Vô Tự Thị Chân Kinh
Diệu Trân
Gió Đông xuất bản tháng 4-2005
---o0o---
Đức Phật
từng dạy: “Con đường ta đã chỉ bày, các con phải tự đốt đuốc lên mà đi.”
Cuốn sách
nhỏ này chỉ là sự chia xẻ giữa những người con Phật, tuân lời Phật dạy,
cùng nhau khởi bước trên con đường tìm về Trung Đạo.
Diệu Trân
ĐẾN CHÙA LẠY
PHẬT
Ai đến chùa cũng vào
lạy Phật, trừ người hảo tâm đưa giùm người khác đến cửa chùa, rồi đi.
Không người nào lạy Phật mà không lâm râm khấn vái. Tôi đoan chắc những
lời khấn vái đều là những điều thiện, lành, không cầu phước cầu lộc cho
mình thì cầu cho chồng cho con, cho họ hàng thân thuộc, bằng hữu xa gần;
người có tâm lượng rộng rãi hơn thì cầu cho quốc thái dân an, thiên hạ
thái bình …… Người lạy Phật bận rộn cầu xin nên trong lúc cầu, ai cũng cúi
rạp xuống mà tỏ lòng kính ngưỡng. Tự suy nghĩ như thế, tôi mới dám kết
luận rằng, khi người Phật tử đến chùa lạy Phật, ít ai ngước mắt lên CHIÊM
NGƯỠNG TÔN NHAN ĐỨC PHẬT, MẮT KHÔNG TẠM RỜI (như một câu trong Kinh A Di
Đà.)
Là Phật tử sơ cơ nên
khi chợt nghiệm ra như thế, tôi sửng sốt và có cảm tưởng mình chưa từng
nhìn rõ tôn nhan Đức Thế Tôn mà chỉ biết qua Kinh là Ngài có 32 tướng tốt,
80 vẻ đẹp. Biết như thế thì cũng như không biết vì 32 tướng tốt đó thế
nào, 80 vẻ đẹp ra sao? Những lời tả đó không giúp cho Phật tử “thấy” được
Phật hơn là sự chăm chú chiêm ngưỡng tôn tượng. Tất nhiên, tượng cũng
chẳng chứng thực được tôn nhan Phật nhưng qua hình tướng chúng ta còn có
thể “thấy” Phật. Nghĩ thế, tôi dọ dẫm, tự kiểm chứng.
Lần đến chùa sau đó,
thay vì quỳ rạp lạy Phật, tôi chắp tay, lắng tâm thanh tịnh rồi từ từ nhìn
lên chánh điện. Tôi chăm chú ngắm tượng Đức Thích Ca Mâu Ni tọa trên tòa
sen. Mắt tôi chạm vào đôi mắt Ngài trước nhất. Lạ thay, tôi phảng phất
thấy nụ cười từ ái nơi đuôi hai con mắt nhìn xuống. Nụ cười bằng mắt tỏa
ra bát ngát bao dung và thương xót. Đôi mắt đang nhìn xuống thế gian mà
biểu lộ cả tấm lòng Ngài. Chính đôi mắt đó đã chứng kiến bốn nỗi khổ Sinh,
Lão, Bệnh, Tử của thế gian khi đi dạo ngoài bốn cửa thành. Những cảnh khổ
đó không phải chỉ riêng đôi mắt Thái Tử Tất Đạt Đa thấy, mà hàng tỷ tỷ đôi
mắt nhân gian đã thấy; nhưng nhân gian thấy chỉ để mà thấy, thấy rồi lại
tiếp tục ngụp lặn trong biển khổ. Chỉ có vị Thái tử con vua Tịnh Phạn
thành Ca Tỳ La Vệ là băn khoăn ray rứt vì biển khổ triền miên này.
Từ đôi mắt thấy cảnh
thương đau, đôi tai Ngài đã lắng nghe bao lời rên siết. Tất cả những tôn
tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà tôi từng được nhìn thấy, tuy nét mặt, có
khác đôi chút (có lẽ tùy tâm trạng nghệ nhân khi đúc tượng) nhưng hai tai
Phật đều được thực hiện như nhau. Đó là vành tai lớn và dài, biểu tượng
lòng từ bi lắng nghe hết thảy thống khổ của nhân gian. Sự thật nhĩ căn của
Phật có như thế hay không, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng chính
là lòng Từ Bi và Trí Tuệ tuyệt luân của Ngài. Lòng từ bi đã thúc đẩy Thái
tử từ bỏ cung vàng điện ngọc trở thành sa-môn Gotama, quyết đi tìm con
đường giải thoát khỏi trói buộc của khổ đau. Với trí tuệ và kiên cường,
sau sáu năm khổ hạnh, sa-môn Gotama đã tìm ra tên cai ngục cái nhà tù
khổng lồ từng triền miên giam hãm, trói chặt nhân loại trầm luân trong
thống khổ. Tên cai ngục đó là Vô Minh. Vì vô minh mà chúng sanh cho Vô
Thường là Thường, Khổ là Lạc, Vô Ngã là Ngã, Không là Tịnh. Đó là đầu mối
của mọi khổ đau.
Tìm ra được sự thật
đó, sa-môn Gotama lập tức thoát xác! Bao giây trói vô hình chằng chịt bấy
lâu như đều đứt tung ra! Bao phiền não như vừa bật rễ, trốc gốc, ào ạt lăn
trôi, mất hút. Chỉ còn vầng thái dương rực rỡ, khai sinh Đạo Cả cứu độ
chúng sanh.
Và đó là lúc nụ cười
mầu nhiệm nở trên môi sa-môn Gotama khi Ngài đạt Giác Ngộ, thành Phật; nụ
cười ban vui, cứu khổ, nụ cười an ủi, chở che được tạc lại trên hầu hết
tôn tượng Ngài. Chỉ cần tĩnh lặng chiêm ngưỡng nụ cười ấy, ta sẽ cảm ngay
được lạc thọ của giòng suối trong vắt, ngọt lịm đang từ triền non cao chảy
xuống miền đồng bằng nắng cháy. Nhìn kỹ thêm, hình như ẩn sau nụ cười đầy
thương yêu, là lời dạy: “Ta là Phật đã thành; các con là Phật sẽ thành”.
Lời dạy này cốt nhắc nhở chúng sanh phản quang tự kỷ, phải biết nhìn lại
mình, phải biết gạn lọc sỏi đá cho hạt minh châu vốn sẵn có, sớm được hiển
lộ.
Từ khi tự chuyển
“Đến chùa lạy Phật” thành “Đến chùa ngắm Phật”, tôi có được bao nhiêu là
an vui hồi nào không hay. Này nhé, vừa tới trước cổng chùa, tôi đã dặn
lòng “Không cầu xin gì cả, chỉ ngắm Phật thôi”; thế là tâm mong cầu, hờn
giận biến mất. Tôi đã “XẢ” được tâm thế gian bên ngoài. Sau đó, quỳ trước
Phật đài với lòng nhẹ tênh, với tâm thanh tịnh, tôi thấy được ánh điện
quang Từ Bi của Phật hiển lộ rõ hơn trên mắt, trên môi Ngài, trên suốt con
đường Trung Đạo Ngài đã đi, thể hiện qua chính bản thân Đức Phật, dũng
mãnh mà lặng thầm, uy nghi mà điềm đạm, trí tuệ mà đơn sơ, nhẹ nhàng mà
quyết liệt ……. Bằng đời sống của chính mình, Đức Phật đã dung hòa, đã hóa
giải mọi trạng thái đối nghịch của thế gian để từ đó, Ngài dẫn dắt chúng
sanh tìm dần về con đường Giác Ngộ.
“Đến chùa ngắm Phật”
còn vô tình giúp tôi cơ duyên liễu nghĩa được nhiều bài pháp mà trước đây
càng nghe tôi càng mù tối, vì rõ ràng nghe thế, mà sao không phải thế? Tri
và Hành nếu chẳng đi đôi được với nhau thì Tri đó chẳng phải tri, mà Hành
kia cũng chẳng phải hành!
Tới đây tôi mới thấm
thía câu Phật dạy: “49 năm qua, ta chưa nói lời nào”.
Đóa sen đưa lên.
Nụ cười Ca Diếp.
Đã là bài pháp vô
ngôn mà bất tận.
Tôi cứ tiếp tục cách
“lạy Phật” của mình như thế. Nghĩa là, dù đến chùa nào tôi cũng lạy Phật
bằng cách “Ngắm Phật” mà thôi. Chính vì chỉ ngắm Phật tôi mới khám phá ra
rằng, cũng vẫn là tượng Phật Thích Ca với những nét tiêu biểu đặc thù
nhưng thật ra không hề có tượng nào giống tượng nào cả, cho dù tôn tượng
đó có cùng một xuất xứ. Tôi không cho là lạ vì ngoài nét tinh xảo khác
nhau của mỗi nghệ nhân khi đúc tượng, còn tâm ý của Đức Thế Tôn trao cho
người đúc tượng nữa. Chẳng phải ai cũng đúc tượng Phật được đâu! Tại sao
có những tác phẩm nghệ thuật qua nhiều ngàn năm vẫn là vô giá? Vì đó là
những tác phẩm CÓ HỒN. Với những tác phẩm này, chúng ta chỉ có thể cảm
nhận mà không thể dùng bất cứ loại ngôn từ nào để giải thích hay diễn đạt
được. Tượng Phật, tự thể đã mang ý nghĩa thiêng liêng, người đúc tượng
Phật nếu còn biết đặt cả lòng thành kính trên việc làm này thì khi hoàn
thành, bức tượng không thể chỉ là sự kết hợp của đất đá vôi vữa. Bức tượng
sẽ mang những bài thuyết pháp của Đức Thế Tôn, những bài pháp ẩn trong ánh
mắt từ bi, qua môi cười độ lượng, trên vầng trán trí tuệ, nơi dáng ngồi
kiết già vững chãi an nhiên, nơi vòng tay nhân ái muốn ôm hết muôn loài mà
cứu độ ……
Tôi vô cùng xúc động
khi khám phá ra điều đó. Nhờ thế, mỗi khi ngắm Phật tôi lại có cảm tưởng
như đang được nghe bài pháp mới. Và niềm vui bất tận khi thầm lặng theo
dõi bước chân Phật đã vô tình XẢ cho tôi mọi mong cầu ước muốn vị kỷ của
nhân gian.
Ngay cả khi phải
nhận những oan trái, vạ lây mà nhân thế vô tình hay cố ý ném vào, tôi cũng
chỉ thấy đôi mắt Phật, nụ cười Phật bảo rằng “Hãy chọn sự im lặng của
người Phật tử. Đó là sự im lặng của giòng sông”.
