7.
ĐẶT THÂN PHẬN CON NGƯỜI
TRƯỚC CỬA NGÕ GIÁC NGỘ
THÂN phận con người và cuộc đời đã hiện
hình dưới mắt Camus qua chiều thống khổ và nổi loạn. Con người
sống dưới một vũ trụ vô nghĩa, sống giữa một cuộc đời công
thức chán phèo. Mọi người đều nô lệ tập quán. Tất cả đều
bị ràng buộc trong những chuỗi cử động, trong nghề nghiệp, trong sự
cơ giới hóa cuộc sống. Làm việc, ăn, ngủ, chơi
cứ theo
đuôi nhau tiếp diễn hết ngày nọ qua ngày kia. Thực là vô vị, thế
mà ý thức mình không hề hay biết, ý thức mình hoàn toàn bị máy
móc hóa mất rồi. Con người lầm lũi trong một nhịp sống nhạt nhẽo
vô duyên như vậy cho đến một ngày kia, trong một khoảnh khắc nào
đó ý thức bừng dậy. Sự bừng sáng của ý thức là một cuộc
sung động lớn lao trong tâm tư, làm cho tất cả đều bị thay đổi từ
gốc rễ. Giây phút ý thức bừng sáng đó phát sinh ngay trong cuộc
sống thường ngày, không cần phải ngồi trầm tư ở một nơi thanh
vắng, mà trên đường, chen giữa đám đông, sống giữa tiếng
động cơ của đô thị thì tự nhiên cũng bắt gặp được giây phút
bừng sáng đó. Chính lúc này là lúc con người chợt nhận thấy
tất cả cái phi lý của cuộc sống, và chính lúc này là lúc khổ
đau choán ngợp tâm tư con người. Chính lúc này là lúc con người
tự ghê tởm chính mình. Con người bắt đầu tìm thấy một "kẻ
lạ mặt" bấy lâu nay vẫn sống trong mình "Vì sao lâu nay mình
lại có thể đồng nhất với một kẻ không phải là mình". Đó
là tiếng kêu đau khổ của con người. Khi ý thức bừng sáng, đã
tự nhận ra được từ xưa tới nay mình sống hoàn toàn bởi
"kẻ khác", bao nhiêu tình cảm, suy tưởng, hành động của
mình đều là của người khác. "Kẻ khác" đây thâm nhập
vào tâm tư con người từ trước tới nay, qua tập quán, ngôn ngữ,
kinh nghiệm
của con người giữa cuộc đời để con người tự
chấp nhận đó làm lối rung cảm, suy tư, hành động của mình, thật
là thảm thương. Nếu Sartre luôn luôn lo sợ bị kẻ khác đánh cắp
bản ngã của mình thì Camus lại đã thức giác được rằng kẻ khác
đã chiếm đoạt bản ngã của mình từ lâu rồi. Sự ghê rợn nhất
là lúc ý thức bừng sáng để thấy mình đối diện với một kẻ
xa lạ trong mình, đến nỗi mình phải rú lên chạy trốn, nhưng bi đát
hơn nữa là chẳng bao giờ có thể trốn thoát "kẻ lạ mặt"
đó được.
Cuộc đời hiện ra dưới ánh sáng ý thức tựa một
giòng thời gian xuôi về cái chết, cái chết đã hiện ra ở cuối
con đường sống. Thôi rồi ! tất cả đều trở thành vô nghĩa. Bao
nhiêu công nghiệp, bao nhiêu cố gắng, bao nhiêu hoài bão, bao nhiêu
tham vọng, bao nhiêu tình tiết đều bị tiêu ma hết. Như vậy cuộc
đời còn gì đáng để ta chấp giữ nữa. Tới đây vấn đề tự
tử được kêu tới. Kêu tới sự kiện tự tử là chấp nhận
quan niệm "đời không đáng sống" nữa. Quan niệm này là
đối đầu của quan niệm "đời đáng sống". Trung tâm của
triết học xưa nay đều chỉ nhằm giải quyết vấn đề đời đáng
sống hay không đáng sống. Camus đã giải quyết vấn đề "sinh
tử" này một cách hết sức tự tại và khổ đau, tuyệt vọng.
Theo ông, khi ý thức bừng sáng để mình thức giác được mình
cũng là lúc đưa mình đi lần tới cái chết trống trơn vô nghĩa.
