PHẦN BA:
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
SỰ GẮN BÓ GIỮA PHẬT GIÁO VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM NHÌN Ở GÓC ĐỘ VĂN HỌC
ĐÀO
NGUYÊN
Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam khá sớm. Ngay từ buổi
đầu, với truyền thống khế lý khế cơ vốn có, Phật Giáo đã tạo nên những
liên hệ mật thiết trên con đường đi tới của dân tộc ta. Và trải qua hơn
hai ngàn năm truyền bá, phát triển, tuy có lúc thịnh lúc suy, nhưng nhìn
chung, Phật Giáo đã tạo được những gắn bó tốt đẹp với dân tộc thể hiện
qua các mặt như phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật, ngôn ngữ tư duy
v.v…. Bài viết này xin bàn về sự gắn bó ấy nhìn ở góc độ văn học.
Trước hết xin nói rõ về khái niệm gắn bó mà chúng tôi
dùng ở đây là để chỉ cho cái ảnh hưởng đậm đà của Phật Giáo đối với sinh
hoạt văn học Việt Nam, tạo được những đặc điểm, những khai phá, những
dấu ấn, đem lại cái phong phú, đa dạng, cùng những thành tựu không thể
thay thế. Nói cách khác, nếu không có sự gắn bó kia, văn học Việt Nam sẽ
trở nên nghèo nào, thiếu thốn. Có thể ghi nhận sự gắn bó ấy qua các điểm
sau đây:
I.
TÍNH CHẤT MỞ ĐẦU, DẦN ĐƯỜNG
“Bình
minh của lịch sử dân tộc ta đã gắn với Phật Giáo”. Đây là ý kiến, không
phải của một nhà Phật học hay một Phật tử trí thức, mà là của ông Trần
Văn Giàu, giáo sư sử học lão thành, cũng là cây bút lý luận vào hàng số
một của giới trí thức Mác Xít Việt Nam hiện đại.
Nhận định như thế là đúng, cho cả lịch sử và văn học, hơn nữa, trong một
số trường hợp văn học, Phật Giáo còn tạo được những sự dẫn đường, ghi
dấu.
1.
Hai nhà thơ mở đầu cho lịch sử văn chương thành văn của văn
học Việt Nam chính là hai nhà sư. Đó là thiền sư Pháp Thuận (915-990) và
thiền sư Khuông Việt (933-1011), với bài thơ Quốc Tộ và bài từ Vương
Lang Quy. Sách Thiền Uyển Tập Anh đã cho chúng ta biết qua về hoàn cảnh
ra đời của bài thơ Quốc Tộ như sau: Trong buổi đầu, khi mà Tiên Lê mới
sáng nghiệp, sư (Pháp Thuận) có công dựng bàn hoạch định sách lược. Khi
thiên hạ thái bình, sư không nhận chức tước của triều định phong thưởng.
Vua Lê Đại Hành lại càng thêm kính trọng… Vua từng hỏi sư về vận nước
ngắn dài, sư đáp:
Quốc Tộ như đằng lạc
Nam
thiên lý thái bình
Vô
vi cư điện các
Xứ
xứ tức đao binh.
(Thiền Uyển Tập Anh, Ngô Đức Thọ dịch, nhà xb văn học, H,1990, tr.
180-181)
Dịch:
Vận
nước như dây quấn
Trời Nam ôm thái bình
Đạo
đức ngự cung điện
Muôn xứ hết đao binh
(Nguyễn Lang dịch, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận T.1, nhà xb Lá Bối, S,
1974, tr. 146)
Về
phương diện văn học thiền, Quốc Tộ (Vận nước) cũng là bài thơ thiền đầu
tiên do một thiền sư Việt Nam sáng tác. Bài thơ chỉ có hai chục chữ
nhưng dung lượng và sức khơi gợi của nó rất lớn, không chỉ thâu tóm được
truyền thống mà còn đủ sức mở ra cho hiện đại những kết luận có giá trị
về vấn đề giữ nước và trị nước. Đây là một số đánh giá của giáo sư Trần
Thanh Đạm: “Có thể nghĩ rằng phải qua hơn một ngàn năm mất nước và kiên
trì đấu tranh giành lại nước, từ đó thâu thái tinh hoa của Thiền học,
Thiền tông thì trí huệ Việt Nam mới nảy sinh được một tư tưởng uyên thâm
và uyển chuyển, đồng thời lại chung đúc trong một hình thức súc tích mà
hùng hồn như vậy. Theo tôi, hàm nghĩa và hàm ý của khái niệm thái bình,
vô vi trong bài kệ này đòi hỏi sự thăm dò, phân giải sâu sắc của các nhà
triết học Việt Nam hiện đại, không chỉ đơn thuần là những khái niệm có
sẵn trong Tam Giáo (Nho, Phật, Lão). Ở đây đã có sự vận dụng sáng tạo,
đã có sắc thái, phong thái Việt Nam”. (Trần Thanh Đạm, Hai Thiền sư –
thi sĩ mở đầu lịch sử văn chương cổ điện Việt Nam, Tập Văn Phật Đản, số
29, tháng 5-94, tr. 41-42).
Còn
trường hợp ra đời của bài từ Vương Lang Quy thì cũng sách Thiền Uyển Tập
Anh cho biết: “ Năm thứ hai niên hiệu Thái Bình (971), sư (Ngô Chân Lưu)
được ban hiệu là Khuông Việt Đại Sư. Dưới triều vua Lê Đại Hành, sư đặc
biệt được vua kính trọng, phàm các việc quân quốc triều đình sư đều được
tham dự. Năm Thiên Phúc thứ bảy (987) nhà Tống sai Lý Giác sang sứ nước
ta. Khi Giác trở về, sư làm bài từ Ngọc Lang Quy đưa tiễn:
Tường quang, phong hảo, câm phàn trương
Thân tiên phục đê hương
Thiên trùng vạn lý thiệp thương lang
Cửu
thiên quy lộ trường
Tình thắm thiết
Đôi
ly trường
Phan luyến sứ tinh lang
Nguyện tương thâm ý vị nam cương
Phân minh báo ngã hoàng
(Nắng tươi, gió thuận, cánh buồm giương
Thần tiên lại đê hương
Vượt sóng xanh muôn dặm trùng dương
Về trời xa đường trường
Tình thắm thiết
Chén lên đường
Vin xe sứ vấn vương
Xin đem thâm ý vì nam cương
Tâu vua tôi tỏ tường”.
(Thiền Uyển Tập Anh, sđd, tr. 43-45)
Cũng trong bài báo kể trên, giáo sư Trần Thanh Đạm còn
nhấn mạnh đến việc thiền sư Khuông Việt đã sử dụng thể loại Từ, là một
thể loại văn học rất được thịnh hành ở đời Tống, để sáng tác, mà sự việc
ấy hầu như là trường hợp duy nhất trong lịch sử bang giao ở nước ta. Lê
Quý Đôn (1726-1784) trong “Kiến Văn Tiểu Lục” đã khen bài từ ấy: “Văn từ
của Ngô Chân Lưu vang tiếng một thời”. (KVTL, Phạm Trọng Điềm dịch, nhà
xb KHXH, H. 1977, tr. 387). Còn giáo sư Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) thì
đứng ở góc độ sử học để nhận xét: “Đó là lời tửu chúc từ thân thiện đầu
tiên trong lịch sử ngoại giao của nước Việt. Mà lại là của một vị sư!”
(Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, ĐH Vạn Hạnh xb, S, 1967, tr. 432).
2.
