Ngày nay,
nói đến Phật giáo, người ta thường xem như một tôn giáo nặng phần cúng
bái, cầu nguyện. Thiết nghĩ việc cúng lễ, cầu nguyện là điều đương nhiên
không thể thiếu đối với tôn giáo.
Tuy nhiên, thực chất của đạo
Phật đặt nặng vấn đề tu hành hơn, vì vậy, cầu nguyện, lễ bái cũng là một
trong những phương pháp tu hành, không phải là cứu cánh. Thật vậy, đức
Phật khẳng định Ngài đưa ra vô số phương tiện, thường được tiêu biểu bằng
con số 84.000 pháp tu, để giúp mọi người đạt đến cứu cánh giác ngộ, giải
thoát.
Pháp phương tiện đức Phật chỉ
dạy nhiều như vậy, vì tùy hoàn cảnh, khả năng của từng người khác nhau,
tùy phong tục tập quán, luật lệ thay đổi theo từng địa phương, và tùy thời
điểm mà Ngài hướng dẫn pháp tương ứng thích hợp cho người chấp nhận được.
Một cách khách quan, chúng ta
thấy rõ nhu cầu tín ngưỡng là đòi hỏi thiết yếu, không thể thiếu được
trong cuộc sống con người ở thời đức Phật. Vì vậy, với trí tuệ của bậc
Chánh Biến Tri, Ngài chấp nhận thực tại khách quan ấy, nhưng thực sự, đức
Phật ít nói đến cầu nguyện, mà thường đề cập đến vấn đề tu tập để làm chủ
bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên; đó là mục tiêu chính trong
việc giáo hóa đức Phật.
Điều này thể hiện rõ nét trong
hầu hết các kinh điển, đức Phật thường hướng dẫn người thực hiện ba việc:
làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và làm chủ thiên nhiên. Nói khác, Ngài
khẳng định con người không lệ thuộc thần linh, nhưng buộc thần linh phải
phục vụ cho người.
Trước nhất, đức Phật dạy rằng
mọi người đều có khả năng thành Phật, tức đạt đỉnh cao của trí thức và làm
việc siêu việt, nhưng chúng ta tự đánh mất khả năng cao quí ấy, kinh gọi
là đánh mất bản tâm. Tự mình đánh mất khả năng làm chủ bản thân và tự van
xin cầu nguyện, đem trao vận mạng cho thế lực thần quyền quyết định giùm,
mà không hề biết họ là ai. Từ đó, con người tưởng tượng ra đủ các thứ thần
có quyền năng chi phối cuộc sống họ, cần phải cầu nguyện: từ thần sông,
thần núi, thần cây..., thậm chí đến thần vôi thần bếp. Vì không thấy được
khả năng vô tận của mình, nên cảm thấy nhỏ bé trước thiên nhiên bao la, sợ
hãi thế lực siêu nhiên đè bẹp, nên tự hạ thấp mình, cầu nguyện các thế lực
khác. Và thực tế cho thấy các thế lực đó chẳng giúp được gì cho con người,
nên không mấy người cầu nguyện được kết quả.
Phải chăng người cầu nguyện có
kết quả là nhờ họ biết kết hợp việc cầu nguyện với sự phát huy khả năng
mình. Trên tinh thần ấy, Phật giáo có chủ trương có vấn đề tha lực chi
phối ta, nhưng bản thân ta cũng cần hướng về đối tượng để tự phát huy khả
năng. Điển hình như người tu pháp môn Tịnh độ, nương vào đức Phật Di Đà ở
cảnh giới Tây phương. Phật A Di Đà tiêu biểu cho vị Phật đã thành đạt vô
lượng quang, vô lượng thọ, vô lượng công đức; nói khác, Ngài có đầy đủ trí
tuệ, sức khỏe và phương tiện.
Khi đức Phật Thích Ca dạy chúng
ta tu nương với Phật Di Đà hay 10 phương Phật, Ngài đều đưa ra những đức
tánh tốt của những vị đó, nhằm gợi ý cho chúng ta phát huy những đức tánh
ấy ở chính cuộc sống chúng ta. Nương Phật Di Đà tu cũng có nghĩa là đánh
thức khả năng hiểu biết, khả năng sống lâu, khả năng sử dụng phương cách
độ sanh, giúp người. Nhờ nương với vị sáng suốt, tuổi thọ cao, nhiều phước
đức như Phật Di Đà, từng bước mình cũng khắc phục được mặt yếu và phát huy
được bản thân.
Khi kết hợp tha lực với tự lực
tạo được sức mạnh bản thân, lúc ấy, chủ động được cuộc sống, nên không cần
nhờ đến sự giúp đỡ bên ngoài nữa, và giảm thiểu việc cầu nguyện để tự giải
quyết. Quá trình tiến tu này đạt kết quả nhờ khéo kết hợp cầu nguyện và tu
hành. Trái lại, chỉ cầu nguyện mà không tu, giao phó toàn bộ cho Phật làm
giùm ta, chắc chắn không thể được và cũng không phải là điều Phật muốn.