Tháng Hai 2005
TAM BỘ NHẤT BÁI
Người bạn đạo nói
với tôi rằng, đọc sách về gương tu học của người xưa, lòng chỉ biết ngưỡng
phục chứ theo thì làm sao theo nổi. Tôi nói bạn cho một thí dụ thì bạn bảo
“Tam bộ nhất bái.”
Chiều hôm đó, bạn
ghé tôi để mượn một cuốn sách. Tôi cũng có chút thì giờ nên pha bình trà
và chúng tôi ra vườn sau, ngồi trong lều trúc, cùng trao đổi về “Tam bộ
nhất bái”, là hạnh nguyện của Đại lão Hòa Thượng Hư Vân năm ngài 43 tuổi,
muốn báo đáp công ơn sanh thành của cha mẹ.
Hòa Thượng Hư Vân
sanh tại tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa, năm 1840. Từ thuở ấu thơ ngài đã tỏ ý chí
xuất trần nên dù bao nhiêu cản trở ngài vẫn quyết một lòng lặn lội tìm
thầy học đạo. Ngài từng tu khổ hạnh “Tam thường bất túc”, ngày chỉ ăn một
chén cơm nhỏ và ai cho gì thêm cũng không nhận, y áo chỉ có hai bộ đổi
thay dù đông hàn giá lạnh hay hè rực lửa nồng. Miệt mài nhiều năm chẳng
thấy được gương tâm, ngài quyết dốc lòng tận lực thêm nữa, bèn rời nơi thị
tứ, tìm vào hang động rừng sâu, ăn đọt lá, uống nước suối, màn trời chiếu
đất, y áo rách rưới tả tơi chẳng đủ che thân ngài vẫn chẳng màng. Vậy mà
lạ thay, sức khỏe của ngài mỗi ngày mỗi thêm tráng kiện, tâm nhẹ như mây,
bước nhanh như gió, tai nghe tiếng từ xa, mắt thấy vật nhiều dặm. Nhận ra
sự đổi thay nơi công lực, ngài rời hang động, vân du đây đó để tự kiểm
chứng. Trên bước đường du hóa, tình cờ ngài gặp một đạo sư. Thấy diện mạo
cổ quái của ngài, vị đạo sư hỏi ngài tu theo môn phái gì? Ngài thành thật
trả lời là ngài theo gương người xưa, “ép xác tìm tâm” tự tu tự chứng. Vị
đạo sỹ bèn nói: “Vậy là ngài chỉ học theo cách tu thân thôi, còn người xưa
tu tâm ra sao, ngài có biết hay không? Tu thân cách này, bất quá chỉ giải
thoát mình chứ chẳng cứu được ai. Nếu phát Bồ Đề Tâm theo lời Phật dạy thì
tuy tu đạo xuất thế gian mà phải không rời thế gian pháp mới là con đường
Trung Đạo.” Nghe thế, ngài giật mình, tỉnh ngộ, từ đấy đem sở học bôn ba
hoằng pháp.
Suốt cuộc đời 120
năm, không lúc nào ngài ngưng nghỉ Phật sự, đi tới đâu cũng tu sửa chùa
chiền đổ nát vì chiến tranh, thiết lập đạo tràng, dìu dắt tứ chúng. Ngài
đã đạt thành 10 hạnh nghiệp lớn lao mà Tam Bộ Nhất Bái nằm trong Hạnh Hiếu
Thảo.
Khi đọc lên bốn chữ
Tam Bộ Nhất Bái, ai cũng có thể hiểu là “Đi ba bước, lạy một lạy” nhưng
hình dung ra bốn chữ này thì thật khó tưởng tượng là đi thế nào, lạy thế
nào; đi đâu và lạy ai? Hạnh nguyện của ngài quả là điều ngoài sức con
người. Với bối cảnh chiến tranh, loạn lạc thời xưa, đường xá gập ghềnh,
núi đồi ngăn trở, thú dữ khắp nơi, khí hậu nghiệt ngã …..một vị tăng đơn
độc, lặng lẽ, cứ bước ba bước lại quỳ xuống, thành tâm lạy một lạy suốt
non ba ngàn dặm gian nan, quả thật là không ai theo nổi. Nhưng khi khởi
tâm nguyện, có lẽ ngài chỉ tự nghĩ rằng, ơn cha mẹ như trời biển, làm con
chẳng đền đáp được mảy may; Nay, cha mẹ không còn, muốn báo đền hãy tận
dụng hết tâm hết lực mà thôi. Tâm lực ấy, nếu không thực hành thì biết thế
nào mới là hết tâm hết lực. Với ý nghĩ đó, ngài tự nguyện sẽ khởi đi từ
hướng đông núi Phổ Đà tới hướng bắc núi Ngũ Đài, đường thiên lý hiểm trở
gian nan đó dài non ba ngàn dặm!!!!!.
Trong lều trúc bình
yên, giữa khu vườn chan hòa nắng ấm, người bạn đạo của tôi rơi nước mắt
khi chúng tôi nói tới đoạn ngài suýt tử vong bên bờ sông Hoàng Hà vào mùa
đông tuyết rơi ngập lối. Khi ngài quỳ lạy đến nơi này thì trời đổ bão
tuyết; chung quanh hoang vắng, không nhà cửa, không bóng người, chỉ thấy
một chòi lá ven sông. Ngài vào đó trốn tuyết nhưng chòi lá trống trải, bốn
bề gió thốc. Tuyết tiếp tục rơi ba ngày ba đêm. Đói, lạnh đã đưa ngài dần
vào hôn mê …..Giữa ranh giới của sự sống và cõi chết, ngài bỗng lờ mờ thấy
dáng dấp một người hành khất bước vào chòi. Người ấy cởi bớt y phục của
mình mà đắp cho ngài, lại lấy trong túi vải một nắm gạo rang, nhóm lửa,
nấu cháo rồi đỡ ngài dậy. Ngài được người hành khất đó cứu sống, không
phải chỉ một lần mà hầu như suốt chặng đường gian truân, khi nào gặp hiểm
nguy cùng cực thì người ấy lại tình cờ có mặt. Suốt thời gian thực hành
hạnh nguyện, chỉ trừ khi qua sông, lội suối hoặc bão giông không thể cất
bước, ngoài ra, ngài không hề ngưng nghỉ, chỉ Nhất Tâm bước ba bước, quỳ
xuống lạy một lạy. Cuối cùng, sau ba năm ròng rã, ngài cũng tới được chùa
Hiển Thông trên núi Ngũ Đài. Nơi đây, ngài muốn tìm tung tích người hành
khất ân nhân để tạ ơn thì một lão- sư, khi nghe xong câu chuyện đã điềm
đạm bảo ngài rằng: “Chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đó. Bồ Tát thường hiện
thân hành khất trợ duyên cho người cầu đạo.” Nghe thế, Hòa Thượng Hư Vân
sụp xuống, lạy khắp mười phương tạ ơn vị Bồ Tát xuất thế gian mà không rời
thế gian pháp.
Nắng trong vườn thơm
hương hoa bưởi, nắng gió ngạt ngào quyện bát ngát cõi tâm hương. Giới,
Định, Huệ là đây; Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến cũng là đây. Ôn lại
truyện xưa, chúng tôi cùng quán chiếu để hiểu rằng noi gương xưa không
phải là noi theo đúng hình thức mới là theo, mà phải hiểu cốt lõi, tinh
túy của sự việc, của hành động. Đại lão Hòa thượng Hư Vân dạy chúng ta
những gì qua hạnh nguyện phi thường mà ngài đã đạt? Ngài dạy chúng ta sự
quyết tâm. Phàm làm gì cũng phải quyết tâm. Quyết tâm là hùng lực đưa tới
thành công vì nếu không quyết tâm thì chỉ một trở ngại nhỏ cũng đủ khiến
tâm lung lay, thối chuyển; Khi tâm lung lay, thối chuyển rồi thì sự thành
công sẽ ở ngoài tầm tay.
Với hoàn cảnh xã hội
khác xưa, với tâm lực yếu kém, chúng ta chẳng thể vượt ba ngàn dặm, ba
bước lạy một lạy mới là tu, mà phải tỉnh thức biết rằng trong sinh hoạt
hàng ngày, nếu ta cố gắng bớt một phần tập khí là thêm một phần sáng suốt;
bớt mười phần phiền não sẽ chứng một phần Bồ Đề. Luôn tâm niệm như thế thì
đi, đứng là tu; ăn, ngủ cũng là tu; làm việc, nghỉ ngơi cũng là tu; trong
tu viện hay ngoài xã hội cũng là tu …….
Biết thế, nhưng tâm
chúng sanh thường quen dễ dãi với mình mà vô tình để sự buông lung lấn át.
Sau buổi uống trà ngoài lều trúc với bạn, chính tôi đã bị sự lười mỏi lấn
át lúc nào không hay. Khi nhận ra thì tâm đã vẩn đục bao phiền não. Tôi cố
gắng ngồi thiền nhiều thời hơn nhưng càng ngồi, phiền não càng bủa vây
trùng điệp!. Biết là đang bị thử thách, một buổi, sau khi ngồi yên trong
bóng đêm từ 12giờ đến 3giờ sáng, tôi đứng dậy, tấm gội sạch sẽ rồi niệm
Đức Quan Thế Âm. Không biết tôi niệm hồng danh Ngài bao lâu thì bỗng một ý
nghĩ lóe sáng. “Nếu định lực yếu kém, hãy dùng hình thức bên ngoài trợ
lực; hình thức nào gần nhất với thân, hình thức nào ta có thể nhìn thấy,
nhận thấy từng phút, từng giây mới có thể liên tục nhắc nhở ta tinh tấn.”.
Ý nghĩ đó vừa thoáng qua, tôi cảm thấy như vừa nhấc khỏi vai một gánh nặng
ngàn cân!. Tôi quỳ ngay xuống, Đảnh lễ Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát đã
soi sáng cho tôi. Hình thức bên ngoài nào gần nhất với thân ta mà dễ thấy,
dễ nhận hơn là mái tóc? Không phút chần chờ, tôi biết rất rõ trong buổi
sáng hôm nay tôi phải làm gì. Tôi chuẩn bị những thứ cần thiết. Địa chỉ
một tu viện sư nữ, một tấm áo tràng, một bộ dao cạo tóc. Tôi phải tìm đến
một ni sư, xin được chứng minh trước Tam Bảo, lòng sám hối và quyết tâm
tinh tấn tu học. Tôi sẽ xuống tóc hôm nay, như là một hình thức tự nhắc
nhở, chứ không phải xuống tóc xuất gia. Tôi biết mình chưa đủ cơ duyên lớn
đó.
