Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo và Thời Đại


...... ... .

 

Văn Minh Phương Ðông Và Phương Tây

ÐỐI THOẠI GIỮA

TRIẾT HỌC & PHẬT GIÁO

Jean Francois Revel – Matthieu Ricard

BS Hồ Hữu Hưng  biên dịch
 

NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

--2002--

---oOo---

Chương X 

 

PHẬT GIÁO : SUY TÀN VÀ PHỤC HƯNG

 

Jean Francois : Không thể chối cãi được là sự truyền bà Phật giáo sang Tây phương  đã gặp thuận lợi Tuy thế  điều này chưa đủ để giải thích sự quan tâm hiện nay của châu Âu đối với Phật giáo. Mặt khác Phật giáo đã chứng minh một thích nghi tuyệt vời vì lẽ nó đã bị bắt buộc sống trong cảnh ly tán từ cuối thế kỷ thứ 12. N ên nhớ ràng vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên vào trước thời vua A Dục, vào khoảng 150 năm sau Ðức Phật, Phật giáo đã truyền  đi khắp Ấn Ðộ và các nước lân cận. Cùng với Ấn Ðộ giáo, Phật giáo là một trong hai tôn giáo chính của Ấn Ðộ, vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên cho đến thế kỷ thứ 12 và 13,  thời kỳ mà Phật giáo bị đàn áp do sự du nhập Hồi giáo vào Ấn Ðộ. Sự xuất hiện đột ngột của Hồi giáo ở Ấn Ðộ đã hây một xúc dộng lơn cho mọi người và từ thế kỷ thứ 12 đén thứ kỷ thứ 13, một phần Ấn Ðộ phải chịu sự thống trị của Hồi giáo. Dù sao Ấn Ðộ giáo vẫn còn là ton ghoái chính của xứ ngày trong khi đó Phật giáo bị quét sạch. Vì sao thế?

Matthieu : Nói chung Phật giáo đã trải qua một đoạn đường dạu khó khăn suốt lich sử của nó. Thoạt tiên các tu sĩ Phật giáo là những người lang thang. Ðức Phật di chuyển rất nhiều và chỉ dừng chân ba tháng hè để nhập hạ. Trong thời gian ấy các tu sĩ ở trong cá kều tạm làm bằng tre lá, và sau đó họ tiếp tục cuộc hành trình. Theo dòng thời gian, nhiều tín đồ đã mong muốn có một nơi cố định để Ðức Phật và chư tăng hàng năm về nhập hạ. Những thí chủ bắt đầu dựng lên những nhà kiên cố mà hình dáng giống như các lều tre thuở trước. Dần dần một vài tu sĩ bắt đầu ở luôn trong các ngội nhà ây, rồi nhiều cộng đồng được thiết lập và như vậy là những tu viện đầu tiên ra đời. Ban đầu, Phật giáo chỉ giới hạn trong tỉnh Ma Kiệt đà tức bang Bihar Ấn Ðộ ngày nay. Sau đó nó lan truyên nhanh chóng khắp Ấn Ðộ cho đên A Phú hãn (Afghanistan). Có những sự trao đổi với Hy Lạp, bằng cớ là bản văn sưu tập triết lý nổi tiếng dưới dạng đối thoại của Na Tiên tỳ kheo với vua My lan đà đã thống trị vùng Bactriane vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên.

Jean Francois : Ðể cho độc giả hiểu rõ hơn, thời đại vua My lan Ðà nằm giữa thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên và thời kỳ toàn thịnh đế chế La mã thế kỷ thứ 1 trước Công nguyên.

Matthieu : Việc đi lại của các đoàn lữ hành buôn bán đã cho Phật giáo có cơ hội tiếp xúc với văn minh Hy Lạp thời đó rất cởi mở với các luồng tư tưởng ngoại lai.

Jean Francois : Và các cuộc chinh phạt của Alexandre Ðại đế đã tăng thêm các cuộc tiếp xúc đó và vì thế đã khai sinh ra nghệ thuật Hy Lạp – Phật giáo.

