Đạo Phật Siêu Khoa Học
Minh Giác Nguyễn Học Tài
Chùa Liên Hoa, California, USA
ấn hành 1997
---o0o---
Chương 1
Bài 02
NGUYÊN TỬ
Nguyên tử là đơn vị nhỏ nhiệm cấu tạo mọi
vật trên thế giới này. Cái bàn, cái ghế, cái đinh, cái búa, cái kéo và
những vật chung quanh chúng ta đề được cấu tạo bằng Nguyên tử.
Một bức tường là do nhiều viên
gạch xây thành. Một trái núi là do vô vàn vô số những hạt bụi kết thành.
Nếu phá vỡ bức tường, người ta lấy lại được từng viên gạch. Viên gạch và
hạt bụi được tạm gọi là những đơn vị căn bản cấu tạo vật chất mà tiếng
Pháp gọi là Unité formant corps.
Ðể hiểu rõ Nguyên tử, chúng
tôi xin định nghĩa rõ ràng những danh từ căn bản như sau:
Vật thể, Vật chất, Thể chất
(Matter) (1): Là bất cứ vật gì choán một chỗ trong không gian và có phương
hướng như không khí, nước đá và con người. Ánh sáng và nhiệt không phải là
Vật thể vì không có Trọng lượng.
Phân tử (Molecule,
Particle): Là những mảnh nhỏ nhất có những đặc tính của chất nguyên thủy.
Ví dụ một Phân tử đường là một mảnh nhỏ nhất, nhưng vẫn có đặc tính của
đường. Dùng những dụng cụ đặc biệt, người ta có thể phân tách Phân tử
thành những phần nhỏ nhiệm hơn, đó là Nguyên tử.
Một Phân tử đường có thể chia
thành 12 Nguyên tử than, 22 Nguyên tử khinh khí và 11 Nguyên tử Dưỡng khí.
Và nếu người ta kết hợp những Nguyên tử đó với nhau, những Nguyên tử này
trở lại thành một Phân tử đường như cũ.
Các Phân tử liên kết với nhau
bằng Nạp điện (Electrical charge). Chúng liên kết chặt chẽ với nhau trong
những vật rắn chắc, và di chuyển nhẹ nhàng trong không khí và nước.
Ngày
10-10-1996, báo chí Mỹ đã loan tải rằng giải thưởng Nobel Hoá chất đã được
trao cho ba khoa học gia có tên là Richard Smally và Robert F. Curl thuộc
Ðại học Rice ở Houston, Texas; và Harold W. Kroto thuộc Ðại học Sussex ở
Anh-Cát-Lợi. Họ đã có công khám phá một loại Phân tử than trong đó có 60
Nguyên tử than liên kết với nhau thành hình một trái banh.
Nguyên tố (Element)
(1): Có tất cả 90 loại Nguyên tử và khoa học đã chế thêm 18 Nguyên tử nữa,
cộng chung là 108. Những Nguyên tử naỳ có tên là Nguyên tố. Ví dụ Trung
tâm Sưu tầm Nguyên tử ở miền Nam Ðức Quốc đã tạo nên những Nguyên tố 107,
108, 109 và 110.
Nguyên tố nhẹ nhất được tìm
thấy trong Thiên nhiên là Khinh khí va Nguyên tố nặng nhất là Uranium.
Tất cả những Vật chất trên thế giới này được cấu tạo bằng khoảng 100 loại
Nguyên tử khác nhau.
Cấu tạo của
một Nguyên tử
Dựa theo Cổ
Nguyên lượng Cơ học (Old Quantum mechanics), một hạt Nguyên tử cũng giống
như một Thái Dương Hệ nhỏ bé, ở giữa có một Nhân hay Lõi (Neucleur) và
những Phân tử (Particle) nhỏ nhiệm chạy chung quanh cái Nhân y những Hành
tinh chạy chung quanh Mặt trời.
Cái nhân gồm có
hai Phân tử gắn liền với nhau gọi là Dương Ðiện tử (Protons) và Trung Hoà
tử (Neutrons). Dương Ðiện tử va Trung Hòa tử có thể chia cắt thành những
Phân tử nhỏ nhiệm hơn nữa gọi là những hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử
(Subatomic particles). Vì cả hai Phân tử này đều nằm trong Nhân của hạt
Nguyên tử, người ta gọi chúng là những Phân tử Nhân (Neucleons)
Nguyên tử nhỏ đến
nỗi nguời ta đặ 2 triệu rưỡi Nguyên tử sát nhau thì chỉ bằng đường kính
của đầu kim. Nguyên tử rất nhẹ. Ví dụ đem cân hơn một Sectillion (1+21
số 0) Nguyên tử Uranium, nó chỉ nặng bằng 1/28 gram. Nói rõ hơn, một hạt
Nguyên tử có đường kính bằng 10-8
(1 phần 100 triệu của một centimét, hay 1 Angstrom: A0).
