Đạo Phật Siêu Khoa Học
Minh Giác Nguyễn Học Tài
Chùa Liên Hoa, California, USA
ấn hành 1997
---o0o---
Chương 1
Bài 09
VÔ TÁC DIỆU LƯC
Trong
kinh Phật dùng chữ vô tác diệu lực và trong kinh Thánh dùng chữ
đức tin. Tuy tên có khác nhau nhưng ý nghĩa chỉ là một.
Kinh Phật hay
kinh Thánh đều dạy Phật tử hay tín đồ phải có đức tin mới thấy chứng
nghiệm hay được cứu rỗi như những chuyện kể sau đây:
Kinh Tân Ước
(Mathew 14:22-32): Chúa Jiêsu đi bộ trên mặt biển mà đến cùng môn đồ.
Khi thấy Chúa Jiêsu đi trên mặt biển thì môn đồ bối rối nói rằng ấy là một
con ma và sợ hãi la lên. Chúa Jiêsu liền phán “các người hãy yên lòng, ấy
là ta đừng sợ”. Pierre liền thưa rằng “Lạy Chúa, nếu phải là Chúa thì xin
hãy khiến tôi đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa”. Pierre trên thuyền bước
xuống biển đi bộ trên mặt nước mà đến cùng Chúa. Song khi thấy gió thổi
lên thì Pierre sợ hãi, hòng sụp xuống mặt nước, bèn la lên, “Chúa ơi xin
cứu tôi!”. Tức thì Chúa Jiêsu đưa tay nắm lấy Pierre mà nói rằng, “Hỡi
người thiếu đức tin, sao người hồ nghi mà làm vậy?.”
Kinh Tân Ước
(Marc 5:24-34): Kể rằng một bà mắc bệnh lậu huyết tìm đến Chúa xin chữa
bệnh. Trong lúc ngài đang giảng đạo, bà lần đến đằng sau mà rờ vào gấu áo
của Ngài. Chúa xây lại giữa đám đông và hỏi, “Ai đã rờ áo ta?” Ngài nhìn
quanh mình, thấy bà này đang quì run sợ vì biết sự đã xẩy đến cho mình.
Chúa Jiêsu phán rằng, “Hỡi con gái ta, đức tin của con đã cứu con, hãy đi
bình an và lành bệnh.”
Kinh Phật kể
rằng Vua A Xà Thế ra lệnh khoét mắt 500 tên cướp và đuổi đi. Chúng đi lạc
một cánh rừng. Từng toán, từng toán dìu nhau di, vừa đi vừa than khóc vừa
niệm Phật.
Phật ngồi
thiền ở xa, thấy chúng quá thống khổ bèn ra tay cứu độ. Trong khi 500 tên
cướp mù đang đi thất thểu, bỗng một luồng gió đầy hoa thơm cỏ lạ bay tới
mắt chúng, và chỉ trong khoảnh khắc, chúng đã hết mù.
Chúng bèn tìm đến quỳ dưới
Phật tạ ơn và bày tỏ lòng kính phục quyền năng của ngài. Phật nói rằng.
“Chính lòng tin của các người đã chữa lành cho các người đó!”.
Lòng tin hay
đức tin này trong kinh Phật gọi là Vô tác diệu lực, nghĩa là có
phép mầu nhiệm của chư Phật chứ không do tạo tác mà có.
Kinh có kể
truyện một tu sĩ như sau: Một hôm ông thấy mình hoàn toàn thanh tịnh nên
nghĩ rằng lúc này là lúc thuận lợi cho việc vãng sinh.
Niệm chú Ðại
Bi xong, ông leo lên một ngọn cây rất cao và gieo mình xuống đất. Vài
phút sau, ông tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên một đống cành lá đầy đặc.
Trong Phẩm Phổ
Môn, đức Quan Thế Âm Bồ Tát nói rằng, “Nếu niệm danh hiệu ta, vào lửa
không cháy, vào nước không chìm, dao chém không đứt, gieo mình xuống đất
như mặt nhật treo trăng…”
Vị sư này
trước khi thoát xác đã niệm chú Ðại Bi, nhưng không có ý thử sự hiệu
nghiệm của chú này.
Về việc “Vào
lửa không cháy”, xin xem bài “Một người Việt có khả năng kỳ lạ: Ði trên
lửa và than hồng” ở cuối bài.
Thế mà, gần
đây một vị lãnh đạo tôn giáo có tiếng nói rằng “Quí vị hãy lấy lửa đốt thử
ngón tay xem sao?” Vị này cũng giống như Thánh Pierre đã hồ nghi quyền
năng của Chúa.
