PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ MỚI
PHẬT LỊCH 2540 –
GIAO ĐIỂM
Tuyển tập 1
Nhiều tác giả
---o0o---
PHẦN MỘT
TỔNG QUAN
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG
CỬA THẾ KỶ 21
LÝ NGUYÊN
QUÂN
MỘT THÁI ĐỘ CẦN THIẾT
Như một
con bệnh không thể chữa lành khi người ta chỉ tìm cách che đậy, trốn tránh
hay loanh quanh với những lý luận mơ hồ, không ăn nhập gì với hiện trạng.
Cũng không thể chữa lành khi bệnh thì nằm ở gan ruột mà lại đi lo chữa
chạy ở ngoài da. Phật Giáo Việt Nam (PGVN) ngày nay, ngoài những thành tựu
của quá khứ dễ khiến người Phật tử tự hào, ngoài các sức mạnh quần chúng
còn lại sau nhiều lần bị phung phí; và bên cạnh những yếu tố tích cực có
thể đóng góp cho một viễn ảnh tốt đẹp hơn, thì vẫn còn đó, những yếu tố
tiêu cực ngay ở tự thân của nó - những yếu tố đã từng làm cho PGVN bị
nghiêng ngửa, rã rời, tan nát và ngày càng tỏ ra như một căn bệnh trầm
kha, không ai chữa trị và cũng không ai muốn chữa trị. Ngay cả việc nói
đến nó không thôi, người ta cũng phải e sợ đủ thứ chuyện thì nói gì đến
việc chữa trị. Khoan nói đến lý do của trạng huống tâm lý này. Chỉ cần ghi
nhận, trạng huống tâm lý này phản ảnh một thái độ tiêu cực mà hậu quả là
chính Phật Giáo bị thiệt thòi chứ không ai khác. Làm thế nào mà PGVN có
thể vươn mình trỗi dậy làm ngọn đuốc soi sáng cho đời khi mà các trạng
huống tâm lý này cứ mãi đè nặng nơi một đa số thầm lặng - những người từng
hoài bão nhiều cho Phật Giáo? Làm sao mà PGVN có thể mở rộng được cánh cửa
tương lai để đi tới khi mà nó cứ phải trói buộc mình vào cái tâm cảnh của
một nỗi e sợ kỳ cục như thế này?
Hẳn nhiên
là PGVN sẽ vẫn còn đó. Còn đó trong tâm hồn của con người Việt Nam dẫu cho
người ta vô tình hoặc cố ý không biết đến sự có mặt của nó chăng nữa vì nó
đã như nước thấm sâu vào lòng đất. Còn đó trong đời sống trí tuệ của con
người Việt nam vì nó vốn không phải là một tôn giáo sống bằng những hình
thức tín ngưỡng dị đoan; lại càng không phải sống bằng những hứa hẹn và đe
dọa hão huyền mà vì nó vốn là tôn giáo của Trí Tuệ, là con đường chân thực
đưa tới Sự Thực. Dẫu cho thế gian này có bị thiêu hủy hay chìm trong tăm
tối vì sự tham tàn và ngu muội của con người chăng nữa thì Sự Thực vẫn là
Sự Thực và con đường chân thực đưa tới Sự Thực vẫn là con đường chân thực
đưa tới Sự Thực. Nhưng còn đó như thế nào là điều mà chúng ta nên nghĩ
tới. Còn đó như một ngọn đuốc soi sáng cho đời hay như một cục than bị vùi
lấp giữa đống tro tàn? Còn đó như một sức mạnh văn hóa mở đường đi tới cho
con người hay như một bảo vật trong viện bảo tàng? Đó là những câu hỏi đặt
ra cho những người còn ít nhiều hoài bão cho Phật Giáo Việt Nam lúc này,
khi mà các trạng huống tâm lý nói đến trên đây đang đè nặng trên tâm hồn
của người con Phật Việt Nam ở bên này và bên kia. Đó cũng là những câu hỏi
đặt ra một thái độ cần có như một bước đầu cho những chuẩn bị nghiêm chỉnh
để đi tới ở ngày mai.
Thái độ đó là gì? Là sự rời bỏ trạng huống tâm lý e sợ đã
nói để có đủ can đảm nhìn lại mình như một tác nhân chủ yếu quyết
định cho con đường đi tới của PGVN giữa hoàn cảnh ngổn ngang này. Hoàn
cảnh ngổn ngang của lịch sử, của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, xã
hội… của đất nước trong mấy thập niên qua đã từng tác động mạnh mẽ - và
chắc chắn cũng sẽ còn tác động mạnh mẽ - lên tấm thân của Phật Giáo. Nhưng
hoàn cảnh y báo ấy, trong ánh sáng của giáo lý Phật, vốn không thể tách
rời và càng không là năng lực chủ động quyết định cho tự thân chánh báo.
Chúng ta cần nhận ra điều này để không tự ru ngủ mình và không phải tập
trung tất cả thì giờ, năng lực cho những việc làm, dù có thân thiết, nhưng
chưa phải là điều thiết cốt. Truy tầm những lý do cho bệnh trạng ở bên
ngoài và đặt vào đấy trách nhiệm về bệnh trạng trong khi vi trùng thì ở
ngay thân mình – như nhiều người đã làm một cách rất năng nổ - dù có thể
là một điều rất nên, rất đáng nhưng chắc chắn là không đủ để chữa trị bệnh
trạng. Đó là chưa kể đến, việc lo đối phó với hoàn cảnh ngổn ngang đến độ
trở thành một vật kéo của chiếc xe hoàn cảnh thì lại còn tệ hại hơn cả
hoàn cảnh tệ hại vì nó chính là cách tự đánh mất mình, tự hủy diệt mình
một cách nhanh và gọn nhất. Đã không cứu được mình, đã tự đánh mất mình,
tự hủy diệt mình như thế thì còn nói gì đến chuyện cứu ai bây giờ!
Phật Đạo giữa thế gian là Bồ Tát Đạo. Trên con
đường hoạt dụng của Bồ Tát ấy, người con Phật phải lấy Bồ Đề Tâm làm động
cơ căn bản. Nhưng Bồ Đề Tâm chỉ có thể phát khởi khi có được thâm tâm và
trước hết, là có được trực tâm. Trực tâm là cái tâm ngay thẳng, chất trực,
không quanh co trá ngụy, không tự dối mình và dối người. Đó là cái tâm
không e sợ, can đảm nhìn thẳng vào mình như một tác nhân chủ yếu để thấy
ra đâu là cái gốc của bệnh, cái mầm của loạn. Đó chính là cái tâm
quy định cho một thái độ cần thiết, bước đầu cho sự lên đường trở về tìm
lại chính mình để cho Phật Giáo đúng là Phật Giáo chứ không phải là một
cái gì khác mang danh Phật Giáo.
HIỆN
TRẠNG CỦA PGVN NGÀY NAY
Ngoài những thành tựu và đổ vỡ mà ai cũng thấy và đã được
nói đến nhiều – không kể đến những tiếng nói phô trương quá lố hay những
xuyên tạc dối trá ở bên này và bên kia, PGVN ngày nay như đang ở trong một
tình trạng phức tạp vừa có nhiều triển vọng vừa chứa đựng những nguy cơ
hiểm họa khó lường.
1.
Triển vọng trước hết là ở niềm tin Phật của quần chúng. Sau
hơn nửa thế kỷ - và có thể kể xa hơn, gần 140 năm nay – dân tộc Việt Nam
đã phải ở trong một chu kỳ lịch sử lệ thuộc vào những sức mạnh của thời
đại xuất phát từ Tây Phương. Ở đó, những chế độ nối tiếp nhau liên tục đặt
Phật Giáo vào trong cái thế của một kẻ bị trị; và vì vậy, bị khống chế và
kềm hãm đủ thứ. Lại ở đó, chiến tranh thù hận, độc tài áp bức, sự tuyên
truyền có tính cách tẩy não của những ý thức hệ tôn giáo, chính trị đang
nắm trong tay sức mạnh của thời đại đã như cùng tập hợp lại để không cho
PGVN trỗi dậy; thậm chí, để triệt hủy niềm tin Phật của quần chúng. Nhưng
rõ ràng cho đến hôm nay, niềm tin Phật của quần chúng đã không dễ dàng bị
triệt hủy và Phật Giáo vẫn còn đó như một tôn giáo của đa số với hơn 50%
dân chúng tin theo như thống kê của chế độ đương quyền (vì tính cách lỏng
lẻo của các tổ chức Phật Giáo xưa nay, trong thực tế con số này có thể lớn
hơn nhiều). Những Lễ Hội Chùa Hương kéo dài trong nhiều tuần lễ với hàng
hàng lớp lớp người tín mộ. Những mùa Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên Đán…
tràn ngập khách lễ bái hành hương ở khắp các chùa trên mọi miền đất nước
như một cái gì rất xưa bừng sống dậy. Những lễ tang các bậc tôn túc với số
người tham dự làm lo ngại cho cả nhà cầm quyền…
Đó là những gì mà các quan sát viên và những người từng đi
về Việt Nam đã chứng kiến và mô tã rải rác trên nhiều trang báo. Dưới
những chế độ thực hiện chính sách triệt hủy Phật Giáo cách này cách khác
trải dài hơn thế kỷ; những chủ thuyết, ý hệ chính trị xã hội cực đoan luôn
đi theo cùng với sức mạnh quân sự, kinh tế của thời đại liên tục tấn công
vào thành trì tín ngưỡng của dân tộc; với sự nghèo nàn cố hữu và ngay cả,
với những đổ vỡ rạn nức ở ngay bản thân các tổ chức PGVN từ trước đến nay
mà niềm tin Phật của quần chúng vẫn còn như vậy thực là một điều kỳ
diệu. Điều kỳ diệu này cho phép ta nghĩ được rằng, ít nhất là cho đến
lúc này, niềm tin Phật của quần chúng vẫn còn là một tiềm năng lớn, một
trong những yếu tố lớn cho một triển vọng có thể có của PGVN ở ngày mai.
2.
Một yếu tố khác đóng góp vào triển vọng của PGVN là đa số trí
thức Việt Nam đã từng quay lưng lại với tôn giáo ngày càng tiếp cận
với Đạo Phật; và càng tiếp cận thì càng có khuynh hướng quay về với Phật
Giáo do bởi nhận ra rằng, Đạo Phật thực sự không giống với các tôn giáo
khác.
Không giống với các tôn giáo
khác. Sự thực này được nhìn ra là một yếu tố có tính cách quyết định cho
thái độ và khuynh hướng của người trí thức Việt Nam ngày nay. Tôn giáo là
một thực thể của xã hội loài người. Lịch sử văn minh, văn hóa của con
người đã có không ít những đóng góp của tôn giáo. Nhưng đồng thời, ở một
mặt, tôn giáo cũng đã đóng góp không ít vào những thảm họa lịch sử. Lịch
sử còn đó, những cuộc chiến tranh tôn giáo được gọi là Thánh Chiến (The
Holy War) trải dài trong thời Trung cổ ở Âu Châu. Lịch sử cũng đang phơi
bày những cuộc chiến tranh diễn ra trong thời cận và hiện đại ở khắp nơi
trên thế giới có động cơ tôn giáo, những chiến tranh ở Trung Đông, Ái Nhĩ
Lan, ở Ấn Độ, Phi Luật Tân, ở Phi Châu... Đó là chưa kể đến những thảm
kịch Jonestown, Waco…, mặc dù trong một phạm vi nhỏ hơn, nhưng đã là những
biểu hiện lòng cuồng tín tôn giáo đến độ làm ngạc nhiên, bàng hoàng cả
những kẻ còn mê tín vào tôn giáo. Đó cũng là chưa kể đến những cuộc hôn
nhân khác tôn giáo đã phải bị ép uổng hoặc gãy đổ khiến nhiều người phải
đau khổ thế nào; và còn nữa, những tín điều, giáo điều, những lời phán
truyền đầy dẫy trong các sách sử tôn giáo mà ngay cả người có đầu óc bình
thường cũng không thể không đặt lên câu hỏi về bản chất và ý nghĩa của tôn
giáo.
Giữa bầu khí tôn giáo cần và đang được tra vấn đó thì Phật
Giáo như riêng mình một cõi. Không từng can dự vào bất kỳ một cuộc chiến
tranh tôn giáo nào xưa nay, không từng đẩy con người đến chỗ cuồng tín ở
bất cứ đâu, không chứa đựng một điều gì huyền mị trong kinh sách – ngoài
những biểu lộ cảnh giới của tâm linh mà con người chưa vươn tới được. Cho
nên, không chỉ là yếu tố Thần (Gods) làm cho Phật Giáo khác với các tôn
giáo khác mà ngay cả thực tế lịch sử và đời sống tín ngưỡng, người ta cũng
không thể dùng định nghĩa và khái niệm tôn giáo chung chung đem áp dụng
cho Phật Giáo. Không phải là vấn đề hơn hay thua, mạnh hay yếu
nhưng rõ ràng là, Phật Giáo thực sự khác biệt với các tôn giáo khác. Điều
này có ý nghĩa rất lớn nếu ta hiểu được cái lý do mà người trí thức Tây
Phương ngày càng ngưỡng mộ Phật Giáo và tìm đến để học hỏi.
