Đạo Phật Siêu Khoa Học
Minh Giác Nguyễn Học Tài
Chùa Liên Hoa, California, USA
ấn hành 1997
---o0o---
Chương 2
Bài 01
NGƯỜI PHẬT TỬ EINSTEIN
Trong cuốn Nền Tảng Của Ðạo Phật (Fundamentals of
Buddhism), Tiến sĩ Peter D. Santina, viết, “đã nhận xét Nhiều người
có địa vị đáng kể trong xã hội Tây phương là Phật tử hoặc có những người
không phải là Phật tửnhưng rất có cảm tình với Phật Giáo. Thí dụ cụ thể
là nhà bác học Albert Einstein trong bài tự thuật rằng ông là
người không tôn giáo, nhưng nếu ông là một nguời có tôn giáo thì ông phải
là một Phật tử.”
Nguyên văn,
“There are many persons of considerable standing in western societies who
are either Buddhists or who are sympathic towards Buddhism. This is most
clearly exemplified by the remark made by Albert Einstein that he was
not a religious man, but if he were one, he would be a Budhist.”
Sau đây là những lý do khiến ông
ca tụng Phật Giáo mà tôi trích dẫn trong cuốn “Buddhism in the Eyes of
Intellectuals” của Tiến sĩ Sri Dhammananda (Phật Giáo Dưới Mắt Các Nhà Trí
Thức), bản dich của Ðại Ðức Thích Tâm Quang.
1. “Tôn giáo Vũ trụ: Tôn giáo tương lai sẽ là
tôn giáo chung cho cả vũ trụ. Tôn giáo này siêu việt trên một đấng Thiêng
liêng nào đó và tránh hết mọi giáo điều và thần học. Bao trùm cả thiên
nhiên lẫn tinh thần tôn giáo, tôn giáo này phải căn cứ vào ý niệm đang
phát sinh từ những thực nghiệm của mọi vật, thiên nhiên và tinh thần như
một sự thuần nhất đầy đủ ý nghĩa. Ðạo Phật đáp ứng được điều đó” –
Albert Einstein (trang 54).
Nguyên văn, “Cosmic religion”: The religion of
future will be a cosmic religion. It should transcend a personal God and
avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual,
it should be based on a religious sense arising from the experience of all
things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers
this description.“ - Albert Einstein (trang 53).
2. Nhu cầu khoa học và tôn giáo: Nếu có một tôn giáo
nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại thì tôn giáo đó phải là
Phật Giáo.”- Albert Einstein (trang 115).
Nguyên văn, “Buddhism copes with science: If
there is any religion that would cope with modern scientific needs it
would be Buddhism” – Albert Einstein (trang 114).
Ngoài ra, những nhà trí thức nổi tiếng trên thế giới đã
hết lời ca ngợi Phật Giáo nói chung và đức Phật nói riêng:
1. Vận mệnh nhân loại:
Trên những giải đất mênh mông của thế giới, vận mệnh
của
nhân loại vẫn còn tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây
phương và được cảm hứng bởi tinh thần lịch sử, giáo lý căn bản của đức Cồ
Ðàm được phục hưng thuần khiết có thể chiếm một vị trí lớn trong chiều
hướng của vận mệnh nhân loại.” - H. G. Well (trang 95).
Nguyên văn, “Human destiny: Over great areas of
the world is still survives. It is possible that in contact with Western
science, and inspired by the spirit of history, the originated teaching of
Gotama revived and purified, may yet play a large part in the direction of
human destiny.” – H.G.Well (trang 94).
2. Khoa học chấm dứt chỗ Phật Giáo bắt đầu: Khoa học
không thể đua ra sự đoan chắc. Nhưng Phật Giáo có thể đáp ứng sự thách đố
của Nguyên tử nên kiến thức siêu phàm của Phật Giáo bắt đầu ở chỗ kết thúc
của khoa học. Ðó là một điều rõ ràng cho những ai nghiên cứu Phật Giáo.
Vì vậy, nhờ Thiền định Phật Giáo, nhũng Phần tử cấu tạo Nguyên tủ đã
được nhìn và cảm thấy…” – Egerton C. Baptist, “Supreme Science of the
Buddha,” (trang 117).
Nguyên văn, “Buddhism begins where science ends:
Science can give no assurance herein. But Buddhism can meet the Atomic
Challenge, because the supramundante knowledge of Buddhism begins where
science leaves off. And this is clear enough to anyone who has made a
study of Buddhism. For, through Buddhism Meditation, the atomic
constituents making up matter have been see and felt…” – Egerton C.
Baptist, “Supreme Science of the Buddha” (trang 116).
