6.
VÀO ĐẠO PHẬT QUA LỐI NGÕ JEAN PAUL SARTRE
CUỘC tâm tình nổi loạn khởi đầu từ Kierkegaard với
đặc tính hoàn toàn tình cảm chủ quan phi hệ thống. Sang tới Nietzsche
đã thành ý chí chủ quan phi hệ thống. Cả hai đều lấy bản thân ra
để thể nghiệm cho chân lý mà họ tìm kiếm ra được, và do họ
chủ xướng. Trong sự nhập cuộc ấy, họ đã trung thành nói lên
những xúc động của mình. Và, từ những xúc động đó họ đều
thăng hóa thực tại khổ đau của bản thân hữu hạn thành viễn
vọng vô hạn, nghĩa là cố gắng đưa ra một lối giải thoát cho tâm
tư, bằng sự thể nhập vào trạng thái hiện sinh tuyệt đối, hoặc
đạt tới trạng thái siêu nhân. Nhưng trên thực tế con người
hiện sinh vẫn chỉ là con người hữu hạn bị sự chết giới hạn
một cách tàn nhẫn. Nên Heidegger đã định nghĩa : "con người là
một hữu thể hướng về cái chết". Chết, là hành vi tối hậu
của con người và là hành vi tối quan trọng của cuộc đời. Vậy,
tự do có nghĩa là "tự do để chết". Bức tường chết đã
được Heidegger dựng lên cách ngang những hoài vọng của Kierkegaard
và Nietzsche. Chính sự kiện này đã là một dấu chấm câu xuống
hàng của giòng tư tưởng hiện sinh. Sartre là một sự thể hiện của
việc xuống hàng đó, để đưa phong trào hiện sinh sang giòng phi lý
toàn triệt.
Nhớ vào phương pháp Hiện tượng luận của Husseri,
Sartre đã khai triển Tư tưởng hiện sinh một cách đúng nghĩa và
trọn vẹn. Đến Sartre tự trào hiện sinh không còn nằm trong trạng
thái tình cảm và ý chí thuần tuý nữa. Nó đã tràn ngập một suy
tư của con người. Do đó, tính cách hiện sinh phi hệ thống biến mất,
để nhường bước cho một hệ thống hiện sinh rất mực đầy đủ.
Hơn nữa, nó còn được Sartre gọi là "Hiện sinh Chủ nghĩa",
tức là có khuynh hướng muốn nhập cuộc với một lối sống hiện
sinh không phải cho riêng mình mà còn cho cả thời đại nữa. Chính
ở điểm này mà mỗi khi nhắc tới hai chữ Hiện Sinh mọi người
đều liên tưởng ngay tới Jean Paul Sartre. Mà thực vậy, đối với
phong trào hiện sinh hôm nay, Sartre xứng đáng là một tay "cờ
đầu" . Ông viết rất nhiều sách dưới hình thức luận thuyết
và sáng tác để biện minh cho quan điểm hiện sinh vô thần của ông.
Nhắc tới danh từ Vô thần, tất bên cạnh đó phải có danh từ
Hữu thần. Đúng vậy, các nhà thần học như M. Marcel, Jaspers, P. Ricoeur
cũng đã nương vào tinh thần hiện sinh của Kierkegaard và phương
pháp Hiện tượng luận của Husserl để thành lập phái hiện sinh hữu
thần, nhằm phản ứng lại quan điểm hiện sinh vô thần của Nietzsche,
Heidegger, Sartre
Nhưng dù sao đây cũng chỉ là sự biến thái
hợp thời của tư tưởng Duy thần mà thôi.