Một hạt Nguyên tử
rất lớn nếu so với Nhân của nó. Trong một hạt Nguyên tử nhỏ bé c cả một
khoảng hư không mênh mông vì Nhân của nó chỉ bằng 1/100,000 khoảng hư
không đó. Nhân của nó bé tựa như người ta đặt một hòn bi trong một hình
cầu rộng lớn. Cái khoảng trống mênh mông đó, đức Phật gọi là Không đại.
Một hạt Nguyên tử
được chia thành ba thành phần chính: Dương điện tử, Trung hòa tử và Âm
điện tử.
Dương điện tử
(Proton). Là một hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử bền vững, nạp Dương điện
(+), thuộc dòng họ Baryon, có Trọng khối bằng 1,836 lần Trọng khối của một
Âm điện tử.
Ðiện lượng không
tùy thuộc lớn nhỏ hay nặng nhẹ, mà điều quan hệ là nó nạp Dương điện. Ðiện
lượng của Dương điện tử và Âm điện tử không khác, chỉ khác nhau ở dấu hiệu.
Rất khó tách rời Dương điện tử ra khối hạt Nguyên tử vì nó nằm sâu trong
Lõi của hạt Nguyên tử mà người ta gọi là Proton Nhân.
Trung hoà tử
(Neutron). Là hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử, trung tính điện, thuộc dòng họ
Baryon, có Trọng khối bằng 1,839 Trọng khối của một Âm điện tử. Rất bền
vững, và có đời sống kéo dài khoảng 16.6 phút. Trung hòa tử và Dương điện
tử phối hợp với nhau tạo thành Lõi của hạt Nguyên tử.
Dựa trên Tân
Nguyên lượng Cơ học (new Quantum mechanics) và Nguyên lượng Sắc động học
(Quantum Chromodynamics - QCD), gần một thế kỷ đã qua, các vật lý gia đã
khám phá ra rằng Nguyên tử lâu nay được coi là đơn vị nhỏ nhất của một Vật
thể lại được cấu tạo bằng những Hạt Vi Phân Tiềm Nguyên tử nhỏ nhiệm hơn
mà Vật lý gia Murray Gell-Mann đặt tên là Quark (Hạt ảo, Cực vi).
Âm điện tử (ELectron).
Là một Vi phân Tiềm Nguyên tử cùng dòng họ với Lepton, có Trọng khối bằng
9,1066 x 10-28
gram và một Ðiện lượng vào khoảng 1,062 x 10-8
Coulombs. Trong một hạt Nguyên tử có nhiều Âm điện tử. Người ta có thể
rời nó bằng cách va chạm nó với những hạt Nguyên tử với nhau. Ðiện tử này
tích Âm điện (-), và chỗ nào cũng có nó. Nó có đời sống riêng, và rất dễ
dàng tách rời khỏi một hạt Nguyên tử. Nhưng chung quanh Nguyên tử tuồng
như có hàng rào từ lực ngăn cản Âm điện tử thoát ra ngoài.
Âm điện tử rất
nhẹ và chỉ nặng bằng 1/1800 Trọng lượng của Dương điện tử và Trung hòa tử.
Dương điện tử và Âm điện tử có cùng số Tích điện, hay Nạp điện. Bởi vì
một hạt Nguyên tử thường có cùng một số lượng Dương điện tử hay Âm điện tử.
Việc quân bình này cho rằng Nguyên tử, chất căn bản cấu tạo Vật chất,
thường Trung tính điện. Nguyên tử được nhận diện khác nhau ở số lượng,
chất Ðồng vị (Isotope), và Nguyên tử trọng (Atomic wight). Tất cả những
hạt Nguyên tử đều được những Phân tử cùng loại tạo nên. Ví dụ Dưỡng khí
co 8 Âm điện tử, 8 Dương điện tử và 8 Trung hòa tử. Nhôm (Aluminium) có
13 Âm điện tử, 13 Dương điện tử và 14 Trung hoà tử. Sự khác nhau đó được
biểu thị bằng số Nguyên tử trọng.
Nguyên tử
trọng (Atomic weight) (1). Nguyên tử trọng của một nguyên tố
(Element) là Trọng lượng trung bình của những Nguyên tố của hạt Nguyên tử.