3. Phật Giáo và khoa học hiện đại: Tôi đã
thường nói, và tôi sẽ nói mãi, nói nữa giữa Phật Giáo và Khoa học hiện đại
có quan hệ tinh thần khắn khít” – Sir Edwin Arnold (trang 115).
Nguyên văn, “Buddhism and modern science: I
often said, and I shall say again and again, that between Buddhism and
modern science there exists a close intellectual bond.” – Sir Edwin Arnold
(trang 115).
4. Văn hóa thế giới: Phật Giáo đã mang lại sự
tiến bộ cho thế giới văn minh và văn hóa chính đáng nhiều hơn là bất cứ
ảnh hưởng nào khác trong lịch sử của nhân loại. – H.G. Well (trang 99).
Nguyên văn, “World Culture: Buddhism has done
more for the advance of world civilization and true culture than any other
influence in the chronicles of mankind” – H.G. Wells (trang 98).
5. “Tôn giáo của con người: Phật Giáo sẽ
trường tòn như mặt trời và mặt trăng và loài người hiện hữu trên mặt đất;
do đó, Phật Giáo là tôn giáo của con người, của nhân loại, cũng như của
tất cả.” – Bandaranaike, Cựu Thủ Tướng Tích Lan (trang 65).
Nguyên văn, “Religion of Man: Buddhism will
last as long as the sun and moon the human race exists upon the earth, for
its religion of man, of humanity as a whole.” – Bandaranaike, Former Prime
Minister of Sri Lanka (trang 65).
6. “Dharma (Giáo pháp) là Quy luật: Tất
cả lời dạy của đức Phật có thể tóm tắt trong một quy luật (Pháp). Quy
luật này là lẽ thật, không những hiện hữu trong tâm con người mà còn tồn
tại trong vũ trụ. Tất cả trong vũ trụ đều là sự hiển lộ của Pháp
(Dharma). Quy luật của thiên nhiên mà các khoa học gia hiện đại đã khám
phá đều là biểu hiệu của Pháp.
Khi mặt trăng mọc và lặn là vì Pháp. Pháp là qui luật
của vũ trụ khiến mọi vật tác động theo những đường lối đã được khoa Vật lý,
Hóa học, Ðộng vật học, Thực vật học, và Thiên văn học nghiên cứu. Pháp
hiện hữu trong vũ trụ cũng như trong tâm con người. Nếu con người sống
đúng với Pháp, thì sẽ thoát khỏi khổ đau và đạt đến Niết bàn.” - Thượng
tọa Mahinda (trang 81).
Nguyên văn, “Dharma is the Law: All the
teachings of the Buddha can be summed in one word: ‘Dharma’. This law is
righteouness, exists not only in a man’s heart but it exists in the
universe also. All the universe is an embodiment of reveleation of
Dharma. The law of nature which modern science have discovered are
revelations of Dharma.
If the Moon rises and sets, it is because of Dharma,
for Dharma is that law residing in the universe that makes matter act in
the ways studied in physics, chemistry, zoology, botany and astromy.
Dharma exists in the universe just as Dharma exists in the heart of man.
If man will live by Dharma, he will escape misery and attain Nibbana.” –
Ven A. Mahinda (trang 80).
7. “Sự ngược đãi: Trong những tôn giáo vĩ đại
của lịch sử, tôi thích Phật Giáo, nhất là những dạng thức thưở ban đầu, vì
tôn giáo này có ít yếu tố ngược đãi nhất.” – Bertrand Russell (trang 81).
Nguyên văn, “Persecution: Of the great religion
of history, I prefer Buddhism, especially in its nearest forms, because it
has the smallest element of persecution.” – Bertrand Russell (trang 80).
Tại sao Albert Einstein và những bậc khoa bảng nổi
tiếng trên thế giới đã hết lời xưng tụng, tán thán Phật Giáo nói chung và
Ðức Phật nói riêng? Xin mời quí vị đọc một đoạn trích dẫn trong cuốn,
“Fundamentals of Buddhism” (Nền Tảng Của Ðạo Phật), của tiến sĩ Peter D.
Santina, bản dịch của Ðại Ðức Thích Tâm Quang:
“….Ở Tây Phương, Phật Giáo đang được chú ý và gây được
thiện cảm rộng rãi khắp nơi. Nhiều người có địa vị đáng kể trong xã hội
Tây Phương là Phật tử, hoặc có những người không phải là Phật tử nhưng rất
có cảm tình với Phật Giáo.