Người trí
thức Việt Nam ngày nay, trong buổi hoàng hôn của những chủ nghĩa, ý hệ
hoang tưởng một thời được tôn thờ đưa đến những đổ vỡ trong tâm hồn và đời
sống, phải đứng trước ngã ba đường để đi tìm một nền tảng tư tưởng và đạo
lý cho cuộc sống. Các tôn giáo dễ dàng là các cửa ngõ cho một lựa chọn mới
này. Ở đó, Phật Giáo hiện ra như một tôn giáo của Từ Bi, Bất Bạo động,
của Trí Tuệ, Hỷ Xả - khác biệt với tất cả các tôn giáo khác trên
mặt tư tưởng cũng như trên thực tế lịch sử, sẽ trở thành một cửa ngõ cho
những tâm hồn khao khát sự an lạc và những đầu óc khát vọng chân lý. Một
số không nhỏ các nhà trí thức Việt Nam ở Việt Nam và ở hải ngoại đang tìm
về với Phật Giáo như một lựa chọn mới này, và đã có không ít những đóng
góp trí tuệ vào ý hướng xây dựng một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho dân
tộc Việt Nam giữa lúc tinh thần chao đảo hiện nay.
Những biểu hiện cho khuynh hướng trí tuệ tìm
về Phật Giáo này đang quy tụ ở nhiều nơi: Ở Việt Nam, các thiền viện dưới
sự hướng dẫn của Thiền Sư Thanh Từ, các trường Cao Cấp Phật Học, các Viện
Nghiên Cứu Phật Học và ngay cả trong một vài sinh hoạt của Viện Khoa Học
Xã Hội mấy năm lại đây mà buổi Hội Thảo về Tuệ Trung Thượng Sỹ là một điển
hình… Ở hải ngoại, Làng Mai dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư Nhất Hạnh, và
các chi nhánh của nó ở nhiều nơi, các tạp chí Phật Giáo hoặc có màu sắc
Phật Giáo mà đường hướng nhiều khi rất khác biệt nhau (Phật Giáo Việt Nam,
Giao Điểm, Tin Phật, Hoa Sen, Chân Nguyên, Bông Sen, Viên Giác, Phật Giáo
Hải Ngoại…)
3. Một
triển vọng đáng kể khác là những trung tâm tu học được thiết lập với những
truyền thống tu tập được xây dựng, tái tạo hoặc cách tân. Như xương sống
của cơ thể, những trung tâm tu học và truyền thống tu tập đã là yếu tố
quyết định tối hậu cho lịch sử hưng vong của Phật Giáo xưa nay. Thử tưởng
tượng, Phật Giáo Trung Hoa mà không có các bậc Cổ Đức đời đời nối tiếp
thiết dựng các Đạo Tràng Dịch Kinh, Giảng Kinh, nói Pháp, lập thành các
Pháp môn tu tập Thiền, Tịnh và các Tòng lâm hướng dẫn đồ chúng tu tập thì
di sản của Phật Giáo Trung Hoa còn có gì? Như Phật Giáo Nhật Bản, không
phải là Tổng Hội Phật Giáo Nhật Bản - thường được xem là cơ cấu đại diện
cho Phật Giáo - nắm mạng mạch của Phật Giáo ở đây mà chính là hệ thống các
Tông Phái với những sắc thái linh hoạt và truyền thống tu tập khác nhau
được giữ gìn đã tạo nên các sức sống cho Phật Giáo xứ này. Phật Giáo Tây
Tạng ngày nay là một ví dụ rõ nét khác. Trong khi Tây Tạng đang phải chịu
đựng một trong những thảm kịch đau thương nhất của lịch sử các dân tộc mà
tương lai chưa biết thế nào thì Phật Giáo Tây Tạng, theo cùng tình cảnh
lưu vong của một phần dân tộc họ, lại đang ảnh hưởng lớn trong đời sống
tâm linh và trí tuệ của con người ở Tây Phương. Được vậy không chỉ vì
những huyền thoại được nói nhiều về xứ này; cũng không chỉ vì những hình
thức khá kỳ dị trong sinh hoạt tôn giáo của họ (vì huyền thoại và những
hình thức nếu có làm cho người ta lưu tâm đến thì cũng chỉ nhất thời) mà
chính là ở cốt tủy, Phật Giáo Tây Tạng còn đó những truyền thống tu tập
với những kinh nghiệm tâm linh thực sự.
Phật
Giáo Việt Nam, ít ra là từ 1963 trở về sau, đã bị cuốn hút vào cơn lốc của
thời thế để không có được sự quan tâm đúng mức, nói gì đến việc đáp ứng
nhu cầu sinh tử nầy của Phật Giáo. Dù chúng ta có đó, những đời sống tâm
linh tỏa sáng thành những tấm gương đạo hạnh đáng ngưỡng mộ nhưng đó chỉ
là những trường hợp cá biệt; chúng ta cũng có đó những Tu Viện, Phật Học
Viện nhưng nề nếp tu học và sinh hoạt không đủ để tạo nên những truyền
thống tu tập cho hơn một thế hệ. Phải đợi đến sau này, trong nghịch cảnh
nhiễu nhương của vận nước, vận đạo, PGVN mới có được những bậc tôn túc
quan tâm và thực hiện những trung tâm tu học và xây dựng lại những truyền
thống tu tập. Các Thiền Viện ở trong nước với Thiền Sư Thanh Từ quy tụ
đông đảo đồ chúng đang làm sống dậy bầu khí tu Thiền, kết hợp truyền thống
Tổ Sư Thiền ở Trung Hoa với truyền thống Thiền Trúc Lâm đời Trần của Việt
Nam. Trước và song song với nó, và trên những phạm vi ảnh hưởng nhỏ hơn,
có những Đạo Tràng Liên Hữu tu tập Tịnh Độ, pháp môn Niệm Phật Công đức
rải rác ở Trung và Nam.
Trong
khi ở hải ngoại, Làng Mai ở Pháp trở thành một trung tâm Thiền nổi tiếng
với Thiền Sư Nhất Hạnh, đưa phương pháp Thiền trong truyền thống Kinh Tạng
Phật giáo áp dụng vào cuộc sống của con người xã hội hiện nay, quy tụ hằng
năm rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới và từ những truyền thống tôn
giáo khác nhau đến tu học. Có nhiều nhóm Thiền sinh Việt Nam và ngoại quốc
đang áp dụng phương pháp Thiền tập này và sinh hoạt tu tập khá đều đặn. Có
những nơi vận dụng phương pháp Thiền tập này kết hợp với nề nếp tu tập vốn
có ở Việt Nam trước đây như ở một số chùa, Tu Viện tại miền Bắc
California, Texas, Massachusetts…
Việc
tái dựng các truyền thống tu tập với sự có mặt của các trung tâm tu học
nói trên là một yếu tố đáng khích lệ lúc này khi nhìn về viễn ảnh của PGVN
ngày mai. Càng đáng khích lệ hơn khi quần chúng Phật tử ngày càng qui tụ
về các trung tâm tu học, thể hiện tấm lòng thiết tha cầu tu, cầu học và
đưa sự tu học trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống. Tu học trở
thành một nhu cầu, đó hẳn là một dấu hiệu có tính cách quần chúng đáng
mừng nhất trong hai thập niên cuối của thế kỷ này. Mặc dù không ồ ạt nhưng
tác động tích cực và thầm lặng của nó vào con đường đi tới của PGVN chắc
chắn sẽ được thấy rõ về lâu về dài sau này.
4. Cũng là những yếu tố tích cực góp phần vào triển vọng của PGVN là
những thành tựu trong một chừng mực nhất định của hai tổ chức Giáo Hội
hiện nay ở Việt Nam.
Không
kể đến những thành tựu trước năm 1975, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất (GHPGVNTN), trong mấy năm lại đây, đứng trên vị trí cố hữu
của mình, đã lên tiếng cho những khát vọng của dân tộc và của chính Phật
Giáo. Đặt trong vị trí của một tổ chức tôn giáo lớn mà lại không thể công
khai hoạt động và trong liên hệ với cảnh ngộ chung của dân tộc, sự lên
tiếng của GHPGVNTN phải được xem là can đảm và cần thiết. Can đảm
bởi vì sự lên tiếng đó đã phải trả giá bằng giá của nhiều hy sinh, ngay cả
hy sinh thân mạng. Và đó là một trong những cách thế biểu lộ tinh thần
xứng đáng được ngưỡng mộ của người Phật Tử Việt. Cần thiết vì nhu cầu
chuyển hóa đất nước đòi hỏi phải có những tiếng nói khác với tiếng nói của
người cầm quyền, những tiếng nói xuất phát từ người dân bị áp bức bất công
và nói là nói cho những khát vọng của họ. Cũng cần thiết vì nó góp phần
khẳng định con đường của PGVN khi đối diện với cái khổ của con người – con
đường không nằm ở bên này hay bên kia mà vượt qua tất cả mọi thế đối
nghịch tương tranh của con người trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định.
Tiếc thay, tiếng nói của lương tâm đó đã không được nghe một cách nghiêm
chỉnh như chính nó. Nhưng dù không được nghe một cách nghiêm chỉnh lúc này
thì âm hưởng của tiếng nói đó cũng sẽ còn để góp phần định hướng cho con
đường đi tới của PGVN giữa những tình thế còn nhiều phức tạp sau này.
Trong
khi đó, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), trong những giới hạn
lịch sử và tính chất của nó, cũng đã có những thành tựu đáng kể. Không nói
đến những chùa chiền được tái tạo và xây dựng – không hẳn là do Giáo Hội
này, GHPGVN ít nhất đã làm được hai điều có ý nghĩa lớn:
Một là
đã thực hiện được hệ thống các trường Phật Học từ Cơ Bản đến Cao
Cấp và từ Nam đến Bắc để đào tạo các thế hệ Tăng sĩ cho ngày mai. Hẳn
nhiên còn nhiều giới hạn trong việc tổ chức, trong nội dung chương trình
và phương pháp giáo dục và vì vậy, liên hệ đến phẩm chất đào tạo, nhưng sự
hình thành một hệ thống như vậy với số lượng Tăng ni sinh theo học đông
đảo đã là điều có ý nghĩa lớn cho sau này. Nó chứng tỏ tấm lòng thiết tha
với tương lai của PGVN của những nhà lãnh đạo Giáo Hội này; và chắc chắn
thành quả đào tạo của nó sẽ góp phần quyết định cho tương lai của PGVN như
tấm lòng hoài bão của những người đã ra công thực hiện.
Hai là
Giáo Hội này đã tổ chức và thực hiện được bước đầu, Đại Tạng Kinh Việt
Nam. Đây là một nỗ lực không chỉ tùy thuộc vào tài chánh mà còn vào
khả năng trí tuệ trên nhiều lãnh vực nghiên cứu, dịch thuật mà nếu không
tập hợp được các khả năng này thì không dễ làm gì được. Trong khi Phật
Giáo ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Đại Hàn và phần lớn các
nước trong truyền thống Nam truyền đã có Đại Tạng từ lâu; và ngay cả Âu Mỹ
mà lịch sử du nhập và phát triển Phật Giáo đang còn mới mẻ nhưng công
trình dịch thuật, nghiên cứu kinh điển Phật Giáo đã hết sức đồ sộ thì gia
tài của PGVN, trên lãnh vực này, thực là ít ỏi. Cho nên, việc thực hiện
Đại Tạng Kinh Việt nam là một đóng góp lớn vào sự nghiệp trí tuệ đang còn
nghèo nàn của PGVN và là một công trình cần thiết cho những thế hệ học
Phật ở Việt Nam hôm nay và ngày mai.
Những
yếu tố đáng kể cho nhìn ra triển vọng của PGVN là đó. Nhưng bên cạnh và
ngay nơi một số yếu tố đầy triển vọng này, PGVN cũng đang có nhiều nguy
cơ hiểm họa.
1. Một đa số quần chúng Việt Nam vẫn còn niềm tin Phật nhưng đó là
niềm tin có quá nhiều tính chất tiêu cực và có nhiều những tác động tiêu
cực ở ngoài vào trong khi không có nhiều những nỗ lực điều hướng và giữ
gìn niềm tin này ở các tổ chức Phật Giáo. Niềm tin Phật đó vốn không đơn
thuần mà bị pha trộn với nhiều hình thái tín ngưỡng dân gian đầy những mê
tín và dị đoan. Tin Phật, tin nhân quả đó nhưng cũng tin vào bói toán, cầu
đảo, vào sự thưởng phạt của đủ loại thần, thánh, ma, quỷ; và vì vậy, Đạo
Phật vốn là đạo của Trí Tuệ, đã và đang còn bị nhìn bởi một số đông người
như là Đạo của mê tín, dị đoan, hủ lậu. Ở miền Bắc – như được ghi nhận bởi
nhiều người - niềm tin Phật của quần chúng trỗi dậy mạnh mẽ nhưng đồng
thời cũng mạnh mẽ không kém, sự trỗi dậy của nhiều hình thức tín ngưỡng dị
đoan của nhiều người “làm ăn” ở những hình thức tín ngưỡng này. Trong quá
khứ, những hình thức này có thể đã là cái thành trì tín ngưỡng chống đỡ
lại sức công phá của những giáo điều, tín điều ngoại nhập vốn cũng mê tín
và dị đoan không kém.