Trong lúc ngồi chờ
bình minh, bỗng nhiên, câu chuyện trao đổi với bạn đạo ngoài lều trúc về
hạnh nguyện “Tam Bộ Nhất Bái” của Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân trở thành đậm
nét. Trước đây, đã đôi lần tôi có ý nghĩ xuống tóc mà chưa “dám” làm vì
chưa đủ quyết tâm. Khi quyết tâm, mọi sự sẽ hạnh thông.
Trên đường tới gặp
ni-sư, tôi mong liên lạc được với bạn để cùng chia xẻ, nhưng bạn vắng nhà.
Không sao, hôm nào gặp, tôi sẽ tặng bạn vài sợi tóc và nói với bạn rằng,
hạnh phúc này của tôi cũng từ bài học Nhất Tâm khi Hòa Thượng Hư Vân thực
hành “Tam Bộ Nhất Bái” đấy. Vậy đừng thất vọng, đừng lo sợ rằng nhìn gương
người xưa, lòng ngưỡng phục mà không theo nổi. Nói như vậy là chúng ta đã
bị chấp vào hình tướng, vào văn tự, vì gương đó là đuốc sáng, ta phải tùy
hoàn cảnh và nhu cầu mà chọn đường đi. Bên cạnh đó, ta còn một niềm tin là
khi vấp ngã, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát sẽ hiện thân nâng đỡ; không nhất thiết
thị hiện dưới thân hành khất, mà có thể là lời an ủi của bạn đồng môn, là
sự khuyến khích của giảng sư, là âm thanh tiếng chuông tỉnh thức giữa đạo
tràng thanh tịnh…v…v… Hiểu như thế chính là ta đang học từ những bài học
ngàn vàng.
Lần tới gặp nhau,
tôi cũng sẽ đưa lại bạn chiếc lược đồi mồi rất đẹp bạn mua tặng tôi hôm
trước.
Vì nay tôi không còn
dùng đến nữa.
2 tháng Ba năm 2005
(22 tháng Giêng năm Ất Dậu)
SUJATA
Sujata, tiếng Pali
được tạm dịch là Tu Già Đa, tên một cô bé nhà giầu ở thôn Uruvela, gần
Gaya, cách thủ phủ Patna của tỉnh Bihar 80 dặm về hướng đông nam Ấn Độ.
Trong quốc gia mênh mông và phức tạp đó, thôn làng Uruvela quá nhỏ bé, sẽ
chẳng ai cần biết đến, nếu nơi đó không có giòng sông Ni Liên Thuyền mà
Đức Phật từng xuống tắm, không có khu rừng mà Đức Phật từng trú ngụ, không
có cây bồ đề mà Đức Phật thường ngồi thiền định và sau cùng, tìm ra Đạo
Lớn. Tất cả đều đã trở thành Linh Địa, với lòng ngưỡng kính của Phật tử
muôn phương hướng về.
Nhưng còn Sujata? Có
mấy ai nhắc tới cô bé đã dâng bát sữa cứu mạng Đấng Thế Tôn khi Ngài còn
là sa-môn Gotama? Vì tu khổ hạnh lâu ngày, sa-môn Gotama quá đuối sức đã
ngất xỉu bên bờ sông. Dưới ánh nắng chói chang và sức nóng như thiêu đốt,
Sujata mặc sari mầu hồng, bưng một mâm đầy thực phẩm tinh sạch vào rừng để
cúng thần linh. Tới bờ sông thì cô bé chợt nhìn thấy một vị sa-môn gầy
yếu, nằm lả trên nền đất. Cô bé biết ngay đây là một nhà tu khổ hạnh bị
kiệt sức. Cô bèn vội vã rót sữa rồi quỳ xuống, từ từ đổ từng giọt sữa cho
sa-môn. Khi bát sữa cạn, cô bé hồi hộp chờ đợi phản ứng của sa-môn. Quả
thật, sữa đã như thần dược với người kiệt sức vì chỉ một lát thì vị sa-môn
mở mắt. Cô bé vội dâng bát sữa thứ hai. Ngài nhận lấy, chậm rãi uống cạn
và không bao lâu, Ngài có thể tự ngồi dậy, nói lời cám ơn cô bé và cho cô
biết Ngài là ai.
Sujata! Sao âm thanh
ngắn ngủi, xa lạ đó cứ mãi luẩn quẩn tâm tôi? Nếu ngày rằm đó, Sujata
không đi bằng đường bờ sông để vào rừng cúng thần linh? Hoặc đi bằng
đường ấy mà không nhìn thấy sa-môn Gotama? Hoặc thấy Ngài, nhưng đã quá
trễ?
Những “nếu”, những
“hoặc” đó mà xẩy ra thì nhân loại đã không được có Phật Thích Ca, không
được có Đạo Cả để nương theo! Chao ơi! Sự bất hạnh đó khủng khiếp quá!
lớn lao quá!
Nhưng cô bé Sujata
đã tới kịp và đã lập tức làm ngay những gì cô biết là phải làm. Khi hai
bàn tay nhỏ nâng bát sữa, kê miệng vị sa-môn và dịu dàng đổ vào, cô không
hề biết là cô đang góp phần vào một biến cố trọng đại của nhân loại, một
phước báu vượt trên mọi phước báu vô lượng vô biên của cả muôn người muôn
loài thâu gồm lại! Mà cô cần biết chi điều đó! Cô chỉ cần nhìn thấy vị
sa-môn kiệt sức kia hồi tỉnh lại. Chỉ thế thôi! Và Ngài đã không phụ lòng
cô. Ngài đã tỉnh lại để hàng ngày cô được cúng dường Ngài một nắm cơm muối
mè cho tới khi Ngài thành đạo.
Ơn cứu mạng lớn lắm
chứ! Vậy mà chúng ta không thấy Đức Phật đặc biệt ưu ái Sujata. Sau khi
thành đạt, Ngài lưu lại Uruvela một tuần trăng để dạy đạo cho đám trẻ
trong thôn, trong đó có Sujata. Ngài coi tất cả như nhau, từ những trẻ con
nhà giầu mặc gấm lụa tới những trẻ nghèo chỉ có mảnh vải rách che thân,
đều đến ngồi trên nền cỏ, xúm xít quanh ngài.
Và Sujata, có công
cứu mạng một vị Phật thì phước đức nhường bao! nhưng cô bé chẳng hề thấy
mình khác những đứa trẻ trong làng. Trái lại, được có chút học thức, cô
hiểu về lễ nghi và thường hết sức cung kính Phật để đám trẻ noi theo.
Kẻ cúng dường, người
nhận lãnh đều an nhiên tự tại.
Gần một năm, sau khi
Đức Phật rời thôn Uruvela để bắt đầu hoằng pháp, Sujata chỉ còn được gặp
Ngài một lần khi Ngài trở lại thăm bọn trẻ. Cũng thời gian đó, tăng đoàn
của đạo sĩ Kassapa - giáo phái thờ Thần Lửa - đang tu học đông đảo ở khu
rừng bên kia sông. Đức Phật đã đàm đạo với đạo sĩ Kassapa và thuyết phục
được ba anh em đạo sĩ đem cả tăng đoàn gần 900 trăm người về tu học Đạo
Giác Ngộ.
Đó là lần cuối cùng
Sujata được diện kiến Đức Phật, cùng với bọn trẻ trong làng!.
Cô bé có một tâm
lành như vậy, sao không nương theo Đạo Cả Đức Phật vừa mở ra mà tìm đường
giải thoát? Suốt dặm trường hoằng pháp, Đức Phật đã độ cho biết bao người
từ vua, quan, trưởng giả đến cùng khổ, nghèo hèn, sao Ngài không độ cho
người đã cứu mạng mình? Ngay cả đến mười năm sau, khi Đức Phật trở lại
thôn Uruvela như lời hứa với Svastika - chú bé chăn trâu thường cúng dường
cỏ tươi để Ngài trải làm tọa cụ khi ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề - để
tiếp nhận chú vào tăng đoàn của Ngài, mà không nhắc đến cô thí chủ nhỏ bé
năm xưa?
Đem tâm thế gian mà
luận sự nhiệm mầu thì những dấu hỏi ấy sẽ chẳng có lời giải đáp ổn thỏa.
Hãy thử gột rửa thân
tâm.
Hãy lắng mọi giao
động xôn xao.
Hãy tĩnh lặng thiền
định.
Hãy ươm trong tâm
mình một mầm sen.
Hãy khai giòng Cam
Lộ cho đóa sen hé nở.
Hãy lấy lửa bản thể
đốt lên Tâm Hương…….
May ra, tâm-thế-gian
có cơ duyên chuyển hóa, thấy được phần nào biển trí bao la của Pháp Phật
nhiệm mầu.
Sa-môn Gotama nhận
lãnh ơn cứu mạng như một sắp đặt cho cô bé Sujata có cơ duyên được gieo
trồng phước báu ở đời này và đời sau. Phải chăng đời này cô còn những nợ
duyên chưa dứt nên Ngài chỉ độ cô gieo được hạt lành? Nếu vì ơn đó mà phải
ưu đãi Sujata hơn những đứa trẻ khác thì chính Ngài đã không thực thi được
sự bình đẳng như Ngài thuyết giảng. Sâu xa hơn, ai nói Ngài chưa trả đủ ơn
cứu mạng? Ngài đã trả bát sữa đó bằng trọn vẹn trí tuệ và tình thương qua
49 năm hoằng pháp và 84 ngàn pháp môn phương tiện, lưu truyền cho đến đời
này và muôn ngàn đời sau, đem phúc lợi cho muôn người, muôn loài. Đó là
cách trả ơn của Đấng Toàn Giác. Nếu chỉ nghĩ đối tượng là cá nhân cô bé
dâng sữa thì quá hẹp hòi, cạn cợt!
Phần Sujata, khi
sa-môn Gotama đạt đạo, cô biết rằng Ngài sẽ là một vị Phật tối thượng,
muôn người muôn loài đều cung kính. Đứng trước Ngài, cô chỉ thấy mình là
một chúng sanh bé nhỏ, rạp đầu kính lễ. Nếu kiêu mạn nghĩ rằng mình đã có
công cứu mạng vị Phật uy linh kia, thì còn chi phước báu!
Phải chăng, chính
Đức Phật đã truyền cho cô trí tuệ này để cô nhận thức được như thế mà thể
hiện tinh thần Vô Ngã, thể hiện hạnh đầu tiên trong Lục Độ Ba La Mật bằng
tuyệt đích của ý nghĩa CHO và NHẬN.
Cho không dính.
Nhận không mắc.