Nhìn vào xã hội Tây Phương hiện nay, chúng ta thấy một
nhà vật lý thiên văn học là một Phật tử tại Pháp, một nhà tâm lý nổi tiếng
là Phật tử tại Ðại Học La Mã, và mới đây một vị chánh án tại Anh Quốc cũng
là Phật tử. Chúng ta hãy xét kỹ những lý do khiến Phật Giáo được chú ý
hiện nay ở Tây Phương.
Nói chung tại Âu Châu có thái độ chú ý đến Phật Giáo vì
tôn giáo này rất tiến bộ, rất hợp lý, và rất tinh vi. Cho nên chúng tôi
ngạc nhiên khi đến một quốc giao Á Châu lại thấy người dân ở đây coi Phật
Giáo như một tôn giáo lỗi thời, không hợp lý và có nhiều liên hệ với mê
tín dị đoan.
Người Tây Phương thấy giá trị của Phật Giáo bởi vì Phật
Giáo không kết chặt với văn hóa, Phật Giáo không ràng buộc vào một xã hội
đặc biệt, vào một chủng tộc nào hay vào một nhóm thiểu sổ nào. Có những
tôn giáo gắn liền với văn hóa, chẳng hạn như Do Thái Giáo gắn liền với văn
hóa, nhưng Phật Giáo lại không. Cho nên trong lịch sử Phật Giáo ta thấy
có Phật tử Ấn, Thái, Trung Hoa, Tích Lan, Miến Ðiện v.v… và chúng ta có
Phật tử Anh, Phật tử Hoa Kỳ, Phật tử Pháp v.v… Ðó là lý do Phật Giáo không
gắn bó với văn hóa.
Phật Giáo nhập hội dễ dàng từ văn hóa này đến văn hós
khác bởi vì Phật Giáo chú trọng đến việc chuyển hóa nội tâm hơn là ở bên
ngoài. Nếu ta nhìn kỹ cách lý giải của Ðức Phật về vấn đề kiến thức,
ta thấy phương cách của Ngài tương tự như cách lý giải của khoa học, và
điều này đã khiến người Phương Tây hết sức chú ý đến.
Việc chú trọng ngày càng tăng và những giáo lý hấp dẫn
của Ðạo Phật cùng với khuynh hướng mới của khoa học, triết học, và tâm lý
học lúc này lên cao đến tột đỉnh như khoa Vật Lý Nguyên Lượng đã được đề
xuất. Ðó là những triển khai cuối cùng của những lý thuyết vật lý đã được
thể nghiệm. Rồi chúng ta thấy không những Ðức Phật đã tiên đoán những
phương pháp phân tích của khoa học mà còn dạy rõ về bản chất của con người
và vũ trụ như đã nói trong phần triển khai gần đây của Vật Lý lượng Tử.
Cách đây không lâu, một nhà Vật lý học nổi tiếng nhận xét vũ trụ giống
như một tâm tưởng vĩ đại. Ðiều này đã được nói trong Kinh Dhammapada
(Kinh Pháp Cú): “Tâm dẫn đầu mọi pháp, tâm chủ, tâm tạo tác. ‘Sự liên
hệ giữa vật chất và năng lượng cũng đã được nói đến. Không có sự phân
chia cơ bản nào giữa Tâm và Vật. Tất cả những lời dạy đó đã những tiến bộ
mới nhất của khoa học tuần tự khám phá.
Cho nên, điều cho thấy trong học quy (văn cảnh) của Tây
Phưong, các nhà tâm lý và khoa học tìm thấy một truyền thống Phật Giáo phù
hợp với những nguyên tắc căn bản về tư tưởng khoa học của Tây Phưong.
Thêm vào đó, họ thấy Phật Giáo rất đặc sắc vì những phát minh của họ
thường tương đồng với Phật Giáo. Họ cũng thấy rằng cho đến nay khoa học
không mở con đường nào hay phương pháp nào có thể hoàn tất được việc
chuyển hóa nội tâm. Họ có những phương thức xây dựng, cải tiến các thành
phố, xa lộ; nhưng họ không có một hệ thống nào có thể xây dựng con người
tốt hơn được.
Cho nên người Tây Phương quay về với Phật Giáo. Là một
truyền thống lâu đời, Phật Giáo có nhiều khía cạnh gần giống như việc thực
hành trong truyền thống khoa học Tây Phương. Nhưng Phật Giáo vượt qua
truyền thống duy vật của Tây Phưong và vượt qua giới hạn của truyền thống
khoa hoc.” – Dr. Peter D. Santina, tác giả
cuốn Fundamentals of Buddhism (Nền Tảng của Phật Giáo).
---o0o---
| Mục lục Đạo Phật
Siêu Khoa Học |
| Tủ Sách
Phật Học |
---o0o---
Đánh máy: Chơn Huyền Vân
Cập
nhật : 1-7-2002