Ngày nay, chúng ta nương theo
đức Phật Di Đà tu, suy nghĩ về vô lượng thọ của Ngài, tức vấn đề sức khoẻ,
tại sao Ngài sống đạm bạc mà lại khỏe mạnh, trường thọ. Từ đó, chúng ta
tu, làm chủ bản thân hay làm thế nào để xây dựng cuộc sống mình không bị
khổ sở vì bệnh tật thể xác lẫn tinh thần hành hạ.
Kinh nghiệm cho thấy ốm đau
sanh ra vì sống không hợp lý, như người tu khổ hạnh ép xác, không đủ dinh
dưỡng, tất phải bệnh. Ngược lại, các vị Thiền sư sống rất đơn giản nhưng
lại rất khỏe mạnh, tuổi thọ cao. Quan sát thấy rõ các Ngài thường sống ở
môi trường không khí trong lành, yên tĩnh, lượng thực phẩm đủ dinh dưỡng
dùng cho cơ thể, và sống không tốn hại cho các loài , không tranh chấp,
tính toán vơ vét lợi cho mình. Phương cách sống như vậy hoàn toàn phù hợp
với tinh thần khoa học ngày nay. Thật vậy, qua các kiểm nghiệm khoa học
cho biết không khí ô nhiễm, ăn uống quá độ, ăn nhiều thứ độc tố, cùng với
đủ thứ stress vì lo toan, thủ lợi cho cá nhân một cách quá tham lam, mù
quáng, cộng với vô số tiếng động đinh tai nhức óc hoặc chạy theo biết bao
bận rộn không cần thiết trong cuộc sống... tất cả đã tác hại rất nhiều cho
sức khoẻ, gây ra đủ thứ bệnh tật, làm giảm tuổi thọ con người.
Vì vậy, trên bước đường tu theo
Phật giáo, làm chủ lấy mình, tự lành mạnh hóa thân tâm, cố làm sao bớt lệ
thuộc vật chất, ăn mặc, giảm tiêu hao năng lượng, tránh gây ồn náo, bớt
tác hại ô nhiễm môi sinh, hạn chế tranh giành hơn thua, đừn quá tham lam
ích kỷ. Thực hiện phần nào những điều ấy, tinh thần chúng ta chắc chắn có
được phần nào sảng khoái, có thể tươi vui, khỏe mạnh.
Bước thứ hai của người tu phát
tâm Đại thừa, giáo hóa chúng sanh thường nghĩ chúng ta không thể nào sống
một mình và không thể tốt với xã hội không tốt. Chúng ta ý thức sự tác hại
lớn lao của ô nhiễm môi sinh, không dám làm gì tổn hại, nhưng người khác
không nhận thức như vậy, hoặc quá tham lam cứ gây ô nhiễm, tất nhiên cuộc
sống ta cũng bị vạ lây. Hoặc chúng ta đạo đức trong xã hội tuột dốc, sa
đọa, nhiều tệ nạn nhiễu nhương, thì cũng khó lòng an ổn.
Vì vậy, Bồ tát hành đạo không
tìm chỗ trong lành, yên tĩnh, an nhàn như giai đoạn một, mà tiến một bước
xa hơn nhằm tịnh hóa xã hội và thiên nhiên, tức con người và thế giới con
người. Bấy giờ, Bồ Tát lo giải quyết việc cho người, làm sao giúp họ hiểu
được gây ô nhiễm tác hại cho sự sống của họ, của tất cả mọi người, mọi vật
trên hành tinh này. Bồ Tát đã lo xong phần tự giác và đến giai đoạn giác
tha, dùng vô số phương tiện để nâng hiểu biết của người, khiến họ ý thức
được tốt xấu, lợi hại, điều đáng làm và điều không nên làm.
Trên tinh thần ấy, bước thứ
hai, Bồ tát đã thực hiện công việc giáo dục người; vì theo Phật dạy, tất
cả thành bại đều do con người quyết định. Hướng dẫn cho người đồng tình
với mình trong việc bảo vệ thiên nhiên, làm cho xã hội lành mạnh, đó chính
là xây dựng Tịnh độ ở Ta Bà.
Với ý thức như vậy, Bồ Tát dấn
thân không biết mệt mỏi, giúp người an lành là giúp mình an lành, cứu
người thoát khổ là cứu mình khỏi khổ. Mang tinh thần giáo dục rộng lớn ấy
mà Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cho biết tất cả chúng sanh thành Phật, thì Ngài
mới thành Phật; hoặc Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện nếu còn chúng sanh trong
địa ngục thì Ngài không thành Phật.
Tóm lại, Phật giáo hướng dẫn
triết lý sống đúng đắn, lành mạnh, đạo đức cho riêng mỗi người, được hàng
Thanh Văn tu tập, ứng dụng ở giai đoạn một. Sau khi đạt được thành quả tốt
đẹp ở bước đường tự giác xong, Thanh Văn tiến tu Bồ Tát đạo, giáo dưỡng
cho người hướng thiện, xây dựng xã hội tốt đẹp, thế giới hòa bình, an lạc.
Triết lý sống tròn đủ Chân-Thiện-Mỹ của Phật giáo đã trường tồn hơn 25 thế
kỷ, và cũng sẽ là mô hình lý tưởng hiện đại và trong tương lai cho nhân
loại nương theo để kiến tạo ngôi nhà chung xanh sạch, đầy cảm thông hiểu
biết, đầy tình thương, hạnh phúc, ấm no.