Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thơ Văn Phật Giáo


...... ... .

 

 

 

 

TỈNH MỘNG ĐỜI

 

Thích Tâm Châu

 

 

Nhìn ra trăng nước vơi đầy,

Nhìn đời một giấc mộng dài ngắn thôi!

Đáy lòng vằng vặc gương soi,

Thăng hoa nhân quả đón người thăng hoa!

Thích Tâm Châu.

 

Mục Lục

1) Tỉnh Mộng Đời

2) Bóng Hoa Đàm

3) Mong Thanh Bình

4) Xuân Tới Mừng Xuân

5) Động Tâm

6) Hồng Hiên Tự Cảnh

7) Quyết Tâm

8) Làm Duyên Cho Đời

9) Tất Cả Là Xuân

10) Trại Cũ Hồng Hiên

11) Mộng Tuổi Xanh

12) Từ Quang Cảnh Trí

13) Quán Như Như

14) Từ Quang Tự Sự

15) Tới Châu Úc

16) Kim Cương Ảnh Hiện

17) Chiều Về Biển Nice

18) Hiếu Hạnh

19) Hồng Hiên Tự Sự

20) Nhìn Thế Sự

21) Quán Hư Không

22) Không Quên Chính Niệm

23) Tất Cả Là Xuân

24) Chúc Mừng

25) Cửu Tuần Khánh Thọ

26) Mừng Sinh Nhật

27) Thơ Chúc Thọ Hòa Thượng

28) Nhờ Ơn Đức Phật

29) Mừng Ngày Rước Phật

30) Chúc Mừng

31) Vô Đề

32) Bước Thung Dung

33) Phong Quan Kệ

34) Di Quan Kệ

35) Phất Trần Kệ

36) Xả Tang Kệ

37) Ngũ Tuần Khánh Hỷ

38) Vinh Nhậm Trụ Trì

39) Khuông Việt Tự Cảm Tác

40) Cơ Duyên Huyền Diệu

41) Quảng Hương Tự Tự Cảm

42) Vẫn Trông Về

43) Vạn Hạnh Tự Cảm Tác

44) Có Nhớ Không

45) Phật Quang Tự Cảm Tác

46) Có Chi Bàn

47) Vài Nét Tinh Thần

48) Tìm Về Chốn Xưa

49) Khuông Việt Hạ Trường Cảm Niệm

50) Na Uy Pháp Vũ Tự Cảm Niệm

51) Ta Với Ta

52) Hăm Tám Năm Qua

53) Giấc Ngủ Trên Không

54) Không Lưu Cảm Vận

55) Thời Vận Hàng Không

56) Hóa Giải Mâu Thun

57) Phật Sự Greenville

58) Liên Hoa Charlotte

59) Vọng Tưởng Âm Ba

60) Lòng Hoa

61) Trăng Nước Nguồn Tâm

62) Giấc Mộng Hoa Vàng

63) Bâng Khuâng

64) An Nguy Điện Khí

65) Đạo Tràng Phúc An

66) Tâm Niệm Nam Quang

67) Quán Thế Âm Thiền Tự

68) Phong Thái Đức Viên

69) Bài Thơ Vô Đề

70) Tùy Hỷ Lễ Khánh Thành Tu Viện Quảng Đức

71) Hiếu Đứng Đầu

72) Tinh Thần La Hán

73) Một Tâm Ba Việc Cho Đời

74) Niệm Tưởng Đại Đức Chân Hỷ

75) Đêm Nhớ Vắng Nhà

76) Trên Lầu Phù Dung Tiễn Chân Tân Tiệm

77) Quá Trình Đinh Dương

78) Hẻm Ô Y

79 Bóng Xưa Như Tại

80) Vào Dòng Tỉnh Thức

81) Thời Gian Trôi Qua

 

Thi tập TỈNH MỘNG ĐỜI

ấn hành ngày Rằm tháng Tư năm Giáp Thân, tức ngày 02 tháng 6 năm 2004.

 

