vị Phật, lúc đó ta mới có khả năng giúp người khác đắc quả
(không phải tha thứ tội lỗi và cứu vớt họ mà thành thầy cô giáo chỉ dẫn
và giúp họ mọi cách, nếu có thể, để họ đỗ đạt và tốt nghiệp; thầy cô
không thể thi dùm họ). Khi đắc quả Giác ngộ, ta không còn là Bồ tát nữa
mà là Phật có đầy đủ ‘lông cánh’. Trường hợp của Thái tử Sĩ-Đạt-Ta tính
cho đến tuổi 35, vẫn chưa hoàn toàn giác ngộ. Ngài không biết ngài là Bồ
tát dù ngài thực sự là Bồ tát. A La Hán là bậc đã theo học Pháp của một
vị Phật, đạt Giác ngộ và cái Giác ngộ (tức Niết bàn) mà ông đạt được đó
bằng với cái Giác ngộ của một vị Phật (Niết bàn là không có điều kiện,
không thứ hạng, không phân cấp). Bậc nầy cũng có thể giúp người khác
nhưng khả năng ông không bằng khả năng một vị Phật. Phật là A La Hán
nhưng A La Hán không phải là Phật, giống như Bác sĩ là đàn ông hoặc đàn
bà, nhưng không phải đàn ông đàn bà nào cũng là bác sĩ. Cả Phật và A La
Hán đều đã thoát khỏi cái xiềng xích của Luân hồi (các hiện tượng hữu
hình); họ không còn có (ý) thức gì về sự phân chia và ích kỷ. (Dĩ nhiên
tôi nói tất cả những điều nầy là theo Kinh điển chứ không phải từ kinh
nghiệm tôi).
Hầu
như ngược lại với con đường cúng bái và cầu nguyện được giúp đỡ từ một
bậc cao cả hay thần thánh, Đại thừa là con đường Đạo với sự cố gắng lớn
lao. Những người theo con đường đó không khẩn nguyện với Phật hay Bồ tát
nhưng họ sử dụng Pháp Phật để tự trở thành Bồ tát. Họ làm như vậy không
phải để chối từ thế gian mà là họ hiểu rằng họ là thế gian và rằng họ
không và không thể sống một mình cho họ được. Tự-lợi và
lo-sợ-cho-cái-ngã làm giảm đi cái cân đối của việc thấy mình và thấy
người, giống như ý thức về phân-chia và bản-ngã làm tăng lên sự lo sợ và
đau khổ cho cái ngã.
Để cho
rõ nghĩa, ta tạm chia ra 3 loại người trên thế giới: người mù quáng,
người ích kỷ và người vị tha.
Loại
người mù quáng lang thang trong cuộc đời, không biết không lo về Pháp,
chỉ lo nghĩ đến họ, hành động gần như không có lợi cho họ và chỉ đưa đến
kết quả đau khổ; họ tin rằng họ thương họ, nhưng thực ra là không. Họ
không xấu, không ích kỷ, không dại khờ; ích kỷ là cái gì trên trước họ
vì người ích kỷ ít nhất biết cách tự lo trong khi người mù quáng và
người dại khờ thì không và họ chỉ làm tổn thương họ mà thôi. Có nhiều
người mù quáng trên thế giới; thế giới lún chìm dưới sức nặng của họ.
Nếu thức tỉnh, họ sẽ thay đổi được con đường của họ.
Trang 113. Người tự kỷ tuy thấy được Pháp và
cố sống với Pháp nhưng vì trí tuệ họ không được hoàn toàn nên họ bị thúc
đẩy qua sự tự lợi. Họ tốt, không làm tổn thương người khác nhưng đó
chẳng qua là vì lo sợ hay đau khổ hay vì muốn được cái gì đó, vật chất
hay/và tinh thần. Nếu có thêm những người nầy thì thế giới sẽ tốt đẹp
hơn vì họ thực sự biết-lo-cho-mình, không giết, trộm cắp, nói dối, gạt
gẫm, gây chiến và muốn kéo dài chiến tranh, v.v...Những người điên rồ
mới làm những chuyện xấu đó. Việc tự chế không làm xấu và cái tốt của
người tự kỷ dù do bản ngã nhưng cũng làm lợi cho thế giới phần nào.
Giống như một nụ hoa, cái mức độ tốt chưa hoàn chỉnh nhưng nó là một
giai đoạn cần thiết của con đường Đạo; ta cần phải bắt đầu bằng cái ngã
hầu có sự hiểu biết và vượt lên trên nó.
Dĩ
nhiên, tính tự kỷ ở đây không được hiểu thấu toàn bộ mà nó là cái gì
tiêu cực và có khi đi ngược lại với xã hội. Loại người tự kỷ nầy có cảm
nhận ra tha nhân dù rằng họ nghĩ đến họ trước. Ta có thể gọi những người
nầy là họ đang ở trong giai đoạn Tiểu thừa. Ta không thể coi thường mà
ngược lại vẫn kính phục họ vì hó cũng là bậc cao thượng. Thường thì ta
chỉ gặp những người tự cho là theo Đại thừa và xem thường những người
theo Tiểu thừa. Quả thật là chuyện không hay và chỉ là những danh từ
rỗng tuếch.
Vượt
trên cái ngã, lên giai đoạn thứ ba đó là Đại thừa được hoàn tất qua sự
thấy biết rốt ráo là ta không sống một mình. Đời sống là cái Toàn bộ với
nhiều phần nhỏ hợp lại giống như viên kim cương có nhiều mặt. Ta không
phân cách và đơn độc mà hiện hữu hỗ tương với mọi vật khác. Và trong khi
ta bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng thuộc về cá nhân như lo sợ, đau khổ,
tuổi già, chết chóc hoặc không giác ngộ được và vì vậy vẫn ở trong vòng
Luân hồi vô tận thì đằng nầy qua Trí Tuệ, chúng ta có đủ thần lực để
khuất phục nỗi thăng trầm của cuộc đời. Ta đã thấy được hầu hết các sự
đau khổ của mình đều là do vô minh và si mê thế là ta có thể tránh được.
Quả thật là một khám phá cực kỳ quan trọng! Thay vì đi tìm các nguyên
nhân của những rắc rối từ bên ngoài mình, ta tự tìm ở bên trong! Lúc đó
trong khả năng thông đạt của mình với tha nhân sẵn sàng nghe ta, ta hãy
la to lên với mọi người rằng các xiềng xích cột chặt ta chính là cái mà
ta đã tự tạo riêng. Cái nầy, chứ không phải là một tông phái hay tư duy
Phật giáo với tâm thức phân biệt nào, mới chính là Đại thừa; nó là cái
cốt lõi, tinh túy của sự Giác Ngộ dành sẵn cho Mọi Người
Trang 114. Ta có thể theo Đại thừa nhưng với
sự thành thật khiêm tốn, không ai cần nói ra; thật ra người ấy có thể
không biết đến nó và cũng có thể khước từ nó! Không có dấu hiệu bên
ngoài để nhận ra một Bồ Tát; họ cũng không lang thang ngồi kiết già như
đã được vẽ ra trong nghệ thuật phổ biến của Phật giáo. Và nếu có vị Bồ
Tát nào muốn giúp người thì để họ giúp, ta không cần cầu nguyện đến họ;
chỉ cần ta tự đặt mình vào vị trí của người được giúp đỡ bằng cách giúp
người khác trước. Nếu ai không tự chuẩn bị theo cách nầy, người đó không
có lý do gì để nhận sự giúp đỡ từ người khác. Phải cho trước rồi mới
nhận, gieo giống trước khi thu hoạch. Đây là điều hiển nhiên ai cũng
biết, phải không?
Kết
luận: Đại thừa và Tiểu thừa là thái độ, quan
niệm của tâm hay thứ bậc của thức chứ không phải là tông phái, trường
phái của Phật giáo.
%
Không làm cho ai cả.
Trang 115. Dù tôi được dạy là phải kính trọng
người lớn tuổi nhưng tôi không trọng sự kiêu mạn nơi bất cứ ai, bất kể
tuổi tác của họ.
Có
nhiều hạng người khác nhau trên thế giới. Đi đây đi đó để nói chuyện,
tôi không chỉ gặp nhiều hạng người thân thiện nhưng cũng gặp một số thô
lỗ. Số sau làm nổi bật số trước và ngược lại. Có người cố ý thô lậu và
cũng có người vô tình. Cũng chỉ vì họ không biết cách làm sao cho đẹp
hơn; họ không biết và vì vậy có thể được chỉ dẫn.
Tôi
thường cố gắng cắn môi không nói gì khi gặp họ nhưng cũng có lúc phải
nói vì họ. Trong muôn một, tất cả chúng ta đều phải học hỏi nhau và việc
giải nghĩa tại sao thô lậu là điều không đúng có thể là một hành động
của lòng bi mẫn. Và tại sao thô lậu lại không đúng? Ta không thích người
khác thô lậu với ta nên ta phải cố gắng không thô lậu với người khác:
giản dị như vậy, không có gì khó hiểu, phải không?
Cách
đây vài năm, tại thành phố Samaylian, tôi gặp một kẻ ba hoa dùng thì giờ
của mình để khoe tài biết của mình. Tôi gặp ông ta vài lần trong năm.
Mỗi lần gặp tôi là mỗi lần ông nói như búa bổ. Chẳng quan tâm đến việc
hỏi han, ông đã quên rằng ông có 2 lỗ tai và 1 cái miệng thay vì ông làm
ngược lại.
Cuối
cùng vì chán chuyện nầy cũng như nản việc phô trương hiểu biết Pháp của
ông, tôi từ chối không tiếp chuyện ông ta nữa dù rằng ông có lời yêu
cầu. Thời giờ của tôi tốt hơn nên bỏ ra cho những người thành thật muốn
học. Vã lại tôi cũng cần có thời giờ nghĩ ngơi vì tu sĩ không phải là
‘tài sản công cộng’. Tôi sẵn sàng đi đến những nơi nào các tu sĩ khác
không đến được, nếu tôi nghĩ tôi có thể giúp ai đó hiểu được Pháp một
chút–-tôi cũng có thể đi đến Mỹ, cái xứ quá kích động! Nhưng tôi không
phải là đầy tớ và cũng không muốn được đối xử như vậy.
Trang 116. Tôi vừa mới được yêu cầu nói
chuyện ở thành phố đó một lần nữa. Khi đến, tôi được cho biết là ông ta
tẩy chay tôi và sẽ không tham dự các buổi nói chuyện của tôi và rằng nếu
tôi muốn ông ta đến dự thì phải có lời yêu cầu ông. Tôi nói: ‘‘Nói với
ông rằng đừng nín thở chờ tôi mời vì chuyện đó sẽ không bao giờ xảy
ra!’’ Ông ta không tới nhưng tôi chẳng màng; thực sự tôi mong ông tẩy
chay tôi những lần trước vì ông chẳng được cái gì nơi tôi. Tôi bắt đầu
nói chuyện bằng cách hỏi quí thính giả đến đây để thấy tôi hay để học
Pháp. Họ nói, như tôi đã hy vọng, rằng họ đến để nghe Pháp. Tôi nói:
‘‘Vậy thì ta nên bắt đầu. Người nói Pháp, cá nhân ông ta hay cuộc đời
của ông ta, nên được để qua một bên; cái quan trọng là những gì ông nói.
Để cho chắc chắn, bạn phải lắng nghe cẩn thận và dùng trí phân biệt của
mình thay vì chỉ tin vào nó mà thôi. Đừng đến đây chỉ vì tôi và nghĩ
rằng các bạn đang làm chuyện đặc ân cho tôi thay vì cho chính bạn. Dĩ
nhiên là tôi có đề mục quan trọng để nói, nếu không thì tôi đã chẳng đến
đây; nhưng điều đó không có nghĩa là nó quan trọng cho bạn; chỉ có chính
bạn mới tự quyết định nó quan trọng hay không’’.
Nếu
ông Già Ba hoa đó nghĩ rằng việc tham dự của ông là một đặc ân cho tôi
thì tốt hơn ông không nên đến thì mới thực là làm ơn cho tôi! Cái ‘mất’
của ông (đáng lẽ ông có thể ‘được’, nếu cái tâm của ông rộng mở thêm một
chút) là cái’ được’ của tôi: nhờ ông tránh xa tôi!
Cuối
năm 1997, tôi làm một chuyến nói chuyện ở miền Đông Mã lai. Sau vùng
Sandakan, vị chủ tịch Hội Phật Giáo công khai nói với tôi rằng ông đã
yêu cầu ai đó ở Kualar Lumpur gởi cho ông một băng nói chuyện của tôi
(để xem tôi có thích hợp cho nhóm của ông không; rõ ràng đây là ‘tiêu
chuẩn’ của ông; ông ta đã kiểm duyệt hay thanh lọc tôi rồi đấy). Ông ta
hơi bối rối khi nghe tôi nói: ‘‘Vâng, tôi vui mừng là đã đậu được kỳ thi
của ông đặt ra’’. Sau đó tôi có viết, yêu cầu ông xem có thể cấp chứng
chỉ chấp nhận được không và nếu được thì xin ông gởi cho tôi một bản.
Tôi đợi.
Trang 117. Bẵng đi một thời gian, tôi cảm
thấy cần thiết phải nói ra cái gì đó có liên quan đến việc sắp xếp các
buổi thuyết Pháp. Quả thật là phiền khi phải nói ra chuyện nầy. Nhưng vì
tôi không nghe ai nói vì vậy tôi phải nói dù biết rằng có người sẽ
không thích nó. Vâng, thật tệ nhĩ.
-Có
một vài điều kiện liên quan về vấn đề thuyết Pháp. Nó phải có, nếu không
thì sẽ không có thuyết Pháp. Mục đích của một bài thuyết Pháp là để
hướng dẫn con người giác ngộ; vì vậy nó không nên được xem nhẹ; nó là
một hình thức cần phải có.
-Vị
Chủ tịch của Tổ chức không phải chỉ là người giàu có, mua chức vụ đó mà
phải là người có khả năng với sự hiểu biết và biết chăm lo về Pháp Phật.
Ông ta nên làm gương cho những người đã bầu mình bằng cách tham dự nghe
thuyết Pháp. Việc hiếm khi tham dự chứng tỏ phải có cải thiện. Thường
chỉ khi nào có vị thầy nổi tiếng thuộc hàng giáo phẩm thì mới thấy các
vị Chủ tịch tham dự. Rõ ràng là họ xem trọng Người hơn là xem trọng
Pháp. Điều nầy không đúng. Chúng ta nói Pháp là Bảo vật,
vậy ta phải hiểu và xem nó như vậy chứ không phải xem Pháp là rác rưới!
-Đúng
giờ là điều tốt cần được vun trồng như là một phần của việc hành Pháp.
Một buổi thuyết Pháp nên được bắt đầu đúng giờ qui định và không nên xem
nó nhẹ hơn một chương trình truyền hình như Hài kịch Jade, Gia đình Jade
(một chương trình Hồng kông nổi tiếng được xem phổ biến hằng ngày tại Mã
lai). Nó làm giảm giá trị Pháp Phật đi. Nếu người nghe không cố gắng đến
đúng giờ chứng tỏ họ không thích thú lắm. Người ta khi đi làm thì cố
gắng đến đúng giờ hoặc khi đi xem hát bóng thì đến trước giờ chiếu vậy
thì tại sao họ ‘từ từ’ đi nghe Pháp Phật? Đây là một thói quen có thể và
nên diệt nó đi.
Trang 118. -Cần có người chỉ số ghế trong
thính đường xem họ ngồi đàng hoàng chưa trước khi mời Pháp sư lên giảng.
Người giảng không phải đợi người nghe. Và trong khi nghe giảng, thính
giả nên lắng nghe và không nói chuyện nhau hoặc đứng lên đi vòng quanh.
Có người đứng lên đi ra ngoài khi họ không bằng lòng với ‘chuyện thần
tiên’ mà họ mong đợi. Họ tự làm giảm giá trị và mất đi cơ hội có thể học
tập của mình. Nhiều người cho là phước đức khi chỉ cần tham dự nghe
giảng Pháp mà không cần lắng nghe. Chỉ tham dự thôi không đủ mà cần phải
nghe và hiểu. Nếu không chịu nghe mà chỉ lo nói chuyện với nhau thì
tưởng là làm phước nhưng thực ra là gây tội. Nếu vậy thì tốt hơn là nên
ở nhà vì nói chuyện không chỉ tỏ ra bất kính mà còn làm phiền người khác
không được nghe giảng trọn vẹn. Vẫn có thời giờ cho họ nói chuyện với
nhau sau buổi giảng đặc biệt là có giờ hỏi đáp.