Không dính mắc mới
đạt được an nhiên tự tại để khởi đi những bước vững chãi trên con đường
Trung Đạo./.
Tháng bẩy 2004
ĐỒI GIÓ
Mới quá trưa, trời
bỗng tối sầm, mây đen ở đâu kéo đến nhanh quá, và không bao lâu, mưa bắt
đầu rơi. Tôi ngồi trước ban thờ Phật, lặng lẽ nhìn mưa rạt rào ngoài khung
cửa kính, lòng lắng trong, an tịnh sau thời kinh Bát Nhã. Nhưng mưa mỗi
lúc một nặng hạt hơn, rồi gió vần vũ ngả nghiêng những nhánh hồng, đập vào
cửa kính, phút chốc, cuốn giạt tâm tĩnh lặng trong tôi, lên tới một vùng
đồi tầm tã bão giông và đầy gió nổi!
Mấy ngày nay, khi
tọa thiền, tâm tôi lại lang thang về đồi gió đó, một nơi chốn tôi chưa
từng được biết, được tới. Chỉ vì tờ tạp chí tình cờ có được, trong đó có
bài của ngài Huyền Không nhắc đôi giòng về ngôi chùa cổ rất nghèo, rất
khuất lánh, trên ngọn đồi Kim Sơn nhìn xuống phía bắc sông Bạch Yến. Chùa
thuộc làng Lựu Bảo, gần chùa Linh Mụ ở Huế. Sau khi bị trấn động vì một
vài chi tiết trong bài viết đó, tôi lục tung cả hai kệ sách, giở tất cả
những cuốn có di tích về chùa chiền miền Trung, tìm thấy hàng trăm tên
chùa lớn nhỏ, trừ chùa Kim Sơn! Ngôi chùa nhỏ “vô ngã” đến thế nên mấy ai
biết chùa đã gắn liền với lịch sử nổi trôi của vận nước từ hơn ba thế kỷ
qua và thời thập niên bốn mươi, đã để lại viên Xá Lợi sáng ngời Bi Trí
Dũng trong ngôi tháp tại khuôn viên chùa. Tuy không tìm được sách vở, hình
ảnh gì về chùa Kim Sơn nhưng những chi tiết hiếm hoi đọc được qua tờ tạp
chí đã không ngừng thôi thúc tôi quán chiếu về bao dữ kiện lịch sử hào
hùng của dân tộc Việt Nam thời đó, thời người Pháp đã thẳng tay tiêu diệt
những phần tử cách mạng yêu nước, tiêu biểu nhất là Việt Nam Quốc Dân
Đảng, nổi dậy từ thập niên ba mươi. Không riêng gì Việt Nam, lịch sử thế
giới đã chứng minh từ ngàn năm là khi không còn gì để mất thì không còn gì
để sợ! Bao nhiêu năm dưới ách thống trị của người Pháp, người dân Việt Nam
đã không còn gì để mất nữa, nên người Việt Nam vẫn tiếp tục đứng dậy đòi
lại quyền làm người. Cũng từ ngàn xưa, người Phật tử hiểu rằng Đạo Pháp
với Dân Tộc là một.
“Đạo như Trời đất
Vận hành mang mang
Lặng thinh dũng mãnh
Rạt rào thơm ngát
Kim Cang….”
Thế nên vào những
năm cực kỳ đen tối của Đạo Pháp và Dân Tộc thì Thất Hiền đã tùy duyên mà
cứu độ chúng sanh. Đó là những năm 1946, 1947 bẩy vị Thầy ưu tú nhất, tốt
nghiệp Phật Học Đường Báo Quốc tại Huế (tương đương với bằng đại học Phật
Giáo đầu tiên thời ấy) đã nương hạnh Bồ Tát Quán Âm mà tải đạo giúp đời.
Có vị lánh vào Nam, âm thầm củng cố Giáo hội Tăng già, có vị cởi áo cà-sa
tham gia kháng chiến, theo đúng tinh thần Quán Âm, nghe tiếng kêu thương
quằn quại của cuộc đời là tìm đến bằng mọi cách, bằng bất cứ hình dáng nào
thích hợp “Ưng dĩ trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà la môn, phụ nữ thân đắc
độ giả, tức hiện trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà la môn, phụ nữ thân nhi vị
thuyết pháp. Ưng dĩ đồng nam đồng nữ thân đắc độ giả, tức hiện đồng nam
đồng nữ thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ thiên, long, dạ xoa, càn thát bà,
atula, cẩn na la, ma hầu la già, nhân phi nhân đẳng thân đắc độ giả, tức
giai hiện chi nhi vị thuyết pháp”, chỉ còn một Thầy tình nguyện ở lại với
ngôi chùa xiêu vẹo để cùng chia xẻ gian nguy và làm nơi nương tựa tinh
thần cho dân nghèo quanh vùng. Đó là Thầy Trí Thuyên, một trong Thất Hiền
ưu việt của Phật giáo Việt Nam thời đó. Với lưới tình báo bủa vây khắp
nơi, người Pháp đã nghe phong phanh về ngọn đồi khô cằn sỏi đá trên đó có
ngôi chùa đổ nát đã đào tạo những bậc trí tuệ, đang rải giòng Cam Lộ ngọt
ngào cho vơi bớt cùng khổ của muôn dân. Ngày 23 tháng 2 năm 1947, người
Pháp được chỉ điểm đã bất thần kéo lực lượng võ trang hùng hậu tràn lên
đồi Kim Sơn, xông vào chùa khi thầy Trí Thuyên đang tọa thiền trước chánh
điện. Chúng lên đạn rầm rập, định bắn Thầy ngay. Thầy chỉ điềm đạm yêu cầu
để Thầy tụng xong một thời kinh rồi hãy bắn, cũng không muộn. Chúng đồng
ý. Và Thầy khai chuông mõ, an nhiên tụng kinh. Khi phiên kinh dứt, Thầy
điểm chuông, lạy ba lạy. Tiếng chuông còn ngân dài mà tiếng súng đã chát
chúa vang lên!
Thầy Trí Thuyên gục
xuống trước Tam Bảo trong hồi chuông Bát Nhã khi Thầy chỉ vừa hai mươi bốn
tuổi!!!
Kính lạy Mười Phương
Chư Phật
Tiếng chuông cứu độ
quyện vào tiếng súng oan nghiệt đó, tới nay đã gần sáu thập niên, có lúc,
có kẻ tưởng rằng cát bụi ta-bà đã phủ lấp Chân Như; nhưng không, trên ngọn
đồi Bi Trí Dũng đó, gió có bao giờ ngừng thổi, mây có bao giờ ngừng bay,
mặt trời có bao giờ ngừng mọc, trăng có bao giờ ngừng sáng, mưa có bao giờ
ngừng rơi, nắng có bao giờ ngừng chiếu..…. nên thầy Trí Thuyên có bao giờ
mà không còn đó với Kim Sơn, khi gió chính là mây, mây chính là mặt trời,
mặt trời chính là mặt trăng, mưa lạnh chính là nắng ấm và thầy Trí Thuyên
chính là Đạo Cả, là Chánh Pháp, là trùng trùng duyên khởi của vạn hữu bất
sanh bất diệt.
Với tất cả tấm lòng
hướng về Chư Phật, con tin chắc thầy Trí Thuyên còn đó, con tin chắc không
bao giờ thầy Trí Thuyên lại không còn đó. Không phải thầy chỉ còn đó mà
thầy vẫn đang tụng kinh. Thầy chỉ mới dứt kinh Bát Nhã, đem trí tuệ Phật
soi tâm thế gian; Thầy còn tụng Phổ Môn cứu khổ cứu nạn, còn tụng A Di Đà
đưa người nhất tâm bất loạn về Tịnh Độ, còn tụng Địa Tạng chuyển nghiệp
cho kẻ đọa trầm luân….Bạch Chư Phật, tiếng chuông hôm đó vẫn còn ngân
vang, tiếng chuông đó chưa dứt, tiếng chuông đó không bao giờ dứt vì đó là
tiếng đại hồng chung trong lòng Phật tử Việt Nam, những người con Phật
hướng về Đạo Pháp trong tinh thần tải đạo cứu đời, thể hiện hạnh nguyện
Quán Âm độ thế.
Thương thay cho
những kẻ vô minh, vì nếu biết được điều đó, họ đã không lên đạn để diệt
cái bất diệt ./.
Tháng Giêng 2005
TRÚC TÍM, HOA
VÀNG
Trong thi ca Đại-
thừa có hai câu thơ diễn tả tuyệt vời chân-như, bản-thể qua bức tranh hài
hòa mầu sắc đến gần như toàn hảo:
“Túy trúc hoàng hoa
phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt
hiện toàn chân”
Vô thỉ vô chung,
không đi cũng chẳng đến thì nơi đây trúc tím hoa vàng chính là chân như;
nơi kia mây trắng trăng tỏ khác gì bản thể; tự nơi tâm trong suốt này, đâu
chẳng là trúc tím hoa vàng, đâu chẳng là mây trắng trăng tỏ? Đó chính là
tâm đối cảnh mà không dính cảnh thì tâm, cảnh, hiện toàn chân.
Buổi đầu, hành giả
tọa thiền còn phải dùng cái dụng- của- trí để nhận biết mặt mũi của vọng;
nhận ra vọng thì tâm buông; vọng buông thì tâm tịnh; tâm tịnh rồi thì vạn
hữu với ta là một, đâu còn lăng kính phân biệt nào để trúc tím hoa vàng là
đẹp xấu hay héo tươi, mà nhìn trúc tím chỉ là trúc tím, nhìn hoa vàng chỉ
là hoa vàng; chỉ là thế, và chỉ thế thôi, nguyên thủy, trong suốt tới mức
tâm cảnh là một. Đã là một thì cũng không còn thời gian, không gian nữa.
Hành giả chuyên cần
có thể đạt được điều đó, nhưng giữ được trạng thái đó lâu hay mau mới là
công lực, bởi vì vọng luôn đầy ắp trong tâm như bọn trộm đông đảo luôn
rình rập ngoài cửa, một chút chểnh mảng là chúng lẻn vào đánh cắp những gì
quý giá! Phút mất chánh niệm là phút vọng khởi lên, bị trộm xô ngã rồi mới
nhận ra sáu cánh cửa lục-căn bỏ ngỏ thì còn chi bản thể chân như!