Cuộc sống đã bị sự chết làm cho mất hết ý nghĩa. Sống đã
không có ý nghĩa thì chết cũng chẳng có ý nghĩa gì cả. Vậy, tại
sao ta lại phải tự tử để nhận thấy cái chết mau hơn. Việc đổi
sống lấy chết là một việc vô nghĩa, Camus nhất định không chịu
đổi như vậy. Ông cho rằng tự tử là ly khai với chân lý. Chân
lý ở đây không phải là một nhân vật thần thoại, cũng không
phải là cuộc sống vật chất nhớp nhếch, và cũng không phải là
một hoài vọng để tự mình lừa dối mình, mà chân lý là chính
cái giây phút sáng khởi của ý thức. Giây phút ý thức sáng
khởi đã giúp cho ta thấy được sự thực về cuộc đời, đã
gây cho ta một tâm trạng thao thức bất an và đau khổ. Giây phút
quý giá đó đã bừng dậy, ta không thể để cho nó chìm trong giấc
ngủ ngàn đời. Ta cần phải nuôi giữ nó. Ta phải sống để bảo
tồn nó, vì nó mới là chân lý. Nó là sự đối chất thường
trực của con người với sự tăm tối của chính con người. Nó là
sự đối diện thường trực của con người với chính bản thân con
người. Vậy, nhất định cứ sống. Sống, không cần đạt mục đích
gì, mà là để bắt tay, đối diện thường xuyên với những chân
tướng khổ đau thực tại của cuộc đời.
Camus đã tiếp tục đi trên con đường của Nietzsche là
muốn đặt vinh quang của con người ngay trên cuộc sống vô nghĩa này.
Con người phải làm theo nghiệp dĩ của mình để làm cho cuộc đời
không có nghĩa này thành như là có nghĩa, mặc dầu thâm tâm mình
luôn luôn nhận thấy nó chẳng thấy có nghĩa gì cả. Nghiệp dĩ con
người đúng là một diễn viên trên sân khấu. Biết rằng sau khi
tấm màn đỏ buông xuống mình sẽ hết vai trò, nhưng mình vẫn đóng
trọn vai trò của mình. Chỉ khi nào làm tròn nghiệp dĩ của mình đồng
thời hiểu được đó là một sự kiện một hành động vô ích thì
mình mới tìm thấy lòng thương yêu bao dung và cao rộng. Nếu Nietzsche
muốn tạo ra mẫu người siêu nhân, lập lại mọi giá trị cuộc sống,
thì Camus tìm ra được một con người giác ngộ, giác ngộ được
sự phi lý cuộc đời. Nhưng không buông trôi mà là chọn lựa sự
phi lý của nghiệp dĩ mình để sắm trọn vai trò dù biết vai trò
đây cũng là sự phi lý. Chỉ có người nào khi đã thức giác
được tính cách vô nghĩa của cuộc sống mà vẫn can đảm nhận lãnh
việc đời, thì sự cố gắng của người đó mới thực là sự
cố gắng không ngừng. Vũ trụ đối với họ không còn vô dụng
nữa. Sự tranh đấu tiến tới điểm tột đỉnh của chủ quan vòi vọi
cũng đủ lập đầy mọi khoảng trống tâm hồn họ. Camus đã tạo nổi
một tia sáng cho hạnh phúc con người, tức là đưa con người từ
những đau khổ của cuộc đời tương đối vào ý thức sáng khởi
tự đối của mình để mình chấp nhận những đau khổ của cuộc
đời tương đối như một nghiệp dĩ không sao tránh được. Camus vừa
chối bỏ tự tử vừa chối bỏ hy vọng, để nhận một thái độ
đề kháng thường xuyên. Có đề kháng thường xuyên như thế mới
giữ nổi giây phút ý thức sáng khởi; mà chỉ có sự sáng khởi
của ý thức, con người mới tìm nổi bản ngã hiện sinh đích thực
của mình. Nếu giây phút quý báu đó tắt đi, lập tức con người
bị "kẻ xa lạ" là quan niệm sống của thói đời xâm chiếm
mất. Lúc đó mình không còn là mình nữa, mình sẽ mãi mãi ngủ
vùi trong mộng ảo tăm tối.