Nhận thức của Sartre về ý nghĩa sự sống là một
thứ nhận thức hoàn toàn phi lý. Tất cả mọi hiện tượng đều
bắt nguồn từ phi lý và trở thành phi lý. Nghĩa là chẳng bắc
nguồn từ đâu và chẳng đi tới đâu cả. Đó là một sự kiện
phi lý toàn triệt, sự có mặt và những sinh hoạt của giòng hiện
sinh đều là thừa và vô nghĩa. Sống cũng chỉ là một nghiệp dĩ
thừa mà chết cũng chỉ là một sự kiện thừa, sống chết là một
cuộc sinh hóa rất phi lý của giòng hiện sinh. Với vạn hữu thì
chẳng có lý do gì khiến chúng phải sinh hóa cả, thế mà chúng vẫn
tiếp tục lầm lũi sinh hóa, nên mọi sinh hoạt của chúng đều trở
thành gượng gạo như muốn ngưng lại nửa vời trên đường sinh
hóa. Trong cái vũ trụ lầm lì dầy đặc ấy vốn có những khe hở
của hư vô. Nói cách khác, trong cái bản thể vô thức tự tại,
vốn có hữu thể ý thức tự quy của con người, nhờ tự thể ý
thức nên con người có những dự phóng, tức là những mong muốn
luôn luôn vượt từ trạng thái đang có đến những trạng thái
chưa có. Như vậy thức giác con người phát sinh từ những khe hở
của một bản thể vô thức dầy đặc tăm tối, rồi quay trở lại soi
vào chính mình, để cố tìm ra bản thể đích thực của mình, hòng
thể nhập vào với bản thể đó. Nhưng bản thể đây lại chỉ là
một thực tại vô thức dầy đặc lầm lì tăm tối hoàn toàn
ngược với thức giác sáng suốt hư vô. Nên công cuộc đồng nhất
hóa, giữa bản thể và thức giác, không thực hiện nổi. Chính sự
kiện này đã khiến dự phóng của con người siêu hoá cuộc đồng
nhất đó thành lý tưởng đồng nhất với bản thể vô hạn là
Thượng đế. Mà thượng đế ở đây không phải là bản thể hiện
sinh, thượng đế chỉ là ảo ảnh của thức giác phản chiếu trên
bức phông vô hình mà thôi. Bản thể hiện sinh chỉ là một bản thể
vô thức lầm lì như đoạn rễ cây mà Ropuentin trong truyện La
Nausée : Nôn mửa, của J.P. Sartre đã bắt gặp nó lù lù đen
ngòm sần sùi ở nơi công viên. Trong phút giây thể nghiệm hiện sinh
đó, Roquentin đã quên tất cả những hoạt động ý thức của mình,
quên mọi ấn tượng thường dùng để chỉ sự vật của người
đời mà đồng nhất hóa vơi bản thể vô thức dầy đặc lù lù
sần sùi qua sự hiện sinh của khúc rễ cây. Cuộc đồng nhất hóa
này đã làm Roquentin phát sợ. Phản ứng "sợ" đó là
phản ứng của thức giác. Thức giác con người, theo Sartre, là
những khoảng trống hư vô. Như thế thức giác không thể đồng nhất
với bản thể vô thức lâu được. Thức giác luôn luôn vượt
khỏi các cuộc đồng hóa vô thức đó để trở lại bản sắc của
mình. Lúc thức giác trở lại bản sắc của mình cũng là lúc
Roquentin nghẹt thở và buồn nôn. Sự giằng xé đối kháng giữa
bản thể vô thức và tự thể ý thức đã sản ra tâm trạng phiền
muộn, bao trùm lên thân phận con người.
Ta thấy phương pháp đồng nhất hóa, giữa con người
với bản thể hiện sinh của Sartre, cũng tương tự như phương pháp
của Lão Trang : là phải từ bỏ hết mọi sinh hoạt ý thức và cá
tính, tức là khạc nhổ thông minh thánh trí và những thành kiến do
xã hội tạo ra để trở về với đạo thể hồn nhiên mộc mạc. Thế
nhưng, ở Lão Trang có tham vọng vĩnh viễn hòa đồng với đạo thể;
còn ở Sartre tuy đã từ chối tất cả để thể nhập với bản thể
hiện sinh, nhưng sự thể nhập đó không được bao lâu thì thức
giác lại đã bừng sáng để lộn lại, lôi về trạng thái đích
thực của nó là hư vô, sai biệt với bản thể dầy đặc. Rồi tiếp
tục cuộc dự phóng không ngừng. Con người càng có nhiều dự
phóng bao nhiêu thì càng nhiều khổ đau hãi hùng bấy nhiên. Theo
Sartre, nếu thức giác chịu dừng ở trạng thái hư vô thì có lẽ
sẽ bớt khổ. Thế nhưng con người và cả vũ trụ này cũng chỉ là
những sự kiện thừa, giả tạo, vô nghĩa, nên thức giác vẫn phải
tuân theo cái nghiệp dĩ khổ đau dư thừa ấy. Chính thức giác đã
nhận được sự phi lý toàn triệt của tất cả, nên con người
phát sinh tâm trạng phiền muộn và tuyệt vọng. Trong sự tuyệt vọng
đó, con người không còn cách nào để vùng vẫy nữa, ngoài một
phương pháp cũng tối phi lý, tối giả tạo là sự Tự do lựa
chọn, tự do sáng tạo, tự do bịa ra chân lý cho chính mình: tự do
khám phá ra chính mình. Như vậy tính cách thiết yếu của tự do là
lựa chọn, lựa chọn và hăng say nhập cuộc. Sartre định nghĩa :
"Tự do là môt điều bất hạnh lớn lao mà cũng là nguồn vinh
dự duy nhất cho thân phận con người". Nhưng sự tự do đây chỉ
có thể tìm thấy trong việc nhập cuộc. Nhập cuộc mà chẳng cần tin
tưởng gì vào mục đích của mình cả. Điều này làm then chốt của
lối sống hiện sinh hôm nay.
