Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo và Thời Đại


......... .

 

PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ MỚI

PHẬT LỊCH 2540 – GIAO ĐIỂM

 

Tuyển tập 1

 

Nhiều tác giả

---o0o---

PHẦN MỘT

TỔNG QUAN 

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG CỬA THẾ KỶ 21 

LÝ NGUYÊN QUÂN 

 

MỘT THÁI ĐỘ CẦN THIẾT

Như một con bệnh không thể chữa lành khi người ta chỉ tìm cách che đậy, trốn tránh hay loanh quanh với những lý luận mơ hồ, không ăn nhập gì với hiện trạng. Cũng không thể chữa lành khi bệnh thì nằm ở gan ruột mà lại đi lo chữa chạy ở ngoài da. Phật Giáo Việt Nam (PGVN) ngày nay, ngoài những thành tựu của quá khứ dễ khiến người Phật tử tự hào, ngoài các sức mạnh quần chúng còn lại sau nhiều lần bị phung phí; và bên cạnh những yếu tố tích cực có thể đóng góp cho một viễn ảnh tốt đẹp hơn, thì vẫn còn đó, những yếu tố tiêu cực ngay ở tự thân của nó - những yếu tố đã từng làm cho PGVN bị nghiêng ngửa, rã rời, tan nát và ngày càng tỏ ra như một căn bệnh trầm kha, không ai chữa trị và cũng không ai muốn chữa trị. Ngay cả việc nói đến nó không thôi, người ta cũng phải e sợ đủ thứ chuyện thì nói gì đến việc chữa trị. Khoan nói đến lý do của trạng huống tâm lý này. Chỉ cần ghi nhận, trạng huống tâm lý này phản ảnh một thái độ tiêu cực mà hậu quả là chính Phật Giáo bị thiệt thòi chứ không ai khác. Làm thế nào mà PGVN có thể vươn mình trỗi dậy làm ngọn đuốc soi sáng cho đời khi mà các trạng huống tâm lý này cứ mãi đè nặng nơi một đa số thầm lặng - những người từng hoài bão nhiều cho Phật Giáo? Làm sao mà PGVN có thể mở rộng được cánh cửa tương lai để đi tới khi mà nó cứ phải trói buộc mình vào cái tâm cảnh của một nỗi e sợ kỳ cục như thế này?

Hẳn nhiên là PGVN sẽ vẫn còn đó. Còn đó trong tâm hồn của con người Việt Nam dẫu cho người ta vô tình hoặc cố ý không biết đến sự có mặt của nó chăng nữa vì nó đã như nước thấm sâu vào lòng đất. Còn đó trong đời sống trí tuệ của con người Việt nam vì nó vốn không phải là một tôn giáo sống bằng những hình thức tín ngưỡng dị đoan; lại càng không phải sống bằng những hứa hẹn và đe dọa hão huyền mà vì nó vốn là tôn giáo của Trí Tuệ, là con đường chân thực đưa tới Sự Thực. Dẫu cho thế gian này có bị thiêu hủy hay chìm trong tăm tối vì sự tham tàn và ngu muội của con người chăng nữa thì Sự Thực vẫn là Sự Thực và con đường chân thực đưa tới Sự Thực vẫn là con đường chân thực đưa tới Sự Thực. Nhưng còn đó như thế nào là điều mà chúng ta nên nghĩ tới. Còn đó như một ngọn đuốc soi sáng cho đời hay như một cục than bị vùi lấp giữa đống tro tàn? Còn đó như một sức mạnh văn hóa mở đường đi tới cho con người hay như một bảo vật trong viện bảo tàng? Đó là những câu hỏi đặt ra cho những người còn ít nhiều hoài bão cho Phật Giáo Việt Nam lúc này, khi mà các trạng huống tâm lý nói đến trên đây đang đè nặng trên tâm hồn của người con Phật Việt Nam ở bên này và bên kia. Đó cũng là những câu hỏi đặt ra một thái độ cần có như một bước đầu cho những chuẩn bị nghiêm chỉnh để đi tới ở ngày mai.

Thái độ đó là gì? Là sự rời bỏ trạng huống tâm lý e sợ đã nói để có đủ can đảm nhìn lại mình như một tác nhân chủ yếu quyết định cho con đường đi tới của PGVN giữa hoàn cảnh ngổn ngang này. Hoàn cảnh ngổn ngang của lịch sử, của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội… của đất nước trong mấy thập niên qua đã từng tác động mạnh mẽ - và chắc chắn cũng sẽ còn tác động mạnh mẽ - lên tấm thân của Phật Giáo. Nhưng hoàn cảnh y báo ấy, trong ánh sáng của giáo lý Phật, vốn không thể tách rời và càng không là năng lực chủ động quyết định cho tự thân chánh báo. Chúng ta cần nhận ra điều này để không tự ru ngủ mình và không phải tập trung tất cả thì giờ, năng lực cho những việc làm, dù có thân thiết, nhưng chưa phải là điều thiết cốt. Truy tầm những lý do cho bệnh trạng ở bên ngoài và đặt vào đấy trách nhiệm về bệnh trạng trong khi vi trùng thì ở ngay thân mình – như nhiều người đã làm một cách rất năng nổ - dù có thể là một điều rất nên, rất đáng nhưng chắc chắn là không đủ để chữa trị bệnh trạng. Đó là chưa kể đến, việc lo đối phó với hoàn cảnh ngổn ngang đến độ trở thành một vật kéo của chiếc xe hoàn cảnh thì lại còn tệ hại hơn cả hoàn cảnh tệ hại vì nó chính là cách tự đánh mất mình, tự hủy diệt mình một cách nhanh và gọn nhất. Đã không cứu được mình, đã tự đánh mất mình, tự hủy diệt mình như thế thì còn nói gì đến chuyện cứu ai bây giờ! 

Phật Đạo giữa thế gian là Bồ Tát Đạo. Trên con đường hoạt dụng của Bồ Tát ấy, người con Phật phải lấy Bồ Đề Tâm làm động cơ căn bản. Nhưng Bồ Đề Tâm chỉ có thể phát khởi khi có được thâm tâm và trước hết, là có được trực tâm. Trực tâm là cái tâm ngay thẳng, chất trực, không quanh co trá ngụy, không tự dối mình và dối người. Đó là cái tâm không e sợ, can đảm nhìn thẳng vào mình như một tác nhân chủ yếu để thấy ra đâu là cái gốc của bệnh, cái mầm của loạn. Đó chính là cái tâm quy định cho một thái độ cần thiết, bước đầu cho sự lên đường trở về tìm lại chính mình để cho Phật Giáo đúng là Phật Giáo chứ không phải là một cái gì khác mang danh Phật Giáo. 

 

HIỆN TRẠNG CỦA PGVN NGÀY NAY 

Ngoài những thành tựu và đổ vỡ mà ai cũng thấy và đã được nói đến nhiều – không kể đến những tiếng nói phô trương quá lố hay những xuyên tạc dối trá ở bên này và bên kia, PGVN ngày nay như đang ở trong một tình trạng phức tạp vừa có nhiều triển vọng vừa chứa đựng những nguy cơ hiểm họa khó lường. 

1.      Triển vọng trước hết là ở niềm tin Phật của quần chúng. Sau hơn nửa thế kỷ - và có thể kể xa hơn, gần 140 năm nay – dân tộc Việt Nam đã phải ở trong một chu kỳ lịch sử lệ thuộc vào những sức mạnh của thời đại xuất phát từ Tây Phương. Ở đó, những chế độ nối tiếp nhau liên tục đặt Phật Giáo vào trong cái thế của một kẻ bị trị; và vì vậy, bị khống chế và kềm hãm đủ thứ. Lại ở đó, chiến tranh thù hận, độc tài áp bức, sự tuyên truyền có tính cách tẩy não của những ý thức hệ tôn giáo, chính trị đang nắm trong tay sức mạnh của thời đại đã như cùng tập hợp lại để không cho PGVN trỗi dậy; thậm chí, để triệt hủy niềm tin Phật của quần chúng. Nhưng rõ ràng cho đến hôm nay, niềm tin Phật của quần chúng đã không dễ dàng bị triệt hủy và Phật Giáo vẫn còn đó như một tôn giáo của đa số với hơn 50% dân chúng tin theo như thống kê của chế độ đương quyền (vì tính cách lỏng lẻo của các tổ chức Phật Giáo xưa nay, trong thực tế con số này có thể lớn hơn nhiều). Những Lễ Hội Chùa Hương kéo dài trong nhiều tuần lễ với hàng hàng lớp lớp người tín mộ. Những mùa Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên Đán… tràn ngập khách lễ bái hành hương ở khắp các chùa trên mọi miền đất nước như một cái gì rất xưa bừng sống dậy. Những lễ tang các bậc tôn túc với số người tham dự làm lo ngại cho cả nhà cầm quyền…  

Đó là những gì mà các quan sát viên và những người từng đi về Việt Nam đã chứng kiến và mô tã rải rác trên nhiều trang báo. Dưới những chế độ thực hiện chính sách triệt hủy Phật Giáo cách này cách khác trải dài hơn thế kỷ; những chủ thuyết, ý hệ chính trị xã hội cực đoan luôn đi theo cùng với sức mạnh quân sự, kinh tế của thời đại liên tục tấn công vào thành trì tín ngưỡng của dân tộc; với sự nghèo nàn cố hữu và ngay cả, với những đổ vỡ rạn nức ở ngay bản thân các tổ chức PGVN từ trước đến nay mà niềm tin Phật của quần chúng vẫn còn như vậy thực là một điều kỳ diệu. Điều kỳ diệu này cho phép ta nghĩ được rằng, ít nhất là cho đến lúc này, niềm tin Phật của quần chúng vẫn còn là một tiềm năng lớn, một trong những yếu tố lớn cho một triển vọng có thể có của PGVN ở ngày mai. 

2. Một yếu tố khác đóng góp vào triển vọng của PGVN là đa số trí thức Việt Nam đã từng quay lưng lại với tôn giáo ngày càng tiếp cận với Đạo Phật; và càng tiếp cận thì càng có khuynh hướng quay về với Phật Giáo do bởi nhận ra rằng, Đạo Phật thực sự không giống với các tôn giáo khác. 

Không giống với các tôn giáo khác. Sự thực này được nhìn ra là một yếu tố có tính cách quyết định cho thái độ và khuynh hướng của người trí thức Việt Nam ngày nay. Tôn giáo là một thực thể của xã hội loài người. Lịch sử văn minh, văn hóa của con người đã có không ít những đóng góp của tôn giáo. Nhưng đồng thời, ở một mặt, tôn giáo cũng đã đóng góp không ít vào những thảm họa lịch sử. Lịch sử còn đó, những cuộc chiến tranh tôn giáo được gọi là Thánh Chiến (The Holy War) trải dài trong thời Trung cổ ở Âu Châu. Lịch sử cũng đang phơi bày những cuộc chiến tranh diễn ra trong thời cận và hiện đại ở khắp nơi trên thế giới có động cơ tôn giáo, những chiến tranh ở Trung Đông, Ái Nhĩ Lan, ở Ấn Độ, Phi Luật Tân, ở Phi Châu... Đó là chưa kể đến những thảm kịch Jonestown, Waco…, mặc dù trong một phạm vi nhỏ hơn, nhưng đã là những biểu hiện lòng cuồng tín tôn giáo đến độ làm ngạc nhiên, bàng hoàng cả những kẻ còn mê tín vào tôn giáo. Đó cũng là chưa kể đến những cuộc hôn nhân khác tôn giáo đã phải bị ép uổng hoặc gãy đổ khiến nhiều người phải đau khổ thế nào; và còn nữa, những tín điều, giáo điều, những lời phán truyền đầy dẫy trong các sách sử tôn giáo mà ngay cả người có đầu óc bình thường cũng không thể không đặt lên câu hỏi về bản chất và ý nghĩa của tôn giáo.  

Giữa bầu khí tôn giáo cần và đang được tra vấn đó thì Phật Giáo như riêng mình một cõi. Không từng can dự vào bất kỳ một cuộc chiến tranh tôn giáo nào xưa nay, không từng đẩy con người đến chỗ cuồng tín ở bất cứ đâu, không chứa đựng một điều gì huyền mị trong kinh sách – ngoài những biểu lộ cảnh giới của tâm linh mà con người chưa vươn tới được. Cho nên, không chỉ là yếu tố Thần (Gods) làm cho Phật Giáo khác với các tôn giáo khác mà ngay cả thực tế lịch sử và đời sống tín ngưỡng, người ta cũng không thể dùng định nghĩa và khái niệm tôn giáo chung chung đem áp dụng cho Phật Giáo. Không phải là vấn đề hơn hay thua, mạnh hay yếu nhưng rõ ràng là, Phật Giáo thực sự khác biệt với các tôn giáo khác. Điều này có ý nghĩa rất lớn nếu ta hiểu được cái lý do mà người trí thức Tây Phương ngày càng ngưỡng mộ Phật Giáo và tìm đến để học hỏi.

