Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo và Thời Đại


......... .

 

GIÁO DỤC HỌC PHẬT GIÁO

 

Nguyên Hồng

---o0o---

 

I. DẪN NHẬP

Nói  chung khái niệm  về  giáo  dục.  Các  quan niệm buổi đầu về giáo dục của cổ Trung Hoa và của Phương Tây. Từ đó nhận định về giáo dục theo Phật giáo.

II.CÁC LÃNH VỰC GIÁO DỤC

1. Tư Tưởng Giáo Dục Phật Giáo

1.1.Tư tưởng nhất thừa

Giáo dục Phật giáo lấy tư tưởng nhất thừa làm cứu  cánh. Mọi sự phân chia thứ bậc chỉ là phương tiện để đạt tới cứu cánh giải thoát Niết bàn. Với tư tưởng nhất thừa, giải thoát không có nghĩa là trốn chạy và Niết bàn không phải là một cõi hư ảo xa xôi. Tất cả đều từ thực tại. Nhất thừa là lý không hai. Giáo dục Phật giáo lấy con người làm đối tương và cứu cánh cũng ở con người, lấy thế giới làm đối tượng và cứu cánh cũng ở thế giới này. Tư tưởng nhất thừa trong giáo dục Phật giáo không dạy ta chối bỏ con người thực tại để tìm kiếm một hiền thánh mà dạy chúng ta làm cho con người trở thành hiền thánh, không dạy ta từ bỏ Ta bà để đi tìm Tịnh độ mà dạy ta chuyển hoá ta bà thành tịnh độ.

1.2. Tư tưởng xã hội

Trong 45 năm hoạt động giáo hóa, từ những việc lớn liên quan chính trị quốc gia đến những việc nhỏ như kinh tế tiêu phí của tăng đoàn và chi tiêu trong gia đình của tín đồ tại gia, từ vấn đề lớn như chế độ chủng tính đến nhỏ như như quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng, nhiều vấn đề hiện thực đa dạng thuộc phạm vi thế tục đều được Phật dạy đến. Từ sau thời đức Phật nội dung giáo dục đa dạng này đã được triển khai, thực tiễn hóa trong sinh hoạt kinh tế xã hội hiên thực. Đến nay nếu hệ thống kết quả đó chắc chúng ta sẽ  có  một kho  tài liệu không  nhỏ  các  kinh điển và những trước tác về “học thuyết xã hội của Phật giáo”.

1.2.1. Xã hội quan trong Phật giáo nguyên thủy.

Giáo nghĩa căn bản của đức Phật là dạy chúng ta giải thoát vô minh phiền não, giác ngộ thành Phật bằng thực hành 8 con đường chân chính. Xã hội quan Phật giáo thường được biểu hiện bằng tăng già, tức chúng hòa hợp. Nghĩa hẹp của tăng già là đoàn thể xuất gia sống hòa hợp. Nếu ai có hành vi phá hoại sự hòa hợp đó là phạm tội ngũ nghịch. Qua đó rõ ràng xã hội quan của Phật giáo nguyên thủy đặt nền móng trên chủ nghĩa lợi tha và chủ nghĩa liên đới. Đây có thể coi như tế bào của một cộng đồng để từ đó phát triển ra xã hội, đến quốc gia, thế giới trong lý tưởng xã hội của Phật đà. Đức Phật không chỉ chú trọng vào tăng già mà còn mở rộng sự hòa hợp vào các tổ chức, đoàn thể bằng đường lối 4 phép nhiếp hóa, tức bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.

1.2.2. Đạo đức kinh tế trong Phật giáo nguyên thủy.

Cuộc đời đức Phật phần lớn du hành này đây mai đó. Phật tán thán người đời đã vì những người xuất gia tu hành thiết lập tinh xá, cung cấp giường nằm, tọa cụ, y phục, ẩm thực vật, chăm sóc thuốc thang cho người xuất gia. Những việc làm đó gọi là tạo phúc lợi thế gian. Còn hoan hỉ tu tập Phật đạo là tạo phúc lợi xuất thế gian.

Phật tử hành thiện hạnh tu thiện nghiệp là tïạo phúc đức. Vì ý nghĩa đó, nơi phát sinh phúc đức gọi là phúc điền. Và do đó phúc điền trở thành nguyên nhân của hành vi lợi tha. Kết quả đó, cũng giống như đối với tăng ni, Phật tử mở rộng phúc điền đối với đông đảo dân chúng, đặc biệt là tăng tiến các hoạt động trợ giúp người nghèo, người bệnh, và các hoạt động phúc lợi công cộng. Với người tại gia Phật khuyên trước tiên phải siêng năng trong nghề nghiệp. Phật dạy mối quan hệ hỗ tương quan trọng nhất là phải nắm vững chức năng của mình trong trật tự xã hội.

1.2.3. Tinh thần và nội dung của luân lý Đại thừa phát triển.

Tư tưởng phúc điền đôi khi cũng chỉ vào 8 hành sự sau đây: 1. Mở đường, đào giếng  2. Làm cầu qua sông  3. San lấp lối đi hiểm trở  4. Hiếu dưỡng cha mẹ  5. Cung kính Tam bảo  6. Cấp dưỡng bệnh nhân  7. Cứu tế người nghèo khổ  8. Mở pháp hội vô giá (tức cúng thí cô hồn). (Sự phân chia này được mô tả trong Kinh Phạm Võng).

Ở Nhật Bản cũng như các quốc gia theo Phật giáo ở Đông Nam Á có thể nói đã dựa trên cơ sở này mà phát huy tư tưởng chính sách xã hội và sự nghiệp xã hội. Các cao tăng nhiều đời đã dốc chí suy nghĩ và thực hiện ý nghĩa về chính sách xã hội của tư tưỏng phúc điền mới để lại cho đời nhiều sự nghiệp quí trọng nay đã trở thành tài sản của cộng đồng như  tinh xá, phòng tăng, bệnh xá, trường học, nhà cứu tế, vườn cây, rừng trồng, bến thuyền, cầu đường, giếng nước công cộng, nhà vệ sinh công cộng v.v... Và những tài sản ấy ngày nay còn là của công là do liên quan căn bản đến giới không trộm cắp trong giới luật nhà Phật.

1.2.4. Lý tưởng và thực tiễn trong Phật giáo Đại thừa phát triển.

Tuyệt đỉnh lý tưởng của xã hội Phật giáo là thế giới Tịnh độ. Một thế giới bình đẳng, hòa bình an vui không phải lo âu về cuộc sống, “tưởng y y chí, tưởng thực thực lai”. Thế nhưng hiện tại cộng đồng xã hội Phật giáo chỉ thực hiện một phần. Cho nên đương nhiên dù mang một lý tưởng siêu xuất thế gian, Phật giáo cũng không thoát khỏi sự chi phối của hoàn cảnh xã hội, đặc biệt là về chính trị và luật pháp. Tất nhiên dưới chế độ xã hội đương thời, muốn đưa Phật giáo vào trong dân chúng không thể không thông qua những hoạt động chính trị của quốc gia.

Các kinh điển hậu kỳ Đại thừa còn dạy vị quốc chủ phải có 3 chức năng xây dựng đất nước: 1. Kiến lập đế vương nghiệp luận dạy rằng: “Khéo dạy binh sĩ việc quân trận, chiến đấu, hàng phục binh chúng nước ngoài, phủ dục nhân dân.” 2. Kiến lập điền trạch nghiệp luận dạy rằng: “Khéo dạy nhân dân xây dựng nhà ở, kinh doanh nông nghiệp cho đời sống được an cư no đủ.”  3. Kiến lập tài bảo nghiệp luận dạy rằng: “Khéo dạy nhân dân học các ngành công thương tạp nghệ để có nhiều của cải tùy ý tiêu dùng, cuộc sống thêm an vui.” Ngoài ra, thế giới Hoa Nghiêm mở ra một mô dạng xã hội sinh thái học của Phật giáo. Nơi đây dân chúng trong xã hội chỉ trồng một căn lành rất nhỏ cũng được  một kết  quả vô cùng to  lớn (Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Ly Thế Gian). Qua đó ta khám phá ra một nguyên lý kinh tế học quan trọng.

1.2.5. Các kinh điển đậm màu sắc xã hội.

Kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, Kinh Duy Ma, kinh Khổng Tước Minh Vương, luận Du Già Sư Địa, kinh Đại Tập, kinh Kim Quang Minh, kinh Phạm Võng, kinh Vô Lượng Thọ, Luận Bảo Hành Vương Chính, kinh Đại bảo Tích.v.v…

1.2.6. Tinh thần bình đẳng trong giáo dục Phật giáo.

Tư tưởng nhất thừa là cứu cánh của giáo dục Phật giáo nên nó bao trùm mọi tư duy và hành động của giáo dục Phật giáo, trong đó có tư tưởng bình đẳng trong xã hội. Phật dạy: “Tất cả chúng sinh đềàu có Phật tính tất hữu.” cho nên đối với quan hệ giữa người và người là một quan hệ tuyệt đối bình đẳng, không có người cao thượng hay hèn hạ vì phân biệt giai cấp, không có tôn ti vì phân biệt nam nữ, cũng không có hạng giáo dục được và hạng người nào là không giáo  dục  được. Vai trò của giáo dục Phật giáo là quan sát cái xã hội đang liên tục biến đổi để cải thiện con người và xã hội. Người tu Phật hành Phật sự phải đứng trên lập trường lấy hiện tượng sinh hoạt thực tế của xã hội làm cơ sở giải đáp nguyện vọng về tinh thần cũng như vật chất của dân chúng. Nói vắn tắt là Phật giáo phải hiện đại hóa và thực tế hóa. Nói hiện đại hóa, thực tế hóa, động thái hóa tức đương nhiên bao hàm vấn đề xã hội hóa và dân chủ hóa. Điều mà người tu Phật, hành Phật sự ngày nay là triển khai nguyên lý, giáo thuyết của đức Phật, vận dụng làm sống lại tính xã hội hóa của đạo Phật. Trong kinh giáo nguyên thủy cũng như kinh giáo thời Đại thừa phát triển đức Phật đã từng dạy phải làm thế nào. 

 

III.1.3 TƯ TƯỞNG HOÀ BÌNH.

1.3.1 Tư tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo đối với vấn đề cấu tạo xã hội.

Theo tư tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo đối với tổ chức cơ cấu xã hội thì bình đẳng là yếu tố cơ bản cho việc cải tạo xã hội nếu không nói là cách mạng cơ cấu tổ chức xã hội. Danh từ xã hội được hiểu từ tế bào của cơ cấu xã hội là gia đình hạt nhân (nuclear family) trở lên cho đến gia tộc, đẳng cấp, tập đoàn, làng xã, quốc gia, cộng đồng quốc tế và thế giới.

Khởi nguyên luận về xã hội của Phật giáo thường bao gồm những thuyết minh về sự phát sinh của gia tộc, về tư hữu tài sản, quân chủ, quốc gia, cho đến những chức phận đoàn thể v.v... có tính hiện thực hết sức phổ quát và cao độ.