Bằng vào một nhận thức quan phi lý, Sartre đã hệ
thống hóa tư tưởng hiện sinh (nhất là của Nietzsche) trên ba thành
tố : Bản thể vô thức tự tại (LEn-soi), Hữu thể ý thức
tự qui (Le pour - soi), Hữu thể ý thức tha qui (Le pour-autrui). Vấn đề
bản thể vô thức tự tại mà Sartre đã thức giác được qua sự
thể nghiệm của nhân vật tiểu thuyết Roquentin đã khiến ông có cảm
giác nghẹt thở và lợm giọng. Nghẹt thở vì tính chất dầy đặc
lầm lì của sự vật làm cho ý thức của con người bị ngừng
đọng. Từ phút đó ông thâm cảm được rằng bản thể mà,
trước đây nhân loại và ông, đã cố gắng tìm thì giờ đây ông
đã tìm thấy nó hiện sinh trước mắt đen ngòm sần sùi, hoàn toàn
vô thức, khiến ông lợm giọng. Cảm giác lợm giọng ấy làm cho
ông tỉnh mộng và thức giác được thân phận của mình, thức giác
được giòng hiện sinh của mình là dư thừa và phi lý. Trước
đây, Nietzsche cũng đã cho rằng : "giòng hiện sinh của con người,
vốn bắt nguồn từ một vũ trụ hữu cơ mênh mang tối tăm và vô
nghĩa ". Nhưng từ bản thể tăm tối vô nghĩa đó lại chứa sẵn
một hiện tượng xán lạn là ý thức người. Ý thức đó vốn
có khả năng dự phóng để làm sai biệt với bản thể tăm tối kia
đi. Do đó con người tự quy cho mình một bản ngã. Ngoài sự tự quy
bản ngã ý thức lại còn tạo ra cho mình một đối tượng, và làm
nổi bật những hình ảnh, sắc thái của mỗi hiện tượng lên khỏi
bản thể tăm tối đồng nhất, rồi lại gán cho những hiện tượng
đó những ý nghĩa nữa.
Về vấn đề dự phóng, Sartre cho rằng : con người có
ba phạm trù dự phóng, phạm trù thứ nhất là : Làm (faire), phạm
trù thứ hai là : Có (avoir), phạm trù thứ ba là : Là (être). Tính
chất của dự phóng bao giờ cũng là làm vì có làm mới đạt
tới có được; có, ở đây mang một đặc tính chiếm hữu. Chiếm
hữu là một khát vọng của con người. Con người sinh ra vốn là
một sự kiện thừa thãi phi lý giữa giòng hiện sinh của vũ trụ
vốn thừa thãi phi lý. Nhưng trong tất cả những cái thừa đó,
đối với ý thức của con người, đều trở thành thiếu, con
người tự cảm thấy mình luôn luôn thiếu, vì thiếu nên mới phải
lựa chọn. Lực chọn cho sự hoài bão vô cùng của lòng tham con
người, mà lòng tham con người vốn chỉ là những lỗ hổng hư vô
thì có bao giờ đầy được cho. Sau khi đã có rồi, tức là chiếm
hữu được những gì mình ước muốn thì lòng tham đó lại vượt
lên một bước nữa, vượt lên để chiến thắng với cái hữu
hạn của sự có. Lúc này con người lại muốn mình là tất cả. Vì
chỉ có khi nào đạt được tới trạng thái là tất cả thì mới
thoát khỏi giới hạn cuộc đời. Nhưng con người vốn không thể Là
tất cả được. Ý thức người luôn luôn tách rời ra khỏi bản
thể vô thức để thức giác sâu xa được rằng : mình chỉ là môt
giòng hiện sinh cô độc trong một vũ trụ lầm lì tăm tối. Thâm cảm
như vậy, Sartre đã kết luận : "đời người là một đam mê vô
ích". Dù biết là vô ích, dù sống với những sự kiện thừa
thì con người vẫn phải sống và ý thức bao giờ cũng nằm trong
trạng thái thiếu thốn, thèm khát. Thiếu thốn vì sự chấp giữ cái
bản ngã của mình.