Người trí thức Việt Nam ngày nay, trong buổi hoàng hôn của những chủ nghĩa, ý hệ hoang tưởng một thời được tôn thờ đưa đến những đổ vỡ trong tâm hồn và đời sống, phải đứng trước ngã ba đường để đi tìm một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho cuộc sống. Các tôn giáo dễ dàng là các cửa ngõ cho một lựa chọn mới này. Ở đó, Phật Giáo hiện ra như một tôn giáo của Từ Bi, Bất Bạo động, của Trí Tuệ, Hỷ Xả - khác biệt với tất cả các tôn giáo khác trên mặt tư tưởng cũng như trên thực tế lịch sử, sẽ trở thành một cửa ngõ cho những tâm hồn khao khát sự an lạc và những đầu óc khát vọng chân lý. Một số không nhỏ các nhà trí thức Việt Nam ở Việt Nam và ở hải ngoại đang tìm về với Phật Giáo như một lựa chọn mới này, và đã có không ít những đóng góp trí tuệ vào ý hướng xây dựng một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho dân tộc Việt Nam giữa lúc tinh thần chao đảo hiện nay.

Những biểu hiện cho khuynh hướng trí tuệ tìm về Phật Giáo này đang quy tụ ở nhiều nơi: Ở Việt Nam, các thiền viện dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư Thanh Từ, các trường Cao Cấp Phật Học, các Viện Nghiên Cứu Phật Học và ngay cả trong một vài sinh hoạt của Viện Khoa Học Xã Hội mấy năm lại đây mà buổi Hội Thảo về Tuệ Trung Thượng Sỹ là một điển hình… Ở hải ngoại, Làng Mai dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư Nhất Hạnh, và các chi nhánh của nó ở nhiều nơi, các tạp chí Phật Giáo hoặc có màu sắc Phật Giáo mà đường hướng nhiều khi rất khác biệt nhau (Phật Giáo Việt Nam, Giao Điểm, Tin Phật, Hoa Sen, Chân Nguyên, Bông Sen, Viên Giác, Phật Giáo Hải Ngoại…)

3.      Một triển vọng đáng kể khác là những trung tâm tu học được thiết lập với những truyền thống tu tập được xây dựng, tái tạo hoặc cách tân. Như xương sống của cơ thể, những trung tâm tu học và truyền thống tu tập đã là yếu tố quyết định tối hậu cho lịch sử hưng vong của Phật Giáo xưa nay. Thử tưởng tượng, Phật Giáo Trung Hoa mà không có các bậc Cổ Đức đời đời nối tiếp thiết dựng các Đạo Tràng Dịch Kinh, Giảng Kinh, nói Pháp, lập thành các Pháp môn tu tập Thiền, Tịnh và các Tòng lâm hướng dẫn đồ chúng tu tập thì di sản của Phật Giáo Trung Hoa còn có gì? Như Phật Giáo Nhật Bản, không phải là Tổng Hội Phật Giáo Nhật Bản - thường được xem là cơ cấu đại diện cho Phật Giáo - nắm mạng mạch của Phật Giáo ở đây mà chính là hệ thống các Tông Phái với những sắc thái linh hoạt và truyền thống tu tập khác nhau được giữ gìn đã tạo nên các sức sống cho Phật Giáo xứ này. Phật Giáo Tây Tạng ngày nay là một ví dụ rõ nét khác. Trong khi Tây Tạng đang phải chịu đựng một trong những thảm kịch đau thương nhất của lịch sử các dân tộc mà tương lai chưa biết thế nào thì Phật Giáo Tây Tạng, theo cùng tình cảnh lưu vong của một phần dân tộc họ, lại đang ảnh hưởng lớn trong đời sống tâm linh và trí tuệ của con người ở Tây Phương. Được vậy không chỉ vì những huyền thoại được nói nhiều về xứ này; cũng không chỉ vì những hình thức khá kỳ dị trong sinh hoạt tôn giáo của họ (vì huyền thoại và những hình thức nếu có làm cho người ta lưu tâm đến thì cũng chỉ nhất thời) mà chính là ở cốt tủy, Phật Giáo Tây Tạng còn đó những truyền thống tu tập với những kinh nghiệm tâm linh thực sự.

Phật Giáo Việt Nam, ít ra là từ 1963 trở về sau, đã bị cuốn hút vào cơn lốc của thời thế để không có được sự quan tâm đúng mức, nói gì đến việc đáp ứng nhu cầu sinh tử nầy của Phật Giáo. Dù chúng ta có đó, những đời sống tâm linh tỏa sáng thành những tấm gương đạo hạnh đáng ngưỡng mộ nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt; chúng ta cũng có đó những Tu Viện, Phật Học Viện nhưng nề nếp tu học và sinh hoạt không đủ để tạo nên những truyền thống tu tập cho hơn một thế hệ. Phải đợi đến sau này, trong nghịch cảnh nhiễu nhương của vận nước, vận đạo, PGVN mới có được những bậc tôn túc quan tâm và thực hiện những trung tâm tu học và xây dựng lại những truyền thống tu tập. Các Thiền Viện ở trong nước với Thiền Sư Thanh Từ quy tụ đông đảo đồ chúng đang làm sống dậy bầu khí tu Thiền, kết hợp truyền thống Tổ Sư Thiền ở Trung Hoa với truyền thống Thiền Trúc Lâm đời Trần của Việt Nam. Trước và song song với nó, và trên những phạm vi ảnh hưởng nhỏ hơn, có những Đạo Tràng Liên Hữu tu tập Tịnh Độ, pháp môn Niệm Phật Công đức rải rác ở Trung và Nam.

Trong khi ở hải ngoại, Làng Mai ở Pháp trở thành một trung tâm Thiền nổi tiếng với Thiền Sư Nhất Hạnh, đưa phương pháp Thiền trong truyền thống Kinh Tạng Phật giáo áp dụng vào cuộc sống của con người xã hội hiện nay, quy tụ hằng năm rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới và từ những truyền thống tôn giáo khác nhau đến tu học. Có nhiều nhóm Thiền sinh Việt Nam và ngoại quốc đang áp dụng phương pháp Thiền tập này và sinh hoạt tu tập khá đều đặn. Có những nơi vận dụng phương pháp Thiền tập này kết hợp với nề nếp tu tập vốn có ở Việt Nam trước đây như ở một số chùa, Tu Viện tại miền Bắc California, Texas, Massachusetts…

Việc tái dựng các truyền thống tu tập với sự có mặt của các trung tâm tu học nói trên là một yếu tố đáng khích lệ lúc này khi nhìn về viễn ảnh của PGVN ngày mai. Càng đáng khích lệ hơn khi quần chúng Phật tử ngày càng qui tụ về các trung tâm tu học, thể hiện tấm lòng thiết tha cầu tu, cầu học và đưa sự tu học trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống. Tu học trở thành một nhu cầu, đó hẳn là một dấu hiệu có tính cách quần chúng đáng mừng nhất trong hai thập niên cuối của thế kỷ này. Mặc dù không ồ ạt nhưng tác động tích cực và thầm lặng của nó vào con đường đi tới của PGVN chắc chắn sẽ được thấy rõ về lâu về dài sau này.

4. Cũng là những yếu tố tích cực góp phần vào triển vọng của PGVN là những thành tựu trong một chừng mực nhất định của hai tổ chức Giáo Hội hiện nay ở Việt Nam.

Không kể đến những thành tựu trước năm 1975, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), trong mấy năm lại đây, đứng trên vị trí cố hữu của mình, đã lên tiếng cho những khát vọng của dân tộc và của chính Phật Giáo. Đặt trong vị trí của một tổ chức tôn giáo lớn mà lại không thể công khai hoạt động và trong liên hệ với cảnh ngộ chung của dân tộc, sự lên tiếng của GHPGVNTN phải được xem là can đảm và cần thiết. Can đảm bởi vì sự lên tiếng đó đã phải trả giá bằng giá của nhiều hy sinh, ngay cả hy sinh thân mạng. Và đó là một trong những cách thế biểu lộ tinh thần xứng đáng được ngưỡng mộ của người Phật Tử Việt. Cần thiết vì nhu cầu chuyển hóa đất nước đòi hỏi phải có những tiếng nói khác với tiếng nói của người cầm quyền, những tiếng nói xuất phát từ người dân bị áp bức bất công và nói là nói cho những khát vọng của họ. Cũng cần thiết vì nó góp phần khẳng định con đường của PGVN khi đối diện với cái khổ của con người – con đường không nằm ở bên này hay bên kia mà vượt qua tất cả mọi thế đối nghịch tương tranh của con người trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Tiếc thay, tiếng nói của lương tâm đó đã không được nghe một cách nghiêm chỉnh như chính nó. Nhưng dù không được nghe một cách nghiêm chỉnh lúc này thì âm hưởng của tiếng nói đó cũng sẽ còn để góp phần định hướng cho con đường đi tới của PGVN giữa những tình thế còn nhiều phức tạp sau này.

Trong khi đó, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), trong những giới hạn lịch sử và tính chất của nó, cũng đã có những thành tựu đáng kể. Không nói đến những chùa chiền được tái tạo và xây dựng – không hẳn là do Giáo Hội này, GHPGVN ít nhất đã làm được hai điều có ý nghĩa lớn:

Một là đã thực hiện được hệ thống các trường Phật Học từ Cơ Bản đến Cao Cấp và từ Nam đến Bắc để đào tạo các thế hệ Tăng sĩ cho ngày mai. Hẳn nhiên còn nhiều giới hạn trong việc tổ chức, trong nội dung chương trình và phương pháp giáo dục và vì vậy, liên hệ đến phẩm chất đào tạo, nhưng sự hình thành một hệ thống như vậy với số lượng Tăng ni sinh theo học đông đảo đã là điều có ý nghĩa lớn cho sau này. Nó chứng tỏ tấm lòng thiết tha với tương lai của PGVN của những nhà lãnh đạo Giáo Hội này; và chắc chắn thành quả đào tạo của nó sẽ góp phần quyết định cho tương lai của PGVN như tấm lòng hoài bão của những người đã ra công thực hiện.

Hai là Giáo Hội này đã tổ chức và thực hiện được bước đầu, Đại Tạng Kinh Việt Nam. Đây là một nỗ lực không chỉ tùy thuộc vào tài chánh mà còn vào khả năng trí tuệ trên nhiều lãnh vực nghiên cứu, dịch thuật mà nếu không tập hợp được các khả năng này thì không dễ làm gì được. Trong khi Phật Giáo ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Đại Hàn và phần lớn các nước trong truyền thống Nam truyền đã có Đại Tạng từ lâu; và ngay cả Âu Mỹ mà lịch sử du nhập và phát triển Phật Giáo đang còn mới mẻ nhưng công trình dịch thuật, nghiên cứu kinh điển Phật Giáo đã hết sức đồ sộ thì gia tài của PGVN, trên lãnh vực này, thực là ít ỏi. Cho nên, việc thực hiện Đại Tạng Kinh Việt nam là một đóng góp lớn vào sự nghiệp trí tuệ đang còn nghèo nàn của PGVN và là một công trình cần thiết cho những thế hệ học Phật ở Việt Nam hôm nay và ngày mai.

Những yếu tố đáng kể cho nhìn ra triển vọng của PGVN là đó. Nhưng bên cạnh và ngay nơi một số yếu tố đầy triển vọng này, PGVN cũng đang có nhiều nguy cơ hiểm họa.

1. Một đa số quần chúng Việt Nam vẫn còn niềm tin Phật nhưng đó là niềm tin có quá nhiều tính chất tiêu cực và có nhiều những tác động tiêu cực ở ngoài vào trong khi không có nhiều những nỗ lực điều hướng và giữ gìn niềm tin này ở các tổ chức Phật Giáo. Niềm tin Phật đó vốn không đơn thuần mà bị pha trộn với nhiều hình thái tín ngưỡng dân gian đầy những mê tín và dị đoan. Tin Phật, tin nhân quả đó nhưng cũng tin vào bói toán, cầu đảo, vào sự thưởng phạt của đủ loại thần, thánh, ma, quỷ; và vì vậy, Đạo Phật vốn là đạo của Trí Tuệ, đã và đang còn bị nhìn bởi một số đông người như là Đạo của mê tín, dị đoan, hủ lậu. Ở miền Bắc – như được ghi nhận bởi nhiều người - niềm tin Phật của quần chúng trỗi dậy mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng mạnh mẽ không kém, sự trỗi dậy của nhiều hình thức tín ngưỡng dị đoan của nhiều người “làm ăn” ở những hình thức tín ngưỡng này. Trong quá khứ, những hình thức này có thể đã là cái thành trì tín ngưỡng chống đỡ lại sức công phá của những giáo điều, tín điều ngoại nhập vốn cũng mê tín và dị đoan không kém.