Matthieu : Khoảng thế kỷ thứ 6 và nhất là thế kỷ thứ 9 Phật giáo đã du nhập vào Tây Tạng do Liên hoa Sanh (Padmasambhava) được vua Trisong Detsen mời đến. Vị vua này trước đó đã có một vị thầy Phật giáo và theo lời khuyên của vị thầy này là nên xây dựng một ngôi tu viện lớn đầu tiên ở Tây Tạng. Vua bèn mời Liên hoa Sanh một vị đại hiền thời bấy giờ. Liên hoa Sanh được người Tây Tạng xem như vị Phật thứ hai vì chính nghờ ngài mà Phật giáo mới phát triển ở Tây Tạng. Như vậy là Liên hoa Sanh đã trông nom việc xây dựng Samyé, ngôi chùa Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng. Cũng chính ngài đã dịch Giáo quy Phật giáo từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng. Ngài đã mời hàng trăm học giả Phật giáo Ấn Ðộ, và gửi sang đấy những thanh niên Tây Tạng để học tiếng Phạn. Sau đó, một hội đoàn gồm có các dịch gia ûTây Tạng và học giả Ấn Ðộ tụ họp tại Samyé trong vòng 50 năm để dịch 103 quyết  “Lời dạy của Ðức Phật” và 213 quyển “Bình giải về các lời dạy này” của các học giả Ấn Ðộ. Trong vòng 2 hay 3 thế kỷ kế tiếp nhiều bực đạo sư Tây Tạng đã đến Ấn và ở đấy hàng 10 năm hay 20 năm. Sau đó họ trở về Tây Tạng mang theo các bản văn còn chưa được dịch trước đó.

Jean Francois : Trong thời gian đó cái gì đã xảy ra ở Ấn Ðộ?

Matthieu : Ở Ấn Ðộ vào cuối thế kỷ thứ 12, sự đàn áp của Hồi giáo nhắm vào Phật giáo đã đến điểm đỉnh. Phật giáo đang trên đà suy vi và là cái đích ngắm dễ dàng, vì các đại học Phật giáo rất dễ nhận diện. Ðại học Nalanda và Vikramathila có hàng ngàn sinh viên theo học dưới sự bảo trợ của các vị thầy nổi danh nhất thời bấy giơ. Những đại học ấy cũng có những thư viện mênh mông với một sự phong phú có thể sánh với thư viện thời danh ở Alexadrie. Tất cả những toà nhà ấy đêu bị pahs hủ, sách vở bị đốt sạch và các tu sĩ bị tàn sát.

Jean Francois : Và cũng vì sự dễ nhận dạng của các Ðại học Phật giáo, các thư viện, các ngôi chùa mà Phật giáo đã bị quét sạch dễ dàng hơn là đối với Ấn Ðộ giáo đã chống đỡ hữu hiệu hơn.

Matthieu : Không hẳn là thế, Phật giáo đã bắt đầu suy tàn ở Ấn Ðộ vì nhiều lý do không rõ ràng. Từ thế kỷ thứ 6 sụ phục hồi các truyền thống Ba La Môn và sự đồng hoá vài quan niệm Phật giáo vào kinh Vệ đà là một trong những kinh siêu hình chính của Ấn giáo, đã mài mòn ảnh hưởng Phật giáo. Sau khi lan rộng khắp Ấn Ðộ, Phật giáo lại co về tập hợp tại vùng Ma Kiệt đà tức là Bihar ngày nay và về nước Bangladesh. Kinh Vệ đà nhấn mạnh về thuyết bất nhị đã sát nhập những điễm quan trọng trong kinh điển Phật giáo, tuy nhiên vẫn công kích Phật giáo. Cái ảnh hưởng đó đã lấp dần hố ngăn cách về học thuyết Ấn Ðộ và Phật giáo. Hơn nữa, Ấn Ðộ rất chú trọng về hệ thống giai cấp mà Phật giáo không màng tới. Lại còn những trung tâm Phật học quan trọng và những tu viện lớn đã làm cho các bộ lạc Hồi lầm tưởng là  những pháo đài và đã huỷ diệt không thương tiếc.

Jean Francois : Một vài tư tưởng Phật giáo có tồn tại trongẤn giáo hay không?

Matthieu : Có thể nói chúng đã được đồng hoá, dù rằng các triết gia Ấn giáo vẫn tiếp tục công kích Phật giáo.