Có thể nói Camus đã cố gắng tự gạn lọc tiềm
thức mình để tìm lấy ngã thức nguyên vẹn lẫn lộn giữa mớ
hỗn tạp của tiềm thức. Khác với Sartre ở điểm là Sartre đã
quên đi tất cả những ý niệm thông thường, quên cả ý thức
mình nữa để hòa đồng với bản thể vô thức của vạn hữu, còn
Camus thì chỉ gạt bỏ những quan niệm thông thường để giữ lấy ý
thức của chính mình, tức là tìm tới tột đỉnh chủ quan. Vì, nếu
có gạt bỏ đi tất cả thì rồi, sau đó không lâu, ý thức đích
thực của mình sẽ lại bừng lên để phân biệt mình với ngoại
vật. Cuộc thể nhập với bản thể vô thức của Sartre bất thành
cũng chính vì sự phục hồi của ý thức mình, mà Sartre đã gọi
đó là khoảng trống hư vô không thể hòa đồng với bản thể dầy
đặc tăm tối được. Ở Sartre vấn đề ngã thức mới chỉ là một
thể mường tượng chưa được chỉ định dứt khoát, còn với Camus
thì ngã thức đã là một thể quyết định, một thể linh động toàn
vẹn nội tại trong mỗi người, của riêng đích thực của mỗi
người. Chính nhờ ngã thức xuất hiện qua giây phút ý thức hằng
sáng mà đã cho mình phân biệt nổi chính mình và những cái không
phải là mình, để mình tỉnh táo sống với sự thực khổ đau của
cuộc đời.
Lối nhìn cuộc đời bằng con mắt can đảm và chân
thành của Albert Camus đã trùng hợp với lối nhìn của đạo Phật.
Đạo Phật đã nhận cuộc đời này là một sự thực khổ đau vô
nghĩa. Con người sống triền miên, trong vòng sinh bệnh lão tử luân
hồi, sống say mê mụ mẫm giữa tuồng tham, dục, sân, si. Mọi hiện
tượng vật lý đều bị nằm trong định luật vô thường ảo hóa.
Mọi hiện tượng tâm lý đều nhuốm nặng đặc tính thống khổ tuyệt
vọng. Con người hoàn toàn chìm ngợp trong trạng huống tăm tối sai
biệt. Ý thức bị quay cuồng trước những dữ kiện giả tạo của
vọng niệm, để rồi những dữ kiện giả tạo đó chế ngự triệt
để tâm thức mình, tạo ra trên bình diện tâm thức những chiều
rung ứng. Khi rung ứng đã thành thói quen thì bảng tâm lý được
thành lập như một công thức lưỡng diện : sướng khổ, vui buồn,
mừng giận, yêu ghét
Ý thức con người phải chấp nhận và
sống rập mẫu với những công thức đó một cách rất chân thành
say đắm, luôn luôn khát vọng để rồi luôn luôn thất vọng. Con
người hoàn toàn trầm mình trong cảnh sống vô thường khát vọng
và thất vọng. Nên nền tảng của đạo Phật đã đặt trên bốn Sự
thật màu nhiệm tức là Tứ diệu đế mà Sự Thật Thứ Nhất là
"Khổ Đế" (Sự khổ).
Trong biển khổ mênh mông, con người như một cánh bèo
phiêu dạt trên ngọn sóng vô thường, như cánh hoa sớm nở tối
tàn, như con thiêu thân chết giữa ánh lửa chập chờn . Nhưng khác
với cánh bèo, khác với bông hoa và khác với con thiêu thân, con
người có khả năng tự đối, tự giác để tự chủ nổi mình,
khiến cho mình nương theo ngọn sóng vô thường mà vươn lên khỏi bể
khổ. Khiến cho thân xác mình dù có tàn héo nhưng tâm thức vẫn
hằng tươi rực rỡ. Khiến cho mình là ánh sáng chan hoà chứ chẳng
phải cục than dưới ánh lửa. Hãy đi vào nội tâm tự đối, để
tìm thấy bản chất của cuộc đời vô thường. Có nhận đúng
được thực trạng của cuộc sống vô thường đầy khổ đau tăm
tối tuyệt vọng mới giác ngộ được thân phận của mình, tìm ta
được khả năng thường hằng của tâm thức mình để mình tự gạn
lọc hết những vẩn đục trong tâm thức, làm cho tâm thức sáng
suốt trong trinh bao la tràn đầy vạn hữu.