Nguyên tử là trọng lượng của hạt nhân được cấu tạo bằng Dương điện tử và
Trung hoà tử. Mỗi Dương điện tử đều nặng như nhau không kể đến số lượng
Nguyên tố của nó. Trung hòa tử cũng vậy. vì vậy, Nguyên lượng tử trọng
có thể được biểu thị bằng cách cộng chung số lương Dương điện tử và Trung
hoà tử. Ví dụ một Nguyên tử Sắt nặng gấp 4.63 lần Nguyên tử Than 12, và
Nguyên tử trọng của nó bằng 4.63 x 12 = 55.85 đơn vị.
Chất Ðồng vị
(Isotope) (1). Mỗi hạt nhân của một Nguyên tố đều có cùng một số
Dương điện tử và Âm điện tử. Những hạt nhân của một số Nguyên tố không
phải luôn luôn có cùng một số lượng Trung hòa tử. Những hạt nhân có số
lượng Âm điện tử khác đó gọi là Chất Ðồng vị. Phần lớn các Nguyên tố đều
là sự hỗn hợp của hai hay ba chất dồng vị. Ví dụ một cái bình bằng sắt
được cấu tạo do sự hỗn hợp của bốn chất Ðồng vị của Nguyên tố Sắt. Những
chất Ðồng vị của Nguyên tố Sắt. Những chất đồng vị xuất hiện trong Thiên
nhiên, nhưng các khoa học gia cũng đã tạo nên khoảng 1,000 chất Ðồng vị
trong phòng thí nghiệm.
Trở lại Nguyên tử,
cách 25 thế kỷ, người Hy Lạp quan niệm rằng Nguyên tử không thể chia cắt
thành những đơn vị nhỏ hơn nữ, và Nguyên tử là danh của họ để chỉ những
vật gì không thể chia cắt thành những pahn nhỏ bé hơn.
Các khoa học gia
đã dùng những phương tiện phá vỡ Hạt nhân (Atom smasher) như máy Gia tốc
(Accelerator) va máy Siêu dẫn và Siêu Va Chạm (Super Conductor Super
Collider) để tìm kiếm những Phân tử (Particles) vi tế hơn.
Trước khi
Gell-Mann khám phá ra Quark, các khoa học gia đã biết rằng trong Nhân của
một hạt Nguyên tử có những Phân tử vi tế hơn nữa gọi là những hạt Vi phân
Tiềm Nguyên tử. Nhưng vì chưa khám phá thêm được gì hơn nữa, người ta tạm
cho rằng Nguyên tử là những đơn vị căn bản cấu tạo Vật chất.
Khác với Dương
điện tử, Trung hoà tử và Âm điện tử; những hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử chi
xuất hiện trong khoảnh khắc. Người ta khám phá ra chúng trong việc Phá vỡ
Nguyên tử, hay Oanh tạc Hạt nhân trong những phòng thí nghiệm, hay những
lò Nguyên tử. Những Phân tử này cũng được tìm thấy trong Tia Vũ trụ
(Cosmic ray)
Quark và dòng
họ: Lepton, Hadron và Gluon.
"Quark là một
loại hạt không thể khám phá ra được hình tướng của nó mà đời sống hiện hữu
của nó chỉ được nhận ra trong những phương trình toán học hay hiệu lực của
nó trong các phép tính về Năng lượng. Hiện nay khoa học đã khám phá ra
thêm 200 hạt mà đại đa số đều là Hạt ảo (Quark). Mạng lưới thế giới vô
hình ngày càng mở rộng..."
Lepton. Âm
điện tử thuộc một dòng họ khác với những hạt Vi phân tiềm Nguyên tử gọi là
Lepton. Theo từ ngữ Hy Lạp, Lepton có nghĩa là hạt nhỏ nhiệm. Dòng họ
Lepton gồm có 6 phân tử được chia thành ba cặp: Electron Neutrino, Muon
Neutrino và Tauon Neutrino. Lepton là hạt nhẹ, có Nửa Ðộ Quay Tự Nội
(Half-Intergrated Spins) và có Trọng khối nhẹ hơn Trọng khối của
Neutrino. (Một Neutrino có Trọng khối bằng 1/1000 tỉ của một Proton.
Cũng có một số Vật lý gia cho rằng Neutrino không có Trọng khối. Thí
nghiệm cho thấy cứ mỗi Lepton lại có một Ðối Phân tử. Những Ðối Phân tử
có cùng trọng khối với Phân tử, nhưng có tích diện ngược lại. Ví dụ Ðối
Phân tử của Âm điện tử không Tích điện (-) là một Tích dương điện (+) có
tên là Positron.