-Điện
thoại di động nên được vặn tắt trong buổi giảng để tránh gián đoạn: cái
đầu óc nặng nề thường ngày nên để ở ngoài với đôi giày.
-Nói
về thông lệ, vật phẩm cúng dường của Hội Phật Giáo cho Pháp sư: đầu
tiên, không có giá cả cho một bài Pháp vì vậy vật cúng dường không phải
là một hình thức trả công mà chỉ là vật kỷ niệm nhớ ơn. Tuy nhiên, hình
như các vật phẩm cúng dường thường đặt trên căn bản thứ bậc giáo phẩm,
mức độ nổi danh, v.v... của giảng viên cùng với số lượng ít nhiều. Điều
nầy không đúng. Nên được đối xử bình đẳng. Những gì cho một người cũng
là những gì cho tất cả; không nên có sự phân biệt từng cá nhân. Các tu
sĩ hành tụng trong các nghi lễ không nên được cúng dường nhiều hơn các
tu sĩ làm giảng viên vì đây là sự rất bất kính đối với Pháp Phật
và vì vậy làm hại người cúng dường.
Trang 119. Nếu tôi phải giữ vai trò Ngài Tiêu
Diện (Ông Ác) là chỉ vì tôi bắt buộc phải làm như vậy. Về chính trị, nếu
không có người phát ngôn đối lập, chúng ta sẽ thấy nhiều điều lạm dụng
hơn nữa. Vậy thì đây là điều lành mạnh và cần thiết. Tôi không đòi hỏi
cho tôi cái gì hơn là sự đối xử bình đẳng, không hơn không kém, và chỉ
cố gắng điều chỉnh một vài kém khuyết mà tôi đã thấy được. Tôi ở vào
hoàn cảnh phải làm vì tôi không có chùa riêng để phải lo. Nếu có, tôi sẽ
không được tự do hoàn toàn để nói những gì tôi nên nói mà chỉ nói những
gì làm vui lòng người ta để được họ ủng hộ. Phật Pháp lúc đó sẽ ‘thoả
đáng’ và mọi người sẽ bị mất mát.
@
Mặt
Tối Đen của Lịch-sử Ki-tô-giáo: Helen Ellerbe
Ta nên
biết rằng giáo phái thờ đức mẹ đồng trinh Mary chỉ có sau nhiều thế kỷ
bị khủng bố tôn giáo và cố gắng thất bại của Giáo hội Ki tô giáo để tiêu
diệt các giáo phái tự nhiên bị coi là tà giáo và thờ phượng Mẹ-Nữ thần.
Cuối cùng nhận ra là không thể thành công, Giáo hội hợp thức hóa sự thờ
phượng mẹ Mary tại Hội đồng Ephesus năm 431, chấp nhận sự hết lòng phụng
kính. Nhiều lần, với mưu chước, Giáo hội sửa đổi một số nguyên tắc để
được, đúng hơn là bắt buộc, các người cải đạo.
‘‘Có
một điều đáng quan tâm là Ki tô giáo đối với phái nữ đã khai trừ bất cứ
hình ảnh nào có dính líu tới các khía cạnh quyền lực nhất của Nữ thần và
có bộ mặt giống bà già phù thủy khôn ngoan. Ba gương mặt thần thánh nữ
phái phổ biến trong các giáo phái trước Ki tô giáo là Đức Mẹ Đồng trinh,
Mẹ và Phù thủy. Mary là hiện thân của 2 người đầu. Còn người phù thủy,
đại diện cho sự tổng hợp của quyền lực và trí tuệ nữ phái, bị khai trừ
khỏi các kinh điển thần thánh của Ki tô giáo. Sự bác bỏ của Giáo hội về
bà phù thủy có ý nghĩa ở chỗ là gương mặt phù thủy sau đó tượng trưng
cho kẻ thù tối hậu của Giáo hội.
@
Sự thật chứ
không phải tưởng tượng.
Trang 120. Muốn cho công bằng, chắc chắn
chúng ta phải dẹp bỏ tất cả các hệ thống một chiều chỉ ủng hộ các phe
phái đặc biệt, và đi tìm sự cân bằng trong cuộc sống Tự nhiên. Sự quan
tâm về ô nhiễm môi trường và bảo vệ các nguồn tài nguyên là một điều tốt
và đúng hướng vì nó tạo cho mọi người hợp tác với nhau. Có thể ngành
sinh thái học sẽ là tôn giáo tương lai vì con người càng ngày càng ý
thức hơn rằng chúng ta chia xẻ quả Địa cầu Tốt đẹp của mình với vô số
các hình thái sinh vật khác, học để sống chung với chúng chứ không phải
sống dựa vào chúng. Chúng ta có nhiều thứ để học từ Thiên nhiên.
Vì ‘ỷ’
là đi thẳng đứng được 2 chân nên ta đã làm mất đi tính liên hệ với Thiên
nhiên, tự xem đứng riêng với nó thay vì là một phần của nó. Vì thế,
chúng ta đã cố gắng làm chủ và kiểm soát nó, đến nay thì thấy mình ở
trong tình trạng rối bời! Chỉ khi nào thấy mình là một phần trong sự
liên hệ với cái Toàn thể thì ta mới hiểu ta thêm. Tiếc là ta đã cắt đi
sợi dây đó và sống tách rời thì làm sao ta hiểu được ta rốt ráo? Ta có
vô số các thuyết lý và triết lý cho cuộc đời nhưng nếu muốn tìm Chơn Đế
ta phải nhìn vào Thiên nhiên chứ không vào con Người và ý tưởng của nó
vì Thiên nhiên không quên Chơn đế.
Thiên
nhiên là trung tâm của Phật giáo chứ không phải là cái tôi của Phật
Gotama. Chơn đế không phải là Con Người hay Sinh vật. Đức Phật không bao
giờ nói: ‘‘Ta là Con Đường, là Chơn Đế, là Cuộc Đời’’ mà ngài chỉ
cho ta Con Đường để tự tìm Chơn Đế cho mình. Ngài cắt nghĩa về Cuộc Sống
không có cái ta. Ngài nói về ‘Ba Sự Thật Phổ Biến Trong Cuộc Đời’ tức
‘Tam Pháp Ấn’ mà không ai, nếu có cái nhìn khách quan không thiên kiến,
không thể bác khước được. Sau đây là một đoạn trong Kinh ‘Định luật Vạn
Pháp’ thuộc Kinh điển Pali:
Trang 121. {Tôi được nghe như vầy: Một thời
Bậc Thế Tôn đang ở Savatthi tại vườn ông Trưởng giả Cấp Cô độc của Thái
tử Jeta. Lúc đó Đấng Thế Tôn đã nói như sau với các Tỳ kheo: ‘‘Này các
Thầy Tỳ kheo’’. Các Tỳ kheo đã trả lời với Ngài: ‘‘Bạch Thế Tôn’’. Ngài
nói tiếp: ‘‘Này các Thầy Tỳ kheo, có Như Lai (Đức Phật dùng chữ Như Lai
để chỉ về ngài; có nghĩa là: ‘Người đã đến như vậy’), hay không có Như
Lai, cũng đều có sẵn ‘Định luật Vạn Pháp’. Đó là tất cả hữu vi Pháp đều
Vô thường. Như Lai là hoàn toàn hiểu biết, là trọn vẹn tỉnh thức
điều đó. Người đã tuyên bố, chỉ cho thấy, thiết lập, giảng rõ và làm
sáng tỏ: Tất cả hữu vi Pháp đều Vô thường.
‘‘Này
các Thầy Tỳ kheo, có Như Lai hay không có Như lai, cũng đều có sẵn ‘Định
luật Vạn Pháp’: Tất cả hữu vi Pháp đều là Bất Như Ý (Khổ).
Như Lai là hoàn toàn hiểu biết, là trọn vẹn tỉnh thức điều đó. Người đã
tuyên bố, chỉ cho thấy, thiết lập, giảng rõ và làm sáng tỏ: Tất cả hữu
vi Pháp đều Bất Như Ý (Khổ).
‘‘Này
các Thầy Tỳ kheo, có Như Lai hay không có Như Lai, cũng đều có sẵn ‘Định
Luật Vạn Pháp’: Tất cả hữu vi Pháp đều là Vô Ngã. Như Lai là hoàn
toàn hiểu biết, là trọn vẹn tỉnh thức điều đó. Người đã tuyên bố, chỉ
cho thấy, thiết lập, giảng rõ và làm sáng tỏ: Tất cả hữu vi Pháp đều
Vô Ngã.
Bậc
Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỳ kheo hoan hỷ với những lời Ngài nói}
Đây là
Tam Pháp Ấn (Ba Sự Thật Phổ Biến). Nhờ sự nhận ra và hiểu biết chúng,
Thích Ca Mâu Ni mới thành Phật, Giác ngộ và Giải thoát.
Vô Thường:
Mọi
vật sau khi hình thành đều hướng đến sự tan rã: có hợp thì có tan, có
xây thì có phá, có sinh thì có tử.
Trang 122. Cố bám vào các sự thay đổi ấy đều
gây ra đau buồn, thống khổ. Trong tất cả các cuộc diễn trình có vẻ như
hội chợ trên quả Địa cầu nầy, không có cái gì không thay đổi và trôi
qua. Dù được sinh ra dưới một hình thức nào, kết quả tự nhiên không
tránh được của cái sinh đó là cái tử. Vì thế, một người thông minh lợi
dụng các cơ hội của mình để tìm Chơn Đế ngay khi còn sống trên thế gian
nầy; người ấy không mong tìm Chơn Đế sau khi chết.
KHÔNG-NHƯ-Ý (DẬU -KHƯ):
[LND:
Xin quí độc giả, học giả hay hành giả lưu ý điều sau đây, sẽ cảm ơn hơn
nếu được hồi ứng của quí vị.
1. Từ
trước đến nay hầu hết chúng ta hay biết đến chữ ‘khổ’. Gốc của chữ nầy
được dịch từ tiếng Pali ‘dukkha’. Nó có rất nhiều nghĩa chứ không phải
chỉ có một nghĩa rốt ráo tột cùng là ‘khổ’. Tiếng Anh dịch chữ ‘dukkha’
là ‘suffering’ và nhiều chữ khác là ‘ill, evil, unsatisfactoriness,
unrest’. Chữ ‘dukkha’ gồm tất cả năm nghĩa (nghĩa đầu thì phổ cập, hai
nghĩa kế xin để quí vị suy nghĩ và cho biết ý kiến, hai nghĩa sau tôi
tạm dịch là: không-như-ý, không-yên-ổn).
2. Tôi
để nguyên chữ ‘dukkha’ (âm ra tiếng Việt là ‘dậu khư’ để dễ đọc) không
dịch vì tính nhiều nghĩa của nó mà để tùy cái ‘TÂM’ cái ‘THỨC’ cái ‘MỨC
SUY NGM’ của mình muốn hiểu sao thì hiểu miễn là trong phạm vi của tất
cả các nghĩa của nó. Hai chữ khác mà người Việt mình ai cũng biết trong
vô số các chữ về tâm linh của Đông phương không được dịch là âm Niết-bàn
(Nibbana, Nirvana) và âm A-la-hán (Arahat, Arhat)]
Dậu-Khư (Không-Như-Ý)
Dậu-Khư là âm Việt được phiên âm từ chữ ‘dukkha’ của tiếng Pali. Nếu
hiểu tường tận chữ ‘dukkha’ (dậu-khư), ta sẽ hiểu ý đức Phật tại sao
muốn dùng nó. Ngài nói: Sanh là dậu-khư; Lão là dậu-khư; Bệnh là
dậu-khư; Buồn rầu, Than vãn, Đau khổ, Chán nản là dậu-khư; Ái (mà) biệt
ly, Oán (mà) hội ngộ là dậu-khư; Cầu (mà) không được, Được những cái
không cầu (ngũ ấm thạnh?) là dậu-khư. Và Chết là cái dậu-khư cuối cùng.
Nói chung, nói đến tình trạng hay điều kiện vật chất là nói đến dậu-khư.
Ngài
tiếp tục dạy rằng nếu phải dùng chữ bất như ý (dậu-khư) thì ta vẫn có
khả năng chấm dứt nó mà không còn mong muốn gì, trong sự buông bỏ, từ
khước, thoát khỏi sự mong cầu và không vướng mắc.
Và
ngài gọi con Đường dẫn đến tình trạng nầy là Niết bàn. Ta có thể thực
chứng được nó ngay trong đời nầy chứ không phải là một tình trạng hay
nơi chốn nào xa vời sau khi chết. Con Đường đó gồm 8 bước được gọi là
Bát Chánh Đạo: 1. Chánh Kiến (Tri); 2. Chánh Nguyện (Vọng); 3. Chánh
(Ngôn) Ngữ; 4. Chánh (Hành) Nghiệp; 5. Chánh Mạng; 6. Chánh Tinh tấn; 7.
Chánh (Ý) Niệm; 8. Chánh Định (Tâm).
Con
Đường của Đức Phật tức Bát Chánh Đạo là Con Đường Trung Dung của tâm An
bình, đuốc Trí tuệ, kho Hiểu biết và huệ Giác ngộ.
Trang 123. Vô Ngã
Không
sự gì vật gì tự nhiên mà có; mọi sự mọi vật hiện ra tùy thuộc các yếu tố
khác nhau; chúng lưu lại một thời gian sau đó không còn nữa. Chẳng có gì
độc lập; mọi thứ tùy thuộc vào nhiều thứ khác; thật vậy, nếu nhìn sự vật
thật rõ ràng, chúng ta sẽ thấy rằng chúng đều liên quan nhau, nối kết
nhau. Nó có nghĩa là sự tương quan tương tác và tương hữu: sự hợp nhất
của đời sống. Vì vậy tình huynh đệ không phải là một ý tưởng trừu tượng
hay một giấc mộng xa vời mà là một điều có thực. Tuy nhiên thường là
trong thực tế, ta lại không thích thấy nó mà chỉ thích sống ngược lại
với nhau.
Con
Đường của đức Phật (Phật Đạo) không cần tin, chỉ cần thực hành và áp
dụng một cách sáng suốt thông minh. Thực vậy, niềm tin được xem là
chướng ngại và trái lại với những gì nhiều người nghĩ, Tin và Tín có
nhiều di biệt. Tin thì không có Trí; Tín thì có Trí trong đó, Tín là tin
vào cái gì đó mà ta có chút Tri thức và Kinh nghiệm về nó (Đây là ví dụ
về sự khác nhau của Tin (Belief) và Tín (Faith): Hỏi người Ki tô giáo là
họ tin (belief) có quỷ Sa-tăng, cósự-xấu-xa-và-là-kẻ-thù-của-thượng-đế
(the Devil) không, thì hầu hết đều trả lời là ‘Có’. Nếu tiếp tục hỏi họ
có tín (faith) nơi quỷ Sa tăng hay không thì tôi rất không chắc là họ
cũng sẽ trả lời có.
Từ
điểm nầy, ta có thể thấy rằng Phật Đạo không đặt trung tâm cá nhân Phật
mà đặt chung quanh Sự Thật vừa không thể chối cãi vừa hữu hình và thực
chứng được. Nó là Con Đường rõ ràng, dân chủ và không độc thuyết. Nó là
Ở Đây và Bây Giờ. Chỉ có một đòi hỏi là chúng ta phải đi (đều bước)
với nó.
@
Thư cho người Thầy cũ.
Trang 124. Thầy Ravencroft thân mến,
Tôi
không viết cho Thầy đã lâu nên nay xin có một số điều xin nói với Thầy.
Thầy có phiền không nếu tôi kể lại những chuyện mà tôi thường nói với
các người tỵ nạn trong trại tại đây?
Khi
còn nhỏ tôi ghét đi học, không phải vì tôi khờ hay không có khả năng mà
chính vì tôi không thích bị người ta bắt đi học. Tôi hư nghịch lắm, đôi
khi lại bỏ học; có thể tôi là người học trò hư nghịch nhất trong trường.
Tôi không nghĩ được ai có thể hư nghịch hơn. Tôi bị đòn nhiều lần. Rời
trường tôi rất vui. Bây giờ sau nhiều năm tôi nhận ta rằng tôi chưa bao
giờ rời trường học mà thật ra là tôi vẫn ở trường nhưng cái trường mà
tôi hiện học chỉ có mái che mà không có tường chung quanh: nền trời là
mái che. Có sự khác nhau giữa bây giờ với ngày trước. Tôi thích học-tập.
Đời tôi mỗi ngày là sự phiêu lưu, là một hành trình các điều khám phá
mới lạ.