Trong cuộc chấp ngã và chiếm hữu đó, con người
đã gặp một lực lượng thù địch hết sức nguy hiểm : đó là kẻ
khác. "kẻ khác luôn luôn rình rập để đánh cắp cái bản ngã
của mình". Mình có khả năng tự qui thì kẻ khác cũng có khả
năng tự quy như mình. Ở điểm này, Sartre đã gặp được biện
chứng chủ nhân và nô lệ của Hégel. Trong khi mình nhìn kẻ kia để
làm bật hình ảnh kẻ kia lên khỏi cái nền tảng tăm tối, thì lúc
đó mình là kẻ tự qui mà người kia là kẻ bị qui. Nhưng rồi kẻ
kia lại nhìn lại mình và lập tức mình bị kẻ kia quy định theo chủ
quan của họ. Lúc đó họ là người được nhìn mà mình thì là
người bị nhìn. Mình với người là hai kẻ thù không đội trời
chung. Bên cạnh thứ hữu thể ý thức tự qui vốn có thứ hữu
thể ý thức tha qui, nó làm cho bản ngã con người bị xét nét
giới hạn. Trong trường hợp khác, mình chịu nhẫn nhục khổ đau từ
chối chức chủ nhân của mình để cố biến mình thành kẻ nô lệ,
mình từ chối chức vụ được nhìn để làm kẻ bị nhìn. Đó là
trường hợp Tình yêu. Mình yêu người tức là mình muốn được
người yêu mình. Vì muốn được người yêu, nên mình đã tự
hiến thân mình làm một sự vật để cho người yêu, thì kẻ kia
cũng mang một tâm trạng như mình, tức là muốn làm người yêu của
mình. Cả hai đều cố tình từ chối bản ngã để hoàn thành một
cuộc yêu đương. Thật là đau khổ. Cả hai đều mê hoặc lẫn nhau
rồi biến thành dụng cụ khoái lạc. Tình yêu chỉ là dự phóng đầy
đau khổ mà thôi. Ngoài cái lối khổ ái này vẫn còn một lối
khác là bác ái. Bác ái là mình luôn luôn tỉnh trong khi kẻ kia say,
mình mạnh kẻ kia yếu. Kẻ kia là vật sở hữu của mình, rồi mình
bóc lột tâm hồn kẻ kia. Nhưng kẻ kia lại đã mở mắt nhìn mình.
Cái nhìn đó bao hàm một sự trách oán và phản đối hành động
của mình. Lúc đó mình bị nằm trong sự tự qui của kẻ kia. Cái nhìn
tự qui đó đã tố cáo sự bất lực của mình. Nên mỗi con người
là môt sự cô độc hoàn toàn không hề cò một tương quan xây
dựng nào cả. Sự tương quan nếu có cũng chỉ là một sự thất
bại thê thảm và ghê tởm mà thôi. Sự thất bại cuối cùng bao
giờ cũng là cái chết. Cái chết không thuộc phạm vi hiện sinh của
chủ thể nữa, nó là sự chết để cho tha thể qui định, nó vượt
ngoài sự tự qui của mình. Nó hoàn toàn nằm trong lĩnh vực của
hữu thể ý thức tha qui. Mình đã thảm bại : cuộc hiện sinh không
còn nữa. Sở dĩ mình không tự tử vì tự tử cũng chỉ là một
hành động thừa, đưa tới sự chết ở ngoài mình, như mình vẫn
cứ đang đi tới sự chết thừa đó. Sự chết không phải cho mình
mà sự chết đó cho kẻ khác. Hình ảnh mình vẫn tồn tại trong kẻ
khác. Thân xác mình là nơi sinh hoạt của côn trùng và cây cỏ.