Kinh Tân Ước
(Mathew 4: 4-11): kể rằng sau khi chịu thánh báp têm của Thánh
Jean-Baptist tại sông Gio-Ðăng. Chúa JiêSu đến nơi đồng vắng, chịu ma quỉ
cám dỗ. Ngài ở đó, sau 40 ngày đêm, không ăn uống gì cả. Mặt ngài từ từ
biến dạng. Trong thời gian đó, ngài đã chịu sự rhử thách của quỷ Satan ba
lần.
Lần thứ
nhất. Nó hiện và nói rằng: “Nếu ông là con của Ðức Chúa Trời thì hãy
khiến đá này trở nên bánh đi”.
Chúa Jiêsu đáp:
“Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, sống nhờ mọi
lời nói ra từ miệng đức Chúa Trời.”
Lần thứ hai.
Ma quỷ bèn đem Ngài vào nơi Thành Thánh, đặt Ngài trên nóc đền thờ và nói
rằng: “Nếu ông là con của Ðức Chúa Trời thì ông gieo mình xuống đi.” Cũng
có lời chép rằng: “Chúa sẽ truyền các Thiên xứ gìn giữ người thì các Ðấng
ấy nâng Người trong tay kẻo Người vấp nhằm đá chăng.”
Ðức Chúa Jiêsu
phán: “Cũng có lời chép rằng: người đừng thử Chúa là Ðức Chúa Trời Người.”
Lần thứ ba.
Ma quỉ đem Ngài lên trên núi rất cao chỉ cho Ngài các nước trên thế gian,
cùng sự vinh hiển của các nước ấy mà nói rằng: “Ví bằng Người sấp mình
trước mặt ta mà thờ lạy thì ta sẽ cho người hết thẩy mọi sự này.” Ðức
Chúa Jiêsu bèn phán cùng nó rằng: “Hỡi quỉ Satan, người hãy lui ra!” Vì có
lời chép rằng: “Người phải thờ phượng Chúa là Ðức Chúa Trời người, và chỉ
hầu việc một mình ngài thôi.” Ma quỉ bèn bỏ đi, liền có Thiên sứ đến gần
mà hầu việc Ngài.
Vị sư nhẩy từ
ngọn cây cao xuống đất không phải để thử sự hiệu nghiệm của chú Ðại bi.
Chúa Jiêsu không chịu nhẩy xuống vực để thử quyền năng của Ðức Chúa Trời.
Vị sư không thử, nhẩy mà không chết, y như “mặt nhật treo trăng.”
Muốn biết sự
hiệu nghiệm của chú Ðại bi, xin xem bài, “Bạch Y Thần Chú của Phương Chính,
một thuyền nhân đã được Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ trong một cuộc vượt
biên đầy gian khổ của ông.”
Ðọc kinh Thánh
hay kinh Phật có nhiều truyện quá sức tưởng tượng của loài người khiến một
số nguời đã đem lòng ngờ vực.
Ví dụ kinh
Thánh nói Ðức Mẹ Ðồng Trinh đã sinh ra chúa Jesus, và kinh Phật nói Hoàng
Hậu Ma Da nằm mê thấy voi sáu ngà ở trên hư không đến, lấy ngà voi khai
hông bên hữu mà chui vào. Từ đó, bà thọ thai và sanh ra Thái Tử tức là
Phật Thích Ca.
Khoa học ngày
nay đã chứng minh những truyện đó có thật. Xin xem bài nói về “Sinh đẻ
không cần giống đực”, ở phần sau. Rồi những truyện Thiên thần có cánh, có
hào quang sáng rỡ. Ngày nay, Công ty Progen đã chế tạo một máy ảnh chụp
hình hào quang có tên là Aura Picture Camara 6000. Chính con trai tôi đã
chụp hình này, và chính anh này cũng có một tấm hình của một cụ già đã tu
trên 30 năm, trên đầu hào quang sáng rỡ (Xin xem bài Siêu Tơ trời).
Thành thử, chỉ
khi nào khoa học đã thí nghiệm và kiểm chứng ta mới chịu tin. Lý do là
thị lực và đạo lực của chúng ta quá hạn hẹp. Những vị Thánh nhân ở dọc
theo dãy Hy Mã Lạp Sơn và đức Phật đã thấy vi trùng trong chén nước, thấy
Nguyên tử và những Hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử, cũng như đức Phật đã nói
trong vũ trụ “thế gìới xuất hiện như vi trần.”