Lùi xa về trước, khi đất nước còn bị đô hộ, chính một số vị cao
tăng Việt Nam ở thế kỷ thứ 7, 8 đã tạo được những giao hảo văn học đầu
tiên hết sức tốt đẹp. Chính nhờ Lê Quí Đôn, đã tham khảo các sách Loại
Hàm, Anh Hoa của Trung Quốc để ghi chép được bốn vị thiền sư Việt Nam là
Phụng Đình, Duy Giám, Vô Ngại và Nhật Nam tăng (không rõ đạo hiệu) đã
từng được các nhà thơ nổi danh đời Đường như Dương Cự Nguyên (cuối thế
kỷ 7), Giả Đảo (788-843), Thẩm Thuyên Kỳ (đầu thế kỷ 8) và Trương Tịch
(cuối thế kỷ 8, đầu thế kỷ 9) tặng thơ một cách hết sức trang trọng.
Phụng Đình, Duy Giám là hai vị thiền sư thông bác kinh luận, đã được vua
Đường mời sang tận kinh đô để giảng kinh, khi sắp lên đường về nước, thi
sĩ Dương Cự Nguyên cũng như Giả Đảo đều có thơ đưa tiễn. Hai bài thơ của
họ Dương và họ Giả đều làm theo thể ngũ ngôn bát cú. Bài thơ của Trương
Tịch tặng thiền sư Nhật Nam tăng cũng được sáng tác theo thể ấy, riêng
bài ngũ ngôn của Thẩm Thuyên Kỳ tặng thiền sư Vô Ngại gồm đến 16 câu với
những câu mở đầu đầy tính chất ca tụng như sau:
“Đại Sĩ sinh Thiên Trúc
Phân thân hóa Nhật Nam
Nhân trung xuất phiền não
Sơn hạ tức Già Lam”. (Kiến
Văn Tiểu Lục, sđd, tr. 384)
Dịch:
“Phật xưa sinh Thiền Trúc
Nay
hóa thân Nhật Nam
Vòng não phiền ra khỏi
Dưới núi dựng Già Lam”.(Nguyễn Lang dịch, VNPGSL I, sđd, tr.
103-104)
3.
Thành tựu đầu tiên của lịch sử văn học Việt Nam là văn học thời
Lý Trần, ở đấy, Phật Giáo vừa là cái nền vừa có những đóng góp phong
phú.
a.
Ảnh hưởng đậm đà của Phật Giáo đối với văn học đời Lý là điều đã
được khẳng định và tiếp tục được soi sáng, phát hiện thêm. Chỉ cần nhắc
lại một số tác phẩm của các thiền sư Huệ Sinh (?-1063), Mãn Giác
(1052-1096), Không Lộ (?-1119)… để thấy rằng đấy mãi mãi là những đốm
sáng tuyệt vời trong văn học Việt Nam. Đánh giá về ý nghĩa cành hoa mai
trong thơ của thiền sư Mãn Giác, từ Ngô Tất Tố (1894-1954) trong Văn Học
Đời Lý (nhà xb Khai Trí, S, 1960, tr. 52) đến Lê Văn Siêu trong Văn Học
Thời Lý (nhà xb Hướng Dương, S, 1957, tr.66), Nguyễn Lang trong VNPGSL I
(sđd, tr. 201), Ngô Đức Thọ trong bản dịch Thiền Uyển Tập Anh (sđd, tr.
17)… tuy sự diển đạt có những sắc thái cá biệt nhưng nói chung là nhất
trí; và cho đến ngày nay, cành hoa mai ấy vẫn được xem là cành hoa mai
đẹp nhất trong văn học của chúng ta.
Còn
cái hình ảnh “ánh trăng Lăng Già tịch tĩnh soi tỏ con thuyền trống không
trên biển thời gian và không gian mênh mông vô tận” của thiền sư Huệ
Sinh, cũng như cái âm thanh “kêu dài một tiếng lạnh hư vô” của thiền sư
Không Lộ đều là những âm thanh, hình ảnh hết sức độc đáo, rất hiện thực
lại rất siêu thoát mà Phật Giáo đã đem đến cho văn học Việt Nam.
b.
Hai nhà thơ nữ đầu tiên của văn học Việt Nam đã xuất hiện ở đời
Lý, đều là người từ cửa Thiền hay có nhiều quan hệ với cửa Thiền. Đó là
Ni Sư Diệu Nhân (1041-1113) và Ỷ Lan Nguyên Phi (?-1117), mẹ vua Lý Nhân
Tông (1066-1128). Bài thơ ngắn của Ỷ Lan Nguyên Phi là sự khẳng định cho
quá trình học đạo và hiểu đạo của bà (xem Thiền Uyển Tập Anh, sđd, tr.
91), còn bài kệ tám câu bốn chữ của Ni Sư Diệu Nhân (xem Thiền Uyển Tập
Anh, sđd, tr. 235) là một bài thơ thiền xuất sắc cho thấy tác giả của nó
là một nhà sư tu hành đạt đạo, đúng như đánh giá của giáo sư Nguyễn Đăng
Thục: “Tác giả là một nữ hiền triết uyên thâm về thiền học đời Lý”
(Thiền Học Việt Nam, nhà xb Lá Bối, S, 1967, tr. 308).
c.
Một tác giả đáng chú ý của văn học đời Lý, không phải xuất hiện
từ những tư liệu sách vở mà là từ văn bia, đó là thiền sư Pháp Bảo (thế
kỷ 12), tác giả các văn bia: Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (Văn bia
chùa Linh Xứng, núi Ngưỡng Sơn), Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi mình (Văn
bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh), và theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn, có lẽ
ông cũng là tác giả văn bia chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni, dựng năm 1124.
(Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 460). Một đoạn trong bài Minh của văn bia chùa
Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn, đã đánh giá tổng quát về danh tướng Lý Thường
Kiệt (1019-1105) như sau:
“Việt hữu Lý công
Cổ
nhân chuẩn thức
Mục
quận ký ninh
Chưởng quân tất khắc
Danh dương hàm hạ
Thanh chân hà vực
Tông giáo quy sùng
Cảnh phúc thị thực”
(Lý
công nước Việt
Noi
dấu tiền nhân
Cầm
quân tất thắng
Trị
nước yên dân
Danh lừngTrung hạ
Tiếng nức xa gần
Vun
trồng phúc đức
Đạo
Phật sùng tin”
(Huệ
Chi dịch, Thơ Văn Lý Trần I, nhà xb KHXH, H, 1977, tr. 360-365)
Đây là
lời đánh giá đầu tiên, chính xác, công bằng và có giá trị văn học nhất
về tài ba cùng đức độ của Lý Thường Kiệt, hơn hẳn các nhà viết sử đi
sau, dù là sử diễn ca hay đề vịnh. Những người biên soạn sách Thơ Văn Lý
Trần I, nơi tiểu sử Lý Thường Kiệt, đã cho những dòng viết của thiền sư
Pháp Bảo vừa dẫn trên “là sự đánh giá đúng đắn của nhân dân về tài đức
của Lý Thường Kiệt” (sđd, tr. 318).
4.
Văn học đời Trần đã kế thừa và phát huy những thành tựu của văn
học đời Lý
a.