Trong quan hệ xã hội, Phật giáo chủ trương thực hiện tinh thần bình  đẳng tuyệt đối  của tư  tưởng nhất thừa.

1.3.2  Tư  tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo đối với vấn đề chính trị, chiến tranh và quốc phòng.

Theo Phật giáo nguyên thủy thì mục đích của người Phật tử là lấy giải thoát làm đầu. Thế nhưng, vận mệnh tổ quốc Kapilavastu sớm muộn không khỏi bị đe doạ bởi cường quốc láng giềng Kosala, cho nên những vấn đề về quốc gia, chính trị, chiến tranh, không phải người đạo sĩ xuất thân vương tộc ấy không quan tâm.

Đức Phật không phải chỉ coi những hoạt động chính trị của quốc gia là đường lối quan trọng nhất nâng cao hạnh phúc nhân dân trong cuộc sống hiện tại, mà còn coi đó là chính pháp, tức là nguyên lý căn bản của Phật giáo mà thực hiện theo đó tức là thực hiện trực tiếp lý tưởng của Phật giáo.   

Chính trị của đức Phật là triệt để “Vô hại chủ nghĩa”, là triệt để “Bất sát chủ nghĩa” do đóù đề cao chủ nghĩa hoà bình. Chủ nghĩa hoà bình của đức Phật là không làm hại một quốc gia dân tộc khác, và do đó sẽ là một quốc gia độc lập không bị nước khác xâm lược. Đường lối cốt yếu của chính trị là hành xử nội bộ quốc gia bằng chính pháp. Đức Phật đã nói lý do vì sao Bạt Kì là một nước nhỏ nằm giữa các nước lớn mà không bị diệt vong.

2. NỘI DUNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO.

Giáo dục Phật giáo là nền giáo dục có bình diện rộng. Đối tượng của giáo dục Phật giáo là con người trong hoàn cảnh sống của nó. Vượt ra ngoài mọi phân biệt về chủng tộc, ranh giới địa lý hay văn hoá, giáo dục Phật giáo lấy con người trong thế giới này làm đối tượng và cứu cánh cũng ở con người trong thế giới này. Phật giáo quí trọng giá trị con người.

2.1. Trí dục, đức dục, thể dục trong giáo dục Phật giáo.

Các nền giáo dục hiện đại trên thế giới đều chủ trương ba phương diện của giáo dục là Trí dục, Đức dục và Thể dục và gïọi là xây dựng con người toàn diện . Đức Phật tuy không thiết lập ba phạm trù như ngôn ngữ hiện đại, nhưng nội dung giáo dục của đức Phật đã bao gồm đầy đủ từ trên hai nghìn năm trước.  

2.2. Giới, định, tuệ trong giáo dục Phật giáo.

Nội dung giáo dục của Phật giáo là không ra ngoài ba môn học: Giới học, Định học và Tuệ học. Điểm này rất thống nhất trong nhiều bài phát biểu và tham luận tại Hội thảo giáo dục Phật giáo

3. Phương pháp giáo dục Phật giáo.

Các nhà giáo dục xưa nay khi đề cập phương pháp giáo  dục  thường  quan tâm đến ba lĩnh vực.  Đó là phương pháp soạn thảo chương trình (curiculum planning),  phương pháp tổ chức học đường và các tiện ích giáo dục (schools and facilities), phương pháp giảng dạy và học tập (teaching and learning).

Tuy nhiên phương pháp giáo dục nói trên thực ra nhằm khoanh vùng trong hệ thống giáo dục học đường (school education), một hệ thống giáo dục mang tính hàn lâm, có thi cử và có bằng cấp học vị. Nếu là phương pháp giáo dục đó thì không phải là phương pháp ứng dụng của Phật giáo vì giáo dục Phật giáo không nhằm mục đích đó. Còn giáo dục với ý nghĩa rộng hơn, hay nói khác hơn là ý nghĩa thực sự của nó thì vươn tới mọi sinh hoạt của con người trong cuộc sống cũng như trong cộng đồng xã hội.

Trong giáo dục Phật giáo, không một đối tượng được áp dụng một phương pháp nào mà chưa trải qua thể nghiệm. Như thế có thể nói một trong các phương pháp giáo dục trong Phật giáo là phương pháp kinh nghiệm, phương pháp giáo dục từ kinh nghiệm thực tế. Ngoài ra có phương pháp tự tỉnh, về sauđược áp dụng nhiều trong thiền học. Trong các công án thiền, có những câu gợi ý ngắn gọn, có những câu hỏi phản vấn, có những câu sử dụng tính mâu thuẫn và cả đến sử dụng cái “vô ngôn” như một cú đánh, một tiếng hét.   Dùng lời hay không dùng lời, trong giáo dục Phật giáo cả hai đều là phương pháp có giá trị. Trong Phật giáo thường nói Ngôn giáo và Thân giáo. Phương pháp Thân giáo có trường hợp còn có phần hữu hiệu hơn Ngôn giáo. Phương pháp giáo dục Phật giáo còn triển khai hai phân ngành có tính chuyên môn như phương pháp phân tích tâm lý, áp dụng cho lãnh vực hiện tượng học mà chuyên từ Phật học gọi là Pháp tướng duy thức học. Phương pháp này chủ yếu phân tích triệt để các hành tướng của tâm thức để nhận diện mọi hiện tượng và mối liên quan của nó trong thế giới nội tâm ngoại cảnh. Một ngành nữa là phương pháp Luận lý, trong Phật học gọi là Nhân minh học. Ngành luận lý còn triển khai rộng sâu với những kiểu lý luận sắc bén, nhất là thời kỳ Đại thừa thành lập mà Asvaghosa (Mã Minh) và Nagarjuna  (Long Thọ) là những tên tuổi sáng chói trong ngành luận lý học Phật giáo.

IV.PHẦN KẾT.

Ở đây muốn đề cập đến hình tượng mẫu người lý tưởng trong giáo dục Phật giáo để tạm làm phần kết khép lại giảng khoá này.

Mẫu người lý tưởng trong giáo dục Phật giáo có thể nói đó là hình tượng của bồ tát. Hình tượng này vô cùng đa dạng vì cuộc sống vốn đa dạng. Cuộc sống đa dạng nên Bồ tát tuy đa hạnh nhưng hạnh nào cũng là hạnh Bồ tát miễn sao không “trụ tâm thủ tướng” và thực hành hạnh nguyện đến chỗ rốt ráo tức thực hành Bồ tát đạo. Chính vì tinh thần Bồ tát thể hiện một cách linh động và đa dạng mà giáo dục Phật giáo đã thâm nhập một cách hoà bình và phát huy tích cực nhiều mặt vào đời sống con người và xã hội.

Trong giáo trình CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC do Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lê Nin tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội ấn hành năm 2002, trang 469 đoạn nói về Tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam và việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo của đảng và nhà nước ta hiện nay có đánh giá về Phật giáo như sau:

“Phật giáo là một tôn giáo thế giới xuất hiện ở Ấn Độ từ thế kỷ VI trước Công nguyên và được truyền vào Việt Nam những thế kỷ đầu Công nguyên. Nhìn chung, quá trình tồn tại và phát triển Phật giáo gắn liền với dân tộc, góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đạo đức, tâm lý, phong tục tập quán và văn hoá của nhân dân ta.” 


@@@ 

I. DẪN NHẬP.

1. Khái niệm về giáo dục.

Giáo dục là gì, có từ lúc nào và bao giờ chấm dứt? Chúng ta không ai không tiếp nhận một nền giáo dục, hay nói một cách dễ hiểu là một hình thức giáo dục. Thế nhưng chắc chúng ta không khỏi lung khi gặp một câu hỏi bất ngờ như trên và cũng khó trả lời ngay một cách vắn tắt trọn nghĩa và trôi chảy. Thực ra giáo dục có từ rất sớm và sẽ không bao giờ chấm dứt. Từ khi có động vật xuất hiện trên hành tinh, do bản năng sinh tồn và bảo tồn nòi giống loài vật cũng biết dạy con chuyền cành, săn mồi tìm kiếm thức ăn. Có điều là động vật không có khả năng truyền đạt bằng ngôn ngữ nên cách dạy con săn mồi từ xưa vẫn không có tiến bộ thay đổi. Còn giáo dục của loài người thì theo thời gian đã tiến triển từ những cách luyện tập giản đơn truyền đạt từ một người riêng lẻ đến một người riêng lẻ, rồi từ một người đến tổ chức đám đông. Nói thế không có nghĩa chỉ tôn vinh một thứ giáo dục bằng ngôn thuyết văn tự mà không kể đến những hình thức giáo dục phi ngôn thuyết phi văn tự như thủ thoại (sign language) dành cho người khiếm thính, hay những cú đánh những tiếng hét (bỗng hát) truyền đạt thẳng từ tâm hồn qua tâm hồn (tâm truyền tâm) trong thiền học. Từ khi con người có tiếng nói, có chữ viết, giáo dục của loài người nhờ đó phát triển nhanh rộng. Những tri thức kinh nghiệm được lưu giữ và truyền tiếp cho thế hệ sau mà không bị sự quên lãng cướp mất. Từ đó trường học được thành lập, bao nhiêu lãnh vực giáo dục được phát triển như loại hình, quan niệm, triết lý, nội dung, tổ chức, phương pháp v.v...đều luôn luôn tiến tới không bao giờ dừng lại để tốt hơn, hiệu quả hơn và thích nghi với hoàn cảnh thực tế. Vì vậy W.O.Lester  Smith, giáo sư Đại Học Luân Đôn, chủ tịch Hội nghiên cứu giáo dục Anh Quốc năm 1964 đã nói: “Khi nghĩ về giáo dục ta không được quên rằng giáo dục có tính cách phát triển của một cơ thể. Nó thường xuyên tuỳ thuộc và liên tục thay đổi để tự thích ứng với những nhu cầu mới và hoàn cảnh mới. Nếu cứ khư khư muốn đơn giản hoá ý nghĩa của giáo dục vào một định nghĩa theo chủ quan có tính giáo điều thì ắt hẳn không phải thái độ đúng đắn của nhà giáo dục. Giáo dục do đó không phải chỉ thay đổi theo thời gian mà còn thay đổi theo hoàn cảnh. Nó mang ý nghĩa và quan niệm khác nhau theo mỗi hoàn cảnh và ngay cả trong cùng một quốc gia nó cũng đòi hỏi một ý nghĩa một quan niệm khác nhau cho vùng nông thôn và đô thị kỹ nghệ”. Nhà giáo dục Ý Disraeli có lần đã bảo rằng ông rất ghét những định nghĩa. Ông cho rằng trong việc nghiên cứu giáo dục thì những định nghĩa không khác gì những tên đầy tớ tốt nhưng lại là những ông chủ xấu. Vì lẽ nó phục vụ trung thành cho một quan điểm chủ quan và do đó giết chết ý tưởng, sáng kiến về những quan điểm rộng rãi và phương cách thích nghi trong tiến trình sinh hoạt của loài người.

