TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
KẺ RONG CHƠI GIỮA SỐNG VÀ CHẾT
Thích phước An
I
Tại sao lại phải từ
chối sự bao la của bể cả, để chấp nhận thế giới hoang vu heo hút của núi
rừng.
Quốc vương đức trạch
khoan như hải,
Tùy phận ta ta thủy
thảo xuân.
Nghĩa :
Ơn đức quốc vương
như bể cả.
Nhưng xin cứ tùy
phận với chút ít cỏ nước mùa xuân.
Con đường đi lên,
bao giờ cũng chông chênh và đầy hiểm nguy. Người đi phải tự mình vượt qua
biết bao là núi non, đồi đỉnh, thì mới uống được ngụm nước đầu nguồn. Và
chỉ tại nơi đó thôi, con người mới được hoàn toàn tự do ngắm cỏ nước mùa
xuân :
PHÓNG NGƯU
Ngẫu hứng Quy sơn
đắc đệ lân
Hoang vu cam tác mục
ngưu nhân
Quốc vương đức trạch
khoan như hải
Tùy phận ta ta thủy
thảo xuân.
Nghĩa :
Quy Sơn xóm nọ bỗng
quay về
Cam phận chăn trâu
chốn nội hoang
Ơn đức Quốc vương
như bể cả
Riêng vui cỏ suối
với hoa ngàn.
Ðỗ văn
Hỷ dịch.
(Thơ Văn Lý Trần II.
NXB. KHXH. tr. 238)
Các sử liệu còn để
lại, cho chúng ta biết rất ít về cuộc đời và con người của Tuệ Trung
Thượng Sĩ. Ngay cả việc một số người viết, đã lầm lẫn từ người anh cả,
xuống làm con của Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, chỉ chừng ấy thôi, cũng
khiến cho con người của ông, vốn đã độc đáo, lại càng độc đáo hơn nữa đối
với chúng ta.
Có lẽ, cũng như đa
số các Vương hầu thân tín khác của nhà Trần, Ông cũng đã từng trực tiếp
tham gia các cuộc kháng chiến đánh đuổi quân Nguyên xâm lược. Nhưng khi
chiến thắng rồi, nghĩa là đất nước trở lại thanh bình, thì hành tung của
ông không được nhắc đến nữa.
Ðây là một sự thiếu
sót tư liệu bình thường? Hay là, chúng ta nên xếp Tuệ Trung Thượng Sĩ vào
đội ngũ của những con người ngoại lệ? Những con người đi và muốn xóa sạch
vết chân của chính mình?
Khi một dân tộc hay
một cá nhân quá khát khao đi tìm thanh bình cho đời sống nội tâm của mình,
thì chắc chắn vấn đề lịch sử không bao giờ được họ bận tâm đến.
Như Ấn Ðộ chẳng hạn,
có một nền văn minh lớn nhất vào thời cổ, vậy mà không có một sử gia cỡ Tư
Mã Thiên (Trung Quốc) Hérodote Thucydie (Hi Lạp) Plutarque hay Tacite (La
Mã), vì họ chỉ muốn giải thoát thân phận bi thảm của chính họ ra khỏi ngục
tù của thời gian thôi. Ðối tượng suy tư của họ cũng cao ngất như dãy
Hi-Mã-Lạp-Sơn quanh năm bao phủ đầy tuyết trắng kia.
Và Lão tử của Trung
Hoa nữa, vì khinh bỉ tư cách đê tiện của một số quan lại và xã hội mình
đang sống, nên đã quyết tâm đi ẩn dật. Nếu không có Doãn Hỉ, thì chúng ta
đã không có bộ Ðạo Ðức Kinh. Ðây là sự cống hiến lớn lao vào nền văn minh
triết của nhân loại.
Nhưng điều khôi hài
là, những kẻ xem lịch sử như một trò đùa đó, thì chính họ lại đóng một vai
trò lớn lao trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng con người.
Chúng ta có thể
tưởng tượng được như thế này : thế giới sẽ đen tối biết là bao, nếu xưa
kia, không có những con người dám từ bỏ những thú vui vật dục tầm thường,
đi vào rừng sâu, để tìm kiếm một thú vui khác, một thú vui mà chung cục,
sẽ không gây tai hại và chết chóc cho bất cứ ai trên đời này.