Tôi
học-tập rất nhiều từ Thầy đã lâu, trong đó một vài điều chỉ mới xảy ra
cách đây vài năm. Thầy đã chẳng cắt nghĩa cho tôi rằng những gì không
có trong bức tranh cũng quan trọng ngang như những gì có trong đó.
Điều nầy được nói đến trong triết học Đông phương, đặc biệt là Trung
hoa. Giống như những khoảng trống giữa các nốt nhạc hoặc giữa các vần
trong chữ: nếu không có các khoảng trống sẽ có sự mơ hồ vô nghĩa. Thưa,
Thầy có bao giờ nghiên cứu Triết Đông chưa?
Tôi
viết thư nầy nói lên sự biết ơn trễ tràng của tôi với Thấy về các cố
gắng kiên trì của Thầy với tôi (ngay cả chuyện roi vọt cũng là điều tốt
cho tôi mà đúng ra là tôi nên nói: đặc biệt là chuyện bị đòn). Phải có
thời gian cho một hột giống nẩy mầm và phát triển. Không thể có ngay một
cái cây kết trái ngay. Nhìn lại không biết tại sao tôi không bị đòn
thêm. Tôi đáng bị thêm lắm. Bây giờ thì tôi đang ở trong tình trạng của
Thầy ngày trước, tôi đang hiểu cái khó khăn nó như thế nào khi giữa vai
trò là người thầy cố gắng truyền đạt kiến thức cho người khác. Bây giờ
người ta gọi tôi là ‘Thầy’, mong tôi biết những gì họ không biết. Vâng,
tôi cảm thấy cần phải nói ra là chúng ta nên phá bỏ đi cái thói quen
luôn luôn chờ đợi để được dạy và với tất cả sự khiêm tốn mà thành một
người học hỏi, học tập. Nó khác với vai trò của người học sinh, phải
không Thầy? Tôi cảm thấy, mỗi một sự một vật gì đó luôn cho chúng ta
biết một cái gì đó; chúng ta có nên luôn nghĩ rằng tất cả kiến thức đều
nằm trong một người hay một số người không? Các môn thuộc khoa học tự
nhiên mà ta đã có ở trường là những bài học tuyệt vời; tôi chỉ mong rằng
sẽ có thêm nhiều môn nữa.
Trang 125. Có một lần tôi muốn là thầy giáo
dạy sử nhưng không thành. Bây giờ dù nhận ra rằng cái hiện tại dựa vào
quá khứ của nó, giống như cái đỉnh tuyết ở trên chóp núi nhưng tôi đã
mất sự thích thú về lịch sử đã được ghi lại. Nói cho cùng thì lịch sử
(history) cũng có một phần của ‘câu chuyện (chủ quan) của mình’ trong đó
(his story): nó thường có thiên kiến và bị vặn vẹo. Để chắc hơn, có
nhiều việc ta có thể và nên học tập từ quá khứ để sống cho hiện tại. Chỉ
có một ngày 6-8-1982: nó trôi qua, không thể trì kéo lại và cũng không
thể thay đổi, trước đó không có một ngày như vậy, sau nầy cũng không có
một ngày như vậy. Cuộc đời, tuy với tất cả sự đau khổ và giả huyễn của
nó, vẫn còn đáng sống, miễn là chúng ta học tập được cái gì đó, lúc đó
chúng ta sẽ không từ giã nó với tay không.
(Trại Tỵ nạn Bataan, Phi luật Tân, 6-8-1982)
***
Tôi
xin cập nhật hóa một chút. Tôi trở về nước Anh cuối năm 1985. Đầu năm
1986, đi thăm ông Ravencroft, tôi thấy ông đã già yếu và run rẩy đến độ
không nhận ra tôi. Tôi thì nhớ ông và đây là điều quan trọng; tôi nhớ và
tận mặt đến cảm ơn ông đã giúp tôi hiểu cái gì đó. Tôi từ giả ông, cảm
thấy may mắn đã gặp ông lại.
Trang 126. Mười năm sau, tôi lại trở lại nước
Anh và đến thăm làng quê tôi. Nơi đó tại sân nhà thờ trong số các bia mộ
cổ xưa phủ đầy cỏ rêu, tôi thấy một bia hoa cương mới cho biết đây là
nơi an nghĩ của người thầy cũ và vợ ông. Tôi lặng nhìn một lúc để tưởng
niệm ông.
Từ lúc
tôi viết bức thư vào năm 1982 đã có nhiều thay đổi. Một trong những sự
thay đổi đó là sự quan tâm của tôi về lịch sử, bởi vì mặc dầu nó ít có
sự thật hơn ngày trước, nhưng quá khứ là một tài sản quí báu cho mỗi
chúng ta. Chúng ta có thể tạo nên cái ý nghĩa của cái hiện tại bằng cái
phương tiện của quá khứ; nếu không nó chẳng có ý nghĩa gì cả.
Hiện
tại là quá khứ với một chút thêm thắt; nếu không, sẽ chẳng phải là hiện
tại. Có thể chúng ta chuẩn bị nó như một bờ san hô, được dựng lên chậm
chạp và khó có thể nhận ra bởi vô số san hô tí hon. Quá khứ đã qua như
nhiều người nghĩ. Nó vẫn còn ở đây, nói với ta và dạy ta bằng nhiều
cách; chúng ta khá mắc nợ nó. Như đã được nói tới nhiều lần trong quyển
sách nầy, chúng ta hoàn thành được gì thì cứ hoàn thành, không phải chỉ
do cố gắng riêng của mình mà còn nhờ những người khác trước ta; chỉ do
ta, một mình, cô lập, chúng ta không làm gì được. Là một thành viên của
cộng đồng nhân loại giúp ta có cảm hứng để đóng góp bất cứ cái gì có thể
cho sự tiếp nối sang trang.
*
‘‘Một
thời đại được coi là Đen tối không phải vì ánh sáng nó không chiếu được
mà vì con người từ khước chuyện thấy
nó’’.
James A. Michener: Không gian
(Thời
được gọi là Mạt Pháp không phải vì Phật Pháp ‘mạt vận’ nhưng vì con
người không chịu học tập Chánh pháp)
* * *
Không Tranh
Đua, Không Vội Vã.
Trang 127. Thỉnh thoảng có người hay hỏi:
‘‘Thầy làm tu sĩ được bao nhiêu năm rồi?’’, hay ‘‘Bà ăn chay bao lâu
rồi?’’ hoặc ‘‘Anh giữ được bao nhiêu giới?’’, v.v...Những câu hỏi nầy
không đẹp không khéo vì nó ngụ ý so sánh, đo lường hoặc phán đoán.
Trên
đường Đạo, chúng ta không tranh đua với ai, không chạy đua để xem ai
thắng, ai giỏi nhứt, ai thánh thiện nhứt, mà chỉ cố gắng tự cải sửa và
trong khi làm như vậy tức là cải thiện cộng đồng thế giới.
Người
ăn chay phải cẩn thận đừng trở nên tự hào là ta ăn chay, nếu không thì
sẽ mất cái phước mà họ đã có từ chuyện ấy. Thực tế là họ không làm gì
tich cực mà chỉ ngưng làm chuyện tiêu cực (đó là chuyện ăn thịt), tuy
điều nầy có một ảnh hưởng tích cực ít nhất là cho thú vật. Kiêng ăn thịt
vì làm như vậy là đúng chứ không phải là do tư tưởng ‘làm công đức’,
hoặc để cho có sức khỏe hơn. Làm đúng không phải là lý do để tự hào.
Thật
buồn cười khi ngay cả trong các tổ chức tôn giáo, con người lại đấu
tranh và âm mưu để đạt các địa vị quyền lực và thanh thế. Làm và hãnh
diện như vậy tức họ đã làm tiêu tan toàn thể mục đích của việc theo
Pháp. Thường thì một khi có quyền lực và địa vị, họ xao lãng làm công
việc của địa vị đó đòi hỏi hoặc lạm dụng quyền lực đó. Tôi đã thấy quá
thường các chuyện ‘xoay trở’ để có bất cứ chức vụ nào đó trong các Trại
Tỵ nạn, bất kể là họ có khả năng tư cách hay không. Trước đây trong nước
của họ, có thể họ đã giữ những địa vị cao cấp, rồi khi trở thành người
tỵ nạn, cảm thấy là không chịu nổi với sự xuống cấp trở thành dân giả.
Tôi thấy họ trong các Ủy ban trong chùa của Trại Tỵ nạn, không biết gì
về Phật giáo, không làm gì cho chuyện truyền bá giáo pháp nhưng lại
không chịu nhường bất cứ chức vụ nhỏ nhoi nào để cho những người có khả
năng khác đảm trách. Họ giống như gà giò muốn làm đại bàng. Đại bàng có
thể bay xuống đất để ngóng trông bằng con mắt của gà, nhưng gà chỉ có
thể bay lên cao chút ít mà không thể nhìn phía dưới với cặp mắt đại bàng
được. Cũng giống như anh bán cá vào nhà thương tự xưng là bác sĩ giải
phẫu: anh ta có thể xẻ cá giỏi nhưng không thể nào có khả năng trình độ
để mổ xẻ bệnh nhân. Có thể chuyện làm văn phòng của những người không có
đủ trình độ nầy là một trong những lý do mà họ đã làm họ mất nước. Đến
lúc nào thì người ta mới học thấy chuyện nầy?
Cây
sai quả cành trĩu xuống. Cây không quả cành thẳng cứng. Cũng vậy, khi
lòng tự hào con người ‘sai trái’, họ ngẫng đầu lên, trong khi những
người đạt chút ít quả trên con đường Đạo thì họ không xấu hổ mà hạ đầu
xuống!
&&&
Thật là tệ!
Trong
góc của một sở thú Anh quốc, có một tấm kiếng đúng tầm kích với câu sau
đây: Bạn đang ngắm nhìn một con thú nguy hiểm nhất thế giới, để
nhắc cho bất cứ ai nhìn vào sẽ nhớ rằng loài người nguy hiểm hơn bất cứ
loài vật nào khác.
Chúng
ta giết nhau, điều mà trong thế giới loài vật (giống vật nầy có thế giết
giống vật khác nhưng ít khi nó giết cùng giống với nhau). Loài người
cũng gây ô uế rác rưởi cho hàng triệu dặm vuông trên đất liền và làm ô
nhiễm biển cả, giết hàng triệu chim muông, côn trùng, cá và các sinh vật
khác.
Đã có
đủ lý do cho tất cả chúng ta cố gắng thêm để giúp duy trì các tài nguyên
quí giá của Trái đất.
@
Chùa là gì?
Trang 129. Mỗi một người xem ngôi chùa là một
nơi với ý nghĩa khác nhau sau đây:
- nơi
công cộng giống như công viên dùng để nghỉ ngơi, chụp hình, gặp bạn, ăn
uống, xả rác, v.v...
- nơi
được miễn phí một vài thứ
- nơi
có thể đổi giày dép cũ thành mới
- nơi
‘khoe’ địa vị, quyền lực, danh tiếng
- nơi
để làm công đức, nơi để đốt một rừng nhang tạo khói thánh
-
nơi để cầu xin, hạ mình, thỉnh cầu cứu nạn,
tìm các con số may mắn, thi đậu, đỏ tình, v.v...
- nơi
cho sự an ủi, khuây khoả, đơn độc; tránh xa các rắc rối và áp lực ở nhà
và nơi làm việc.
- nơi
học tập được sự ích lợi ứng dụng vào cuộc sống ngoài đời (chỉ một số ít)
Ngày
nay, mặc dầu đã có các tín ngưỡng truyền thống tôn giáo nhưng số người
công khai tự nhận không theo tôn giáo đã tăng nhiều, con số nầy tiếp tục
tăng. Các khuynh hướng nầy tụ lại thành 2 phe:
Đời
sống thời nay đã trở nên mau lẹ và phức tạp. Ta có thể cho là máy móc.
Nhiều người trong chúng ta cảm thấy khó thích ứng với tốc độ thay đổi
nầy. Thật dễ hiểu tại sao chúng ta trở nên xa lạ, chán nản và loạn thần
kinh. Vì cần tìm một cái gì để bám trụ nên có người ẩn dật tìm về quá
khứ, về những gì tổ tiên có, hầu tìm lại sự vững mạnh và an lạc, đặc
biệt từ nơi tôn giáo. Đây là lý do tại sao ta thấy có sự trổi dậy các
‘‘Trào lưu Chính thống’’, bám chặt vào các hình thức cổ đại được xem là
các thành phần vượt thời gian và rất cần thiết của tôn giáo với sự tin
tưởng rằng các câu trả lời cho tất cả các vấn nạn của hiện tại và tương
lai đều nằm trong đó. Nhưng, nếu có chuyện, điều nầy chỉ làm tăng các
vận nạn thêm thôi vì trước nhất là các thực tế của cái hiện tại thường
bị bỏ qua và tránh xa vì chỉ nhìn đàng sau thay vì phải nhìn phía trước.
Thứ hai, sợ hãi bám chặt vào các tư tưởng và niềm tin cũ, điều không may
là lại thường bám hơn là không bám và không có căn cứ, lại làm phân rẽ
con người tạo thêm xung đột và vấn nạn. Vì vậy cho đến ngày hôm nay
chúng ta vẫn còn có ‘Thánh Chiến’ hay ‘Tử vì Đạo’. Các ‘Trào lưu Chính
thống’, như cố Ayatollah Khomeini của nước Ba-tư và những người nối
nghiệp thường là các người cuồng tín nguy hiểm và trong một thế giới mà
các hậu quả khủng khiếp có thể đem lại cho con người bởi các ngón tay
ngứa ngáy trên các nút bấm, các ý tưởng đơn độc mà cho là đúng trong khi
những người khác thì đương nhiên là sai, suy nghĩ ra thật là đáng sợ.
Trang 130. Rất nhiều vấn nạn trên thế giới có
thể trực tiếp nhận thấy qua sự suy nghĩ nông cạn là ‘Tôi đúng, anh sai’.
Những người thuộc Trào lưu Chính thống (Đạo) ít khi có quan điểm
căn bằng về cuộc Đời và tự họ hay làm cho người khác để ý đến bầu
nhiệt huyết không mệt mỏi để ảnh hưởng và gây nhiễm tư tưởng của họ cho
người khác. Trong lãnh vực chính trị, người cộng sản là thí dụ điển hình
nhất cho việc nầy trong thời đại ta; trong khi ở lãnh vực tôn giáo thì
cũng rất rõ ràng để nói là ai thắng giải nầy mà không cần phải kể tên ở
đây.
Đối
với những người hoàn toàn phản bác tôn giáo vì bất cứ lý do gì hay những
ai không quan tâm một chút nào về tôn giáo thì phải nói là tôn giáo
không ảnh hưởng chút nào cả đối với những người nầy. Nếu họa chăng có
khi nào nghĩ đến thì họ chỉ nhún vai cho rằng lỗi thời và không liên hệ
gì cho ngày hôm nay. Đây cũng là một cực đoan nhưng tôi hiểu và thông
cảm với những vị có các suy nghĩ nầy hơn là với các vị của Trào lưu
Chính thống. Nhiều người đã ‘uống’ quá ‘đô’ nên ngán ngẫm các giáo điều
và mê tín không biện giải được vì tôn giáo đã cố gắng áp đặt họ nhưng
thất bại. Các sự việc nầy bị phản bác, bị xem là lỗi thời không thể được
chấp nhận là rất đúng.
Trang 131. Tuy nhiên đôi khi người ta ‘‘bỏ
con nít và đổ cả nước’’ ý nói đến sự khước từ toàn bộ những gì có liên
quan đến tôn giáo; họ bỏ cả tốt lẫn cả xấu. Nhưng họ không thể bị buộc
có trách nhiệm cho chuyện nầy vì thường đây chỉ là phản ứng chống lại
quá khứ. Đây là tùy thuộc vào công việc ‘dọn dẹp nhà cửa’ của các lãnh
tụ các giáo phái, dọn dẹp từ trên xuống dưới, đem tôn giáo tương xứng
với các kết quả của khoa học đương đại và tâm lý học (hay ít nhất, không
giữ nó đi ngược lại với khoa học). Càng sớm làm điều nầy, toàn thể thế
giới sẽ càng mau tốt đẹp.
Tôn
giáo và Khoa học đã ly dị và chống nhau từ bao lâu nay, mặc dầu thực sự
không có lý do tự nhiên nào cho chúng chống; chính vì Tôn giáo thường
đòi hỏi lòng tin tưởng mù quáng vào những sự những việc mà nó không
chuẩn bị hay không có khả năng chứng minh. Bây giờ thì, trong Thời đại
Không gian, sự cần thiết kết nối lại khoảng trống nhân tạo giữa hai lãnh
vực lớn lao của sinh hoạt con người cấp bách hơn bao giờ hết.