Đó là lúc tôi ngồi
thiền đêm qua, trăng mười sáu vằng vặc bên song đã thừa phút mơ màng kéo
tôi về tuốt đêm trăng quê nội. Ngày về quê giã từ ông nội để xuôi Nam, tôi
mới mười tuổi, biết gì đâu dáng núi Ba-Vì tắm đẫm hồn thơ Quang Dũng, biết
gì đâu ngã ba sông Đáy u hoài Đôi Mắt Người Sơn Tây. Nếu thuở ấu thơ xưa
tôi biết đất quê nội chính là chiếc nôi hồng chở đầy cung bậc, vần điệu
của thơ bất tử, của nhạc ngàn đời đó, thì không biết tâm hồn tôi có thay
đổi gì không. Chỉ biết quê nội lúc nào cũng ở trong tôi, ở phần ấm áp nhất
của trái tim, nơi góp nhặt, chứa đựng đủ loại cảm thọ rắc rối! Trên bờ đê
sông Hồng dẫn về thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông, tôi chỉ
thấy mắt ông nội đỏ hoe, cha tôi thì vội vã nắm tay chị em tôi, nghẹn ngào
quay đi. Khi chúng tôi gào lên “Nội ơi, nội!” thì cha mẹ tôi không còn kìm
giữ được nữa, cùng òa lên, vừa khóc, vừa chạy. Dạo đó tôi không hiểu, vì
sao mình không muốn xa nội mà phải xa? Có ai bắt buộc đâu? Quê mình, nhà
mình ở miền Bắc, sao lại bỏ để vào miền Nam? v..v..
Thời gian đầu, sau
cái ngày tháng ấy của năm 1954, hầu như không lúc nào nghĩ về quê nội mà
tôi không khóc. Mà có phải chúng tôi được ở quê nhiều đâu, chỉ mùa hè ông
tôi cho người ra Hà Nội đón, mấy chị em tôi mới được về quê chơi dăm bữa,
nửa tháng. Ấy thế mà tôi nhớ từng hàng cau, từng gốc bưởi, gốc lựu, gốc
na, bể nước mưa, chuồng trâu bò, gà vịt, đàn ngỗng ồn ào, vào cổng sau là
đi qua bếp rơm, chuồng lợn, vào cổng trước là gặp ngay đền thờ Đức Thánh
Trần, dãy nhà ngang chứa thóc v…v…
Ngày được tin ông
nội bị Cộng Sản Việt Nam đấu tố đến chết, sự bi thương đã quá sức chịu
đựng của tôi. Tôi ốm liệt giường một tuần, trong những cơn mê sảng chỉ
thấy hình ảnh ông nội quằn quại dưới đòn thù cuồng tín vô minh. Từ đó, kỷ
niệm về quê nội càng hằn sâu trong lòng tôi với niềm mơ ước một ngày được
trở lại, được bắc chiếc chõng tre dưới gốc cây đào trong sân gạch rộng
mênh mông một đêm trăng sáng, chờ rổ khoai bác Cả đang lùi thơm phức trong
bếp tro, nghe ông nội giảng nghĩa câu “Nhân tri sơ, tính bản thiện”. Nhưng
niềm mơ ước đó đã không bao giờ thành sự thật. Toàn bộ nhà cửa, ruộng
nương, trang trại của ông nội đã được nhanh chóng chia vụn ra cho những
người trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào việc thảm sát ông. Tin này,
mấy năm sau, do chú tôi lưu lạc ngoài Trung mãi, khi vào Nam mới cho biết.
Lạ thay, điều ấy không hề làm phai mờ một hình ảnh nào mà tôi đã ghi khắc.
Hai bể nước mưa vẫn trong vắt, ngọt lịm, hàng cau vẫn thẳng tắp, đùa với
mây xanh, dãy nhà ngang vẫn chất đầy thóc lúa, những đụn rơm vẫn cao ngất
góc sân, đền thờ Đức Thánh Trần vẫn phảng phất uy linh, mười ba bực thềm
gạch dẫn lên ngôi nhà chính vẫn in đầy dấu chân chúng tôi nhảy nhót,
chuồng trâu chuồng bò vẫn đậm nét câu chuyện đầu năm ông tôi thường kể khi
bà nội còn sống. Cứ trưa mồng một Tết, sau khi cúng bái, bà nội tôi lại
bưng một mâm cỗ đặt trước chuồng trâu bò rồi ngồi thụp xuống dỗ dành: “Ông
Trâu ông Bò ơi, năm hết tết đến, xin các ông ăn cho chúng tôi một miếng.
Suốt năm các ông đã khó nhọc giúp chúng tôi làm nên hạt lúa. Các ông làm
thật mà ăn giả, chẳng quản công lao, chúng tôi biết lấy gì đền đáp”. Và
mâm cỗ đầu năm cứ để trước chuồng trâu bò như thế cho đến chiều mới mang
sang chuồng lợn. Gia đình lợn không làm khách như ông Trâu ông Bò nên chỉ
một loáng là mâm cỗ đã được thanh toán gọn ghẽ, dù bà nội tôi không ngồi
đó để dỗ dành, mời mọc…..
Bên cạnh những ngọt
ngào không hề mất ấy là niềm đau đớn chẳng thể nguôi ngoai. Rõ ràng là một
tâm trạng mâu thuẫn, phức tạp, nhưng tôi chưa từng phân tách nó cho đến
sau 30 tháng tư năm 1975, người anh họ gửi sang cho tôi một tấm hình chụp
con đường đất ngoằn ngoèo với hai hàng trúc xiêu vẹo. Cuối con đường đất
đó là một bức tường gạch loang lổ. Mặt sau tấm hình anh tôi ghi: “Toàn bộ
dinh cơ của nội chỉ còn bức tường gạch này thôi. Em có nhận ra đây là cổng
trước, vào đền Đức Thánh Trần không?”.Tôi đã ngồi lặng, nhìn bức tường
trong hình, đau đớn như đang nhìn ông nội trong những phút cuối đời đầy
nhục nhã, uất ức. Chính bức hình này mới thực sự kéo tôi ra khỏi tâm trạng
mơ hồ để chấp nhận thực tế là quê nội tuy vẫn đó nhưng thật ra không còn
nữa, không còn gì nữa!
Qua những lần điện
đàm, anh họ tôi còn cho biết thêm, sau khi Cộng Sản bức tử ông nội, họ lập
tức đuổi anh ra khỏi nhà. Nơi trú ngụ của anh khi đó là căn chòi ngoài
trại, nơi khi xưa vẫn dùng để nông cụ. Vì anh còn nhỏ quá nên mỗi sáng,
anh được phép cán bộ cho bưng nồi về nhà cũ, chờ người Cộng Sản đang quản
lý nhà mình, phát cho lon gạo nhỏ lấy từ vựa thóc của nhà!!Lon gạo không
đủ no, anh tôi phải ra đồng mót khoai, mót sắn. Ngày đầu anh chỉ mót được
dăm củ khoai sùng bé bằng hai ngón tay. Nhưng hôm sau, khi anh ra đồng,
dân làng len lén nhìn anh. Anh nghe thấy có người thì thầm: “Tội nghiệp,
cháu cụ Tổng đấy”. Anh chẳng cần họ tội nghiệp, anh chỉ cần mót được dăm
củ khoai, vài cọng lúa để tối nay no lòng. Lạ chưa, những ngày sau đó anh
rất may mắn. Sao có những củ khoai to thế này, những nhánh lúa chĩu nặng
thế kia mà họ bỏ sót? Anh mừng rỡ nhặt vào rổ. Những hôm sau, rồi những
hôm sau nữa vẫn thế, anh mót dễ dàng được cả rổ khoai sắn. Những người
nông dân đi hái hoa mầu thường nhìn anh, kín đáo mỉm cười. Và anh đã hiểu.
Thì ra, không phải những nông dân kia bỏ sót hoa mầu mà họ đã cố tình chừa
lại chút đỉnh cho thằng bé tội nghiệp, cháu cụ Tổng, dù họ cũng nghèo đói.
Anh tôi đã bật khóc khi nhận ra như thế. Giữa những tang thương đổ nát,
vẫn còn một điều thấp thoáng nhưng không biến, không mất. Đó là Tình
Người.
Đêm qua, trăng mười
sáu vừa đưa tôi về quê cũ với những đêm trăng thơm phức khoai lùi, ngạt
ngào hương bưởi hương cau và say sưa cổ tích Tấm Cám. Tôi đã lạc lối
thiền, bèn nhắm mắt, tìm về hơi thở. Thở vào, tôi biết mình đang thở vào.
Thở ra, tôi biết mình đang thở ra. Tôi nắm bắt hơi thở và làm chủ nó. Thở
vào, bụng tôi nhè nhẹ thót vào. Thở ra, bụng tôi nhè nhẹ dãn ra. Tôi theo
dõi hơi thở và đặt chú tâm nơi bụng, cốt không cho ý luẩn quẩn trên đầu để
không suy nghĩ, không còn niệm phân biệt nữa. Cứ thế, trăng cùng với tôi,
thở nhịp nhàng, khoan thai. Trăng thở và tôi thở. Trăng là tôi và tôi là
trăng…..
Không biết bao lâu,
trong tĩnh lặng, dưới ánh trăng, quê nội lại hiện ra, cùng với tôi, với
trăng, tọa thiền êm ả, không còn oan cừu, không còn thù hận mà chỉ là bát
ngát trúc tím hoa vàng. Và bạn ơi, bạn biết không, tôi vừa bàng hoàng nhìn
thấy tôi ngay nơi trúc ấy, ngay nơi hoa kia.
Hóa ra, TÔI CHƯA
TỪNG MẤT GÌ, BỞI TÔI CHƯA HỀ THẬT CÓ.
Muốn kiểm chứng lời
tôi, bạn hãy ngồi xuống đi, khoanh chân và khép hờ đôi mắt. Khi cảm thấy
thoải mái, hãy theo dõi hơi thở, hãy nắm bắt hơi thở và làm chủ nó, bạn sẽ
nhận ra sự mầu nhiệm là, có bao giờ ta ngưng thở đâu (cho đến khi ta…. tắt
thở), vậy mà, rất ít khi ta nhận ra là ta đang thở. Ta thờ ơ, lãnh đạm với
hơi thở của ta quá, trong khi, nếu theo dõi nó, làm chủ nó, sẽ có lúc bạn
bất chợt mỉm cười mà không hay, vì đó chính là lúc:
Túy trúc hoàng hoa
phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt
hiện toàn chân.