Camus đã tìm thấy một "kẻ lạ mặt" lẩn trốn
trong tiềm thức ông làm cho ông dật mình ghê tởm, muốn lẩn trốn
nó mà không có cách gì lẩn trốn nổi, đành phải dùng biện pháp
bắt ý thức phải luôn luôn tỉnh thức, tức là duy trì giây phút
ý thức sáng khởi mãi mãi. Như thế có nghĩa là Camus luôn luôn
đặt con người trong một quan niệm sống khắc khổ phòng ngự thường
xuyên. Biện pháp này chỉ là một biện pháp đối phó hơn là một
biện pháp tự vượt. Muốn đạt tới mức tự vướt con người
không chỉ nhận khổ đau với sự thật hiện tại của nó mà đủ. Con
người phải tìm biết nguyên nhân của sự khổ đau đó từ đâu
mà đến với mình. "Kẻ lạ mặt" ẩn lấp trong người của
mình, theo Camus, đây là những quan niệm của xã hội, những thành
kiến, những hiện tượng của ngoại giới len lỏi xâm nhập vào
tiềm thức, rồi lâu đời thành hình "kẻ lạ mặt" không
phải là mình mà vẫn bắt mình phải tuân theo những nhận thức của
nó, đạo Phật gọi sự "thành hình của kẻ lạ mặt" đó là
"Tập đế" (nguyên nhân sự khổ). Con người luôn luôn mở
rộng tiềm thức mình một cách buông lung bừa bãi đế chấp chứa
tất cả mọi quan niệm, mọi sự kiện, mọi hiện tượng vô thường
của người khác, của cuộc đời, của vũ trụ rồi tự nhận đó
làm chính mình, làm của riêng mình. Càng muốn chấp chứa nhiều,
càng nhiều tham dục chiếm hữu ngu muội, thì càng nhiều khổ đau. Sự
kết tập đó không phải chỉ nằm trong một kiếp, mà nó đã liên
tục chấp chứa trong nhiều kiếp trước để thành nghiệp dĩ khổ đau
của mình.
Với Camus, sau khi ý thức bừng sáng để loại trừ
"kẻ lạ mặt" ra khỏi sinh hoạt của ý thức mình thì ông
chấp giữ lấy giây phút mà ông cho là quý báu đó của ngã
thức, rồi ông tiếp tục sắm hết cái vai trò của mình mà nghiệp
dĩ đã bắt buộc. "Cái ta" ở đây đã được Camus lọc lõi
hết sức rốt ráo để thành một "cái ta" thuần tuý cô
đọng. Nhưng đó chỉ là đối với hiện kiếp này thôi. Còn biết bao
nhiêu nhân duyên sinh hoạt ngoài sự kiểm soát của ý thức, ở
những kiếp khác xa xăm hoặc ở chính kiếp này để làm thành một
"cái ta" có nghiệp dĩ khổ đau mà Camus chưa tìm thấy. Vì chưa
tìm thấy "kẻ lạ mặt vô thức", đứng sau "kẻ lạ mặt
ý thức" của "cái ta", nên cái ta vẫn phải tuân theo
nghiệp dĩ của kẻ lạ mặt vô thức ấy. Bởi thế khổ đau vẫn hiện
hình dưới chiều nghiệp dĩ mà ý thức đành phải cúi đầu vâng
phục. Camus đã cúi đầu nhận chịu nghiệp dĩ, chính vì ông còn chấp
nhận một cái ta, một thứ ngã thức của một kẻ lạ mặt vô thức
sản ra mà ý thức con người chưa kiểm soát nổi. Chưa kiểm soát
nổi, chính vì còn tham lam muốn chấp giữ những nhân duyên của vô
thường làm "cái ta" nên cái ta vẫn bị nằm trong trạng thái
vô thường ảo hóa khổ đau. Để thoát khỏi trạng huống vô
thường. Đạo Phật đã đề ra một Sự Thật Thứ Tư là "Đạo
đế".
Từ muôn kiếp trước, từ những dây liên hệ
truyền thống, từ những cuộc sinh hoạt tăm tối của tham dục con
người và chúng sinh đã kết tập không ngừng để làm thành một
hiện tượng tâm lý độc lập. Tính cách độc lập của tâm lý mỗi
ngày một trưởng thành và rõ rệt để rồi phát khởi ý thức.
Ý thức là sự phân biệt khách chủ thể và sự sắp loại các
hiện tượng dữ kiện đã đi vào thành nếp. Ý thức do sự kết
tập của tham dục mà có, nên ý thức luôn luôn mang đặc tính tham
lam, nhằm vụ vào việc thoả đáp, đòi hỏi của chủ thể khát vọng.