TIỂU SỬ

Hòa Thượng Thích Tâm Châu sinh trong nhà họ Đòan năm 1921 tại Ninh Bình, Bắc phần, Việt Nam. Ngài nhập đạo năm 11 tuổi. Qua những năm tháng tu học, lên các giới phẩm: Sa Di, Tỳ Khưu, Bồ Tát, Ngài đã đảm đương nhiều chức vụ trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và thế giới như: Thành viên sáng lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Huế năm 1951. Ủy viên Nghi Lễ, Hội Đồng Trị Sự Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam năm 1951. Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc Việt Nam năm 1952. Chủ Tịch Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại Miền Nam năm 1955. Phó Chủ Tịch Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam năm 1956. Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo Chống phim Sakya, đầu năm 1963. Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo tháng 5 năm 1963. Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1964. Sáng lập viên kiêm Phó Chủ Tịch Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Thế Giới năm 1964. Chủ Tịch Hội Phật Giáo Phụng Sự Xã Hội Thế Giới năm 1969. Chủ Tịch Hội Phật Giáo Liên Hiệp Thế Giới năm 1970  (tại Hán Thành, Nam Cao Ly). Thượng Thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Quốc Tế (1979-1984). Thượng Thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới từ năm 1984. Đệ nhất thành viên Hội Đồng Trưởng Lão Giáo Hội Phật Tăng Già Thế Giới từ năm 1989. Ngài đã trước tác và soạn dịch một số văn, thơ, kinh, luận, như: Đường Vào Cửa Phật (1952), Đạo Phật Với Con Người (1953), Bước Đầu Học Phật (1958), Phật Học Chính Cương, Phát Bồ Đề Tâm, Kinh Đại Niết Bàn, Kinh Tâm Địa Quán, Thiền Lâm Bao Huấn, Nét Tinh Thần, Tịnh Minh Thi Cảo, Nhân Duyên Tâm Luận, Bồ Đề Tâm Ly Tướng Luận, Du Già Sư Địa Luận Thích, Cánh Hoa Tâm v.v... Ngài tận tâm phục vụ trong tinh thần Quốc gia, Dân tộc, Đạo pháp và Xã hội.

Đệ tử tại gia Bồ Tát giới Giác Viên kính lược ghi.

 

 

TỈNH MỘNG ĐỜI ^

Cảm niệm đĩa CD “Tu Là Sửa Đổi” của TN Chân Thiền.

Trời ảm đạm, ánh dương soi quang đãng,

Nước vấn ngầu, thiên vũ lắng trong thanh.

Cây xum xuê, tay khéo dệt nên tranh,

Đá ngang ngửa, xếp, xây thành non bộ.

Chưa bậc Thánh, người ai không lầm lỡ,

Ai là không bỡ ngỡ, nếm hương đời.

Mắt lung linh, hoa lá ngã tơi bời,

Giọng quyến rủ, can tràng thêm đòi đoạn.

Có quyền thế, lớp lớp người lai vãng,

Đầy đô la, oanh én liệng quanh nhà.

Trong thị trường, buông thả mặc xa hoa,

Nơi hí viện, đắm say tràn khoái lạc.

Giờ nào đó, vô thường, thành tan tác,

Hoa rã cành, cánh hạc vút bay xa.

Bóng biển khơi, dòng lệ chảy vơi đầy,

Đời là mộng. Chỉ còn đường tu tiến!

Đường tu tiến, vững đi trên chính kiến,

Sửa sạch trong thân, miệng, ý nơi ta.

Một lòng nương theo dấu cũ Phật Đà,

Tròn phúc tuệ, hiện trăng tròn đại giác.

Tâm tạo tác nên những điều thiện ác,

Tâm trong lành, thiện ác cũng xuôi theo.

Hiểu vô thưòng, vô ngã, khổ bao nhiêu,

Niệm thiện khởi, thân tâm hoàn an lạc.

Từ Quang, ngày 08.02.2002

Thích Tâm Châu

 

 

BÓNG HOA ĐÀM ^

Bao năm khói lửa ngút ngàn khơi,

Một bóng hoa đàm mát dịu nguời.

Vượt thoát hiểm nguy tâm tịnh lạc,

Vườn đời muôn sắc vẫn xanh tươi.

Mùa Phật Đản, PL. 2547 (2003)

 

 

VỌNG THANH BÌNH ^

Giáp Thân xuân đáo vọng thanh bình,

Hoa thảo phương tiên vạn tượng minh.

Chinh chiến trường hưu nhân hảo hợp,

Chư phương hạnh phúc lạc an ninh.

 

MONG THANH BÌNH

Xuân Giáp Thân sang, đón thái bình,

Cỏ hoa thơm tốt mọi loài xinh.

Chiến tranh ngừng hẳn, người giao hảo,

Hạnh phúc, an ninh khắp thị thành.

Xuân Giáp Thân (2004)

 

 

XUÂN TỚI MỪNG XUÂN ^

 

Xuân tới mừng xuân, xuân cả kinh.

Như trầm hương ngát tỏa quanh mình.

Như vầng sao sáng không trung đậy,

Như mộng ngàn thu hiến hiện hình.

Như gió muôn phương tụ hội về,

Như làn hơi thở động sơn khê.

Như hồn sông núi vui tràn ngập,

Như nước cam lồ tỉnh mộng mê.

Như đất tròn xoay, vũ trụ an,

Như tùng xanh đứng vượt nghiêm hàn.

Như lòng muôn vật xuân trường tại,

Như thấm hương xuân vạn cảnh nhàn.

Xuân Quí Mùi (2003)

 

ĐỘNG TÂM ^

 

Tâm mục dao huy thiên địa cuồng,

Kinh văn triết nhượt Việt biên cương.

Tiên nhân huyết hãn kinh niên tại,

Mãi quốc cầu vinh Cộng phỉ chương.