Jean Francois : Vậy Phật giáo là một trong các ví dụ hiếm thấy về một tôn giáo bị quét sạch khỏi vùng đất nơi nó được khai sinh và phát triển trong suốt một thiên niên kỷ. Người ta cũng có thẻ cho một ví dụ khác: đó là sự bóp ngẹt, sự dập tắt, sự bứng gốc một phần các tôn giáo trước Christophe Colomb do sự chinh phục châu Mỹ la tinh bởi Tây ban Nha và âu Châu.

Matthieu : Phật giáo cũng đã di chuyển về hướng nam đến Srilanka, sau đó về hướng đông qua Thái lan, Miến Ðiện, Lào dưới hình thức Phật  giáo nguyên thuỷ (theravada) nó được truyền lên miền bắc sang Trung hoa vào thế kỷ thứ 6 dưới hình thức Ðại thừa và sang Nhật bản nơi nó phát triển thành Phật giáo thiền tông (Zen) hiện nay chủ trương quan sát bản thể của tâm.

Jean Francois : sau thế chiến thứ hai và cho đến 1970 thiền tông rất phổ biến và được xem là thời thường ở Tây phương. Những học trò của Berkeley trong những năm 60 khi có sphong trào chỉ trích Tây phương đã rất say mê thiền tông. Vài người đã thử hành trình và cho đó là một sự hoà hợp giữa một học thuyết chánh trị và Phật giáo. Họ đã sáng chế ra cái mà họ gọi là thiền tông Mạc xít, tuy nhiên đã không tồn tại lâu.

Jean Francois : Phật giáo thiền tông hiịen nở rộ ở phương Tây. Tuy nhiên ở Tây Tạng ba thừa Phật giáo được gìn giữ vàđược tiếp nối rất trung thực, điều này giúp cho phật tự tiếp thu các lời dạy kinh điển trong hành trình tâm linh của mình.

Việc hành trình tiểu thừa – đúng hơn là phật giáo nguyên thuỷ Theravada –đặt nền tảng  trên đạo đức, trên kỷ luật tu viện và nhất là trên thiền quán về sự bất toàn của thế gian và tính phù du của mọi nỗi bận tâm của chúng ta trong cuộc đời. Những suy tư đó khiến hành giả muốn thoát ly đau khổ và cái vòng lẩn quẩn của cuộc sống tức ra khỏi luân hồi. Phật giáo nguyên thuỷ không thiếu tình thương với đồng loại cũng như lòng bi mẫn với những người đau khổ, nhưng đại thừa ở Tây Tạng, ở Trung hoa, ở Nhật đã nhấn mạnh đến tình yêu và lòng bác ái đối với chúng sinh. Theo lời dạy của ddaijt hừa ta khó thoát ra đau khổ nếu tất cả chúng sinh quanh ta tiếp tục đau khổ. Mục đích của đại thừa chuyển hoá tâm thức vì lợi ích chúng sinh. Ở Ấn Ðộ nhất là ở Tây Tạng đã phát triển thêm thừa thứ ba Kim cang thừa hay mật tông. Thừa này thêm vào hai thừa trên những kỷ thuật tâm linh nhằm giúp thể hiện nhanh chống hơn Phật tính ở chúng ta và chỉ ra sự nhất nguyên của vạn vật. Cái nhận thức ấy thay vì bóp chết lòng từ bi lại tăng cường và củng cố nó. Như vậy là nhờ vào sự hội tụ của hoàn cảnh  địa lý và chánh trị mà Tây Tạng có thể tổng hợp cả ba thừa Phật giáo .

Jean Francois : do những gian nan trong việc truyền đạo Phật giáo có chiều hướng phát triển ra ngoài quốc gia và nhờ vậy đã thâm nhập vào Tây phương. Nó đã không liên kết với một nền văn hoá nhất định nào, dù rằng trong lịch sử của nó Phật giáo đã từng giao thoa chặt chẽ với nhiều nền văn hoá khác. Cho dù như Tây Tạng, gióng như một pháo đài tâm linh đã gìn giữ được các thừa Phật giáo suốt hơn một thiên niên kỷ, những lời dạy của Ðức Phật cũng đã lan truyền sang những nền văn minh khác hẳn như Srilanka và Nhật bản. Phật giáo có đượm  màu sắc của quốc gia mà nó đang phát triển ở đấy không?