Ý thức vừa cố gắng thỏa đáp khát vọng của chủ thể , vừa
tiên liệu được rằng những khát vọng đó đều lâm vào tình
trạng thất vọng. Đòi hỏi "cái sướng" là vì đã có cái
khổ xuất hiện trên ý thức hay đã, đương tự thân tiếp thụ cái
khổ đó, được cái xướng rồi thì phải lo bảo vệ cái sướng
đó thêm lâu. Như thế có nghĩa là ý thức bị đặt trong tình trạng
báo động khổ cực thường trực. Thế rồi "bức tường
chết" đột nhiên hiện ra dưới sự tiên liệu của ý thức.
Mọi giá trị cuộc đời lúc này hoàn toàn bị phủ nhận. Con người
lâm vào cảnh tuyệt vọng. Tuyệt vọng vì ý thức luôn luôn vươn
tới viễn vọng thường hằng, mà thực tại cuộc sống lại giới
định trong cảnh vô thường. Giải pháp xóa sạch vết tích của ý
thức tuyệt vọng thống khổ thường được dùng là tự tử. Camus
không nhìn nhận giải pháp này vì làm như vậy là đã thủ tiêu
luôn giây phút quý báu là sự sáng khởi của ý thức. Tạm nhận
là đúng, nhưng cũng chưa phải là phương pháp bảo vệ sự sống
khổ đau này một cách hữu hiệu. Vì, với con người hiện sinh thì
đã phi lý toàn triệt, tất cả đều vô nghĩa thì cái giây phút ý
thức sáng khởi còn có nghĩa gì mà phải bảo vệ. Hơn nữa mấy ai
có can đảm nuôi nấng mãi cái giây phút khổ đau kia để rồi cuối
cùng vẫn rơi vào cái chết vô nghĩa ngoài cuộc hiện sinh này. Đến
đây thì mọi giải pháp cứu vãn tự tử trở thành quá mỏng manh
rồi.
Tuy cùng một quan niệm đời là những đợt khổ cực
chồng chất lên nhau, thế mà người theo đạo Phật chẳng bao giờ có
ý tự tử cả. Vì giải pháp tự tử đã mất hết hiệu nghiệm khi
con người còn nằm trong vòng luân hồi. Tự tử mới chỉ hủy hoại
được sự sống của hiện kiếp, rồi sau vụ tự tử đó con người
lại vẫn phải mặc nhiên tiếp tục sinh hóa trong cái vòng luân hồi
luẩn quẩn miên tục. Nhưng đạo Phật lại cũng không để mặc con
người nằm mãi trong nghiệp dĩ luân hồi ấy. Đạo Phật đã tìm
thấy một phương pháp hiệu nghiệm để chuyển nghiệp tức là
"đạo đế". Đạo đế ở đây không phải là phương pháp
thủ tiêu sinh lý, tâm lý một cách đột ngột. Mà đích ra chỉ nhằm
vào mục tiêu là diệt khổ. Đã biết khổ do tham dục sản ra. Nên
diệt khổ là diệt trừ tham dục. Khổ đau vơi đi theo với tỷ lệ
thuận của tham dục. Tham dục hết thì khổ đau do đó mà hết. Tham
dục, đã chứa chấp thành nghiệp dĩ của mỗi người. Bởi vậy
chuyển nghiệp là từ bỏ tham dục. Mà nghiệp đây là mệnh hệ, là
thân phận, là bóng dáng, là lẽ tất yếu của "cái ta" mỗi
người. Còn chấp chặt cái ta nên còn nghiệp. Mà còn nghiệp thì con
người vẫn còn nằm trong vòng luân hồi ảo hóa; do đó, con người
phải lần lần cởi bỏ ngã thức, bằng phương pháp tu chứng của
Đạo đế (phương pháp diệt trừ nguyên nhân sự khổ). Đạo đế,
là phương pháp tu chứng để tự giác ngộ, để tự thể nghiệm
trạng thái sinh không siêu thoát. Do đấy tất cả giáo lý của Phật
chỉ là những phương pháp hướng dẫn cho mỗi người, để giúp mỗi
người tùy duyên, tùy nghiệp mình mà giải thoát tâm tư mình thôi.