 

ĐỘNG TÂM

Trời đất quay cuồng dạ quặn đau!

Nghe tin cắt đất nhượng cho Tàu!

Bao đời xương máu công người trước,

Bán nước cầu vinh, Cộng cúi đầu!

Ngày Đông: 27.12.2001

 

 

HỒNG HIÊN TỰ CẢNH ^

Hồng Hiên tới dễ, khó về,

Nhớ nhà, nhìn cảnh, hồn quê nhẹ nhàng.

Mái chùa cổ kính hiên ngang,

Ngựa voi rồng cá hàng hàng tiếp nghinh.

Lững lờ mây trắng trời xanh,

Biển khơi thả gió an lành thông reo.

Dập dìu du khách ra vào,

Não phiền tan biến, ồn ào lắng im.

Ngước nhìn Bồ Tát Quan Âm,

Nét từ bi hiện dõi tìm kêu than.

Di Đà tiếp dẫn nghiêm trang,

Giơ tay tế độ muôn vàn sinh linh.

Tạng Vương dung mạo an bình,

Minh châu, tích trượng dấn mình độ vong ...

Văn Thù tỏa trí tuệ thông,

Biến tan ngu muội về dòng giác viên.

Uy nghi, Bồ Tát Phổ Hiền,

Nêu gương công hạnh trang nghiêm muôn loài.

Ngài Di Lặc ban nụ cười,

Từ bi hỷ xả dịu đời tang thương.

Thấy đời là đại mộng trường,

Thế gian hạnh phúc không màng, ra đi.

Sáu năm khổ hạnh ai bì,

Sau khi đại giác lại vì độ sinh.

Bốn lăm năm tận sức mình,

Động bốn chốn hình thành thiêng liêng.

Giáng sinh Lâm tỳ ni viên,

Bồ đề thành đạo vẹn truyền công tu.

Độ anh em Kiều Trần Như,

Vườn Nai xe pháp từ từ chuyển xa.

Niết Bàn tại Câu Thi Na,

Cuộc đời Đức Phật Thích Ca viên thành.

Nhìn qua bia đá chênh vênh,

Một Chín Một Bảy (1917) dấu hình đầu tiên.

Chiến tranh Pháp Đức triền miên,

Con dân đất Việt đến phiên khuông phù.

Nơi đây trại lính hậu khu,

Kẻ còn người mất đền bù niềm thương.

Tạm che một mái thảo đường,

Thờ linh, thờ Phật tỏ tường nhớ ơn.

Danh xưng tự hiệu Hồng Hiên,

Hiên ngang Hồng Lạc rạng miền Âu Châu *

Bao năm mưa nắng dãi dầu!

Bao năm chính pháp biết đâu tìm tòi!

May thay vận hội sau này,

Nhân duyên đưa đẩy có Thầy lo toan.

Trước sau dốc chí sửa sang,

Mở đường khai lối khang trang đàng hoàng.

Sớm chiều hương ngát, chuông vang,

Hồn dân tộc lan tràn đó đây.

Trăng soi thấu đấy lòng cây,

Gió rung vách lá thêm say lòng thiền.

Giúp đời tỉnh mộng triền miên,

Giúp người an lạc, góp duyên Đạo Vàng.

Chùa Hồng Hiên ngày 10.10.2002, Hòa Thượng Thích Tâm Châu

 

* Tại chùa Hồng Hiên có hai đôi câu đối như sau:

1) Hồng Lạc linh căn phương Việt địa,

Hiên ngang hùng khí tráng Âu thiên.

2) Tự ảnh cao tiêu dân tộc tính,

Nguyệt quang thâm ấn bách tùng tâm.

1) Cội gốc linh thiêng của dòng Hồng Lạc, đã làm lừng thơm nơi đất Việt,

Nay đem lại khí phách anh hùng, làm vang dội mạnh cả bầu trời Âu Châu.

2) Bóng chùa nêu cao hồn dân tộc,

Ánh trăng in sâu vào lòng cây tùng cây bách.

 

 

QUYẾT TÂM ^

Quyết tâm khôi phục Việt giang san,

Đoàn kết toàn dân bất cảm hàn.

Kế hoạch thiên ban phương tiện dụng,

Khải hoàn ca khúc đại huy hoàng.

QUYẾT TÂM

Giang sơn nước Việt phục hồi,

Quyết tâm đoàn kết không nguôi dạ này.

Biết bao kế hoạch hiện bày,

Khải hoàn ca khúc, ấy ngày vui chung.

Ngày Đông: 27.12.2001

 

 

LÀM DUYÊN CHO ĐỜI ^

Cảm niệm bữa cơm gây quỹ xây chùa Phật Quang Úc Châu.

Dòng đời chan chứa khổ đau,

Phật Quang rải ánh đạo mầu nơi nơi.