Nhưng
trong tương lai không xa, đất nước đi vào con đường Tây phương hóa, như
một điều không thể tránh – ít ra là trên mặt kinh tế - con đường lấy
dục vọng làm động cơ thúc đẩy và vì vậy có sức cám dỗ mãnh liệt và kéo
theo nó là cả những thành quả của khoa học, kỹ thuật làm thay đổi não
trạng và khuynh hướng sống của con người, một đạo Phật gắn liền với những
mê tín, dị đoan chắc gì không bị lung lay, nghiêng đổ? Một Đạo Phật mê tín
bị lung lay, nghiêng đổ chẳng có gì là đáng tiếc – đáng mừng là khác –
nhưng nghiêng đổ để rồi, không có một Đạo Phật chánh tín thay vào thì
không chỉ là một nguy cơ suy tàn của Phật Giáo mà còn là cả một hiểm họa
cho dân tộc trên mặt đạo đức. Một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng không
có, nguy cơ đó không phải trách nhiệm ở quần chúng mà là ở những người
đang giữ gìn mạng mạch của Phật Giáo ngày nay.
Cũng trong viễn tượng của một xã hội Việt Nam
có nhiều thay đổi và thay đổi với một tốc độ rất nhanh, những hiện tượng
tiêu cực trong Phật Giáo hiện nay - đặc biệt là ở cơ cấu tổ chức và ở giới
Tăng sĩ trên cả hai mặt phẩm chất đạo đức và khả năng - nếu không sớm điều
phục thì chỉ trở thành đối tượng cho những khai thác không mấy lương thiện
của nhiều thế lực khác mà thời nào cũng có, góp phần lay đổ niềm tin Phật
của quần chúng và mở lớn cơ nguy suy tàn của PGVN mà thôi.
Ngay
với một thành phần không nhỏ giới trí thức Việt Nam đang tìm về Phật Giáo
như tìm về một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho đời sống cũng sẽ không làm
gì được nếu như Phật Giáo không có được môi trường thích hợp cho những
sinh hoạt trí tuệ; và nếu như giới này chỉ thấy được cái hay của Đạo Phật
trong kinh sách và trong quá khứ mà không thấy được cái hay của Đạo Phật
trong hiện thực đời sống và xã hội trước mặt. Chánh Pháp, cuối cùng, may
lắm thì chỉ còn với một số cá nhân mà không thể trở nên ngọn đuốc hướng
đạo cho đời sống tinh thần của ngay cả quần chúng Phật tử, nói gì đến xã
hội.
2. Nguy cơ suy tàn trên đây vốn liên hệ tới vai trò của các tổ chức
Phật Giáo và phẩm chất của người Tu sĩ Phật Giáo.
Tổ chức
Phật Giáo trong mấy mươi năm nay cứ như một tấm thân ốm yếu bệnh hoạn lại
cứ phải đắm trong một bầu không khí ô nhiễm. Ốm yếu, bệnh hoạn vì như chưa
bao giờ Phật Giáo Việt Nam có được những chuẩn bị đầy đủ cả về lý thuyết
lẫn thực tế cho một tổ chức Giáo Hội vừa muốn giữ lại tinh thần của Tổ
chức Tăng đoàn thời nguyên thủy; vừa muốn có đủ giáo quyền để đảm nhiệm
tất cả các mặt thế trị phức tạp như các tổ chức tôn giáo ở Tây Phương. Rõ
ràng đây là một ý hướng nhằm giải đáp những yêu cầu đặt ra cho một tổ chức
tôn giáo trong xã hội hiện nay; và ở trường hợp của PGVN, còn là cái yêu
cầu bức thiết của hoàn cảnh lịch sử lâu đời không cho phép PGVN thu mình
lại trong bốn bức tường của Thiền môn. Nhưng rõ ràng, hai ý muốn đó chứa
đựng một nghịch lý đã không được trả lời thỏa đáng trên thực tế. Và vì vậy
mà, Tăng đoàn trở nên lỏng lẻo trong đời sống hành trì và tổ chức Giáo Hội
thì không đủ sức chủ động được các mặt thế trị phức tạp.
Tăng
đoàn trở nên lỏng lẻo vì thiếu đi cái xương sống của nó là những truyền
thống tu tập - điều mà một tổ chức Giáo Hội – dù cho có đủ giáo quyền đi
chăng nữa – không thể đảm nhiệm được. Sự thiếu vắng những truyền thống tu
tập, ngoài hai thời công phu và khóa lễ Tịnh độ ở các chùa, viện, đã làm
cho đời sống người Tu sĩ thiếu nội lực tâm linh và phẩm chất người Tu sĩ
ngày càng yếu kém trên cả hai mặt đạo đức và khả năng. Thiếu nội lực và
yếu kém phẩm chất mà lại mang thân vào đời để đảm nhiệm các mặt thế trị
phức tạp của một tổ chức Giáo Hội như yêu cầu mong muốn thì thật khó tránh
được cái “họa sát thân”. Cái họa đã rõ, ít ra là từ sau 1963 đến nay.
Ngoại trừ một số vị giữ mình nghiêm mật, còn một số lớn khác đã không
tránh được cái “bả lợi danh” của thế tục. Hỡi ôi! Đức Phật như một gương
mẫu vẹn toàn đã vức bỏ tất cả để thành tựu được tất cả mà ngày nay, một số
Tu sĩ hành đạo lại chỉ muốn ôm giữ tất cả để phải mất tất cả thì làm sao
mà Phật Giáo thoát cảnh suy tàn! Một giáo lý cao đẹp chứa đầy tinh thần Từ
Bi, Trí Tuệ, Vị Tha, Vô Ngã… mà ngày nay, một số người con Phật càng sống,
càng hành đạo thì bản ngã như lại càng to, càng lớn, càng thích loạn ngôn
và múa may trên sân khấu đời. Nguy cơ khó tránh được là vậy.
Các tổ
chức Giáo Hội, cũng vì vậy mà không chủ động được các mặt thế trị phức
tạp. Trái lại, chính các mặt thế trị này lại lôi cuốn các tổ chức Giáo Hội
vào trong vũng lầy của nó để có muốn dứt ra cũng không được. Hậu quả là,
các hoạt động của Phật Giáo trên các mặt thế trị bị rơi vào trong những
cực đoan bên này, bên kia trong cái thế đối nghịch của hoàn cảnh lịch sử
và xã hội; để cuối cùng, nhiều khi không tránh được cái thảm cảnh “gà
nhà bôi mặt đá nhau”. Con đường của Phật Giáo vốn là Trung Đạo,
là con đường vượt trên và vượt qua các cực đoan đối nghịch trong tư tưởng
và hành động và chỉ như vậy mới hiện thực được mục đích của nó giải thoát
con người khỏi mọi sự ràng buộc đau khổ. Thì ở đây, các tổ chức Giáo Hội
lại cứ bị du vào cái thế “mua dây buộc mình”. Đối nghịch giữa tổ
chức này với tổ chức khác là điều khó tránh dù cùng là Phật Giáo với nhau.
Càng khó tránh hơn là cái hiện tượng đối nghịch xung khắc ngay trong cùng
một tổ chức Phật Giáo. Bởi vì, ở đây – như mọi tổ chức thế tục của con
người – các mâu thuẫn về quan niệm, khuynh hướng, sở thích và tánh khí của
cá nhân không lúc nào mà không phát sanh; và khi không có gì chế ngự được
nó thì mâu thuẫn trở thành xung khắc đối nghịch.
Đường
lối chính sách của tổ chức Phật Giáo, nếu có, cuối cùng chỉ có trên lý
thuyết, còn trong thực tế thì hoàn toàn tùy thuộc vào khuynh hướng, sở
thích, cảm tính của các cá nhân lãnh đạo, điều hành và theo sự tác
động, ảnh hưởng, chi phối ở bên ngoài vốn đã đầy những trang chấp, đối
nghịch. “Dở hay âu cũng tính trời, biết sao!” Đó là căn bệnh trầm kha
của các tổ chức Phật Giáo. Ba cửa thanh tịnh của nhà Phật, Không, Vô
Tướng, Vô Tác như chỉ còn trên trang kinh để thay vào đó, ba cửa Hữu
(Tham), Tướng (Sân), Tác (Si) mở rộng để cho ngôi nhà Phật Giáo tràn ngập
các mùi vị của thế tục; và sinh lực của nó bị cuốn trôi vào những hoạt
động thế tục. Mối nguy thực đã quá rõ. Càng nguy hơn khi nó phải đắm mình
trong một bầu không khí ô nhiễm của lòng người ly tán vì sự ngăn cách của
đủ thứ cảnh ngộ và chướng ngại; của hoàn cảnh chính trị, xã hội nhiễu
nhương và của bao nhiêu thế lực chỉ muốn lợi dụng và biến Phật Giáo thành
con cờ của họ.
3.
Một mối nguy khác có tính cách lịch sử giai đoạn nhưng lại ở trên
một quy mô lớn, ảnh hưởng toàn diện lên các sinh hoạt của PGVN hiện nay là
sự hiện diện song hành của hai tổ chức Giáo Hội ở Việt Nam: Giáo Hội PGVN
Thống Nhất và Giáo Hội PGVN. Mặc dầu cả hai Giáo Hội đều có những đóng góp
có ý nghĩa như đã nói;
và mặc dầu, đứng ở những vị
trí khác nhau, người ta có thể có những cái nhìn khác nhau về mỗi Giáo
Hội; nhưng, ngay cả sự hiện diện song hành của hai Giáo Hội vốn đã tiềm ẩn
những cơ nguy khó lường.
Không
như mối liên hệ kiểu “ai tu phận nấy” giữa các tổ chức Tông phái với những
truyền thống, pháp môn tu tập khác nhau - điều mà PGVN có nhưng đang
thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ thân hữu dễ dàng được thiết
lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp các thành phần khác nhau và sinh
hoạt trong những môi trường, khu vực khác nhau của cùng một tôn giáo -
điều mà PGVN có nhưng đang thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ
thân hữu dễ dàng được thiết lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp thành
các thành phần khác nhau và sinh hoạt trong những môi trường, khu vực khác
nhau của cùng một tôn giáo - điều mà PGVN cũng đã từng có và không bao giờ
phải trở thành vấn đề. Mối liên hệ giữa GHPGVN và GHPGVN TN có nhiều yếu
tố phức tạp, tế nhị lại chịu sự tác động nặng nề của tâm cảm và hoàn cảnh
chính trị không mấy “xuôi chèo mát mái” của đất nước; và vì vậy mà trở
thành vấn đề. Một bộ phận lớn của GHPGVN là GHPGVNTN. Nhưng không vì vậy
mà ta có thể nói, đây là hai Giáo Hội anh em dù giữa hai Giáo hội có nhiều
thầy trò, anh em với nhau. Một Giáo Hội thì ép mình theo thời thế để duy
trì mối đạo; và vì vậy làm được nhiều việc nhưng cũng chịu nhiều nỗi đắng
cay. Một Giáo Hội thì không chịu ép mình theo thời thế để nói tiếng nói
cho những bất công, áp bức nên không làm được gì nhiều nhưng khẳng định
được tinh thần có tính cách truyền thống của người Phật tử Việt Nam. Hai
Giáo Hội biểu lộ hai thái độ phản ứng có tính cách nghịch hướng trước thời
thế; và cả hai thái độ đều có những lý do thích đáng của nó.
Việc
nhận ra những lý do thích đáng này để bao dung được nhau không phải
là điều khó, nếu ta vượt qua được những xúc cảm nhất thời và không để cho
những tác động tiêu cực ở bên ngoài chi phối để nhìn ra được Con Đường Lớn
của PGVN giữa những nghịch cảnh vốn đã rất đau long. Tiết thay, tác động
tiêu cực của các thế lực bên ngoài quá nặng, kích động các mối xúc cảm
nhất thời khiến cho việc nhìn nhận nhau, bao dung nhau thành khó. Càng khó
hơn khi có một số người - ở cả hai - đứng hẳn vào trong quỹ đạo của các
thế lực này để kết án lẫn nhau, tạo nên các màn “chỉ điểm, đấu tố”
nhau một cách kỳ cục, khó coi chưa từng có trong lịch sử Phật Giáo. Đó là
mối nguy thứ nhất đã được thấy của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.
Giáo Hội nào cũng có thầy. Thầy nào - bất kể
chánh hay tà, chân hay ngụy, đấu tố hay bị đấu tố - cũng có một số người
theo. Theo để học đạo. Đó là điều quá quý và không có gì để nói. Điều đáng
nói là, những người theo để lợi dụng hoặc bị lợi dụng hoặc theo vì cảm
tính hay vì chút liên hệ nào đó. Mối nguy nói đến trên đây sẽ không còn
giới hạn trong một vài cá nhân liên hệ mà đã và sẽ mở rộng ra trong quần
chúng đi theo này. Quần chúng lại là lớp người dễ bị kích động tâm lý -
nhất là lúc nào cũng có sẵn người làm công việc kích động này và ở trong
bầu khí đầy nghi kỵ, tranh chấp, thù nghịch bởi nhiều cảnh huống phân ly
hiện nay. Đến đây thì không chỉ là tình trạng ngăn cách, phân hóa, bất hợp
tác giữa các khuynh hướng Phật Giáo mà là sự xung khắc thù nghịch giữa các
khối lực quần chúng Phật Tử. Sẽ có nhiều lý lẽ để biện minh cho sự xung
khắc, thù nghịch này của mỗi bên - nhất là cái lý lẽ nhị nguyên phi Phật
Giáo “chánh-tà, chân-ngụy” đã được nói đến nhiều. Nhưng điều đó có ích gì
hay chỉ xé nát và chôn vùi Phật Giáo trong bầu khí hận thù ở khắp mọi nơi
và di lụy lâu dài cho các thế hệ Tăng ni và Phật tử mai sau. Đó là mối
nguy thứ hai mà hiện trạng song hành hai Giáo Hội đã và sẽ chỉ làm cho nó
ngày một thêm rộng, thêm sâu.