 2. Quan niệm buổi đầu về giáo dục.

Giáo dục  theo từ  tiếng Hán  thì  giáo nghĩa là dạy là rèn  luyện về  đường tinh thần nhằm phát triển  tri thức  và huấn luyện  tình  cảm đạo đức,  dục  là nuôi là săn  sóc về mặt thể chất. Vậy giáo dục phương Đông cũng đã quan niệm đó là một sự rèn luyện con người về cả ba phương diện trí tuệ, tình cảm và thể chất. Ở Trung Quốc từ giáo dục xuất hiện rất sớm. Trong Mạnh Tử có câu: “ Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi.” (Tận Thượng). Nghĩa là giáo dục để được anh tài trong thiên hạ. Theo phương Tây thì từ Education vốn phát xuất từ  chữ  Educare của tiếng La Tinh. Chữ E có nghĩa là out tức là làm phát xuất ra và chữ ducare có nghĩa là to lead tức dắt dẫn lôi kéo của tiếng Anh. Động từ Educare là dắt dẫn,  hướng  dẫn  để  làm phát  khởi ra những khả năng tiềm tại. Sự dắt dẫn này nhằm đưa con người từ không biết đến biết,  từ xấu đến tốt,  từ thấp kém đến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Từ Education xuất hiện ở Pháp từ đầu thế kỷ 16 nhưng đến  giữa thế kỷ 17,  Viện  Hàn Lâm Pháp mới đưa ra định nghĩa  đầu  tiên  như  sau: “Giáo  dục  là sự  dạy  dỗ trẻ em hoặc về phương diện trí tuệ hoặc về phương diện thể chất.” (L’éducation c’est le soin qu’on prend de l’instruction des enfants, soit en ce qui regarde les exercices de l’esprit, soit en ce qui regarde les exercices du corps.) Như vậy lúc đầu chữ Education đồng nghĩa với chữ Intruction, nghĩa là giảng dạy hay nói cách khác là sự truyền thụ kiến thức làm cho nảy nở thêm lên ví như vun trồng loài cây hay tập luyện loài vật vậy.

Như vậy quan niệm buổi đầu về giáo dục,  phương Đông cũng như phương Tây đều giống nhau ở chỗ lấy con người làm đối tượng và nhằm phát triển ba phương diện trí tuệ, tình cảm và thể chất. (Xin tham khảo thêm bài của HT. Thích Thiện Siêu bài Bàn vềmục tiêu của giáo dục Phật Giáo đăng trong GIÁO DỤC PHẬT GIÁO TRONG THỜI HIỆN ĐẠI, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, NXB TP.HCM, tr. 30, có đoạn nói về từ Giáo Dục như sau: “Từ Giáo dục được dùng ở Trung hoa, Nhật bản, Việt Nam … khá chậm, khoảng thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20, nhằm dich từ Education của Tây phương. Education có gốc La-tinh là Eùducatus, động từ Educacere, nghĩa là nuôi nấng, dạy dỗ, dẫn đi tới … Trong khi đó, kinh điển Phật Giáo dùng từ Giáo hoá để dịch từ Paripae của Phạn ngữ.”õ)

3. Giáo dục học Phật giáo.

Phật giáo có hay không có một nền giáo dục? Nếu có thì nền giáo dục ấy như thế nào? Câu hỏi đặt ra nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng thật sự ta phải đặt ra, ta phải khẳng định rõ ràng và có bổn phận nói với tất cả mọi người trên thế giới. Bởi giáo dục Phật giáo là một lãnh vực còn bị bỏ hoang đối với giới nghiên cứu giáo dục. Những tác phẩm có tính cách tổng kết giới thiệu các nền giáo dục của thế giới như quyển The World of Education của Rena Foy của nhà xuất bản Mac Millan Luân Đôn ấn hành năm 1967 cũng chỉ nói đến giáo dục cổ Hi Lạp, giáo dục của đế quốc La Mã, giáo dục Khổng giáo, giáo dục Thiên chúa giáo và quyển The Development of Education in The 20th Century của Meyer do  nhà xuất bản Prentice-Hall tái bản nhiều lần đều không hề động cập đến giáo dục Phật giáo. Tiến sĩ Kanazawa Tomitarō trong lời tựa quyển NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC  PHẬT GIÁO của ông xuất bản năm 1955 đã than rằng: “Nhìn lại quá trình nghiên cứu lịch sử giáo dục Phật giáo Nhật Bản từ trước đến nay, ta thấy vai trò của Phật giáo đã hết sức bị xem nhẹ.”

Khổng Tử đề cao lễ nhạc, giảng dạy đạo tam cương ngũ thường, san định Kinh Thi, để lại cho đời một quyển Luận Ngữ chừng trăm trang giấy nhỏ đã được hậu thế tôn xưng là “Vạn thế sư biểu”. Jesus Christ cho đến khi bị đóng đinh trên cây thập giá còn lại một quyển gọi là Kinh Thánh nằm gọn trong lòng bàn tay, nhà xuất bản Prentice-Hall trong THE EDUCATOR’S ENCYCLOPEDIA đã lặt ra 4 điểm gọi là những đóng góp của Thiên chúa giáo cho nền giáo dục thế giới. Còn Thích Ca Mâu Ni từ khi đứng dậy dưới cây Pippala cho đến khi nằm xuống giữa hai cây Sala một đêm trăng vàng, ròng rã 45 năm không mỏi mệt đi khắp miền của bán đảo Ấn Độ giảng dạy từ vương hầu tể tướng, Bà la môn, cư sĩ, thương nhân cho đến người paria cũng được hoá độ. Những lời vàng ấy đã được kết tập thành ba tạng giáo bằng văn hệ Pali và Sanskrit và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, có tác dụng như ngọn gió mát trong lành thổi vào cái sinh hoạt của con người suốt từ trên hai ngàn năm cho đến thế kỷ 21 đầy sôi sục này là điều có thể phủ nhận được sao?

Xã hội Ấn Độ dưới thời Thích Ca Mâu Ni có hai tình trạng đặc biệt mà người nghiên cứu không thể bỏ qua. Một thuộc khía cạnh tư tưởng và một thuộc khía cạnh xã hội.

Về mặt tư tưỏng có thể nói đây là quê hương của nhiều tín ngưỡng tôn giáo như bái vật giáo, đa thần giáo, nhất thần giáo, vô thần giáo v.v… Theo Phạm Động Kinh trong bộ Trường A Hàm thì lúc bấy giờ có đến 62 học phái ngoại đạo. Có phái chủ trương khoái lạc. Họ cho rằng từ ý nghĩa cho đến hành vi sở dĩ xấu ác tội lỗi là vì khoái lạc không được thoả mãn. Theo chủ trương phái này thì nếu khoái lạc được thoả mãn, con người sẽ cảm thấy nhẹ nhàng khoan khoái. Có no đầy khoái lạc con người mới thực sự tự do trước dục vọng. Ngược lại có phái chủ trương ép xác khổ hạnh. Họ ngồi trên bàn chông, phơi mình dưới nắng cháy, nhịn đói, quất roi da vào mình v.v…dùng đủ mọi hình thức để hành hạ xác thân. Phái này chủ trương coi thân xác là nguyên nhân của mọi tội lỗi. Nó khác nào con ngựa bất kham, phải trừng trị cho đến tê mê kiệt quệ không còn cảm giác mới hết những thèm muốn, những đòi hỏi thấp hèn. Theo họ, thân xác là ngục tù, nó giam hãm tinh thần không cho thần hồn thể nhập được với tinh hoa của vũ trụ. Thân xác hãy như cây củi khô, có cháy cho tiêu tan thì khói thần hồn mới bốc cao tận chín phương trời.

Trong tất cả các tín ngưỡng tôn giáo lưu hành tại Ấn Độ lúc bấy giờ có đạo Bà la môn là uy quyền hơn cả. Đạo Bà la môn không chỉ ngự trị về mặt tư tưởng học thuật mà còn định đoạt giá trị của sự an bài các giai tầng trong xã hội.

Về mặt xã hội, đạo Bà la môn chủ trương mọi người đều do thần Brahma sinh ra. Trong Nguyên Nhân Tán Ca có chép: “Dòng Bà la môn được thần Brahma sinh từ miệng, dòng vương tộc từ hai cánh tay, thứ dân từ hai mắt và nô lệ hạ tiện từ hai chân.” (Rig Vedas. X.92.12) Từ huyền thoại Vệ Đà đó, xã hội Ấn Độ đã phải sống trong chế độ chủng tính (castes) vô cùng khe khắt không làm sao thoát ra được nếu không có một cuộc cách mạng tư tưỏng, cách mạng xã hội. Sự xuất hiện của Thích Ca Mâu Ni trong bối cảnh đó, về khía cạnh văn hoá xã hội có thể coi như một cuộc cách mạng.

Thích Ca Nâu Ni từ bỏ nếp sống cao sang dấn thân tìm đạo, rồi từ bỏ nếp sống khổ hạnh trở lại cuộc sống bình thường. Hai cử chỉ ấy là sự thể nghiệm và đồng thời cũng chứng minh rằng chủ trương theo khoái lạc hay chịu hành xác đều là sai lầm. Bài nói pháp đầu tiên của Thích Ca Mâu Ni đã phủ nhận cái gọi là chúa tể sáng tạo của nhất thần giáo, những luận điệu mơ hồ của phiếm thần giáo và đa thần giáo. Đạo lý nhân quả trong thuyết Tứ diệu đế, được giải thích bởi lý 12 nhân duyên, cắt nghĩa sự sinh thành tồn tục của vũ trụ vạn vật mà không lâm vào ngõ bí của nguyên nhân đầu tiên. Thuyết nhân quả của Thích Ca Mâu Ni đã trả lại cho con người cái giá trị đích thực của nó mà xưa kia đã bị tư tưởng hữu thần tước đoạt. Theo đó con người tự trách nhiệm về hạnh phúc hay khổ đau bằng hành vi của chính mình chứ không do may rủi, không do định mệnh hay do thần linh thưởng phạt. Vì thế sau khi thức tỉnh rồi, Phật dạy 8 con đường hành động chân chính để cải thiện đời sống cho đời này và đời sau.

Thuyết Tứ diệu đế và Bát chính đạo còn phủ nhận huyền thoại về sự phân chia chủng tính đã ngự trị xã hội  Ấn Độ từ khi dân tôïc Aryan thu phục xứ này. Trong kinh Tiện Dân, một bản kinh giải thích về sự hạ tiện hay tôn quí của người dân, có đoạn nói: “Con người sinh ra không ai là tiện dân không ai là Bà la môn mà do hành vi khiến họ trở thành tiện dân hay Bà la môn.” (Sn.I.Vasala).

Để hiện thực cuộc cách mạng xã hội, Thích Ca Mâu Ni, một vị đông cung thái tử dòng Sát đế lị đã “cầm cái bát khất thực”. Thích Ca Mâu Ni đã tổ chức đời sống tăng đoàn theo 6 pháp hoà hợp. Đây có thể nói là một mô thức sinh hoạt của một xã hội không còn đấu tranh vì mâu thuẫn. Bà Gotami, theo Tiểu Phẩm Luật, là phụ nữ đầu tiên được Thích Ca Mâu Ni độ cho xuất gia, tu học, hành đạo với đầy đủ phương diện. Nếu gọi đây là quyền con người thì ngày nay trong nhiều tôn giáo, trong nhiều xã hội trên thế giới phụ nữ vẫn chưa được cái quyền này.