Xin quý vị lưu ý
rằng có Dương điện tử lại có Âm điện tử, và có Phân tử lại có Ðối Phân tử
để giữ quân bình hoạt động của tất cả vũ trụ. Nếu tất cả người và vật đều
chỉ có Dương điện tử (+) hết thì người nào hay vật nào có điện lượng mạnh
hơn sẽ đốt cháy người hay vật khác có Ðiện lượng yếu hơn.
Ở đây cũng vậy,
có Positron (+) để đối nghịch Âm điện tử (-).Ðó là cái nghĩa Càn (+) Khôn
(-), Sinh Diệt, Sắc Không, Hữu Vô, có tạo dựng lại có hủy diệt như đã nói
trong Sơ đồ Nguyên tử ở phần Vacuum Polarization (Chân Không Sinh Diệt).
Dưới Lepton có:
Electron, Muon, Tauon, Electron Neutrino, Muon Neutrino và Tauon
Neutrino. Tôi chỉ nói qua về Muon vì bài đã quá dài.
Muon.
Muon có họ hàng với Lepton. Trọng khối bằng 207 Trọng khối của Neutrino,
là một Tích Âm điện, và có đời sống bằng 2.2 x 10-6
(2 phần triệu của một giây đồng hồ). Trước kia, Muon có tên là "Mu
Meson".
Muon, được phát
hiện khi các khoa học gia việc Bức xạ (Radiation) của Tia Vũ Trụ (Cosmic
ray) để tìm kiếm Tia Gamma (Gamma ray). Thay vì Tia Gamma, họ bất ngờ
phát hiện những đám mưa rào đầy những hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử gọi là
Muon. Việc phát hiện này khiến khoa học phải xét lại những ước đoán căn
bản của họ về Thể chất (Matter) và Năng lượng (Energy).
Hadron. "Thuộc
loại Tương tác của Lực mạnh (Strong force) đối ứng với các hạt Lepton
thuộc loaị Tương tác nhẹ. Mỗi hạt Hadron được cấu tạo từ 3 đến 27 hạt
Quarks hay nhiều hơn... Tất cả hạt Hadron cùng dòng họ đều có cùng một Ðộ
Quay Tự Nội (Intergrated Spins). Trong một Hadron, mỗi Phân tử vừa là
thành phần vừa là toàn thể. Các Hadon cùng dòng họ có thể trao đổi được
với nhau..."
Dưới Hadron còn
có Meson và Baryon.
Meson.
Hạt trung bình, Tương tác mạnh, có Nửa Ðộ Quay Tự Nội, có Trọng khối, và
thường liên kết Lepton với Baryon. Meson có dòng họ là Pion, Kaon và Eta.
Baryon.
Hạt nặng như Neutron và Proton, có Ða Vạch Hyperdron (Hyperdron Multiplets),
thuộc loại Tương tác mạnh, có nửa Ðộ Quay Tự Nội (Half-Intergrated Spins)
và nặng hơn Meson. Họ hàng với Baryon, có hai loại: Nhân (Neucleon) gồm
có Proton và Neutron, và loại Ða Vạch gồm có Lambda, Cascade và Omega.
Gluon.
Thuộc loại Tương tác mạnh, không có Trọng khối, thường liên kết các hạt
Quarks với nhau. Gluon có họ hàng với Quang tử, Graviton, Gluon mạnh và
Gluon yếu.
Có 4 lực trong
Thiên nhiên: Ðiện từ lực (Electromagnetic force), Lực Mạnh (Strong force),
Hấp lực hay Trọng tường (Gravity) và Lực yếu (Weak force).
Những lực này
liên kết những hạt căn bản với nhau để tạo thành Nguyên tử. Mỗi lực đều
có hạt Boson riêng biệt. Boson là những Phân tử căn bản truyền tải lực
giữa các Phân tử. Lực mà các hạt Bosons truyền tải đến những Phân tử
khác gọi là Ðiện từ lực. Hạt Boson truyền tải những từ lực được gọi là
Quang tử (Photon).
Lực liên kết các
Quarks với nhau gọi là Lực mạnh. Hạt Boson truyền tải lực này gọi là
Gluon.
Lực làm mọi vật
rơi xuống đất và giữ vững Trái đất quay chung quanh Mặt trời gọi là Hấp
lực hay Trọng trường. Lực liên kết với hạt Boson được gọi là Graviton.
Lực chịu trách
nhiệm v phóng xạ tuyến của những Nguyên tử bất ổn và tan rã phóng ra gọi
là Lực yếu. Lực này được truyền tải trong việc trao đổi giữa những Phân
tử Y và Z.