Ngay
đến đặt sự hiện diện hai Giáo Hội này vào một hoàn cảnh bình thường –
nghĩa là như tất cả mọi tổ chức trong xã hội, “đường ai nấy đi” để không
có nữa, các màn đấu tố và thái độ thù nghịch nhau – điều tốt đẹp nhất mà
có người đã nghĩ tới và mong muốn – thì vì những liên hệ phức tạp của
chúng, sự hiện diện song hành này cũng không thể trở thành bình thường.
Chỉ những mặc cảm, thành kiến sâu dày đã có không thôi mà lại ở vào tình
trạng “không thể không gặp nhau” trong đời sống và trên các mặt
hoạt động vì những liên hệ và tánh cách của nó, những va chạm thường xuyên
là điều không thể tránh. Cũng là hoạt động từ thiện xã hội cho cùng một
đối tượng nạn nhân đó mà gặp nhau không thể “tay bắt mặt mừng”như
với một tổ chức tôn giáo khác cũng đã là khó nói, cũng đủ tạo nên những dư
luận không mấy tốt đẹp và sự hoang mang dao động trong quần chúng huống gì
những va chạm khó tránh. Oán tằng hội khổ là vậy. Rồi với những cơ sở hiện
nay của Phật Giáo và những cơ sở mà bên này, bên kia đang đòi hỏi trả lại
cho Phật Giáo, việc xác định chủ quyền của nó thuộc Giáo Hội này, Giáo Hội
kia cũng không phải là điều giản dị; và ai đảm bảo, sẽ không có những
tranh chấp làm tổn thương cho Phật Giáo sau này? Đó là mối nguy “tốt nhất”
của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.
TRƯỚC
NGƯỠNG CỬA THẾ KỶ 21
Đất
nước Việt Nam đang thay đổi. PGVN cũng không thể ở mãi trong tình trạng
như hiện nay. Nhưng thay đổi như thế nào?
Phật
Giáo là một tôn giáo không có giáo điều nên là tôn giáo có khả năng thích
ứng nhất với mọi đổi thay của hoàn cảnh; lại là một tôn giáo, tự bản chất,
không trụ vào bất cứ pháp tướng nào. Ngay cả Pháp tướng Niết Bàn mà cũng
không thì huống gì các pháp tướng lịch sử và thời đại mà bản chất của nó
chỉ là vô thường, vô ngã, chỉ là không.
Trên
bình diện tuyệt đối, “Chánh pháp cũng phải xả hà huống là phi pháp”. Âm
vang của lời kinh đủ cho người có chí nguyện tu học và phụng sự Phật Pháp
bình thản đi giữa mọi cơ nguy và đau khổ mà sống trọn chí nguyện của mình.
Nhưng trên bình diện tục đế của đời sống nhân văn và xã hội và với tất cả
những liên hệ duyên khởi, người hoài tâm cho Đạo không thể không nhìn vào
những triển vọng và cơ nguy của Đạo trong khi thực hiện chí nguyện của
mình. Nhìn vào để thấy, để biết. Biết đường mà đi. Biết cửa mà vào. Biết
nguy cho Đạo để tránh. Biết an cho Đạo để làm. Biết tất cả đó là Pháp sinh
diệt vô thường để không vướng mắc, kẹt dính vào đâu. Lại biết tất cả đó
đều là nơi để thành tựu tất cả công hạnh tu tập để không hề chán nản, để
trải lòng, trải thân ra mà trọn nên chí nguyện cho Đạo, cho Đời. Đó là
những gì mà các bậc Thầy Tổ xưa đã từng nêu gương để mở ra Con Đường Lớn
của PGVN.
Con
Đường Lớn của PGVN là gì?
Đó là
con đường không trụ, không bám vào bất cứ cực đoan đối nghịch nào trong
mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi thời. Mạng sống của con người và của lịch sử
đã phải bị kềm hãm giữa hai bờ của những cực đoan đối nghịch ngay từ thưở
bắt đầu của nó; và vì thế, đã không một ngày nào trên mặt đất mà không có
chiến tranh, thù hận. Con đường của Phật Giáo là con đường giải thoát -
giải thoát con người khỏi mọi ngục tù của những thành kiến, tà kiến, thiên
kiến, biên kiến, ngục tù của những quan niệm, ý hệ cực đoan, những động
lực mù quáng đã gieo rắc chiến tranh, hận thù ở khắp nơi. Ý thức về tất cả
những tai họa đã có, đang có và sẽ có cho dân, cho nước, cho đạo, PGVN
không thể để mình bị kẹt dính vào đâu trong những cực đoan đối nghịch
mới có thể hiện thực được con đường giải thoát này.
Đó
là con đường không trụ, không bám vào bất cứ một pháp tướng lịch sử và
thời đại nào. Mọi pháp tướng đều là không tướng, đều là giả hợp, vô
thường, tạm bợ. Những pháp tướng lịch sử và thời đại của PGVN hiện nay đều
là những phương tiện để hành đạo, để thực hiện công hạnh độ sanh của người
con Phật Việt Nam chứ không thể và không nên là cửa ngỏ cho những lợi danh
có tính cách thế tục là đầu mối cho những tranh chấp, tạo thành các cơ
nguy cho Đạo. Mặc dù các pháp tướng đều cần thiết và có vai trò của nó –
và vì vậy, cần được quan tâm, giữ gìn, xây dựng sao cho phù hợp với tinh
thần Phật Giáo, với truyền thống và với nhu cầu của hoàn cảnh, thời đại –
nhưng điều thiết yếu không phải là ôm giữ những pháp tướng này mà làm gì,
làm thế nào để - bằng vào những pháp tướng đó - hiện thực được Đạo Phật
trong đời sống của con người và xã hội cho hôm nay và mai sau.
Đó
là con đường của sự sống - sự sống cụ thể của con người trong những
điều kiện tâm sinh lý và môi trường thiên nhiên xã hội, chính trị, văn
hóa, kinh tế… của nó. Một Đạo Phật thực sự, vì vậy, không thể không đối
diện với những vấn đề của con người - những vấn đề căn bản của hiện sinh
cũng như những vấn đề mà hoàn cảnh và thời đại đặt ra cho nó. Đối diện để
cung ứng những phương pháp trị liệu và chuyển hóa chứ không phải để tạo
thêm vấn đề cho con người. Chỉ với những phương pháp trị liệu và chuyển
hóa này mà sự có mặt của Đạo Phật mới thực sự có ý nghĩa.
Trong
hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, cái cần có để cho Phật Giáo là con đường
của sự sống là một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng để đối trị với những
mê tín đang còn đầy dẫy; là một nền giáo dục đặt căn bản ở sự tự giáo dục
và việc tái dựng những truyền thống tu tập để đối trị với tình trạng sa
đọa tâm linh của con người ngày nay – trong đó có cả giới Tu sĩ – đang bị
cuốn trôi vào khuynh hướng hưởng thụ và tìm kiếm hư danh; và để có được
cho đời, những bậc thầy có chí nguyện và hoài bão, có phẩm cách đạo đức và
khả năng làm công việc đối trị và chuyển hóa này. Sau nữa, một sự nghiệp
Trí Tuệ của PGVN cần được trân trọng xây dựng bên cạnh những xây dựng khác
để cho cuối cùng, PGVN không phải chỉ còn lại những đống tro tàn của một
thời ngổn ngang mà còn đó, một ngọn đuốc sáng cho dân tộc tìm lại được
Phẩm Giá và thấy được đường đi về sự Thanh Bình, An Lạc và Chân Lý sau khi
đã đánh đổi quá nhiều đau thương, mất mát.
Giữa
biển trần mờ mịt, đâu chánh, đâu tà, đâu chân, đâu ngụy? Nói bao nhiêu
cũng chỉ là nói mộng huống chi là những cãi cọ với ngôn từ. Kỳ cùng, có lẽ
chỉ có sự sống của con người với những đau khổ và hạnh phúc của nó mới cho
được câu trả lời đích thực.
Phật
Giáo Việt Nam trước ngưỡng cửa Thế Kỷ 21. Triển vọng và cơ nguy. Tất cả
đều đang có mặt và đang góp phần. Có Con Đường Lớn của PGVN dẫn con người
Việt Nam đến trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 hay là chỉ còn đó những trò chơi
vẽ vời cảnh thế gian của tâm thức mộng mị trước khi khép lại cánh cửa cửa
thế kỷ này? Kỳ cùng, cũng có lẽ, chỉ có người mang cái danh Phật Tử Việt
Nam, Tu sĩ hay không là Tu Sĩ, với cái tâm và cuộc sống hiện thể của nó,
mới quyết định được cho câu trả lời.
Đem
tấm lòng thành viết để hiến cúng Đức Phật và dâng đến những tâm hồn đã
từng khóc cười với Phật Giáo Việt Nam.
Lý Nguyên Quân
Những ngày cuối năm 1996.
PHẬT GIÁO: SINH LỘ CHO NHÂN LOẠI?
TINH TIẾN
Nhân
Loại? Lịch sử thành văn ghi lại nhiều chiến tranh hơn hòa bình, nhiều áp
bức hơn tự do, nhiều tranh chấp hơn đối thoại… Có thể nào khác được không
khi Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác Kiến là sáu thuộc tính bản chất nhất
của nhân thể, cũng có nghĩa là từ vô thỉ. Nhưng chỉ là vậy thôi sao, khi
nhân loại cũng là Phật tính, là Bồ Tát Hạnh, là các tâm sở Dục như khát
vọng tới lý tưởng, Thắng Giải như khả năng Chính Tri, Tinh Tiến như nỗ lực
tự vượt mình, Định Tuệ như giải pháp toàn năng… Tương quan của hai thiên
hướng nội tại này, hai lực đẩy câu sinh này trong thời đại hiện nay và
triển vọng trong thế kỷ 21 sẽ ra sao?
Hãy nhìn
thẳng, với mức độ Chân lượng tối đa, vào những gì đưa tới hiện trạng của
nền Văn Minh Nhân Loại trong những thập niên cuối này, vì thế có nhiều khả
năng và trên nhiều vị thế được kéo dài và khuếch đại cho những năm sau
2000. Muốn viện dẫn cái gì đi nữa, muốn huênh hoang kiểu nào đi nữa, dù
truyền thống văn hóa, dù giá trị Châu Á, dù minh triết Phương Đông,… thực
tế là toàn cầu đang sống dưới dấu ấn của nền Văn Minh Phương Tây hiện hình
trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa, … nghĩa là trên
các lĩnh vực chủ đạo của hiện thực nhân sinh.
Vậy thì
ta buộc phải bước nhanh trở xuôi từ…
Thời
Trung Cổ Châu Âu đặc trưng hóa bởi sự bỏ quên con người như một cứu cánh
cho các hoạt động của chính họ, sao nhãng con người như một homo sapiens
đối trước những thách thức của Tự Nhiên. Cái gì mâu thuẫn với Tự Nhiên,
cái ấy sớm muộn rồi ra cũng sẽ tiêu vong. Vậy mà Con Người, tạm nói Tham,
Nghi; tạm nói Sân, Ác Kiến; tạm nói Si, Mạn như những tiềm phục câu sinh
của Chủ Nghĩa Cá Nhân, của lối sống thực dụng, của bạo lực cách mạng. Cho
nên thời Phục Hưng, rồi thế kỷ Ánh Sáng, từng bước, qua đấu tranh bằng lý
luận và qua lý luận bằng đấu tranh, đã phục hồi và đăng quang cái tư cách
Cứu Cánh cái tính năng Lý Trí của Con Người. Trong giai đoạn vinh quang
của sự Tiến Hóa chói lọi này, Pascal, Berkeley đã dịch sao lại Lock,
Descartes được hỗ trợ cực kỳ hữu hiệu bởi Newton, Darwin. Vả chăng, trên
hiện thực lịch sử, đường hướng duy lý và thực dụng, tinh thần nhân bản và
duy vật, đã tự biện minh hùng hồn biết bao, qua biết bao những kỳ tích
tiến hóa huy hoàng từ trên 300 năm nay trên các lĩnh vực cá nhân và cộng
đồng, quốc gia và quốc tế. Làm sao khoa học tự nhiên có thể lớn mạnh đủ để
giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác cho Phúc Lợi của Con Người, hay
cũng vậy, cho Ngũ Dục: Sắc, Tài, Danh, Thực, Thụy? Làm sao khoa học nhân
văn lại có thể trưởng thành đủ để phát triển sâu rộng Dân Chủ, Tự Do, Bình
Đẳng trong nội bộ quốc gia như những giải pháp cho cuộc xung đột giữa các
tâm sở Phẫn, Hận, Não, Tật… và Giải Đãi, Phóng Dật, Thất Niệm, Bất Tín…
nếu Con Người như một thực thể hiện sinh lại bốc hơi trong tư thế bao trùm
của một Đấng Toàn Năng được đại diện bởi một thế lực xã hội có, ở đâu cũng
vậy, và thời nào cũng thế, có tính Phàm nhiều hơn tính Thánh; nếu Con
Người như một hữu thể nhận thức lại bị hóa giải trong ánh hào quang rực
sáng của một Đấng Toàn Tri phát biểu qua một thẩm quyền phán quyết bất khả
kháng?