Ai cũng biết
rằng khoa học đã đưa loài người từ tình trạnh dã man đến trính độ văn minh
như ngày nay. Từ chiếc pháo nhỏ do Marco Polo đem ở Trung Hoa về, khoa
hoc đã chế tạo được bom Nguyên tử, phản lực cơ, tầu ngầm, nguyên tử vệ
tinh, phi thuyền và trạm không gian để từ đó thám hiểm vũ trụ. Những công
việc của khoa học như điều tra, nghiên cứu, sưu tầm và thực nghiệm rất
khoa học hợp lý, và chính xác với những chứng minh cụ thể. Với khoa học
không có gì là mơ hồ, là tưởng tượng, ngoại trừ những truyện khoa học giả
tưởng.
Vì vậy, có một
số người cho rằng những kinh Ðại Thừa, nhất là kinh Hoa Nghiêm, Lăng
Nghiêm, Pháp Hoa đã được “ngụy tạo” để ca ngợi những phép thần thông
của chư Phật và chư đại Bồ Tát mặc dầu đó chỉ là những sản phẩm của trí
tưởng tượng mà thôi. Ðừng nói đến người thế tục, ngay cả đến hàng tu sĩ
cũng có một số vị không tin thần thông của chư Phật cùng một số cảnh giới
đã mô tả trong kinh.
Trong một băng
giảng, cụ Nghiêm Xuân Hồng đã nói như sau, “Phải là bộ óc của Phật và bộ
óc của Bồ Tát mới có thể bịa đặt những truyện đó được.”
Một anh bạn
nói với tôi, “Ðọc kinh Phật, cái gì anh cũng tin. Còn tôi những gì cụ thể
và chứng minh được tôi mới tin”. Tôi trả lời rằng ví dụ Einstein còn sống,
một học sinh Tiểu học nói rằng hắn không tin ở thuyết Tương Ðối Chung của
ông. Nếu Einstein chịu cắt nghĩa thì chú học sinh đó có hiểu được không?
Trong băng
giảng của Thượng tọa Quảng Thiệp, ông lấy thí dụ, một Chúa Mọi đi thăm Nữu
Ước. Khi về rừng, kể lại cho mọi người những điều tai nghe mắt thấy thì
chẳng có ai tin hết.
Cụ Nguyễn
Trường Tộ sau khi đi sứ ở Pháp về đã kể những truyện như thuyền không
người chèo vẫn chạy vùn vụt, đèn không đầu chổng ngược lại rất sáng, kính
gì mà nhìn vật ở xa ngay trước mắt v.v… Sử nói rằng Triều đình ta chẳng ai
tin cả.
Trong những
băng giảng, cụ Nghiêm Xuân Hồng nói rằng “Thế giới của loài sâu bọ rất
hạn hẹp. Chúng chỉ có những râu (ăng ten) để tìm đường kiếm thức ăn trong
vòng một vài thước. Cao hơn nữa là loài dã thú trong rừng. Rừng là cả
thế giới của chúng, ngoài rừng chúng không biết chỗ nào hơn. Cao hơn nữa
là thế giới của loài người.”
Khoa học tuy
tiến bộ, nhưng chỉ biết sơ qua về Thái Dương hệ và một số Thiên thể trong
vũ trụ, còn lại 90% là Chất tối (Dark matter) không thấy được vì chúng
không phát ra ánh sáng.
Thế giới của
loài người còn rất hạn hẹp so với các cõi của các bậc Tiên, Thánh, Phật.
Theo luật tắc, người cõi dưới không thấy được người cõi trên, nhưng người
cõi trên thấy được người cõi dưới. Lý do là quý vị đã gần sạch hết kiến
hoặc và tư hoặc, hoặc đã gần quả Phật nên trình độ của các Ngài ở mỗi cõi
đều cao thấp khác nhau. Ví dụ chúng ta là phàm phu chỉ sống ở bình diện
thấp nhất là Thức thứ sáu, tức là Ý thức.
Xin kể một ví
dụ về trình độ tu hành cao thấp. Một thầy, một trò ngồi thiền. Muốn thử
tâm lực của trò đến đâu, thầy dặn hễ thần thức của thầy đi đến cõi trời
nào thì trò nói liền. Thầy lần lượt đi vào Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền
và Tứ thiền; trò đều nói đúng vì theo sát nách. Bấy giờ thầy mới ‘dzọt’
luôn vào Trời Không Vô Biên Xứ thì trò không theo dõi được. Muốn công lực
hay nhãn lực cao hơn nữa thì phải tiến tu hơn nữa.