Khoa học ngày nay
đã khám phá thêm Lực thứ 5 và thứ 6.
Lực thứ năm gọi
là Ý thức Tâm linh hay là lực căn bản của vũ trụ. "Trước kia, người ta
cho rằng vũ trụ là một bộ máy đồng hồ khổng lồ. Nhưng Eddington lại cho
rằng vũ trụ không phải là bộ máy đồng hồ khổng lồ mà là một Tâm tưởng lớn."
Tâm tưởng lớn
trong kinh Phật gọi là Diệu Tâm. Kinh dạy rằng Pháp giới (vũ trụ)
là một màn Thiên La Võng vừa của chung và vừa của riêng. Hành giả, qua
nhiều A tăng kỳ kiếp tu hành, từ Ý thức (Thức thứ sáu) vượt qua Mạn na
thức (Thức thứ bảy), lọt vào Không hải của Tàng thức (Thức thứ tám hay A
lại da thức), và tìm đường đến Diệu tâm mà nhà Thiền gọi là Bản lai
diện mục, hay Ông chủ.
Sau đây là
Bảng ghi Trọng lượng và Trọng khối của dòng họ Lepton:
Tên
Trọng lượng (Kg) Trọng
khối (MeV)
Âm điện tử
9.11 x 10 0.511
Muon 1.88 x 10
105,700
Tauon
3.18 x 10 1,784,000 +/-3
Electron
Neutrino
0* ?
Muon Neutrino
0* 0.250
Tauon
Neutrino
0* ?
* Trích trong cuốn "The
Ultimate Theory of the Universe" của Pram Nguyen.
Bốn Lực của Thiên Nhiên
Lực
Chiều dài Tầm Nhiệm vụ
tương đi
ảnh hưởng trong vũ trụ
Cường lực =1
Mạnh
(Strong) 1 10
-13
cm Giữ vững hạt
nhân,
tác dụng trên Baryon và
Meson (ngoại trừ Lepton)
gắn liền Quark với nhau
trong một Meson hay
Baryon.
Ðiện từ
001 Vô hạn Tác dụng trên tất cả
Phân
(Electro-magnetism)
tử. Có trách nhiệm về
mọi
hiện tượng sinh điện cùng
những đặc tính hóa học
của Phân tử (Molecule).
Yếu (Weak)
00001 10
-15 hay Tác
dụng trên tất cả Phân
ít
hơn tử. Chịu trách nhiệm một
phần về việc giải tỏa
Năng lượng của các vì sao
và một vài loại Phóng xa
tuyến.
Trọng tường
10 -39
Vô hạn Giữ vững Hành tinh,
(Gravitional
field)
Tinh tú, Thiên hà và
Chòm Thiên hà liên kết
với nhau..
Lượng tử Sắc động
học hay Nguyên lượng Sắc động học
(Quantum Chromo-dynamics)
Thuyết này nhằm
cắt nghĩa đặc tính của Quark. Nói một cách khác, thuyết này liên kết
Quark với Sắc lực (Color force) cùng ba màu của Quark.
Quantum (Nguyên
lượng) được căn cứ theo Nguyên lượng Cơ học (Quantum mechanics), và Chromo
trong Chromodynamics (Sắc động học) nói đến vai trò của Sắc lực (Color
force).
Ðiện từ lực
yếu (Electroweak force)
Các yếu lực và
Ðiện từ lực được mô tả như là hai mặt của một Tương tác đơn thuần (Single
interaction) (Trích trong cuốn "The Ultimate Theory of the Universe" của
Pram Nguyễn).
*
Chúng ta hãy tìm hiểu tại sao Nguyên tử và những hạt Vi phân
Tiềm Nguyên tử, nhất là Quark đã được một số khoa học gia xác định là
những viên gạch cuối cùng xây dựng vũ trụ chỉ xuất hiện chớp nhoáng, mờ ảo
như những bóng ma trơi khiến không thể nắm bắt được?
Trước hết, chúng ta cần phải thấm nhuần giáo lý của Phật,
trong pháp giới (vũ trụ) này không có gì gọi là Vật cả. Lục tổ Huệ Năng
nói, "Bản lai vô nhất vật". (Từ xưa đến nay không hề có Vật).