Không
thể chối bỏ được rằng trong hơn 300 năm qua, trên bình diện hiện sinh,
nhân loại đã chế ngự được nhiều tai ương mà trước đó được xem là vô phương
khắc phục như đói rét, bệnh tật,…; trên bình diện nhận thức, đã vén mở
được bức màn che phủ các thế giới vi mô và siêu vĩ mô mà trước đó được xem
là nằm ngoài cảnh giới của sáu Liễu Biệt Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân,
Ý, tức là ngoài toàn bộ (?) khả năng tri giác và trí tuệ của Con Người.
Nhiên liệu vận hành các tiến bộ văn minh này được khai thác trong các kho
thiên hướng ngũ dục và lý trí hướng ngoại; và khai thác ngày càng triệt
để…
Trên
lý thuyết,
Ngũ Dục,
đó là phương diện tác dụng của cấu tạo nhân thể “ngô hữu thân” định hình
hóa trong khuôn đúc của Cộng Nghiệp và Biệt Nghiệp, hay nói một cách thô
thiển theo khoa học, của thể chế xã hội và ADN. Lý trí hướng ngoại, đó là
một phương thức phản xạ trí tuệ hay pháp chấp câu sinh và hậu đắc tạo dựng
bởi Ý Thức hay Thức Thứ Sáu thao tác trên thông tin, tư liệu của tiền ngũ
thức và dựa vào sự đạo diễn của Mạc-na (Manas) hay Thức Thứ Bảy. Ngũ Dục
không tự ấn định cho nó một ranh giới cuối cùng và con người hiện đại say
sưa buông thả vô hạn độ trong đại dương cực phân biệt của xã hội tiêu thụ.
Lý trí hướng ngoại ngày một Mạn và Kiêu trước những thành tích chói lọi
thu hoạch trên con đường Làm Chủ Tự Nhiên của nó, từ đó sự tương xung
tương khắc ngày càng ác liệt giữa Con Người và, hay cái tưởng đâu là Trí
Tuệ Nhân Loại và bên đối tác, Tự Nhiên khách quan.
Ngũ Dục
nơi mỗi cá nhân, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Nhân Quyền; Ngũ Dục
nơi mỗi cộng đồng, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Tự Quyết, không dễ
gì tìm ra cách thỏa mãn, ngoài con đường xung đột vũ trang và chưa vũ
trang, đừng nói vội sự thỏa mãn nọ tất yếu đẻ ra truy cầu kia, và cứ thế,
cứ thế cho đến một ngày “đẹp trời” Ngũ Dục của tất cả được hóa giải trong
chiếc “nấm” Ngũ Dục mà một nhóm điên khùng dựng lên dưới chiêu bài văn
minh, tôn giáo, chính nghĩa, chủ quyền… Ngũ Dục được vuốt ve, chiều chuộng
ngày một âu yếm hơn, mặc nhiên tự đồng nhất hoá với Văn Minh, dưới sức
nặng thuyết phục cực lớn đến nỗi dường như không còn cách nào cho phương
châm thiểu dục của Lão Tử, diệt dục của Đức Thích Ca có cơ may cất lên
được tiếng nói, dù chỉ thều thào.
Lý Trí
hướng ngoại, bên cạnh kỳ tích thượng tri thiên văn, hạ tri địa lý, trung
tri nhân sự, bằng những thành tựu ngoại thân hóa của nó, tức là những
computer trí tuệ, đang ngày càng được tôn vinh như một quyền năng không bị
hạn cục trong bất kỳ một khuôn viên nào từ sự truy tìm Chân Lý. Đồng thời,
mỉa mai thay, và cũng đáng đời thay, đang tự ngày càng xói mòn bản thân
nó: cần gì nữa sự rèn luyện trí năng một khi robot có thể làm thay và làm
tốt hơn.
Và
trên thực địa,
Các
thành viên của nhóm G7, mục tiêu lý tưởng cho phần còn lại của nhân loại,
không phải là thiên đường cho các chủ thể cấu thành: tội ác, bạo lực, ma
túy, Sida, gia đình phân rã, đức tin tiêu vong, đạo đức tàn lụi, lý tưởng
thiếu vắng… Kể gì đến phần còn lại, ở đây, nếu không muốn nói, còn tệ hơn.
Làm sao
khác được nếu Con Người chỉ chuyên chú vào Ngũ Dục như lý do tồn tại của
nó, các Ngũ Dục hoặc không được thỏa mãn và không bao giờ được thỏa mãn
đầy đủ, hoặc chính nó thị hiện qua các hiện tượng. Tội ác ư?
Đó là Tài; Sida ư? Đó là Sắc; Ma túy ư? Đó là Thụy; Bạo
lực ư? Đó là Danh; Trọng bệnh ư? Đó là Thực. Hoặc lẫn lộn, và lẫn lộn
trong gia đình, đức tin, đạo đức, lý tưởng.
Nói riêng Bạo Lực. Phải chăng bạo lực chỉ giới hạn trong
một chiếc ô tô đầy ắp chất nổ quy ước TNT đủ làm sập cả một cao ốc ở
Oklahoma City, Colombo… trong những tràng tiểu liên hoặc tiếng nổ của một
quả lựu đạn trên một đường phố ở Alger, Cairo,… hay vì nhân loại đang tiến
cực nhanh trên con đường công nghệ dân sự cung cấp trở lại cho công nghệ
quân sự, vật liệu làm bom nguyên tử cỡ nhỏ, như kết quả của xu hướng phi
hàng loạt hóa (demassification) sản xuất, có thể tìm mua ngay… ở đầu phố,
theo đúng thông báo của Builden, chuyên gia về vũ khí hạt nhân: “nếu không
phải trong đời tôi, thì có thể trong một tương lai gần, vũ khí hạt nhân sẽ
được phổ biến đến tận tay cá nhân, có thể các cá nhân sẽ chế tạo được vũ
khí hạt nhân bằng nguyên liệu đang lưu hành trên thị trường thương mại”,
và nhân loại văn minh đương đại thiếu gì Trọc Đầu, Báo Đen, Hổ Tamil…
Ngũ Dục, dưới tấm khăn phủ hữu phú loè loẹt màu chính
nghĩa là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, phú cường tổ quốc, thị
hiện trên đường hướng không ai dám phản bác để chuốc lấy danh vị phản bội,
ít nữa mất gốc, và từ đó, và đồng thời cùng với cái bóng của nó, sự hủy
diệt cân bằng sinh thái, sự ô nhiễm môi trường sống còn, sự phá vỡ thượng
tầng ozon, sự thù địch trong quan hệ xã hội, sự vị kỷ trong nếp nghĩ và
ứng xử… Con Người của Ngũ Dục, của xã hội tiêu thụ, của phát triển kinh
tế,… có thể nào hợp lý hóa Ý Thức của họ về những hiểm họa đang đè nặng
lên một Trái Đất đang lâm nguy và đang hẹp dần bằng những lời kêu gọi vu
vơ, hàm hồ, lỗi thời của Thanh Tâm, của Quả Dục, của Ngũ Giới, của Thập
Hạnh Balamật. Lý Trí… Hữu Phú sao được! Một khi nhờ tính năng này Con
Người vượt lên đứng đầu muôn loài và có tham vọng tranh ngôi bá chủ với
Thượng Đế.
Hãy tạm xét thành tích của Lý Trí hay Trí Tuệ Hướng Ngoại
trên ba bình diện:
-
Quốc Nội: bởi vì một trong hai thuộc tính của Lý Trí là truy cầu
cái Lợi, cái lợi cho bản thân, cho phe nhóm, cho giai cấp (nặng tính lý
thuyết), cho dân tộc (như một ngộ nhận). Cái lợi được thực hiện thường
xuyên và “hồn nhiên” qua “cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”,
chi tiết hóa trên xung đột giữa cá nhân, giữa phe nhóm, những giai cấp một
bên, trong khuôn viên của một cộng đồng, cực đoan dưới hình thức cách
mạng, nhiều lúc dưới là cờ “phải đạo” của một Nhà Nước tập quyền bá đạo
hay cực tri, một bên trên trường….
-
Quốc tế: qua xung đột quốc gia với quốc gia, liên minh tung với
liên minh hoành. Quan hệ giữa các quốc gia được tiêu chuẩn hóa trước hết
và trên hết trên tình trạng chiến tranh hay hòa bình. Mà chiến tranh thì
khỏi nói, phi lý và ngu xuẩn đã rành rành, chẳng thế mà cùng với Lý Trí
của toàn nhân loại văn minh, Lý trí của một H.G. Well, năm 1914 ngay trên
cửa ngỏ của Thế Chiến I: “Không có gì rõ ràng hơn đối với con người đầu
thế kỷ XX là việc chiến tranh sẽ nhanh chóng trở thành điều không thể có
được”; của một Henry Ford, năm 1928, gần đúng một giáp trước Thế Chiến II:
“Con Người đang trở nên quá thông minh nên không thể để xảy ra một cuộc
chiến tranh lớn khác nữa”. Và thảm hại hơn nữa, mới đây thôi, với sự hỗ
trợ của đủ loại computer toàn năng, sau khi “bức tường Berlin” sụp đổ và
chiến tranh lạnh giữa “Đế Quốc” và “Dân Chủ” tàn lụi, niềm hy vọng của lý
trí, của niềm tự hào của Con Người, đã nhanh chóng nhường chỗ cho một tình
thế rất bi quan của … của hiện thực; từ đó nỗi nuối tiếc một thời Nhị
Phân… dù sao xác xuất sống còn của nhân loại còn đủ lớn trong những bàn
tay của Lý Trí siêu cường. Nuối tiếc vô lý, vì sớm muộn gì, bất kỳ quốc
gia nào, ngay cả khi nó đang chết đói, vẫn có thể tống tiền, bắt chẹt phần
còn lại của thế giới bằng thói bần cùng liều thân của một Chí Phèo hạt
nhân hóa, dù là một thứ hạt nhân hóa hạng bét.
Tính chất Chính Trị của hai phần trên có tính ngàn đời,
nhưng ít nữa về lâu về dài, không thể có sắc thái biệt lập với cái sắc
thái nhân học đang chịu những biến động cực lớn có nguy cơ làm thay đổi cả
cấu trúc sinh hóa của nhân thể.
-
Đặc thù của Hiện Đại: Nếu Lý Trí Hướng Ngoại không loại trừ nhận
thức về mối liên hệ công sinh như một điều kiện căn bản cho tồn tại cá
nhân thì, trong hiện thực của những cộng đồng hiện đại đang ngày càng manh
múng về mặt cấu trúc như hậu quả của xu thế manh múng trên các lĩnh vực
sản xuất, thông tin, tín ngưỡng, văn hóa, giáo dục… nó khó tránh khỏi tác
động của một thúc đẩy tách rời nó ra khỏi mối liên hệ cộng sinh. Hiện
tượng này càng được tăng cường bởi tính phù du ngày càng rõ nét của mối
quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với đồ dùng và nơi cư
ngụ, bởi tính độc lập của con người đối với các cơ chế mà trước kia có ý
nghĩa sống còn. Cái liên hệ mật thiết nhất, liên hệ trong hôn nhân, đang
rã rời qua số liệu ly dị, qua các hình thức hôn nhân không đăng ký
(concubinage), hôn nhân theo hợp đồng, theo nhóm, cả giữa những người đồng
tính. Cái liên hệ thiêng liêng nhất, tưởng đâu là tự nhiên cũng bị phi tự
nhiên hóa là tình mẫu tử, đang bị pha loãng trong một nghề nghiệp mới,
nghề làm cha mẹ chuyên nghiệp, mà lý do phát sinh là nhằm giúp các bậc cha
mẹ sinh học có nhiều thời gian hơn cho… họ.