Ðiều này cũng
giống như một chiếc xe đua chạy 200 dặm một giờ đua với một xe cà tàng
chạy 30 dặm một giờ thì cái chú chạy 30 dặm một giờ làm sao bắt kịp anh
chạy 200 dặm một giờ.
Tu hành cũng
tương tự như vậy, càng tu càng cao càng thấy được nhiều cảnh giới của chư
Thiên, chư Phật, có thần thông và nhiều diệu dụng.
Bây giờ nói
đến thế giới hiện thực của chúng ta. Chúng ta thường nghe nói đến truyện
đĩa bay và người không gian đến thăm Trái đất.
Năm 1962, các
Thiên văn gia Mỹ hội họp và cho rằng Thiên hà của chúng ta, có thể có đến
50 triệu thế giới có nền văn minh ở trình độ rất cao. Hiện nay, tốc độ
của phi thuyền và của các vệ tinh vào khoảng 20,000 đến 60,000 dặm/giờ là
nhanh nhất trong khi dĩa bay từ những hành tinh xa lắc xa lơ cách xa Trái
đất đến hàng triệu năm ánh sáng mà thỉnh thoảng vẫn viếng thăm Trái đất
được. Vậy họ dùng thứ nhiên liệu gì?
Bây giờ, đa số
người trên thế giới không mấy ai tin có dĩa bay và người hành tinh vì quá
sức tưởng tượng của họ. Cũng tương tự như có một số người không tin những
phép thần thông của chư Phật cùng những cảnh giói bất khả tư nghì của quý
Ngài.
Tỉ dụ như
truyện Tây Du Ký chẳng mấy người tin mà còn cho là truyện bịa đặt
nữa. Lý do là truyện này quá sức tưởng tượng của họ.
Lấy lại thí dụ
là chú học sinh tiểu học đòi Einstein chứng minh bằng được Thuyết Tương
đối chung của ông thì khi Einstein chứng minh rồi, liệu chú học sinh hiểu
được không?
Rồi những con
dân của ông Chúa Mọi có tin được truyện ông đi thăm Nữu Ước không?
Tất nhiên là
không! Tại sao? Vì trình độ của họ lúc bấy giờ quá ư thấp kém, trí óc của
họ quá ư hạn hẹp.
Trong kinh
Lăng Nghiêm, Phật đã quở những người có óc hoài nghi như sau, “Nguyên
lai cái thể tánh của Tạng Như Lai cực diệu, cực minh, tức là đạo
vô thượng, không thể suy nghĩ, và cũng là Chánh tri kiến không thể nào bàn
đặng; như thế tại sao chúng sinh trong ba cõi lại lấy cái tâm sở tri phàm
tiểu của mình mà suy lượng cái đạo vô thượng của Phật…”
Bây giờ, tôi
xin nói rằng một số khoa học gia hiện tại có khuynh hướng tìm về những Ðạo
học Ðông Phương. Tôi xin giới thiệu thuyết Boostrap của Geoffrey Chew và
Fritjof Capra. Cụ Mạc Ngọc Pha dịch là Ðại Ủng. Tôi dịch là Trí Phàm
tiểu, nghĩa là trí bé nhỏ bị kẹt vào đôi ủng quá nặng nề (nghĩa là khoa
học thực nghiệm) khiến không thể bay bổng và siêu việt để hiểu được Thế
giới huyền nhiệm và những Ðạo lý Ðông Phương, nhất là đạo Phật. Tôi xin
nhường lời cho cụ Mạc Ngọc Pha nói qua về thuyết này:
“Trên 20
năm qua, Geoffrey Chey cùng với các cộng sự viên của ông trong đó có
Fritjof Capra đã xử dụng thuyết Boostrap để khám phá chiều sâu của thế
giới hạt nhân và đã dẫn tới một quan điểm triết lý về vũ trụ tự nhiên khác
hẳn với quan niệm cổ điển.
Fritjof Capra
viết: “Quan điểm triết lý Boostrap ấy không những từ bỏ quan niệm
về kiến trúc các khối vật chất cơ bản tạo mà còn khước từ bất cứ một thực
thể cơ bản nào, không có các hằng số, các định luật hoặc phương trình cơ
bản.”