Hương sen ngát tỏa khung trời,

Lời Vàng thấm đượm lòng người bơ vơ.

Mái chùa ấn dấu tiêu sơ,

Lâng lâng thanh thoát hồn thơ nhẹ nhàng.
Lướt qua mưa gió phũ phàng,

Vượt qua chìm nổi huy hoàng tiến lên.

Lấy tâm chân chính xây nền,

Hành trang bố thí làm duyên cho đời.

Biết đời là lẽ đổi dời,

Chung lòng chung sức cùng người chung xây.

Vầng ô di chuyển Đông, Tây,

Xuân hoa tươi mát, Thu gầy vóc xưa!

Gây nhân công đức bao vừa,

Càng tăng phước thiện càng thừa vinh quang.

Cùng nhau tiến bước lên đàng!

Phật Quang: 30.11.2003, Thích Tâm Châu

 

 

BIẾN MÃN XUÂN^

Xuân canh, xuân tâm biến mãn xuân,

Thiên thanh hoa thảo nhận nhân quần.

Tứ thời hanh vận trình hoan lạc,

Vạn Sự như nhiên nhật nhật tân.

TẤT CẢ LÀ XUÂN

Tâm, cảnh vui tươi tất cả xuân,

Trời xanh, cây cỏ đến nhân quần.

Bốn mùa tốt đẹp mừng vui vẻ,

Muôn sự như nhiên, mới mới lần.

Xuân Giáp Thân (2004)

 

 

HỒNG HIÊN CỔ TRẠI ^

Hồng Hiên cổ trại tráng Âu thiên,

Hùng khí hiên ngang chiến sĩ truyền.

Bát ngũ tiền thi nghĩa dũng,

Danh lam viễn chấn lạc kim niên.

TRẠI CŨ HỒNG HIÊN

Trời Âu, trại cũ Hồng hiên,

Hiên ngang hùng khí vang truyền chiến binh.

Tám lăm năm nghĩa dũng thành,

Ngày nay chùa cảnh uy danh lẫy lừng.

Fréjus, tháng 10, 2002

 

 

MỘNG HOA NIÊN ^

Thiên địa nhân tam tài,

Nhân duyên hợp triển khai.

Từ bi tinh trí tuệ,

Lợi lạc mãn trần ai.

MỘNG TUỔI XANH

Trời đất người hòa hợp,

Nhân duyên sẽ mở mang.

Tình thưong và hiểu biết,

Lợi lạc khắp nhân hoàn.

Ngày Đông: 01.01.2002

 

 

TỪ QUANG CẢNH TRÍ ^

Ngật ngật cao cư hưởng hải tung,

Tứ vi lâu các nhiễu triều tông.

Thanh tùng  thùy ảnh nghinh phong quyến,

Phảng phát hương phiêu hỷ lạc trung.

Chon von ngồi hưởng biển khơi,

Bốn bề lâu các xinh tươi triều vào.

Tùng xanh gió lượn rì rào,

Hương bay phảng phất tuôn trào niềm vui.

Nice, tháng 10.2002

 

 

QUÁN NHƯ NHƯ ^

Liễu sinh thoát tử quán như như,

Bất trệ không, thời, bất khả tư.

Nhất niệm vô vi chân chính niệm,

Hoa khai kiến Phật, nhập Vô dư.

QUÁN NHƯ NHƯ

Quán chiếu như như, rõ tứ sinh,

Thời, không không vướng, chẳng suy bình

Vô vi chính niệm, không tà niệm,

Hoa nở Vô dư, Phật hiện hình.

Từ Quang: 19.01.2004

 

 

TỪ QUANG TỰ SỰ ^

Ngồi trên chùa Nice nghĩ về xưa,

Biến cố bảy lăm (thực bất ngờ) thực bất ngờ.

Cả nước tang thưong, người tán loạn,

Tấm thân lưu lạc, phận đong đưa.

Từ Thái Lan qua đến Nice này,

Ở ăn tùy tiện lẽ vơi đầy!

Nhà thuê mấy tháng rồi di chuyển,

Chuyển tới Mi ê (Cimiez) hạnh phúc thay! *

Tòa nhà thị xã đứng trông coi,

Nhà đá hai tầng ngó biển khơi.

May mắn thiện nhân thuê giúp hộ.

Từ Quang ra mắt giữa lòng đời.

Một mình lủi thủi xuống cùng lên,

Lễ Phật tụng kinh, xuống bếp liền.

Sạch sẽ sân nhà, rau trái tốt,

Khách du tiếp đãi, giáng kinh  chuyên.

Dần dần Phật tử các nơi về,

Giáng pháp, in kinh bận rộn ghê!

Lui tới Hồng Hiên, đi các nước,

Vui cùng tứ chúng cảnh xa quê.

Mỗi độ thu về lá rụng rơi,

Mỗi lần mưa đổ mịt chân trời.

Mỗi đêm thanh vắng Giao Thừa đến,

Là lúc hồn quê vật rã rời!