Tiến bộ khoa học, kỹ thuật đẩy nhanh tốc độ sản xuất và
nhịp độ đổi mới hàng tiêu dùng đến mức ngày nay hầu như bất cứ đồ vật
nào đặt vào tay người tiêu dùng chỉ để vứt vào sọt rác một thời gian ngắn
sau. Ý niệm sở hữu phai nhạt cùng với những tình cảm đối với nơi mà có cả
trăm lý do khiến người ta phải hay muốn rời bỏ sau một thời lượng cư trú
ít nhiều dài ngắn. Cũng chính nhờ tính năng, hiệu năng, của nền sản xuất
phi hàng loạt hóa, trực tiếp ảnh hưởng lên quyền hạn của các tổ chức của
giới chủ, của Nhà Nước quan liêu và mệnh lệnh, mà con người tìm được những
mảnh đất cho tự do ngày càng rộng thoáng hơn. Cái ý nghĩa quan trọng nhất
và khẩn cấp nhất, trong mọi ý nghĩa có thể tìm ra từ hiện thực trên, ấy
là…
Nếu sang thế kỷ 21 Nhân Loại có thể không phạm phải cái
ngu xuẩn lớn nhất là cuộc xung đột hạt nhân giữa các quốc gia - một điều
cho tới nay không mấy chắc chắn, vì trên đống gạch vữa của Bức Tường
Berlin, đã rất nhanh hiện rõ tham vọng bá quyền của… , chúng tôi rất tán
thưởng quan điểm của ẩn sĩ Hammoud về sự sổ lồng của các âm hồn tà giáo –
thì một hiểm họa mới, ngay bây giờ đây, đã thế chỗ rồi: nó còn trầm trọng
hơn cái mà Huntington đã giả định, sự đụng độ giữa các nền văn minh, nó…
chúng tôi muốn nói tới hiểm họa về một nhân loại vô chính phủ, về cái mà
Vivekananda đã gọi là thể hỗn hống (amalgame) và giờ đây trở thành cực bác
tạp, cực ô trọc hay PHÂN BIỆT. Tình hình là như vậy đó khi ta nghĩ đến các
nhóm sắc tộc Kurd, Tchéchène, Tamil, Serbe, Croate, Bosnia… kể cả những
hình thức mới trong những nước văn minh của Lữ Đoàn Đỏ Ý, “Con Đường Sáng”
Perou, khi ta nghĩ đến những tai họa khủng bố đã xảy ra rồi trên bầu trời,
dưới mặt biển và sẽ dứt khoát xảy ra cả trên siêu xa lộ thông tin mà dấu
hiệu báo trước là những đàn virus điện tử đang đe dọa nhiều cơ quan
Nhà Nước, tổ chức tư nhân; khi ta nghĩ đến những stress mà từ đó cuộc sống
vũ bão hiện đại sẽ làm nảy sinh những anh điên, chị khùng, có trong tay
không chỉ hơi độc sarin (theo Seaquist, chiến lược gia ở Bộ Quốc Phòng Mỹ:
“một xí nghiệp hóa dược cũng có khả năng chế tạo vũ khí sinh học”), và rồi
đây cả những trái mìn siêu nhỏ tự tái sinh và v.v…. Cho nên…, nhưng còn
quá hẹp hòi và lạc quan, Warren Christopher cảnh cáo: “Nếu chúng ta không
tìm ra được biện pháp nào đó để các nhóm sắc tộc khác nhau có thể chung
sống trong một đất nước… thì chúng ta sẽ có 5000 quốc gia, so với trên 100
như chúng ta hiện có”. Biện pháp nào? Hơn nữa rõ ràng Ngoại Trưởng Mỹ mới
chỉ xem xét mặt chính trị của vấn đề. Bao quát hơn, trong cuộc gặp mặt
giữa các cựu nguyên thủ quốc gia ở Colorado Springs, tháng 10-1995, cố
Tổng Thống Pháp F. Mitterand nhận định: “Điều tuyệt đối cần cấp là năm
2000 phải định ra được các quyền của những nhóm thiểu số… Nếu không chúng
ta sẽ chứng kiến sự tan rã và phân hủy rộng lớn, mà không ai còn đứng
ngoài được nữa”.
Và quan trọng hơn, cấp bách hơn và trực tiếp liên quan tới
cuộc hội thảo này, khi ta nghĩ đến những giáo phái Davidiens, Hamas, “Đền
Thờ Mặt Trời”, Aum Shinrikyo… đang mọc lên như nấm khắp mọi hang cùng ngõ
hẻm. Giáo phái… Tôn Giáo… Tại sao vậy và ý nghĩa gì?
Nói đến Tôn Giáo…, trước hết và một cách phổ biến, đó là
niềm tin vào sự hiện hữu của Đấng Thượng Đế được quan niệm qua hình tượng
và tính cách con người lý tưởng hóa cực điểm. Đấng Thượng Đế, với tư cách
ấy, “buộc” phải sáng tạo ra toàn bộ cái vũ trụ hiện thực này, và “buộc”
phải có quyền lực tuyệt đối lên bất kỳ cái gì nằm trong vũ trụ ấy. Đồng
thời, về sự hiện hữu của Linh Hồn như một sở thuộc của mỗi cá nhân, đặc
trưng hóa cá nhân ấy và tồn tại vĩnh hằng.
Niềm tin này được trình bày lại và chi tiết hóa cho các
mặt tâm linh và thế tục trong một hệ thống giáo điều nối tiếp nhau ít
nhiều logic, bởi những tổ chức xã hội, một số rất nhanh chóng trở thành
những thế lực xã hội hùng mạnh mà các tâm sở tham, mạn, sân, tật, san,
phẫn, biên kiến, kiến thủ… nổi trội hơn nhiều lần các tâm sở tàm, quý,
tinh tiến, vô tham, vô sân, bất hại, hành xả… mặc dù họ vẫn luôn luôn nhắc
nhở, đòi hỏi các tín đồ phải trì giới nghiêm khắc, mà giới thì ở tôn giáo
nào cũng vậy, đều ít nhiều đồng nghĩa với các tâm sở thiện, cũng là các
biện pháp phòng ngừa, khống chế Ngũ Dục.
Là đồng minh rất gần gũi, có thể gọi là nguồn dự trữ chiến
lược của tôn giáo, mặc dù vẫn thường xuyên bị tôn giáo chối bỏ, hất hủi
một cách hết sực khinh bỉ và Cực Kỳ Phi lý (!), mê tín dị đoan cũng tự
định nghĩa trên niềm tin và sự hiện hữu của các sức mạnh siêu tự nhiên,
những hữu thể siêu tự nhiên theo nghĩa không thể, về phía con người, tùy ý
tri giác trực tiếp bằng các giác quan hoặc những công cụ khuếch đại, nhưng
lại có thể gây nên những tác động vào sự sống còn của mỗi người thông qua
những thủ pháp mà trình tự nhân quả không nằm trong tri thức duy lý khoa
học. Niềm tin loại này rất phổ biến trong nhân loại tuy có nồng độ rất
khác nhau và không được “chủ thuyết hóa” bởi một lực xã hội nào và nhất là
thường không bày tỏ một quan điểm cụ thể về một Thượng Đế “có tên họ”,
hình như bởi vì đó là tàn dư của giai đoạn vật linh luận và phiếm thần
luận.
Sự đăng quang của Lý Trí Hướng Ngoại lên ngôi thống trị
Trí Tuệ đã thực hiện được trong 300 năm qua những kỳ tích chói lọi của
Khoa Học và Kỹ Thuật, đã xây dựng được những xã hội công dân dân chủ và tự
do, những phẩm chất xứng đáng nhất của con người với tư cách sinh vật xã
hội; cả hai tổng hợp vào nửa sau của thế kỷ 20, trong xã hội tiêu thụ, lúc
đầu như một thành công bất khả phản bác của những tư tưởng Ánh Sáng, rồi
rất nhanh như những hiểm họa tiềm phục mà chính những tư tưởng ấy phải trả
giá.
Và trước hết, tất cả đều có ý nghĩa, đều có tác dụng đẩy
lùi Thượng Đế, và cùng với Ngài, “đẩy lùi các tôn giáo vào bóng tối”. Tình
hình là như vậy, và không thể khác được; vài tiếng nói lẻ tẻ từ Pascal đến
Einstein, từ Schopenhauer đến Bergson, lại là tiếng nói của Thế Trí Biện
Thông (trừ Pascal) không thể vực tôn giáo khỏi sự tàn lụi của nó, bởi vì:
-
Trên mặt Lý: Tôn giáo phải có Thượng Đế,
Thượng Đế là Đấng Sáng Tạo, Sáng Tạo là sáng tạo trong thời gian, có nghĩa
là Thượng Đế tồn tại trong thời gian, và người ta tự hỏi, trước thời điểm
bắt đầu Sáng Tạo, Ngài làm gì? Thượng Đế có quyền lực tuyệt đối lên Vạn
Vật – lên vạn vật là lên vạn vật trong không gian, có nghĩa là Thượng Đế
tồn tại trong không gian và người ta tự hỏi, trước thời điểm Sáng Tạo,
Ngài ở đâu? Chưa kể quyền lực dựa trên phán xét, sự triền phược vào một
thể vô định hình là Thị Phi! là Thiện Ác!
-
Trên mặt Sự: Bằng những lập luận có đằng sau
nó cả loạt thực nghiệm chính xác và chặt chẽ, có đằng trước nó sức mạnh
của chính những lập luận ấy vật chất hóa, khoa học đã buộc tôn giáo phải
từ bỏ, chí ít phải hiệu chỉnh hết giáo điều này đến giáo điều khác mà ngày
xưa nó đã dại dột chi tiết hóa và khẳng quyết quá sớm. Đồng thời trước
những vấn nạn nóng bỏng của nhân loại, tư duy duy lý khoa học đã đẩy nhiều
tôn giáo vào thế lấn bấn, lúng túng, như hiện thân của sự bất lực và vô
năng, giữa giải pháp và giáo điều. Ngoài ra, vì Dân Chủ và Tự Do không hề
kiêng nể, dè mặt bất kỳ ai, dù Thánh hay Phàm, vậy mà tôn giáo nào cũng
đều muốn quảng bá đạo học của mình, mở rộng quần chúng tín đồ, do đó phải
được tổ chức chặt chẽ, khoa học (!) do đó phải có một hệ thống lãnh đạo
quan liêu, do đó… thôi thì… cho nên… Và trong cả trăm, cả ngàn những tệ
hại, tạm nói cái bé nhất mà Krisnamurti đã phát hiện từ lâu “Ngày nay may
ra Phật Giáo chỉ còn tồn tại ở những nơi không có bóng dáng Thượng Đế”.
Cho nên từ Friedrich Nietzsche (1844-1900) Thượng Đế đã
chết, và cách nay vài ba thập kỷ, người ta đã tính chuyện thành lập khoa
Thần Học về cái Chết của Thượng Đế. Dĩ nhiên cùng với Ngài, cả tôn giáo
vốn lấy Ngài làm lý do tồn tại. Và như vậy tất cả đều quá hợp lý! Có điều…
Lý Trí Khoa Học chưa hề bao giờ vét cạn được hiện thực nhân sinh và vũ
trụ. Cho nên… và Chứng cớ là…
Trong vài ba thập kỷ qua, nhân loại đã chứng kiến vụ bội
thu của hàng vạn, hàng chục vạn những giáo phái trong các nước đang dẫn
đầu nền văn minh hiện đại, tức là văn minh khoa học, duy lý và vật chất
chủ nghĩa. Có những giáo phái đã trở thành nguy hiểm cho an toàn và ổn
định của cả một quốc gia; có những giáo phái đã tiến lên chiếm vị trí
trọng yếu về mặt ảnh hưởng và quyền lực đối với xã hội. Aum Shinrikyo làm
nảy sinh vấn đề an ninh không chỉ trong phạm vi một đất nước; và Ikeda,
người cầm đầu giáo phái Soka Gakkai được đánh giá là nhân vật có thế lực
nhất ở Nhật: tổ chức Cứu Rỗi Toàn Thống đang thách thức sự sống còn của
Nhà Nước Algérie… Cạnh đó, cả một quốc gia, cả một khu vực nữa, Iran,
Iraq, Khối Hồi Giáo, Khối Nho Giáo,…. Đã 10 năm rồi, bản án tử hình vẫn
lủng lẳng trên đầu người công dân của nước Anh Salmon Rushdie như một cái
tát vào mặt nền Văn Minh Đương Đại, Duy Lý và Pháp Trị; và việc trục xuất
Talisman Nasrin ra khỏi tổ quốc của bà dù sao cũng phải được xem như dấu
hiệu của sự đồng thanh tương ứng. Và tuy phải đạo hơn và ôn hòa hơn, Lý
Quang Diệu hay Mohamed Matin có ý nghĩa gì nếu không phải cũng là những
manh nha… Cho nên ở nhiều nơi trong thế giới Văn Minh đương đại, người ta,
những nhà khoa học hay những người có tư duy khoa học, đang phải xem xét
rất nghiêm túc một vấn đề rất khẩn trương: “Sự Phục Thù của Chúa” đang thị
hiện vào những năm cuối của thế kỷ này và chắc chắn sẽ được thi hành ác
liệt và tàn bạo hơn nhiều.
Không phải là nhà khoa học, cũng không phải là người có tư
duy khoa học, chúng tôi cũng không thấy trong những hiện tượng trên, dấu
hiệu cho sự phục thù của Chúa; chỉ thấy ở đó dấu hiệu, dù đôi lúc và đôi
nơi, có nhuốm sắc màu ảm đạm, cho khuynh hướng đi về tâm linh của nhân
loại. Thực ra, đợi chi cho đến những năm này! Ngay từ đầu thế kỷ 20,
Charles Lancelin đã tiên đoán “Khoa Học Huyền Bí sẽ là khoa học của thế kỷ
20”. Và rồi trước khi “thế kỷ 21 là Thế Kỷ Tâm Linh”, George Velgel đã
thông báo: “Phi thế tục hóa thế giới là một trong những hiện tượng xã hội
nổi bật của thế kỷ 20”.
Chứng cớ, đó là sự kiện, và thế đã quá đủ. Tuy nhiên chúng
ta có thể “bàn chơi” về Tại Sao và Thế Nào vậy.