Dường như, nền văn
minh của thế giới hiện tại quá lạnh lùng, lạnh lùng đến độ gần như tàn
nhẫn. Có lẽ chính vì thế mà những con người của Thế giới ngày hôm nay,
đang khát khao hơn bao giờ hết, một chút thi vị của người Ðông Phương xa
xưa.
Không còn nghi ngờ
gì nữa, Tuệ Trung Thượng Sĩ thuộc vào đội ngũ của những con người ngoại lệ
ấy.
Trong bài Dưỡng Chân
(nuôi dưỡng chân tánh). Ông đã từ chối tham dự vào trò chơi của con người
trên sân khấu cuộc đời, và chỉ chấp nhận nhập cuộc vào trò chơi lớn lao
hơn-trò chơi cùng tạo vật trong vũ trụ.
DƯỠNG CHÂN
Suy táp hình hài
khởi túc vân
Phi quan lão hạc tị
kê quần
Thiên thanh vạn thúy
mê hương quốc
Hải giác thiên đầu
thị dưỡng chân.
Nghĩa :
NUÔI DƯỠNG CHAÂN
TÁNH
Hình hài suy yếu đâu
phải là chuyện đáng bàn
Cũng không phải
chuyện chim hạc lánh đàn gà
Nghìn màu xanh, muôn
vẻ thúy tràn ngập làng nước
Góc bể bên trời là
nơi nuôi dưỡng chân tánh của ta.
Ðỗ Văn Hỷ dịch.
(S.Ð.D. tr 226)
Tại nơi góc bể chân
trời ấy-Con người có thể dong thuyền ra khơi, say sưa ngây ngất với một
mùa thu vừa chớm dậy và lắng nghe niềm im lặng của đất trời mênh mông :
GIANG HỒ TỰ THÍCH
Tiều đỉnh trường
giang đãng dạng phù
Du dương trạo bát
quá than đầu
Nhất thanh hà xứ tân
lai nhạn
Trắc giác thu phong
biến thập châu.
Nghĩa :
VUI THÍCH GIANG HỒ
Sông dài, thuyền nhỏ
nổi lênh đênh
Cất mái chèo qua
đoạn thác ghềnh
Một tiếng nhạn trời
đâu vẳng đến
Gió thu như đã dậy
mênh mông.
Ðào Phương Bình
dịch
(S.Ð.D.tr 244)
Dường như có một nỗi
khát khao về tự do và cái đẹp cứ trào vọt ra từ cõi thơ của Tuệ Trung
Thượng Sĩ. Chỉ có cái đề được chọn là : Vui thích giang hồ (giang hồ tự
thích) thôi, cũng đã nói lên hết tất cả nỗi khát khao ấy.
Nhưng những ai dám
cùng với Tuệ Trung Thượng Sĩ “Cất mái chèo qua đoạn thác ghềnh” để đến
được bến bờ của tự do ấy?
Dĩ nhiên, chỉ những
người đã nhận chân được rằng, cuộc đời mà hiện mình đang sống đây, chẳng
có một ý nghĩa gì cả, nhưng chỉ lặp đi lặp lại trong nhàm chán và vô vị.
Bởi vậy, đã đến lúc phải từ bỏ mà lên đường tìm kiếm một hương vị khác cho
cuộc đời.
Còn những người sống
chỉ biết hưởng thụ, lúc nào cũng chờ có dịp tốt là kiếm quyền lợi về cho
bản thân mình, những người trong một bài thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ đã gọi là
bọn “Cháy đầu bỏng trán” (Tiêu đầu lạn ngạch), những người như vậy làm sao
biết đến chân trời đó-Vì chân trời ấy, chỉ để cho những con người xuất
chúng, những con người đầy nghị lực bước đi mà thôi :
CHIẾU THÂN
Tiêu đầu lạn ngạch
bị kim bào
Ngũ thất niên gian
thị xưởng tào
Túng đã siêu quần
kiêm bạt tụy
Nhất hồi phóng hạ
nhất hồi cao.
Nghĩa :
SOI MÌNH
Cháy đầu bỏng trán,
thì được mặc áo bào vàng
Còn mình năm bảy năm
nay vẫn ở nơi xay giã
Nếu là bậc siêu quần
xuất chúng
Thì cứ một lần hạ
xuống lại một lần lên cao.
Ðỗ Văn Hỷ dịch.