25 tháng Hai 2005
(17 tháng Giêng năm Ất Dậu)
TẢO NGHIỆP
Sáng nay, khi tôi mở
máy, “lên lưới” thì trời bỗng lất phất mưa. Nhìn lịch thấy còn ba ngày nữa
là Mồng Một Tết khiến tôi chợt có ý nghĩ ngộ nghĩnh “Gớm, lịch sự quá,
trời đất Âu Mỹ cũng biết tặng chút mưa Xuân cho Tết Á Đông”. Niềm vui nhỏ
chưa kịp nở thành nụ cười thì trên lưới vừa hiện lên bản tin ngắn về một
người đàn ông Việt Nam có thể bị kết tội từ 74 năm tù đến chung thân vì
can tội hãm hiếp em vợ rồi bắn chết người bạn trai của cô ấy bằng 10 phát
đạn lạnh lùng! Người thiếu nữ trẻ vừa được bảo lãnh từ Việt Nam sang,
chung sống với gia đình chị ruột như là chặng cuối của một ước mơ huy
hoàng đã biến thành sự thật. Hạnh phúc này, tôi nghĩ, không phải chỉ riêng
của thiếu nữ đó mà có lẽ còn của cha mẹ, thân thưộc, bạn bè cô ở Việt Nam
khi chia xẻ vui mừng với cô; và hạnh phúc này, lớn không kém với người từ
Mỹ, bảo lãnh cô. Mọi diễn tiến đều hoàn toàn tốt đẹp từ mọi phía, trừ LÒNG
NGƯỜI là điều không một ai lường được. Lòng người ở đây là tấm lòng người
anh rể của cô, người cùng với chị ruột đã vì thương yêu mà lo toan cho cô.
Trong cuộc sống chung hàng ngày, người anh rể đã chuyển tình thương theo
nghĩa Phật dạy (ban vui cứu khổ) sang tình thương ích kỷ của nhân thế
(chiếm hữu) lúc nào, có lẽ chính anh ta cũng không hay! Khi dục vọng đã
tới mức mù quáng thì nghiệp ác sẽ dẫn dắt tạo nghiệp! Và nghiệp nặng hay
nhẹ là tùy theo mức độ si mê, mù quáng.
Sự việc của thảm
kịch trên khi xẩy ra chắc nhanh lắm! Mười phát đạn vuột khỏi nòng súng
trong cơn mê loạn, chắc không quá mười giây, nhưng hậu quả của nó có thể
mười đời, mười kiếp chưa rửa hết oán hờn vì hậu quả này chẳng phải chỉ
liên hệ tới một thế hệ, một gia đình! Kẻ làm tội, đền tội đã đành nhưng
còn người vô tội thì sao? Đây có phải là sự cộng nghiệp trong nhiều kiếp
trầm luân hay không? Làm sao để chặn niệm ác trước khi nó phát khởi? Làm
sao nhận diện được bước đi tinh quái nhưng rất thầm lặng của ác nghiệp,
trước khi nó bất thần vùng dậy như con hổ đói, chụp lấy ta mà cắn xé cho
đến thịt nát xương tan!
Đức Phật dạy phải
biết phản quang tự kỷ, biết nhìn chính mình, biết rõ sự mạnh yếu, xấu tốt
của mình, may ra mới có cách tránh nghiệp. Ta hãy nhìn ta cẩn trọng như
nhìn con đường đang đi trước mặt, có thấy hố sâu gai góc mới né được, chứ
chân bước trên đất mà mắt chỉ nhìn trời thì dù sa hố rồi cũng chưa hiểu
tại sao!
Thấy cõi ta-bà chập
chùng khổ đau và vô minh dầy đặc nên Đức Phật đã thị hiện thế gian với một
mục đích duy nhất là “Khai, Thị, Ngộ, Nhập, Phật tri kiến” nghĩa là chỉ
cho thế gian biết được, thấy được Phật tánh của mình và thể nhập làm một
với Phật tánh đó. Khi đã thấy được cái “Bất sanh bất diệt bất cấu bất tịnh
……” ta đâu còn khởi niệm tham sân si mà tạo nghiệp nữa.
Nhưng lời Phật dạy
đã từ gần 2600 năm mà thảm kịch cõi ta-bà vẫn kinh hoàng hơn địa ngục vậy?
Là vì, Phật từng nói “Con đường ta đã chỉ; đốt đuốc lên mà đi hay không là
nơi mỗi chúng sanh”.
Tới đây, chúng ta
phải can đảm tự nhận lỗi nơi mình. Lời Phật dạy không phải để đọc suông,
tụng suông. TU mà không HÀNH chỉ là Tu Rị (rị xuống!!!) Nhưng nhân thế vốn
huân tập thói quen dễ dãi với mình nên Tu đã khó, Hành lại càng khó hơn,
biết bắt đầu từ đâu, nương tựa nơi đâu để thấy đường ngay lẽ thật?
Đây chính là trách
nhiệm của những vị tự nhận, tự nguyện là Sứ Giả Như-Lai. Lời quý ngài dạy
không quan trọng bằng việc quý ngài làm, vì nếu quý ngài thể hiện được lời
Phật dạy bằng chính bản thân quý ngài thì ngay nơi đó, Phật tử đã có tấm
gương soi, hiển lộ, minh chứng rõ ràng rằng, khi đốt đuốc lên mà đi thì
con đường Trung Đạo lập tức ở ngay trước mắt. Con đường đó, qua hình ảnh,
qua nhân cách Từ Bi, Trí Tuệ của quý ngài, chính là sự khuyến khích mạnh
mẽ nhất để chúng sanh tin tưởng mà cất bước TU và HÀNH.
Có tu hành thì ma
Ba-Tuần khó còn cơ hội tác hại nên những thảm kịch kinh hoàng như bản tin
trên!
Trong khi chờ lửa
bén ngọn đuốc, ta hãy tạm cầm chổi “Tảo nghiệp”, học bài học tương đối dễ
mà Đức Phật chỉ cho ngài Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già khi xưa, là chỉ cần tảo
nghiệp, quét, quét và quét….Chỉ cần cứ chăm chỉ quét thôi, quét rác quét
bụi thì tâm sạch, quét nghiệp thì tâm tịnh, quét vô minh thì trí tuệ hiển
bầy. Ngài Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già may mắn gặp Đức Phật nên cây chổi quét bụi
đã thành cây gươm Bát Nhã; chúng ta cũng có thể may mắn gặp được
Sứ-Giả-Như-Lai chân chính, thì chổi tuy chẳng thành gươm, ít nhất, đời vô
thường này cũng đỡ bụi. Chỉ cần một chút cẩn trọng, tự nhắc rằng “TU dễ
hơn HÀNH”.
Vì thế, trên
đường đi tìm minh-sư, ta hãy cố NHÌN, trước khi NGHE.
Tháng Hai
2005
VÔ TỰ THỊ
CHÂN KINH
Thi hào Nguyễn Du là
một Phật tử mộ đạo, rất siêng năng tụng đọc kinh điển, nhưng cụ đã từng
thú nhận là đọc kinh Kim Cương cả ngàn lần mà vẫn không nắm bắt được ý
kinh; cho tới khi được nghe bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng cụ mới liễu ngộ
rằng “Chân kinh vốn không lời”. Cụ đã viết bốn câu thơ bằng chữ Hán để
diễn tả tâm trạng của mình:
Ngã độc Kim Cương
thiên biến linh
Kỳ trung áo nghĩa đa
bất minh
Cập đáo phần kinh
Thạch đài hạ
Chung tri: vô tự thị
chân kinh
Chữ Hán, tôi lõm bõm
chưa qua nổi cuốn Tam Tự Kinh, nhưng ráng phỏng dịch như sau:
Ngàn lần tụng đọc
Kim Cương
Vẫn như mờ ảo khói
sương tơ trời
Trước đài gương,
bỗng tỏ ngời
Là: Chân kinh vốn
không lời mà thôi!
Người bạn đạo của
tôi tỏ ý nghi ngờ. Bạn nói, tối nào cũng tụng kinh, tụng rõ ràng, mạch lạc
từng tiếng mà nhiều khi còn phải đi tìm sách của các bậc cao minh, giảng
giải cho thêm mới tạm hiểu. Nay, nói chân kinh vốn không lời thì biết
nương vào đâu mà hiểu đạo? Tôi cũng ….nghi lắm! nhưng vừa khởi niệm nghi
bỗng giật mình. Khi nghe điều gì, ta phải tìm hiểu điều đó thế nào rồi mới
luận đúng hay sai chứ. Ngay cả sau khi tìm hiểu rồi, cái kết luận cũng chỉ
mới căn cứ trên tầm hiểu biết chủ quan thôi, chưa chắc đã là cái kết luận
có giá trị. Chúng tôi cùng đồng ý chọn con đường ngắn nhất, là tìm xem cụ
Nguyễn Du nghe được bài kệ nào của Lục Tổ Huệ Năng mà tìm ra chân lý ấy.
Kệ của Lục Tổ như vầy:
Nhân liễu thử tâm
nhân tự độ
Linh sơn chỉ tại nhữ
tâm đầu
Minh kính diệc phi
đài
Bồ đề bổn vô thụ.
Tìm được bài kệ, đọc
lên, bạn nhìn tôi, chờ đợi. Tôi lại vò đầu bứt tai, tận dụng cái vốn ….
Tam Tự Kinh mà dịch như sau:
Người tự tại khi tâm
sáng tỏ
Thì Linh Sơn ngay ở
tâm này
Gương kia sáng chẳng
vì đài
Bồ Đề vốn chẳng là
cây bao giờ.
Có lẽ tôi dịch lơ mơ
quá nên bạn phản đối ngay:
- Bồ Đề mà không là
cây thì là gì?
A, câu này thì tôi
trả lời được, tại bạn chưa ôn bài đó thôi. Khi Lục Tổ nói “Bồ đề bổn vô
thụ” là ý nhắc về bản chất huyễn hóa của vạn hữu, chỉ do duyên hợp mà
thành. Nhìn cây Bồ đề xanh tươi cành lá, đó là sau khi hạt đã nẩy mầm,
chồi lên mặt đất, tiếp nhận mưa, nắng, gió v…v… tăng trưởng với thời gian
mà ta thấy “cái gọi là cây Bồ đề.” Nhưng nếu tách rời hạt nhỏ li ti kia
với đất, cát, mưa, nắng …..sẽ chẳng bao giờ có cái gọi là cây Bồ đề cả.
Vậy thì, bản chất chân thực của mỗi sự vật là gì? Nó sẽ chẳng là gì, nếu
không do nhiều duyên hợp mà thành. Ngay như tấm thân tứ đại của chúng ta
đây, cái mà, đối với chúng ta là quan trọng lắm lắm, cũng chỉ là huyễn
giả. Thân ta có, là do đất, nước, gió, lửa hợp lại mà thành. Tách rời đất
(chất cứng như xương, móng….), nước (chất lỏng như máu, mồ hôi …..), gió
(chất hơi như hơi thở), lửa (chất nóng như nhiệt độ), sẽ chẳng còn gì để
gọi là thân ta nữa. Bạn lại hỏi tôi một câu thật bất ngờ, nhưng rất hay:
- Cái gì nhận ra sự
huyễn giả đó?