Đạo Phật còn nhằm đào tạo một mẫu người lý tưởng dấn thân vào xã hội. Đó là con người Bồ tát đa hạnh. Và dù phát hạnh nguyện nào, con người Bồ tát cũng được khuyến khích học hỏi sáng tỏ 5 điều (ngũ minh) để làm viẹâc lợi ích cho đời, để làm phương tiện độ sinh. Năm điều ấy là: nội điển, luận lý, ngôn ngữ, y khoa và kỹ thuật. Đây sẽ là một ngạc nhiên to lớn cho những ai nghiên cứu giáo dục, nhất là giáo dục sử học khi khám phá ra điều này trong đạo Phật.

Vậy đến đây câu hỏi có hay không có một nền giáo dục Phật giáo tưởng không phải đợi câu trả lời. Thế nhưng tại sao đến nay giáo dục học Phật giáo vẫn còn là mảnh đất chưa được khai phá, vẫn còn là đề tài chưa được biết đến đối với các nhà nghiên cứu giáo dục Đông cũng như Tây? Có lẽ có một lý do nằm trong bài phát biểu của giáo sư Minh Chi: Giáo dục Phật giáođối diện những vấn đề hiện đại. Giáo sư viết: “Cho đến nay, chúng ta thường hạn chế số người làm chức năng giáo dục trong tăng sĩ, và giờ giáo dục Phật giáo trong các buổi thuyết pháp hay là lên lớp ở các trường Phật học cơ bản và cao cấp. Một quan niệm hẹp như vậy làm giảm sút hiệu quả của giáo dục Phật giáo rất nhiều. Tất cả những người không kể là xuất gia hay tại gia, một khi đã tin vào chân lý của những giá trị triết lý đạo đức của đạo Phật và sống theo đúng những giá trị đó, đều mặc nhiên trở thành những nhà giáo dục Phật giáo, bằng thân giáo, bằng mọi hành vi và lời nói của mình.” (Minh Chi, SĐD, tr.88)

Nếu thời Phật tại thế đã có một Duy Ma Cật giảng diễn Phật pháp dưới sự ấn khả của Phật, cũng như một Thắng Man phu nhân được Phật cho phép đã giảng giải ý nghĩa nhất thừa đạo, là hình ảnh một cư sĩ nam một cư sĩ nữ đã thực hành vai trò giáo dục, giảng nói ý nghĩa cao tột của Phật giáo thì sau Phật diệt độ không lâu một Asoka đã thực hiện truyền bá Phật giáo sang phương Nam và sự nghiệp truyền bá Phật giáo cũng như sự nghiệp giáo dục Phật giáo của ông không bao giờ phai mờ trong lịch sử đạo Phật. Và sau khi Phật giáo được truyền vào Nhật Bản không lâu, một Shōtoku taishi (Thánh Đức thái tử) đã khoác áo cà sa trên thân hình thế tục lên giảng toà giảng kinh Thắng Man. Không những thế, ông còn viết ra Bản Hiến Pháp 17 điều, nổi tiếng là cơ sở tinh thần Nhật Bản mà đếùn nay trong cũng như ngoài nước chưa ai phủ nhận. Điểu thứ 2 trong Bản Hiến Pháp là: “ Nhị viết: Đốc kính Tam Bảo. Tam Bảo giả Phật Pháp Tăng dã. Tắc tứ sinh chi chung qui. Vạn quốc chi cực tôn. Hà thế hà nhân. Phi quí thị pháp. Nhân tiên vưu ác. Năng giáo tùng chi. Kỳ bất qui Tam Bảo. Hà dĩ trực uổng.” Nghĩa là: “Dốc lòng tin kính Tam Bảo. Tam Bảo là Phật Pháp Tăng. Đó là nơi chung qui của bốn loài chúng sinh, cực tôn của muôn nước. Dù đời nào dù người nào, không quí trọng pháp này thì con người thành xấu ác. Nên dạy người tuân theo. Nếu không qui y Tam Bảo thì lấy gì sửa đổi chỗ tà vạy”.

II. CÁC LÃNH VỰC GIÁO DỤC.

1. Tư tưởng giáo dục Phật giáo.

1.1. Tư tưởng nhất thừa.

Tư tưởng nhất thừa là cứu cánh của giáo dục Phật giáo. Tư tưởng này thể hiện rõ nét nhất trong Kinh Pháp Hoa. Phẩm Phương Tiện có bài kệ như sau:

Chư Phật lưỡng túc tôn

Tri pháp thường vô tính,

Phật chủng tùy duyên khởi.

Thị cố thuyết nhất thừa

Thị pháp trụ pháp vị,

Thế gian tướng thường trú.

Nghĩa là:

Chư Phật lưỡng túc tôn

Biết pháp thường không tính,

Giống Phật tùy duyên khởi.

Cho nên nói nhất thừa

Là pháp trụ pháp vị,

Tướng thế gian thường trú.

(Bản dịch KINH PHÁP HOA của Nguyên Hồng, NXB TÔN GIÁO, Hà Nội, năm 2003)

Về hình thức ngữ pháp trong bài kệ này ta lưu ý chữ “Thị cố” là một liên từ và chữ “Thị” là một động từ. Về nội dung cần lưu ý chữ “tính” ở câu đầu và chữ “tướng” ở câu cuối. Không tính nghĩa là không có tự tính. Tất cả các pháp đều theo luật duyên khởi. Nhất thừa là “pháp trụ pháp vị”, nhất thừa là “tướng thế gian thường trú”. Tướng thường trú là thật tướng bình đẳng thường hằng trong tất cả các pháp không phân biệt thế gian hay xuất thế gian.

Qua bài kệ này ta thấy nhất thừa là tư tưởng tuyệt đối bình đẳng không phân biệt, là phổ biến và luôn tồn tại. Kinh Niết bàn Phật dạy: “Nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tính.” Nghĩa là tất cả chúng sinh đều có Phật tính tất hữu. Cái Phật tính tất hữu tồn tại trong tất cả chúng sinh. Cái tính Phật trong chúng sinh như như ngọc trong đá, như hạt gạo trắng nằm trong vỏ trấu, như kho tàng chôn giấu trong nhà người nghèo, như tượng vàng gói trong vải rách, như người con gái nghèo xấu mang thai một chuyển luân thánh vương. Cho nên tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Có khả năng đạt được sự viên mãn cao tột. Tư tưởng nhất thừa cũng là tư tưởng một là tất cả, tất cả là một (nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất), là tư tưởng không xa rời (bất ly). Là phiền não tức Bồ đề, sinh tử tức Niết bàn, cảnh giới Niết bàn và thế giới hiện thực là một. Là Phật cũng ở thân này(Tức thân thành Phật), là tâm thanh tịnh tức cõi Phật thanh tịnh (Kinh Duy Ma).

Tổ sư Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn có bài kệ như sau:

Phật pháp tại thế gian

Bất ly thế gian giác.

Ly thế mích Bồ đề

Cáp như cầu thố giác.

Nghĩa là:

Phật pháp ở trong đời

Không lìa đời mà có.

Bỏ đời đi tìm đạo

Như tìm sừng con thỏ.

(Nguyên Hồng dịch, KINH PHÁP BẢO ĐÀN, 2000, NXB TP. HCM)

Lý Đạo Tải người xã Vạn Tư huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh đỗ Giáp Khoa triều Nhà Trần, ngày nọ theo vua Trần Nhân Tôn đến chùa Vĩnh Nghiêm nghe thiền sư Pháp Loa thuyết pháp bèn ngộ đạo than rằng:

Vi quan cư Bồng Đảo,

Đắc đạo đáo Phổ Đà.

Chân thế thượng tiên,

Tây phương Phật dã.

Nghĩa là:

Làm quan ở Bồng Đảo

Đắc đạo đến Phổ Đà.

Là tiên ấy cũng là ta,

Cũng là Phật ở liên toà phương Tây.

Rồi nhân đấy qua núi Yên Tử trụ trì chùa Yên Vân, hiệu Kim Cương Huyền Quang. Sau khi mất được dân chúng lập đền thờ ở xã Vạn Tư huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh được triều đình sắc phong là Huyền Quang tôn giả hộ quốc tế thế thiền sư chi thần. Qua bài thơ ngộ đạo tư tưởng nhất thừa cũng được toát lên rõ rệt.

Thiền sư Đạo Nguyêân, tổ sư phái thiền Tào Động, trong Vĩnh Bình Quảng Kýù đã viết:”Nhất trần cử, đại địa thâu. Nhất hoa khai, thế giới khởi. Nhất niệm thấu thoát, bát vạn tứ thiên trần lao đốn trừ. Nhất cú đương cơ, bát vạn tứ thiên pháp môn thành tựu. Thí như cử võng tắc võng tuỳ, cử lãnh tắc sa tuỳ. Nhất vi vô lượng, vô lượng vi nhất. Tiểu trung hiện đại, đại trung hiện tiểu. Ư nhất hào đoan, hiện bảo vương sát. Ư vi trần lý, chuyển đại pháp luân.”  (Quyển 6, tr.554-555) Nghĩa là đưa một hạt bụi lên thâu hết cả đại địa, một đoá hoa nở mở ra cả một thế giới. Một niệm thông suốt dứt  trừ  ngay tám vạn  bốn  ngàn  trần lao. Một câu trúng cơ là tám vạn bốn ngàn pháp môn thành tựu. Ví như nhấc lưới thì cả lưới đều theo lên, nhấc áo thì cả áo đều theo. Một là không lường hết, không lường hết là một. Trong cái nhỏ hiện ra cái lớn. Trong cái lớn hiện ra cái nhỏ. Một vương quốc hiện ra trên đầu một mảy lông. Quay bánh xe pháp lớn trong một hạt bụi.

Như trên đã trưng dẫn cái đạo lý nhất thừa nói riêng hay triết lý Phật giáo nói chung mà người đời thường cho là cao siêu huyền diệu đó liệu có làm ra cơm gạo thuốc men để giải quyết cảnh nghèo đói bệnh tật cho nhân loại không? Cái đạo lý cao siêu đó có giải quyết được cái mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo đang sôi sục trên thế giới, là nguy cơ đe dọa nhân loại trong thế kỷ 21 này với vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học, vũ khí sinh học đang ngấp nghé thực hiện những cuộc thảm sát giết người hàng loạt hay không?