(S.Ð.D. tr 240)
Có nên xem hai câu :
Túng đã siêu quần
kiêm bạt tụy
Nhất hồi phóng hạ
nhất hồi cao
Như là kinh Nhật
Tụng, mà ta phải trì tụng mỗi ngày để xem có còn sợ hãi sự thất bại trước
cuộc đời nữa không?
II
Khi ta nhìn một đóa
hoa đang nở rộ, hay thỉnh thoảng đứng trên đồi cao nhìn vạt nắng mong manh
cuối cùng của buổi chiều tà. Những lúc như vậy, dường như tâm hồn ta như
có một nỗi bất an. Vì có lẽ, ta trực nhận được rằng, cái đẹp này rất mong
manh, thoáng chốc, và chẳng bao lâu nữa, nó sẽ tan biến ngay lập tức.
Như vậy, con người
nên đi tìm cái đẹp ở đâu? Nơi nào mới không có sự tàn phai?
Là một nhà thơ của
Phật giáo Thiền Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ khuyên ta nên trở về tìm kiếm
cái đẹp ngay bên trong, chứ đừng tìm bên ngoài. Nếu ngày nào ta vẫn cứ
tiếp tục lang thang đi tìm bên ngoài, thì ngày đó ta vẫn chỉ gặp toàn thất
vọng và đau khổ mà thôi.
Trong ta có một suối
nguồn sâu thẳm, nếu ta biết khai phá một cách kiên trì, thì một lúc nào
đó, hàng vạn đóa hoa sẽ bừng nở lên giữa mùa xuân bất tận :
THỊ HỌC
Học giả phân phân
bất nại hà
Ðô tương linh đích
khổ tương ma
Báo quân hưu ỷ tha
môn hộ
Nhất điểm xuân quang
xứ xứ hoa.
Nghĩa :
GỢI BẢO NGƯỜI HỌC
ÐẠO
Học đạo mênh mông ai
có hay
Gạch đen mài gạch,
nhọc nhằn thay!
Cửa người anh hãy
thôi nương tựa
Một ánh xuân về hoa
đó đây!
Ðỗ Văn Hỷ dịch
(S.Ð.D.tr 233)
Nhưng không phải Tuệ
Trung Thượng Sĩ chỉ là một nhà thơ ngồi tưởng tượng ra cái đẹp đó rồi viết
thành thơ đâu, nhưng Người còn là một hành giả nữa, nghĩa là đã từng trực
nhận cái đẹp vời vợi đó, bằng chính kinh nghiệm bản thân mình:
NGẪU TÁC
Ðường trung đoạn tọa
tịch vô ngôn
Nhàn khẩn Côn luân
nhất lũ yên.
Nghĩa :
CHỢT HỨNG LÀM THƠ
Ngồi ngay ngắm giữa
nhà lặng lẽ
không nói
Thảnh thơi nhìn một
tia khói trên núi
Côn luân
Huệ Chi dịch
(S.Ð.D. tr 233)
Ngồi thảnh thơi nhìn
một tia khói trên núi Côn luân là gì? Có phải chính đó là giây phút mà nói
theo thuật ngữ của Thiền là ngộ (Satori) đó không? Giây phút đó rất quan
trọng, vì nó làm sụp đổ tất cả trật tự cũ, và cánh cửa vô hạn đã được mở
tung :
THOÁT THỂ
Phiên thân nhất
trịch xuất phần lung
Vạn vật đô lô nhập
nhãn không
Tam giới mang mang
tâm liễu liễu
Nguyệt hoa Tây một
nhật thăng
Ðông.
Nghĩa :
THOÁT ÐỜI
Vương mình một cái
vượt ra khỏi
lồng
Muôn việc đều như
trò chơi, vào mắt
cũng thành hư không
Tam giới mênh mông
cõi lòng sáng
rõ
Bóng trăng chìm
xuống phương Tây,
mặt trời mọc ở
phương Ðông.
Ðào Phương Bình
dịch
(S.Ð.D.tr.243)
III
Thiền, cần thực
nghiệm, có nghĩa là ta phải nắm bắt thực tại trong đôi bàn tay trần của
mình nên từ chối vai trò của văn tự “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn
tự”.
Nhưng vì là một nhà
thơ và tư tưởng gia của Thiền, nên Tuệ Trung Thượng Sĩ vẫn phải sử dụng
đến phương tiện của ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ có một giới hạn nhất định của
nó trong việc diễn đạt thực tại.