Vẫn biết vô thường khó tránh ai,

Lòng thương dân, nước chẳng mờ phai.

Đạo Vàng ân đức mong đền đáp,

Một tấm thân côi, một bán hoài.

Xa Nice đã trên hai chục năm,

Dấu đầu hoằng pháp khắc ghi tâm.

Mỗi năm vẫn một, hai lần viếng,

Gửi lại nguồn thương với nghĩa thâm.

Cầu mong cảnh Nice vẫn vui tươi,

Đạo với người chung cảnh tuyệt vời.

Vẫn nước trăng trong, làn gió nhẹ.

Vẫn đèn rực sáng, nở môi cười.

Nice với người đây nghĩa đẹp tươi,

Đạo, đời tươi đẹp một khung trời.

Cùng trong pháp tính trong nguồn sống,

Mãi mãi trong thanh, mãi sáng ngời!

Nice, tháng 10.2002

 

* Thuê ngôi biệt thị của thị xã Nice, tháng 5 năm 1976, số nhà 32 Avenue Dr. Ménard, vùng Cimiez, Nice, France.

 

 

ĐÁO ÚC CHÂU ^

Ngã đáo Úc Châu xứ,

Đồng nhân giai thiện lữ.

Thực hành Bồ Tát đạo,

Lợi sinh, vô tha, tự.

TỚI ÚC CHÂU

Ta đi tới Úc Châu

Nhìn bạn mến thương nhau.

Thực hành Bồ Tát đạo,

Lợi sinh, không sắc màu.

Ngày Đông: 01.12.2002

 

 

KIM CƯƠNG ẢNH HIỆN ^

Thanh không nhật chiếu,

Thủy hiện linh lung.

Quang ảnh sắc diệu,

Kim cương thể trung.

Trời xanh ánh nắng trong xanh,

Soi vùng nước lặng lung linh sáng ngời.

Muôn màu hiện ảnh chơi vơi,

Như kim cương thể một trời như như.

Nice, Trung Thu 2002

 

 

CHIỀU VỀ BIỂN NICE  ^

 

Đàn âu trải cánh biển xanh,

Gió lùa mây bạc nhuộm hình hoàng hôn.

Xe như nước chảy xuôi nguồn,

Thuyền như lá trái cánh buồm phất phơ.

Thanh không chim sắt lượn chờ,

Xuống lên nhả khói vật vờ đó đây.

Lâu đài ven núi ngất ngây,

Đèn xanh vụt hiện, tỉnh say vô thường.

Thảnh thơi du khách lên đường,

Hướng về quán trọ, tư lường trời mây.

Nhìn ra trăng nước vơi đầy,

Nhìn đời một giấc mộng dài, ngắn thôi.

Đáy lòng vằng vặc gương soi,

Thăng hoa nhân quả, đón người thăng hoa.

Nice, tháng 10.2002

 

HIẾU HẠNH ^

 

Nhớ thuở ngày xưa,

Khi còn ấu thơ.

Cha mẹ thương con,

Biết nói sao vừa.

Khi con khôn lớn,

Cùng đời tranh đua.

Từng giây từng phút,

Không bao giờ lơ.

Thương con không bến không bờ,

Trọn lòng hiếu hạnh phụng thờ mẹ cha.

Mùa Thu, Quý Mùi (2003)

 

 

HỒNG HIÊN TỰ SỰ ^

 

Chùa Hồng Hiên gắn liền theo thế cuộc,

Lụy chiến tranh Pháp Đức, dựng nơi này.

Việt, Miên, Lào đóng trại tại nơi đây,

Làm hậu cứ, viện binh cho tiền tuyến (1).

Người trai Việt, tỏ hiên ngang lão luyện,

Vang trời Âu, nghĩa dũng kém thua ai.

Giúp đỡ người không một chút nhạt phai,

Tâm tưởng hướng về quê cha đất tổ.

Ngay tại trại nuôi người chiến binh đang ở,

Lập tháo am thờ Phật Tổ, vong linh.

Để sớm hôm trang trải trọn đạo tình,

Cầu yên ổn, cầu vong linh siêu thoát.

Một buổi nọ, một nguồn tin đầy hoan lạc,

Đó là tin Ngài Thanh Vực thăm chùa.

Cảm Việt binh, còn nhớ đất Việt xưa,

Hồng Hiên Tự, tên ngôi chùa được đặt (2).

Rồi sau đó, chiến trang nay ngưng bặt,

Đâu đó về, nơi trại lính bỏ không.

Trại bỏ không, ngôi chùa cũng bỏ không,

Không người ở, cảnh chùa dần hư hoại.

Ít người Việt tại địa phương ái ngại,

Đứng ra thuê, để lui tới sớm chiều.

Lo đèn hương, lo tu bổ ít nhiều,

Cho cảnh giới bớt hoang liêu vắng vẻ.