Ý kiến này cũng tương tự như trong bài kệ "Phá Ðịa ngục" như
sau:
"Nhược nhân dục liễu tri
Tam thế nhứt thiết Phật
Ưng quán pháp giới tính
Nhất thiết duy tâm tạo
Vạn pháp do Tâm sinh
Nhất Tâm sinh vạn pháp
Phật do Tâm thành
Ðạo do Tâm đắc
Phước do Tâm tích
Họa do Tâm di
Tâm năng tác Thiên đường
Tâm năng tạo Ðịa ngục
Tâm năng tác Phật
Tâm năng tác chúng sinh."
Nghĩa là:
"Nếu người nào muốn biết rõ
Tất cả Phật ba đời
Nên quán vũ trụ này
Tất cả đều do Tâm tạo nên
Một Tâm sinh vạn vật
Phật là do Tâm mà thành
Ðạo là do Tâm đạt được
Họa là do Tâm gây ra
Phước là do Tâm bồi đắp
Tâm tạo được Thiên đường
Tâm tạo được Ðịa ngục
Tâm có thể biến mình thành Phật
Tâm khiến mình chỉ là chúng sinh."
Phật quan sát sum la vạn tượng trong vũ trụ này tất cả đều do
Tâm sanh ra cả. Hai câu sau đây xác định nhãn quan nói trên của nhà Phật
đối với pháp giới:
"Vạn pháp do Tâm sanh
Nhất Tâm sanh vạn pháp."
Nói một cách khác, tất cả vạn pháp trong thế gian này từ những
côn trùng nhỏ bé cho đến sơn hà, đại địa to lớn đều do Thức biến sanh ra
cả.
Trong Kinh Kim Cang Giảng Giải của H.T. Thanh Từ, đoạn
5, trang 38, đức Phật dạy rằng:
"Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng"
(Phàm chỗ có tướng đều là hư vọng)
Nói một cách khác, "Hữu hình hữu hoại", nghĩa là có hình tướng
là có hoại. Tất cả những hình tướng ở thế gian này đều không thật, hư dối.
Nói không có là không đúng vì chúng sờ sờ trước mắt. Nhưng theo nhãn quan
nhà Phật, tất cả chỉ là như huyễn mà thôi!
Cũng trong Kinh Kim Cang, đoạn 32, trang 211, Phật lại
dạy:
"Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ, diệc như điển
Ưng tác như thị quán"
(Tất cả các pháp hữu vi
Như mộng, huyễn, bọt bóng
Như sương, cũng như điện
Nên khởi quán như thế)
Pháp hữu vi, hay là những sự vật có hình tướng đều bị định
luật vô thường sinh sinh diệt diệt chi phối. Ngay đến cả những tư tưởng,
những cảm nghĩ của chúng ta đều thay đổi hằng ngày, hằng giờ, hằng phút,
từng giây.
Tất cả các cõi, các cảnh giới, các thân căn của chúng ta đều
như huyễn hóa, như giấc chiêm bao, như dương diệm (ảo ảnh nước trong sa
mạc), như tiếng vang, như hoa trong gương, như trăng đáy nước ....
Xét về trí tuệ Bát Nhã thì không có một Vật nào hết vì phàm là
một Vật phải có hai điều kiện là Tự tánh và Cố định. Những sự vật ta
thường thấy chung quanh chỉ là do duyên hợp, còn duyên thì còn , hết duyên
thì mất.
Lấy thí dụ một cái đồng hồ đeo tay hay treo tường đều do một
số bộ phận ráp lại mà thành như: mặt kính, vỏ bằng sắt, cây kim, chuông
reo và những bánh xe răng khế v.v.... Nếu vài bộ phận hư hoặc thiếu, đồng
hồ không chạy được.
Lấy những thí dụ khác như căn nhà, cái bàn, cái ghế, hay bất
cứ vật gì cũng vậy đều không có tự tánh và cố định. Tất cả chỉ đều do
duyên hợp mà thôi. Ðó là thuyết Tương sinh Tương duyên Trùng trùng Duyên
khởi của nhà Phật, nghĩa là làm một cái đồng hồ mà không biết bao nhiêu
người ở mọi ngành, mọi giới đều tham dự vào.
Xét cho kỹ, "pháp giới chỉ là do tự Tâm biến hiện, chỉ là một
trường biến hiện liên miên bất tuyệt, tương tợ tương tục của Tâm
chuyển thành Thức..."
Ðể giúp quí vị ý niệm được tính cách như huyễn của vạn vật,
xin quí vị đọc bài "Khuôn mẫu Toàn ký trong Khoa học Hiện đại" của giáo sư
Trần Chung Ngọc, đăng trong tập san "Phật Giáo Hải Ngoại" số 6, xuất bản
vào Mùa Vu Lan 2539. Tôi xin tóm lược như sau:
David Bohm, chuyên về ngành Vật lý Tiềm Nguyên tử (Subatomic
physics), và Kark Priban, một nhà Thần kinh Sinh lý học
(Neurophysiologist) đã dựa vào quan niệm toàn ký để giải thích một cách
hợp lý những kết quả khoa học của họ.