Có một bài thơ hơi
khó hiểu, nhưng ta cũng có thể đoán được rằng,... Tuệ Trung Thượng Sĩ đã
rất phân vân khi ông phải phát triển cái mà đáng lý ra nên im lặng :
ÐỀ TỊNH XÁ
Ðạp trước quan đầu
vị sát na
Tung hoành phóng ngữ
trát già dà
Niên lai bút chảy vô
đoan thậm
Tam giới Như Lai bất
nại hà.
Nghĩa :
ÐỀ TỊNH XÁ
Dẫm chân tới đầu
cổng chùa chưa
được giây lát
Buông lời dọc ngang
viết nên bài
kệ
Năm gần đây, ngòi
bút bỗng trở nên
hờ hững
Như Lai ở ba giới
cũng chả biết là
thế nào!
Ðỗ Văn Hỷ dịch
(S.Ð.D.tr.239)
Thế nhưng đã để lại
văn tự, thì tất nhiên phải có giải thích mà giải thích thì phải có sai
lạc, đó là chuyện bình thường. Nhưng có những trường hợp mà ta bị bắt buộc
phải nghĩ là đã có cố ý giải thích sai lạc.
Chẳng hạn, gần đây
có một số bài viết cho rằng, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã chủ trương không cần
ngồi Thiền, cũng chẳng cần niệm Phật, vì đã có thơ trích để chứng minh cho
lý luận trên :
Tự thị quyện thời
tâm tự tức
Bất quan nhiếp niệm
bất quan thiền,
Nghĩa :
Khi nào mỏi mệt thì
tâm tự tắt
Chẳng cần niệm Phật,
chẳng ngồi
Thiền
(S.Ð.D. tr.233)
Hay táo bạo hơn, bát
bỏ hẳn việc trì
giới và nhẫn nhục :
Trì giới kiêm nhẫn
nhục
Chiêu tội bất chiêu
phước
Dục tri vô tội phước
Phi trì giới nhẫn
nhục.
Nghĩa :
Trì giới và nhẫn
nhục
Chỉ chuốc tội chứ
không chuốc
phước
Muốn biết không tội
phước
Thì đừng trì giới
nhẫn nhục.
(S.Ð.D.tr. 290)
Chúng ta phải hiểu
rằng, đây là ngôn ngữ của người đã đứng trên đỉnh núi cao. Nhưng chúng ta,
những người còn ở dưới chân núi, mà vẫn cố ý lặp lại như vậy, thì đó chỉ
là đại ngôn mà thôi, và nên biết rằng, phá chấp nhiều khi cũng rất nguy
hiểm, nó dễ bị lợi dụng để biện minh cho hành động “bậy bạ” của mình vậy.
Tuệ Trung Thượng Sĩ
đã rất ý thức được điều nguy hại này, nên khi đọc cho Trần Nhân Tông nghe
xong bài kệ ấy, Người đã cẩn thận căn dặn :
... Vật thị phi
nhân
(Chớ có bảo cho
người không ra gì!)
Như vậy, chỉ có nhân
cách của con người mới chứng minh cho lời nói của mình là đúng hay sai?
Nhân cách của Tuệ Trung Thượng Sĩ như thế nào? Có phải nhân cách đó đã làm
chấn động tâm hồn của Trần Nhân Tông không? Cái gì đã khiến ông phải thốt
lên :
... Ngã tri Thượng
Sĩ môn phong cao tiếu.
(Vì vậy, ta biết môn
phong của Thượng Sĩ thật là siêu việt)
Tại sao một ông vua
đã từng ăn chay từ hồi còn nhỏ, vậy mà phải ca ngợi một người đang ăn thịt
cá là “Siêu việt”
Có lẽ, đây là điều
chúng ta nên suy nghĩ vậy.
IV
Nhất khúc vô sinh
xướng liễu thì
Ðảm hoành tất lật cố
hương quy
Nghĩa :
Vừa lúc “Vô sinh”
dứt khúc ca
Cầm ngang ống sáo
lại quê nhà.
Ðỗ Văn Hỷ dịch
(S.Ð.D.tr. 231)
Ðó là lời hát ca của
người vừa tìm lại được tự do nơi quê nhà.