Trần Thái Tông (1218-1277) là vị vua đầu tiên của nhà
Trần, không chỉ có tài trị nước mà còn là một nhà thơ nổi danh, một nhà
thiền học lỗi lạc, là “bó đuốc sáng của thiền học Việt Nam” (Nguyễn Đổng
Chi, Việt Nam Cổ Văn Học Sử, bản in 1970, S, tr. 165). Sách Khóa Hư Lục
của ông là tác phẩm triết luận về Phật Giáo đầu tiên có một giá trị lớn
về văn học, không chỉ là đỉnh cao của văn học đời Trần mà còn là đỉnh
cao về lĩnh vực ấy trong văn học Việt Nam. (Xem thêm: Nguyễn Lang,
VNPGSL I, sđd, tr. 242-271). Nhìn ở góc độ thi ca, học giả Đào Duy Anh
(1904-1988) đã cho rằng: “Tất cả những bài Kệ- trong Khóa Hư Lục - đều
là thơ, thơ thất ngôn, ngũ ngôn hoặc tứ ngôn; tất cả những bài khác đều
là văn biền ngẫu chặt chẽ và đầy hình tượng. Khóa Hư Lục chữ Hán, về
hình thức cũng như về nội dung là một tập thơ nghĩa rộng”. (Khóa Hư Lục,
Đào Duy Anh dịch, nhà xb KHXH, H, 1974, tr. 11).
b.
Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung (1230-1291), một nhà
thơ lớn không chỉ của văn học đời Trần mà là của cả văn học Việt Nam,
một gương mặt thiền học độc sảng, là nhà thơ Việt Nam đầu tiên đã di đến
tận cùng nơi các con đường của Tam Giáo Nho Phật Lão: từ nẻo nhập thế
hành động trong thực tiễn của Nho, đến cái nhàn dật phóng khoáng của Lão
Trang, và cái siêu thoát, tự tại, phá chấp triệt để của Phật. (Xem:
Nguyễn Lang, sđd, tr. 273-298; Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, Trúc Thiên
dịch, ĐH Vạn Hạnh xb, S, 1969).
c.
Một số tác phẩm thơ chữ Hán của vua Trần Nhân Tông
(1258-1308), thiền sư Pháp Loa (1284-1330), thiền sư Huyền Quang
(1254-1334), Trần Quang Triều (1287-1325)… là những thành tựu
đáng kể của văn học thời thịnh Trần. Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên, trong
sách “Ngô Thì Nhậm Trong Văn Học Tây Sơn” đã xem các bài thơ: Đăng Bảo
Đài Sơn, Thiên Trường vãn vọng… của Trần Nhân Tông; Phiêm Chu, Yên Tử
sơn am cư của thiền sư Huyền Quang là những đỉnh cao của sự kết hợp giữa
văn học và thiền học mà ông gọi là “vùng khí quyển của mỹ học Thiền”
(Mai Quốc Liên, sđd, Sở VNTTN Nghĩa Bình xb, 1985, tr. 191).
d.
Về văn học chữ Nôm, theo sự ghi chép của sử thì được phát khởi từ
đời Trần Nhân Tông với người mở đầu cho phong trào làm thơ phú bằng
chữ Nôm ấy là Nguyễn Thuyên, đang giữ chức vụ Hình Bộ Thượng
Thư đời đó. Nhưng hiện nay, tài liệu về văn học chữ Nôm thời Trần mà
chúng ta có được gồm bốn bài: Cư trần lạc đạo phú (Bài phú nói về việc ở
cõi trần mà vẫn vui với đạo), Đắc thú lâm truyền thành đạo ca (Bài ca
nói về thú vui đạt đạo nơi chốn lâm tuyền) của vua Trần Nhân Tông; Bài
vịnh Hoa Yên Tự phú (Bài phú vịnh chùa Hoa Yên, núi Yên Tử) của thiền sư
Huyền Quang; và bài Giáo Tử Phú, tương truyền là của Mạc Đỉnh Chi
(?-1346), đều là những tác phẩm được viết từ cửa Thiền. Về ba bài đầu,
giáo sư Nguyễn Lang viết: “Các tác phẩm Nôm của Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ
Cố, Chu Văn An hiện nay đều bị thất truyền. Nhưng Trúc Lâm điều ngự,
người đã ban họ Hàn cho Nguyễn Thuyên đã để lại hai tác phẩm Nôm… Huyền
Quang đã để lại một bài phú… Điều này chứng tỏ thơ phú bằng chữ Nôm đã
được khởi đầu trong chốn thiền gia”. (VNPGSL I, sđd, tr. 420).
Riêng
về bài Giáo Tử Phú, cho dù không phải là của Mạc Đỉnh Chi như có
người đã ngờ, thì lại càng chứng tỏ bài phú ấy đã được sáng tác từ trong
cửa Thiền với chủ đích nhằm khuyên dạy hàng tín đồ phải dốc lòng tu tập,
thông qua một người đã tận mắt chứng kiến bao nỗi khổ nơi cõi địa ngục
(Xem Hợp tuyển thơ văn Việt Nam T.2, thế kỷ 10-17, nhà xb VH, H, 1976,
tr.173-179).
Tóm
lại, cho dù không hoàn toàn chia sẻ ý kiến của giáo sư Nguyễn Lang như
đã dẫn, chúng ta cũng khẳng định được rằng: Bình minh của văn học chữ
Nôm đã gắn liền với cửa Thiền. Xin trích dẫn một số câu phú Nôm tiêu
biểu của thời kỳ mở đầu ấy:
“Dứt trừ nhân ngã, thời ra tướng thực Kim Cương; đình hết tham sân, mới
lảu lòng màu Viên giác.
Tịnh Độ là lòng trong sạch, chớ còn hỏi đến Tây Phương; Di Đà là tính
sáng soi, nỡ phải nhọc tìm Cực Lạc…
Biết Chân Như, tin Bát Nhã, chớ còn tìm Phật Tổ tây đông; chứng thực
tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiên nam bắc…” (Cư trần lạc đạo
phú, Đinh Gia Khánh phiên âm, Hợp Tuyển Thơ Văn Việt Nam, T2, sđd, tr.
109-110).
“Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng, vượn bồng con cời cửa nghe kinh.
Nương am vẳng, Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu may nhè nhẹ;
Ghé
song thưa; thầy ngồi thiền định, trăng vằng vặc núi xanh xanh”.
(Vịnh Hoa Yên tự phú, Đinh Gia Khánh phiên âm, sđd, tr. 164).
e. Đến đầu thế kỷ 15, câu thơ Nôm đang tiến dần đến sự trưởng
thành, đánh dấu cho giai đoạn này chính là bài thơ Nôm “Cầu siêu cho
Nguyễn Biểu” của nhà sư chùa Yên Quốc. Vị sư này chưa được rõ về tên họ,
đạo hiệu, chỉ biết ngôi chùa Yên Quốc tọa lạc gần chỗ Nguyễn Biểu hy
sinh vào năm 1413) (Nguyễn Biểu là sứ của vua Trần Trùng Quang -Trần Quý
Khoách- sai đi thương thuyết với tướng nhà Minh là Trương Phụ) do cảm
kích trước nghĩa khí của một sĩ phu yêu nước, nhà sư đã viết nên bài thơ
Nôm bất hủ:
“Chói lọi một vầng tuệ nhật
Ùn
ùn mấy đóa từ vân
Tam
giới soi hòa trên dưới
Thập phương trải khắp xa gần
Giải thoát lan lan nghiệp chướng
Quang khai chon chon mê tán
Trần quốc xảy vừa mạt tạo
Sứ
hoa bông có trung thần
Vàng đúc lòng son một tấm
Sắt
rèn tiếc cứng mười phân
Trần kiếp vì đâu oan khổ
Phương hồn đến nỗi trầm luân
Tế
độ dặn nhờ từ phiệt
Chân linh ngõ đuợc phúc thần”. (Dẫn theo Thơ Văn Lý Trần T3, nhà xb
KHXH, H, 1978, tr. 515-516)
Chúng
ta nhận thấy nhà sư này đã thực hiện một cách trọn vẹn hai chức năng nơi
con người thơ của mình: chức năng một nhà sư của đạo từ bi và chức năng
một công dân yêu nước ngợi ca truyền thống bất khuất của dân tộc mình. Ở
khía cạnh lịch sử, bài thơ Nôm trên chính là một đoản ca bi tráng, chứng
nhân cho một giai đoạn đau buồn của đất nước ta.
5. Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17 là thời suy kém của Phật Giáo
Việt Nam, hơn nữa, còn bị giới Nho sĩ chịu ảnh hưởng của Tống Nho, kỳ
thị, đả kích. Tuy vậy, chính trong thời kỳ này, thiền học và văn học
Việt Nam đã có được một sự gặp gỡ tuyệt diệu: người tạo nên sự gắn bó ấy
chính là Nguyễn Trãi (1380-1442), một trong số các gương mặt lớn
nhất của văn học cổ điển Việt Nam. Sau thời đại Lý Trần, Nguyễn Trãi là
nhà Nho đầu tiên đã có những tiếp cận thấu đạt nhất với thiền học. Cảm
hứng về thiền trong thơ của Nguyễn Trãi đã được thể hiện qua nhiều sắc
thái; và với bài thơ Nôm “Cây Mộc Cận”, chúng ta có thể nói đến một sự
ngộ đạo nơi Ức Trai:
“Ánh nước hoa in một đóa hồng
Vết
nhơ chẳng bén, Bụt làm lòng
Chiều mai nở, chiều hôm rụng
Sự
lạ cho hay tuyệt sắc không” (Bài Cây Mộc Cận, Nguyễn Trãi Toàn Tập,
nhà xb KHXH, H, 1976, tr. 471)
Hoa
mộc cận tức hoa Bông Bụt, một loại hoa dân gian quá đỗi quen
thuộc đến độ ít người diễn tả, thế mà Nguyễn Trãi đã lãnh hội nó với một
rung cảm thiền học hết sức phong phú. Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn, tác
giả đã chuyên chở được hai luận điểm then chốt, cốt lõi của thiền học:
Phật tức tâm (Vết nhơ chẳng bén Bụt làm lòng) và Bất nhị (Sự lạ cho hay
tuyệt sắc không). “Sự lạ cho hay tuyệt sắc không” chính là sự yên lặng
trên nẻo đường tiếp cận với thế giới vô ngôn nhiệm mầu khiến ta nhớ tới
cái im lặng của ngài Duy Ma Cật đã được Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi tán thán:
“Tốt lắm, tốt lắm, đến nỗi không cả văn tự ngôn ngữ mới thật là nhập vào
pháp môn Bất Nhị”. (Kinh Duy Ma, HT Trí Quang dịch, bản in 1994, tr.
156).
6. Tác
phẩm “Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn” tương truyền của vua Lê Thánh Tông
(1442-1497) tuy có chỗ cần bàn thêm (như thái độ đùa cợt đối với giới cô
hồn thiền tăng) nhưng đây là tác phẩm chữ Nôm đầu tiên chịu ảnh hưởng
của Phật Giáo về khía cạnh nghi lễ, cúng tế. Điều này chứng tỏ tục cúng
và chẩn tế cô hồn, thường được tổ chức trong các ngày lễ lớn của Phật
Giáo, nhất là vào ngày lễ Vu Lan rằm tháng bảy, đã có một âm vang đáng
kể trong xã hội. Đó là những tiền đề thuận lợi để cho cửa thiền và văn
học Việt Nam sau này có được “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” của thi hào
Nguyễn Du (1765-1820).
7. Bốn
gương mặt lớn nhất của văn học cổ điển Việt Nam cũng lại là các nhà thơ
có những tiếp cận sâu sắc nhất về Phật học. Đấy là Nguyễn Trãi
(1380-1442), Lê Quý Đôn (1726-1784), Ngô Thì Nhậm (1746-1803) và Nguyễn
Du (1765-1820).
a.
Chúng ta đã nói đến một Nguyễn Trãi đạt đạo với bài thơ Nôm Hoa
Mộc Cận. Về phương diện chiêm bái, Nguyễn Trãi đã từng sang tận
chùa Nam Hoa – còn gọi là chùa Bảo Lâm - gần dòng suối Tào Khê, từng là
đạo tràng lớn của Tổ Huệ Năng (638-71), vị tổ thứ sáu của thiền tông
Trung Hoa. Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Trãi ở đây là ngôn ngữ của một Phật
tử thuần thành:
“Thần tích phi lai kỷ bách xuân
Bảo
Lâm hương hỏa khê tiên nhân
Hàng long,
phục hổ, cơ hà diệu
Vô
thụ, phi đài, ngữ nhược tân
Điện trắc khởi lâu tàng bát Phật
Khảm trung di tích thuê chân thân
Môn
tiền nhất phái Tào Khê thủy
Tây
tận nhân gian kiếp kiếp trần”.
(Gậy thần bay đến mấy trăm niên
Hương hỏa Bảo Lâm giữ trọn nguyên
Phục cọp, hàng rồng sao phép diệu
Chẳng đài, không thụ vẫn lòng truyền
Nơi
tàng bát Phật lâu bền đấy
Dẫu
lột xác phàm tháp giữ nguyên
Trước cửa Tào Khê dòng nước chảy
Lâng lâng gột sạch mọi trần duyên). (Bài Thăm Chùa Nam Hoa, Đào Duy
Anh dịch, Nguyễn Trãi Toàn Tập, sđd, tr. 383-384)
Câu
“Hàng long phục hổ cơ hà diệu” nhắc đến những truyền thuyết về các
trường hợp hàng phục các loài thú dữ của các vị thiền sư, cũng như bản
thân Lục Tổ đã từng hàng phục con rồng dữ nơi đầm rộng trước chùa (Xem:
Sơ lược sự tích Lục Tổ, in trong Kinh Pháp Bảo Đàn, cư sĩ Diên Sinh
dịch, Sen Vàng xb, S, 1961, tr. 12). Câu: “Vô thụ phi đài ngữ nhược tân”
là nhắc lại hai câu đầu trong bài kệ của Lục Tổ: “Bồ Đề bản vô thụ, Minh
kính diệc phi đài”. Hai câu kết, không chỉ là sự tôn vinh thiên cảnh Tào
Khê mà còn gián tiếp đề cao tính chất nhiệm mầu của Phật pháp trong sứ
mạng diệt mê khai ngộ cho chúng sinh. Nơi thơ Nôm, Nguyễn Trãi cũng còn
nhắc tới Tào Khê:
“Núi láng giềng, chim bậu bạn
Mây
khách khứa, nguyệt anh tam
Tào
Khê rửa ngàn tắm suối
Sạch chẳng còn một chút phàm.”
b.
Lê Quí Đôn (1726-1784) là nhà bác học trong văn học cổ
điển Việt Nam. Về mặt nghiên cứu, lý luận, ông đã dành một thiên Thiền
Dật trong sách Kiến Văn Tiểu Lục để bàn về Phật Giáo, ở đây, ông đã lên
tiếng phê phán và bác bỏ những thành kiến hẹp hòi thường có nơi một số
nhà Nho đối với đạo Phật, biện dẫn về chất “tề gia trị quốc” của Phật
Giáo, nêu lên một số điểm tương đồng giữa Nho-Phật, ca ngợi kinh Lăng
Nghiêm v.v…. và nhất là bày tỏ một cách tóm tắt kiến giải sâu sắc của
mình về Phật Giáo (Xem Kiến Văn Tiểu Lục, Phạm Trọng Điềm dịch, nhà xb
KHXH, H, 1977, tr. 363-430).
Đây là
kiến giải của Quế Đường tiên sinh về đạo Phật: “Tôi thiết tưởng đây
là đại khái của tông chỉ đạo Phật: vạn vật thế gian là hư ảo, con người
phải tu tập để đạt được giác ngộ chân chính mà thoát ra khỏi lục trần.