Tất cả đều trở thành thừa thãi phi lý, mình chẳng cần mà kẻ
khác cũng chẳng cần nốt. Phí lý, phi lý toàn triệt.
Sartre đã nhìn sự vật bằng con mắt phi lý, đã biện
chứng cuộc hiện sinh trong một chiều hướng phi lý. Nên cuộc sống
càng hợp lý bao nhiêu thì ý nghĩa lại càng trở thành phi lý bấy
nhiêu. Vì khởi thủy cuộc hiện sinh đã là phi lý rồi. Tại sao mình
lại có mặt ở đây hôm nay ? Tại sao mình lại có thức giác để
chịu những giằng xé hãi hùng và tuyệt vọng ? Nếu có một
"thứ ý thức nào đó" sinh ra vũ trụ và con người đầy
khổ đau lớp nhớp này thì quả tình ý thức đó đã làm một
việc tối ngu xuẩn, thiếu hẳn suy nghĩ. Nếu chỉ có mỗi một mục đích
bắt loài người tôn thờ mình thì thật là ích kỷ bất nhân, đúng
như Lão Tử đã nói "trời đất bất nhân, nên coi vạn vật như
loại chó rơm", hoặc như phái Védanta cổ xưa của Ấn Độ cũng
cho rằng : "sự mong cầu của thần ngã làm cho vạn vật sai biệt xa
lìa bản tính bình đẳng thể, là ác". Chính nguồn ác lớn nhất
đã bắt đầu từ một ý thức sáng tạo kia rồi. Nhưng dù nhận hay
phủ nhận một ý thức sáng tạo, cái đó không phải là vấn đề
chính, mà vấn đề chính ở đây là trạng thái khổ đau khắc khoải
của con người. Con người đã hiện sinh, khổ đau đã hiện hữu,
khỗ đau lớn lên cùng với những tham vọng của con người. Càng
nhiều tham vọng thì hô hào thì mọi người từ ngàn xưa tới ngàn
nay đều vẫn phải nhập cuộc rồi. Nhập cuộc để tìm lấy mình tìm ra
đối tượng cuộc đời, thì cuộc tìm thấy mình ở Sartre tạm kể là
thấy theo khía cạnh chủ quan rồi đó. Nhưng đối tượng thì con
người hiện sinh của Sartre tuyệt nhiên không tìm thấy một đối
tượng nào dù chỉ là đối tượng do chính mình bịa đặt ra. Con
người của Sartre cũng đã có lúc đồng nhất với bản thể vô
thức, nhưng đã bị ý thức của mình lôi lại. Vào với xã hội
thì sợ bị tha nhân đánh cắp mất bản ngã. Muốn lên cõi siêu hình
làm Thượng đế thì thực tại nặng nề của sự sống đã kéo về
với khổ đau, phi lý và ngay cả việc làm Thượng đế kia cũng là
một hành động thừa nữa. Quan niệm phi lý và hành động thừa
thãi của Sartre đã làm cho tâm tư con người ngưng đọng trong trạng
thái hãi hùng tuyệt vọng. Nhưng thức giác con người vốn là một
hiện tượng động, dù chỉ là một hiện tượng vô hình. Như thế
thức giác không phải là Hư vô như Sartre quan niệm. Thức giác là
một thực tại siêu hình, là một năng lực sống động luôn luôn
vượt mọi giới hạn của cuộc sống vô thường, để đạt tới
trạng thái thường hằng.