Đã qua
rồi- cũng là may!- cái thời mà Tôn giáo ra lệnh tín hữu của họ suy nghĩ
và hành động theo họ. Tuy nhiên buồn thay nhiều người không biết phải
làm sao với chữ tự do thình lình đến với họ nhờ kết quả của những người
khác tạo ra. Trong số những người đó, sẽ có người tốt đẹp hơn nếu họ
không được cung cấp tự do vì có nó họ sẽ làm hại hơn là làm lợi cho nhân
quần xã hội (Chứng kiến các hành động cử chỉ của một số khán giả người
Anh tại các trận đấu bóng tròn, cho ta thấy rõ ràng đây là sự lạm dụng
của tự do). Dân chủ là một cái gì mà nhiều người rõ ràng là không sẵn
sàng với nó giống như chó không có khả năng trân quý kim cương; chúng đã
được phục vụ với đĩa ăn thay vì chúng phải tự kiếm ăn mới đúng.
Trang132. Trong một phần lịch sử châu Âu
‘thời Trung cổ’ (Thời Trung cổ trải dài từ cuối thế kỷ thứ V đến ít nhất
là năm 1150 {có sách nói 1350, có sách nói 1500. M.T.) và mãi đến cuối
thế kỷ 17, các Giáo hoàng La mã duy trì quân đội riêng của họ và thỉnh
thoảng sai khiến họ ra chiến trận! Nhưng ngày nay, tôn giáo đã mất móng
vuốt và mất cả quyền lực và trong nhiều trường hợp đã bị tách rời ra
khỏi quyền lợi của nhà nước. Tuy nhiên, nó vẫn có vai trò rất quan trọng
và có lợi trên thế giới, chỉ mong rằng tôn giáo đó sẽ không tiếp tục
sống trong quá khứ.
Trong
nhiều năm các cố gắng của tôi truyền đạt giáo Pháp phần chính là cho
người Á châu, vì tôi cảm thấy rằng người Tây phương nếu muốn học Pháp sẽ
dễ dàng hơn người Phật giáo Á châu. Tại sao tôi cảm thấy như vậy? Không
phải vì tôi sợ Á châu (Tôi thì không nếu không muốn nói ngược lại!).
Cũng không phải vì tôi nghĩ người Tây phương thông minh hơn hay tốt đẹp
hơn bất cứ người Á châu nào. Đó là vì, nếu người Á châu muốn học về Phật
giáo thì họ phải phấn đấu với bao nhiêu là truyền thống và dị đoan cũ kỷ
đã tích tụ chung quanh nó qua nhiều thế kỷ và đôi khi chỉ có chút ít
hoặc chẳng chút nào liên hệ đến Phật giáo! Một thí dụ điển hình của
chuyện nầy là việc đốt giấy tiền vàng bạc đủ mọi thứ giả với lòng tin
rằng người chết sẽ được những thứ thiệt ở thế giới bên kia. Có một lần ở
Malacca, tôi chứng kiến việc đốt một hoàng cung giả với đầy đủ đồ ‘phụ
tùng’ và quần-áo-của-người-hầu (chế phục),v.v...trị giá 4.000 đô la Mỹ!
Tuy nhiên, các tu sĩ trong chùa đó không làm gì trong việc cản ngăn sự
dị đoan hoang phí tốn kém vô ích nầy: sự im lặng của họ ngầm tán trợ sự
tiếp tục.
Nếu
một người Á châu muốn hiểu biết Phật học thật khó vã lại biết bắt đầu từ
đâu. Quả thật nhiều người, vì không thích điều tra cặn kẽ, có thể không
ý thức được sự bắt đầu có tính cách vàng thau lẫn lộn nên chấp nhận cái
toàn thể mà không nghi ngờ gì cả. Phải nhận rằng, ‘cái không biết đôi
khi là niềm vui sướng nhất (‘không có vô minh cũng không có hết vô
minh..’ tức ‘vô vô minh diệc vô vô minh tận’,...:‘Bát nhã Ba la mật đa
Tâm Kinh’; hoặc, ‘‘ Where ignorance is blissful....M.T.), và con người
có vẻ ‘đạt’ an ủi, khuây khoả, mãn nguyện từ đó. Nhưng Phật giáo không
phải là như vậy. Người trẻ ngày nay và mai sau có chấp nhận sự việc mà
không thắc mắc không? Có dấu hiệu cho thấy nhiều người Á châu sống ở
phương Tây hiện đang có cơ hội chiều theo những tham muốn mà trước đây
họ chưa thỏa mãn, họ sẽ trở nên vật chất hơn người phương Tây. Nhiều
người từ bỏ văn hóa và tôn giáo của họ để chạy theo lối sống Tây phương
mà không chịu tìm hiểu nó trước. Tôn giáo có liên hệ gì đến những kẻ cơ
hội nầy không? Nhiều người không đến chùa trừ khi có thân nhân hoặc bạn
bè qua đời. Nhưng họ có thể bị trách cứ không, khi hầu như không ai chăm
lo hoặc cắt nghĩa đầy đủ cho họ.
Trang 133. Người ta nói Khổng Tử đại khái đã
nói như sau: ‘‘Nếu bạn thương người mà người không thương lại, hãy nhìn
lại cái thương đó’’, tức nói đến cái khả năng tự kiểm và tự kỷ của ta.
Các nhà lãnh đạo tôn giáo nên cố gắng hơn trong việc hiểu người thay vì
muốn người hiểu mình hoặc hay nói: ‘‘Ừ, thời mạt pháp mà, làm gì được?’’
Phật
giáo là con đường dựa vào Chuyển, Đổi, Thay, Dịch. Các hình thức của nó
đã thay đổi, chuyển dịch trong quá khứ nhiều lần và cũng sẽ thay đổi,
chuyển dịch trong tương lai. Tuy nhiên nếu bản thể vẫn còn thì điều đó
không hề hấn gì. Giữa hình thức Phật giáo Việt-Hoa với hình thức Phật
giáo Ấn độ nguyên thủy, chẳng hạn, có rất nhiều dị biệt. Điều nầy cũng
không ngạc nhiên vì Phật giáo giống như một dòng nước ở trên đầu nguồn
nó hoàn toàn trong sạch. Khi lần chảy xuống dưới hạ lưu, nó có thêm
những dòng sông nhỏ nhập vào, dần dần rộng lớn hơn cùng với các thứ loại
khác như lá cây, đá sỏi, củi mục, bùn lầy, đất cát, thú chết và đôi khi
có thể có những cục vàng. Tất cả chảy ra biển, lúc đó dòng nước không
còn tinh sạch như trước mà có đủ thập loại bẩn thỉu nhiễm ô. Làm sao mà
không như vậy được. Cửa biển quá xa cội nguồn, xa cả thời gian lẫn không
gian.
Trang 134. Hiện nay càng ngày càng ít người
đi chùa đều đặn. Trong số nầy nhiều người trước đây đã từng đi chùa
thường. Nếu hỏi lý do tại sao, có thể họ nói lá quá bận và không có thì
giờ. Đây chỉ là một lý do; có những lý do khác không nói ra. Tôi chắc
chắn. Tôi chịu nhận là lối sống Tây phương, chẳng những thấy rõ ở phương
Tây mà còn ở các phương khác, rất nhanh mau và sôi nổi cuồng nhiệt.
Nhưng tôi không nhận rằng nó không phải là cái cớ để đổ thừa cho tất cả
các rắc rối của chúng ta; không là một điều công bằng khi đổ lỗi cho lý
do bên ngoài đối với mọi chuyện xảy ra; ta nên nhìn gần ta hơn để thấy
thêm các nguyên nhân. Nhiều người Á châu thay đổi rất nhiều sau khi sống
ở phương Tây một thời gian; tôi đã nghe người ta than phiền là họ thấy
bạn bè đã thay đổi nhiều sau khi họ gặp lại chỉ một vài năm sau.
Chúng
ta Thay đổi, vâng–mọi việc Thay đổi, Thay đổi thường xuyên–nhưng ta có
phải luôn luôn là nạn nhân của Thay đổi và thoái hóa, hoặc
có thể ta hiểu biết và sử dụng sự Thay đổi ấy để tiến hóa
và trở nên tốt lành hơn? Một con tàu không bánh lái sẽ bị sóng gió vùi
dập, nếu có bánh lái nó sẽ được điều khiển đi bất cứ hướng nào mình
muốn.
Trong
nhiều năm tôi đã nói rằng mỗi chùa nên có–để cân bằng với cái thùng
‘Phước Điền’ có mặt khắp nơi trong chùa–thùng Góp ý. Người ta sẽ viết
góp ý hoặc than trách về ngôi chùa, có hay không có tên tùy họ muốn. Với
cách nầy, như là một hệ thống đân chủ, mọi người cảm thấy rằng họ có
tiếng nói trong các sự việc trong chùa. Ủy ban nhà chùa có thể biết được
người của chùa mình muốn gì (nó cũng có tác dụng như là một sự ngăn chặn
các sự lạm dụng quyền hành của những người có chức quyền).
Nhân
đây cũng nên phân biệt sự khác nhau giữa Chùa và Tu viện: Tu viện dành
cho cho Tu sĩ, được kiểm soát và điều hành bởi họ, không bởi ai ngoài
họ. Chùa thì khác. Chính yếu là cho đại chúng cư sĩ. Chùa là nơi để thờ
phượng và học tập. Chùa điều hành bởi đại chúng và thuộc về cộng đồng
Phật giáo nói chung không phải của cá nhân. Tu sĩ ở Chùa làm việc trong
khả năng của một vị cố vấn tâm linh cho đại chúng. Vai trò của họ rất
cao thượng, vì vậy họ được gọi là ‘Thầy’; đại chúng mong được học hỏi
‘con đường Phật đi’ nơi họ. Chùa không thuộc giới Tu sĩ, giới đã theo
đuổi triệt để cuộc đời không nhà cửa, cũng không trông mong nơi nào
khác.
Trang 135. Sự phân biệt giữa Chùa và Tu viện
nên được nói rõ vì nhiều người không hiểu, đã dựa quá nhiều vào giới Tu
sĩ (thay vì Pháp), xem họ không thể thiếu được. Tôi đã từng ở nhiều chùa
không có tu sĩ. Người ta nói với tôi rằng họ rất buồn vì không có các
thầy tại đấy. Lúc nào được nghe than thở như vậy, tôi cắt nghĩa cho họ
không nên lo mà nên tự học hiểu Phật Pháp không nên chờ ai tới dạy mình.
Nếu có vị thầy nào ở đó chỉ dạy rồi thầy đi có thầy khác tới thì tốt hơn
nên có cùng một thầy ở đó vài năm. Có người chán nghe một thầy dạy mà
chỉ muốn nghe cái gì mới. Nó giống như dùng một món hoài trong một bữa
ăn, ngày này qua ngày khác; dù có ngon mấy đến đâu ta cũng sẽ ngán và
muốn món khác.
Không
phải, như vài người nông cạn nghĩ, tôi chống nhà tu và nhà chùa. Tôi
nghĩ vai trò tu sĩ và nhà chủa vẫn rất quan trọng. Nhưng cho tôi nói rõ
ràng là nó quan trọng như thế nào: Tu sĩ là thầy dạy, Chùa là trường
học. Chùa phải là nơi người ta đến học tập đường đi của Phật (nhưng dĩ
nhiên là chùa không phải là nơi độc nhất mà ta có thể học được chuyện
đó). Một tu sĩ nên có khả năng giúp người ta thấy rằng Pháp (Phật) có
khắp nơi chứ không phải chỉ có ở chùa. Vị đó nên lo đến việc giúp người
ta trở nên tự túc bằng cách hiểu biết và dựa vào Pháp mà không dựa vào
người nào. Thực vậy, mục đích của vị ấy nên là ‘học là dạy và dạy là
học’. Vị ấy không cần bao giờ lo chuyện đó xảy ra hay không. Chúng ta
hiểu biết chẩm rải, từ chút một chứ không hiểu liền cái toàn thể được.
Trang 136. Có người từng nói với tôi rằng anh
xem chùa là bệnh viện, là nơi người ta tới để được trị bệnh. Và vì anh
không bệnh nên anh không cần tới. Theo cái ví von của anh, tôi đáp:
‘‘Bệnh viện thì cần bác sĩ và y tá chữa bệnh nên nếu anh cảm thấy không
cần đến đó trị bệnh thì có thể tới đó để phụ giúp người khác trị bệnh
cách nầy hay cách khác’’. Có thể nói rằng khi chúng ta đã học hết những
gì đã học ở chùa thì không cần tới đó nữa nhưng đó là ích kỷ nếu ta nghĩ
như vậy. Ta vẫn có thể tới nhưng trong vai trò người thầy hay Pháp hữu
đối với những người còn đang học. Bạn đã thấy đó, mặc dù tôi có những ý
tưởng khác hơn người khác về chùa chiền, nhưng tôi không xem nó là không
quan trọng; đó là lý do tại sao tôi dựng 2 chùa ở tại Trại Tỵ nạn
Bataan ở Phi luật tân.
Vị
lãnh đạo dân Tây tạng lưu vong, tức Đức Đạt lai Lạt ma đã được giải
thưởng Nobel qua công sức tìm cách giải phóng Tây tạng ra khỏi Trung hoa
bằng các phương tiện hoà bình. Trong quyển ‘‘Khai mở một Ý thức mới’’,
Ngài nói:
‘‘Mỗi
chúng ta đều có trách nhiệm đối với nhân loại. Đây là lúc chúng ta nghĩ
đến người khác như là anh chị em ta đồng thời nghĩ đến hạnh phúc cùng
với sự giảm thiểu sự đau khổ của họ. Dù rằng bạn không thể hy sinh quyền
lợi riêng của mình một cách hoàn toàn, bạn không nên quên việc nghĩ đến
tha nhân. Ta nên nghĩ đến tương lai và phúc lợi của tất cả nhân loại.
‘‘Lại
nữa, nếu bạn cố gắng dẹp dần các động lực ích kỷ như giận buồn v.v...và
phát triển lòng từ bi với người khác, tức khắc bạn sẽ hưởng lợi hơn lúc
bạn không nghĩ đến. Vì vậy, đôi khi tôi nói rằng một người ‘tự kỷ’ khôn
ngoan nên thực hành cách nầy. Người ích kỷ không khôn ngoan luôn luôn
nghĩ đến họ và kết quả là tiên cực. Hạng người thứ nhất nghĩ tới tha
nhân, giúp người hết mình và kết quả là chính họ cũng được hưởng phước.
Trang 137. ‘‘Đây là tôn giáo đơn giản của
tôi. Không chùa, không triết lý phức tạp. Riêng bộ não, trái tim ta đủ
là chùa của mình, triết lý là có (tấm) lòng’’.
Những
chữ tuyệt vời. Nó không mâu thuẫn với những gì tôi nói về chùa. Chùa
phải là nơi con người có thể học tập ý nghĩa của những chữ trên của đức
Đạt lai Lạt ma. Ngài sống ở chùa mà, phải không?
John
Lennon buồn rất nhiều với các phần tử bảo thủ thuộc các tôn giáo với bài
ca, ‘Imagine’, trong đó anh hát:
‘Hãy
tưởng tượng rằng không có quốc gia,
Đâu có
khó tưởng tượng đâu;
Chẳng
giết chóc, chẳng chết cho ai,
Và
cũng chẳng có tôn giáo’’.
Đây là
Pháp. Rất có ý nghĩa. Nhưng cũng chính Pháp nầy dẫn John Lennon đến cái
chết!
Tùy
các nhà lãnh đạo chùa chiền, nhà thờ giúp tín đồ hiểu và tự hiểu họ rằng
nếu họ làm thì họ sẽ không mất sự hỗ trợ. Thực vậy nếu muốn cho người
khác có cái nhìn mới mẻ và tươi sáng về đạo lý (tôn giáo) tức giúp cho
họ thấy rằng nó không phải là nơi giống như bảo tàng viện (hình như từ
trước tới nay là như vậy!) thì các vị trên sẽ được sự hỗ trợ do kết quả
là đã sống theo đúng với thời mà chúng ta đang sống.
Chúng
ta phải theo thứ tự ưu tiên. Tôi không xem việc mua chuông giá 22.000 đô
la Úc ở Sydney, cũng không xem việc ‘thỉnh’ một bộ kinh sách Phật chữ
Hoa tốn hàng mấy ngàn đô la cho một chùa Việt nam ở Melbourne là ưu
tiên. Vì rất ít người có khả năng đọc nó. Trong tương lai lại càng ít
hơn nữa. Việc sở hữu kinh sách Phật học hoặc việc có khả năng nhớ hay
tụng thuộc lòng một phần trong đó sẽ không đem lại kết quả gì vô hình.