Ðiều này
cho thấy rằng khoa học trong tương lai sẽ không cần đến bất cứ nền tảng
kiên cố nào… Phải chăng yếu lý của khoa học đã đồng nhất với
Nguyên lý ‘Nền tảng không nền tảng’ của Tính thể học của Heidegger,
hay ‘Thái cực = Vô cực’ của Chu Liêm Khê?
Nếu ở thế
kỷ XX, Einstein đã chuyển sang không gian Vật lý lý thuyết khai mở cho
không gian lượng tử tương đối, thì sang thời đại liên hành tinh, siêu địa
cầu, với khoa học siêu dẫn (Superconductivity) và khoa học
Cybernetics (xin xem bài Cybernetics, Robot), nhãn quan của khoa
học không còn giới hạn trong phạm vi vũ trụ Vật lý và luôn luôn hướng về
Phản Vũ trụ (Anti-Universe).
Tóm lại, thời
đại Hoàng kim của Khoa học Vật lý của Newton đã ngự trị trên thế giới
trong 300 năm đã bị Khoa học lượng tử của Einstein đánh đổ. Khoa học hiện
đại đang bước dần đến ngưỡng cửa của Thế giới Siêu nhiên và Huyền nhiệm.
Tôi xin nhắc
lại lời của Steven Weiberg, tác gỉa cuốn “The Three Units” nói rằng khoa
học hiện đại đang trở thành khoa học gỉa tưởng hay Thần học. Một số Vật
lý gia cho rằng Nguyên lượng Cơ học (Quantum mechanics) vừa Triết lý vừa
Vật lý đang đi dần đến Siêu hình và Phong thần.
Ai cũng công
nhận khoa học đã đưa loài người từ tình trạng dã man đến trình độ văn minh
như ngày nay. Nhưng muốn tìm kiếm thực tại cuối cùng của sự vật, các Khoa
học gia không nên ôm mãi những giáo điều căn bản của khoa học, mà họ cần
phải trở về nghiên cứu những truyền thống đạo giáo Ðông phương.
Ví dụ nhà bác
học Ðan Mạch Niel Bohr (1885-1950) đã đề xướng Nguyên lý Bổ sung
(Complimentary theory) sau khi nghiên cứu kinh sách và chịu ảnh hưởng của
tư tưởng Trung Hoa.
Fritjof Capra
đã viết cuốn “The Tao of Physics” (Ðạo của Khoa Vật Lý), sau khi
nghiên cứu các đạo Lão, đạo Khổng, đạo Phật, đạo Thiền, và đạo Bà La Môn.
Vật lý gia
Murray Gell-Mann, cha đẻ của thuyết Quark và Nguyên lượng Sắc động học
(Quantum Chromodynamics – QCD), đã dùng những danh từ Vật lý rất lạ sau
khi nghiên cứu tài liệu của James Joyce và nhất là những kinh điển Phật
Giáo.
Trong cuồn
“Phật Giáo và Khoa học”, giáo sư Tiến sĩ Vương Thủ Ích thuộc Ðại học
Michigan, đã bắt đầu dùng Nguyên lượng Cơ học để cắt nghĩa “Tánh Không”
của Phật Gíáo.
Ðể kết luận
bài này, chúng tôi nghĩ rằng đã từ lâu, chúng ta vốn có trong đầu óc những
kiến thức và định luật của khoa học, và chúng ta chỉ Thấy, Nghe hay Biết
trên cái bình diện thấp nhất là Thức thứ 6, làm sao chúng ta có thể hiểu
biết được những “thần thông biến hóa tràn đầy thế gian” cùng những cảnh
giới siêu xuất của chư Phật?
Bây giờ, muốn
hiểu được những điều nói trên, chúng ta phải tiến tu, tiến tu mãi trong vô
lượng kiếp cho đến khi đạt Phật quả. Lúc bấy giờ, chẳng cần ai chứng minh,
chúng ta sẽ thấy rằng những truyện nói về thân thông cùng những cảnh giới
của chư Phật không phải là những điều tưởng tượng hay bịa đặt.
Vì bài báo sau
đây có gía trị vô song đối với những ai còn nghi ngờ thần thông của chư
Phật nên tôi mạn phép in lại mà không có phép của tác gỉa và tòa báo. Lý
do là vì tôi đã quên xuất xứ, tôi xin chân thành cáo lỗi với tác gỉa và
tòa báo, vì Phật pháp, mà rộng lòng tha thừ cho.