Tất cả đều đã hiện hữu dù sự hiện hữu đó
không có ý nghĩa gì hết. Vũ trụ hiện hữu bằng ba trạng thái :
trạng thái vô thường tương đối, trạng thái ngã chấp tự đối,
và trạng thái chân như tuyệt đối. Trong cái cõi vô thường tương
đối này, mọi hiện tượng đều tương quan với nhau hết sức mật
thiết. "cái này sinh, thì cái kia sinh". "cái này diệt thì
cái kia diệt". Sinh diệt của vạn hữu đều nằm trong luật nhân
duyên. Vậy, đặc tính của vô thường là nhân duyên tương sinh. Trong
cái cõi nhân duyên tương sinh ấy có một hiện tượng độc đáo
phát sinh, đó là hiện tượng chấp ngã của tâm thức. Không phải
chỉ con người mới có khả năng chấp ngã, mà tất cả chúng sinh
hữu tình hữu cảm đều có khả năng đó. Tuy nhiên, ở con người
khả năng thức giác vốn lớn mạnh hơn, vì lớn mạnh cho nên có
nhiều tham vọng, nhiều tham vọng nên nhiều khổ đau. Trong biển khổ
đó, con người nhờ khả năng tự đối để luôn luôn tìm cách
này hay cách khác nhằm vượt khổ. Nhưng sự vượt khổ không có
nghĩa là từ chối tất cả, chán nản tất cả. Vì nếu mình có từ
chối đi nữa thì vũ trụ và tha nhân cũng không từ chối mình,
luôn luôn lôi mình vào cảnh sống vô thường, để giam hãm giới
hạn tâm thức mình trong vòng luẩn quẩn. Nên đạo Phật luôn luôn
chủ trương phải đối diện với khổ đau, phải tự thân nhập cuộc
vô thường, nhưng không trầm mình trong đà sống tăm tối đó, mà
phải luôn luôn từ chối, tự vượt mình, thăng hóa ý thức mình
khỏi cảnh lầy lội của phân biệt, biến ý thức thành tuệ giác
để làm nổi bật chân tâm thường hằng tuyệt đối của chính mình
lên. Đồng thời soi ngược lại cuộc sống vô thường khiến mình
sáng suốt cởi bỏ những tương quan khổ đau cho chính mình và cho
cuộc đời. Đạo Phật luôn luôn quan niệm "con người đã mắc
bệnh thì thầy thuốc phải tìm cách chữa, không cần hỏi ý nghĩa
của việc chữa ấy. Mà chữa bệnh là chữa chính con bệnh đó,
với những căn cơ riêng biệt của chứng bệnh. Lẽ tất nhiên không
có thứ thuốc phổ biến cho mọi chứng bệnh được, nhưng vẫn có
phương pháp trị từng chứng bệnh. Con bệnh cứ kể bệnh, thầy thuốc
sẽ nói phương pháp để cho con bệnh tự chữa lấy mình". Con
người hãy tự thắp đuốc mà đi, vì chỉ có mình mới cứu nổi
mình mà thôi. "Đừng vội tin vào bất cứ lời lẽ hay ho của
một ai, dù người đó là thầy của mình, là Thiên chúa, là Tiên
tri, là Phật cũng vậy. Hãy tự chứng đi, hãy tự thể nghiệm lấy
sự giải phóng và giải thoát. Tất cả các học thuyết, các chủ
nghĩa, các lýtưởng chỉ là phương tiện giúp mình để đạt tới
sự giải phóng và giải thoát mà thôi. Đừng vội chấp chặt lấy
những phương tiện đó, để rồi quên mất cứu cánh giải phóng
cuộc đời, giải thoát khổ đau".
Tiếng nói của Hiện sinh hôm nay đã gặp tiếng nói
của đạo Phật ở điểm con người phải tự thể nghiệm lấy chân
lý. Thế nhưng hiện sinh đã không mở lối cho tâm tư tự giải
thoát. Hiện sinh không chấp nhận vấn đề tương quan giữa vạn hữu,
cố kéo dài tình trạng đau khổ của bản thân thêm mãi ra ngoài
cuộc đời và vũ trụ. Thái độ đó chẳng qua chỉ là thái độ
tiêu cực đề kháng nhất thời để chống lại các hệ thống tư
tưởng hữu vi, chống lại các chế độ bất nhân mà thôi.
Đối với lịch sử phong trào hiện sinh có sứ mạng
là đập nát tất cả các cái vỏ thành kiến, trút bỏ một lớp
sơn nặng nề để rồi chuyển mình sang giai đoạn mới. Hiện sinh đã
đặt toàn thể thân phận con người trong một cảnh khổ tuyệt vọng,
rồi đào bới tất cả những khả năng tự tạo của con người đã
có, để bắt buộc đem ra thi hành, nhưng bất cứ cuộc ứng dụng nào
cũng đưa tới kết luận là thảm bại. Tâm thức con người đang bị
những đường roi hiện sinh quất xuống rất mạnh, bắt buộc tâm
thức phải tự dao động, mà chỉ có sự dao động cùng tột của
tâm thức thì tuệ giác của con người mới bừng dậy nổi. Ý
thức con người không được quyền an nghĩ nữa. Phải vùng lên để
tự thăng hóa. Đó là một thực trạng của thời đại.