Khi nghe người ta nói kinh nầy kinh nọ ‘rất hay’, ‘rất đạt’ tôi thấy vui
vui, hiểu được cái hiệu quả chống lại sự nguy hiểm và rủi ro; họ hỏi
nhau: ‘‘Ông có biết tụng kinh Pháp hoa không?’’, hoặc ‘ ‘Chị có tụng
được Kinh Thủ lăng nghiêm không?, v.v...Đây không phải là mục đích của
kinh điển Phật giáo chút nào; bằng lối hiểu biết như thế, chúng ta đã hạ
kinh điển xuống hàng vô nghĩa đối với các thần chú và nghi lễ.
Trang 138. Thực sự phải cố gắng ‘giải mật’
tôn giáo nếu việc đó có liên hệ tới tương lai chúng ta; phải cố gắng
loại trừ các thành phần ma thuật và dị đoan nếu không muốn tiếp tục mất
lợi thế hay chỗ đứng của mình. Điều cần thiết là phải trình bày sự việc
bằng ngôn ngữ đại chúng suy nghĩ, nói năng hằng ngày. Có lợi ích gì khi
biết ngoại ngữ mà không biết ý nghĩa chúng? (Tôi đã đọc đâu đó một nam
nhân Trung hoa gặp một phụ nữ Hoa kỳ tại một buổi tiệc buổi chiều và, vì
thấy bà ấy mang một mề đai đồng sáng chói với hàng chữ Hoa trên đó, hỏi
bà có món đồ nữ trang ấy từ đâu. Sau khi cho biết bà tình cờ mua nó tại
một tiệm bán đồ cũ tại Hồng kông và rất thích nó, bà mới hỏi nam nhân
cho biết nghĩa các chữ đó. Hơi miễn cưỡng và mắc cở, anh nói: ‘‘Thành
phố Thượng hải. Nhà thổ có phép’’. Đây là một di vật tù những ngày tiền
cách mạng!
Để
chấm dứt, tôi xin nói rằng những điều được viết ở trên, giống như tất cả
bài viết khác, chỉ là ý kiến của tôi về các sự việc; tôi không cho là
chúng đại diện cho ‘Phật giáo chính thức’, dù rằng nó có thật như vậy.
Vì thế coi chừng đừng vội chấp nhận các ý tưởng đó rồi nhận chúng như là
của bạn mà không suy nghĩ cho sâu; nếu bạn chấp nhận liền tôi cũng không
‘lên chân’ hay ‘phổng mũi’ đâu mà sẽ xem bạn là dại. Nếu bạn tỏ ra cố
gắng đọc hết bài nầy, tôi muốn xin bạn suy nghĩ các sự việc đó một cách
rõ ràng và cẩn thận và tự hỏi xem là chúng có đúng hay hữu ích cho bạn
hay không.
@
Nghỉ ngơi đi.
Trang 139. Tại sao chúng ta luôn cắt cuộc đời
nầy thành ra từng mãnh nhỏ: cái bình thường, cái đặc biệt, cái thế gian,
cái siêu thế gian, cái thánh thiện, cái phàm trần? Bộ cuộc đời nầy nó
chia ra như vậy hay tại ta nhìn nó như vậy?
Chúng
ta tự tra tấn mình với hết tư tưởng nầy đến ý tưởng nọ để rồi không bao
giờ thấy sự vật rõ ràng. Chúng ta tiêu phí thời giờ lục lọi tìm tòi tiền
bạc và tự làm nhọc thân mình trong việc theo đuổi đó. Kế đó lại tìm thời
giờ ‘đi nghĩ mát’. Ta ít biết chữ đó là nghĩa gì mà cứ cho nó là một
ngày không cần làm việc. Bạn có biết nghĩa chữ đó không? Nó có nghĩa là
‘Holy day’.
Hầu
hết chúng ta nghĩ chỉ có một vài ngày được xem là ‘Holy days’ trong mỗi
năm, có nghĩa là những ngày mà ta xem nó là đặc biệt và có ý nghĩa tôn
giáo quan trọng hơn cả. Nhưng đây chỉ là do suy nghĩ mà ra thôi. Thực ra
không có ngày nào quan trọng hơn ngày nào. Thí dụ, hôm nay là ngày
28-9-1998. Có bao giờ có ngày 28-9-1998 nào trước ngày hôm nay không? Và
sẽ có ngày 28-9-1998 nào sau nầy không? Không, chỉ có ngày 28-9-1998 hôm
nay mà thôi. Và đó là những gì đặc biệt, quan trọng và linh thiêng. Hôm
qua thì đã qua, ngày mai không bao giờ tới; Chúng ta chỉ có ngày hôm nay
và vì thế nên xem nó là một ngày linh thiêng (holy day). Làm việc hay
không làm việc, ở nhà hay đi nghĩ mát không làm thay đổi cái sự kiện nó
là đặc biệt và vì thế nó là một ngày linh thiêng, thánh thiện.
Cũng
vậy, mỗi năm có 365 ngày, và mỗi một ngày đều có ý nghĩa tôn giáo; tùy
chúng ta sinh hoạt trong ngày đó với ý nghĩa tôn giáo. Tôn giáo không
nên bị giữ trong tủ với quần áo đẹp đẽ, chỉ đem chưng ra vào những ngày
dặc biệt rồi lại bỏ vô tủ trở lại với long não mà nó phải là một vật
bình thường, hằng ngày và đặc biệt.
Pháp
(tức giáo luật, giáo pháp, giáo lý, giáo tông,
giới đức, tôn giáo, lời dạy) nên là trung tâm cuộc
sống của chúng ta trong đó tất cả các sinh hoạt hằng ngày đều quay chung
quanh nó chứ không phải một chút ở điểm nầy một chút ở điểm kia, hoặc
chĩ thỉnh thoảng suy nghĩ đến Pháp; nó nên là cái gì điều chỉnh nhẹ
nhàng đời sống chúng ta.
Trang 140.
Hôm nay giống như mãnh đất mới nơi đó chưa có ai đến
Đầy các sự vật để học tập, vui hưởng, khám phá và thám hiểm.
Sáng
ra khi thức dậy, ngạc nhiên thấy vẫn còn sống, ta nên đối diện ngày đó
với một tinh thần phiêu lưu, sẵn sàng khám phá và học cách cho.
Có
người nói: ‘‘Đời tôi chán phèo, chẳng gì thú vị xảy ra cho cuộc đời
tôi’’. Dĩ nhiên điều nầy không phải đúng; cuộc đời không bao giờ chán
phèo; ngược lại chính chúng ta mới là chán phèo, là dại, không thấy sự
vật tuyệt vời chung quanh chúng ta; như thể là ta đang ngủ dù rằng mắt
mở.
Và
giống như ngày nào cũng là ngày đặc biệt tức không có ngày nào đặc biệt
hay quan trọng hơn ngày nào trừ khi ta muốn ‘khiển’ nó, cũng vậy, người
nào cũng là người đặc biệt bởi vì người đó là người đó mà không phải là
người khác. Chúng ta là như vậy, là đặc biệt như vậy mà không cần làm gì
hoặc cố gắng làm cho ra vẻ đặc biệt. Tuy nhiên vì ta không thấy nó là
như vậy (Không Chánh Kiến), nên chúng ta không bằng lòng nó đặc biệt
theo cách của riêng ta vì vậy ta cố gắng làm cho nó đặc biệt, và
vì thế chúng ta không đặc biệt, vì nhiều người cũng đều làm như
vậy: cố gắng làm cho đặc biệt, khác thường và hay hơn người khác. Không
cần cố gắng để đặc biệt; chỉ cần khám phá bạn là ai. Bạn không phải là
tôi; tôi không phải là bạn. Hãy là mình!
Và,
trước khi đi ngủ, tự xét lại các diễn biến và sinh hoạt trong ngày sắp
trôi qua. Nếu bạn đã sống tốt bạn sẽ ngủ một cách bình yên với một nụ
cười trên gương mặt của mình, nghĩ rằng: ‘‘Tôi may mắn đã sống qua được
một ngày và tôi vẫn còn sống!’’
Một
cuộc đời sống cho đúng đem lại sự mãn nguyện tinh thần hoặc tâm linh;
một cuộc sống không đúng và phí phạm là nguyên nhân của sầu khổ.
@
Khó tin
Trang 141. Thật là rất ngạc nhiên khi Thánh
kinh Ki tô giáo đầy lỗi lầm và mâu thuẫn thì nhiều tín đồ lại tin đó là
‘Lời Chúa’. Đây là sự thành công của phép lạ Ki tô giáo: là con người
thì phải tin nó một cách tuyệt đối!
Chẳng
hạn, lấy lịch sử gia phả của chúa Giê su, được rút ra từ chương đầu của
quyển thứ nhất của Kinh Tân Ước (tôi xin thêm một chuyện nữa trong Thánh
Luke, trong đó tổ tiên của Chúa được tìm thấy trở lại ngay từ đầu là
Adam, người đầu tiên! Xin độc giả tự thấy sự mâu thuẫn bất nhất
của hai nguồn kinh nầy). Nó được truy tầm từ Abraham qua David, tới
Joseph, chồng của mẹ Mary, mẹ của Giê su. Tín đồ Ki tô giáo đã gắn bó sự
kiện rất quan trọng nầy, xem nó là điều tiên tri có thể xem là hoàn mãn
nhất. Nhưng họ cho Mary là nữ trinh (phái Thệ phản -Tin lành- cũng cho
là như vậy nhưng sau nầy thì không nhận) và mang thai Giê su một cách
siêu phàm, có nghĩa là bằng cách khác hơn với cách nhờ qua một người đàn
ông! Đây chính là điểm mâu thuẫn, vì nếu Giê su được thụ thai như vậy
thì gia phả của chúa phải được truy tầm theo họ mẹ chứ không thể theo họ
cha! Bây giờ cái nào đúng: chúa là con cháu của Abraham và David qua
Joseph hay chúa được sanh từ một nữ trinh? Không thể đúng cả hai vì cái
nầy đúng thì cái kia không đúng, phải không? Thế là ở đây ngay trong
chương đầu của quyển kinh căn bản của Ki tô giáo đã có sự bất nhất rõ rõ
ràng ràng. Nếu mỗi lời trong Thánh kinh là lời của Chúa, như nhiều Ki tô
hữu tuyên bố như vậy, tại sao có nhiều sự mâu thuẫn mà nhiều học giả
chỉ ra và rất dễ thấy cho nhiều người đọc quyển kinh ấy?
Gina
Cerminara, trong ‘Trí tuệ của Thời đại Bảo Bình’ đã nói trong trang 114,
tựa đề: ‘‘Được sanh từ nữ trinh là chuyện phổ biến trong các tôn giáo
ngoại đạo’’. Phật, Zoroaster, Krishna được các tín hữu sau nầy cho rằng
họ đã được thụ thai một cách kỳ diệu và do các nữ trinh sanh ra. Ý tưởng
đó rõ ràng là để thiết lập tính thánh thiện cho họ. Cũng cùng một số
phận như vậy đã áp dụng cho Giê su, người luôn luôn tự xưng là Con của
Chúa. Nhưng đấy là để làm vui lòng và gây ấn tượng cho những kẻ ngoại
đạo đã cải qua đạo Thiên chúa mà các thần học gia tuyên bố Giê su sanh
từ một trinh nữ’’. (Tiếng Hebrew –almah–trong một đoạn nổi tiếng
trong Isaiah [7:14] có chữ ‘trinh nữ’, lấy ra từ đoạn tiên tri ‘Nữ trinh
sanh Giê su’. Ngày nay một vài đoạn Thánh kinh hiện đại đã dịch chữ
almah đúng nghĩa của nó là ‘người phụ nữ trẻ’ chứ không phải là
‘trinh nữ’)
Trang 142. Bây giờ, Mary rõ ràng đã có một số
con cái khác sau Giê su. Cũng có thể chúng có trước Giê su. Các tín đồ
Ki tô quá nhiệt tình đến độ vẫn giữ hình ảnh Mary thánh thiện; có một
Giáo hoàng tuyên bố nàng là ‘Nữ Trinh muôn đời’’; các kẻ khác lần lượt
cho nàng là ‘Mẹ của Chúa’ hoặc ‘Nữ hoàng trên Thiên giới’ (và đương kim
Giáo hoàng John-Paul đệ nhị, có vẻ sắp tuyên bố bà là ‘Người Đồng Cứu
rỗi với Giê su’), càng ngày càng đi xa thực tế. Chỉ sau khi Mary chết
những người mưu trí và lừa lọc ban cho bà những tước hiệu nầy. Họ có các
quyền lợi bất di bất dịch khi làm như thế. Phần còn lại của đại chúng Âu
châu lúc đó là dốt nát, dễ bị lừa, quá nhút nhát và dễ bị dọa nạt nếu
nói ra điều gì chống đối hoặc bất đồng với quyền lực Giáo hội.
Tuy
nhiên, bây giờ thì khác. Khác ở chỗ ta có tự do được nói ra và đặt vấn
đề. Quyền tự do nầy đã được mua một cách rất đắt từ những người khác.
Nhưng đây không có nghĩa là ta sẽ luôn luôn có quyền nầy mãi mãi. Nó có
thể mất vì lịch sử đã lập lại nhiều lần như vậy. Chúng ta có thể đắm
chìm trở lại vào những thời kỳ như Thời Đại Tối Tăm, không giống
như thời kỳ Cộng sản chỉ kéo dài vài thập niên. Nó kéo dài cả ngàn năm
trong lịch sử quá khứ trong đó Giáo hội Ki tô là ngôi quyền lực đầy ưu
thế và độc đoán giống như bạo chúa. Quyền tự do ta hưởng hiện nay ở
phương Tây, mà các nước khác vẫn còn đang tranh đấu để giành lấy, không
nên để bị tước đi một cách dễ đàng mà phải nên được dùng để cố gắng
hiểu biết và củng cố thêm. Như vậy nó sẽ không bị mất dễ dàng và chúng
ta không trượt vào một lần nữa vào sự tối tăm về văn hoá và tâm linh.
Quyền tự do là tài sản quí báu nhất của ta và ta nên cố gắng ‘giác ngộ’
ra điều nầy trong khi có nó, vì nếu để mất nó, chúng ta chỉ còn có khóc
than cho sự ngu muội của mình là đã không gìn giữ nó kỹ lưỡng hơn. Bây
giờ thì ta có đó nhưng.................
Trang 143. Trong nhiều thế kỷ, Thiên chúa
giáo Âu châu đã chịu đựng nặng nề dưới sự khủng bố của ‘Tòa án xử người
Dị giáo’ của Giáo hội, cả trăm ngàn người đã bị tra tấn, bị thiêu sống
và tài sản bị tịch thu bởi một Giáo hội không bao giờ biết thỏa mãn.
(LND: trang 424, quyển 17 Kiến thức Chiều Sâu, Encyclopaedia Britannica:
‘‘...Những quốc gia còn lại ở Âu châu-trừ Tây ban nha-không thấy có một
lý do nào để chấp nhận quyết định của Giáo hoàng và kết quả là chiến
tranh tàn bạo và thường xuyên ở tại các thuộc địa xa xôi, ngay cả
khi các chánh quyền Âu châu chính thức có hòa bình với nhau). Các cuộc
‘Thệ phản (Tin lành) Cải cách’ đã xử trí cũng không kém phần tàn bạo, dù
có mức độ kém hơn chút, với ‘những kẻ không tin’. John Calvin, kẻ khắc
khổ thành lập đạo Calvin (LND: đạo nầy nhấn mạnh rằng định mệnh và hạnh
phúc vĩnh hằng duy nhất do ân sũng của Chúa) đã thiêu sống người vì
những tư tưởng ‘khác thường’.
Hằng
triệu người đã bị giết và văn hoá đã bị tận diệt bởi những người theo
Thánh giá nhân danh tôn giáo họ. Quả thật, lịch sử của Ki tô giáo được
viết bằng máu. Và nếu chúng ta dễ dãi và cho phép như vậy, sự điên cuồng
‘tôn giáo’ có thể trở lại gây nạn ‘dịch’ cho thế giới nghèo nàn tâm linh
của ta một lần nữa với mức độ cao; cũng vậy, Trào lưu Chính thống gia
tăng hiện nay đang có trong một số tôn giáo thế giới không phải là điềm
tốt cho nền hoà bình và ổn định.