Nhưng trong tương lai không xa, đất nước đi vào con đường Tây phương hóa, như một điều không thể tránh – ít ra là trên mặt kinh tế - con đường lấy dục vọng làm động cơ thúc đẩy và vì vậy có sức cám dỗ mãnh liệt và kéo theo nó là cả những thành quả của khoa học, kỹ thuật làm thay đổi não trạng và khuynh hướng sống của con người, một đạo Phật gắn liền với những mê tín, dị đoan chắc gì không bị lung lay, nghiêng đổ? Một Đạo Phật mê tín bị lung lay, nghiêng đổ chẳng có gì là đáng tiếc – đáng mừng là khác – nhưng nghiêng đổ để rồi, không có một Đạo Phật chánh tín thay vào thì không chỉ là một nguy cơ suy tàn của Phật Giáo mà còn là cả một hiểm họa cho dân tộc trên mặt đạo đức. Một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng không có, nguy cơ đó không phải trách nhiệm ở quần chúng mà là ở những người đang giữ gìn mạng mạch của Phật Giáo ngày nay.

Cũng trong viễn tượng của một xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi và thay đổi với một tốc độ rất nhanh, những hiện tượng tiêu cực trong Phật Giáo hiện nay - đặc biệt là ở cơ cấu tổ chức và ở giới Tăng sĩ trên cả hai mặt phẩm chất đạo đức và khả năng - nếu không sớm điều phục thì chỉ trở thành đối tượng cho những khai thác không mấy lương thiện của nhiều thế lực khác mà thời nào cũng có, góp phần lay đổ niềm tin Phật của quần chúng và mở lớn cơ nguy suy tàn của PGVN mà thôi.

Ngay với một thành phần không nhỏ giới trí thức Việt Nam đang tìm về Phật Giáo như tìm về một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho đời sống cũng sẽ không làm gì được nếu như Phật Giáo không có được môi trường thích hợp cho những sinh hoạt trí tuệ; và nếu như giới này chỉ thấy được cái hay của Đạo Phật trong kinh sách và trong quá khứ mà không thấy được cái hay của Đạo Phật trong hiện thực đời sống và xã hội trước mặt. Chánh Pháp, cuối cùng, may lắm thì chỉ còn với một số cá nhân mà không thể trở nên ngọn đuốc hướng đạo cho đời sống tinh thần của ngay cả quần chúng Phật tử, nói gì đến xã hội.

2. Nguy cơ suy tàn trên đây vốn liên hệ tới vai trò của các tổ chức Phật Giáo và phẩm chất của người Tu sĩ Phật Giáo.

Tổ chức Phật Giáo trong mấy mươi năm nay cứ như một tấm thân ốm yếu bệnh hoạn lại cứ phải đắm trong một bầu không khí ô nhiễm. Ốm yếu, bệnh hoạn vì như chưa bao giờ Phật Giáo Việt Nam có được những chuẩn bị đầy đủ cả về lý thuyết lẫn thực tế cho một tổ chức Giáo Hội vừa muốn giữ lại tinh thần của Tổ chức Tăng đoàn thời nguyên thủy; vừa muốn có đủ giáo quyền để đảm nhiệm tất cả các mặt thế trị phức tạp như các tổ chức tôn giáo ở Tây Phương. Rõ ràng đây là một ý hướng nhằm giải đáp những yêu cầu đặt ra cho một tổ chức tôn giáo trong xã hội hiện nay; và ở trường hợp của PGVN, còn là cái yêu cầu bức thiết của hoàn cảnh lịch sử lâu đời không cho phép PGVN thu mình lại trong bốn bức tường của Thiền môn. Nhưng rõ ràng, hai ý muốn đó chứa đựng một nghịch lý đã không được trả lời thỏa đáng trên thực tế. Và vì vậy mà, Tăng đoàn trở nên lỏng lẻo trong đời sống hành trì và tổ chức Giáo Hội thì không đủ sức chủ động được các mặt thế trị phức tạp.

Tăng đoàn trở nên lỏng lẻo vì thiếu đi cái xương sống của nó là những truyền thống tu tập - điều mà một tổ chức Giáo Hội – dù cho có đủ giáo quyền đi chăng nữa – không thể đảm nhiệm được. Sự thiếu vắng những truyền thống tu tập, ngoài hai thời công phu và khóa lễ Tịnh độ ở các chùa, viện, đã làm cho đời sống người Tu sĩ thiếu nội lực tâm linh và phẩm chất người Tu sĩ ngày càng yếu kém trên cả hai mặt đạo đức và khả năng. Thiếu nội lực và yếu kém phẩm chất mà lại mang thân vào đời để đảm nhiệm các mặt thế trị phức tạp của một tổ chức Giáo Hội như yêu cầu mong muốn thì thật khó tránh được cái “họa sát thân”. Cái họa đã rõ, ít ra là từ sau 1963 đến nay. Ngoại trừ một số vị giữ mình nghiêm mật, còn một số lớn khác đã không tránh được cái “bả lợi danh” của thế tục. Hỡi ôi! Đức Phật như một gương mẫu vẹn toàn đã vức bỏ tất cả để thành tựu được tất cả mà ngày nay, một số Tu sĩ hành đạo lại chỉ muốn ôm giữ tất cả để phải mất tất cả thì làm sao mà Phật Giáo thoát cảnh suy tàn! Một giáo lý cao đẹp chứa đầy tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ, Vị Tha, Vô Ngã… mà ngày nay, một số người con Phật càng sống, càng hành đạo thì bản ngã như lại càng to, càng lớn, càng thích loạn ngôn và múa may trên sân khấu đời. Nguy cơ khó tránh được là vậy.

Các tổ chức Giáo Hội, cũng vì vậy mà không chủ động được các mặt thế trị phức tạp. Trái lại, chính các mặt thế trị này lại lôi cuốn các tổ chức Giáo Hội vào trong vũng lầy của nó để có muốn dứt ra cũng không được. Hậu quả là, các hoạt động của Phật Giáo trên các mặt thế trị bị rơi vào trong những cực đoan bên này, bên kia trong cái thế đối nghịch của hoàn cảnh lịch sử và xã hội; để cuối cùng, nhiều khi không tránh được cái thảm cảnh “gà nhà bôi mặt đá nhau”. Con đường của Phật Giáo vốn là Trung Đạo, là con đường vượt trên và vượt qua các cực đoan đối nghịch trong tư tưởng và hành động và chỉ như vậy mới hiện thực được mục đích của nó giải thoát con người khỏi mọi sự ràng buộc đau khổ. Thì ở đây, các tổ chức Giáo Hội lại cứ bị du vào cái thế “mua dây buộc mình”. Đối nghịch giữa tổ chức này với tổ chức khác là điều khó tránh dù cùng là Phật Giáo với nhau. Càng khó tránh hơn là cái hiện tượng đối nghịch xung khắc ngay trong cùng một tổ chức Phật Giáo. Bởi vì, ở đây – như mọi tổ chức thế tục của con người – các mâu thuẫn về quan niệm, khuynh hướng, sở thích và tánh khí của cá nhân không lúc nào mà không phát sanh; và khi không có gì chế ngự được nó thì mâu thuẫn trở thành xung khắc đối nghịch.

Đường lối chính sách của tổ chức Phật Giáo, nếu có, cuối cùng chỉ có trên lý thuyết, còn trong thực tế thì hoàn toàn tùy thuộc vào khuynh hướng, sở thích, cảm tính của các cá nhân lãnh đạo, điều hành và theo sự tác động, ảnh hưởng, chi phối ở bên ngoài vốn đã đầy những trang chấp, đối nghịch. “Dở hay âu cũng tính trời, biết sao!” Đó là căn bệnh trầm kha của các tổ chức Phật Giáo. Ba cửa thanh tịnh của nhà Phật, Không, Vô Tướng, Vô Tác như chỉ còn trên trang kinh để thay vào đó, ba cửa Hữu (Tham), Tướng (Sân), Tác (Si) mở rộng để cho ngôi nhà Phật Giáo tràn ngập các mùi vị của thế tục; và sinh lực của nó bị cuốn trôi vào những hoạt động thế tục. Mối nguy thực đã quá rõ. Càng nguy hơn khi nó phải đắm mình trong một bầu không khí ô nhiễm của lòng người ly tán vì sự ngăn cách của đủ thứ cảnh ngộ và chướng ngại; của hoàn cảnh chính trị, xã hội nhiễu nhương và của bao nhiêu thế lực chỉ muốn lợi dụng và biến Phật Giáo thành con cờ của họ.

3.              Một mối nguy khác có tính cách lịch sử giai đoạn nhưng lại ở trên một quy mô lớn, ảnh hưởng toàn diện lên các sinh hoạt của PGVN hiện nay là sự hiện diện song hành của hai tổ chức Giáo Hội ở Việt Nam: Giáo Hội PGVN Thống Nhất và Giáo Hội PGVN. Mặc dầu cả hai Giáo Hội đều có những đóng góp có ý nghĩa như đã nói; *và mặc dầu, đứng ở những vị trí khác nhau, người ta có thể có những cái nhìn khác nhau về mỗi Giáo Hội; nhưng, ngay cả sự hiện diện song hành của hai Giáo Hội vốn đã tiềm ẩn những cơ nguy khó lường.

Không như mối liên hệ kiểu “ai tu phận nấy” giữa các tổ chức Tông phái với những truyền thống, pháp môn tu tập khác nhau - điều mà PGVN có nhưng đang thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ thân hữu dễ dàng được thiết lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp các thành phần khác nhau và sinh hoạt trong những môi trường, khu vực khác nhau của cùng một tôn giáo - điều mà PGVN có nhưng đang thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ thân hữu dễ dàng được thiết lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp thành các thành phần khác nhau và sinh hoạt trong những môi trường, khu vực khác nhau của cùng một tôn giáo - điều mà PGVN cũng đã từng có và không bao giờ phải trở thành vấn đề. Mối liên hệ giữa GHPGVN và GHPGVN TN có nhiều yếu tố phức tạp, tế nhị lại chịu sự tác động nặng nề của tâm cảm và hoàn cảnh chính trị không mấy “xuôi chèo mát mái” của đất nước; và vì vậy mà trở thành vấn đề. Một bộ phận lớn của GHPGVN là GHPGVNTN. Nhưng không vì vậy mà ta có thể nói, đây là hai Giáo Hội anh em dù giữa hai Giáo hội có nhiều thầy trò, anh em với nhau. Một Giáo Hội thì ép mình theo thời thế để duy trì mối đạo; và vì vậy làm được nhiều việc nhưng cũng chịu nhiều nỗi đắng cay. Một Giáo Hội thì không chịu ép mình theo thời thế để nói tiếng nói cho những bất công, áp bức nên không làm được gì nhiều nhưng khẳng định được tinh thần có tính cách truyền thống của người Phật tử Việt Nam. Hai Giáo Hội biểu lộ hai thái độ phản ứng có tính cách nghịch hướng trước thời thế; và cả hai thái độ đều có những lý do thích đáng của nó.

Việc nhận ra những lý do thích đáng này để bao dung được nhau không phải là điều khó, nếu ta vượt qua được những xúc cảm nhất thời và không để cho những tác động tiêu cực ở bên ngoài chi phối để nhìn ra được Con Đường Lớn của PGVN giữa những nghịch cảnh vốn đã rất đau long. Tiết thay, tác động tiêu cực của các thế lực bên ngoài quá nặng, kích động các mối xúc cảm nhất thời khiến cho việc nhìn nhận nhau, bao dung nhau thành khó. Càng khó hơn khi có một số người - ở cả hai - đứng hẳn vào trong quỹ đạo của các thế lực này để kết án lẫn nhau, tạo nên các màn “chỉ điểm, đấu tố” nhau một cách kỳ cục, khó coi chưa từng có trong lịch sử Phật Giáo. Đó là mối nguy thứ nhất đã được thấy của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.

Giáo Hội nào cũng có thầy. Thầy nào - bất kể chánh hay tà, chân hay ngụy, đấu tố hay bị đấu tố - cũng có một số người theo. Theo để học đạo. Đó là điều quá quý và không có gì để nói. Điều đáng nói là, những người theo để lợi dụng hoặc bị lợi dụng hoặc theo vì cảm tính hay vì chút liên hệ nào đó. Mối nguy nói đến trên đây sẽ không còn giới hạn trong một vài cá nhân liên hệ mà đã và sẽ mở rộng ra trong quần chúng đi theo này. Quần chúng lại là lớp người dễ bị kích động tâm lý - nhất là lúc nào cũng có sẵn người làm công việc kích động này và ở trong bầu khí đầy nghi kỵ, tranh chấp, thù nghịch bởi nhiều cảnh huống phân ly hiện nay. Đến đây thì không chỉ là tình trạng ngăn cách, phân hóa, bất hợp tác giữa các khuynh hướng Phật Giáo mà là sự xung khắc thù nghịch giữa các khối lực quần chúng Phật Tử. Sẽ có nhiều lý lẽ để biện minh cho sự xung khắc, thù nghịch này của mỗi bên - nhất là cái lý lẽ nhị nguyên phi Phật Giáo “chánh-tà, chân-ngụy” đã được nói đến nhiều. Nhưng điều đó có ích gì hay chỉ xé nát và chôn vùi Phật Giáo trong bầu khí hận thù ở khắp mọi nơi và di lụy lâu dài cho các thế hệ Tăng ni và Phật tử mai sau. Đó là mối nguy thứ hai mà hiện trạng song hành hai Giáo Hội đã và sẽ chỉ làm cho nó ngày một thêm rộng, thêm sâu.