Thêm bước nữa, gặp thời cơ, đẹp đẽ.

Lập Hội chùa, lập đề án chỉnh trang.

Khung nền xưa xây cất lại đàng hoàng,

Phật thờ trước, Mẫu sau, cùng chiến sĩ (3).

Thu, Bảy Lăm, (1975), may có Thầy hoan hỷ,

Tới vùng này hướng dẫn việc Phật chung.

Nâng tinh thần đạo pháp với non sông,

Chung xây dựng, rạng danh dòng giống Việt.

Phong cảnh muốn trở nên diễm tuyệt,

Phái đứng quyền tự chủ đất tên chùa.

Thầy đệ đơn lên Tổng Thống xin mua.

Được chấp thuận, giấy tờ xong xuôi cả.

Nơi thờ tự, thờ riêng thêm trang nhã,

Và, dễ dàng hành đạo của người tin.

Chùa nguy nga, Phật ngự đóa hồng liên,

Điện nghiêm túc, Mẫu nghi coi lẫm liệt.

Ngôi nhà mới, dùng cho phần chuyên biệt,

Đã xây thành vững chắc và tiện nghi.

Khách vãng lai, nơi cư trú Tăng, Ni,

Đều hoan hỷ, thảnh thơi trong chức vụ (4).

Ngoài vườn tược, cảnh hoang vu xưa cũ,

Đúc đường đi, trồng cây cảnh xanh tươi.

Tứ động tâm, chư tôn tượng sáng ngời,

Đứng tiếp dẫn, hàng Di Đà rực rỡ.

Đức Di Lặc đứng tươi cười nức nở,

Tích trượng rung, hàng Địa Tạng uy nghiêm.

Hàng Quán Âm, rải từ lực vô biên,

Bình cam lộ cứu muôn loài giải thoát.

Gió biển thổi, tỏa hương thơm ngào ngạt,

Mi-mo-da cùng hoa quý khoe màu.

Ngài Văn Thù gieo trí lực cao sâu,

Công hạnh lớn, Phổ Hiền Vương biểu tượng (5).

Rồng phụng ngựa voi chim cá lượn,

Đêm thanh gió mát bóng trăng kề.

Ai là người còn lưu luyến hồn quê,

Hồng Hiên Tự là hồn quê bất diệt.

Chùa Hồng Hiên, tháng 10.2002

 

(1) Năm 1914-1918, chiến tranh giữa Đức và Pháp, Pháp cai trị 3 nước Đông Dương: Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao,  3 nước này phải gửi quân sang giúp và đóng tại trại Galliéni, Fréjus. Các chiến binh Việt Nam dựng một ngôi nhà lá để thờ Phật và những người đã mất. Thảo am này được dựng nên năm 1917.

(2) Trong thời gian chiến tranh, Hòa Thượng Thích Thanh Vực được mời sang thăm viếng và an ủi các chiến binh. Ngài thấy anh em lập chùa thờ Phật và các vong linh. Ngài cho tên hiệu chùa là Hồng Hiên tự. “Hồng” là họ Hồng Bàng, “Hiên” là hiên ngang. Ý nói các chiến binh Việt Nam là những người có chí khí hiên ngang, dòng dõi họ Hồng Bàng, thủy tổ của dân tộc Việt.

(3) Hết chiến tranh, người đâu về đó, trại lính ở không và chùa cũng bỏ không. Có một số bà Việt lấy chồng Pháp, cư ngụ gần nơi trại, làm thư xin bộ Quốc phòng cho thuê khu chùa cũ để trông nom. Đó là ông bà Francois Salmon cùng vài vị khác. Sau, các vị xin lập Hội lấy tên là Hội Phật Giáo Côte d Azur năm 1967. Năm 1968 đổi tên là Hội Phật Giáo Pháp. Cuối cùng, đổi tên là Hội Phật Giáo Pháp Việt năm 1970. Chùa được trùng tu vào năm 1972. Trong chùa thờ thành hai phía. Phía trước thờ Phật trông về đằng trước, phía sau thờ mẫu và chiến sĩ trông về đàng sau. Thờ phụng tạm được, nhưng không được trang nghiêm.

(4) Tháng 7 năm 1975, Ban Trị Sự và chư Phật tử Hội Phật Giáo Pháp Việt thỉnh Hòa Thượng Thích Tâm Châu, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, kiêm Phó Chủ Tịch Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Thế Giới, kiêm Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thế Giới Phụng Sự Xã Hội, từ Bangkok sang Pháp, đảm trách ngôi vị Lãnh Đạo Tinh Thần và Trụ Trì chùa Hồng Hiên ngày 17.08.1975. Ngày 01.04.1976 Hòa Thượng kiêm nhiệm chức vụ Hội Trưởng Hội Phật Giáo Pháp Việt, vì ông Hội Trưởng Francois Salmon mất. Từ đó, Hòa Thượng Thích Tâm Châu đứng ra xin mua đất, sửa chùa, làm nhà, thỉnh tượng, trang thiết hoa viên, hướng dẫn Phật tư tu học.