"Các khoa học gia chuyên ngành Vật lý hạt nhỏ (Particle
physics) đã đưa ra bằng chứng và đề nghị rằng thế giới của chúng ta ngày
nay và mọi thứ ở trong đó chẳng qua chỉ là những hình ảnh không thực, là
những dự phóng của một thực thể vượt ra ngoài không gian và thời gian.."
Thế nào là khuôn mẫu Toàn ký? (Holographic paradigm)
"Toàn ký (Holography) là một kỹ thuật tạo hình ảnh bằng một
loại ánh sáng đặc biệt thường được biết tới tên quen thuộc là ánh sáng
LASER và hiện tượng giao thoa (Interference)."
Chắc quí vị đã từng thấy một loại giây chuyền đeo cổ có hình
tượng Phật. Nếu nhìn vào chẳng thấy gì cả, nhưng đưa qua ánh sáng thì
thấy hình tượng Phật nổi bật lên như thật vậy. Kỹ thuật này cũng áp dụng
cho những mặt đồng hồ có hình con cá sấu nổi. Chính tôi cũng đã được phát
một bằng lái xe, nhìn vào thấy những con dấu nổi lên rõ rệt, nhưng lấy tay
sờ mó hay nắm bắt thì không thể được vì nó như ảo ảnh vậy!
Trong kinh xưa, đức Phật đã dạy rằng thế giới vạn vật này đều
như Huyễn Hoá cả bởi vì, "... thế giới của sông núi, cây cỏ có thể là
không hiện hữu, ít ra là không hiện hữu như chúng ta thường tưởng là hiện
hữu. Phải chăng quan niệm về ảo tưởng (Maya) của những huyền nhiệm gia
cách đây nhiều thế kỷ là đúng, và những cảnh sum la vạn tướng chẳng qua
chỉ là vùng rộng lớn của các tần số (Vast Frequency domain) biến đổi thành
những sự vật sau khi nhập vào các giác quan của ta..."
Theo Bohm thì, "Toàn thể vũ trụ
chỉ là một Toàn ký đồ (Hologram)", hay nói một cách khác, tất cả vạn vật
trong vũ trụ này đều xuất hiện như những hình tượng Phật, hình cá sấu, và
hình con dấu trên mặt kính hay trên tấm plastic.
Giáo sư Ngọc tóm lược như sau:
"Nói một cách dễ hiểu thì mọi vật đều sinh ra từ một căn
bản chung, và căn bản chung này khi nhập vào giác quan của con người thì
sinh ra mọi sai biệt mà chúng ta thường thấy ở ngoài đời.." Theo cái nhìn
của đạo Phật thì đó là cái nhìn "Kiến trược", tức là cái nhìn lệch lạc,
sai lầm.
Giáo sư Ngọc tóm lược tư tưởng
Hoa Nghiêm như sau:
"Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm
là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt, hình
hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia và ngược lại, như
lưới đế châu, Tâm chơn thì giới tánh với tâm là một, vạn vật đồng nhất thể..."
*
Ðức Phật gọi Nguyên tử là một "vi thể", tức là một Vật thể rất
nhỏ nhiệm, vi te. Bây giờ, tôi lấy một thí dụ: Ta hãy đập nát một hạt bụi
nhỏ như cái "vi thể" ấy. Ðập hết được không? Nếu đập hết thì còn gì là
hạt căn bản cấu tạo? Nếu còn thì đập đến bao giờ mới hết? Thí dụ thứ hai:
Con gà và quả trứng cái nào có trước? Thí dụ thứ ba: Có thể truy cứu
được cha mẹ đầu tiên của chúng ta không?
Trong Sơ đồ Nguyên tử và Dòng họ, tôi bắt đầu bằng Phân tử
(Particle) và Nguyên tử (Atom), và tận cùng bằng Chân Không Sinh Diệt
(Vacuum Polarization). Phân tử, Nguyên tử là cái Có, sao lại tận cùng
bằng Không? Ngược lại, từ Chân Không trở lên, sao lại đến chỗ Có là
Nguyên tử và Phân tử?
Ðến nay, đọc kinh Phật tôi mới biết rằng cái Có là do ở cái
Không mà ra. Cũng như Bát Nhã Tâm Kinh đã nói, "Sắc tức thị Không, Không
tức thị Sắc".
Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Quán Chúng
Sinh, trang 67, kể lại cuộc đối thoại hi hữu giữa Bồ Tát Văn Thù Lợi và
Ngài Duy Ma Cật mà tôi chỉ ghi lại vài dòng liên hệ:
"- Văn Thù Sư Lợi: Pháp thiện và pháp bất thiện lấy gì làm
gốc?
- Duy Ma Cật: Thân là gốc.
- Thân lấy gì làm gốc?
- Tham dục làm gốc.
- Tham dục lấy gì làm gốc?
- Hư vọng, phân biệt làm gốc.
- Hư vọng, phân biệt lấy gì làm gốc?
- Tư tưởng điên đảo làm gốc.
- Tư tưởng điên đảo lấy gì làm gốc?
- Không trụ làm gốc.
- Không trụ lấy gì làm gốc?
- Không trụ thì không gốc.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi, ở nơi gốc không trụ mà lập nên
tất các pháp".
Ðể làm sáng tỏ tinh thần của cuộc đối thoại, nhất là ý nghĩa
của hai chữ không trụ, xin mời quí vị xem lời giải thích của
Phẩm nói trên:
Không trụ là dịch nghĩa của danh từ vô trụ. Các
pháp toàn không có tự tánh nên không có trụ trước, chỉ tuỳ theo duyên mà
sanh khởi, nên gọi là vô trụ. Do vô trụ không có chỗ trước
nên chẳng phải Có chẳng phải Không, nên mới làm được cái gốc cho hiện
tướng Có, Không của vạn hữu. Theo ngài Duệ Công thì Vô trụ tức là thật
tướng, thật tướng tức là tánh không, chỉ khác tên mà thôi".
Xem như vậy thì Chân không
với Vật thể (Nguyên tử) cũng là một, chỉ khác nhau ở tên gọi thôi.
Kinh Phật cũng dạy rằng "... Mọi vật đều đến từ nơi Chân không".
Kinh Hoa Nghiêm cũng dạy:
"Mọi vật đến từ đó
Ðột hiện rồi lại tan
Tương tự như bào ảnh
Chẳng khác gì một giấc mơ..."
Kinh Lăng Nghiêm, trang 221, Phật dạy, "A Nan! Như hột
bụi trần gần như Hư không vì chia mà thành ra Hư không, thì phải biết Hư
không cũng có thể sinh ra hạt bụi gần Hư không, mà thành lại Sắc tướng..."
Trang 223, Phật dạy tiếp, "Vì chúng sanh trong phàm giới, tâm
có nhơ có sạch, lượng có lớn có nhỏ, nghiệp có thiện có ác, nên diệu dụng
của Sắc Không tùy theo tâm của chúng sanh, ứng theo lượng của chúng sanh,
tuân theo nghiệp của chúng sanh mà phát khởi ra các pháp..."
Dựa theo Nguyên lý Bổ sung (Complimentary principle), của Niel
Bohr, trong Lăng kinh Ðại Thừ, trang 183, cụ Nghiêm Xuân Hồng viết, "Sở
dĩ Cực vi (Hạt ảo) vừa là Hạt vừa là Sóng bởi vì cái điểm
kết tụ cô đọng thành Sắc tướng của nó thường được gọi là Hạt, còn cái
trường lực quang minh mờ ảo của nó thì gọi là Sóng."
Nói một cách khác, vạn hữu trong vũ trụ chẳng khác gì những
hình nổi của tượng Phật, hình cá sấu trên mặt đồng hồ, hoặc hình những con
dấu nổi trên tấm bằng lái xe mà thôi.
Ðể kết luận bài này, tôi xin nhắc lại một điều quan trọng:
Những gì khoa học ngày nay khám phá ra về Nguyên tử và những hạt Vi phân
Tiềm Nguyên Tử thì các đạo lý Ðông Phương nhất là đạo Phật đã nói rõ rằng
cách đây mấy ngàn năm rồi. Ðó là những hình bóng mờ ảo, chập chờn, ảnh
hiện, hư hư thực thực, khiến chúng ta không thể nắm bắt được chúng, kiểm
soát được chúng, và khẳng định chúng là những viên gạch cuối cùng xâ dựng
vũ trụ.
Nếu quí vị đồng ý với tôi thì quí vị có tin rằng đạo Phật
là một đạo Siêu khoa học không?
---o0o---
|
Mục lục
Đạo Phật Siêu Khoa Học |
| Tủ Sách
Phật Học |
---o0o---
Đánh máy: Chơn Huyền Vân
Cập
nhật : 1-7-2002