Ngay đến đặt sự hiện diện hai Giáo Hội này vào một hoàn cảnh bình thường – nghĩa là như tất cả mọi tổ chức trong xã hội, “đường ai nấy đi” để không có nữa, các màn đấu tố và thái độ thù nghịch nhau – điều tốt đẹp nhất mà có người đã nghĩ tới và mong muốn – thì vì những liên hệ phức tạp của chúng, sự hiện diện song hành này cũng không thể trở thành bình thường. Chỉ những mặc cảm, thành kiến sâu dày đã có không thôi mà lại ở vào tình trạng “không thể không gặp nhau” trong đời sống và trên các mặt hoạt động vì những liên hệ và tánh cách của nó, những va chạm thường xuyên là điều không thể tránh. Cũng là hoạt động từ thiện xã hội cho cùng một đối tượng nạn nhân đó mà gặp nhau không thể “tay bắt mặt mừng”như với một tổ chức tôn giáo khác cũng đã là khó nói, cũng đủ tạo nên những dư luận không mấy tốt đẹp và sự hoang mang dao động trong quần chúng huống gì những va chạm khó tránh. Oán tằng hội khổ là vậy. Rồi với những cơ sở hiện nay của Phật Giáo và những cơ sở mà bên này, bên kia đang đòi hỏi trả lại cho Phật Giáo, việc xác định chủ quyền của nó thuộc Giáo Hội này, Giáo Hội kia cũng không phải là điều giản dị; và ai đảm bảo, sẽ không có những tranh chấp làm tổn thương cho Phật Giáo sau này? Đó là mối nguy “tốt nhất” của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.

 

TRƯỚC NGƯỠNG CỬA THẾ KỶ 21

Đất nước Việt Nam đang thay đổi. PGVN cũng không thể ở mãi trong tình trạng như hiện nay. Nhưng thay đổi như thế nào?

Phật Giáo là một tôn giáo không có giáo điều nên là tôn giáo có khả năng thích ứng nhất với mọi đổi thay của hoàn cảnh; lại là một tôn giáo, tự bản chất, không trụ vào bất cứ pháp tướng nào. Ngay cả Pháp tướng Niết Bàn mà cũng không thì huống gì các pháp tướng lịch sử và thời đại mà bản chất của nó chỉ là vô thường, vô ngã, chỉ là không.

Trên bình diện tuyệt đối, “Chánh pháp cũng phải xả hà huống là phi pháp”. Âm vang của lời kinh đủ cho người có chí nguyện tu học và phụng sự Phật Pháp bình thản đi giữa mọi cơ nguy và đau khổ mà sống trọn chí nguyện của mình. Nhưng trên bình diện tục đế của đời sống nhân văn và xã hội và với tất cả những liên hệ duyên khởi, người hoài tâm cho Đạo không thể không nhìn vào những triển vọng và cơ nguy của Đạo trong khi thực hiện chí nguyện của mình. Nhìn vào để thấy, để biết. Biết đường mà đi. Biết cửa mà vào. Biết nguy cho Đạo để tránh. Biết an cho Đạo để làm. Biết tất cả đó là Pháp sinh diệt vô thường để không vướng mắc, kẹt dính vào đâu. Lại biết tất cả đó đều là nơi để thành tựu tất cả công hạnh tu tập để không hề chán nản, để trải lòng, trải thân ra mà trọn nên chí nguyện cho Đạo, cho Đời. Đó là những gì mà các bậc Thầy Tổ xưa đã từng nêu gương để mở ra Con Đường Lớn của PGVN.

Con Đường Lớn của PGVN là gì? 

Đó là con đường không trụ, không bám vào bất cứ cực đoan đối nghịch nào trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi thời. Mạng sống của con người và của lịch sử đã phải bị kềm hãm giữa hai bờ của những cực đoan đối nghịch ngay từ thưở bắt đầu của nó; và vì thế, đã không một ngày nào trên mặt đất mà không có chiến tranh, thù hận. Con đường của Phật Giáo là con đường giải thoát - giải thoát con người khỏi mọi ngục tù của những thành kiến, tà kiến, thiên kiến, biên kiến, ngục tù của những quan niệm, ý hệ cực đoan, những động lực mù quáng đã gieo rắc chiến tranh, hận thù ở khắp nơi. Ý thức về tất cả những tai họa đã có, đang có và sẽ có cho dân, cho nước, cho đạo, PGVN không thể để mình bị kẹt dính vào đâu trong những cực đoan đối nghịch mới có thể hiện thực được con đường giải thoát này.

Đó là con đường không trụ, không bám vào bất cứ một pháp tướng lịch sử và thời đại nào. Mọi pháp tướng đều là không tướng, đều là giả hợp, vô thường, tạm bợ. Những pháp tướng lịch sử và thời đại của PGVN hiện nay đều là những phương tiện để hành đạo, để thực hiện công hạnh độ sanh của người con Phật Việt Nam chứ không thể và không nên là cửa ngỏ cho những lợi danh có tính cách thế tục là đầu mối cho những tranh chấp, tạo thành các cơ nguy cho Đạo. Mặc dù các pháp tướng đều cần thiết và có vai trò của nó – và vì vậy, cần được quan tâm, giữ gìn, xây dựng sao cho phù hợp với tinh thần Phật Giáo, với truyền thống và với nhu cầu của hoàn cảnh, thời đại – nhưng điều thiết yếu không phải là ôm giữ những pháp tướng này mà làm gì, làm thế nào để - bằng vào những pháp tướng đó - hiện thực được Đạo Phật trong đời sống của con người và xã hội cho hôm nay và mai sau. 

Đó là con đường của sự sống - sự sống cụ thể của con người trong những điều kiện tâm sinh lý và môi trường thiên nhiên xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế… của nó. Một Đạo Phật thực sự, vì vậy, không thể không đối diện với những vấn đề của con người - những vấn đề căn bản của hiện sinh cũng như những vấn đề mà hoàn cảnh và thời đại đặt ra cho nó. Đối diện để cung ứng những phương pháp trị liệu và chuyển hóa chứ không phải để tạo thêm vấn đề cho con người. Chỉ với những phương pháp trị liệu và chuyển hóa này mà sự có mặt của Đạo Phật mới thực sự có ý nghĩa.

Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, cái cần có để cho Phật Giáo là con đường của sự sống là một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng để đối trị với những mê tín đang còn đầy dẫy; là một nền giáo dục đặt căn bản ở sự tự giáo dục và việc tái dựng những truyền thống tu tập để đối trị với tình trạng sa đọa tâm linh của con người ngày nay – trong đó có cả giới Tu sĩ – đang bị cuốn trôi vào khuynh hướng hưởng thụ và tìm kiếm hư danh; và để có được cho đời, những bậc thầy có chí nguyện và hoài bão, có phẩm cách đạo đức và khả năng làm công việc đối trị và chuyển hóa này. Sau nữa, một sự nghiệp Trí Tuệ của PGVN cần được trân trọng xây dựng bên cạnh những xây dựng khác để cho cuối cùng, PGVN không phải chỉ còn lại những đống tro tàn của một thời ngổn ngang mà còn đó, một ngọn đuốc sáng cho dân tộc tìm lại được Phẩm Giá và thấy được đường đi về sự Thanh Bình, An Lạc và Chân Lý sau khi đã đánh đổi quá nhiều đau thương, mất mát.

Giữa biển trần mờ mịt, đâu chánh, đâu tà, đâu chân, đâu ngụy?  Nói bao nhiêu cũng chỉ là nói mộng huống chi là những cãi cọ với ngôn từ. Kỳ cùng, có lẽ chỉ có sự sống của con người với những đau khổ và hạnh phúc của nó mới cho được câu trả lời đích thực.

Phật Giáo Việt Nam trước ngưỡng cửa Thế Kỷ 21. Triển vọng và cơ nguy. Tất cả đều đang có mặt và đang góp phần. Có Con Đường Lớn của PGVN dẫn con người Việt Nam đến trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 hay là chỉ còn đó những trò chơi vẽ vời cảnh thế gian của tâm thức mộng mị trước khi khép lại cánh cửa cửa thế kỷ này? Kỳ cùng, cũng có lẽ, chỉ có người mang cái danh Phật Tử Việt Nam, Tu sĩ hay không là Tu Sĩ, với cái tâm và cuộc sống hiện thể của nó, mới quyết định được cho câu trả lời.

Đem tấm lòng thành viết để hiến cúng Đức Phật và dâng đến những tâm hồn đã từng khóc cười với Phật Giáo Việt Nam. 

  Lý Nguyên Quân

Những ngày cuối năm 1996.

 

 

 

PHẬT GIÁO: SINH LỘ CHO NHÂN LOẠI? 

TINH TIẾN 

Nhân Loại? Lịch sử thành văn ghi lại nhiều chiến tranh hơn hòa bình, nhiều áp bức hơn tự do, nhiều tranh chấp hơn đối thoại… Có thể nào khác được không khi Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác Kiến là sáu thuộc tính bản chất nhất của nhân thể, cũng có nghĩa là từ vô thỉ. Nhưng chỉ là vậy thôi sao, khi nhân loại cũng là Phật tính, là Bồ Tát Hạnh, là các tâm sở Dục như khát vọng tới lý tưởng, Thắng Giải như khả năng Chính Tri, Tinh Tiến như nỗ lực tự vượt mình, Định Tuệ như giải pháp toàn năng… Tương quan của hai thiên hướng nội tại này, hai lực đẩy câu sinh này trong thời đại hiện nay và triển vọng trong thế kỷ 21 sẽ ra sao?

Hãy nhìn thẳng, với mức độ Chân lượng tối đa, vào những gì đưa tới hiện trạng của nền Văn Minh Nhân Loại trong những thập niên cuối này, vì thế có nhiều khả năng và trên nhiều vị thế được kéo dài và khuếch đại cho những năm sau 2000. Muốn viện dẫn cái gì đi nữa, muốn huênh hoang kiểu nào đi nữa, dù truyền thống văn hóa, dù giá trị Châu Á, dù minh triết Phương Đông,… thực tế là toàn cầu đang sống dưới dấu ấn của nền Văn Minh Phương Tây hiện hình trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa, … nghĩa là trên các lĩnh vực chủ đạo của hiện thực nhân sinh.

Vậy thì ta buộc phải bước nhanh trở xuôi từ…

Thời Trung Cổ Châu Âu đặc trưng hóa bởi sự bỏ quên con người như một cứu cánh cho các hoạt động của chính họ, sao nhãng con người như một homo sapiens đối trước những thách thức của Tự Nhiên. Cái gì mâu thuẫn với Tự Nhiên, cái ấy sớm muộn rồi ra cũng sẽ tiêu vong. Vậy mà Con Người, tạm nói Tham, Nghi; tạm nói Sân, Ác Kiến; tạm nói Si, Mạn như những tiềm phục câu sinh của Chủ Nghĩa Cá Nhân, của lối sống thực dụng, của bạo lực cách mạng. Cho nên thời Phục Hưng, rồi thế kỷ Ánh Sáng, từng bước, qua đấu tranh bằng lý luận và qua lý luận bằng đấu tranh, đã phục hồi và đăng quang cái tư cách Cứu Cánh cái tính năng Lý Trí của Con Người. Trong giai đoạn vinh quang của sự Tiến Hóa chói lọi này, Pascal, Berkeley đã dịch sao lại Lock, Descartes được hỗ trợ cực kỳ hữu hiệu bởi Newton, Darwin. Vả chăng, trên hiện thực lịch sử, đường hướng duy lý và thực dụng, tinh thần nhân bản và duy vật, đã tự biện minh hùng hồn biết bao, qua biết bao những kỳ tích tiến hóa huy hoàng từ trên 300 năm nay trên các lĩnh vực cá nhân và cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Làm sao khoa học tự nhiên có thể lớn mạnh đủ để giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác cho Phúc Lợi của Con Người, hay cũng vậy, cho Ngũ Dục: Sắc, Tài, Danh, Thực, Thụy? Làm sao khoa học nhân văn lại có thể trưởng thành đủ để phát triển sâu rộng Dân Chủ, Tự Do, Bình Đẳng trong nội bộ quốc gia như những giải pháp cho cuộc xung đột giữa các tâm sở Phẫn, Hận, Não, Tật… và Giải Đãi, Phóng Dật, Thất Niệm, Bất Tín… nếu Con Người như một thực thể hiện sinh lại bốc hơi trong tư thế bao trùm của một Đấng Toàn Năng được đại diện bởi một thế lực xã hội có, ở đâu cũng vậy, và thời nào cũng thế, có tính Phàm nhiều hơn tính Thánh; nếu Con Người như một hữu thể nhận thức lại bị hóa giải trong ánh hào quang rực sáng của một Đấng Toàn Tri phát biểu qua một thẩm quyền phán quyết bất khả kháng?