Một khi đã thành được diệu đạo tột bực thì trở lại thương xót chúng
sinh, thi hành nhiều phương tiện để cứu giúp, ai muốn học đạo chính giác
thì giúp cho họ được thành người. Đâu phải là chối bỏ tình anh em họ
hàng và dứt tuyệt luân lý cương thường”. (KVTL, Nguyễn Lang dịch,
dẫn theo VNPGSL T2, nhà xb VH, H, 1992, tr. 263).
So với
phần trứ thuật, biên khảo hết sức dồi dào thì sự nghiệp sáng tác của Lê
Quí Đôn không nhiều, nên tất nhiên là những tác phẩm viết về cửa Thiền
của ông cũng ít. Tuy vậy, với bài Minh được khắc trên chiếc khánh đồng
chùa Thanh Quang, chúng ta có thể nói đến một Lê Quí Đôn đạt đạo, hay
nói như giáo sư Nguyễn Lang là: “ngôn từ - của bài minh ấy – có thể nói
là có chất Phật rồi vậy”:
“Duy nhân chi tâm
Xuất nhập vô thì
Định cố tuệ bản
Văn diệc ngộ ky
Quyết chất tắc kim
Quyết danh tắc khánh
Tham thấu kỳ lý
Nhất động nhất tĩnh
Liễu ngộ tuần tỉnh
Nãi
thức kỳ hạnh
Hình khí tuy thô
Ý
thú tự thâm
Nhân quả không hoa
Vật
đàm thiển cận
Ngã
cáo chư nhân
Đản
lực vi thiện”.
(Chỉ có lòng người
Vào
ra không chừng
Nhờ
Định có Tuệ
Nhờ
Nghe, viên thông
Chất liệu là đồng
Tên gọi là khánh
Thấu đạt nghĩa ấy
Động tĩnh nhất tâm
Giác ngộ tự kỷ
Mới thấu hành tung
Hình chất tuy thô
Ý thú cao thâm
Hoa đốm nhân quả
Đừng bàn thiển cận
Ta khuyên mọi người
Làm thiện hết lòng”. (Nguyễn
Lang dịch, VNPGSL 2, sđđ, tr. 265-266).
c.
Ngô Thì Nhậm
(1746-1803) là gương mặt thơ tiêu biểu của văn học thời Tây Sơn và cũng
là nhà thơ đạt đạo nhất trong cái xu hướng “tìm đến cửa Thiền” của phần
đông các nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ 18, từ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
(1720-1791) đến chúa Trịnh Sâm (1739-1782), Trần Bá Lãm (thế kỷ 18), Lý
Trần Quán (1735-1786), Nguyễn Gia Thiều (1741-1796), Ninh Tốn (1743-?),
Vũ Huy Tấn (1749-1800), Phan Huy Ích (1751-1822), Đoàn Nguyên Tuấn (thế
kỷ 18), Phạm Thái (1777-1814)…
Ngô Thì Nhậm đã từng đến chùa tham thiền trong thời gian
lánh nạn từ 1782-1786 dưới thời chúa Trịnh Khải nắm quyền:
“Khuất chỉ phiêu bồng ký ngũ niên
Kim
thu thôn tự nhất tham thiên
Cúc
hoa sơ quải hoàng kim giáp
Bối
diệp trùng niên bạch ngọc thuyên
Vãng sự kỷ hồi hòe quốc mộng
Cố
ngô y cựu trúc lâu duyên
Linh am tự tại, linh quang tĩnh
Sảng nhập ngân câu tú thủy tiên”.
(Bấm đốt năm năm dạt khắp miền
Chùa quê thu lại bước tìm lên
Cánh vàng vừa tách xoè hoa cúc
Lá
bối lần xem bén vị thiền
Chuyện cũ giấc hoè bao ảo mộng
Thân xưa lau trúc vẫn tiền duyên
Am
thiêng còn đó, tòa sen lặng
Khí
mát hồ trong mặt nước lên). (Bài Cuối thu vào chùa tham thiền,
Khương Hữu Dung dịch, Tuyển tập thơ Văn Ngô Thì Nhậm, T1, nhà xb KHXH,
H, 1978, tr. 127-128).
Nhìn
chung, cảm hứng về thiền học trong thơ Ngô Thì Nhậm khá đậm nét, đáng
chú ý nhất là trong chuyến Bắc sứ vào năm 1793, ông đã ghé thăm chùa
Hưng Long (Hà Bắc, Trung Quốc) bày tỏ những mến mộ của mình về cảnh và
người ở đây. Bài thơ ấy có lời dẫn, và được viết theo thể tam ngôn - mỗi
câu ba chữ, gồm 24 câu – là một bài thơ có giá trị và hết sức độc đáo
trong văn học Việt Nam: (Lời dẫn của bài thơ chỉ xin giới thiệu bạn đọc)
“Thơ xưa có câu: Ngẫu nhiên viện trúc cùng sư chuyện, Lại được phù sinh
nữa buổi nhàn; dịch: Vì được nhàn vốn đã khó, mà được gặp nhà sư nơi
trúc viện lại càng khó, có phải thế chăng?”
Lão
pháp sư trụ trì chốn danh thắng này là nơi nhà vua thường ngự giá đến.
Thiền viện nguy nga sáng sủa, những lão sư bền giữ đạo chân như, một
chút bụi trần không nhiễm, chẳng khác gì tu khổ hạnh trong tĩnh viện
chốn núi sâu, cái nét huyền của nhà sư lại càng đáng chuộng lắm thay!
Tôi đang trong lúc bận rộn, được gặp lão sư trò chuyện, tưởng như lên
núi báu mà trông tuyết nguyệt, nơi lòng trần bỗng thấy sạch lâng lâng,
rất muốn cùng pháp sư bàn về lẽ huyền vi của đạo Phật suốt ngày, nhưng
công việc rộn ràng quá thể, thế mới biết cái vui nơi trúc viện, đức Như
Lai Thế Tôn không dễ cho người. Nhưng đến đây không thể không có lời tán
tụng, nên tôi đành quên mình là người thiển lậu mà đề mấy câu thơ sau
đây:
“Liên hoa vân
Ngũ
hương huân
Đại
pháp luân
Hiện kim thân
Cảnh trường xuân
Oánh vô trần
Hữu
lão nhân
Tuyệt tham sân
Lưỡng hải ngân
Hội
đạo chân
Mai
tinh thần
Hảo
ẩn luân
Xa
lân lân
Mã
phân phân
Danh lợi khuân
Địch thập phân
Phiên thời phân
Úy
sở văn
Tương giảng luân
Hiện ân can
Từ
bi tan
Quảng vô ngân
Ngã
nguyện vân
Lão
nhu quân”.
Dịch:
Mây
hoa sen
Xông năm hương
Xe
pháp lớn
Hiện thân vàng
Cõi
trường xuân
Sạch bụi trần
Có
ông già
Dứt
tham sân
Dõi
tròng mắt
Thấu đạo chân
Thần như mai
Khéo ẩn thân
Xe
rầm rầm
Ngựa hí ran
Vòng danh lợi
Sạch mười phân
Thoáng gần gũi
Giải băn khoăn
Củng bàn luận
Rất
ân cần
Bến
từ bi
Rộng mênh mông
Tôi
nguyện rằng
Được như ông” (Ngô Linh Ngọc, Mai Quốc Liên dịch, Tuyển tập thơ Văn
Ngô Thì Nhậm, sđd, tr. 520-522)
Chúng
ta cần nhớ rằng, chính Ngô Thì Nhậm là người đã góp nhiều công sức và
trí tuệ giúp vua Quang Trung đánh tan đạo quân xâm lược đông đảo của nhà
Mãn Thanh năm 1789. Nhưng đối với vị thiền sư chân tu người Trung Hoa
nơi chùa Hưng Long này, ông đã hết mực ca ngợi, xem mình như một đệ tử.