Kẻ thù
thực sự của chúng ta là Vô Minh, bị che đăy dưới nhiều hình thức. Tôi
cũng như Khổng Tử và Đức Phật, nhưng không như Ki tô giáo luôn nói con
người là ‘tội lỗi’, tin vào cái Chơn Bản Thiện của Con Người. Tuy nhiên
thực tế thì tôi cũng thấy cái Chơn Bản Thiện nầy, trong nhiều trường hợp
giống như kim cương của địa cầu, đã bị che đậy và mất dấu bởi vô số các
thứ bất thiện lành. Nó là (hay nên là) mục đích của tôn giáo và giáo dục
để giúp chúng ta khám phá cái Chơn Bản Thiện của Con Người nói chung chớ
không phải chỉ của tín hữu của Phật, tín đồ của Ki tô giáo, của Ấn độ
giáo, của Hồi giáo, v.v...
Trang 144. Hầu hết những người nghiên cứu tôn
giáo chắc sẽ nhận ra rằng Giê Su không phải là người sáng lập đạo Ki tô.
Chúng ta có thể đọc lệnh của ngài cho các đệ tử của mình (Matthew 10:
5-6) là không được đi đến vùng đất của người ‘Gentiles’ (tức không phải
người Do thái. Họ luôn tự cho mình là ‘đặc biệt’ và ‘được chọn lọc’. Các
tín đồ đạo Ki tô cũng lấy các đặc điểm nầy để tự cho mình là như vậy;
thật là tai hại và mất mát cho thế giới nhiều lắm!) mà phải tới ‘vùng
đất có đàn trừu bị lạc tại Căn nhà Do thái’. Giê Su là nhà cải cách của
tôn giáo Do thái; có điều nghi ngờ rằng không biết ngài có định thành
lập một tôn giáo mới hay không.
Trang 144. Phao Lồ (Paul), người có thể không
bao giờ gặp Giê Su, là người thực sự lập đạo Ki tô thành một tôn giáo
riêng với đạo Do thái. Chính Phao lồ đã bác bỏ những đòi hỏi của lễ tục
đạo Do thái như cắt da qui đầu và tạo đạo Ki tô cho người dân Do thái và
dân không phải Do thái (Gentiles). Thực ra ta nên gọi là đạo Phao Lồ hơn
là đạo Ki tô. Theo Phao lồ, đạo Ki tô cống hiến cho thế giới bằng máu
của Ki tô và sự cứu rỗi có từ đạo đó mà ra. Nếu Giê Su không chết trên
thập tự giá (mà nhiều người hiện nghi ngờ) và nếu ngài không phục sinh
(có nhiều lý do để suy nghĩ) thì luận điểm của Phao Lồ là nhờ máu Giê su
mới được cứu rỗi (Người Do thái có cái thích máu một cách bệnh hoạn như
đã được thấy trong Kinh Cựu Ước), sẽ ‘bẽn mặt’ mà không có tác dụng! Giê
Su đặc biệt đã nói (Matt 19: 16-17) rằng cứu rỗi có được là nhờ giữ mười
điều răn. Nhưng Phao Lồ thay đổi tất cả bằng cách nói: ‘‘Nếu Ki tô không
phục sinh thì việc giảng đạo của ta trở nên vô ích và lòng tin cũng vô
ích’’ (I Corinthians 15-14) Tội nghiệp người Ki tô phải ở trong tình
trạng tấn thối lưỡng nan về chuyện nầy; tin ai đây: tin Thầy hay tin đệ
tử?
Trang 145. Tôi không còn theo đạo Ki tô nhưng
không có nghĩa là tôi không tôn kính chúa Giê Su nữa. Nó chỉ có nghĩa là
tôi thấy ngài khác hơn ngày trước. Không còn bị buộc ràng bởi những ràng
buộc cùm gông của đạo Ki tô. Tôi được tự do suy nghĩ. Có thể thành thật
mà nói rằng bây giờ tôi hiểu Giê su rõ ràng hơn lúc tôi còn là tín đồ Ki
tô. Những huyền thoại về việc ‘được sinh từ nữ trinh’ và việc ‘phục
sinh’ mà tôi xem là sự bịa ra của những người quá ư nhiệt tình; đây là
những gì xảy ra cho tất cả các tôn giáo, kể cả Phật giáo, khi con người
có quá nhiều niềm tin nhưng lại quá ít trí tuệ. Sự bất cân bằng đã gây
ra vô số hậu quả tai hại.
Bốn
lối giải thích về cuộc đời Giê Su của Matthew, Mark, Luke và John không
trong nhiều chỗ và quả thật, thường mâu thuẫn nhau. Vì thế không ngạc
nhiên là có quá nhiều sự bất đồng ý kiến về Giê Su là một người, là một
người thầy và là ‘Con của Chúa’. Chúng ta sẽ có thể không bao giờ biết
chắc chắn nhiều về ngài, nhưng đó là lý do để chấp nhận các lời giải
thích khó tin đã đến với chúng ta qua hàng bao nhiêu thế kỷ, những lối
giải thích đã đem nhiều gượng ép trong sự tưởng tượng đó? Chúng ta hãy
xét thêm một vài điểm được ghi trong sách Phúc Âm (LND: Phúc Âm, một
trong 4 tập đầu của Kinh Tân Ước) dù rằng danh sách còn dài:
Giê Su
được cho là bị đóng đinh vào chiều Thứ sáu và thi hài được đem xuống đặt
trong ngôi mộ trước khi mặt trời lặn cùng ngày, mặt trời lặn ngày Thứ
sáu là lúc bắt đầu thời gian nghỉ ngơi và cầu nguyện, không làm gì cả
của người Do thái. Bây giờ, người Ki tô cho rằng Giê Su nằm chết trong
mồ 3 ngày 3 đêm. Nhưng qua cách tính toán của họ khó mà tưởng tượng vì
khi một số nữ đệ tử đi đến ngôi mộ vào sáng Chúa nhật kế tiếp, họ mới
thấy thi hài của Giê su đã mất đi, dù không nói rõ là đã mất bao lâu,
hay ‘ngồi dậy’, ‘sống lại’, trước khi các đệ tử tới, rất có thể ở đó chỉ
có 2 đêm và trọn một ngày là nhiều nhất! Vì thế. Làm sao mà họ có thể
nói được là 3 ngày 3 đêm? Họ không biết tính à?
Trang 146. Rồi thì, Matthew nói một thiên
thần hiện ra tại ngôi mộ; Mark thì nói đây là một người trẻ. Luke nói có
‘2 người với quần áo sáng rực’ và John nói có 2 thiên thần. Xem ra trong
thời đó cái cảnh ‘các thiên thần’ quá thường lệ đến độ họ không thể
thống nhất với nhau về con số xuất hiện?! Và, và những gì một/hai
người/thiên thần đó nói cũng lại khác nhau trong 4 lối giải thích trên,
nếu tất cả ai có đọc đều có thể nhận thấy điều đó trong Kinh Tân Ước.
Khi các nữ nhân đó thấy có người trong nấm mồ, Luke (24:5) đã cho là họ
nói: ‘‘Tại sao các người tìm cái sống trong người chết?’’, ý nói Giê su.
Đây là một vấn đề rất quan trọng thế nhưng nó đã bị bỏ qua vì tín đồ Ki
tô luôn có một thuyết hỗ trợ vĩnh viễn: Giê su chết trên Thánh giá và
sống dậy sau 3 ngày đã chết. Giống như có một bộ màn cửa hay một bộ bàn
ăn, và xây một căn nhà chung quanh chúng để xứng với bộ màn cửa và bộ
bàn ăn thay vì phải ngược lại; Ki tô giáo đã được tạo ra chung quanh sự
kiện Giê su ‘sống dậy’ rất khó xảy ra thay vì đặt nặng vào việc giáo
huấn của ngài. Như đã nói trên, đây chính yếu là việc làm của Phao Lồ
(Paul), tông đồ sau cùng.
Vấn đề
về các Thiên thần rất rõ: ‘‘Tại sao các ông tìm cái sống nơi người
chết?’’ Cái sống? Giê su đã được cho là chết rồi! ‘Đúng’, người
Ki tô nói. ‘‘Chúa đã chết nhưng ngài sống dậy, nhà ngươi không
thấy à?’’ Có thể là chúa không chết trên thánh giá mà chỉ có vẻ chết
thôi? Vào thời đó không có máy đo tim động đồ, cũng không ai ghi lại
mạch chúa khi họ đem ông xuống từ thánh giá. Họ chỉ tuyên bố là ông chết
và lo chôn ông trước ngày nghỉ và cầu nguyện bắt đầu. Bây giờ giả thử
các tông đồ đem ông xuống và nhận ra là ông vẫn còn sống; liệu họ có quá
mừng mà la lên rằng:‘‘Chúa còn sống! Chúa vẫn còn sống!’’ không? Chắc
chắn là không! Họ rất có thể lo lắng nên phải dấu mọi người sợ rằng sẽ
có người báo lại cho các cơ quan thẩm quyền.
Trang 147. Chúng ta hãy theo giả thuyết sau
đây: John cùng với Mary nhìn các ‘thiên thần’, các vị nầy hỏi Mary:
‘‘Tại sao bà khóc’’? (20:13). Mary trả lời: ‘‘Họ đã lấy Chúa đi mất và
ta không biết chổ ở đâu’’. Kế đó bà quay sang và thấy một người (tức Giê
Su) đứng đó nhưng bà không nhận ra mà tưởng là người làm vườn. Giê Su
hỏi bà: ‘‘Thưa bà, tại sao bà khóc? Bà tìm ai?’’ Vẫn không biết đó là
Giê Su, bà trả lời: ‘‘Thưa ông nếu ông bắt Chúa đi mất, xin cho tôi biết
ông để chúa ở đâu để tôi đến đem chúa đi’’. Rồi Giê Su nói tên bà ‘Mary’
có thể bằng một lối phát âm thân thương đặc biệt, nhờ vậy mà bà nhận ra
đó là chúa. ‘‘Thầy!’’, bà nói và đáng lẽ ôm chầm chúa nhưng chúa cấm bà
không được làm như vậy, chắc chắn là cảm thấy đau đớn và tế nhị sau sự
thử thách vừa qua. Điểm chính ở đây là tại sao Mary lúc đó đứng quá gần
Giê Su sau khi Giê Su ‘cải đạo’ cho bà, lại không nhận ra chúa mà lại
tưởng lầm là người làm vườn; bà cũng không nhận ra giọng nói của chúa
cho đến khi chúa nói tên bà. Tại sao lại có thể như vậy được? Giê Su có
thể giả dạng người làm vườn để không ai nhận ra ông? Điều nầy có thể
lắm. Nhưng chúa giả dạng để chi? Có thể nào ông lại không sợ, nếu người
Do thái vì trước đó đã muốn ông bị đóng đinh khám phá ra ông vẫn còn
sống, lần nầy sẽ bị giết hẵn không? Nhưng tại sao, nếu sống lại từ cõi
chết, chúa lại sợ chết? Chúa đáng lẽ phải bước lên trên cái chết. Giê Su
còn sống! Giê Su đã không chết! Chúa sau đó gặp lại các tông đồ một vài
lần và bảo họ rờ chúa bằng da bằng thịt chứ không phải là thần linh hay
hồn ma; chúa bảo họ để tay lên trên vết thương ông. Nếu quả thật sống
lại, chúa vẫn còn mang các vết thương sao? Nếu chúa mất một cánh tay:
thân thể sống lại của chúa đã mất một cánh tay? Các vết thương nầy thuộc
về một thân thể trần tục và sự hiện diện của chúng chứng tỏ rằng chúa
không chết mà rời khỏi cuộc sống mà vẫn còn sống! Ông vẫn đòi thức ăn để
ăn và để chứng tỏ điều nầy!
Trang 148. Bây giờ, tại sao tôi, một người
không còn là tín đồ Ki tô, lại phải tiêu pha quá nhiều thì giờ viết
những sự việc nầy? Tại sao tôi không tự lo cho tôn giáo của tôi? Vâng,
trước hết tôn giáo tôi là Đời Sống và vì tôn giáo Ki tô, tín đồ Ki tô,
Giê Su và các lời dạy của ngài là một phần của Đời Sống, làm sao tôi lại
tách rời khỏi chúng được? Chúng ta liên kết nhau dù thích hay không
thích. Và đạo Ki tô đã giữ một vai trò trọng đại trong lịch sử thế giới.
Nó tiếp tục là như vậy. Sẽ là điều vô trách nhiệm đối với tôi khi tôi
phớt lờ nó. Dù tôi nhận rằng nó là một trong những tôn giáo chánh của
thế gian, điều đó không có nghĩa là tôi chấp nhận nó thực sự là đại diện
của chúa Giê Su và các lời giáo huấn của ngài, hơn là những gì mà tôi
chấp nhận Phật giáo thực sự là đại diện của đức Phật và Phật Pháp. Tôi
tin vào sự tự do và cảm thấy rằng mỗi người đều có quyền có ý kiến của
mình; nếu tín đồ Ki tô cảm thấy có quyền bán rao tôn giáo họ từ nhà nầy
đến nhà khác, chắc chắn tôi có quyền có ý kiến về một ‘Giê Su Thuộc
Nazareth’ đặc biệt khi các lời giải thích về ông rất mờ tối và trừu
tượng. Tôi sẽ rút ra các lời dạy của ông những gì tốt đẹp và hữu ích cho
tôi và cố gắng áp dụng nó trong cuộc sống của mình; cái quan trọng đối
với tôi là những gì ông dạy chứ không phải các huyền thoại đã được tích
lũy chung quanh ông bao nhiêu đời, giống như các loại sò ốc chân tơ
chung quanh tàu thuyền.
Bằng
cách nầy, ‘Giê su Thuộc Nazareth’ vẫn còn sống với tôi!
*
Sợ chết hay tham cuộc đời sau khi chết, không có nghĩa
gì đối với một người đã hoan hỷ đóng góp một cách ý thức trên bước đường
tiến bộ của Nhân loại, cống hiến tích cực phần mình vào tài sản tập thể,
học tập những gì từ các sai sót, đau khổ, vui sướng, điên rồ và các điều
mới lạ trong quá khứ.
*
Cừu non
Trang 149. Làm bánh đem ra chợ bán, chắc
không ai không rao bánh không ngon, phải không bạn? Muốn bán được
thì người ấy phải nói là bánh ngon.
Nhiều
người cố gắng thuyết phục kẻ khác rằng chỉ có cách của họ là đúng và vì
vậy các cách khác đều sai; tất cả những người nầy đều cố gắng muốn bán
cái gì đó. Nhưng họ có thể chứng minh rằng cách của họ là hay nhất với
đầy đủ bằng chứng không? Họ nói cách của họ là hay nhất, vâng, nhưng chỉ
nói thôi thì nó có là sự thật hay không? Chúng ta có ngây thơ không, khi
chỉ tin nghe mọi thứ người khác nói?
Những
người có tiếng nói mạnh mẽ nhất như trên chính là những người nói rằng
ai không tin thì người ấy sẽ xuống Địa ngục mãi mãi. (Bộ không tự giựt
mình, tự mắc cở, hay bối rối, ngượng ngùng sao, khi nghe người ta nói
những chuyện như vậy trong thời đại nầy?) Vì vậy, theo họ, tất cả những
người theo Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, Do thái giáo và ngay cả người
Ki tô giáo (nói ra câu đó!) chắc chắn là xuống Địa ngục.
Một
phái nọ–-phái Nhân chứng Jehovah–-nổi tiếng là đi từ nhà nầy đến nhà nọ
cố thuyết những tư tưởng thiển cận của họ đến các gia chủ. Họ tin rằng
trong số cả tỷ người trên thế giới đang sống đây chỉ có 144.000 người sẽ
được cứu rỗi và lên Thiên đàng–-và với con số nhỏ nầy lại chỉ có 9.000
được chọn. Chúng ta có thể nào tưởng tượng một điều ngu xuẩn như vậy hay
không? Sao lại có những người xét nghĩ đến những điều như thế, trừ khi
họ quá tham muốn và cảm thấy ta là ‘trưởng thượng’ hơn người khác?