Không thể chối bỏ được rằng trong hơn 300 năm qua, trên bình diện hiện sinh, nhân loại đã chế ngự được nhiều tai ương mà trước đó được xem là vô phương khắc phục như đói rét, bệnh tật,…; trên bình diện nhận thức, đã vén mở được bức màn che phủ các thế giới vi mô và siêu vĩ mô mà trước đó được xem là nằm ngoài cảnh giới của sáu Liễu Biệt Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, tức là ngoài toàn bộ (?) khả năng tri giác và trí tuệ của Con Người. Nhiên liệu vận hành các tiến bộ văn minh này được khai thác trong các kho thiên hướng ngũ dục và lý trí hướng ngoại; và khai thác ngày càng triệt để…

 

Trên lý thuyết, 

Ngũ Dục, đó là phương diện tác dụng của cấu tạo nhân thể “ngô hữu thân” định hình hóa trong khuôn đúc của Cộng Nghiệp và Biệt Nghiệp, hay nói một cách thô thiển theo khoa học, của thể chế xã hội và ADN. Lý trí hướng ngoại, đó là một phương thức phản xạ trí tuệ hay pháp chấp câu sinh và hậu đắc tạo dựng bởi Ý Thức hay Thức Thứ Sáu thao tác trên thông tin, tư liệu của tiền ngũ thức và dựa vào sự đạo diễn của Mạc-na (Manas) hay Thức Thứ Bảy. Ngũ Dục không tự ấn định cho nó một ranh giới cuối cùng và con người hiện đại say sưa buông thả vô hạn độ trong đại dương cực phân biệt của xã hội tiêu thụ. Lý trí hướng ngoại ngày một Mạn và Kiêu trước những thành tích chói lọi thu hoạch trên con đường Làm Chủ Tự Nhiên của nó, từ đó sự tương xung tương khắc ngày càng ác liệt giữa Con Người và, hay cái tưởng đâu là Trí Tuệ Nhân Loại và bên đối tác, Tự Nhiên khách quan.

Ngũ Dục nơi mỗi cá nhân, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Nhân Quyền; Ngũ Dục nơi mỗi cộng đồng, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Tự Quyết, không dễ gì tìm ra cách thỏa mãn, ngoài con đường xung đột vũ trang và chưa vũ trang, đừng nói vội sự thỏa mãn nọ tất yếu đẻ ra truy cầu kia, và cứ thế, cứ thế cho đến một ngày “đẹp trời” Ngũ Dục của tất cả được hóa giải trong chiếc “nấm” Ngũ Dục mà một nhóm điên khùng dựng lên dưới chiêu bài văn minh, tôn giáo, chính nghĩa, chủ quyền… Ngũ Dục được vuốt ve, chiều chuộng ngày một âu yếm hơn, mặc nhiên tự đồng nhất hoá với Văn Minh, dưới sức nặng thuyết phục cực lớn đến nỗi dường như không còn cách nào cho phương châm thiểu dục của Lão Tử, diệt dục của Đức Thích Ca có cơ may cất lên được tiếng nói, dù chỉ thều thào.

Lý Trí hướng ngoại, bên cạnh kỳ tích thượng tri thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự, bằng những thành tựu ngoại thân hóa của nó, tức là những computer trí tuệ, đang ngày càng được tôn vinh như một quyền năng không bị hạn cục trong bất kỳ một khuôn viên nào từ sự truy tìm Chân Lý. Đồng thời, mỉa mai thay, và cũng đáng đời thay, đang tự ngày càng xói mòn bản thân nó: cần gì nữa sự rèn luyện trí năng một khi robot có thể làm thay và làm tốt hơn.

 

Và trên thực địa, 

Các thành viên của nhóm G7, mục tiêu lý tưởng cho phần còn lại của nhân loại, không phải là thiên đường cho các chủ thể cấu thành: tội ác, bạo lực, ma túy, Sida, gia đình phân rã, đức tin tiêu vong, đạo đức tàn lụi, lý tưởng thiếu vắng… Kể gì đến phần còn lại, ở đây, nếu không muốn nói, còn tệ hơn.

Làm sao khác được nếu Con Người chỉ chuyên chú vào Ngũ Dục như lý do tồn tại của nó, các Ngũ Dục hoặc không được thỏa mãn và không bao giờ được thỏa mãn đầy đủ, hoặc chính nó thị hiện qua các hiện tượng. Tội ác ư? Đó là Tài; Sida ư? Đó là Sắc; Ma túy ư? Đó là Thụy; Bạo lực ư? Đó là Danh; Trọng bệnh ư? Đó là Thực. Hoặc lẫn lộn, và lẫn lộn trong gia đình, đức tin, đạo đức, lý tưởng. 

Nói riêng Bạo Lực. Phải chăng bạo lực chỉ giới hạn trong một chiếc ô tô đầy ắp chất nổ quy ước TNT đủ làm sập cả một cao ốc ở Oklahoma City, Colombo… trong những tràng tiểu liên hoặc tiếng nổ của một quả lựu đạn trên một đường phố ở Alger, Cairo,… hay vì nhân loại đang tiến cực nhanh trên con đường công nghệ dân sự cung cấp trở lại cho công nghệ quân sự, vật liệu làm bom nguyên tử cỡ nhỏ, như kết quả của xu hướng phi hàng loạt hóa (demassification) sản xuất, có thể tìm mua ngay… ở đầu phố, theo đúng thông báo của Builden, chuyên gia về vũ khí hạt nhân: “nếu không phải trong đời tôi, thì có thể trong một tương lai gần, vũ khí hạt nhân sẽ được phổ biến đến tận tay cá nhân, có thể các cá nhân sẽ chế tạo được vũ khí hạt nhân bằng nguyên liệu đang lưu hành trên thị trường thương mại”, và nhân loại văn minh đương đại thiếu gì Trọc Đầu, Báo Đen, Hổ Tamil… 

Ngũ Dục, dưới tấm khăn phủ hữu phú loè loẹt màu chính nghĩa là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, phú cường tổ quốc, thị hiện trên đường hướng không ai dám phản bác để chuốc lấy danh vị phản bội, ít nữa mất gốc, và từ đó, và đồng thời cùng với cái bóng của nó, sự hủy diệt cân bằng sinh thái, sự ô nhiễm môi trường sống còn, sự phá vỡ thượng tầng ozon, sự thù địch trong quan hệ xã hội, sự vị kỷ trong nếp nghĩ và ứng xử… Con Người của Ngũ Dục, của xã hội tiêu thụ, của phát triển kinh tế,… có thể nào hợp lý hóa Ý Thức của họ về những hiểm họa đang đè nặng lên một Trái Đất đang lâm nguy và đang hẹp dần bằng những lời kêu gọi vu vơ, hàm hồ, lỗi thời của Thanh Tâm, của Quả Dục, của Ngũ Giới, của Thập Hạnh Balamật. Lý Trí… Hữu Phú sao được! Một khi nhờ tính năng này Con Người vượt lên đứng đầu muôn loài và có tham vọng tranh ngôi bá chủ với Thượng Đế.

Hãy tạm xét thành tích của Lý Trí hay Trí Tuệ Hướng Ngoại trên ba bình diện:

-  Quốc Nội: bởi vì một trong hai thuộc tính của Lý Trí là truy cầu cái Lợi, cái lợi cho bản thân, cho phe nhóm, cho giai cấp (nặng tính lý thuyết), cho dân tộc (như một ngộ nhận). Cái lợi được thực hiện thường xuyên và “hồn nhiên” qua “cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”, chi tiết hóa trên xung đột giữa cá nhân, giữa phe nhóm, những giai cấp một bên, trong khuôn viên của một cộng đồng, cực đoan dưới hình thức cách mạng, nhiều lúc dưới là cờ “phải đạo” của một Nhà Nước tập quyền bá đạo hay cực tri, một bên trên trường….

-  Quốc tế: qua xung đột quốc gia với quốc gia, liên minh tung với liên minh hoành. Quan hệ giữa các quốc gia được tiêu chuẩn hóa trước hết và trên hết trên tình trạng chiến tranh hay hòa bình. Mà chiến tranh thì khỏi nói, phi lý và ngu xuẩn đã rành rành, chẳng thế mà cùng với Lý Trí của toàn nhân loại văn minh, Lý trí của một H.G. Well, năm 1914 ngay trên cửa ngỏ của Thế Chiến I: “Không có gì rõ ràng hơn đối với con người đầu thế kỷ XX là việc chiến tranh sẽ nhanh chóng trở thành điều không thể có được”; của một Henry Ford, năm 1928, gần đúng một giáp trước Thế Chiến II: “Con Người đang trở nên quá thông minh nên không thể để xảy ra một cuộc chiến tranh lớn khác nữa”. Và thảm hại hơn nữa, mới đây thôi, với sự hỗ trợ của đủ loại computer toàn năng, sau khi “bức tường Berlin” sụp đổ và chiến tranh lạnh giữa “Đế Quốc” và “Dân Chủ” tàn lụi, niềm hy vọng của lý trí, của niềm tự hào của Con Người, đã nhanh chóng nhường chỗ cho một tình thế rất bi quan của … của hiện thực; từ đó nỗi nuối tiếc một thời Nhị Phân… dù sao xác xuất sống còn của nhân loại còn đủ lớn trong những bàn tay của Lý Trí siêu cường. Nuối tiếc vô lý, vì sớm muộn gì, bất kỳ quốc gia nào, ngay cả khi nó đang chết đói, vẫn có thể tống tiền, bắt chẹt phần còn lại của thế giới bằng thói bần cùng liều thân của một Chí Phèo hạt nhân hóa, dù là một thứ hạt nhân hóa hạng bét. 

Tính chất Chính Trị của hai phần trên có tính ngàn đời, nhưng ít nữa về lâu về dài, không thể có sắc thái biệt lập với cái sắc thái nhân học đang chịu những biến động cực lớn có nguy cơ làm thay đổi cả cấu trúc sinh hóa của nhân thể. 

-  Đặc thù của Hiện Đại: Nếu Lý Trí Hướng Ngoại không loại trừ nhận thức về mối liên hệ công sinh như một điều kiện căn bản cho tồn tại cá nhân thì, trong hiện thực của những cộng đồng hiện đại đang ngày càng manh múng về mặt cấu trúc như hậu quả của xu thế manh múng trên các lĩnh vực sản xuất, thông tin, tín ngưỡng, văn hóa, giáo dục… nó khó tránh khỏi tác động của một thúc đẩy tách rời nó ra khỏi mối liên hệ cộng sinh. Hiện tượng này càng được tăng cường bởi tính phù du ngày càng rõ nét của mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với đồ dùng và nơi cư ngụ, bởi tính độc lập của con người đối với các cơ chế mà trước kia có ý nghĩa sống còn. Cái liên hệ mật thiết nhất, liên hệ trong hôn nhân, đang rã rời qua số liệu ly dị, qua các hình thức hôn nhân không đăng ký (concubinage), hôn nhân theo hợp đồng, theo nhóm, cả giữa những người đồng tính. Cái liên hệ thiêng liêng nhất, tưởng đâu là tự nhiên cũng bị phi tự nhiên hóa là tình mẫu tử, đang bị pha loãng trong một nghề nghiệp mới, nghề làm cha mẹ chuyên nghiệp, mà lý do phát sinh là nhằm giúp các bậc cha mẹ sinh học có nhiều thời gian hơn cho… họ.  