Rõ ràng là sức cảm hóa của đạo từ bi đã nâng ông lên tầm cao của một nhà
văn hóa chân chính.
Trường
hợp Ngô Thì Nhậm, từ năm 1796, lui về lập thiền viện ở phường Bích
Câu-Thăng Long, cùng với các thiện hữu như Ngô Thì Hoàng (1786-1814),
hiệu là Hải Huyên, em cùng cha khác mẹ với Ngô Thì Nhậm, Vũ Trinh
(1759-1828), hiệu là Hải Âu, em rể thi hào Nguyễn Du, Ngô Đăng Sở
(1753-?), hiệu là Hải Hòa và Nguyễn Hành hay Nguyễn Đàm (1771-1824),
hiệu là Hải Điền, cháu gọi Nguyễn Du bằng chú ruột, tham thiền học đạo,
bàn luận, viết sách… là một hiện tượng học Phật hết sức đặc biệt, có một
không hai trong sinh hoạt văn học Việt Nam. Tác phẩm “Trúc Lâm Tổng Chỉ
Nguyên Thanh” đã ra đời trong hoàn cảnh ấy, là đỉnh cao trong nỗ lực
dung hợp Nho-Phật của quá trình gần hai nghìn năm du nhập và phát triển
ở đất nước ta của hai học thuyết đó. Đã có một số bài viết nhằm tìm hiểu
cùng đánh giá tác phẩm kể trên, như: Mai Quốc Liên (Ngô Thì Nhậm trong
văn học Tây Sơn, Sở VHTT Nghĩa Bình xb, 1985), Trần Đình Hượu (Bài tham
luận, in trong: Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam,
Việt Triết học xb, H, 1986), Hà Thúc Minh (Lịch sử phật giáo Việt Nam,
nhà xb KHXH, H, 1988)… nhưng khảo sát một cách quán xuyến thâu tóm, đánh
giá công bằng, tham bác, có giá trị hơn cả vẫn là những trang viết của
giáo sư Nguyễn Lang trong sách VNPGSL T2 (sđd, tr. 267-293).
d.
Nguyễn Du (1765-1820) là gương mặt thơ lớn nhất của văn
học cổ điển Việt Nam, mà cũng là nhà thơ có những tiếp cận thấu đạt nhất
về Phật học. Toàn bộ tác phẩm của ông đều chịu ảnh hưởng của Phật Giáo.
Có thể nói đến một Nguyễn Du dung hợp một cách thành công ba yếu tố
Nho-Phật-Lão, đã phổ thông hóa cụm triết lý nhân quả - nghiệp báo của
Phật học. Chúng ta cũng có thể nói đến một Nguyễn Du Phật tử trong Văn
Tế Thập Loại Chúng Sinh với cái đạo tâm và tín tâm đã được thể hiện rất
rõ, rất đậm nét. Rồi trong khối lượng thơ chữ Hán gồm gần 250 bài, hơn
bất cứ một nhà thơ nào trong văn học Việt Nam, Nguyễn Du đã bày tỏ những
xót xa, những thao thức, trăn trở đối với bao cảnh vô thường biến đổi
của vạn vật, cũng như tính chất hư ảo, bèo bọt của kiếp người, của vinh
hoa phú quý… để tiến dần đến thiền học. Và với bài thơ “Lương Chiêu Minh
Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài” (Đài đá phân kinh của Thái Tử Chiêu Minh
đời Lương), nhà thi hào của chúng ta đã chính thức đặt chân lên vùng
trời vô ngôn thênh thang của thiền học. Xin giới thiệu đoạn cuối:
“Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số
Nhân liêu thử tâm nhân tự độ
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Minh kính diệc phi đài
Bồ
Đề bản vô thụ
Ngã
độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ
trung áo chỉ đa bất minh
Cập
đáo phân kinh thạch đài hạ
Tài
trí vô tự thị chân kinh”.
(Ta
nghe Linh Sơn đức Phật tổ
Thuyết pháp độ người nhiều như cát sông Hằng nọ
Người tu được tâm độ lay rồi
Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi!
Chẳng có đài gương sáng
Chẳng có cây Bồ Đề
Ta
đọc Kim Cương trên nghìn lượt
Lắm
điều sâu kín hiểu không rành
Đài
đá phân kinh nay được đến
Mới
hay “không chữ ấy chân kinh”). (Ngô Linh Ngọc, Mai Quốc Liên dịch,
Nguyễn Du Toàn tập I, nhà xb VH, H, 1996)
e.
Trong văn học hiện đại, bài thơ Lửa Từ Bi của nhà thơ Vũ Hoàng Chương
có một vị trí đặc biệt. Nếu ngọn lửa tự thiêu của HT Quảng Đức đã thắp
sáng lên tinh thần vô úy, tỏa lên sức mạnh của từ bi và trí huệ, góp
phần đẩy bánh xe lịch sử dân tộc tiến lên phía trước, thì bài thơ Lửa Từ
Bi là một chứng tích, một dấu ấn văn học đậm đà của một thời kỳ lịch sử,
một khẳng định bằng ngôn ngữ thi ca cho sự gắn bó giữa Phật Giáo và dân
tộc Việt Nam. Ngôn ngữ thơ ở đây đã là ngôn ngữ nhuần nhuyễn của một
người hiểu Phật và tin Phật:
“
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
Lụa
hay tre nào khiến bút ai ghi
Chỗ
người ngồi: một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét từ bi
Rồi đây… rồi mai sau còn chi?
Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát
Với thời gian lê vết máu qua đi
Còn mãi chứ, còn trái tim Bồ Tát
Đội hào quang xuống tận chốn A Tỳ ’’
(Lửa Từ Bi, dẫn theo Nguyễn Lang, VNPGSL T3, nhà xb Lá
Bối, Paris, 1985, tr. 361)
II.
TÍNH CHẤT DIỄN TẢ, TÔ ĐIỂM
Phật Giáo, cũng như bất cứ một hình thái xã hội nào đã
trụ thế với đất nước Việt Nam thông qua những hình thức quen thuộc của
mình: ngôi chùa, các nhà sư, tiếng chuông mõ, kinh kệ, những sinh hoạt
về lễ bái cúng kính v.v…. tất cả đã là những hiện thực gần gũi trong
cộng đồng dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa. Từ những hiện thực phong phú
trong cuộc sống, chúng ta đã được chuyển hóa thành những hiện thực sinh
động trong văn học là chuyện hầu như tất nhiên.
1.
Trước hết là hình ảnh ngôi chùa, tiếng chuông chùa đã gắn bó với
cả chiều dài chiều rộng của văn học Việt Nam, cả văn học dân gian, cổ
điển và hiện đại.
a.
Ở tục ngữ, ca dao, chúng ta sẽ luôn gặp ngôi chùa trong suốt cả
cuộc đời của một con người:
Ngôi chùa làng quen thuộc: “Đất vua, chùa làng, phong
cảnh Bụt”
Ngôi chùa, tiếng chuông chùa của sự hẹn hò, thề ước.
“Bao giờ cạn lạch Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền”
“Tiếng chuông Thiên Mụ dặn dò
Em đi cảnh vắng, hẹn hò cùng ai”.
Ngôi chùa với ước nguyện của đôi lứa:
“Lên chùa lạy Phật quy y
Cầu cho bến nớ, bên ni kết nguyền”.
Ngôi chùa với tình yêu gắn bó của đôi vợ chồng trẻ :
“Đôi ta như tượng mới tô
Như chuông mới đúc, như chùa mới xây”.