Ở điểm này đạo Phật đã đưa tới một kết luận cuối cùng là
phá chấp pháp. Người giác ngộ chân chính là người không còn
chấp trược ngã, nhân, coi danh lợi như cỏ rác mới thật là
người tròn đầy. Người sáng suốt tròn đầy không biên giới
của đạo Phật là một người hiện sinh tuyệt đối. Hiện hữu cùng
với vũ trụ hiện hữu. Tuy vậy không thể nhất thiết bất cứ ai
cũng có thể thành ngay được người tròn đầy. Bởi đấy người
tu theo đạo Phật trước hết phải nương theo giáo pháp để tu chứng.
Phương pháp tu chứng trong đạo Phật có rất nhiều lối, tùy khả
năng và duyên nghiệp của mỗi người tự chọn lấy một lối tu
riêng, nhưng khởi đầu thì phật tử phải tu theo "Bát Chính
Đạo", tức lời nó chân chính, việc làm chân chính, đời sống
chân chính, chuyên cần chân chính, suy nghĩ chân chính, hiểu biết chân
chính, tưởng niệm chân chính, định tâm chân chính. Có nghĩa là
chính xác rung cảm, suy nghiệm và hành động trong những nhân duyên
vô thường để xây dựng một con người và cuộc sống toàn diện
ở cõi tương đối; rồi từ những khởi điểm tốt lành chân xác
trong cõi tương đối này con người tiến vào chủ quan tự đối để
tìm thấy chân tướng của mình và của vạn hữu, căn nguyên của
khổ đau; sau đó tự vượt thắng mình, thăng hóa ý thức mình
thành tuệ giác, và siêu hóa ngã chấp để thể nhập vào với
trạng thái sinh không thường hằng tuyệt đối của chân tâm. Nói
khác đi, phương pháp tu chứng của đạo Phật để xây dựng con
người hiện sinh tròn đầy giải thoát là phương pháp khắp mặt đi
từ việc chính xác mọi vấn đề thuộc cảnh tương đối khách quan
hợp lý để vào nội tại chủ quan tự đối phi lý, cuối cùng làm
nổ tung ngã chấp để thể nhập vào với cảnh tuyệt đối hiện sinh
siêu lý của vạn hữu, tức là đồng nhất với đặc tính hằng
hữu của vũ trụ.
Cuộc tâm tình nổi loạn của thế kỷ hai mươi chính là
một cuộc đi vào nội quan tự đối, để làm nổ tung ngã chấp của
mình, rồi thể nhập với giòng sống bao la của vũ trụ. Như vậy phong
trào hiện sinh là đợt thứ hai của phương pháp tu chứng Phật
giáo. Phong trào hiện sinh đã khai triển các góc cạnh của giai đoạn
thứ hai để chuẩn bị bước sang giai đoạn thứ ba là giai đoạn sống
minh nhiên của đạo giác ngộ. Nhân loại sẽ sống trong một cảnh
sống giác ngộ sáng suốt, sống trong tình thương bao la của niềm yên
vui. Đây không phải là một câu nói mơ mộng vu vơ, mà đây là
một sự thể nghiệm lịch sử tư tưởng nhân loại. Sau những thời
hình thức lý luận tương đối hợp lý, nhân loại đã, đương tiến
sâu vào tâm tình thức giác tự đối phi lý để rồi vươn lên
cõi giác ngộ tuyệt đối siêu lý. Chỉ khi nào con người bước sang
lĩnh vực siêu lý này thì bức tường chết mới bị chọc thủng,
tâm tư của con người mới được đất phơi phới dâng lên vô
cùng bất tận. Con người thảnh thơi nhập cuộc để sáng tạo mình,
sáng tạo đời và sáng tạo tất cả. Đạo Phật gọi đây là Sự
Thật Thứ Ba tức là "Diệt đế" (sự khổ bị tiêu diệt,
giải thoát).