(5) Hoa viên chùa Hồng Hiên, Hòa Thượng cho đúc tượng tứ động tâm, tức là 4 nơi động tâm của Phật Giáo: nơi đức Phật giáng sinh (vườn Lâm Tỳ Ni), nơi Đức Phật thành đạo (Bồ Đề đạo tràng), nơi Đức Phật thuyết pháp (vườn Lộc Uyển) và nơi Đức Phật nhập niêt bàn (Câu Thi Na). Ngoài ra, Hòa Thượng còn đúc thêm các tượng: tượng Đức Phật Di Lặc, tượng Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền, hai hàng tượng Đức Phật Di Đà tiếp dẫn, hai hàng tượng Đức Quán Thế Âm rải nước từ bi, hai hàng tượng Đức Địa Tạng cầm minh châu, tích trượng cứu độ chúng sinh.

 

 

NHÌN THẾ SỰ ^

Chiến tranh lạnh ngừng im năm Chín Mốt *

Ai cũng mừng, sẽ được hưởng thanh bình.

Không bao lâu khói lửa lại tung hoành,

Vì sắc tộc, vì hiềm thù tôn giáo.

Serbia giết dân Kosovo tàn bạo,

Ái Nhĩ Lan, Thiên Chúa giáo, Tin Lành.

Israel với dân tộc Palestine,

Cùng nhiều nước nơi Phi Châu bùng nổ.

Mượn chính nghĩa, qua danh kia nghĩa nọ,

Nương sức ngoài, gây thanh thế xưng hùng.

Hạnh phúc dân đưa đến chỗ bần cùng,

Tiêu mạng sống dân đen không hối hận.

Cùng nhân loại, sao coi nhau tàn nhẫn,

Cùng tham sinh úy tử, khác gì đâu!

Dù danh kia lợi nọ được bao lâu,

Nhân quả tới, chạy nơi nào thoát khỏi!

Có đạo giáo để tránh điều tội lỗi,

Đạo giáo là vườn hoa quý của nhân sinh!

Có sắc dân, dù có khác sắc hình,

Máu vẫn đỏ, sống như nhau không khác!

Mê lầm lẫn, nên quay về bến giác!

Thương yêu nhau và giúp đỡ lẫn nhau!

Lấy tình thương, và lấy hiểu biết làm đầu,

Chung xây dựng nền thanh bình vĩnh cửu.

Nice, tháng 10.2002

 

* Năm 1991, chiến tranh lạnh giữa khối Cộng Sản Nga và khối Tự Do Mỹ ngưng hẳn, bởi các nước Cộng Sản Đông Âu và thành trì Liên Sô sụp đổ.

 

 

QUÁN HƯ KHÔNG ^

Nghiêm Đông nhậm Nghiêm Đông,

Tản bộ tuyết đường trung.

Phong trực tăng lãnh khí,

Dao quan độc lập tùng.

Công viên trầm an tĩnh,

Tứ cố bạch sơn thông.

Thụ lập hoan nhân tẩu,

Mộc bàn thán tịnh không.

Tuyết thanh an bàn thượng,

Ngưỡng ngọa khán thương khung.

Pháp giới vô biên tế,

Phong vân hạnh ngộ phùng.

Vũ trụ tuần hoàn chuyển,

Cao đê phẩm loại đồng.

Vạn ban dung biệt tướng,

Phật tính tại kỳ trung.

Nghiêm Đông  mặc Nghiêm Đông,

Đường Tuyết bước thung dung.

Gió đẩy thêm khí lạnh,

Nhìn xa một bóng tùng.

Công viên im thin thít,

Núi trắng bốn bề thông.

Cây đứng mừng người tới,

Bàn gỗ vắng lặng không.

Bàn gỗ vun sạch tuyết,

Nằm trông ngắm trời xanh.

Bao la nhìn pháp giới,

Vận hội gió mây lành.

Vũ trụ tuần hoàn chuyển,

Thấp cao phẩm loại đồng.

Muôn ngàn hình tưởng khác,

Phật tính ấn nơi lòng.

Montreal: 10.01.2004

 

 

KHÔNG QUÊN CHÍNH NIỆM ^

Bao đời kiếp đắm chìm trong sanh tử,

Quên bản thân, quên chính niệm nơi mình.

Cuốn theo đời, qua dòng xoáy vô minh,

Lên và xuống, hiện thiên hình vạn trạng.

Tâm, vật lý, nhìn đảo điên, tính toán,

Chấp đoạn, thường với ngã ái, si mê.

Xa, xa xa nơi chốn phải quay về,

Tâm viên giác được kết tinh bằng chính niệm.

Niệm muôn pháp, kinh qua bao thực nghiệm,

Là vô thường, vô ngã, khổ đau hoài.