Hãy so
sánh sự hẹp hòi đó với tính mở rộng của Phật giáo, cổ vũ ta nghĩ về
tất cả chúng sinh hữu tình và ‘trình dâng’ việc có thể có Giác ngộ
cho tất cả (Phái Chứng Nhân Jehovah đó rất thích tiên đoán ‘Tận
thế’; trên 6 lần tiên đoán trước đây đều không có thật: 1914, 1918,
1925, v.v...và bây giờ họ đang làm tiếp. Dĩ nhiên là họ không thể chờ
chuyện đó xảy ra, bởi vì họ tin rằng khi chuyện đó xảy tới thì Giê Su sẽ
đến và chỉ có lúc đó mà thôi. Từ việc nầy, chúng ta có thể thấy một cách
dễ dàng rằng các người cuồng tín có thể có một quyền lợi bất di bất dịch
trong việc bắt đầu Chiến tranh Thế giới Thứ ba, cảm thấy rằng họ không
còn gì để thua mà chỉ có thắng! Hoa kỳ sẽ có lợi nhuận thêm cho loại
người nầy!)
Trang 150. Nếu quả thật như những người nầy
nói và nếu chúng ta phải nói với họ: ‘‘Xin hỏi, Phật, Lão, Khổng và vô
số chư Thánh Thần không tin Giê Su hay nhận ông là kẻ cứu rỗi, theo ông
hiện giờ họ ở đâu?’’, họ sẽ bị bắt buộc trả lời: ‘‘Dĩ nhiên là ở Địa
ngục với tất cả những người không tin!’’ Vậy thì nếu chúng ta phải xuống
Địa ngục chỉ vì không tin Giê su thì chúng ta sẽ cùng kết hội nhau dưới
đó, nhé? Nhưng có thể họ dùng lộn chữ Thiên đàng và Điạ ngục.
Tin và
theo mù quáng cũng giống như loài trừu. Và trừu, như mọi người đều biết,
thì nhát và dại. Chúng hay ‘sát cánh’ nhau từng đàn và nếu vì một lý do
nào đó, một người trong bọn chúng sợ hãi và bắt đầu chạy thì những con
khác sẽ tự động chạy theo mà không hiểu tại sao.
Trong
lò sát sinh ở Úc có loại trừu được huấn luyện đặc biệt dẫn đầu những
nhóm trừu dễ bị lừa đi theo vào lò rồi con-trừu-được-huấn-luyện ấy sẽ ra
ngoài để dẫn vào một đợt khác cho đến chuyến cuối cùng đến phiên nhóm
dẫn đầu cũng không trở ra khỏi lò. Những con trừu đó được gọi là ‘trừu
Judas’, lấy tên của một tông đồ phản bội Giê su.
Nhiều
con người cũng tương tự như con trừu ở cái cách họ theo người khác. Có
người chịu theo người nầy người kia. Họ không cần xem là ai dẫn
và dẫn tới chỗ nào, miễn là họ khỏi phải nghĩ ngợi chi hoặc chấp
nhận trách nhiệm cho cuộc đời tư riêng của mình.
Khi
lắng nghe người khác, chúng ta nên cố gắng nghe với đầu óc mở rộng chứ
không phải với đầu óc đầy thành kiến (tức, phán đoán trước). Nhưng nó
không có nghĩa là ta nên chấp nhận mọi thứ mọi người nói với ta, vì như
vậy là ‘khùng’ rồi. Ta nên dùng trí thông minh, thức phân biệt và cố
gắng tách phân cái đúng cái sai.
Trang 151. Và nếu ai chán cái việc có người
tới nhà áp lực mình chấp nhận tôn giáo họ, và nếu họ là đạo Ki tô thuộc
giáo phái nầy giáo phái nọ thì đây là ‘quẻ’ mà mình nên ‘dở’ ra cho họ.
Hỏi họ xem chính họ thực sự tin Thánh kinh là ‘Lời Chúa’ hay không thì
chắc chắn là họ sẽ nói: ‘‘Đúng, tôi tin!’’ Nếu hỏi thêm thì họ lật quyển
của Mark, chương 16, câu 17 và 18 trong Thánh kinh mà họ luôn luôn mang
theo. Họ sẽ đọc lớn lên: ‘‘Và những dấu hiệu sau đây sẽ theo sau những
người đã tin: Với tên ta, chúng sẽ trừ ma quỷ; chúng sẽ nói với cái lưỡi
mới. Chúng sẽ chiếm chỗ của các con rắn; và nếu uống bất cứ thuốc độc
nào, chúng sẽ không bị hại’’. (Thật là nghi ngờ khi những chữ nầy bị cho
là của Giê Su, cũng như nhiều thứ khác mà ông bị gán ghép là đã nói.
Nhiều chữ đã bị ‘bỏ vào trong miệng ông’ để hỗ trợ cho các tín đồ khi
nói về ông). Hỏi người đến trước cửa nhà bạn rằng anh ta có sẵn sàng
chịu thử lòng tin của mình hay không. Nói cho người đó biết rằng bạn có
trong nhà đầy đủ các thứ chất độc: thuốc giết cỏ, thuốc giết chuột,
thuốc tẩy,v.v... những thứ nầy có thể trộn chung với si rô để thành một
loại giải khát nước ngọt, hỏi người ấy có chịu thử hay không? Không chắc
chắn là người ấy sẽ chấp nhận sự thử thách nầy dù rằng Thánh kinh nói
rằng người nào có đức tin sẽ không bị tổn hại. Bảo đảm là người đó sẽ
không đến nhà làm phiền bạn lần thứ hai!
@
‘‘...định luật thuộc sinh vật là bài học căn bản của lịch sử. Chúng ta
phải chịu lệ thuộc vào các diễn trình thử thách của Biến Hóa, phải chịu
sự cạnh tranh để tồn tại. Nếu một số người có vẻ thoát khỏi luật đào
thải tự nhiên tàn khốc, đó là nhờ một tập thể nào đó đã che chở cho ta;
nhưng rồi chính tập thể đó cũng phải đương đầu với các thử thách khác để
sống còn.’’
Will và Ariel Durant: Bài học của Lịch sử
&
Nương
tựa (Qui y)
Trang 152. Một vài điều dạy sau cùng của Phật
trước khi Ngài qua đời là: ‘‘Hãy là hải đảo tự thân, hãy là ngọn đèn cho
mình; hãy tự ta mà tìm duyên do. Hãy nương tựa Pháp, không nương tựa bên
ngoài nữa’’.
Nơi
trú ẩn (để nương tựa để qui y) là chỗ an bình. Sự an bình thực sự không
nằm chỗ nào khác hơn là nơi thâm sâu của trái tim, nơi sự Học tập, Áp
dụng và Giác ngộ Con Đường của Phật.
Người
Phật tử học tập về Định luật Tự nhiên và bắt đầu thấy rằng tất cả các sự
vật từ nhỏ đến lớn đều có nguyên nhân giống như cây cối có từ hạt giống.
Người đó cũng thấy rằng tất cả các sự vật có đến thì có đi, có sanh thì
có diệt. Và khi thấy được như vậy rồi, người đó biết rằng đi tìm sự bình
an và phúc lạc ở ngoài mình là điều vô ích và rằng bình an và phúc lạc
thực hữu có thể được tìm thấy trong một trái tim rộng rải và sâu kín,
điềm đạm và rõ ràng. Người ấy sẽ thấy vô ích ra sao khi đổ lỗi cho
người và vật khác và rằng chính người ấy không hoàn toàn có trách nhiệm
về tình trạng mà người ấy đang gặp phải. Có thể không hiểu hay không
muốn nhưng người ấy thấy rằng nó xảy ra là do có nguyên nhơn, mà hầu hết
các nguyên nhơn nầy đều ra ngoài sự kiểm tính của mình. Vì vậy người ấy
sẽ đánh giá nó để xem mình có thể học được cái gì từ đó và cách thức
chuyển đổi nó ra làm sao. Nếu vẫn chưa vừa lòng, người ấy biết nó sẽ
không kéo dài, sẽ thay đổi và trở thành một cái gì khác.
Việc
học tập ‘Nương tựa’ hẵn đã có ở Ấn độ trước khi có Phật giáo. Có thể là
một điều phổ biến cho con người khi nói: ‘‘Tôi nhờ (nương tựa) ông và
các điều dạy của ông’’, khi họ mãn nguyện với những gì họ đã được nghe
từ một người thầy và mong được xem ông là thầy của họ; nó đến từ chính
họ. Chúng ta không thể tưởng tượng là đức Phật nói: ‘‘Lập lại theo ta:
‘Trở về nương tựa Phật, Trở về nương tựa Pháp, Trở về nương tựa Tăng...’
’’
Trang 153. Những người đầu tiên trở về Nương
tựa (Qui y) là hai thương buôn đến với Phật đang ngồi dưới cội cây ngay
sau khi Ngài giác ngộ. Họ là những người đầu tiên đến gặp ngài, theo
truyền thuyết. Họ có đầy ấn tượng khi thấy dung mạo ngài. Họ hoan hỷ,
tôn quí và xin dâng hiến thực phẩm cho ngài. Ngày nay ta không có được
những gì ngài nói trong Bài Giảng Đầu Tiên (Được dạy rằng, mọi người nói
chung tin như vậy, Ngài nói Bài Giảng Đầu Tiên cho năm người Ẩn tu ở
Vườn Nai gần Benares, vài tuần sau ngày Giác ngộ của ngài), nhưng cho gì
đi chăng nữa, họ cũng tự ý xin Nương tựa nơi Phật và Pháp Phật. Họ nói:
‘‘Trở về Nương tựa Phật, Trở về Nương tựa Pháp’’. Vì Phật lúc đó chưa có
đệ tử nào, cũng chẳng có tu sĩ nào nên họ không nói câu ‘Trở về Nương
tựa Tăng’.
Ngày
nay nhiều người đọc tụng công thức Tam bảo mà không thực sự hiểu nghĩa
vì họ chỉ học thuộc lòng. Thực là vô nghĩa trừ khi và cho đến khi chúng
ta tin rằng Con Đường đi của Phật (Đạo Phật), chứ không có con đường nào
khác hơn, là Con Đường chúng ta muốn theo; đây là vấn đề nói lên sự tin
tưởng của người vào Đạo. Chúng ta có thể làm việc nầy chỉ khi nào và nếu
ta đã ‘trạch pháp’ tất cả Con Đường khác và thấy không thích hợp. Ta
phải biết rõ tại sao ta chọn đạo Phật mà không chọn đạo khác.
Trang 154. Một Phật tử nương tựa vào Ba Nơi
Quí (Tam Bảo): Phật là Thầy, Pháp (hay Luật) là Những Điều Dạy {Phật dạy
các bài học đầu tiên là thuộc về Pháp và Luật chứ chưa có Kinh, Luật,
Luận tức Tam Tạng. M.T.} và Tăng là tất cả những người nào đã đắc một số
(kết) quả của Con Đường Phật Pháp. Tuy nhiên theo lời khuyên cuối cùng
của Phật, chúng ta hiểu rằng sự Nương tựa Tối Thượng (tức Pháp) không
ở ngoài chúng ta.
Nương
Tựa nghĩa là quyết định (qui) y theo những lời Phật dạy với khả năng tốt
đẹp nhất của mình, mục đích là để tự phát triển, thành con người tốt đẹp
hơn hầu có thể Giác ngộ. Một Phật tử phải có lòng tin vào Ba Nơi Quí
(Tam Bảo), nhưng không phải là lòng tin mù quáng hay chỉ tin mà thôi; nó
là lòng tin dựa vào trí tuệ và nhận thức sự Thật và
tính Vững Chắc của Phật Pháp, một lòng tin có từ sự chứng nghiệm.
Khi một người có được lòng tin như vậy, người ấy có thể Nương Tựa, tin
rằng đó là chánh đạo của mình. Đây là quyết tâm chơn thật và nghiêm túc.
Nó không có nghĩa là chỉ đọc tụng kinh sách cổ điển. Không nên coi nhẹ
bước quan trọng nầy. Nó khác với việc rửa tội của các tôn giáo khác. Trẻ
em thành người tôn giáo qua sự rửa tội. Một người tự do trở thành Phật
tử do sự tự chọn (tự do) của mình khi người ấy đủ trưởng
thành, hiểu biết và chọn lựa cho chính mình. Một em nhỏ không thể được
xem là Phật tử vì nó chưa suy nghĩ và cũng không hiểu biết được gì cả.
@
‘‘Đây
là cách thử xem nhiệm vụ của bạn trên trái đất nầy có xong chưa: nếu bạn
còn sống tức bạn chưa xong!’’
Richard Bach: Illusions
$
Không
Chỉ Ở Cái Tâm
Trang 155. Đừng đo lường chữ nghĩa với Vô
Lượng
Đừng nhận chìm dòng tư tưởng với Vô Biên
Ai hỏi sai thì sẽ có câu trả lời sai
Hãy nói ‘không’.
Khả
năng hiểu biết và lý luận rất quan trọng; ta nên dùng hết mức của nó
nhưng cũng phải nhận ra cái giới hạn của nó. Nói về mặt nổ lực tâm linh,
nó có thể đem ta đi xa nhưng không xa lắm. Nó không đủ sức tư duy và nói
năng một cách rõ ràng; chúng ta phải sống!
Có một
câu chuyện nhỏ chứng minh chuyện nầy: một giáo sư đang qua đò, có vẻ xem
thường người lái đò nghèo nàn, chàng ta hỏi: ‘‘Ông có biết khí tượng học
không?’’. Ông trả lời: ‘‘Thưa ông, không’’. Chàng giáo sư trả lời:
‘‘Quả thật đáng thương. Ông đã phí mất ¼ cuộc đời mình’’. Lần sau đi đò,
chàng lại hỏi: ‘‘Ông có biết ngành Hải dương học không?’’. Người chèo đò
nói: ‘‘Ngành đó là ngành gì?’’. Kẻ học giả lên giọng ngạo mạn: ‘‘Ý ông
nói là không biết ngành Hải dương học? Thế là ông phí đến ½ cuộc đời ông
rồi!’’.
Ông
chèo đò mắc cỡ gục đầu xuống.
Một
vài ngày sau, tên học giả hỏi khi có dịp đi đò: ‘‘Ông có học ngành kỹ sư
hàng hải không?’’ Ông chèo đò trả lời rằng ông không biết gì về ngành
đó. Nhìn ông với sự đầy ngạc nhiên, người học giả nói: ‘‘Thật là phí
phạm đến ¾ cuộc đời mình khi phải chèo đò đưa người qua sông!’’ Người
chèo đò im lặng. Kế đến một ngày nọ khi chàng học giả bước lên đò và lúc
đò đang ở giữa dòng, người chèo đò nói với chàng ta: ‘‘Thưa ông, ông có
học ngành Bơi lội học không?’’. Chàng ta hỏi một cách lo lắng: ‘‘Không,
để làm chi’’.
Trang 156. Ông trả lời: ‘‘Bởi vì có một trận
giông đang kéo đến và nếu đò chìm thì chúng ta phải bơi vào bờ!’’.
Thắc
mắc và phân tích trí thức sẽ không bao giờ dẫn đến Giác ngộ mà chỉ làm
cho nó rối mù thêm thôi. J. Krishnamurti đã từng viết về việc nầy: ‘‘Cái
Vô Hạn không thể nào tìm thấy được bằng tư tưởng, vì tư tưởng luôn luôn
có số, có cỡ, có hạn lượng. Cái Vô Lượng không ở trong cơ cấu của tư
tưởng và lý luận, cũng không là sản phẩm của cảm tính và cảm tình. Nếu
bạn muốn đi tìm cái cao nhất bạn sẽ không tìm thấy; nó có tới với bạn
thì do bạn may mắn. Và may mắn là cửa sổ rộng mở của trái tim bạn chứ
không phải của tư tưởng bạn’’.
Chúng
ta phải tự mở rộng trái tim của mình và điều nầy xảy ra khi ta tiếp xúc,
hoà nhã dịu dàng chứ không khắt khe khắc khổ với cuộc đời. Nếu không có
sự vui vẻ trong đời sống, tim óc ta sẽ không bao giờ mở rộng; vì thế
phải có một sự quan tâm với cuộc đời, một sự sẵn sàng hạ thấp xuống và
tiếp cận mặt đất, một chuyện mà cho đến nay chúng ta xem nó là ‘bất
tịnh’.
Sự
Thật, giống như ngọn gió, không thể chộp bắt được để cho vào chai và giữ
nó làm sỡ hữu, hoặc hả hê nói ‘của tôi, không phải của anh/chị’; nó
không thể bảo tồn như dung dịch ‘ga’ nhẹ không màu. Nó không phải là cái
gì của quá khứ như xương của các loài khủng long, cũng không phải của
tương lai trong một không gian thời gian xa vời mà nó là Ở-đây và
Bây-giờ. Nó phải được chứng thực ngay và không ngừng. Cố gắng chộp bắt
lấy nó trong những mạng chữ nghĩa, như nhiều người trong chúng ta cố
làm, thì đây là điều vô ích giống như trói buộc và giữ lại biển cả vậy.