Diệt đế, theo đạo Phật tức là đạt tới cảnh tâm
tư phẳng lặng tròn đầy, không còn chấp chặt bất cứ điều gì,
hiện tượng gì nữa, vì chỉ đạt tới trạng thái vô chấp mới
thực sự là tịch diệt mà thôi. Đạo Phật thường dùng danh từ
đạt Niết bàn để chỉ trạng thái này. Niết bàn ở đây tức là
đạt tới trạng thái hiện sinh tuyệt đối của Kierkegaard. Nhưng rõ
ràng hơn Kierkegaard, đạo Phật đã quyết định : đạt tới trạng thái
hiện sinh tuyệt đối vĩnh cửu, thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi,
là đạt tới trạng thái vô ngã. Vì có vô ngã mới hết được
nghiệp dĩ khổ cực. Còn ở Kierkegaard dù sao cũng vẫn bị thành kiến
cá nhân chủ nghĩa của Văn minh Tây phương khống chế, nên Kierkegaard
chưa dứt trừ nổi ngã chấp, hiện tượng chấp, bởi đấy khi trình
bày về vấn đề hiện sinh tuyệt đối tư tưởng của ông đã vấp
phải nhiều khúc mắc, vì vậy sự diễn đạt tư tưởng không được
mạch lạc rõ rệt, đã gây ra rất nhiều ngộ nhận cho người theo
dõi. Bế tắc của thức thuyết Hiện sinh Tây phương chính là chưa
tự vượt nổi ngã chấp. Chưa từ bỏ được ngã chấp, nên chưa
vượt nổi "bức tường chết" vô nghĩa. Bức tường chết
ở đây thực ra chỉ là một dấu hiệu ghi lại trên giòng hiện sinh
vĩnh cửu những đợt chuyển hóa của vô thường mà thôi. Khi nào
con người gạn lọc được những vẫn đục của tâm tư, những tham
chấp vô thường mà tham chấp cuối cùng là ngã chấp, thì chân tâm
mới xuất hiện. Chân tâm vốn thoát khỏi mọi hình tướng và giới
hạn của hiện tượng vô thường. Nên chân tâm có đặc tính
thường hằng vĩnh viễn. Nhưng chân tâm lại cũng không là một thể
biệt lập với vạn hữu. Chân tâm nội tại nơi vạn hữu để duy
trì sự hằng hữu của vũ trụ. Vì dù cho vũ trụ có biến ảo vô
thường tới đâu thì sự thật hiển nhiên và tuyệt đối là vũ
trụ vẫn hiện hữu. Vũ trụ hiện hữu chính là nhờ có chân tâm
thường hằng. Trong sự bình lặng đồng nhất của chân tâm vốn sẵn
có sự khởi động của kiến phần để tạo ra cảnh sai biệt vô
thường. Kiến phần làm vũ trụ sai biệt nên vũ trụ có tướng
phần, rồi các tướng phần tương quan sinh hóa làm thành các cảnh
biến ảo vô thường. Con người mang trên mình ba phần Tâm, Kiến,
Tướng. Tướng phần xuất hiện trước ý thức như một đơn vị
độc lập luôn luôn bị không gian ma xát, thời gian giới hạn, và
nhân gian tranh cướp. Ý thức chấp nhận đó là sự kiện khổ cực
tuyệt vọng. Ý thức đây là con đẻ của kiến phần. Kiến phần vốn
mang đặc tính vô định, không bị hạn định khắc khe như tướng phần.
Vì, kiến phần chỉ là sự vọng chấp tự nhiên, nói khác là phần
động của vũ trụ. Do đấy ý thức mang tính chất vô định có khả
năng vươn tới vô hạn tuy chưa hẳn là vô hạn. Chính vì đòi hỏi
của ý thức là vô định nên xung đột thường xuyên với tướng
phần hạn định của mình. Mối đau khổ bởi đó thêm trầm trọng hơn
lên. Người giác ngộ là người tu luyện làm sao cho mình tự thăng
hóa nổi ý thức thành tuệ giác, siêu hóa nổi kiến phần thành
chân tâm để đạt tới trạng thái trong trinh tròn đầy, đấy là
trạng thái Tuyệt đối hiện sinh vô hạn. Đạt tới trạng thái đó
tức là không còn nội ngoại giới, tất cả vạn hữu là ta và ta
là vạn hữu. Vì ta đây không còn là "cái ta" nhỏ hẹp mà
là cái Ta bao la nội tại vạn hữu. Tướng phần của ta còn hay không
còn sinh hoạt cũng là vấn đề tuỳ duyên vô thường mà thôi,
không còn gây cho ta và cho tất cả vạn hữu sự đau khổ nữa.
Cảnh vô thường dù có rời đổi thì ta và chân tâm vũ trụ và
là một thể bình lặng trong trinh hằng hữu nội tại trong cảnh vô
thường đó mà chẳng còn vướng khổ đau.