Niệm nhân sinh qua hành nghiệp phôi thai,

Thiện, bất thiện, bóng hình không sai chạy.

Niệm ân nghĩa, trả đền không sai trái,

Dù hạt cơm, dù manh áo mà thôi!

Với một lời vàng ngọc tạo nên đời,

Với công đức lưu truyền cho hậu thế.

Niệm Phật Pháp gạn trong bao suối lệ,

Tạo cho mình một hải đảo vô sinh.

Phá tối tăm đạt tới đại quang minh,

Trăng diệu giác lung linh trong nước tịnh.

Niệm chân chính in sâu nới chân cảnh,

Tỏa hào quang rọi sáng khắp xưa sau.

Niệm vươn lên trong như lý nhiệm mầu,

Muôn sự vật đượm vô biên phước lạc.

 

 

TẤT CẢ LÀ XUÂN ^

cảm niệm tập thơ: Nụ Đào Nở Hoa” của Thích Thiện Hữu

 

    Tất đều là xuân,

Dù vũ trụ chuyển vần.

Dù cỏ cây thay áo,

Dù dáng vóc thế nhân.

Kìa bầu trời xanh xanh,

Làn mây trắng vui quanh.

Trong không gian vô tận,

Nhuộm ánh sáng trong lành.

Gió nhẹ ru cành lá,

Nâng hồn nhạc vô sinh.

Tinh hoa cây lặng chuyển,

Dìu dịu giọng vô thanh.

Róc rách từ nguồn sâu,

Ghềnh khe đá gật đầu.

Cỏ cây căng nhựa sống,

Ủ chân lý nhiệm mầu.

Hoa tuyết trắng không gian,

Cây trơ đá ngắm nghiêm hàn.

Hơi xuân vừa lay tỉnh,

Hoa lá rộ huy hoàng.

Hữu tình hay vô tình,

Hàm dưỡng thế trường sinh.

Thỏ ngọc nương tay chỉ,

Muôn sông hiện bóng hình.

Phật Đà: 15.12.2002

 

 

CHÚC MỪNG ^

Phật tử Hoàng Thị Ngọc 90 tuổi

Phúc ấm gia đình quý hóa thay,

Chín mươi tuổi thọ đẹp xum vầy.

Cháu con săn sóc lòng yêu quý,

Bầu bạn thăm non nghĩa trọn đầy.

Nền đạo một lòng chung góp sức,

Việc đời trăm cảnh sẵn sàng xây.

Nhờ ơn Tam Bảo thường gia hộ,

Hiện thế, lai sinh lộc thọ dầy.

Mùa Đông Nhâm Ngọ (2002), Thích Tâm Châu

 

 

CỬU TUẦN KHÁNH THỌ ^

 

Cụ Hoàng Thị Ngọc

Chín mươi tuổi thọ Phật cho,

Thân tâm an lạc, không lo, không phiền.

Đức như nhiên, dáng dịu hiền,

Nhất tâm niệm Phật tinh chuyên không rời.

Nếp nhà ngày một rạng ngời,

Cháu con vinh hiển nơi nơi kính mừng.

Gió reo hoa nhạc tưng bừng,

Ao sen thất bảo lẫy lừng tương lai.

 

 

MỪNG SINH NHẬT ^

    Phật tử Trí Thắng

Trí Thắng năm nay đã tám mươi,

Tóc tuy bạc trắng, đạo càng tươi,

Phật Quang, Phật sự không ngừng nghỉ,

Sống quá trăm năm giúp đạo đời.

Chùa Phật Quang: 12.01.2003, Hòa Thượng Thích Tâm Châu

 

 

THƠ CHÚC THỌ HÒA THƯỢNG ^

 

của Ni Sư Như Trang chùa Đại Bi Quận Tân Bình, Saigon, Việt Nam.

Bổn tự Đại Bi chúc thọ Thầy,

An khang tứ đại rất mừng thay.

Phước như Đông hải công thành tựu,

Thọ tỷ Nam sơn đức đủ đầy.

Thuyết pháp độ sanh vô số kể,

Hoằng truyền chánh pháp khắp đông tây.

Chúc Thầy pháp thể khinh an mãi,

Vạn thọ vô cùng độ đó đây.

Xuân Qúy Mùi (2003)

 

 

NHỜ ƠN ĐỨC PHẬT ^

(Họa theo nguyên vận thơ chúc thọ của NS Như Trang)

 

Sa giới nhờ ơn một Đức Thầy

Thấm nhuần mưa pháp mát lành thay.

Căn trần gắng sửa nhân công đức,

Phúc trí siêng tu, quả trọn đầy.

Đuốc tuệ soi chung không giới hạn,

Lòng từ ban rải khắp đông tây.

Non sông, đạo pháp trùng hưng vận,

Trăng nước mây trời thỏa chí đây!

Xuân Quý mùi (2003)