Tiến bộ khoa học, kỹ thuật đẩy nhanh tốc độ sản xuất và nhịp độ đổi mới hàng tiêu dùng đến mức ngày nay hầu như  bất cứ  đồ  vật nào đặt vào tay người tiêu dùng chỉ để vứt vào sọt rác một thời gian ngắn sau. Ý niệm sở hữu phai nhạt cùng với những tình cảm đối với nơi mà có cả trăm lý do khiến người ta phải hay muốn rời bỏ sau một thời lượng cư trú ít nhiều dài ngắn. Cũng chính nhờ tính năng, hiệu năng, của nền sản xuất phi hàng loạt hóa, trực tiếp ảnh hưởng lên quyền hạn của các tổ chức của giới chủ, của Nhà Nước quan liêu và mệnh lệnh, mà con người tìm được những mảnh đất cho tự do ngày càng rộng thoáng hơn. Cái ý nghĩa quan trọng nhất và khẩn cấp nhất, trong mọi ý nghĩa có thể tìm ra từ hiện thực trên, ấy là… 

Nếu sang thế kỷ 21 Nhân Loại có thể không phạm phải cái ngu xuẩn lớn nhất là cuộc xung đột hạt nhân giữa các quốc gia - một điều cho tới nay không mấy chắc chắn, vì trên đống gạch vữa của Bức Tường Berlin, đã rất nhanh hiện rõ tham vọng bá quyền của… , chúng tôi rất tán thưởng quan điểm của ẩn sĩ Hammoud về sự sổ lồng của các âm hồn tà giáo – thì một hiểm họa mới, ngay bây giờ đây, đã thế chỗ rồi: nó còn trầm trọng hơn cái mà Huntington đã giả định, sự đụng độ giữa các nền văn minh, nó… chúng tôi muốn nói tới hiểm họa về một nhân loại vô chính phủ, về cái mà Vivekananda đã gọi là thể hỗn hống (amalgame) và giờ đây trở thành cực bác tạp, cực ô trọc hay PHÂN BIỆT. Tình hình là như vậy đó khi ta nghĩ đến các nhóm sắc tộc Kurd, Tchéchène, Tamil, Serbe, Croate, Bosnia… kể  cả những hình thức mới trong những nước văn minh của Lữ Đoàn Đỏ Ý, “Con Đường Sáng” Perou, khi ta nghĩ đến những tai họa khủng bố đã xảy ra rồi trên bầu trời, dưới mặt biển và sẽ dứt khoát xảy ra cả trên siêu xa lộ thông tin mà dấu hiệu báo trước là những đàn virus điện tử đang đe dọa nhiều cơ quan Nhà Nước, tổ chức tư nhân; khi ta nghĩ đến những stress mà từ đó cuộc sống vũ bão hiện đại sẽ làm nảy sinh những anh điên, chị khùng, có trong tay không chỉ hơi độc sarin (theo Seaquist, chiến lược gia ở Bộ Quốc Phòng Mỹ: “một xí nghiệp hóa dược cũng có khả năng chế tạo vũ khí sinh học”), và rồi đây cả những trái mìn siêu nhỏ tự tái sinh và v.v…. Cho nên…, nhưng còn quá hẹp hòi và lạc quan, Warren Christopher cảnh cáo: “Nếu chúng ta không tìm ra được biện pháp nào đó để các nhóm sắc tộc khác nhau có thể chung sống trong một đất nước… thì chúng ta sẽ có 5000 quốc gia, so với trên 100 như chúng ta hiện có”. Biện pháp nào? Hơn nữa rõ ràng Ngoại Trưởng Mỹ mới chỉ xem xét mặt chính trị của vấn đề. Bao quát hơn, trong cuộc gặp mặt giữa các cựu nguyên thủ quốc gia ở Colorado Springs, tháng 10-1995, cố Tổng Thống Pháp F. Mitterand nhận định: “Điều tuyệt đối cần cấp là năm 2000 phải định ra được các quyền của những nhóm thiểu số… Nếu không chúng ta sẽ chứng kiến sự tan rã và phân hủy rộng lớn, mà không ai còn đứng ngoài được nữa”. 

Và quan trọng hơn, cấp bách hơn và trực tiếp liên quan tới cuộc hội thảo này, khi ta nghĩ đến những giáo phái Davidiens, Hamas, “Đền Thờ Mặt Trời”, Aum Shinrikyo… đang mọc lên như nấm khắp mọi hang cùng ngõ hẻm. Giáo phái… Tôn Giáo… Tại sao vậy và ý nghĩa gì? 

 

Nói đến Tôn Giáo…, trước hết và một cách phổ biến, đó là niềm tin vào sự hiện hữu của Đấng Thượng Đế được quan niệm qua hình tượng và tính cách con người lý tưởng hóa cực điểm. Đấng Thượng Đế, với tư cách ấy, “buộc” phải sáng tạo ra toàn bộ cái vũ trụ hiện thực này, và “buộc” phải có quyền lực tuyệt đối lên bất kỳ cái gì nằm trong vũ trụ ấy. Đồng thời, về sự hiện hữu của Linh Hồn như một sở thuộc của mỗi cá nhân, đặc trưng hóa cá nhân ấy và tồn tại vĩnh hằng. 

Niềm tin này được trình bày lại và chi tiết hóa cho các mặt tâm linh và thế tục trong một hệ thống giáo điều nối tiếp nhau ít nhiều logic, bởi những tổ chức xã hội, một số rất nhanh chóng trở thành những thế lực xã hội hùng mạnh mà các tâm sở tham, mạn, sân, tật, san, phẫn, biên kiến, kiến thủ… nổi trội hơn nhiều lần các tâm sở tàm, quý, tinh tiến, vô tham, vô sân, bất hại, hành xả… mặc dù họ vẫn luôn luôn nhắc nhở, đòi hỏi các tín đồ phải trì giới nghiêm khắc, mà giới thì ở tôn giáo nào cũng vậy, đều ít nhiều đồng nghĩa với các tâm sở thiện, cũng là các biện pháp phòng ngừa, khống chế Ngũ Dục. 

Là đồng minh rất gần gũi, có thể gọi là nguồn dự trữ chiến lược của tôn giáo, mặc dù vẫn thường xuyên bị tôn giáo chối bỏ, hất hủi một cách hết sực khinh bỉ và Cực Kỳ Phi lý (!), mê tín dị đoan cũng tự định nghĩa trên niềm tin và sự hiện hữu của các sức mạnh siêu tự nhiên, những hữu thể siêu tự nhiên theo nghĩa không thể, về phía con người, tùy ý tri giác trực tiếp bằng các giác quan hoặc những công cụ khuếch đại, nhưng lại có thể gây nên những tác động vào sự sống còn của mỗi người thông qua những thủ pháp mà trình tự nhân quả không nằm trong tri thức duy lý khoa học. Niềm tin loại này rất phổ biến trong nhân loại tuy có nồng độ rất khác nhau và không được “chủ thuyết hóa” bởi một lực xã hội nào và nhất là thường không bày tỏ một quan điểm cụ thể về một Thượng Đế “có tên họ”, hình như bởi vì đó là tàn dư của giai đoạn vật linh luận và phiếm thần luận. 

Sự đăng quang của Lý Trí Hướng Ngoại lên ngôi thống trị Trí Tuệ đã thực hiện được trong 300 năm qua những kỳ tích chói lọi của Khoa Học và Kỹ Thuật, đã xây dựng được những xã hội công dân dân chủ và tự do, những phẩm chất xứng đáng nhất của con người với tư cách sinh vật xã hội; cả hai tổng hợp vào nửa sau của thế kỷ 20, trong xã hội tiêu thụ, lúc đầu như một thành công bất khả phản bác của những tư tưởng Ánh Sáng, rồi rất nhanh như những hiểm họa tiềm phục mà chính những tư tưởng ấy phải trả giá. 

Và trước hết, tất cả đều có ý nghĩa, đều có tác dụng đẩy lùi Thượng Đế, và cùng với Ngài, “đẩy lùi các tôn giáo vào bóng tối”. Tình hình là như vậy, và không thể khác được; vài tiếng nói lẻ tẻ từ Pascal đến Einstein, từ Schopenhauer đến Bergson, lại là tiếng nói của Thế Trí Biện Thông (trừ Pascal) không thể vực tôn giáo khỏi sự tàn lụi của nó, bởi vì: 

-                Trên mặt Lý: Tôn giáo phải có Thượng Đế, Thượng Đế là Đấng Sáng Tạo, Sáng Tạo là sáng tạo trong thời gian, có nghĩa là Thượng Đế tồn tại trong thời gian, và người ta tự hỏi, trước thời điểm bắt đầu Sáng Tạo, Ngài làm gì? Thượng Đế có quyền lực tuyệt đối lên Vạn Vật – lên vạn vật là lên vạn vật trong không gian, có nghĩa là Thượng Đế tồn tại trong không gian và người ta tự hỏi, trước thời điểm Sáng Tạo, Ngài ở đâu? Chưa kể quyền lực dựa trên phán xét, sự triền phược vào một thể vô định hình là Thị Phi! là Thiện Ác! 

-                Trên mặt Sự: Bằng những lập luận có đằng sau nó cả loạt thực nghiệm chính xác và chặt chẽ, có đằng trước nó sức mạnh của chính những lập luận ấy vật chất hóa, khoa học đã buộc tôn giáo phải từ bỏ, chí ít phải hiệu chỉnh hết giáo điều này đến giáo điều khác mà ngày xưa nó đã dại dột chi tiết hóa và khẳng quyết quá sớm. Đồng thời trước những vấn nạn nóng bỏng của nhân loại, tư duy duy lý khoa học đã đẩy nhiều tôn giáo vào thế lấn bấn, lúng túng, như hiện thân của sự bất lực và vô năng, giữa giải pháp và giáo điều. Ngoài ra, vì Dân Chủ và Tự Do không hề kiêng nể, dè mặt bất kỳ ai, dù Thánh hay Phàm, vậy mà tôn giáo nào cũng đều muốn quảng bá đạo học của mình, mở rộng quần chúng tín đồ, do đó phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học (!) do đó phải có một hệ thống lãnh đạo quan liêu, do đó… thôi thì… cho nên… Và trong cả trăm, cả ngàn những tệ hại, tạm nói cái bé nhất mà Krisnamurti đã phát hiện từ lâu “Ngày nay may ra Phật Giáo chỉ còn tồn tại ở những nơi không có bóng dáng Thượng Đế”. 

Cho nên từ Friedrich Nietzsche (1844-1900) Thượng Đế đã chết, và cách nay vài ba thập kỷ, người ta đã tính chuyện thành lập khoa Thần Học về cái Chết của Thượng Đế. Dĩ nhiên cùng với Ngài, cả tôn giáo vốn lấy Ngài làm lý do tồn tại. Và như vậy tất cả đều quá hợp lý! Có điều… Lý Trí Khoa Học chưa hề bao giờ vét cạn được hiện thực nhân sinh và vũ trụ. Cho nên… và Chứng cớ là… 

Trong vài ba thập kỷ qua, nhân loại đã chứng kiến vụ bội thu của hàng vạn, hàng chục vạn những giáo phái trong các nước đang dẫn đầu nền văn minh hiện đại, tức là văn minh khoa học, duy lý và vật chất chủ nghĩa. Có những giáo phái đã trở thành nguy hiểm cho an toàn và ổn định của cả một quốc gia; có những giáo phái đã tiến lên chiếm vị trí trọng yếu về mặt ảnh hưởng và quyền lực đối với xã hội. Aum Shinrikyo làm nảy sinh vấn đề an ninh không chỉ trong phạm vi một đất nước; và Ikeda, người cầm đầu giáo phái Soka Gakkai được đánh giá là nhân vật có thế lực nhất ở Nhật: tổ chức Cứu Rỗi Toàn Thống đang thách thức sự sống còn của Nhà Nước Algérie… Cạnh đó, cả một quốc gia, cả một khu vực nữa, Iran, Iraq, Khối Hồi Giáo, Khối Nho Giáo,…. Đã 10 năm rồi, bản án tử hình vẫn lủng lẳng trên đầu người công dân của nước Anh Salmon Rushdie như một cái tát vào mặt nền Văn Minh Đương Đại, Duy Lý và Pháp Trị; và việc trục xuất Talisman Nasrin ra khỏi tổ quốc của bà dù sao cũng phải được xem như dấu hiệu của sự đồng thanh tương ứng. Và tuy phải đạo hơn và ôn hòa hơn, Lý Quang Diệu hay Mohamed Matin có ý nghĩa gì nếu không phải cũng là những manh nha… Cho nên ở nhiều nơi trong thế giới Văn Minh đương đại, người ta, những nhà khoa học hay những người có tư duy khoa học, đang phải xem xét rất nghiêm túc một vấn đề rất khẩn trương: “Sự Phục Thù của Chúa” đang thị hiện vào những năm cuối của thế kỷ này và chắc chắn sẽ được thi hành ác liệt và tàn bạo hơn nhiều. 

Không phải là nhà khoa học, cũng không phải là người có tư duy khoa học, chúng tôi cũng không thấy trong những hiện tượng trên, dấu hiệu cho sự phục thù của Chúa; chỉ thấy ở đó dấu hiệu, dù đôi lúc và đôi nơi, có nhuốm sắc màu ảm đạm, cho khuynh hướng đi về tâm linh của nhân loại. Thực ra, đợi chi cho đến những năm này! Ngay từ đầu thế kỷ 20, Charles Lancelin đã tiên đoán “Khoa Học Huyền Bí sẽ là khoa học của thế kỷ 20”. Và rồi trước khi “thế kỷ 21 là Thế Kỷ Tâm Linh”, George Velgel đã thông báo: “Phi thế tục hóa thế giới là một trong những hiện tượng xã hội nổi bật của thế kỷ 20”. 

Chứng cớ, đó là sự kiện, và thế đã quá đủ. Tuy nhiên chúng ta có thể “bàn chơi” về Tại Sao và Thế Nào vậy. 