Câu hỏi quyện vào
tiếng reo vui của ấm nước vừa sôi. Tôi lặng lẽ nhìn bạn trịnh trọng mở tủ,
bưng ra bộ tách có đủ cả chén tống, chén quân. Tôi biết bạn có bộ tách quý
này do cụ thân sinh để lại, nhưng chưa từng được bạn mang ra đãi. Hôm nay
sao đặc biệt thế? Dù cố tình làm ra vẻ thản nhiên nhưng bạn biết, tôi đang
theo dõi bạn từng cử chỉ. Mở hộp trà thơm, nhón một dúm trà nhỏ bỏ vào
chén tống. Nước sôi rót vào vừa ngập trà, bạn cầm lên, tráng nhẹ rồi đổ bỏ
nước nhất. Lần rót nước nhì, bạn cũng cầm lên, tráng nhẹ rồi đặt tách
xuống khay. Trong khi chờ trà ngấm, bạn dùng nước nóng tráng hai cái chén
quân; xong, bạn đặt một chén trước tôi, chén kia trước bạn. Rồi, rất từ
tốn, bạn chắt nước đã ngấm trà từ chén tống ra chén quân, tức là cái chén
nhỏ như hạt mít!
Tôi cố nín cười,
nhưng tới đây thì hết chịu nổi. Ngờ đâu, bạn cũng giả nghiêm suốt thời
gian biểu diễn. Chúng tôi cùng cười thoải mái. Bạn thú nhận:
- Chỉ loáng thoáng
thấy bố lui cui pha trà như vầy nhưng không thực sự chú ý; Thôi, thì cứ
tưởng tượng như chúng ta đang ngồi trong trà thất, uống trà, chờ hoa nở.
Tôi chỉ vào cái chén
nhỏ xíu:
- Uống bao nhiêu
chén này mới đã khát?
Bạn trả lời đầy ý
nhị:
- Tâm khát chừng
nào, chén đầy chừng nấy.
Hôm nay bạn nói
chuyện như một thi sĩ. Đúng là muôn sự do tâm, nhưng tâm khởi lên từ mọi
loại cảm thọ buồn, vui, thương, ghét, thiện, ác ..v..v.. dựa trên những
đối tượng luôn biến hoại đổi thay của căn và trần, là những đối tượng
không có bản chất thật. Vậy tâm nào mới chính là tâm? Những tâm ấy thay
đổi luôn luôn, theo từng trạng huống. Và nếu chúng không phải thực là tâm
thì CÁI GÌ đang nhận ra những diễn biến luân lưu thành hoại đó? CÁI GÌ
nhìn rõ mặt mũi từ tâm buồn sang tâm vui, từ tâm thương sang tâm ghét, từ
tâm thiện sang tâm ác??? “Cái gì đó” chính là CÁI NHẬN BIẾT MỌI HIỆN TƯỢNG
MÀ KHÔNG QUA MỘT LĂNG KÍNH PHÂN BIỆT NÀO. Cái nhận biết này, bởi không từ
một niệm nào mà ra nên nó không sinh cũng chẳng diệt theo hiện tượng. Nó
như tấm gương trong suốt, phản ảnh trung thực những gì tới nó, trung thực
tới mức như hai mà một, nhưng lại không hề bị đồng hóa với vật mà nó phản
ảnh. Khi ghi nhận điều tốt, nó chẳng trở nên tốt, khi đối diện điều xấu,
nó cũng chẳng trở thành xấu. Nó hiện hữu tự nhiên như giòng nước ngầm, ai
đào tới sẽ gặp; không người đào, nước vẫn chảy, như chưa từng đầu ghềnh,
chưa từng cuối bãi. Cái nhận biết này là Tâm Chân Thật thường hằng vô thỉ
vô chung; đó chính là Tâm Phật, là Phật Tánh. Khai được nguồn tâm này là
hiển lộ Chân Như, là giải thoát khỏi ràng buộc vô minh, là bừng sáng Trí
Tuệ; khi ấy, thiền tông diễn tả bằng hình ảnh “Thõng tay vào chợ”; nghĩa
là, ngay giữa chốn xôn xao nhất cũng chẳng làm tâm kia lay động. Đạt được
tới đây, hành giả đã là “người vô sự”, an nhiên tự tại, đối cảnh chẳng
sanh tâm thì ngàn trang kinh cũng đồng với tâm trong suốt, làm gì còn văn
tự, còn lý giải ngược xuôi nữa.
Chặng đường tu tập
này, người đủ căn cơ, trí tuệ, nếu quyết tâm có thể ngộ. Ngược lại, người
trí kém, cần rất nhiều kiên trì, cố gắng, mới mong tâm kia không bị chôn
vùi dưới lớp vô minh. Hàng Phật tử sơ cơ như chúng tôi biết thế, nên hằng
nhắc nhở, sách tấn nhau chớ biếng lười.
Những chén trà hạt
mít thong thả vơi dần qua câu chuyện “Đế Thích tán hoa” thường được kể để
minh chứng “Vô tự thị chân kinh”; mà muốn liễu ngộ “chân kinh vốn không
lời” hành giả phải đạt tới bản tâm chân thật. Ngài Tu Bồ Đề là một, trong
những đại đệ tử của Phật, một hôm lặng lẽ ngồi thiền dưới chân núi. Mây
rất xanh, nắng rất ấm, suối róc rách ven đồi, chim líu lo ca hát, ngài cứ
an tịnh kiết già. Dáng ngồi thật thẳng trên phiến đá bằng, như nét chấm
phá của bức tranh “Tung Hoành” tuyệt kỷ. Ngài ngồi lâu, rất lâu, không
biết bao lâu, thì bỗng hoa trời rơi xuống như mưa. Phút chốc, cả không
gian thơm ngát hương hoa như ôm trọn nhà sư khắc khổ, ngồi thiền đẹp như
tranh vẽ. Ngài Tu Bồ Đề xả thiền và khẽ hỏi:
- Ai tán hoa đó?
Trên thinh không có
tiếng đáp:
- Tôi là Đế Thích
đây.
- Vì lẽ gì Đế Thích
tán hoa?
- Vì ngài thuyết
pháp hay quá!
- Ta ngồi lặng yên,
có thuyết gì đâu?
- Ngài không thuyết,
tôi không nghe, đó là pháp vi diệu.
Thì ra, biết nghe
bằng “Tánh-Nghe”, mới nghe được “Lời-Không-Lời”, và thể hiện được
Sự-Im-Lặng-Hùng-Tráng của Chân Kinh.
Tháng Ba 2005
NẮNG
TRÊN SÔNG NERANJARA
Buổi sáng hôm đó,
nắng vàng rất đẹp, mây xanh trong vắt và những bông hoa lựu đỏ thắm, nở
rực rỡ trên con đường dẫn ra bờ sông Neranjara. Trong không gian ấm áp đó,
một vị sa-môn như đang cố gắng tiến về bến sông. Nhìn thân hình quá gầy
ốm, tiều tụy của ông, ai cũng có thể biết rằng ông là một nhà tu khổ hạnh
như rất nhiều nhà tu khổ hạnh khác, dùng hình thức ép xác để mong tìm sự
giải thoát cho tâm linh. Vị sa-môn này đã quá yếu, bước chân khẳng khiu
nghiêng ngả như không mang nổi tấm thân chỉ còn da bọc xương. Nhưng bước
đi xiêu vẹo của ông rõ ràng là có chủ đích. Đúng thế, sa-môn muốn xuống
tắm gội dưới sông Neranjara, một việc mà lâu nay ông đã chẳng bận tâm làm!
Nhưng trong buổi sáng nắng vàng này thì khác vì ông vừa nhận ra rằng thân
và tâm chẳng thể rời nhau, trái lại, thân có khỏe thì tâm mới sáng, tâm có
sáng mới quán chiếu sự vật tinh thông. Và ông có một quyết định quan trọng
là xả bỏ lối tu khổ hạnh để chuyên tâm thiền định lắng sâu hơn. Ông sẽ
xuống sông tắm gội rồi sau đó, sẽ ôm bát vào làng xóm khất thực. Quyết
định này ông chưa kịp nói cho năm người bạn đồng tu biết nhưng ông tự nhủ,
rồi sẽ tìm họ sau, cũng không muộn.
Khó nhọc lắm, rồi vị
sa-môn cũng lần được tới ven sông.
Neranjara là con
sông chảy qua ngôi làng nhỏ Uruvela gần thị trấn Gaya hướng đông nam Ấn
Độ. Bên kia sông là làng mạc, đồng cỏ, ruộng lúa. Bên này sông thì chỉ có
rừng cây, đặc biệt là những cây pippala tuổi thọ hàng mấy trăm năm, đã
khoác lên khu rừng một vẻ đẹp vừa hùng tráng, vững chãi vừa dịu dàng êm
mát. Khi chảy ngang qua đây, sông có những khúc rất cạn, trẻ mục đồng có
thể lùa trâu qua rừng khi trâu đã ăn cỏ no nê ở bờ bên kia để khỏi phải
canh chừng trâu dẫm đạp lên ruộng lúa. Nhưng cũng có nhiều khúc khá sâu,
nước trong và mát, khách bộ hành đường xa mỏi mệt có thể xuống tắm một lát
là lại khỏe khoắn đi tiếp. Neranjara, tự thân chỉ có thế, chỉ như muôn
ngàn con sông khác, nhưng nhân gian đã đội vương miện lên cho nó vì chính
nơi khúc sông này, một người trí tuệ vô song - vượt lên trên muôn triệu
người - đã từng xuống tắm. Rồi khu rừng nữa, nó cũng chỉ như bao khu rừng
khác nhưng nhân gian đã tô phết hào quang lên nó chỉ vì dưới bóng đại thụ
đã có một người trí tuệ vô song - vượt lên trên muôn triệu người - đã từng
ngồi thiền định. Giòng sông đó, khu rừng đó và vị sa-môn quyết không rời
gốc đại thụ nếu không tìm ra đường giải thoát, nay, đã trở thành những
biểu tượng tột cùng thiêng liêng, tột cùng tôn quý đối với thế nhân. Nhưng
tự thể, giòng sông Neranjara không hề khác gì hơn sau khi được đội vương
miện. Khu rừng pippala cũng thế, vẫn thản nhiên bốn mùa mưa nắng dù được
sơn phết hào quang; nhưng mấy ai nhận ra rằng những vương miện tưởng là
rực rỡ đó, những hào quang tưởng là sáng chói đó chẳng có một chút giá trị
nào đối với sông kia, rừng nọ mà Cái giá trị vô giá là ở những phương thức
giải thoát, người đạt đạo đã tìm ra và nó chỉ vô giá với ai nhận biết rồi
thực hành. Biết mà không hành thì nó vẫn chỉ là vô giá trị. Theo dõi bước
chân người đạt đạo để thấy rằng, trước khi ánh sao mai kỳ diệu hiện lên ở
canh ba, soi tỏ lẽ vô thường vô ngã; trước khi nắm được chìa khóa của tên
cai ngục phiền não vô minh, người ấy cũng như bao nhiêu sa-môn, đạo-sỹ
khác, lang thang đó đây khổ công tìm đạo, vấp váp sai lầm…. Chỉ khác, cái
dũng của người trí tuệ là không chùn bước trước gian khổ, hiểm nguy thử
thách. Người đó chỉ nhìn thẳng vào mục đích đã vạch ra. Mục đích đó là tự
độ rồi độ tha. Đường đi của những người chỉ sống vì lợi ích chúng sanh
không bao giờ là những con đường bằng phẳng, dễ đi. Nghe có vẻ nghịch lý
nhưng chỉ suy nghĩ một chút thôi nó sẽ rất dễ hiểu vì tâm thế gian vốn hẹp
hòi, ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ, tham sân……Làm sao những cái tâm ấy dễ dàng
để cho những người tốt lành, nhân ái, trong sạch hơn họ làm những điều họ
không làm được?