Matthieu : Ở Tây Tạng cũng có một mối đạo riêng của địa phương gọi là đạo Bôn có dáng vẻ một đạo thờ ma quỷ, nhưng cũng có riêng một thuyết siêu hình phức tạp tồn tại đến ngày nay. Vào thế kỷ thứ 9, những cuộc tranh luận siêu hình đã nổ ra giữa đạo Bôn và Phật giáo. Những hiện tượng tương tự cũng xảy ra ở thái Lan, Nhật bản v.v... và chắc chắn sẽ xảy ra ở Tây phương. nhưng cốt tuỷ Phật giáo thì không hề thay đổi.

Jean Francois : Như vậy là sự truyền bá cũng như sự hành trình Phật giáo có chiều hướng toàn cầu hoá. Nhưng nhiều đạo khác cũng tự cho có tầm cỡ thế giới ví dụ như Cơ đốc giáo, đúng hơn là  Công giáo vì chữ Công giáo đến từ chữ Hy Lạp có nghĩa là hoàn vũ. Và vì hiểu như thế nên Công giáo tự cho có quyền bắt mọi người cải đạo bằng võ lực. Hồi giáo cũng có khuynh hướng tương tự bằng súng và dao. Vì lẻ trong những đạo này đã trở thành tín đồ bắt buộc phải có niềm tin tuyệt đối vào vài giáo điều. Nhưng trường hợp này không có trong Phật giáo. Sự giao lưu với các nền văn hoá khác, không hề ngụ ý một sự tuân phục hoàn toàn, nói gì đến một sự ép buộc.

Matthieu : Ðức Phật đã nói: “Ðừng tin những gì ta nói. Tự các ngươi xem xét chứng nghiệm và tìm ra chân lý. Ta chỉ ra con đường, các người tự thắp đuốc mà đi.” Lời dạy của Ðức Phật giống như một cuốn sổ ghi nhớ, diễn tả và chỉ dẫn con đường đi đến sự tỉnh thức, con đường mà ngài đã đi qua. Ðể trở thành Phật tử, người ta cũng nương tựa vào Pháp, không phải như một giáo điều mà như một con đường sau cùng người ta nương tựa vào tăng đoàn như những bạn đồng hành đi trên con đường đạo. Nhưng Phật giáo không bao giờ cố gắng đưa người ta vào đạo hay cải đạo cho họ, điều nay hoàn toàn vô nghĩa với Phật giáo.

Jean Francois : Phật giáo không bao giờ có thaid độ chinh phục, nó chỉ biểu hiện như một cuộc phát huy tinh thần. Những ai muốn tìm hiểu nó phải có can đảm đi bước đầu tiên và khám phá nó qua sự chứng nghiệm bản thân. Thật rất thú vị khi nhìn thấy Phật giáo trổ hoa ở Tây Tạng và ở Trung quốc. Nhiều bậc đại hiền đã đến đó và ánh sáng tâm linh nơi họ đã thu hút rất nhiều đệ tử như mật hoa lôi kéo đàn ong vậy.

Jean Francois : Qua những cuộc trao đổi giữa chúng ta, Ba nhận thấy sự phong phú của ẩn dụ trong ngôn ngữ Phật giáo. Ðiều này cũng không làm phiền lòng Ba. Platon cũng thường dùng những hình ảnh, những huyền thoại cùng những so sánh. Ba luôn luôn thích việc đem thơ vào triết lý nhưng Ba không chắc rằng việc này có thể đem đến câu trả lời cho tất cả các câu hỏi mà ta có thể đặt ra.

Matthieu : Thế thì con cho Ba thêm một hình ảnh, khi nói rằng ẩn dụ như là ngón tau chỉ mặt trăng. Phải nhìn mặt trăng chớ không nhìn ngón tay. Một hình ảnh đôi khi nói nhiều hơn là một sự diễn tả dài dòng.

Jean Francois : Vấn đề quan yếu với văn minh phương Tây, là tự hỏi xem những nhu cầu tâm linh nào mà nó cần đến mà không thể tự mình thoả mãn được, và câu trả lời khả dĩ Phật giáo có thể mang đến. Tuy nhiên ý niệm một học thuyết có thể thích ngi để đáp ứng các nhu cầu tâm linh.