- Nếu Khoa Học một mặt cứ khư khư tinh thần quyết định
luận của Vật Lý Newton và tinh thần bài trung của logic Aristote mà, hoặc
chính vì thế vẫn, hoặc không vì thế không, tiếp tục tiến lên đánh đâu
thắng đó trên khắp các trận địa của hiện thực nhân sinh thì quả thực tôn
giáo còn phải ấp a, ấp úng, gãi đầu gãi tai tự bào chữa cho quyền sống của
nó trước tòa án của Trí Tuệ Nhân Loại như nó từng làm thế từ thời Phục
Hưng đến đầu thế kỷ 20. Song, từ thuyết Tương Đối trở lại nay, người ta
không còn tìm đâu ra được cái thái độ tự chủ đầy ngạo mạn của Laplace,
trái lại, dễ dàng nhận ra ở khắp nơi, hoặc một R. Feynman “Khoa học chẳng
cho ta biết cái gì hết…, chẳng chứng minh cái gì hết”, hoặc một D. Hilbert
“Trong Toán học, người ta không biết người ta đang nói cái gì và những
điều người ta nói có đúng không”, hoặc một A. Zadeh, hoặc một Heisenberg…
nhất là Heisenberg: Nguyên Lý Bất Định giáng một đòn chí tử vào quyền độc
tôn của Khoa Học với tư cách những phán quyết sắt thép và đơn trị. Nói
cách khác, chính khoa học thế kỷ 20 đã thu hẹp vương quốc của Tất Yếu bằng
sự thừa nhận đế quốc của Ngẫu Nhiên. Cũng là tự thu hẹp quyền lực và oai
phong của chính nó và mặc nhiên cho phép mọi khả năng cơ hội hiện thực. Từ
đó cái Vô Lý của Tôn Giáo không còn là một luận cứ đủ để phản bát quyền
tồn tại của Tôn Giáo.
Lại càng như vậy, cái Vô Lý của Thượng Đế. Ngược lại là
đằng khác. Chính Khoa Học đôi lúc không khỏi… “Ôi! Thời oanh liệt.. ôi
Feuerbach, ôi Karl Marx…”. Chẳng hạn, gần đây nhất, góp phần vào một bản
hợp tấu bắt đầu cũng đã lâu rồi, nhà bác học nổi tiếng thế giới Trịnh Xuân
Thuận rất tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế chỉ bởi vì, dựa vào tính toán
của ông và các đồng nghiệp, vũ trụ này đã được tạo dựng theo một chương
trình được thi công chính xác đến từng một phần tỷ tỷ giây. Để đảm bảo
được sự chính xác kinh khủng này – kinh khủng đối với ai? một giây mà đã
là ngắn à? “Một satna bao gồm toàn bộ thời gian từ vô thỉ đến vô chung” -
phải có một Đấng Thượng Đế đứng ra chủ trì chứ không thể mặc nhiên giao
phó cho Ngẫu Nhiên được. Thì ra nhà bác học rất tài năng và đạo đức ấy,
vốn sợ Ngẫu Nhiên như nước sợ Chân Không, tin rằng Thượng Đế có thực vì
Ngài rất giỏi, giỏi bằng Con Người: chẳng phải cái gọi là chính xác đến
một phần tỷ tỷ tỷ ấy chính là sản phẩm của Con Người, thậm chí của một số
người nào đó hay sao? Mà những người này thì quá thật đến nỗi câu hỏi “Tôi
là Ai?” trở thành quá lố đối với họ! Thêm nữa chẳng phải chính Trịnh Xuân
Thuận đã khẳng định ngay trên bìa cuốn sách: Và Con Người đã tạo ra Vũ
Trụ! - Thế kỷ 20 là thế kỷ của thông tin, của giao lưu và kỹ thuật trắc
nghiệm. Chính trong tình hình này mà nhiều hiện tượng mới gần gần đây thôi
còn bị Khoa Học, và những người theo đuôi nó, đáng chú ý nhất là Tôn Giáo,
ném thẳng tay vào sọt rác của mê tín dị đoan mà không cần xem xét thật giả
gì hết, giờ đây lại được lôi ra, rồi kiểm tra, rồi đo đạc, rồi thí nghiệm,
và cuối cùng trong nhiều trường hợp người ta buộc phải rụt rè công nhận
“khoa học chưa giải thích được” thay vì nói thẳng ra và ít ngu xuẩn hơn
“nằm ngoài logic khoa học.”
Từ đó, người bạn đồng minh trung thành, tuy thường bị rẻ
rúng, của tôn giáo, dần dần ngẩng cao đầu, nói năng đàng hoàng với thiên
hạ, tuy nhiều lúc, do tự ti lâu năm lại thêm ít học, cứ tự làm mình lố
bịch bằng cách vay mượn dăm ba chiếc lá nho khoa học rất rẻ tiền. Cũng có
nghĩa là Tôn Giáo giờ đây đã hiểu ra hoặc phải hiểu ra rằng nó không cần
quá rụt rè, khúm núm trước Khoa Học nữa mà cần hiên ngang hơn, tự tin hơn,
đứng vững hai chân trên mảnh đất của nó.
-
Thế kỷ 20, trong toàn bộ nền văn minh nhân
loại đến lúc đó, là đỉnh cao nhất của những thành tích kỳ vĩ mà Khoa Học
và Kỹ Thuật đã thực hiện trên hiện thực cũng đủ làm các tôn giáo phải kính
nể, đồng thời cũng là đỉnh cao của biết bao nhiêu cái… chúng tôi đã sơ sơ
nói qua một vài chi tiết. Và thế kỷ ấy, kiêu mạn là thế, lại đang sắp kết
thức trong hồi chuông róng rả báo tin Chúa đang trở lại, Chúa tái sinh, và
kinh khủng hơn hết, Chúa… phục thù!
Chúng ta vừa bàn chơi ba động lực của khuynh hướng về tâm
linh nhưng có một sự kiện không phải là nói chơi, đó là Tôn Giáo, bất kỳ
tôn giáo nào, không hề tham gia tí nào vào sự hình thành bất kỳ một động
lực nào trong ba động lực trên, bất kỳ… kể cả Phật Giáo. Mặc dù cả ba động
lực ấy đều tìm được đáp án, vượt quá cả nội dung mà con người hiện đại đặt
ra cho chúng trong kinh luận của Nhà Phật.
Trong tất cả các tôn giáo, các hệ tư tưởng duy tâm, duy
nhất chỉ có Đạo Phật đã làm được điều cực kỳ vĩ đại, đủ vô hiệu hóa mọi
thách thức của Trí Tuệ Con Người trong mọi thời đại, trước mắt trong thế
kỷ 21, ngay cả với mọi giả định về sự phát triển không thể hình dung được
của Khoa Học và Kỹ Thuật, ấy là Đạo Phật đã phủ định: Thượng Đế như
nguyên nhân đầu tiên của Tồn Tại
Và Linh Hồn như sở thuộc cá nhân, như lý do cho tín
ngưỡng và tu tập.
Mỗi nền Văn Minh đều hình dung Thượng Đế trong một mô hình
riêng, có tính đặc thù về các mặt truyền thống, dân tộc, địa lý, lịch sử,
… Thượng Đế Brahma hay Ishvara của người Ấn Độ, Đức Thích Ca tuy có thừa
nhận chức năng coi sóc vũ trụ của Ngài, cái vũ trụ trong tri kiến của
chúng sinh trong cõi Ta Bà, nhưng Đức Phật không đánh giá Ngài cao lắm,
vẫn xếp Ngài vào giỏ Lục Đạo liên tục rỉ chảy vào vòng Luân Hồi; chính bản
thân Thượng Đế này cũng tự phản tỉnh tính hạn chế của mình nên Ngài vẫn
thường xuyên đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Vậy ai đóng vai Thượng Đế Toàn
Năng Toàn Tri bây giờ?
Mặc dù Đức Thích Ca đã nói trắng ra, không úp mở, vòng vo,
bóng gió: “Thiên thượng, thiên hạ duy Ngã độc tôn” mặc dù cái tài tính
toán chính xác và sắp xếp chi li trong vòng 10-43 giây sau bức
tường Planck chẳng ăn nhằm gì so với “Như Lai… cho đến giọt nước ở
ngoài hằng sa thế giới, cũng biết số mục, không rời nơi đạo trường mà hiện
khắp cả Mười Phương Thế Giới”,
“Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận ;
Trên đầu một mảnh lông hiện ra các cõi nước, ngồi trong
một hạt bụi mà chuyển Đại Pháp Luân”
nhưng Đức Phật lại không tự cho mình cái tư cách sáng thế,
không phải vì Người, thái Tử Sidartha, dòng họ Gautama, con của Quốc Vương
Suddhodana, mới sinh ra vào năm… nào có ăn nhằm gì với tuổi của vũ trụ ít
nhất là 15 tỷ năm; đơn giản chỉ bởi vì…
Đối trước cái vũ trụ quan sát được này (l’univers
observable) – mà theo một giả thuyết thiên văn hiện đại về vũ trụ muôn thể
(univers multiples) chỉ là một thứ bọt bèo (bulle) mất tăm trong một cái
siêu vũ bọt bèo (bulle méta-univers), cái này đến lượt nó lại mất tăm
trong… và cứ thế vô tận - Đức Phật có cái tư cách bình đẳng với bất kỳ một
chúng sinh nào; nghĩa là một bộ phận? một thành phần? một mô hình thu nhỏ
của Vũ Trụ. Không, toàn những câu chuyện trẻ con vì nó vẫn không giải
quyết được vấn đề nguyên nhân, vần đề phát sinh. Ấy vậy mà và trái lại,
Đức Phật, và cùng với Ngài mỗi người chúng ta, đều có cái Tư Cách SÁNG
THẾ: “Núi sông, thế giới, và hư không đều là vật trong CHÂN TÂM hiện
ra… Các ông thấy có núi, có sông, có thế giới, có chúng sinh vì các ông
đều Mang Bệnh Nhặm Mắt (tức là Vô Minh ) từ vô thỉ… Toàn thể các chúng
sinh trong Mười Phương Thế Giới đều do Vô Minh Vọng Động từ vô thỉ
nên cùng Vọng Tưởng có thế giới như thế, có chúng sinh như thế hiện ra”.
Hãy tạm tưởng tượng con mắt của chúng ta có thể xuyên sâu
vào cấu trúc nguyên tử của vạn pháp thì ta dễ hình dung, dễ tiếp cận tính
chân lý tuyệt vời của khẳng định cực kỳ phi lý trên (!). Nhưng Đức Phật
đâu thèm dừng lại ở mức nguyên tử, hay hạt quarks, hay gì gì đi nữa:
“Cái giới hạn về sắc tướng đến Hạt Lân Hư là cùng tột. Nếu có thể làm phân
rã hạt lân hư này một lần nữa thì sẽ có Hư Không”. Rõ ràng: “Tính
của SẮC là CHÂN KHÔNG”.
Cái Chân Không xuất hiện thay thế cho sự tiêu vong của Lân
Hư như lượng tử của vật chất, và ta không khỏi liên tưởng đến thí nghiệm
bắn phá hạt cơ bản mới đây nhất làm mất tiêu vật chất trong Trường Chân
Không Vật Lý. Mà Vật Chất chính là Không Gian, vì ngày nay Không Gian
không còn được quan niệm như cái Chứa trống rỗng mà như tính cách của vật
chất: Vật Chất tạo ra Không Gian chứ không phải Không Gian chứa vật chất.
Thế còn
Thời Gian thì sao? Cái thành phần cấu tạo thứ hai của Vũ Trụ? Chẳng phải
Đức Phật vẫn nói đến Luân Hồi, đến Nhân Duyên, đến Quả Báo… và tất cả đều
tất yếu diễn ra trong thời gian chứ còn trong cái gì khác nữa: “Ta nói
thuyết nhân duyên là đúng về phần sự tướng chỉ các pháp trong thế gian mà
nói, chứ không phải chỉ do Lý Tính Tuyệt Đối vậy”.
Giống
như chúng ta đang sống nhởn nhơ trên Trái Đất này với giờ, với phút, với
giây, có cái chính xác của vàng ròng, nhưng nếu ta rời khỏi Trái Đất với
tốc độ gần bằng tốc độ tuyệt đối, hoặc lọt vào hố đen, hoặc vọt ra hố
trắng… Đại khái các pháp trong thế gian và Lý Tính Tuyệt Đối khác nhau như
vậy. Nhưng còn Tam Thế Chư Phật? Ông Duy Ma Cật đã đỡ lời Đức Thích Ca:
“Do văn tự thế tục ghi chép nên nói có ba đời chứ chẳng phải Bồ Đề (tức
là Trí Tuệ Tối Thượng) có Đời Đã Qua, Đời Sẽ Tới và Đời Hiện Nay”.
Tóm lại,
qua ống kính Võ Phân Biệt của Trí Viên Thành Thực trên Vương Quốc của Chân
Đế: “Cả cái Tự Nhiên ấy, cả cái Nhân Duyên ấy đều do CHÂN TÂM vọng động
ra cả” Mà Chân Tâm thì ai chẳng có, ai chẳng là chính Nó: “Cái CHÂN
TÂM CỦA ÔNG, sao ông không tự nhận lấy, lại cần ta chỉ CHÂN TÂM cho nữa?”
Nó có
dáng dấp của Linh Hồn mà thoát khỏi cái Vô Lý cực lớn là tính Cá Ngã vĩnh
hằng. Còn Vọng Động? Đã là chuyện ảo, chuyện huyễn, như một giấc mơ, sao
còn phải quá bận tâm đến Tại Sao hay Thế Nào, như ông Phú Lâu Na: “Chân
Tâm bản nhiên thanh tịnh, vân hà hốt nhiên sinh sơn hà, đại địa?”.