Dù là Phật tử hay
không, chúng ta cũng đã ít nhiều biết về con người trí tuệ vô song từng
xuống tắm trên giòng sông Neranjara, từng ngồi thiền trong rừng cây
pippala gần 2600 năm trước. Người đó đã tìm ra Đạo Cả, người đó được môn
đồ tứ chúng gọi ngài là Phật. Phật là giác ngộ, Đạo Phật là đạo giác ngộ.
Dù đã tìm ra chân lý, dù đã miệt mài đi khắp đó đây giáo hóa cho chúng
sanh cùng khổ, dù đời sống ngài chỉ vì lợi người nhưng suốt 49 năm hoằng
pháp ngài thường xuyên gặp kẻ chống báng, vu cáo, bôi lọ, ganh ghét, tỵ
hiềm…..Với tất cả bao chuỗi ác nghiệp trùng trùng bất tận đó Đức Thích Ca
Mâu Ni vẫn bình tâm hoằng pháp và chỉ dùng hai thứ khí giới là Từ Bi và
Trí Tuệ để chuyển nghiệp cho kẻ tạo nghiệp. Và sự thật vẫn là sự thật.
Trong màn đêm vô minh, sự thật là đuốc. Người biết nương đuốc mà đi sẽ tới
nơi muốn tới. Chỉ những kẻ tự bịt mắt mình mới không thấy đuốc mà thôi.
Hãy như Sujata,
Svastika, Rupak, Bala….. những đứa trẻ hồn nhiên hiền hòa trong thôn
Uruvela, chúng cúng dường sa-môn Gotama cũng như khi đảnh lễ Phật Thích Ca
chỉ cùng một tâm trong suốt.
Hãy như ngũ huynh đệ
Kondanna, tuy bất đồng vì không hiểu rõ nguyên do sa-môn Gotama chuyển
phương pháp tu tập, nhưng khi biết ra liền xả bỏ tự ngã để hài hòa.
Hãy như voi
Nalagiri, nhận ra tiếng hú voi chúa qua âm thanh của Phật là lập tức ngưng
ngay sự ác độc hung hãn mà nó được lệnh phải thi hành.
Hãy đừng như Đại Đức
Devadatta, ném đá toan sát hại Phật chỉ vì lòng ganh tỵ
Hãy đừng như các
giáo phái chống đối Phật thời Phật còn tại thế, chỉ vì tự ái ghét ghen.
Hay, cho đến rốt
ráo, tâm thế gian nếu chẳng thể nhu hòa từ ái thì xin hãy được như giòng
sông Neranjara, sang không mừng, hèn không tủi vì nó hiểu rằng sang hèn
chỉ là thước đo của nhân gian vọng động. Neranjara chỉ đích thực là giòng
sông khi nó lặng thinh mà trong suốt, thực chứng tâm đạo, ý đời, một nguồn
xuôi chảy, dù gần 2600 năm trước, vị sa-môn ngồi thiền trong cánh rừng bên
kia sông có từng xuống tắm hay không.
Hãy như con nước
chảy
Vương bước chân
người qua
Nước xuôi giòng ra
biển
Tâm người sẽ thăng
hoa.
MƯA NÚI
Người bạn đạo rủ tôi
lên chùa trên núi nghe pháp vì có người cho quá giang. Thật là duyên lành
vì đấy là ngôi chùa tôi mong một lần được viếng mà chưa có phương tiện.
Buổi chiều trước
ngày đi, tin khí tượng báo, đêm sẽ mưa và hôm sau còn mưa nữa! Bạn tôi
gọi, và lo lắng:
- Mưa, làm sao mà
lên núi?
- Thế người cho quá
giang có đi không?
- Chưa nghe họ nói
gì cả.
- Vậy mình cứ coi
như trời không mưa, sáng mai mình cứ đến điểm hẹn.
Điểm hẹn chính là tư
gia của người sẽ cho chúng tôi quá giang. Tin khí tượng lâu lâu đoán sai
nhưng lần này họ lại đoán đúng quá! Đêm qua tôi nằm thao thức nghe mưa rạt
rào bên khung cửa, nghĩ đến bầy chim sẻ đông đảo làm tổ trên cây thông rậm
rạp tàn lá, lối cửa vào nhà bếp. Bản năng sinh tồn thật là kỳ diệu, sau
những cơn giông bão tả tơi của đất trời, tưởng như những sinh vật nhỏ bé
không còn cơ sống sót, vậy mà, chỉ một tia nắng ban mai yếu ớt thôi là
chúng lại reo vui cùng vạn hữu. Tôi biết chúng sẽ qua được đêm mưa này để
ngày mai lại chịu cơn mưa khác. Sự khổ đau của con người cũng như vậy
chăng? Có những nỗi đau ta tưởng không chịu nổi nhưng rồi nỗi đau đó vẫn
qua, ta vẫn còn đó để sẵn sàng chịu bao nỗi đau khác tới!
Sáng sớm hôm sau,
hai đứa tôi lội mưa tới điểm hẹn. Chủ nhà đã sẵn sàng, và chúng tôi cùng
lên đường trên chiếc xe Van của họ do con trai họ lái. Ở thời buổi này,
hai người thanh niên trẻ trung, năng động, dành ngày cuối tuần đưa bố mẹ
đi chùa là điều khá hiếm. Hiếm hơn nữa, câu chuyện trên xe họ nói với nhau
chỉ là những sinh hoạt trên chùa, thỉnh thoảng nhắc đến tên những vị tăng
ni mà họ quý mến mà không hề có tiếng thị phi qua lại.
Mưa nhẹ hơn khi xe
rẽ vào đường núi. Phút chốc, cảnh ồn ào phố thị đã khuất sau lưng. Núi
rừng hùng vĩ bao la ngạo nghễ trong màn mưa trắng đục. Xe chạy qua rừng
thông, qua rừng sồi, qua những vách đá cheo leo mà vững chãi, niềm vui
trong lòng tôi, theo với mưa mà chan hòa trời đất……
Mưa lại nhẹ hạt hơn,
chỉ còn như những làn bụi mỏng khi xe ngừng trước thiền đường khang trang
trên một ngọn đồi. Đó đây, những bóng áo nâu, áo lam thấp thoáng như những
nét chấm phá tuyệt vời trên bức tranh thủy mạc linh động. Không có tiếng
cười nói ồn ào, không có những bước chân khua động vội vã, không có những
gương mặt nhăn nhó, ưu tư…..chỉ thấy những nụ cười nhẹ nhàng, những cái
chắp tay chào nhau thầm lặng mà đầy thân ái, những bước chân khoan thai mà
đầy an lạc, thảnh thơi. Không ai bảo ai, họ thư thái, nhu hòa, thể hiện
chân-như bát ngát.
Hai chúng tôi hòa
nhập vào đạo tràng đó và dù cố gắng thế nào vẫn lộ rõ sự lúng túng, lăng
xăng. Rồi giờ thực hành nghi lễ bắt đầu. Tuy không thấy vị Thầy chủ lễ
nhưng trên những hàng tọa cụ đối diện nhau, chúng tôi thấy quý Sư chú, Sư
cô đông đến hơn ba mươi người. Các vị ngồi xuống, rất nhẹ nhàng, và gương
mặt đều toát ra tràn đầy vẻ từ ái. Chính tư thái đoan nghiêm của các vị tu
sĩ đã truyền năng lượng trực tiếp đến tất cả Phật tử hiện diện và mọi
người đều đồng nhất ngồi xuống như thế, thanh thản như thế và nhu hòa như
thế. Không khí này tôi chưa từng được thấy ở bất cứ ngôi chùa nào, tu viện
nào mà tôi đã viếng thăm. Và lòng tôi rung động khi nghĩ tới hai câu thơ
của thầy Tuệ Không Phạm Thiên Thư: “Làm trang nghiêm cõi Phật. Tức trang
nghiêm cõi người”. Tâm náo động mà đi tìm cõi Phật trang nghiêm thì có
khác gì nàng Diễn Nhã Đạt Đa trong Kinh Lăng Nghiêm, cứ lắc đầu mà khóc
rằng “ Đầu tôi đâu? Tôi đã mất đầu!!!”
Khi đại chúng đều an
tọa, vị duy-na điểm nhẹ ba tiếng chuông rồi cất giọng, xướng bài kệ Dâng
Hương. Mọi người lặng yên quán tưởng. Bên ngoài, trời lại bắt đầu mưa.
Xung quanh thiền đường toàn là cửa kính nên có thể thấy rất rõ từng cái
oằn mình của nhánh thông non, từng chiếc lá sồi lượn lờ trong màn mưa
trong vắt, nghe được từng tiếng gió rít qua hàng tiêu lả ngọn, và, ở một
phút nào, có phải là mưa đang cùng tụng Bát Nhã? Ôi, kỳ diệu thay! mưa
đang hòa âm thanh trầm bổng với tăng chúng
“…Sắc chẳng khác gì
không
Không chẳng khác gì
sắc
Sắc chính thực là
không
Không chính thực là
sắc
Còn lại bốn uẩn kia
Cũng đều như vậy
cả….
……………………..
Gate
Gate
Paragate
Parasamgate