Có hai
người thầy nổi tiếng. Người thì thu góp kiến thức cho mình bằng lối học
khoa bảng từ việc nghiền ngẫm sách vở cho đến lắng nghe kẻ khác. Người
kia thì được nó từ việc quan sát cuộc đời chung quanh mình và kinh
nghiệm trực tiếp của riêng mình.
Một
ngày nọ, có người quyết định thử nghiệm 2 vị thầy nầy để xem họ thực sự
biết những gì mà họ đang nói. Trước hết anh đến với thầy học nhiều và
nói: ‘‘Thưa thầy! Xin thầy đứng một chân và cắt nghĩa cho tôi những điều
dạy của thầy?’’ Ông thầy giận sự hỗn hào của anh, bèn mắng anh ta: ‘‘Sao
anh dám bảo tôi cắt nghĩa nó trong một vài phút những cái mà tôi đã học
cả đời? Cút đi đừng làm mất thì giờ ta!’’
Trang 157. Anh đi đến người thầy kia với cùng
một câu hỏi. Thầy nầy cuời và nói: ‘‘Vâng, đây: Kỷ sở bất dục vật thi ư
nhân. Bất cứ cái gì khác được nói ra chỉ là lời phê bình câu nầy’’.
Đây
là Luật Vàng; nó được các tôn giáo dạy dưới hình thức nầy hay hình thức
khác. Nó không là độc quyền của ai. Ki tô hữu nghĩ là của họ vì chúa Giê
Su dạy nó,vì vậy họ có thể ngạc nhiên khi biết được rằng nó đã có từ lâu
trước khi chúa Giê Su ra đời và rằng cả đức Phật lẫn ngài Khổng tử đều
dạy nó kể cả nhiều Bậc khác! Nó có kết quả vào ngày xưa và cả ngày nay
nếu ta biết áp dụng nó. Đây là Chìa khóa Tuyệt vời, lại không có gì bí
mật trong việc sử dụng nó cả; thực ra nó rất giản dị và có hiệu quả khi
được dùng trong sự liên hệ với tha nhân.
Giả
thử đi vào tiệm mua món đồ ghi giá 10$, bạn đưa ra tờ 50$. Nếu người chủ
tưởng đó là tờ 20$ và thối lại 10$ thay vì 40$. Bạn phản ứng thế nào?
Bạn có nghĩ: ‘‘Ồ, không sao, chỉ xê xích nhau 30$ thôi’’ hay bạn sẽ nói:
‘‘Xin lỗi, ông lầm rồi, ông ‘thối’ tôi chưa đủ’’?
Nhưng
giả thử người chủ làm ngược lại, có nghĩa là, thí dụ tưởng bạn đưa tờ
100$ thay vì thực sự chỉ là tờ 50$. Lúc ấy bạn có nói là người chủ sai
không và bạn có đưa lại phần dư ra hay không? Hay bạn liền nghĩ: ‘‘Tôi
thật may!’’ và vội vã rời tiệm không nói một lời?
Một
ngày nọ, một trại gia đi gặp láng giềng, than phiền là bò đực của người
láng giềng đã húc bò cái của mình và đòi bồi thường. Người láng giềng
nói: ‘‘Vâng, tôi xin lỗi khi biết được chuyện nầy nhưng thú vật không
biết được việc làm của chúng nên tôi không thể bồi thường theo trách
nhiệm pháp lý’’.
Trang 158. Trại chủ thứ nhất nói: ‘‘Ơ... ra
vậy, xin lỗi, tôi nghĩ lại là tôi kể sai trường hợp rồi; thực ra không
phải là bò đực của ông mà là bò đực của tôi húc bò cái của ông!’’
Láng
giềng la lên: ‘‘Ơ nầy! Tôi phải tham vấn luật sư tôi để xem có một tiền
lệ cho trường hợp như thế hay không; có thể là tôi được hưởng tiền bồi
thường!’’
Công
lý là con đường hai chiều; nếu muốn người công bằng với mình, ta phải cố
gắng công bằng với người; không thể gặt được những gì ta không cấy. Vấn
đề là, con người muốn người khác tôn trọng quyền lợi và tự do của họ
nhưng lại không luôn tôn trọng những cái đó của người khác; họ nghĩ nếu
luật pháp bảo vệ được họ là luật pháp tốt, còn ngược lại là không tốt
nếu luật pháp đó giới hạn chuyện làm của họ.
Muốn
tìm Sự Thật ta phải lương thiện. Trang Tử đã nói: ‘‘Không có Sự Thật nếu
không có con người Thật’’, nó có nghĩa là, đi tìm Sự Thật sẽ là vô ích
nếu ta không chịu bỏ đi tính bất lương.
Có
người thu thập tri thức mà không áp dụng nó nên chúng trở nên ‘bị táo
bón tri thức’’, như vậy, tri thức trở nên là một gánh nặng vô ích. Phật
Pháp phải được áp dụng nếu muốn có kết quả; thật vô ích nếu nó chỉ là
vấn đề tin tưởng thuần túy hoặc là một đồ chơi trí tuệ.
@
Chữ Vạn
Trang 159. Tôi đã chờ quá lâu để viết một
chuyện đáng lẽ phải được giải quyết từ lâu; nếu tôi viết sớm hơn một số
rắc rối có thể đã được chuyển đổi. Tuy nhiên, ‘thà trể còn hơn không có
gì cả’, và tôi viết những dòng nầy với hy vọng rằng chúng sẽ ngăn ngừa
một số rắc rối trong tương lai.
Nếu
chịu suy nghĩ một chút, ta sẽ thấy ngay là mình sống với bao nhiêu dấu
hiệu không thực tế chút nào. Chúng là biểu tượng cho những thứ khác.
Tiền chẳng hạn, là dấu hiệu hiển lộ nhất trong thời đại chúng ta; nó là
dấu hiệu của sự giàu có, một bằng chứng của sự trao đổi, nhưng tự nó
chẳng có giá trị gì. Thường xảy ra chuyện chánh phủ thình lình phá giá
tiền tệ và trong một đêm nó bị giảm giá, trở nên vô giá trị! Lúc còn có
giá, ta dùng nó như là một phương tiện trao đổi để mua vật dụng, nhưng
khi đói kém không thức ăn, liệu ta có thể ăn tiền bạc thay đồ ăn không?
Tất cả
các loại tội ác, kể cả tội ác lớn nhất là Chiến tranh, đã và đang phạm
chỉ vì biểu tượng. Cộng sản đem cờ Búa Liềm vào các trận chiến, giống
như Ki tô hữu đem Thập tự vào các cuộc Thánh chiến ‘linh thiêng’ của họ.
Phật tử chưa bao giờ làm giảm giá trị tôn giáo của họ bằng bạo lực. Chưa
có một cuộc chiến tranh Phật giáo, hy vọng sẽ không bao giờ có; quả
thật, khó mà tưởng tượng có một cuộc chiến tranh nào được nhân danh Phật
giáo. Nguyên tắc đầu tiên của nó là Tôn Quí Cuộc Đời.
Hình
ảnh đức Phật là một biểu tượng của một vị Thầy khôn khéo và từ bi sống
cách đây rất lâu. Người đã cho ta lời khuyên để sống sao cho tốt đẹp
thiện lành. Ai coi tượng thờ như sinh vật thật, tưởng lầm biểu tượng là
cái được biểu tượng? Ai, có khi nào, tưởng tượng rằng vị Đạo Sư nầy, một
người khi được sinh ra là Thái tử lại từ bỏ tất cả giàu sang và danh
vọng trần thế để trở thành một người không nhà cửa và cuối cùng thành
một bậc Giác Ngộ, thực sự trông giống như các tượng thờ mà chúng ta đã
làm để tượng trưng cho ngài? Bạn sẽ nghĩ sao nếu thấy một người giống
Phật trên đường, đỉnh đầu cao hẳn lên, tai gần đụng vai, tóc cuốn giống
hình ốc sên và những nét khác, theo kinh sách, được xem như có những dấu
hiệu đặc biệt của một con người phi thường? Bạn không lẽ không ngạc
nhiên? Có người, không một chút nghi ngờ, nghĩ là họ đang nhìn một sinh
vật siêu thế gian! Tôi nói như vậy không phải có ý bất kính mà tôi chỉ
cố gắng nói lên việc chúng ta bị kẹt vào các biểu tượng và không bao giờ
thấy được những gì trên và trước.
Trang 160. Năm 1985, tôi đi thăm người tỵ nạn
Việt nam tại Na uy. Tại đó tôi được cho biết một việc không may đã xảy
ra không lâu trước đó, một việc mà nếu thấy trước một chút thì có thể
tránh được. Một Phật tử Việt nam chết. Gia đình người nầy cho khắc hình
chữ Vạn lên trên mộ bia. Dấu chữ Vạn với Phật giáo Việt nam và với các
dân tộc ở Á châu là một biểu tượng tốt, nếu không thì các dân tộc nầy đã
không khắc nó trên mộ bia? Nhiều Phật tử Hoa Việt cũng mang hình chữ Vạn
bằng vàng chung quanh cổ, hoặc xăm trên cánh tay. Tuy nhiên, sau khi hỏi
một số người mang dấu hiệu nầy là ý nghĩa gì tôi mới thầy rằng ít ai
biết. Vâng, theo lời nói lại tôi nghe thì dấu hiệu nầy xuất xứ từ nước
Ba tư cổ đại các đây khoảng 3.500 năm. Tức có trước Phật giáo 1.000 năm
và dù 2 dấu hiệu rất dễ bị lầm lộn nhưng nó đều có nghĩa là (Vạn sự) Cát
tường, An toàn, Thịnh vượng, Phúc lạc, Thành công, Thắng lợi.
Tuy
nhiên, trong khi ở phương Đông, dấu chữ Vạn luôn luôn nói lên điều tốt
thì ở phương Tây, vì Adolf Hitler dùng nó nên nó đã trở thành một dấu
hiệu của ác quỷ (2 dầu tuy có khác một chút nhưng rất dễ tưởng là giống
nhau. M.T.) Rất ít người phương Tây biết nguồn gốc và ý nghĩa của nó.
Na uy
giống như các nước Âu châu khác, đã bị tràn ngập và đau khổ dưới sự
chiếm đóng của quân đội Đức quốc Xã trong Chiến tranh Thế giới thứ II.
Vì vậy khi một vài người Na uy thấy dấu hiệu nầy tại nghĩa trang trên
một số mộ bia người Việt nam thì tâm thức họ nhớ lại sự khủng bố của đội
Quốc Xã. Thế là có sự làm ầm lên. Đầu tiên, những người Việt nam không
biết tại sao lại trở thành lớn chuyện. Họ nói 2 dấu đó khác nhau. Vâng,
điều nầy có thể là đúng với họ nhưng tôi chắc chắn rằng đối với người
Tây phương không để ý đến sự khác nhau nầy kể cả người Na uy. Sự phản
đối nổi lên và người Việt nam phải giải nghĩa, xin lỗi công chúng Na uy
và bỏ đi dấu hiệu đó.
Trang
161. Tôi biết đã có những biến cố khác về dấu hiệu nầy tại Hoa kỳ.
Vì tôi không muốn thấy các Phật tử bị rắc rối hay nguy hiểm nên tôi đã
cố gắng giải nghĩa ở những nơi khác nhau. Xin khuyên là đừng nên dùng
dấu hiệu nầy nữa, vì nó sẽ gây lẫn lộn và hiểu lầm. Dầu sao không phải
chỉ có một dấu hiệu đó ta mới dùng được. Dấu hiệu Hoa Sen hay Bánh xe
Pháp chẳng hạn. Chúng ta nên thực tế về vấn đề nầy cũng như các vấn đề
khác. Không thể nào cắt nghĩa cho mọi người rằng dấu hiệu chữ Vạn của
Phật giáo thì khác với chữ Vạn của Đức quốc Xã. Không thể được! Việc
dùng nó có thể không những gây tai hại mà nó còn ngăn trở các cố gắng
của ta để hoằng hóa Phật Pháp ở phương Tây; có người có thể có cảm tình
với Phật giáo nhưng sẽ có ác cảm vì sự có mặt của chữ Vạn trong các ngôi
chùa.
Vì
thế, Chúng Ta, chứ không phải Họ, cần hiểu biết, chịu cúi xuống
và thích nghi hoá về điểm nầy. Nếu Phật tử Hoa Việt tiếp tục dùng dấu
hiệu chữ Vạn nầy ở các nước phương Tây thì chính là họ đã mời rắc rối
đến và hậu quả là chỉ có họ là lý do để bị đổ lỗi. Đây là lời khuyên
thành thật của tôi, thành thật muốn bảo tồn, ngăn ngừa và bảo vệ. Có như
vậy mới thực sự là ta đem đến một chút phẩm chất của chữ Vạn với ý nghĩa
nguyên gốc của nó: An Toàn, Thịnh Vượng và Phúc Lạc.
@
Xây
Phá, Phá Xây...
Trang 162. Trước khi có tạo phải có hủy (và
ngược lại): muốn làm bàn ghế, cây cối phải bị chặt xuống; muốn may quần
áo, vải sồ phải được cắt ra và tạo lại.
Tuy
nhiên nếu phải hủy cái gì, ta hãy chắc chắn là nó sẽ tạo dựng cái gì đó
từ sự hủy hoại nầy; hãy thành nghệ sĩ của cuộc đời, luôn luôn cố gắng
cải thiện thay vì để lại đàng sau rác rưới và phá hoại.
Chỗ
nào có người là có rác, có ô nhiễm, có phá hoại. Núi, rừng, sông, biển
và các nơi khác đầu tiên sạch đẹp nay bị dơ thối một khi có con người đi
qua. Loài vật không làm lộn xộn như loài người. Sao ta lại làm như vậy?
Quả Địa cầu tốt đẹp nầy là nhà ở của ta trong một thời gian. Vì quyền
lợi, ta nên giữ sạch sẽ và chăm sóc nó hầu nó có thể tồn tại để thành
một nơi sống thoải mái dễ chịu.’
Tất cả
chúng ta đều có thể biến thế giới nầy là một nơi để sống tốt đẹp hơn.
Nếu ai thích sống gần nơi rác rến, hình như nhiều người có vẻ như vậy,
cứ tiếp tục xả rác bất cứ chỗ nào; hãy thành người cỏ rác, bất cẩn và u
mê! Nhưng nếu ai thích sạch sẽ, đẹp đẽ hơn, hãy để ý đến việc bỏ rác
đúng chỗ, hãy làm sạch chỗ nào ai làm dơ, phát triển tinh thần cộng
đồng, tỉnh thức và tế nhị, dám làm. Người có ý thức và tế nhị là
người tôn giáo. Người tôn giáo là người có lương tâm, chăm chỉ, cẩn thận
và tận tâm.
Phê
bình là việc có thể tích cực và tiêu cực, xây dựng hay phá hại. Trong
quyển sách nầy và các quyển sách khác, tôi đã phê bình một số sự việc
nhưng tôi nghĩ tôi không phá hại. Khi tôi chỉ trích cái gì đó, tôi cố
gắng cho một giải pháp để thay thế cho tốt đẹp hơn; tôi không muốn lấy
đi cái nạng chống của người rồi để họ tay không.
Tất cả
các tôn giáo đều có chứa Sự Thật, chỉ nhiều hay ít mà thôi, nhưng không
có tôn giáo nào chứa đựng tất cả Sự Thật. Đó là vì Sự Thật không
thể chuyển từ người nầy sang người khác được. Nó phải ‘‘được chứng
nghiệm bởi người ngoan hiền, từng chút một’’, như Phật đã nói hay Lão Tử
đã viết: ‘‘Đạo khả Đạo phi thường Đạo’’ {Con Đường (Phương Cách)
mà có thể dùng lời để diễn tả được thì không phải là Con Đường (Phương
Cách) vĩnh cửu bất biến).
Trang 163. Dù ta ám chỉ đến nó nhưng
tất cả cố gắng để định nghĩa nó sẽ bị thất bại ngay từ đầu. Với
chữ ‘Bánh’, chẳng hạn, ta không thể ăn nó được; cũng vậy, chữ ‘Sự Thật’
không thể chính là cái Sự Thật được; thực vậy, chúng ta không thể nói gì
về nó, vì ngay lúc ta dùng chữ đó ta mất nó liền. Nếu chúng ta hiểu nó,
chúng ta sẽ không ghét bỏ và không tranh cãi nhau về các quan niệm khác
nhau về Sự Thật hay Thực Tại; máu mủ và đời sống thì quan trọng hơn chữ
nghĩa và ý tưởng!
Các
Thầy dạy Đạo thường có vẻ tương phản nhau không phải vì