Để trả lời câu thắc mắc đó xin dẫn  ra  một  câu trong Kinh PHÁP HOA, Phẩm Phương Tiện. Phật nói: ” Chư Phật thế tôn vì một nhân duyên trọng đại mà xuất hiện ở đời.” Xưa nay người giảng kinh dạy đạo thường thích đào sâu cái huyền bí nhiệm mầu, thành ra người giảng diễn Phật pháp lại là người làm cho Phật pháp trở thành nên khó hiểu, trở thành khó tiếp cận. Khi giảng câu này, các giảng sư không khỏi nói đến ứng thân Như lai, rồi nói đến ba thân của như lai rồi nói đến bản thể tự tính thanh tịnh để giảng nghĩa chữ đại sự nhân duyên là giáo hoá chúng sinh đạt đến Phật thừa cứu cánh. Nhưng chắc ít ai giảng nói chữ xuất hiện với một ý nghĩa hết sức thế gian là tinh thần nhập cuộc, tinh thần dấn thân, dũng mãnh không sợ sệt, tự nguyện dạy dỗ dìu dắt mọi người để được kết quả cao nhất, hoàn thiện nhất của con người. Giảng như vậy không có nghĩa là hạ thấp giáo lý nhà Phật, không có nghĩa là thế tục hoá đạo Phật mà chính là vận dụng được tinh thần Phật pháp vào trong cuộc sống. Nếu không vận dụng được tinh thần Phật dạy vào cuộc sống thì không thực hiện được ý nghĩa giáo dục, cô phụ cái “đại sự nhân duyên xuất hiện ư thế” của Phật biết bao, và không có lý gì để chứng tỏ sự tồn tại của Phật giáo là cần thiết cho nhân loại.

1.2. Tư tưởng xã hội.

Trong khi khuyến khích sinh hoạt xuất gia, đó là phương pháp để đạt mục đích giải thoát, một mặt đức Phật cũng rất quan tâm và tôn trọng sinh hoạt thế tục. Trong 45 năm hoạt động giáo hóa, từ những việc lớn liên quan chính trị quốc gia đến những việc nhỏ như kinh tế tiêu phí của tăng đoàn và chi tiêu trong gia đình của tín đồ tại gia, từ vấn đề lớn như chế độ chủng tính đến nhỏ như như quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng, nhiều vấn đề hiện thực đa dạng thuộc  phạm vi thế tục đều được Phật dạy đến. Từ sau thời đức Phật nội dung giáo dục đa dạng này đã được triển

khai, thực tiễn hóa trong sinh hoạt kinh tế xã hội hiên thực. Đến nay nếu hệ thống kết quả đó chắc chúng ta sẽ có một kho tài liệu không nhỏ các kinh điển và những trước tác về “học thuyết xã hội của Phật giáo”.

1.2.1. Xã hội quan trong Phật giáo nguyên thủy.

Giáo nghĩa căn bản của đức Phật là dạy chúng ta giải thoát vô minh phiền não, giác ngộ thành Phật bằng thực hành 8 con đường chân chính. Qua đó rõ ràng xã hội quan của Phật giáo nguyên thủy đặt nền móng trên chủ nghĩa lợi tha và chủ nghĩa liên đới.

Xã hội quan Phật giáo thường được biểu hiện bằng tăng già, tức chúng hòa hợp. Nghĩa hẹp của tăng già là đoàn thể xuất gia sống hòa hợp. Nếu ai có hành vi phá hoại sự hòa hợp đó là phạm tội ngũ nghịch. Thế nhưng có trường hợp từ tăng già không chỉ riêng đoàn thể xuất gia như tì khưu, tì khưu ni thôi mà còn được hiểu với ý nghĩa là một tập thể các đệ tử  đức Phật và tín đồ nhà Phật. Mối tương quan xã hội trong trường hợp này là tăng già thí pháp cho người tại gia, đối lại người tại gia thí y thực cho người xuất gia, hai bên dựa vào nhau, phò trợ nhau duy trì cuộc sống hòa hợp. Đây có thể coi như tế bào của một cộng đồng để từ đó phát triển ra xã hội, đến quốc gia, thế giới trong lý tưởng xã hội của Phật đà. Đức Phật không chỉ chú trọng vào tăng già mà còn mở rộng sự hòa hợp vào các tổ chức, đoàn thể bằng đường lối 4 phép nhiếp hóa, tức bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Bố thí như thế gian gọi là hoạt động từ thiện, phúc lợi xã hội. Bố thí trong Phật giáo là đưa ra chứ không thu vào cho mình. Bố thí có phạm vi rộng gồm tài, pháp, vô úy, và thái độ hành vi bố thí là “tam luân không tịch”. Công đức bố thí diễn tả trong câu chuyện “Ngọn đèn của một nữ thí chủ” tạo rất nhiều ấn tượng. Ái ngữ là nói lời nhu nhuyến tạo sự đoàn kết hòa hợp đem lại niềm vui lòng hi vọng và tin tưởng cho mọi người. Lợi hành là làm tất cả mọi sự cho phúc lợi thế gian và xuất thế gian. Đồng sự là kề vai sát cánh, đồng hành cùng mọi người, vất vả gian nan cùng chia sẻ, phúc lợi cùng chung hưởng đồng đều. Không có người chỉ huy cho người khác làm hay ngồi xem người khác làm. (Xem Kinh Lễ Bái Sáu Phương –Kinh Dạy Người Thi Ca La Việt, Nam Truyền Đại Tạng Kinh, Q.8, tr. 257). Tổ chức nông thiền của tổ Bách Trượng đời Đường ở Trung Quốc với câu “Nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực” (Một ngày không làm một ngày không ăn) là một thí dụ.

Đức Phật dạy làm người phải có nghĩa vụ đền đáp, đó là thái độ sống đạo đức trong quan hệ gia đình và xã hội.  Trong Kinh Lễ Bái Sáu Phương Phật dạy nên lễ bái sáu phương. Đây không phải hành động sụp lạy 6 cái khoảng không vô tri vô giác. Lễ bái là phụng thờ, tôn kính, tri ân, báo đáp. Sùáu phương đó là: Phương Đông tượng trưng cha mẹ, Phương Nam tượng trưng thầy dạy, Phương Tây tượng trưng vợ con trong gia đình, Phương Bắc tượng trưng bạn hữu, Phương dưới tượng trưng người giúp việc và Phương trên tượng trưng đạo sĩ. Đó là sáu đối tượng mà làm người phải có nghĩa vụ báo ân báo đức và phục vụ.

1.2.2. Đạo đức kinh tế trong Phật giáo nguyên thủy.

Cuộc đời đức Phật phần lớn du hành rày đây mai đó. Phật tán thán người đời đã vì những người xuất gia tu hành thiết lập tinh xá, cung cấp giường nằm, tọa cụ, y phục, ẩm thực vật, chăm sóc thuốc thang cho người xuất gia. Những việc làøm đó gọi là tạo phúc lợi thế gian. Còn hoan hỉ tu tập Phật đạo là tạo phúc lợi xuất thế gian. Đạo Phật dạy người luôn luôn chú trọng cả hai mặt thế gian và xuất thế gian, cho nên trong việc tạo phúc lợi cũng vậy. Chẳng thế ta thương nghe câu: “Pháp tài nhị thí thủy thành công. Phúc tuệ song tu phương tác Phật.” Nghĩa là có thí tài và thí pháp thì mới đạt kết quả và có tu phúc lẫn tu tuệ mới thành Phật. Không chỉ hướng về tăng già xuất gia, đức Phật cũng đặc biệt ca ngợi những việc làm công ích như săn sóc người bệnh, thiết lập những phương tiện giúp người qua đường như làm thuyền bè, cầu bến, nhà nghỉ, mở đường, tránh hiểm, đào giếng nước, nhà cấp nước uống, trồng cây xanh v.v.. (Tạp A Hàm, Q.36)

Phật tử hành thiện hạnh tu thiện nghiệp là tïạo phúc đức. Vì ý nghĩa đó, nơi phát sinh phúc đức gọi là phúc điền. Và do đó phúc điền trở thành nguyên nhân của hành vi lợi tha. Kết quả đó, cũng giống như đối với tăng ni, Phật tử mở rộng phúc điền đối với đông đảo dân chúng, đặc biệt là tăng tiến các hoạt động trợ giúp người nghèo người bệnh và các hoạt động phúc lợi công cộng.

Với người xuất gia đức Phật khuyên tinh tiến tu hành, nhưng đối với người tại gia Phật khuyên trước tiên phải siêng năng trong nghề nghiệp. Phật dạy mối quan hệ hỗ tương quan trọng nhất là phải nắm vững chức năng của mình trong trật tự xã hội. Bất cứ ai từ vua chúa võ sĩ Bà la môn nông dân thương nhân đều có chức nghiệp của mình. Không những thế, chức nghiệp không phân biệt quí tiện. Có điều là người tại gia phải sở đắc bằng chức nghiệp chính đáng của mình. Những chức nghiệp chính đáng được đức Phật nêu ra như sau: nông nghiệp, chăn nuôi, thương nghiệp, thủ công nghiệp, kinh doanh cho thuê nhà ở, công chức, thầy giáo, thư ký, giúp việc nhà v.v... tức là những nghề nghiệp hiẹân chính thức được công nhận.  Còn những hoạt động kiếm lợi nhuận như buôn bán chế tạo vũ khí, thuốc độc, nấu rượu, kinh doanh quán rượu, hành thương qua sa mạc, buôn bán nô lệ, hành nghề sát sinh, bán hàng thịt, mãi dâm, kinh doanh du hí, làm thầy bói toán. Đó là những nghề nghiệp theo giới luật nhà Phật là không thích đáng. Đặc biệt trong kinh Tạp A Hàm và Tăng Nhất A Hàm Phật dạy nhiều chi tiết liên quan về thương nghiệp.

Về mặt quản lý gia đình hợp lý, Phật dạy thu nhập phải do hoạt động nghề nghiệp chính đáng và chia làm 4 phần: chi phí cho xã hội, chi phí cho gia đình, ngân khoản tái đầu tư, ngân khoản dự trữ bảo hiểm tai nạn. Chính sách quản lý theo Phật dạy này đã trở thành nguyên lý chỉ đạo về quản lý kinh tế truyền thống của các nước Phật giáo ở Châu Á. (Ōno Shinzo, Nguyên Lý Kinh Tế Học, quyển thượng, 1956) Tên gọi cũng như tỷ lệ phân chia của 4 phần trên tương đối có khác nhưng về đại thể không cách xa nhau mấy.