Nhưng con người ấy,
vẫn phải tiếp tục sống như bao nhiêu người thường tình khác trên thế gian
này. Bởi vậy nên :
Khỏa quốc hân nhiên
tiện thoát y
Lễ phi vô dã, tục
tùy nghi.
Nghĩa :
Ðến xứ cởi trần cứ
vui vẻ mà bỏ áo
Không phải là quên
lễ, chỉ tùy theo thói tục mà thôi.
Nhưng điều quan
trọng nhất trong thái độ chấp nhận đời sống, mà bên ngoài có vẻ như tầm
thường ấy vẫn là, cũng chỉ vì tình thương vô hạn đối với người đồng loại
mà thôi.
Trong suốt bài thơ
“Vật bất năng dung”, ta nghe ra được nỗi đau khổ vô cùng của Tuệ Trung
Thượng Sĩ. Ông đau khổ, không phải cho chính mình, mà đau khổ vì biết được
rằng, mình đang gánh lên vai tất cả sự ngu xuẩn của con người :
Kim xuyên chốc ấu vi
huyền đắc
Minh kính manh nhân
tác cái chi
Ngọc tháp nhập cầm
ngưu bất chính
Hoa trang anh lạc
tượng hà tri
Hu ta nhất khúc
huyền trung diệu
Hợp bã hoàng kim chú
Tử Kỳ.
Nghĩa :
Chiếc thoa vàng đối
với bà già đầu
hói chỉ là chiếc móc
để treo.
Tấm gương sáng đối
với người mù
chỉ là cái nắp để
đựng chén.
Dẫu tiếng ngọc nhập
vào đàn cầm
thì trâu cũng chẳng
thèm nghe.
Bông hoa có trang
sức thêm chuỗi
ngọc thì voi cũng
không biết đến.
Than ôi! Một khúc
mầu nhiệm trong
huyền vi.
Nên đem vàng mà đúc
Tử Kỳ.
(S.Ð.D. tr. 257)
Nhưng không phải vì
thế mà thối lui, trái lại con người càng vô minh bao nhiêu, thì sứ mạng
cứu vớt con người lại càng phải được nung nấu bấy nhiêu. Vì vậy, Tuệ Trung
Thượng Sĩ đã tham gia và xông trận, Ông đã xuống núi với Thiền trượng
trong tay :
TRỤ TRƯỢNG TỬ
Nhật nhật trượng trì
tại chưởng trung
Hốt nhiên như hổ hựu
như long
Niêm lai khước khủng
sơn hà toái
Trác khởi hoàn
phương nhật nguyệt lung
Tam xích song lâm hà
xứ hữu
Lục hoàn Ðịa Tạng
khoái nan phùng
Túng nhiêu thế đạo
kỳ khu thậm
Bất nại tòng tiền
bột tốt ông.
Nghĩa :
CHIẾC GẬY
Ngày lại ngày qua
tay vững gậy
Thoắt nhanh như cọp
dẽo như rồng
Vung lên, sông núi e
tan nát
Dựng dậy, trời trăng
sợ mịt mùng
Ba thước song lâm
tìm mỏi mắt
Sáu vòng Ðịa Tạng
kiếm hoài công
Dẫu cho đường tục
chông gai mấy
Lão chẳng như xưa
bước ngại ngùng.
Huệ Chi dịch
(S.Ð.D.tr. 266)
Tuệ Trung Thượng Sĩ
kêu gọi con người trước tiên, hãy đạp vỡ bức tường ngăn cách với thế giới
bên ngoài. Từ lâu ta cứ nghĩ rằng, hiện tượng bên ngoài chẳng có liên quan
gì với chính ta cả, chính ý nghĩ đó thôi, cũng đã làm cho ta cảm thấy cô
độc trước vũ trụ vô biên kia.
Nhưng không, tất cả
những gì được thể hiện bên ngoài chỉ là sự phóng hiện từ bên trong của
chúng ta. Ta nghĩ như thế nào, thì vũ trụ và thế giới mà ta đang sống cũng
sẽ như thế.
THỊ ÐỒ
Niệm khởi, tâm tâm
khởi
Tâm vong, niệm niệm
vong
Dục tri đoan đích ý
Thạch hổ giảo kim
đương
Thiên địa do đàn chỉ
Sơn xuyên đẳng thấu
thanh
Tạm thời phong vũ
động
Kê hướng ngũ canh
minh.