- Nếu Khoa Học một mặt cứ khư khư tinh thần quyết định luận của Vật Lý Newton và tinh thần bài trung của logic Aristote mà, hoặc chính vì thế vẫn, hoặc không vì thế không, tiếp tục tiến lên đánh đâu thắng đó trên khắp các trận địa của hiện thực nhân sinh thì quả thực tôn giáo còn phải ấp a, ấp úng, gãi đầu gãi tai tự bào chữa cho quyền sống của nó trước tòa án của Trí Tuệ Nhân Loại như nó từng làm thế từ thời Phục Hưng đến đầu thế kỷ 20. Song, từ thuyết Tương Đối trở lại nay, người ta không còn tìm đâu ra được cái thái độ tự chủ đầy ngạo mạn của Laplace, trái lại, dễ dàng nhận ra ở khắp nơi, hoặc một R. Feynman “Khoa học chẳng cho ta biết cái gì hết…, chẳng chứng minh cái gì hết”, hoặc một D. Hilbert “Trong Toán học, người ta không biết người ta đang nói cái gì và những điều người ta nói có đúng không”, hoặc một A. Zadeh, hoặc một Heisenberg… nhất là Heisenberg: Nguyên Lý Bất Định giáng một đòn chí tử vào quyền độc tôn của Khoa Học với tư cách những phán quyết sắt thép và đơn trị. Nói cách khác, chính khoa học thế kỷ 20 đã thu hẹp vương quốc của Tất Yếu bằng sự thừa nhận đế quốc của Ngẫu Nhiên. Cũng là tự thu hẹp quyền lực và oai phong của chính nó và mặc nhiên cho phép mọi khả năng cơ hội hiện thực. Từ đó cái Vô Lý của Tôn Giáo không còn là một luận cứ đủ để phản bát quyền tồn tại của Tôn Giáo. 

Lại càng như vậy, cái Vô Lý của Thượng Đế. Ngược lại là đằng khác. Chính Khoa Học đôi lúc không khỏi… “Ôi! Thời oanh liệt.. ôi Feuerbach, ôi Karl Marx…”. Chẳng hạn, gần đây nhất, góp phần vào một bản hợp tấu bắt đầu cũng đã lâu rồi, nhà bác học nổi tiếng thế giới Trịnh Xuân Thuận rất tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế chỉ bởi vì, dựa vào tính toán của ông và các đồng nghiệp, vũ trụ này đã được tạo dựng theo một chương trình được thi công chính xác đến từng một phần tỷ tỷ giây. Để đảm bảo được sự chính xác kinh khủng này – kinh khủng đối với ai? một giây mà đã là ngắn à? “Một satna bao gồm toàn bộ thời gian từ vô thỉ đến vô chung” - phải có một Đấng Thượng Đế đứng ra chủ trì chứ không thể mặc nhiên giao phó cho Ngẫu Nhiên được. Thì ra nhà bác học rất tài năng và đạo đức ấy, vốn sợ Ngẫu Nhiên như nước sợ Chân Không, tin rằng Thượng Đế có thực vì Ngài rất giỏi, giỏi bằng Con Người: chẳng phải cái gọi là chính xác đến một phần tỷ tỷ tỷ ấy chính là sản phẩm của Con Người, thậm chí của một số người nào đó hay sao? Mà những người này thì quá thật đến nỗi câu hỏi “Tôi là Ai?” trở thành quá lố đối với họ! Thêm nữa chẳng phải chính Trịnh Xuân Thuận đã khẳng định ngay trên bìa cuốn sách: Và Con Người đã tạo ra Vũ Trụ! - Thế kỷ 20 là thế kỷ của thông tin, của giao lưu và kỹ thuật trắc nghiệm. Chính trong tình hình này mà nhiều hiện tượng mới gần gần đây thôi còn bị Khoa Học, và những người theo đuôi nó, đáng chú ý nhất là Tôn Giáo, ném thẳng tay vào sọt rác của mê tín dị đoan mà không cần xem xét thật giả gì hết, giờ đây lại được lôi ra, rồi kiểm tra, rồi đo đạc, rồi thí nghiệm, và cuối cùng trong nhiều trường hợp người ta buộc phải rụt rè công nhận “khoa học chưa giải thích được” thay vì nói thẳng ra và ít ngu xuẩn hơn “nằm ngoài logic khoa học.” 

Từ đó, người bạn đồng minh trung thành, tuy thường bị rẻ rúng, của tôn giáo, dần dần ngẩng cao đầu, nói năng đàng hoàng với thiên hạ, tuy nhiều lúc, do tự ti lâu năm lại thêm ít học, cứ tự làm mình lố bịch bằng cách vay mượn dăm ba chiếc lá nho khoa học rất rẻ tiền. Cũng có nghĩa là Tôn Giáo giờ đây đã hiểu ra hoặc phải hiểu ra rằng nó không cần quá rụt rè, khúm núm trước Khoa Học nữa mà cần hiên ngang hơn, tự tin hơn, đứng vững hai chân trên mảnh đất của nó. 

-                Thế kỷ 20, trong toàn bộ nền văn minh nhân loại đến lúc đó, là đỉnh cao nhất của những thành tích kỳ vĩ mà Khoa Học và Kỹ Thuật đã thực hiện trên hiện thực cũng đủ làm các tôn giáo phải kính nể, đồng thời cũng là đỉnh cao của biết bao nhiêu cái… chúng tôi đã sơ sơ nói qua một vài chi tiết. Và thế kỷ ấy, kiêu mạn là thế, lại đang sắp kết thức trong hồi chuông róng rả báo tin Chúa đang trở lại, Chúa tái sinh, và kinh khủng hơn hết, Chúa… phục thù! 

Chúng ta vừa bàn chơi ba động lực của khuynh hướng về tâm linh nhưng có một sự kiện không phải là nói chơi, đó là Tôn Giáo, bất kỳ tôn giáo nào, không hề tham gia tí nào vào sự hình thành bất kỳ một động lực nào trong ba động lực trên, bất kỳ… kể cả Phật Giáo. Mặc dù cả ba động lực ấy đều tìm được đáp án, vượt quá cả nội dung mà con người hiện đại đặt ra cho chúng trong kinh luận của Nhà Phật. 

Trong tất cả các tôn giáo, các hệ tư tưởng duy tâm, duy nhất chỉ có Đạo Phật đã làm được điều cực kỳ vĩ đại, đủ vô hiệu hóa mọi thách thức của Trí Tuệ Con Người trong mọi thời đại, trước mắt trong thế kỷ 21, ngay cả với mọi giả định về sự phát triển không thể hình dung được của Khoa Học và Kỹ Thuật, ấy là Đạo Phật đã phủ định: Thượng Đế như nguyên nhân đầu tiên của Tồn Tại

Và  Linh Hồn như sở thuộc cá nhân, như lý do cho tín ngưỡng và tu tập. 

Mỗi nền Văn Minh đều hình dung Thượng Đế trong một mô hình riêng, có tính đặc thù về các mặt truyền thống, dân tộc, địa lý, lịch sử, … Thượng Đế Brahma hay Ishvara của người Ấn Độ, Đức Thích Ca tuy có thừa nhận chức năng coi sóc vũ trụ của Ngài, cái vũ trụ trong tri kiến của chúng sinh trong cõi Ta Bà, nhưng Đức Phật không đánh giá Ngài cao lắm, vẫn xếp Ngài vào giỏ Lục Đạo liên tục rỉ chảy vào vòng Luân Hồi; chính bản thân Thượng Đế này cũng tự phản tỉnh tính hạn chế của mình nên Ngài vẫn thường xuyên đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Vậy ai đóng vai Thượng Đế Toàn Năng Toàn Tri bây giờ? 

Mặc dù Đức Thích Ca đã nói trắng ra, không úp mở, vòng vo, bóng gió: “Thiên thượng, thiên hạ duy Ngã độc tôn” mặc dù cái tài tính toán chính xác và sắp xếp chi li trong vòng 10-43 giây sau bức tường Planck chẳng ăn nhằm gì so với “Như Lai… cho đến giọt nước ở ngoài hằng sa thế giới, cũng biết số mục, không rời nơi đạo trường mà hiện khắp cả Mười Phương Thế Giới”,

“Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận ;

Trên đầu một mảnh lông hiện ra các cõi nước, ngồi trong một hạt bụi mà chuyển Đại Pháp Luân” 

nhưng Đức Phật lại không tự cho mình cái tư cách sáng thế, không phải vì Người, thái Tử Sidartha, dòng họ Gautama, con của Quốc Vương Suddhodana, mới sinh ra vào năm… nào có ăn nhằm gì với tuổi của vũ trụ ít nhất là 15 tỷ năm; đơn giản chỉ bởi vì… 

Đối trước cái vũ trụ quan sát được này (l’univers observable) – mà theo một giả thuyết thiên văn hiện đại về vũ trụ muôn thể (univers multiples) chỉ là một thứ bọt bèo (bulle) mất tăm trong một cái siêu vũ bọt bèo (bulle méta-univers), cái này đến lượt nó lại mất tăm trong… và cứ thế vô tận - Đức Phật có cái tư cách bình đẳng với bất kỳ một chúng sinh nào; nghĩa là một bộ phận? một thành phần? một mô hình thu nhỏ của Vũ Trụ. Không, toàn những câu chuyện trẻ con vì nó vẫn không giải quyết được vấn đề nguyên nhân, vần đề phát sinh. Ấy vậy mà và trái lại, Đức Phật, và cùng với Ngài mỗi người chúng ta, đều có cái Tư Cách SÁNG THẾ: “Núi sông, thế giới, và hư không đều là vật trong CHÂN TÂM hiện ra… Các ông thấy có núi, có sông, có thế giới, có chúng sinh vì các ông đều Mang Bệnh Nhặm Mắt (tức là Vô Minh ) từ vô thỉ… Toàn thể các chúng sinh trong Mười Phương Thế Giới đều do Vô Minh Vọng Động từ vô thỉ nên cùng Vọng Tưởng có thế giới như thế, có chúng sinh như thế hiện ra”. 

Hãy tạm tưởng tượng con mắt của chúng ta có thể xuyên sâu vào cấu trúc nguyên tử của vạn pháp thì ta dễ hình dung, dễ tiếp cận tính chân lý tuyệt vời của khẳng định cực kỳ phi lý trên (!). Nhưng Đức Phật đâu thèm dừng lại ở mức nguyên tử, hay hạt quarks, hay gì gì đi nữa: “Cái giới hạn về sắc tướng đến Hạt Lân Hư là cùng tột. Nếu có thể làm phân rã hạt lân hư này một lần nữa thì sẽ có Hư Không”. Rõ ràng: “Tính của SẮC là CHÂN KHÔNG”. 

Cái Chân Không xuất hiện thay thế cho sự tiêu vong của Lân Hư như lượng tử của vật chất, và ta không khỏi liên tưởng đến thí nghiệm bắn phá hạt cơ bản mới đây nhất làm mất tiêu vật chất trong Trường Chân Không Vật Lý. Mà Vật Chất chính là Không Gian, vì ngày nay Không Gian không còn được quan niệm như cái Chứa trống rỗng mà như tính cách của vật chất: Vật Chất tạo ra Không Gian chứ không phải Không Gian chứa vật chất. 

Thế còn Thời Gian thì sao? Cái thành phần cấu tạo thứ hai của Vũ Trụ? Chẳng phải Đức Phật vẫn nói đến Luân Hồi, đến Nhân Duyên, đến Quả Báo… và tất cả đều tất yếu diễn ra trong thời gian chứ còn trong cái gì khác nữa: “Ta nói thuyết nhân duyên là đúng về phần sự tướng chỉ các pháp trong thế gian mà nói, chứ không phải chỉ do Lý Tính Tuyệt Đối vậy”. 

Giống như chúng ta đang sống nhởn nhơ trên Trái Đất này với giờ, với phút, với giây, có cái chính xác của vàng ròng, nhưng nếu ta rời khỏi Trái Đất với tốc độ gần bằng tốc độ tuyệt đối, hoặc lọt vào hố đen, hoặc vọt ra hố trắng… Đại khái các pháp trong thế gian và Lý Tính Tuyệt Đối khác nhau như vậy. Nhưng còn Tam Thế Chư Phật? Ông  Duy Ma Cật đã đỡ lời Đức Thích Ca: “Do văn tự thế tục ghi chép nên nói có ba đời chứ chẳng phải Bồ Đề (tức là Trí Tuệ Tối Thượng) có Đời Đã Qua, Đời Sẽ Tới và Đời Hiện Nay”. 

Tóm lại, qua ống kính Võ Phân Biệt của Trí Viên Thành Thực trên Vương Quốc của Chân Đế: “Cả cái Tự Nhiên ấy, cả cái Nhân Duyên ấy đều do CHÂN TÂM vọng động ra cả” Mà Chân Tâm thì ai chẳng có, ai chẳng là chính Nó: “Cái CHÂN TÂM CỦA ÔNG, sao ông không tự nhận lấy, lại cần ta chỉ CHÂN TÂM cho nữa?” 

Nó có dáng dấp của Linh Hồn mà thoát khỏi cái Vô Lý cực lớn là tính Cá Ngã vĩnh hằng. Còn Vọng Động? Đã là chuyện ảo, chuyện huyễn, như một giấc mơ, sao còn phải quá bận tâm đến Tại Sao hay Thế Nào, như ông Phú Lâu Na: “Chân Tâm bản nhiên thanh tịnh, vân hà hốt nhiên sinh sơn hà, đại địa?”.