Vậy là?
bởi vì khoa học lý thuyết đang ngày càng, và không thể làm khác được, dấn
bước trên con đường hóa giải hai thành tố cơ bản và duy nhất của Tồn Tại
là Không Gian và Thời Gian, cho nên, không phải chỉ riêng cho thế kỷ 21 mà
cho muôn đời sau này, Đạo Phật đã đem lại câu trả lời không bao giờ có thể
vượt quá cho những câu hỏi về bản thể, về vũ trụ. Nhưng Con Người, nhưng
chính chúng ta đang sống đây, có những nhu cầu trực tiếp, với những vấn đề
cấp bách, trước những hiểm nguy gần kề mà phần trên chúng tôi đã điểm sơ
sơ, tất cả còn khẩn thiết hơn, hiện thực hơn nhiều lần những vấn đề vũ trụ
luận hay bản thể luận. Đạo Phật tuyệt vời thật, nhưng là tuyệt vời trong
thế giới siêu việt cái cõi đời tầm thường mà quá thật này. Vậy nó có ích
gì cho con người tầm thường và quá thực là chúng ta đây không?
Cái Vĩ
Đại thứ hai của Đạo Phật là những đối sách rất thực dụng của nó cho con
nguời trên Tục Đế, dựa trên mặt thứ hai, mặt Vọng của CHÂN TÂM: “Tính
của KHÔNG là CHÂN SẮC”.
Nếu
chúng ta chưa vượt được trường hấp dẫn của những chủng tử hữu lậu đã huấn
tập mà còn bị câu thúc bởi cấu tạo sinh lý, bởi phân tử ADN, bởi tri thức
đã học hỏi, bởi cảnh quan văn hóa, lịch sử… nghĩa là bởi Kiếp Trược, Kiến
Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sinh Trược…Nếu chúng ta vẫn tin rằng ta là
cái Có Thật trước nhất, đối trước cái Có Thật khác là Thế Giới và Chúng
Sinh thù địch nhiều hơn thân thiện, thì Đạo Phật còn chỉ ra một cái Có
Thật không kém, đó là luận Nhân Quả, luật Luân Hồi. Đây là một răn đe,
hoặc một động viên cho con người đang hướng thân, khẩu, ý của mình vào con
đường Thập Ác hay Thập Thiện. Thiên Đường và Địa Ngục đều có thật hết, với
những ai tin rằng có thật cái Ngũ Dục mà họ gắn bó và hành động và suy
nghĩ dưới sức đẩy của sáu Căn Bản Phiền Não hay 21 Thiện Tâm Sở.
Tất
nhiên Tôn Giáo nào cũng đều khuyên người ta làm ta làm điều thiện, tránh
điều ác với một phần thưởng Thiên Đường hay một trừng phạt Địa Ngục mà chỉ
Thượng Đế mới quyết định, và quyết định một lần là xong hẳn cho mỗi người.
Đạo Phật cũng chỉ rõ những gì đang chờ đợi con người thiện và ác, những gì
ấy không do sự áp đặt hay ban phát của ai hết mà chỉ đến với họ từ chính
bản thân họ, và đến trên rất nhiều quốc độ - tam thiên Đại thiên thế giới
– và đến dưới mười dạng sinh tồn: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, Atula,
Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, trong một vòng tròn bất
tuyệt cho sáu loại đầu. Như vậy, lời dạy của Đức Phật, rất phù hợp với
phương hướng suy nghĩ của nhân loại văn minh vừa thừa nhận tính tất yếu,
vừa thừa nhận tính tự do: con người không phải chỉ là một con rối trong
tay của một cái Nghiệp như một tiền định mà còn là quyền tự do lựa chọn
hoặc dừng Nghiệp hoặc chuyển Nghiệp.
Nhưng
những hiện tượng này có thật không? Con người hiện đại có nhiều biện pháp
trắc nghiệm, và Đức Phật đã chỉ ra một phương thức ngày càng chinh phục
được Trí Tuệ Nhân Loại, đó là Tọa Thiền.
Chúng
tôi không đề cập ở đây những lợi ích của Tọa Thiền cho đời sống hiện sinh
mà ai cũng đã biết cả, cũng không đề cập tới hiệu lực của Tọa Thiền đối
với sự thủ đắc các quyền năng siêu việt quy luật vật lý học mà ta dễ phải
công nhận; chúng tôi chỉ muốn lướt nhanh cái tính năng giác ngộ từng phần
mà Tọa Thiền đem lại cho hành giả về vấn đề cốt tử của con người, tức là
vấn đề “Tôi là Ai”, từ đó Thế Giới này là gì, từ đó, sao lại khác được,
chí ít một cuộc sống hòa bình, thăng tiến tâm linh trên Trái Đất này, bởi
vì chúng tôi tin tưởng sắt đá rằng qua Tọa Thiền chúng ta sẽ từng bước thể
nghiệm được, sinh nghiệm được nhận định bất hủ của ngài Milarepa: “Hai
ngụy thuyết căn bản của tư tưởng con người: Tin vào thực tại của những gì
chỉ thuộc về Hiện Tượng và tin vào sự hiện hữu của Bản Ngã”.
Chúng
tôi nghĩ rằng sự tiến hóa thế tục của Nhân Loại sẽ được đo và chỉ được đo
bằng một loại thước, cái thước của Dân Chủ và Tự Do. Những phẩm chất ấy
vốn dĩ lại nằm trong Đạo Phật nhiều hơn bất kỳ một hệ tư tưởng nào mà con
người đã và sẽ nghĩ ra. Đức Phật, mặc dù tất cả những vinh danh Thế Tôn,
Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng, Chính Biến Giác Tri, … vẫn
khẳng định: “Ta là một vị Phật đã thành, các người là những vị Phật sẽ
thành”,thành ở
đâu? “Ta thành Phật trong Tâm Chúng Sinh”.
Khi Ngài
còn tại thế và đi truyền pháp, Ngài thường dùng “phương tiện” để giáo độ,
từ đó ngay cả những lời dạy của Ngài cũng không được Ngài gán cho cái ý
nghĩa của giáo huấn tuyệt đối: “Pháp của ta như bè để qua sông. Khi đã
qua được sông rồi còn dùng bè làm gì nữa”. Như vậy Pháp của Phật chỉ
có tác dụng của một gợi ý: “Các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi, mồi
lửa vào Chính Pháp của ta”.
Tinh
thần Dân Chủ và Tự Do của Đạo Phật thực là vô địch, cho nên một người vốn
chưa có danh vị Bồ Tát hay A La Hán, hay Thanh Văn, Duyên Giác, thậm chí
cũng chẳng có địa vị trong giáo đoàn tăng lữ như các ông A Nan, Ca Diếp,
Ưu Ba Ly,… mà vẫn có cái tư cách thuyết pháp cho tứ chúng, cho cả Bồ Tát,
cả A La Hán, ngang bằng với Đức Phật, đó là Ngài cư sĩ áo trắng Duy Ma
Cật. Mà Ngài lại toàn thuyết những pháp trái ngược với những lời dạy
có tính kinh điển của Đức Thế Tôn, tỷ như: “Nếu Bồ Tát thi hành những
việc trái đạo, đó là Bồ Tát thông đạt Đạo Phật”. Thông đạt đến mức:
“Chẳng lìa dâm, nô,…; chẳng cắt si, ái…; chẳng thấy Phật, chẳng nghe Pháp;
sáu sư ngoại đạo là thầy, kết bạn với chúng ma; chê Phật, khinh Pháp,
chẳng nhập chúng Tăng”.
Chúng
tôi không bàn đến ở đây tinh thần tương đối luận của Ngài Duy Ma Cật, chỉ
lưu ý rằng trong Tục Đế vốn có tính tương đối, mặc dù vậy Đạo Phật không
hề là vương quốc của tùy tiện, hay chủ nghĩa hư vô: “Tuy hành lẽ Không,
nhưng trồng các cội lành, tuy hành lẽ Vô Tướng nhưng độ các chúng sinh,
tuy hành lẽ Vô Tác nhưng thị hiện thụ lấy thân sống, tuy hành lẽ Vô Khởi
nhưng khởi tất cả các nết lành”.
Với loại
sơ cơ, lưỡi gươm luân hồi nhân quả lúc nào cũng lủng lẳng trên đầu họ như
một răn đe; với loại lợi căn, Tọa Thiền có tác dụng của ánh sáng soi rọi
phương tiện thiện xảo. Có lẽ vì chưa thấy rõ hiệu năng tuyệt đối của Tọa
Thiền như phương pháp tu luyện cơ sở trên nguyên lý bao quát “Tam Giới Duy
Tâm, Vạn Pháp Duy Thức” và phương pháp truyền đạo theo tinh thần “phương
tiện” cho từng đối tượng và trình độ, cho nên một con người (hết sức đáng
kính) như Giáo Hoàng John Paul II vẫn tự cho phép mình phát biểu một nhận
định rất đáng tiếc về đạo Phật.
Không ai
cứu được con người, kể cả Đức Phật, ngoại trừ chính bản thân họ. Tương lai
của Nhân Loại trong thế kỷ 21 sẽ ra sao? Đạo Phật chỉ là một gợi ý, dù có
tính tối ưu vì phù hợp sát nhất với đường hướng tiến hóa của Trí Tuệ Nhân
Loại, nhưng nó vẫn chẳng phải là một đảm bảo tuyết đối. Lại càng như vậy
khi…
Thực sự,
trên những tiêu chí “khoa học”, chúng tôi không đủ tư cách và hiểu biết để
bàn về Đạo Phật trong hiện trạng và phương hướng triển vọng trong tương
lai trên phạm vi thế giới. Ngay cả trên phạm vị quốc gia! Nhưng với tư
cách một kẻ thất phu thành thực có đôi chút ý thức về “vũ trụ giai phận
sự” và đã thấy, đã nghe, đã sống, chúng tôi vẫn mạnh dạn trình bày đôi
điều suy nghĩ nông cạn và nhận xét phiến diện về tình hình Phật Giáo Việt
Nam.
Trong
vài thập kỷ qua, đất nước này đã trải qua nhiều biến động, cuốn hút một
tôn giáo đứng ngoài tục giới như Phật Giáo vào dòng thác cuồng nộ của nó
và do đó gây nên những phân biệt không đáng có trong nội bộ Phật Giáo vốn,
trong cứu cánh, chỉ quan tâm đến cái khổ làm người theo nghĩa luân hồi và
nhìn nhận vũ trụ này chỉ như một trò huyễn hóa “Bồ Tát quán chúng sinh như
một vị ảo sư nhìn thấy người ảo hóa của mình”.
Căn cứ
trên thực tiễn hành xử của giới tăng ni, chúng tôi được gặp không nhiều
lắm các vị tu hành thấm nhuần cái yếu nghĩa đó của Đạo Phật, đủ không để
mình sa đà vào những hoạt động thế tục và phù hoa không liên quan gì đến
mục đích cứu độ của Phật Giáo. Từ đó, một hậu quả trực tiếp, gần như tất
yếu, là hiện tượng trì giới thiếu nghiêm khắc khá phổ biến trong hàng ngũ
Tăng Già. Mặc dù, trên mặt đời, trì giới là tư cách, là danh dự, là “quyền
hành nghề” của người tu hành, cũng là của toàn thể Giáo Hội; trên mặt đạo,
trì giới là yêu cầu số một, có tính bản thể cho Định, Tuệ hiện thực hóa,
đặng tiến tới Cứu Cánh của Đạo. Vì vậy việc đầu tiên phải làm cho mọi Giáo
Hội Phật Giáo hay Hội Phật giáo, danh xưng là gì đi nữa, là phải thanh lọc
triệt để hàng ngũ tăng ni trên tiêu chuẩn trì giới, thay vì nói quá nhiều
đến những vấn đề chung cục chỉ có tác dụng tha hóa người tu hành trên cả
hai lĩnh vực Lý và Sự.
Ngay cả
những vấn đề nội bộ, tức là liên quan đến Tiểu Thừa và Đại Thừa. Chúng tôi
nghĩ rằng nếu như bằng cỗ xe nhỏ mỗi cá nhân nhà tu hành có khả năng hiện
thực để đi đến những cấp bậc nào đó chỉ của thế giới hiện tượng thôi, chưa
dám nói đến Niết Bán, Tịnh Thổ chi cả, trên những nẻo đường của Thiền
Định, là điều có thể quan niệm được, hình dung được trên cơ sở thực
nghiệm, thì chúng tôi lại thấy yêu cầu và bản nguyện chở thật nhiều người
trên cỗ xe thật lớn đế cùng đến Niết Bàn thật vui là một tham vọng thật
cao mà thật tế chưa có một Hội Phật Giáo nào đã làm được, dù cho trên
những tiêu chí thật đơn giản, thật sơ lược của lý thuyết. Cho nên, thay vì
quá lắm lời tự đề cao cái tư cách Đại Thừa, và dựa vào một số lời lẽ trong
trong Kinh Luận mà miệt thị đạo hữu Tiểu Thừa của mình, các Hội Phật Giáo
nên dành thì giờ và sức lực vào cố gắng làm giảm nhẹ những đau khổ tầm
thường của con người thế tục bằng cách thường xuyên thực thi hạnh Bố Thí
trong cả ba nội dung Tài, Pháp và Vô Úy, bắt đầu bằng sự phản tỉnh của bản
thân trên các “thuộc tính nhân thể” là Tham, Giải Đãi và Úy của chính
mình. Chính ở đây sẽ được đánh giá bởi Nhân Loại thế tục, mà Hội Phật Giáo
nào cũng cần đến, vai trò và vị trí của Phật Giáo trong những bước t