Nghĩa :
GỢI BẢO HỌC TRÒ.
Một ý nghĩ nổi lên,
thì mọi tâm nổi lên
Một tâm quên đi, thì
mọi ý nghĩ quên đi
Muốn biết nghĩa đích
thực
Hổ đá cắn dê vàng
Trời đất chỉ như
búng ngón tay
Non sông chỉ bằng
một tiếng dặng hắng
Tạm thời gió mưa
rung chuyển
Gà gáy lúc canh năm.
Huệ Chi dịch
(S.Ð.D.tr.245)
Sau khi đã giải
phóng được ý niệm đó rồi, thì thiên nhiên không còn lạnh lùng và xa lạ
trước cái nhìn của ta nữa, và vũ trụ vạn vật bỗng như được hồi sinh lại,
đẹp vô cùng :
TỰ ÐỀ
Thu quang hữu bút
mạc hình dung
Khích mục sơn hà xứ
xứ đồng
Nhất phái Tào khê
hàn trạm trạm
Thiên nhiên Hùng nhĩ
bích tùng tùng
Ðăng lung chàng phá
Kim cương quyển
Lộ trụ hồn thôn lật
cức bông
Dục thức cá trung
đoan đích ý
Tân la dạ bán nhật
đầu hồng
Nghĩa :
TỰ ÐỀ
Ánh sáng mùa thu,
không bút nào hình dung được
Ngước nhìn non sông
nơi nào cũng một vẻ
Một dòng suối Tào
khê lạnh ngăn ngắt
Nghìn năm núi Hùng
nhĩ vẫn xanh lớp lớp
Ðèn lồng đập vỡ vòng
kim cương
Cột trần nuốt trọn
tấm phên gai góc
Muốn biết cái ý xác
thực trong đó
Nữa đêm ở Tân la,
mặt trời đã ửng đỏ
Huệ Chi dịch
(S.Ð.D.tr 267)
Và sau cùng, con
người phải nhận ra rằng, mọi hiện tượng của thế gian, cứ thế tiếp tục trôi
chảy không ngừng, sự tồn tại và hủy diệt của mọi sự vật và của chính ta
nữa cũng nằm trong dòng sông vô tận ấy :
AN ÐỊNH THỜI TIẾT
Sinh tử do lai bãi
vấn trình
Nhân duyên thời tiết
tự nhiên thành
Sơn vân dã hữu xuất
sơn thế
Giản thủy chung vô
đầu giản thanh
Tuế tuế hoa tùy tam
nguyệt tiếu
Triêu triêu kê hướng
ngũ canh minh
A thùy hội đắc nương
sinh diện
Thủy tín nhân thiên
tổng giả danh
Nghĩa :
THỜI TIẾT YÊN ÐỊNH
Thôi đừng hỏi lai
lịch về con đường sống chết làm gì,
Thời tiết của “nhân
duyên” cứ thế tự nó hình thành
Mây núi đã có cái
thế bay ra khỏi núi
Nước suối không
tiếng nào không phải là tiếng nước gieo vào lòng suối.
Hàng năm hoa vẫn nở
vào tháng ba
Sáng sớm, gà vẫn gáy
vào canh năm
Ai là người hiểu
được mặt người mẹ
Mới tin rằng người
và trời đều là giả danh.
Ðỗ Văn Hỷ dịch
(S.Ð.D.tr 246)
Vậy thì, tại sao ta
phải sợ sống chết nhỉ?
Trong bài : Sanh tử
nhàn nhi dĩ (Sống chết chỉ là nhàn mà thôi!), Tuệ Trung Thượng Sĩ cho
rằng, chỉ có người ngu mới sợ sống chết, còn kẻ trí, tức là người đã “ấn
định được thời tiết” rồi, thì xem sống và chết chẳng là gì cả, mà cũng chỉ
là một dịp để cho ta tiếp tục cuộc rong chơi, chỉ có vậy thôi :
Ngu nhơn điên đảo bố
sinh tử
Trí giả đạt quan
nhàn nhi dĩ.
Nghĩa :
Người ngu điên đảo
sợ sống chết
Bậc trí có cái nhìn
thông đạt, xem
sống chết chỉ là lẽ
thường mà thôi.
(S.Ð.D.tr 283)
THÍCH PHƯỚC
AN.
--- o0o ---
Trình bày: Anna
Cập nhật ngày: 01-08-2006