Vậy là? bởi vì khoa học lý thuyết đang ngày càng, và không thể làm khác được, dấn bước trên con đường hóa giải hai thành tố cơ bản và duy nhất của Tồn Tại là Không Gian và Thời Gian, cho nên, không phải chỉ riêng cho thế kỷ 21 mà cho muôn đời sau này, Đạo Phật đã đem lại câu trả lời không bao giờ có thể vượt quá cho những câu hỏi về bản thể, về vũ trụ. Nhưng Con Người, nhưng chính chúng ta đang sống đây, có những nhu cầu trực tiếp, với những vấn đề cấp bách, trước những hiểm nguy gần kề mà phần trên chúng tôi đã điểm sơ sơ, tất cả còn khẩn thiết hơn, hiện thực hơn nhiều lần những vấn đề vũ trụ luận hay bản thể luận. Đạo Phật tuyệt vời thật, nhưng là tuyệt vời trong thế giới siêu việt cái cõi đời tầm thường mà quá thật này. Vậy nó có ích gì cho con người tầm thường và quá thực là chúng ta đây không?

Cái Vĩ Đại thứ hai của Đạo Phật là những đối sách rất thực dụng của nó cho con nguời trên Tục Đế, dựa trên mặt thứ hai, mặt Vọng của CHÂN TÂM: “Tính của KHÔNG là CHÂN SẮC”. 

Nếu chúng ta chưa vượt được trường hấp dẫn của những chủng tử hữu lậu đã huấn tập mà còn bị câu thúc bởi cấu tạo sinh lý, bởi phân tử ADN, bởi tri thức đã học hỏi, bởi cảnh quan văn hóa, lịch sử… nghĩa là bởi Kiếp Trược, Kiến Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sinh Trược…Nếu chúng ta vẫn tin rằng ta là cái Có Thật trước nhất, đối trước cái Có Thật khác là Thế Giới và Chúng Sinh thù địch nhiều hơn thân thiện, thì Đạo Phật còn chỉ ra một cái Có Thật không kém, đó là luận Nhân Quả, luật Luân Hồi. Đây là một răn đe, hoặc một động viên cho con người đang hướng thân, khẩu, ý của mình vào con đường Thập Ác hay Thập Thiện. Thiên Đường và Địa Ngục đều có thật hết, với những ai tin rằng có thật cái Ngũ Dục mà họ gắn bó và hành động và suy nghĩ dưới sức đẩy của sáu Căn Bản Phiền Não hay 21 Thiện Tâm Sở.

Tất nhiên Tôn Giáo nào cũng đều khuyên người ta làm ta làm điều thiện, tránh điều ác với một phần thưởng Thiên Đường hay một trừng phạt Địa Ngục mà chỉ Thượng Đế mới quyết định, và quyết định một lần là xong hẳn cho mỗi người. Đạo Phật cũng chỉ rõ những gì đang chờ đợi con người thiện và ác, những gì ấy không do sự áp đặt hay ban phát của ai hết mà chỉ đến với họ từ chính bản thân họ, và đến trên rất nhiều quốc độ - tam thiên Đại thiên thế giới – và đến dưới mười dạng sinh tồn: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, Atula, Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, trong một vòng tròn bất tuyệt cho sáu loại đầu. Như vậy, lời dạy của Đức Phật, rất phù hợp với phương hướng suy nghĩ của nhân loại văn minh vừa thừa nhận tính tất yếu, vừa thừa nhận tính tự do: con người không phải chỉ là một con rối trong tay của một cái Nghiệp như một tiền định mà còn là quyền tự do lựa chọn hoặc dừng Nghiệp hoặc chuyển Nghiệp.

Nhưng những hiện tượng này có thật không? Con người hiện đại có nhiều biện pháp trắc nghiệm, và Đức Phật đã chỉ ra một phương thức ngày càng chinh phục được Trí Tuệ Nhân Loại, đó là Tọa Thiền.

Chúng tôi không đề cập ở đây những lợi ích của Tọa Thiền cho đời sống hiện sinh mà ai cũng đã biết cả, cũng không đề cập tới hiệu lực của Tọa Thiền đối với sự thủ đắc các quyền năng siêu việt quy luật vật lý học mà ta dễ phải công nhận; chúng tôi chỉ muốn lướt nhanh cái tính năng giác ngộ từng phần mà Tọa Thiền đem lại cho hành giả về vấn đề cốt tử của con người, tức là vấn đề “Tôi là Ai”, từ đó Thế Giới này là gì, từ đó, sao lại khác được, chí ít một cuộc sống hòa bình, thăng tiến tâm linh trên Trái Đất này, bởi vì chúng tôi tin tưởng sắt đá rằng qua Tọa Thiền chúng ta sẽ từng bước thể nghiệm được, sinh nghiệm được nhận định bất hủ của ngài Milarepa: “Hai ngụy thuyết căn bản của tư tưởng con người: Tin vào thực tại của những gì chỉ thuộc về Hiện Tượng và tin vào sự hiện hữu của Bản Ngã”. 

Chúng tôi nghĩ rằng sự tiến hóa thế tục của Nhân Loại sẽ được đo và chỉ được đo bằng một loại thước, cái thước của Dân Chủ và Tự Do. Những phẩm chất ấy vốn dĩ lại nằm trong Đạo Phật nhiều hơn bất kỳ một hệ tư tưởng nào mà con người đã và sẽ nghĩ ra. Đức Phật, mặc dù tất cả những vinh danh Thế Tôn, Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng, Chính Biến Giác Tri, … vẫn khẳng định: “Ta là một vị Phật đã thành, các người là những vị Phật sẽ thành”,thành ở đâu? “Ta thành Phật trong Tâm Chúng Sinh”. 

Khi Ngài còn tại thế và đi truyền pháp, Ngài thường dùng “phương tiện” để giáo độ, từ đó ngay cả những lời dạy của Ngài cũng không được Ngài gán cho cái ý nghĩa của giáo huấn tuyệt đối: “Pháp của ta như bè để qua sông. Khi đã qua được sông rồi còn dùng bè làm gì nữa”. Như vậy Pháp của Phật chỉ có tác dụng của một gợi ý: “Các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi, mồi lửa vào Chính Pháp của ta”. 

Tinh thần Dân Chủ và Tự Do của Đạo Phật thực là vô địch, cho nên một người vốn chưa có danh vị Bồ Tát hay A La Hán, hay Thanh Văn, Duyên Giác, thậm chí cũng chẳng có địa vị trong giáo đoàn tăng lữ như các ông A Nan, Ca Diếp, Ưu Ba Ly,… mà vẫn có cái tư cách thuyết pháp cho tứ chúng, cho cả Bồ Tát, cả A La Hán, ngang bằng với Đức Phật, đó là Ngài cư sĩ áo trắng Duy Ma Cật. Mà Ngài lại toàn thuyết những pháp trái ngược với những lời dạy có tính kinh điển của Đức Thế Tôn, tỷ như: “Nếu Bồ Tát thi hành những việc trái đạo, đó là Bồ Tát thông đạt Đạo Phật”. Thông đạt đến mức: “Chẳng lìa dâm, nô,…; chẳng cắt si, ái…; chẳng thấy Phật, chẳng nghe Pháp; sáu sư ngoại đạo là thầy, kết bạn với chúng ma; chê Phật, khinh Pháp, chẳng nhập chúng Tăng”. 

Chúng tôi không bàn đến ở đây tinh thần tương đối luận của Ngài Duy Ma Cật, chỉ lưu ý rằng trong Tục Đế vốn có tính tương đối, mặc dù vậy Đạo Phật không hề là vương quốc của tùy tiện, hay chủ nghĩa hư vô: “Tuy hành lẽ Không, nhưng trồng các cội lành, tuy hành lẽ Vô Tướng nhưng độ các chúng sinh, tuy hành lẽ Vô Tác nhưng thị hiện thụ lấy thân sống, tuy hành lẽ Vô Khởi nhưng khởi tất cả các nết lành”. 

Với loại sơ cơ, lưỡi gươm luân hồi nhân quả lúc nào cũng lủng lẳng trên đầu họ như một răn đe; với loại lợi căn, Tọa Thiền có tác dụng của ánh sáng soi rọi phương tiện thiện xảo. Có lẽ vì chưa thấy rõ hiệu năng tuyệt đối của Tọa Thiền như phương pháp tu luyện cơ sở trên nguyên lý bao quát “Tam Giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức” và phương pháp truyền đạo theo tinh thần “phương tiện” cho từng đối tượng và trình độ, cho nên một con người (hết sức đáng kính) như Giáo Hoàng John Paul II vẫn tự cho phép mình phát biểu một nhận định rất đáng tiếc về đạo Phật.

Không ai cứu được con người, kể cả Đức Phật, ngoại trừ chính bản thân họ. Tương lai của Nhân Loại trong thế kỷ 21 sẽ ra sao? Đạo Phật chỉ là một gợi ý, dù có tính tối ưu vì phù hợp sát nhất với đường hướng tiến hóa của Trí Tuệ Nhân Loại, nhưng nó vẫn chẳng phải là một đảm bảo tuyết đối. Lại càng như vậy khi…

Thực sự, trên những tiêu chí “khoa học”, chúng tôi không đủ tư cách và hiểu biết để bàn về Đạo Phật trong hiện trạng và phương hướng triển vọng trong tương lai trên phạm vi thế giới. Ngay cả trên phạm vị quốc gia! Nhưng với tư cách một kẻ thất phu thành thực có đôi chút ý thức về “vũ trụ giai phận sự” và đã thấy, đã nghe, đã sống, chúng tôi vẫn mạnh dạn trình bày đôi điều suy nghĩ nông cạn và nhận xét phiến diện về tình hình Phật Giáo Việt Nam.

Trong vài thập kỷ qua, đất nước này đã trải qua nhiều biến động, cuốn hút một tôn giáo đứng ngoài tục giới như Phật Giáo vào dòng thác cuồng nộ của nó và do đó gây nên những phân biệt không đáng có trong nội bộ Phật Giáo vốn, trong cứu cánh, chỉ quan tâm đến cái khổ làm người theo nghĩa luân hồi và nhìn nhận vũ trụ này chỉ như một trò huyễn hóa “Bồ Tát quán chúng sinh như một vị ảo sư nhìn thấy người ảo hóa của mình”.

Căn cứ trên thực tiễn hành xử của giới tăng ni, chúng tôi được gặp không nhiều lắm các vị tu hành thấm nhuần cái yếu nghĩa đó của Đạo Phật, đủ không để mình sa đà vào những hoạt động thế tục và phù hoa không liên quan gì đến mục đích cứu độ của Phật Giáo. Từ đó, một hậu quả trực tiếp, gần như tất yếu, là hiện tượng trì giới thiếu nghiêm khắc khá phổ biến trong hàng ngũ Tăng Già. Mặc dù, trên mặt đời, trì giới là tư cách, là danh dự, là “quyền hành nghề” của người tu hành, cũng là của toàn thể Giáo Hội; trên mặt đạo, trì giới là yêu cầu số một, có tính bản thể cho Định, Tuệ hiện thực hóa, đặng tiến tới Cứu Cánh của Đạo. Vì vậy việc đầu tiên phải làm cho mọi Giáo Hội Phật Giáo hay Hội Phật giáo, danh xưng là gì đi nữa, là phải thanh lọc triệt để hàng ngũ tăng ni trên tiêu chuẩn trì giới, thay vì nói quá nhiều đến những vấn đề chung cục chỉ có tác dụng tha hóa người tu hành trên cả hai lĩnh vực Lý và Sự.

Ngay cả những vấn đề nội bộ, tức là liên quan đến Tiểu Thừa và Đại Thừa. Chúng tôi nghĩ rằng nếu như bằng cỗ xe nhỏ mỗi cá nhân nhà tu hành có khả năng hiện thực để đi đến những cấp bậc nào đó chỉ của thế giới hiện tượng thôi, chưa dám nói đến Niết Bán, Tịnh Thổ chi cả, trên những nẻo đường của Thiền Định, là điều có thể quan niệm được, hình dung được trên cơ sở thực nghiệm, thì chúng tôi lại thấy yêu cầu và bản nguyện chở thật nhiều người trên cỗ xe thật lớn đế cùng đến Niết Bàn thật vui là một tham vọng thật cao mà thật tế chưa có một Hội Phật Giáo nào đã làm được, dù cho trên những tiêu chí thật đơn giản, thật sơ lược của lý thuyết. Cho nên, thay vì quá lắm lời tự đề cao cái tư cách Đại Thừa, và dựa vào một số lời lẽ trong trong Kinh Luận mà miệt thị đạo hữu Tiểu Thừa của mình, các Hội Phật Giáo nên dành thì giờ và sức lực vào cố gắng làm giảm nhẹ những đau khổ tầm thường của con người thế tục bằng cách thường xuyên thực thi hạnh Bố Thí trong cả ba nội dung Tài, Pháp và Vô Úy, bắt đầu bằng sự phản tỉnh của bản thân trên các “thuộc tính nhân thể” là Tham, Giải Đãi và Úy của chính mình. Chính ở đây sẽ được đánh giá bởi Nhân Loại thế tục, mà Hội Phật Giáo nào cũng cần đến, vai trò và vị trí của Phật Giáo trong những bước t