Điều đức Phật  cảnh  giác  nhất đối với kinh tế gia đình là sự lãng phí.  Phật dạy  có 6 nguyên nhân đưa đến lãng phí là: 1. Uống rượu, 2. Chơi đêm, 3. Ham khoái lạc, 4. Cờ bạc,  5. Bạn xấu, 6. Lười biếng. (Kinh Lễ Bái Sáu Phương)

1.2.3. Tinh thần và nội dung của luân lý Đại thừa phát triển.

Đến đây xin nói thêm về tư tưởng phúc điền thời hậu kỳ Phật giáo. Theo đó thì tư tưởng phúc điền còn nhân rộng ra có tam phúc điền và bát phúc điền. Tam phúc điền là: 1. Kính điền (Phụng sự Tam bảo) 2. Ân điền (Báo ơn cha mẹ) và 3. Bi điền (Phục vụ người nghèo khổ tật bệnh). Tam phúc điền còn được gọi dưới tên khác là: 1. Báo ân điền (Báo ân cha mẹ) 2. Công đức điền (Cúng dường Tam bảo) và 3. Bần cùng phúc điền (Phục vụ người nghèo khổ). (Sự phân chia này là trong Ưu Bà Tắc Giới Giáo) Bát phúc điền thông thường là: 1. Phật điền  2. Thánh nhân điền 3. Tăng điền (Ba loại này gọi là Giáo điền) 4. Hòa thượng điền  5. A Xà Lê (Sư tượng) điền  6. Phụ điền  7. Mẫu điền (Bốn loại này gọi là Ân điền) và  8. Bệnh điền (Loại này gọi là Bi điền). Bát phúc điền đôi khi cũng chỉ vào 8 hành sự sau đây: 1. Mở đường, đào giếng  2. Làm cầu qua sông  3. San lấp lối đi hiểm trở  4. Hiếu dưỡng cha mẹ  5. Cung kính Tam bảo  6. Cấp dưỡng bệnh nhân  7. Cứu tế người nghèo khổ  8. Mở pháp hội vô giá (tức cúng thí cô hồn). (Sự phân chia này được mô tả trong Kinh Phạm Võng).

Nhật Bản cũng như các quốc gia theo Phật giáo ở Đông Nam Á có thể nói đã dựa trên cơ sở này mà phát huy tư tưởng chính sách xã hội và sự nghiệp xã hội. (Những điều đề cập này được dẫn lại trong Nghiên Cứu Sử Kinh Tế Nhật Bản,  Quyển hạ tr. 590 của Uchida Ginzō  và Nhật Bản  Phật Giáo Xã Hội Sự Nghiệp Sử của Asano Kenshin).

Các cao tăng nhiều đời đã dốc chí suy nghĩ và thực hiện ý nghĩa về chính sách xã hội của tư tưởng phúc điền mới để lại cho đời nhiều sự nghiệp quí trọng nay đã trở thành tài sản của cộng đồng như  tinh xá, phòng tăng, bệnh xá, trường học, nhà cứu tế, vườn cây, rừng trồng, bến thuyền, cầu đường, giếng nước công cộng, nhà vệ sinh công cộng v.v... Và những tài sản ấy ngày nay còn là của công là do liên quan căn bản đến giới không trộm cắp trong giới luật nhà Phật. Ở Nhật Bản ngày nay ngoại ô thành phố nhà cửa phòng xá vẫn không dùng ổ khoá, vật rơi không ai nhặt, việc lấy trộm bị khinh miệt như một sự đồi bại về đạo đức.

Trong hậu kỳ Phật giáo có rất nhiều hình tượng Bồ tát mỗi mỗi tượng trưng cho ý nghĩa của Phật dạy như Bồ tát Di Lặc tượng trưng tinh thần vị tha hóa độ, tương lai sẽ là vị Phật kế tiếp đức Thích Ca Mâu Ni thuyết giáo độ sinh.

Tì khưu Pháp Tạng lập 48 lời nguyện mở ra cảnh giới Tịnh độ tiếp dẫn chúng sinh, thành Phật hiệu A Di Đà vô lượng quang vô lượng thọ. Xuất phát từ tinh thần từ bi cứu khổ có Bồ tát Quán Thế Âm. Tượng trưng trí tuệ bát nhã để giác ngộ thì hình tượng Văn Thù đã được nhân cách hóa v.v... Đứng về thể mà nói thì hình tượng Bồ tát là đồng thể với chư Phật quá khứ hiện tại cũng như vị lai. Đứng về dụng mà nói thì hình tượng Bồ tát là mẫu người vị tha không còn ai vị tha hơn, là mẫu người lý tưởng, với trí tuệ sắc như gươm và lòng dũng cảm hùng mạnh như núi Tu Di đi vào đời để giải quyết các mặt sinh hoạt trong cuộc sống hiẹân thực. Chúng sinh đau khổ, Bồ tát thương yêu chúng sinh như con. Nỗi đau của chúng sinh như biển lớn thì số Bồ tát cũng không thể kể xiết. Trong thực tiễn, người tu Phật hành Bồ tát đạo là người sáng suốt và dũng cảm dùng mọi phương tiện đem giáo pháp đến với mọi người. Trước khi thành lập giáo đoàn Đại thừa Phật giáo thì chỉ tăng già là đoàn thể xuất gia duy nhất đủ tư cách “đại Phật tuyên dương” thực hành pháp thí. Thế nhưng về sau tình hình ngày một tăng dần sắc thái tại tục. Kinh Duy Ma, Kinh Thắng Man là những thí dụ chân xác. Trong thời hiện tại không thiếu những hình bóng, không thiếu những đoàn thể tổ chức tại tục làm công việc nghiên cứu diễn giảng Phật pháp.

1.2.4. Lý tưởng và thực tiễn trong Phật giáo Đại thừa phát triển.

Thông thường lý tưởng và thực tiễn được xem như hai mặt đối lập. Lý tưởng là cái gì hay đẹp, cao thượng nhưng khó thực hiện được trong thực tế. Như tình yêu giữa Lan và Ngọc trong tiểu thuyết Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng. Đó là một thứ tình yêu lý tưởng. Tình yêu này chắc không tìm được trong thực tế mặc dù là cao đẹp thuần khiết. Người ta nói: “Tôi hoài bão một lý tưởng.” hay “lý tưởng của đời tôi” , như vậy tức có nghĩa là cái còn trong ước mơ, cái còn đang ôm ấp chưa thực hiện được và biết đâu sẽ không bao giờ thực hiện được. Còn thực tiễn được coi là thứ ăn xổi ở thì là thứ sờ sờ trước mắt lộ liễu và trần trụi, bị người cao thượng rẽ rúng coi thường.

Phật giáo Đại thừa không quan niệm như vậy vì Phật giáo Đại thừa sống trong thực tế và đang thực hiện lý tưởng của mình ngay từ thực tế chứ không phải chỉ có ước mơ. Trên bước đường hướng về cõi tịnh ai ngăn cản ta xây dựng những vườn xuân trong cuộc hành trình? Cho nên nếu gọi thực tế là Ta bà, lý tưởng là Tịnh Độ thì theo tinh thần Đại thừa của Phật giáo không những không trái chống nhau mà còn “tương tức”. Nghĩa là Ta Bà tức Tịnh Độ, không có “thử độ bỉ độ”. Vì vậy tuy mang lý tưởng siêu xuất thế gian mà chính là thực tại thế gian và dĩ nhiên phải dựa trên cơ sở hoàn cảnh thực tế về xã hội, định chế chính trị và luật pháp nhà nước mới có thể thực hành lý tưởng giáo dục Phật giáo.

Tuyệt đỉnh lý tưởng của xã hội Phật giáo là thế giới Tịnh độ. Một thế giới bình đẳng, hòa bình an vui không phải lo âu về cuộc sống, “tưởng y y chí, tưởng thực thực lai”. Thế nhưng hiện tại cộng đồng xã hội Phật giáo chỉ thực hiện một phần. Cho nên đương nhiên dù mang một lý tưởng siêu xuất thế gian, Phật giáo cũng không thoát khỏi sự chi phối của hoàn cảnh xã hội, đặc biệt là về chính trị và luật pháp. Tất nhiên dưới chế độ xã hội đương thời, muốn đưa Phật giáo vào trong dân chúng không thể không thông qua những hoạt động chính trị của quốc gia.

Trong Chính Pháp Chính Lý Luận (Đại Chính ĐTK Q.31) và Du Già Sư Địa Luận (Q.61, Nhật Bản Quốc Dịch ĐTK, Luận Bộ Q.8) có nói đến tư cách và điều kiện đức hạnh của nhà vua như sau: 1. Xuất thân chủng tính tôn qúi  2. Có thể hành động tự do tự tại  3. Không bạo ác  4. Thưởng phạt nghiêm minh  5. Cho dân chúng thấm nhuần ân trạch  6. Tiếp thu những lời trung ngôn chính trực  7. Xử lý thận trọng mọi sự  8. Thường để tâm vào những điều dạy chân chính  9.Đánh giá đức tính và năng lực của bề tôi, tôn trọng các công lao quá khứ của họ 10. Tránh những hành động buông thả phóng túng.

Ở đây ta hãy suy gẫm điểm thứ nhất trong mười tư cách và điều kiện đức hạnh của một vị vua được Phật dạy trong Chính Pháp Chính Lý Luận và Du Già Sư Địa Luận. Trong kinh Tiện Dân, Phật đã dạy “không có giai cấp trong giọt máu cùng đỏ, không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn” hay “Con người sinh ra không ai là tiện dân không ai là Bà la môn mà do hành vi của họ làm cho họ thành tiện dân hay Bà la môn.” Nhưng trong điều thứ nhất nói về tư cách và điều kiện đức hạnh của nhà vua ở đây Phật lại nói “Xuất thân chủng tính tôn quí”. Nói thế phải chăng Phật chấp nhân chế độ chủng tính, và như thế có nghĩa là đã tự mâu thuẫn với những điều đã dạy trong kinh Tiện Dân? Không. Đây chính là điểm thực tại và lý tưởng trong quan điểm của Đại thừa Phật Giáo. Không thể đem lý tưởng mà chối bỏ thực tại cũng như không thể bám riết thực tại hay bị nhận chìm trong thực tại mà không thực hiện lý tưởng. Ở đây Phật đối cơ và tuỳ thời dạy bảo nhà vua cho nên điều thứ nhất là điểm xuất phát từ thực tại để thực hiện lý tưởng.

Kinh Nhân Vương Bát Nhã được Nhật Bản quí trọng như một trong những kinh điển hộ quốc. Các kinh điển hậu kỳ Đại thừa còn dạy vị quốc chủ phải có 3 chức năng xây dựng đất nước: 1. Kiến lập đế vương nghiệp luận dạy rằng: “Khéo dạy binh sĩ việc quân trận, chiến đấu, hàng phục binh chúng nước ngoài, phủ dục nhân dân.” 2. Kiến lập điền trạch nghiệp luận dạy rằng: “Khéo dạy nhân dân xây dựng nhà ở, kinh doanh nông nghiệp cho đời sống được an cư no đủ.”  3. Kiến lập tài bảo nghiệp luận dạy rằng: “Khéo dạy nhân dân học các ngành công thương tạp nghệ để có nhiều của cải tùy ý tiêu dùng, cuộc sống thêm an vui.” (Đại thừa Thập Tập Địa Tạng Thập Luân Kinh, Q.2, Đại Chính ĐTK 13.7.30)

Ngoài ra, thế giới  Hoa Nghiêm  mở ra  một mô dạng xã hội sinh thái học của Phật giáo. Nơi đây dân chúng trong xã hội chỉ trồng một căn lành rất nhỏ cũng được một kết quả vô cùng to lớn (Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Ly Thế Gian). Qua đó ta khám phá ra một nguyên lý kinh tế học quan trọng. Và tư tưởng Tịnh Độ trong Phật giáo là một đề xuất về một xã hội lý tưởng như trên đã nói. Tuy nhiên Tịnh Độ của Phật giáo không phải một thứ thiên đàng hư cấu, không tưởng mà đó là một thế giới hiên thực do khả năng vận dụng trí tuệ giác ngộ và nỗ lực của con người như tinh thần của Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma, Kinh Pháp Bảo Đàn đã thuyết giảng.