Ngôi chùa thân thuộc trong sinh hoạt của người dân:
“Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”.
Ngôi chùa với quá trình lao động của dân chúng:
“Rủ nhau xuống biển câu cua
Lên non hái nhãn vô chùa nghe kinh”.
Ngôi chùa trên đường Nam tiến của dân tộc:
“Ra đi gặp vịt cũng lùa
Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu”.
Ngôi chùa gắn liền với các lễ hội truyền thống:
“Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”
“Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở vào Hội Láng, trở ra Hội Thầy”.
“Mồng bảy Hội Kám, mồng tám Hội Dâu
Mồng chín đâu đâu trở về Hội Dóng”.
Ngôi chùa trong sự hiếu thảo của người con:
“Lên chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ, công phu chưa đành”.
“Ngó lên trên trời thấy cặp cu đương đá
Ngó ra ngoài biển thấy cặp cá đương đua
Anh về lập miếu thờ vua
Lập
am thờ mẹ, lập chùa thờ cha”.
Ngôi
chùa trong bóng xế của đời người:
“Thiếp về lựa chuối thiếp mua
Lựa
hương thiếp thắp, lựa chùa thiếp tu”.
Ngôi
chùa của tuổi già:
“Trẻ vui nhà, già vui chùa”.
b.
Một điểm đáng chú ý là trong tục ngữ ca dao Việt Nam, ngôi chùa
còn được sử dụng qua ngả ẩn dụ, càng chứng tỏ sự gắn bó của hình ảnh
ngôi chùa trong tư duy của người Việt Nam:
“Chùa rách Phật vàng”.
“Ăn
xôi chùa ngọng miệng”.
“Bụt chùa nhà không thiêng”.
“Có
vả thì phụ lòng sung
Có
chùa bên bắc, bỏ miếu đông tồi tàn”.
“Tuy rằng ăn ở chùa này
Tiền lưng gạo bị cúng thầy chùa kia”.
“Công tôi đánh đá xây tường
Để
ai đóng oản, dâng hương chùa này”.
“Thương thay thân phận con rùa
Ra
đình đội hạc, lên chùa đội bia”…
c.
Trong văn học chữ Hán, hình ảnh ngôi chùa, tiếng chuông chùa đã
là những nguồn cảm hứng lớn. Chỉ nói riêng về phần thi ca, chúng ta có
thể kể ra hằng mấy trăm bài thơ viết rất đạt về ngôi chùa, tiếng chuông
chùa, mỗi bài là một ghi nhận, một phát hiện, một soi sáng hay một khám
phá. Đây là ý kiến của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791): “Sớm
tối đánh vài hồi chuông cho lòng trần lắng sạch…” (Thượng Kinh Kỷ Sự,
Bùi Hạnh Cẩn dịch, nhà xb Hà Nội, 1977, tr. 152). Kể cả một số tác giả
từng có ác cảm với cửa thiền như Trương Hán Siêu (?-1354), Sái Thuận
(thế kỷ 15), Ngô Thì Sĩ (1726-1780), Phạm Quý Thích (1760-1825)… cũng đã
có những ghi nhận đặc sắc về các cảnh chùa:
Đó là
những khám phá mang tính chất ân hận của Trương Hán Siêu:
“Trung lưu quang tháp ảnh
Thượng giới khải nham phi
Phù
thế như kim biệt
Nhàn thân ngộ tạc phi”…
(Tháp in trên dòng sáng
Cửa
động mở đầu non
Cuộc đời ta mây nổi
Biết ngay xưa lạc lầm) (Bài
Khắc Đá Núi Dục Thúy, Nguyễn Lang dịch, VNPGSL2, sđd, tr. 260)
Sái Thuận đã ghi nhận về chùa Phả Lại:
“Phù dạ chung quy hải
Hàm thu nguyệt trụy giang
Long ngâm môn ngoại thủy
Lộ quá vụ biên song
Ngư châu địch kỷ xoang”.
(Chuông tối vang ra biển
Trăng thu rớt giữa dòng
Rồng kêu sông trước cửa
Cò lướt khói bên song
Thỉnh thoảng còi ngư thổi
Khua tỉnh mộng sư ông”) (Bài
Chùa Phả Lại, Hoàng Việt Thi Văn Tuyển, bd của nhóm Lê Quí Đôn, dẫn theo
bản Ronéo của ĐHSP Sài Gòn, T3, tr.42-43).
Ngô Thì Sĩ đã có những phát hiện khi ghé thăm chùa Trinh
Sơn:
“Yên hà tam sổ tính
Kim
tích kỷ thiên thu
Danh lợi nhân không nhiệt
Lâm
tuyền cảnh tự u
Bồi
hồi ngâm bất tựu
Tôn
thạch khán giang lưu”.
(Mấy đỉnh khói mây phủ
Muôn thu ngày tháng trôi
Lợi
danh người náo nức
Rừng suối riêng thảnh thơi
Trên đá nhìn sông chảy
Thơ
không thành, bồi hồi) (Bài Lên Thăm Chùa Trinh Sơn, Băng Thanh dịch,
Ngô Thì Sĩ, Trần Thị Băng Thanh biên soạn, nhà xb Hà Nội, 1987, tr.
113-114).
Phạm
Quý Thích đã thực sự khám phá và cảm nhận chất thiền khi mô tả một số
cảnh đẹp chung quanh chùa Trần Quốc:
“
Thanh thả liên y
Tây
Hồ chi thủy
Bách ức liên phi
Nhứt thiết hoan hỉ
Bất
cảm hà tịch?
Bất
linh hà hư?
Quản bỉ thủy nguyệt
Tư
kiến chân như”
(Sóng gợn trong vắt
Mặt
nước Tây Hồ
Ngàn đóa hoa sen
Đua nhau vui nở.
Tịch nào không cảm?
Hư
nào không thiêng?
Trăng lồng đáy nước
Soi
tỏ chân như) (Bài Minh của văn bia chùa Trần Quốc, Tuyển Tập văn bia
Hà nội, T1, nhà xb KHXH, H, 1978, tr. 37-38 dịch, tr. 138 Hán).
d.
Hầu hết các tác phẩm chữ Nôm nổi tiếng trong văn học Việt Nam, từ
Lâm Tuyền Kỳ Ngộ (khuyết danh), Tư Dung Văn (Đào Duy Từ, 1572-1634),
Phan Trần (khd), Nhị Độ Mai (khd), Bich Câu Kỳ Ngộ (khd), Quan Âm Thị
Kính (khd), Quan Âm Nam Hải (shd)… đến Sơ Kính Tân Trang của Phạm Thái
(1777-1814), Hoa Tiên truyện của Nguyễn Huy Tự (1743-1790), Đoạn Trường
Tân Thanh của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)…
đều có đề cập đến hình ảnh ngôi chùa hoặc đậm nhạt với những vị trí và
vai trò không giống nhau, nhưng thấy cùng có một điểm chung là đều gián
tiếp xác nhận rằng đó là những hình ảnh không thể thiếu. Xin giới thiệu
đoạn tả cảnh chùa Kim Sơn là đoạn thơ đẹp nhất trong Sơ Kính Tân Trang
của Phạm Thái:
“Đầu non vượn hót khỉ treo
Cây kê cửa động, hoa leo mái già
Chim rừng dóng dả tiếng ca
Nước tuôn khe biếc, khói pha lá vàng
Kinh Thủy Sám, kệ Kim Cương
Rẩy cành cam lộ, thét gươm Đại Hùng
Úm ma ni bát minh hồng
Kinh vang tiếng giác, cả giong giọng từ
Nguyện Di Đà, niệm Tỳ Lư
Bồ Đề là đạo, chân như ấy lòng”
(Dẫn theo Nguyễn Văn Xung, Phạm Thái và Sơ Kính Tân
Trang, nhà xb Lửa Thiêng, S, 1972, tr. 123).
e.