Matthieu : Mục tiêu chính của Phật giáo là sự khám phá ra bản thể của tâm linh cà nó đã có 2500 năm kinh nghiệm trong lãnh vực này. Ðó là nó về tính xác thực còn nói về chân lý, thì chính chân lý là sức mạnh của Phật giáo. Nó hiền lộ qua những sự kiện cà những con người bất chấp thời gian và hoàn cảnh, khác hẳn với các giáo phái khác nguỵ tạo chỉ chờ cơ hội là sụp đổ. Cái tính cách dối trá của một số giáo phái đôi khi cũng có mọt số đông tín đồ llo bộc lộ bởi những mâu thuẫn nội bộ, những tai tiếng, đôi khi những hành động rùng rợn như các bản tin thời sự thường đăng tải. Ngược lại sự gia tăng chú ý về Phật giáo đối với phương Tây thì kín đáo hơn nhiều. Những trung tâm Phật giáo là nơi gặp gỡ của những người bạn có cùng chung một khát vọng và muốn kết hợp với nhau để học hỏi, hành trì, dịch thuật các bản văn và bình luận sang ngôn ngữ Tây phương. Mục đích của họ là để phổ biến một truyền thống tâm linh đích thực và sống động. Những người này luôn luôn được cảm tình của dân chún địa phương.

Jean Francois : Ba tuyệt đối không hề có ý so sánh một nên  minh triết đã có hơn hai thiên niên kỷ với các giáo phái quái gỡ, hư hỏng đang hoành hành hiện nay mà đa số chỉ là những cuocj dinh doanh lừa đảo. Nhưng vì Ba luôn luôn đề phòng về những kích động nhất thời của tâm tính con người, Ba chỉ muốn lưu ý về sự say mê của một số người đối với một lý thuyết  mới,  hay đối với những vị thầy mà họ cho là khả kính nhưng thật ra chì là những kẻ lưu manh. Sự say mê nhất thời của số người đó không chứng minh được là giáo thuyết mà họ đang hướng về thật sự là đáng thuyết phục. Cần phải có một sự chứng minh rõ ràng hơn.

Matthieu : Một sự chứng minh như vậy chỉ có thể có được với kết quả dài hạn qua cuộc hành trình tâm linh. Kết quả của sự học hỏi là tự làm chủ được bản thân, và kết quả của việc hành trì là sự giảm thiểu các tình cảm tiêu cực. Một sự say mê nhất thời không có giá trị gì.

Jean Francois : Ðó là tất cả điều Ba muốn nói rõ ràng nếu căn cứ vào sự quan sát thuần tuý các sự kiện thì không thể so sánh Phật giáo với các giáo phái được.nhưng nên nhớ rằng đôi khi một vài nhà trí thức có tiếng tăm cũng bị kẹt vào những việc nhãm nhí. Ba có biết một vài bác sĩ thời danh đã gia nhập vào những trò đùa dai kiểu đó hàng năm ròng và gánh chịu những sự ràng buộc của các giáo phái đó. Như vậy khi muốn tìm chân lý,không nên chỉ bằng lòng với khát vọng về ddeur mọi thứ. Nói thế là để chỉ ra trách nhiệm của người đề ra giáo thuyết.

Matthieu : Một con đường tâm linh đích thực bắt buộc phải khắc khe với chính mình và bao dung với kẻ khác.  Trái với các giáo phái trong đó người ta rất khó khăn vói người khác lại quá dễ dãi với chính mình đối với đối với những lý tưởng mà người ta đề ra. Chỉ cần một người có ít nhiều tính toán quyết định lợi dụng ảnh hưởng của mình đối với kẻ khác, để những kẻ yếu lòng không biết nương tựa vào ai sẵn sàng làm nô lệ cả linh hồn lẫn thể xác cho họ. Nhưng điểm khác biệt căn bản, là các giáo phái thường khi là sự pha tạp các yếu tố rải rác, các mãnh gọi là truyền thống không bắt nguồn từ một sự truyền thừa tâm linh đích thực nào, và cũng không dựa trên một nguyên tắc siêu hình nào cả. Do vậy các giáo phái đó không đưa đến một sự tiến bộ tâm linh bền vững nào mà chỉ đem đến sự bấn loạn và thất vọng.

 

---o0o---

Chương 9 | Mục Lục | Chương 11

---o0o---

Vi tính: Nguyên Trang

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-2 -2003


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang Phật Giáo và Thời Đại

Đầu trang

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com