1.2.5. Các kinh điển đậm màu sắc xã hội.

1.  Kinh Pháp Hoa:  Phẩm Phổ Môn  với  tinh

thần cứu khổ cứu nạn của Bồ tát Quán Thế Âm. Phẩm Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát dạy về thiểu dục tri túc. Phẩm Dược Vương nói về thiêu thân cúng dường, vì pháp xả thân.

2. Kinh Hoa Nghiêm: Nói về hành trình cầu đạo của đồng tử Thiện Tài.

3. Kinh Duy Ma: Hình ảnh người cư sĩ tại gia.

4. Kinh Khổng Tước Minh Vương: Nói thụ trì độc  tụng  kinh này  sẽ được giải trừ ách nạn, oán địch, tật bệnh, được sống yên ổn.

5. Luận Du Già Sư Địa: Nói về niềm vui được 7 thứ thánh tài mà của cải thế gian không có được:

- Niềm vui thanh tịnh do tôn trọng chữ tín.

- Niềm vui làm các thiện hạnh.

- Niềm vui có những sở thích cao thượng.

- Niềm vui không chê bai khuyết điểm người khác.

- Niềm vui hiểu đúng Phật pháp.

- Niềm vui không để lại của cải dư thừa cho con cháu.

- Niềm vui phát sinh do thực hành Phật pháp.

6. Kinh Đại Tập: Nói về những tác hại do không tin kính kinh này.

7. Kinh Kim Quang Minh : Phẩm Tứ Thiên Vương nói về hộ trì quốc gia. Kinh này cùng với Kinh Pháp Hoa và Kinh Nhân Vương được Phật giáo Nhật Bản gọi là “hộ quốc tam bộ kinh”.

8. Kinh Phạm Võng : Không tuyệt đối cấm tì khưu xuất gia (Phương Nam là 227 giới, Phương Bắc là 250 giới) ăn cá thịt. Phật chế cho các tì khưu bệnh được phép dùng. Thịt được chia làm 3 loại tịnh nhục và bất tịnh nhục. Ba tịnh nhục là không thấy, không nghe và không nghi. Phạm vào một là bất tịnh nhục. Ngoài ra về loại thịt cũng chia loại tịnh và loại bất tịnh. Thịt heo, thịt gà được coi là tịnh. Thịt voi, thịt ngựa, thịt sư tử, thịt chó sói được coi là bất tịnh.

9. Kinh Vô Lượng Thọ: 48 lời nguyện mở cảnh giới Cực Lạc của Bồ tát Pháp Tạng. Ở thế gian có thứ gì thì có nỗi khổ lo âu về thứ đó, bới cái mình có là cái người khác muốn có, cái mình muốn giữ là cái người khác muốn lấy.

10. Luận Bảo Hành Vương Chính : Nói về tư cách và vai trò người quốc chủ.

11. Kinh Đại Bảo Tích : Dạy thiết lập kho lẫm

phòng bị đói kém, ổn định vật giá sinh hoạt.

1.2.6. Tinh thần bình đẳng trong giáo dục Phật giáo.

Tư tưởng nhất thừa là cứu cánh của giáo dục Phật giáo nên nó bao trùm mọi tư duy và hành động của giáo dục Phật giáo, trong đó có tư tưởng bình đẳng trong xã hội. Chư Phật thế tôn vì một nhân duyên trọng đại mà xuất hiện ở đời. Câu này nói lên nguyên nhân chủ quan cho sự hiện hữu của đức Phật và giáo lý của ngài. Nguyên nhân chủ quan là lòng từ bi vô hạn của chư Phật. Vì lòng từ bi mà xuất hiện ở đời độ thoát chúng sinh trở về với bản thể thanh tịnh bình đẳng. Còn xuất hiện ở đâu và khi nào, đó là nguyên nhân khách quan, là bối cảnh xã hội mà thuật ngữ Phật học gọi là thời và cơ.

Xã hội Ấn Độ thời Thích Ca Mâu Ni ra đời là mảnh đất phì nhiêu cho tư tưởng bình đẳng phát sinh và nảy nở. Nói theo ngôn từ của nhà nghiên cứu văn hoá và xã hội thì Thích Ca Mâu Ni là người đã làm một cuộc cách mạng văn hóa và xã hội thời bấy giờ. Bởi vì Thích Ca Mâu Ni đã làm đổ nhào mọi tư duy tư tưởng cũng như thang giá trị xã hội đương thời. Nếu thử làm một so sánh nhỏ cũng thấy không kém phần thú vị. Thí dụ đạo Bà la môn chủ trương thần Brahma sáng tạo ra vũ trụ. Phật dạy vạn sự vạn vật đều do duyên sinh. Đạo Bà la môn chủ trương sát tế đẫm máu. Đạo Phật chủ trương từ bi không giết hại sinh mệnh. Đạo Bà la môn nặng tế lễ cầu thần linh cứu giúp. Đạo Phật thì tu tập thiền quán để tự giác ngộ và giải thoát. Để trở thành thầy Bà la môn, người đó phải xuất thân từ giai cấp Bà la môn. Còn để trở thành tu sĩ Phật giáo thì bình đẳng không phân chia giai cấp. Thầy Bà la môn ở tại gia, phải có vợ con và bắt buộc phải có kinh tế gia đình sung túc. Tu sĩ Phật giáo thì xuất gia từ thân cát ái và không nắm cầm tiền bạc. Thầy Bà la môn để tóc dài quấn quanh đầu, bịt khăn trắng để bảo vệ khối tư tưởng. Tu sĩ Phật giáo cạo bỏ râu tóc. Thầy Bà la môn ăn mặc toàn trắng tương trưng cho sự thanh khiết. Tu sĩ Phật giáo mặc áo phấn tảo màu đất vàng biểu tượng cùng đồùng hành với những người lầm than trong xã hội. Theo luật Manu, phụ nữ là tài sản của nam giới. Theo Phật giáo thì nam nữ bình đẳng, được xuất gia tu học, độ đệ tử và chứng quả vị như nam giới v.v...

Phật dạy:  “Tất cả chúng sinh đềàu có Phật tính tất hữu.” cho nên đối với quan hệ giữa người và người là một quan hệ tuyệt đối bình đẳng, không có người cao thượng hay hèn hạ vì phân biệt giai cấp, không có tôn ti vì phân biệt nam nữ, cũng không có hạng giáo dục được và hạng người nào là không giáo  dục  được.  Theo Phật dạy thì cao  thượng  hay hèn hạ là do hành vi con người chứ không do giai cấp. Không thể nói trong giới quí tộc không có người hèn hạ, cũng như không thể nói trong giới bình dân không có người cao thượng. Tư tưởng bình đẳng trong đạo Phật dạy con người phá bỏ sự phân chia giai cấp. Điều này Phật dạy trong nhiều kinh, và chính tự thân đức Phật tự thân thực hiện trong việc độ người xuất gia và sinh hoạt bình đẳng trong tăng đoàn. Rõ nét nhất, trong Kinh Tiện Dân (Nipata) câu 136 Phật dạy: “Không ai sinh ra là tiện dân, không ai sinh ra là Bà la môn. Do hành vi mà con người thành tiện dân, do hành vi mà con người thành Bà la môn.” Đường lối giáo dục bình đẳng không phân biệt, Phật dạy: “Giáo pháp của ta như nước trong, rửa sạch mọi ô uế, không phân biệt giàu  nghèo, giai cấp, nam nữ. Chỉ cần tu tập theo đường lối của ta thì đều được cứu độ. Ta quyết không vì nể những hạng tôn quí mà chọn lấy kẻ giàu sang vương giả. Ta đã độ cho Upali, người sinh ra trong giai cấp tiện dân và Shurata nghèo khổ. Ta cũng dùng cách thích ứng với năng lực những hạng ngu si tham dục. Giáo pháp ta không thiên vị một đảng phái nào mà là con đường chân chính bình đẳng an ổn cho tất cả dân chúng.” Đây là một đoạn dẫn của Hữu Tùng Viên Đế để kết luận bộ “PHẬT GIÁO THÁNH ĐIỂN” do ông biên dịch. (Trích dẫn lại của Ōno Shinzō trong tác phẩm NGHIÊN CỨU HỌC THUYẾT KINH TẾ XÃ HỘI PHẬT GIÁO, 1956, Tokyo)

Việc Phật độ cho người nữ xuất gia là một đặc điểm ưu việt trong giáo dục Phật giáo nhất là ở thời điểm Phật tại thế. Hơn thế nữa không những được độ cho xuất gia mà còn  được  đầy  đủ  các  quyền  hành  xử  vai trò “ đại Phật tuyên dương” tức thay Phật thuyết giảng độ chúng, tổ chức và điều hành ni bộ để tu học. Về điểm nam nữ bình quyền bình đẳng, ở thế kỷ 21 này còn là niềm ước mơ ở nhiều nơi trên hành tinh chúng ta nhưng vẫn còn tồn tại nhiều điều phi lý như đạo luật xử ném đá cho đến chết những phụ nữ ngoại tình mà trong khi đó thì nam giới không bị áp dụng điều luật đó, hoặc nữ tu không được làm phép thánh cho tín đồ v.v...

Hơn thế nữa tinh thần bình đẳng đến triệt để không những nữ nhân mà cực ác xiển đề cũng thành Phật. Nghĩa là không một hạng người nào không được độ thành Phật. Tất cả đều có Phật tính thì tại sao không thành Phật được. Có phải do ta không đủ năng lực giúp họ khơi dậy cái Phật tính tất hữu trong họ hay không? Đứng về ý nghĩa giáo dục mà nói, đó là do người thầy không đủ kiến thức, phương pháp sư phạm cũng như nhiệt tâm nên đã nói một cách thiếu trách nhiệm rằng đó là một đứa trẻ không giáo dục được.

Nếu đem đối chiếu tư tưởng nhất thừa và tư tưởng bình đẳng trong giáo dục Phật giáo mà đức Phật đã dạy trên 2500 năm với tư tưởng bình đẳng trong giáo dục của thế giới thời hiện tại có thể nói là không thể làm một so sánh được. Vì tư tưởng bình đẳng trong giáo dục mới được quan niệm và triển khai trong thế kỷ 20 nhưng còn rất nhiều chỗ bất cập và bất khả thi. Với ý tưởng bình đẳng trong giáo dục thì mọi trẻ em đến tuổi đi học đều có quyền hưởng quyền được giáo dục một cách đồng đều. Giai đoạn trẻ em được hưởng quyền lợi giáo dục đồng đều đó ngắn dài khác nhau và hưởng những gì hưởng như thế nào khác nhau tuỳ theo mỗi quốc gia. Nhưng nói chung quốc gia nào cũng có giai đoạn giáo dục đó. Nước ta gọi là giai đoạn giáo dục phổ cập, Trung Quốc, Nhật Bản gọi là nghĩa vụ giáo dục, các nước Âu Mỹ gọi là giáo dục cưỡng bách (Education obligatoire, hay Compulsory education). Cho dù bằng ngôn từ gì, phổ cập hay nghĩa vụ hay cưỡng bách khắp thế giới không thiếu trẻ con đi ăn xin, bán rong, đánh giày hay bị bóc lột lao động trong những nhà máy mà Ủy ban nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã nhiều lần lên tiếng.