Chỉ nói riêng về Phần Thơ Mới trong văn học hiện đại, mặc dù thời
bấy giờ nhiều nhà thơ đã quá hăm hở trong việc đi hứng lấy luồng gió
lãng mạn từ phương Tây thổi sang, hình ảnh ngôi chùa và tiếng chuông
chùa vẫn có mặt một cách sinh động trong thơ của Nam Trân, Đoàn Văn Cừ,
Nguyễn Nhược Pháp, J. LeiBa, Hồ Dzếnh, Anh Thơ, Bích Khê, Quách Tấn, Lưu
Trọng Lư, Ngân Giang, Xuân Tâm, Nguyễn Bính… Nếu ở thơ Nôm, Chu Mạnh
Trinh (1862-1905) được xem là nhà thơ của chùa Hương với Hương Sơn Phong
Cảnh, Hương Sơn Nhật Trình Ca, thì ở thơ Mới, cái tên gọi thân thuộc ấy
có thể dành cho Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938) với bài thơ dài viết về
chùa Hương được nhiều người biết đến. Cũng trong ý hướng tìm về các lễ
hội truyền thống, ngôi chùa đã gắn liền với tục lễ bái-hái lộc đầu xuân
của người dân trong thơ Nguyễn Bính (1919-1966):
“Trên đường cát mịn một đôi cô
Yếm đỏ, khăn thâm trẩy hội chùa
Gậy trúc, dắt bà già tóc bạc
Lần lần tràng hạt niệm Nam mô”
(Bài Xuân Về, dẫn theo Trần Tuấn Kiệt, Thi Ca Việt Nam
Hiện Đại, nhà xb Khai Trí, S, 1968, tr. 352).
Và thử xem, “Bức Tranh Quê” của nữ sĩ Anh Thơ sẽ thiếu
sót biết bao nếu như không có ngày Rằm tháng bảy, ngày Lễ Vu Lan và cũng
là ngày Tết Trung Nguyên của dân tộc. Hơn thế nữa, đối với Nguyễn Bính,
ngôi chùa quê đã trở thành một phần của quê hương thương nhớ của mình:
“Quê tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm
Chuông hôm gió sớm trăng rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi!
Mai này tôi bỏ quê tôi
Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi bỏ chùa!”
(Dẫn theo Mãn Giác, Phật Giáo và Nền Văn Hóa VN, ĐH Vạn
Hạnh xb, S, 1967, tr. 58)
2.
Hoa, hương, ánh trăng gió nước, chim chóc, cây cỏ… là những hiện
thực, những sự kiện đem lại nhiều ý nghĩa cho cuộc sống con người. Vì
sinh hoạt trong Phật Giáo thường gắn liền với chúng, nên nhiều nhà thơ,
từ cửa thiền hay đứng gần cửa thiền, đã diễn tả trong sự kết hợp với
chất liệu thiền, đem lại cho thi ca Việt Nam những nét phong phú ít có.
a.
Sách Việt Nam Văn Học Sử Yếu của giáo sư Dương Quảng Hàm
(1898-1946), phần bàn về kết cấu của ca dao, đã cho rằng bài ca dao
“Trong đầm gì đẹp bằng sen…” được kết cấu gồm hai thể Phú và Tỷ:”… vừa
tả hoa sen (phú), vừa ví quân tử với hoa sen (tỷ)” (sđd, bản in 1968,
tr. 14). Ví người quân tử với hoa sen thì cũng chỉ là một lối suy diễn
theo ảnh hưởng của Nho Giáo mà thôi. Theo chúng tôi, bài ca dao ấy có
thể được giảng giải theo quan điểm Phật Giáo, vì đạo Phật đã từng thuyết
minh rất nhiều về hoa sen, một trong số các bộ Kinh nổi tiếng của Phật
Giáo Bắc Tông là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Hoa Sen chánh pháp, chữ của HT
Trí Quang), và hình ảnh các vị chân tu hết lòng vì đạo, vì nước, hình
ảnh các vị Bồ Tát xả thân vì đời, lợi lộc không màng… mới đích thực là
những con người “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bún”. Có thể xem lại
những lời ca ngợi của Ngô Thì Nhậm đối với Liên Lão thiền sư chùa Hưng
Long như đã dẫn trên, hoặc hai bài viết của cụ Phan Bội Châu (1867-1940)
về thiền sư Thiện Quảng (1862-1911) (Xem truyện Nhà Sư Ăn Rau, trong
Phan Bội Châu Toàn Tập, T3, nhà xb Thuận Hóa, 1990 ; Văn Thơ Phan Bội
Châu, nhà xb Văn Học, H, 1961, truyện Đường Tăng Nước Nam, thiền sư
Thiện Quảng).
b.
Trong văn học Việt Nam, có lẽ vua Lý Thái Tông (1000-1054) là nhà
thơ đầu tiên đã nói đến sắc hoa, ánh trăng, trong sự kết hợp với chất
liệu Thiền để diễn tả:
“Ung khai chư Phật tín
Viên hợp nhất tâm nguyên
Hạo hạo Lăng Già nguyệt
Phân phân Bát Nhã liên”
(Mở niềm tin đức Phật
Xa hợp một tâm nguồn
Trăng Lăng Già vằng vặc
Sen Bát Nhã thơm truyền) (Bài
Truy Tán Thiền Sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, TUTA, sđd, tr. 167-168).
Cùng
thời với vua Lý Thái Tông, thiều sư Viên Chiếu (999-1091) trong một số
“Thoại đầu thiền”
cũng đã kết hợp với những hình ảnh trăng gió hoa của thi ca:
“Trong tuyết mẫu đơn nở
Trời thu oanh hót vang”
(Thu thiên đoàn thử lệ
Tuyết cảnh mau đơn khai) (TUTA, sđd, tr. 61)
“Gió thổi sừng kêu xuyên rặng trúc
Vầng trăng vượt núi đến bên tường”.
(Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo
Sơn
nham đái nguyệt quá tường lai) (TUTA, sđd, tr. 73).
c.
Chúng ta đã nói đến một cành Hoa Mai tuyệt vời của thiền sư Mãn
Giác đời Lý. Chúng ta cũng có thể nói tới một Hoa Cúc tuyệt diệu của
thiền sư Huyền Quang (1254-1334) đời Trần.
Bàn về
hoa cúc, những người quan tâm đến văn học cổ thường nghĩ tới Đào Tiềm
(365-427) nhà thơ xuất sắc thời Đông Tấn, Trung Quốc. Ở Việt Nam, từ đời
Trần đã có nhiều tác giả viết về hoa cúc, như Trương Hán Siêu (?-1354),
vua Trần Minh Tông (1300-1357), Trần Nguyên Đán (1325-1390) v.v… Một số
nhà thơ nổi danh như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, đều có nhắc
tới loại hoa quen thuộc ấy trong thơ của mình và nhất là Nguyễn Khuyến
(1835-1909) với hai bài thất ngôn bát cú Vịnh Cúc (xem: Thơ văn Nguyễn
Khuyến, nhà xb VH, H, 1979), tr. 281-283), được xem là người chịu ảnh
hưởng đậm của Đào Tiềm “Ở nước ta, thi nhân gần gũi với ông - chỉ Đào
Tiềm - nhất là Nguyễn Khuyến” (Nguyễn Hiến Lê, Đại Cương Văn học sử
Trung Quốc, T1, nhà xb NHL, S, 1964, tr. 09).