Trong Phẩm Phổ
Môn, đức quán Thế Âm Bồ Tát nói rằng, “Nếu niệm danh hiệu ta, vào lửa
không cháy, vào nước không chìm, dao chém không đứt, gieo mình xuống đất
như mặt nhật treo trăng…”
Hầu hết những
khám phá mới của khoa học ngày nay đã được kinh Phật nói đến mười mấy thế
kỷ. Ví dụ Ngài Vô Trước, một triết gia Phật đã nói vũ trụ chỉ là một khái
niệm, và gần đây Albert Einstein cũng cho rằng vũ trụ khi phân tích đến
cùng chỉ là những rung động hay những làn sóng.
Ðức Phật đã
nói trong bầu trời có vô vàn, vô số thế giới nhiều như số cát sông Hằng,
và đức Quán Thế Âm Bồ Tát cũng nói trong cái cõi Tam thiên Ðại thiên Thế
giới này có trăm ức Mặt trời, Mặt trăng và Thiên văn gia Edwin Hubble đã
chứng minh điều đó.
Ðức Phật đã
thấy vi trùng, Nguyên tử và những Hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử, và ngày nay
khoa học đã khám phá ra điều đó. Ðức Phổ Hiền đã thấy vi trần số hình
dạng của các Thiên thể mà ngày nay các Thiên văn gia đang lần lưọt chụp
hình đuợc.
Ngoài ra, kinh
Phật đã nói đến Vi tích phân, Ðiện từ trưòng, Quang minh (radiation), hào
quang, và cội nguồn của sự vật v.v…mà chính khoa học ngày nay vẫn chưa
khám phá ra được.
Như vậ quý vị
có đồng ý rằng đạo Phật là đạo Siêu khoa học không?
MỘT NGƯỜI VIỆT Ở THÁI LAN
CÓ KHẢ NĂNG KỲ LẠ: ÐI TRÊN LỬA VÀ THAN HỒNG.
Bangkok
(TC3-5-93) - Tại một khu hội chợ ở thủ đô Bangkok, Thái Lan, một đám đông
chen chúc kớp trong lớp ngoài, trên lễ đài có các nhà sư bận cà sa vàng,
các chức sắc địa phương. Ðám đông không ngớt vỗ tay tán thưởng trước một
cuộc biểu diễn có một không hai: đi chân không trên thảm lửa than hồng!
Người ta đổ
khoảng 20 bao than, trải ra như 1 tấm thảm trải dài chừng 7m, rộng 1.5m.
Tấm thảm than được rưới dầu hôi và đốt cháy đỏ rực bằng chục tay quạt cật
lực. Ðể giữ cho than lâu tàn, người ta còn rải lên đó bằng những nắm muối
ăn.
Màn biểu diễn
bắt đầu. Người đi trên thảm lửa than hồng đầu tiên là một nhà sư. Chắp
tay trước ngực, miệng lẩm nhẩm tụng kinh, nhà sư bước chậm rãi từ đầu này
đến đầu kia. Mỗi bước đi của nhà sư nhận được từng tràng pháo tay tán
thưởng. Người ta có thể cảm thấy hơi nóng hừng hực lên từ tấm thảm hồng,
nhưng đối với nhà sư thì hình như không có chuyện gì xẩy ra!
Kế tiếp là
khoảng chục đệ tử của nhà sư. Họ nối nhau đi trên lửa làm nhiều vòng. Có
người hai tay cầm hai chai xăng vừa đi vừa rưới xuống hai bên. Lửa bùng
lên thành ngọn trong tiếng reo hò cuồng nhiệt của đám đông. Cảnh tượng
trông thật ngoạn mục!
Người đúng ra
tổ chức buổi biểu diễn đó là ông Lê Tịnh Tâm, 62 tuổi, một người Việt quê
quán ở Bà Rịa – Vũng Tàu, sinh sống trên đất Thái Lan đã 40 năm nay.
Ông Lê Tịnh
Tâm qua Thái Lan tu lúc 22 tuổi. Ông bỏ ra 20 năm để nghiên cứu về thiền.
Ông đã nhiều lần qua Ấn Ðộ tầm sư học đạo. Ngày nay, ngoài khả năng đi
trên lửa, ông còn có thể thực hiện thọc tay vào một chảo dầu đang sôi, dẫm
chân hay cầm tay một thanh sắt nung đỏ.
Trong thời
gian tu hành, ông Lê Tịnh Tâm đã theo học y khoa.
---o0o---
| Mục lục Đạo Phật
Siêu Khoa Học |
| Tủ Sách
Phật Học |
---o0o---
Đánh máy: Chơn Huyền Vân
Cập
nhật : 1-7-2002