Về mặt lý thuyết và phương pháp, tâm lý giáo dục cũng từ thế kỷ 20 được phát triển đa dạng và phương pháp trắc nghiệm tâm lý được áp dụng khá phổ biến trong học đường. Phương pháp trắc nghiệm trí thông minh gọi là IQ Test được dùng để phân loại trẻ. Theo lý thuyết người ta cho rằng trẻ em có chỉ số thông minh IQ dưới 70 là trẻ không giáo dục được (uneducable). Với tinh thần giáo dục Phật giáo thì đây là quan điểm không thể chấp nhận. May thay quan niệm này ngày nay vừa được xét lại.

Phật giáo là giáo thuyết lấy con người làm trung tâm, giải quyết mọi sinh hoạt thực tế của con người trong hoàn cảnh nó đang sống để từ đó thăng tiến hơn lên. Đạo Nguyên thiền sư khai tổ của dòng thiền Tào Động Nhật Bản đã nói “thế pháp tức Phật pháp” và chân như pháp thân không có nghĩa là trạng thái của một thế giới thanh tịnh nào khác hoàn toàn không liên quan đến sinh hoạt thực tế của con người. Cho nên vai trò của giáo dục Phật giáo là quan sát cái xã hội đang liên tục biến đổi để cải thiện con người và xã hội. Người tu Phật hành Phật sự phải đứng trên lập trường lấy hiện tượng sinh hoạt thực tế của xã hội làm cơ sở giải đáp nguyện vọng về tinh thần cũng như vật chất của dân chúng. Nói vắn tắt là Phật giáo phải hiện đại hóa thực tế hóa và động thái hóa. Nói hiện đại hóa, thực tế hóa, động thái hóa tức đương nhiên bao hàm vấn đề xã hội hóa và dân chủ hóa. Phật giáo vốn không xa rời lập trường xúc tiến lợi ích cho dân chúng. Và “bồ tát” trụ tâm nơi từ bi hỉ xả vì tất cả dân chúng mà nỗ lực theo đuổi lợi ích thế gian và xuất thế gian.

Khi xuất hiẹân Phật giáo đại chúng bộ thì tên Phật giáo Đại thừa cũng mang ý nghĩa Phật giáo thế tục hóa, nhưng đồng thời cũng mang ý nghĩa xã hội hóa. Nói như  một nhà nghiên cứu tôn giáo triết học người Đức Leopold Zielger trong Der ewige Buddho, 1922: “Tôn giáo của đức Phật xưa nay vốn là tôn giáo lấy dân chúng làm bản vị, một tôn giáo vô cùng dân chủ, một tôn giáo luôn luôn đổi mới”. Vì vậy Phật giáo thời hiện tại phải xác minh lại tính xã hội và vì dân. Nói xác minh lại bởi vì trong quá khứ việc thế tục hóa Phật giáo ở Trung Quốc cũng như ở Nhật Bản và Việt Nam đã nhiều thời trở thành một thứ tôn giáo gia tộc hóa, triều đại hóa. Và khi quyền thế chi phối thì Phật giáo trở thành một thứ công cụ xa rời lớp dân chúng bình dân, mất đi tính xã hội vốn có. Từ đó Phật giáo trở thành một thứ đồ cổ mỗi khi được nhắc đến, còn trong thực tế chỉ còn lại như một thứ nghi lễ trong tang tế mà thôi.

Điều mà người tu Phật, hành Phật sự ngày nay là triển khai nguyên lý, giáo thuyết của đức Phật, vận dụng làm sống lại tính xã hội hóa của đạo Phật. Trong kinh giáo nguyên thủy cũng như kinh giáo thời Đại thừa phát triển đức Phật đã từng dạy phải làm thế nào.

1.3 Tư tưởng hoà bình.

Năm 1945 sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ II, nhân dân thế giới nỗ lực xây dựng hoà bình trong các lãnh vực hoạt động xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá v.v... Giáo dục cũng không ra ngoài lệ đó. Lại nữa cơ quan  văn hoá giáo  dục Liên Hiệp Quốc cũng nỗ lực  quan tâm đến các hoạt động giáo dục phục vụ hoà bình.

Trong ý nghĩa đó, hầu hết các nền giáo dục trên thế giới ngày nay đều được coi trọng và mệnh danh là giáo dục hoà bình. Thế nhưng giáo dục hoà bình trong thế giới hiện thực liên quan mật thiết đến các vấn đề như chính trị, kinh tế và cấu tạo xã hội chứ không đơn giản chỉ là một danh từ.

1.3.1 Tư tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo đối với vấn đề cấu tạo xã hội.

Theo tư tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo, đối với tổ chức cơ cấu xã hội thì bình đẳng là yếu tố cơ bản cho việc cải tạo xã hội nếu không nói là cách mạng cơ cấu tổ chức xã hội. Danh từ xã hội được hiểu từ tế bào của cơ cấu xã hội là gia đình hạt nhân (nuclear family) trở lên cho đến gia tộc, đẳng cấp, tập đoàn, làng xã, quốc gia, cộng đồng quốc tế và thế giới.

Khởi nguyên luận về xã hội của Phật giáo thường bao gồm những thuyết minh về sự phát sinh gia tộc, về tư hữu tài sản, quân chủ, quốc gia, cho đến những chức phận đoàn thể v.v... có tính hiện thực hết sức phổ quát và cao độ.

Theo đó, con người lúc ban sơ đều có tự do bình đẳng, sống với nhau không có oán ghét sống vui vẻ hồn nhiên, yên ổn tự tại, tuổi thọ cao, không phân biệt tôn ti nam nữ. Nhưng về sau, thế giới biến đổi, tham dục nổi lên, con người sinh ra phân biệt đẹp xấu, kiêu mạn, cạnh tranh, phân biệt quan hệ nam nữ. Do đó từ sinh hoạt tự nhiên phát sinh ra gia đình và gia tộc.

Khi  con  người bắt  đầu  biết  ăn  gạo,  những người lười biếng không muốn mỗi ngày đi hái lượm, bắt đầu chứa để dành dụm. Rồi do thu hoạch sút giảm mà sinh ra tranh giành và bảo vệ của riêng. Sự phân chia ranh giới đất đai, phát triển quyền sở hữu của mình và của người khác phát sinh từ đó.

Khi biết chứa để, biết quyền tư hữu tài sản là lúc phát sinh hành vi chiếm đoạt, trôïm cướp, dối trá, giết chóc và phục thù. Từ đó phát triển dần lên mối quan hệ về quyền lợi. Những người cùng quyền lợi hợp lại với nhau để bảo vệ. Người có tài có đức được suy cử lên nắm quyền lực bảo vệ dân chúng. Để duy trì tình trạng này, một phần tài sản của mỗi người phải nộp cho người nắm chức quyền trong việc điều hành và bảo vệ. Đó là khởi nguyên của quốc gia và dân chủ v.v...(D.27, Aggamma sutta và rải rác trong số mười mấy kinh. Tân Dịch Phật Giáo Thánh Điển, Cải đính bản,  tr. 310~311).

Trong quan hệ xã hội, Phật giáo chủ trương thực hiện tinh thần bình đẳng tuyệt đối của tư tưởng nhất thừa đạo. Trong 45 năm du hoá, đức Phật đã giảng dạy, đã thực thi việc phá vỡ cái xã hội bất bình đẳng của Ấn Độ, đã hoá độ và tổ chức một xã hội lý tưởng bằng lối sống lục hoà, bằng pháp thất diệt tránh trong hàng ngũ xuất gia, 5 giới cho người tại gia, 6 pháp ba la mật cho hàng Bồ tát. Tất cả đều xuất phát từ  tinh thần từ bi độ tha của đạo Phật.

Lời mở đầu bản hiến chương của tổ chức văn hoá giáo  dục  Liên  Hiệp  Quốc  (UNESCO)  có  câu: “Chiến tranh  là do tâm phát  khởi thì  hoà bình  cũng  do  tâm  xây dựng.” Phải chăng câu này đã được bắt nguồn từ tinh thần Phật dạy là “Tâm bình thì thế giới mới bình”? Không thế mà cố thủ tướng  Nehru, trong ngày độc lập của Ấn Độ đã nói: “Xưa vua Asoka chinh phạt nước Kalinga, cảm vì nỗi đau của nhiều người tử thương trong cuộc chiến nên đã qui y theo Phật giáo. Từ đó nhà vua đem giáo pháp từ bi trí tuệ của Phật dạy ra giáo hóa người đời, thay vì chinh phạt bằng vũ lực. Không những chỉ trong nước Ấn Độ, nhà vua còn phái khiển nhiều đoàn sứ giả hoà bình sang các nước láng giềng. Nay chúng ta dùng biểu tượng pháp luân Asoka cakra cho lá quốc kỳ độc lập của Ấn Độ và hình sư tử Asoka làm quốc huy là sự lựa chọn có ý nghĩa chứ không phải ngẫu nhiên. Đó là chúng ta tiếp nối cái lý tưởng chính trị của Asoka đại vương, nó tượng trưng cho sự nỗ lực và lòng chân thành của người Ấn Độ đối với lý tưởng hoà bình.” (SaitōEizaburō, TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CỦA PHẬT GIÁO, Tokyo, 1971, tr. 253)

1.3.2  Tư  tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo đối với vấn đề chính trị, chiến tranh và quốc phòng.

Nói giáo dục Phật giáo liên quan đến vấn đề chính trị và lòng yêu nước, liên quan đến vấn đề chiến tranh và quốc phòng ắt hẳn là vấn đề mới lạ, không những đối với người bình thường mà đến những nhà nghiên cứu khoa học xã hội trong nước cũng vậy. Tác phẩm MẤY VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO VÀ LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM do Viện Triết Học xuất bản tại Hà Nội năm 1986 đã chứng tỏ điều đó. Đây là tác phẩm tập hợp những bài thuyết trình, tham luận của hai cuộc hội thảo cùng một chủ đề là “Mối quan hệ giữa Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, một do Viện Triết Học tổ chức tại Hà Nội tháng 12 năm 1984 và một do Viện Khoa Học Xã Hội TP. Hồ Chí Minh tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh vào tháng 3 năm 1985. Qua các bài phát biểu của hai cuộc hội thảo được đăng trong tác phẩm nói trên, ta thấy có ba khuynh hướng nhận định và đánh giá về vấn đề Phật Giáo và chính trị, Phật Giáo và tư tưởng như sau:

Khuynh hướng thứ nhất của giáo sư Trần Văn Giàu nhìn nhận rằng trong Phật Giáo có chứa đựng yếu tố thúc đẩy lòng yêu nước. Giáo sư viết: “Tôi cho rằng đạo Phật của người Việt Nam có cái gì